1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT VỀ SỐNG THỬ

33 319 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 67,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự chấp nhận hiện tượng này đang dần được thay đổi,mọi người có suy nghĩ tích cực hơn về việc sống thử trước hôn nhân đặc biệt là sự thayđổi trong suy nghĩ của nhiều sinh viên hiện nay..

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1

1.3 Đối tượng nghiên cứu 1

1.4 Phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Kết cấu đề tài: 2

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG 3

2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

2.1.1 Tổng quan trong nước 3

2.2.2 Tổng quan ngoài nước 4

2.2 Phương pháp nghiên cứu 8

2.2.1 Phương pháp định tính 8

2.2.2 Phương pháp định lượng 8

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 10

3.1 Những thông tin cơ bản 10

3.1.1 Giới tính và khoa 10

3.1.2 Ảnh hưởng của quê quán đến sống thử 11

3.2.3 Nơi ở và đối tượng sống cùng 11

3.2 Quan điểm, nhận thức của sinh viên về vấn đề sống thử 12

3.2.1 Sự phổ biến và suy nghĩ của sinh viên về sống thử 12

3.2.2 Tính hai mặt của sống thử 13

3.3 Đánh giá nguyên nhân và hậu quả của vấn đề sống thử 14

Trang 3

3.3.2 Hậu quả 15

3.4 Đánh giá các yếu tố tác động đến vấn đề sống thử 16

3.4.1 Yếu tố gia đình 16

3.4.2 Yếu tố cá nhân 17

3.4.3 Yếu tố xã hội 17

3.4.4 Yếu tố kinh tế 18

3.4.5 Yếu tố văn hóa 19

3.4.6 Yếu tố giáo dục 19

3.5 Tình trạng sống thử của sinh viên 20

3.5.1 Mối quan hệ tình cảm và suy nghĩ quyết định sống thử 20

3.5.2 Quyết định sống thử 20

3.5.3 Những lý dó có và không nên sống thử 21

3.5.4 Những kiến thức cần thiết sinh viên cần trang bị 22

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO 24

PHỤ LỤC 25

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Trang 5

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài.

Xã hội ngày càng phát triển, phong cách và lối sống của con người cũng trở nên

đa dạng, phong phú và hiện đại hơn Giới trẻ hiện nay là những người tiếp cận nhanhnhất với những gì mới lạ, đặc biệt là tình yêu theo quan niệm của những người châu Âu– một hiện trạng mà chúng ta vẫn thường hay bắt gặp trong cuộc sống hiện này là “sốngthử” Nếu như ngày trước, ở Việt Nam, thì vấn đề này xem là một lối sống lệch lạc, đingược với đạo lý, không phù hợp thuần phong mỹ, là sự suy đồi đạo đức trong xã hộithì ngày nay hiện tượng sống thử đang chuyển hướng sang một lối sống được cho làquen thuộc hơn với thế hệ trẻ Sự chấp nhận hiện tượng này đang dần được thay đổi,mọi người có suy nghĩ tích cực hơn về việc sống thử trước hôn nhân đặc biệt là sự thayđổi trong suy nghĩ của nhiều sinh viên hiện nay Họ có xu hướng thích tự do, được độclập và ít bị giám sát bởi cha mẹ đó là một phần lý do tại sao tình trạng sống thử đã tănglên liên tục trong một phần tư thế kỷ qua Tuy nhiên, những hệ lụy đa chiều của việcsống thử là rất lớn Một trong những hậu quả là mang thai ngoài ý muốn và các bệnh lâytruyền qua đường tình dục do thiếu kiến thức Nhận thấy được thực trạng và những hậuquả của sống thử đối với giới trẻ nói chung và sinh viên nói riêng, nhóm quyết địnhnghiên cứu nhận thức của sinh viên về hiện tượng sống thử từ đó đề xuất ra các giảipháp khắc phục những tác động tiêu cực của nó là một vấn đề cần thiết

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu khách quan: Nghiên cứu, đánh giá nhận thức của sinh viên Đại học ThủDầu Một về vấn đề sống thử

Mục tiêu cụ thể:

 Tìm hiểu quan điểm, nhận thức của sinh viên về vấn đề sống thử

 Đánh giá thực trạng sống thử của sinh viên Đại học Thủ Dầu Một hiện nay

 Phân tích nguyên nhân, hậu quả

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Nhận thức của sinh viên vấn đề sống thử tại trường Đại học Thủ Dầu Một

Trang 6

1.4 Phạm vi nghiên cứu.

Thực hiện nghiên cứu tại Trường Đại học Thủ Dầu Một

1.5 Kết cấu đề tài:

Chương1 Mở đầu

Chương 2 Nội dung

Chương 3 Kết quả nghiên cứu

Chương 4 Kết luận và kiến nghị

Trang 7

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG

2.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

2.1.1 Tổng quan trong nước.

Nguyễn Khoa Hải (2015) đã có những nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thầncủa thanh niên công nhân tại tỉnh Bình Dương Tác giả nghiên cứu vấn đề này với mụcđích là làm thế nào có thể nâng cao đời sống không chỉ về vật chất mà còn quan trọnghơn là vấn đề đời sống tinh thần của công nhân có thể ngày một được quan tâm hơn tạitỉnh Bình Dương Nghiên cứu đã được sử dụng một số phương pháp phổ biến như đãkết hợp được giữa cả hai phương pháp định tính và định lượng Ngoài ra để bài nghiêncứu có dữ liệu một cách cụ thể nhất tác giả đã dùng phương pháp nghiên cứu thựcchứng kèm phỏng vấn sâu và so sánh đối chiếu Với 2 nguồn dữ liệu được lấy từ khảosát thực tế với 150 phiếu và thực hiện 30 cuộc phỏng vấn sâu Các đối tượng được lựachọn bao gồm tất cả những công nhân đang làm việc tại khu công nghiệp VISIP – BìnhDương Kết quả cho thấy rằng việc có thể nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho côngnhân là việc hết sức khó khăn Theo như nghiên cứu tác giả nêu rõ vấn đề nhận thức vềtình yêu, hôn nhân của công nhân tại Bình Dương Tác giả cho biết đa số công nhân ởđây là nữ, thời gian làm việc cũng khá dài Nên việc để tìm hiểu một đối tượng nào nóthật kỹ còn khó khăn Song song với đó là việc tuyên truyền, giáo dục về tình yêu, hônnhân ở Việt Nam nói chung và công nhân tại Bình Dương nói riêng còn khá là hạn chế.Nên để nói về hiểu biết hay có những nhận thức như thế nào về vấn đề này gần như làkhông có Họ chỉ biết là tiếp thu được từ những gì họ xem được trên tivi hay ngoài cuộcsống Bởi vậy họ có những quan điểm suy nghĩ vô tư về vấn đề tình yêu và hôn nhân

Họ sống và yêu theo cảm tính, thích là yêu Đặc biệt là việc thích là có thể chuyển trọ về

ở chung với nhau mà không cần bất kỳ một điều kiện gì Một phần của việc này là cho

bị tác động bởi những yếu tố ngoại lai Họ không lường trước được những vấn đề sẽ xảy

ra khi thiếu kiến thức về cái việc sông thử Và kết quả họ nhận được là có những trườnghợp bị lừa không phải chỉ về vấn đề tình cảm mà còn cả tiền bạc Có những đối tượngphải tự làm mẹ một mình khi không mong muốn và không hề sẵn sàng Nhận thấy

Trang 8

được những điều khó khăn đó tác giả cũng đã đề ra được một số phương pháp nhằmnâng cao vấn đề văn hóa tinh thần cho thanh niên công nhân.

Khi nghiên cứu về giá trị và định hướng về giá trị của ba vấn đề: tình yêu, hônnhân và gia đình thì Trần Thị Phụng Hà và cộng sự (2014) đã cho thấy rõ những vấn đềliên quan Bài nghiên cứu với mục đích là tìm hiểu về những tâm tư, nguyện vọng haynhững hiểu biết của sinh viên về những giá trị và định hướng giá trị trong những vấn đề

về tình yêu, hôn nhân hay gia đình là như thế nào? Tác giả đã thu thập số liệu bằng cách

sử dụng phương pháp quan sát Tiến hành thực hiện 20 cuộc phỏng vấn sâu, các đốitượng được chọn phỏng vấn bao gồm sinh viên và các cán bộ công nhân viên trong khuvực trường Đại học Cần Thơ Đồng thời sử dụng 170 mẫu nghiên cứu theo phươngpháp dùng bảng câu hỏi để thu thập dữ liệu Kết quả cho thấy rằng sinh viên ở độ tuổi

18 – 25 thì có đến hơn 50% đã có người yêu và khi tiến hành khảo sát tất cả những sinhviên này về khi ở độ tuổi này sinh viên có nên yêu hay không thì đa số sinh viên đềucho rằng nên yêu nó chiếm đến 81,2% đồng nghĩa với việc 18,8% là không đồng ý việcsinh viên có tình yêu ở độ tuổi này Và từ những vấn đề này tác giả đã chỉ ra nhữngquan điểm về việc sông thử của sinh viên Tác giả đã chỉ rõ “Theo kết quả thăm dò ýkiến của VnExpress với 13.500 độc giả về vấn đề sông thử thì có đến 56% đồng tình vớiquan điểm sống thử và chỉ có 36% là không ủng hộ” Nhưng khi thực hiện khảo sát tạitrường Đại học Cần Thơ thì chỉ có 4% là đông ý với việc sống thử của sinh viên Họcho rằng việc có tình yêu rồi sống thử là việc cá nhân của mỗi người, hơn nữa hiện nayđối với sinh viên sống thử là việc khá phổ biến và có thể khi sống thử như vậy có thểnhững mặt tốt có ích cho cuộc sông sau này Số phần trăm còn lại là không có ý kiếnhoặc không đồng tình quan điểm sống thử của sinh viên Họ cho rằng nó sẽ mang lạinhững khó khăn, rủi ro mà khó có thể lường trước được Cũng trong quá trình nghiêncứu kết qủa cho thấy nam giới ủng hộ việc sống thử nhiều hơn là nữ sinh Về địa lý thìkhu vực thành thị số sinh viên chấp nhận việc sống thử nhiều hơn là những sinh viênđược sinh ra ở nông thôn

2.2.2 Tổng quan ngoài nước.

Bài nghiên cứu của Mathew Svodziwa, Faith Kurete (2017) nhằm tìm hiểu các

Trang 9

yếu tố dẫn đến sự phổ biến của hiện tượng sống thử đối với sinh viên trong môi trườnggiáo dục đại học do có rất ít thông tin được ghi nhận về mức độ và các yếu tố ảnh hưởngđến việc sống thử trong giới trẻ và đặc biệt là trong các nền giáo dục đại học mặc dù cácảnh hưởng của việc sống thử là rất lớn: Sống thử gây nên bệnh lây truyền qua đườngtình dục và HIV và AIDS, phá thai, lạm dụng tình dục và bạo lực, kết quả học tập thấp,tăng chi phí chăm sóc y tế và mang thai ngoài ý muốn Bài nghiên cứu sử dụng phươngpháp nghiên cứu định tính để nghiên cứu về hành vi, thái độ, ý kiến và niềm tin củanhững người được phỏng vấn Sử dụng bảng khảo sát, các đối tượng được khảo sát làsinh viên tham gia Hiệp Hội Thể Thao của đại học Zimbawe vào tháng 7 năm 2016 Để

có được sự hiểu biết sinh động về việc sống thử, 3 cuộc thảo luận nhóm tập trung đãđược thực hiện và những người tham gia được lựa chọn có chủ đích Bảng câu hỏi có

100 câu hỏi và tỉ lệ phản hồi là 78% tương đương với 78 câu hỏi Những người đượchỏi lấy mẫu ngẫu nhiên để tham gia nghiên cứu Cơ sở của bài viết này là để thiết lậpcác yếu tố dẫn đến việc sống thử giữa các sinh viên và xác định nhận thức và thái độ củasinh viên đối với việc sống thử Bài viết cũng tìm cách xác định những thách thức màcác sinh viên đang phải đối mặt trong việc sống thử cũng như phản ánh về những ảnhhưởng của việc sống thử đối với kết quả học tập của sinh viên Kết quả là nghiên cứucho rằng nguyên nhân chủ yếu là do thiếu chỗ ở, mâu thuẫn ngày càng tăng với bạncùng phòng, thiếu sự riêng tư và nhu cầu gần gũi và thân mật với người yêu là nhữngnguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng sống thử trong môi trường giáo dục đại học

Cụ thể, phần lớn số người được hỏi (54%) cho rằng họ tham gia sống thử do vấn đề tàichính, sự hài lòng tình dục có 21%, yếu tố ít nhất là hội chứng phụ thuộc với 6% Trongmột nghiên cứu tương tự được thực hiện bởi Popenoe (1999) ở Hoa Kỳ, tỷ lệ sinh viêngiáo dục đại học cho rằng việc một cặp vợ chồng sống với nhau trước khi kết hôn để tìmhiểu xem họ có thực sự hòa hợp với nhau không là một điều tốt (59%) Những kết quảnày cho thấy một thái độ tự do mạnh mẽ đang phát triển trong giới trẻ ở Zimbabwe liênquan đến việc sống thử và hành vi tình dục

Nghiên cứu của Moses Ola Ogunsola (2011) đã xem xét “Ảnh hưởng của việcsống thử trước hôn nhân đối với chất lượng mối quan hệ và sự ổn định trong hôn nhân

Trang 10

của những người đã kết hôn ở Tây Nam Nigeria” Phương pháp thiết kế khảo sát là sửdụng thang đánh giá chất lượng mối quan hệ hôn nhân và thang đo đánh giá sự ổn địnhcủa hôn nhân để thu thập dữ liệu Dân số mục tiêu là những cá nhân đã kết hôn Dữ liệuđược thu thập từ 3.627 cá nhân đã kết hôn ở Tây Nam Nigeria, bao gồm 1850 ngườiđược hỏi (51%) và 1777 người trả lời là nữ (49%) Dữ liệu được phân tích bằng cách sửdụng t– test để thiết lập sự khác biệt trung bình của các biến độc lập trong nghiên cứu.Quan sát t cho thấy ảnh hưởng của việc sống thử đối với chất lượng quan hệ hôn nhân

là 5,87; p =0 Vì Pvalue nhỏ hơn 0,05, do đó, giả thuyết khống đã bị bác bỏ, có nghĩa là

có ảnh hưởng đáng kể của việc sống thử đối với chất lượng của mối quan hệ hôn nhân.Kết quả từ nghiên cứu cho thấy những người đã kết hôn không chung sống trước hônnhân có mối quan hệ hôn nhân chất lượng và ổn định hơn so với những người đã làm

Một nghiên cứu của Ojo, A., (2019) về những ảnh hưởng của việc sống thử đốivới kết quả học tập của các sinh viên trong tổ chức cao hơn ở Nigeria Bài viết nêu lên 3

lý do phổ biến khiến những cặp đôi chọn sống chung với nhau Đầu tiên, nhiều cặp đôinêu lý do chính để sống chung là tìm hiểu xem họ có hợp nhau không Lý do tiếp theo ởmột số người khác là họ xem sống chung như một cách để xác định xem họ có thể đồng

ý với hôn nhân lâu dài hay không Lý do cuối cùng ở những cặp đôi sống chung là họ sẽ

có nhiều thời gian hơn để xác định rằng họ quan tâm đến nhau và muốn xem mối quan

hệ sẽ đi đến đâu, họ thấy việc chuyển đến cùng nhau như một cách để tiết kiệm tiền thuênhà, thực phẩm và các chi phí sinh hoạt khác Nghiên cứu còn chỉ ra những hậu quả củaviệc sống chung là nhiều sinh viên phải kết thúc việc học với điểm thấp hơn thôngthường, thậm chí còn có một số sinh viên bị đuổi học Một số hậu quả khác được đề cậptrong bài viết như là mang thai ngoài ý muốn, mắc các bệnh truyền nhiễm như HIV,giang mai,….điều này ảnh hưởng lớn đến cuộc sống sau này của họ

Một bài nghiên cứu khác của Oluwasinaayomi Faith KASIM and OlusegunFALOLA (2017) đã chỉ ra mối quan hệ giữa sống thử và thành tích học tập của sinhviên đại học ở Ibadan, Nigeria Do tác động của các ý tưởng, giá trị và chuẩn mực nướcngoài cũng như truyền thông xã hội, công chúng và các yêu cầu của cuộc sống đô thịngày càng tăng đã tác động lên hành vi và thái độ của thanh thiếu niên Nigeria dẫn đến

Trang 11

sự phổ biến của việc sống thử trong giới trẻ Nigeria Nghiên cứu được thực hiện tại cáccộng đồng Apete và Agbowo, tiếp giáp Đại học Ibadan (Agbowo) và Đại học Báchkhoa, Ibadan (Apete) Nghiên cứu ban đầu sử dụng 213 sinh viên sống thử trong haicộng đồng Tuy nhiên, chỉ có 98 sinh viên sống thử sẵn sàng tham gia vào nghiên cứu.Theo đó, 98 bộ câu hỏi có cấu trúc đã được quản lý cho các sinh viên sống thử Điểm

số, mặc dù được bảo mật nghiêm ngặt, được thu thập được từ những người sống thử vàđược xác nhận từ bản sao của bảng điểm học tập cuối kỳ của sinh viên Nghiên cứu sửdụng bảng câu hỏi có cấu trúc đã được kiểm tra trước được cung cấp cho các sinh viênđược chọn Các phát hiện cho thấy phần lớn sinh viên sống thử lựa chọn sống bên ngoài

do trong khuôn viên trường không đủ ký túc xá Hỗ trợ tài chính thấp và chi phí sinhhoạt khi sống bên ngoài trường cao là một trong số những yếu tố khiến các cặp đôi có

xu hướng sống chung với nhau Biến nghịch đảo (Inverse variation) được thiết lập giữathời kỳ sống thử của sinh viên và điểm học tập trong các cơ sở giáo dục đại học Nhữngsinh viên có kết quả học tập thấp hơn thì có thời gian chung sống lâu hơn (χ2 (1.102) =131.321; P <0,05) Đồng thời nghiên cứu cũng đưa ra những khuyến nghị về chính sáchđảm bảo tăng số lượng sinh viên phù hợp với các cơ sở giáo dục đại học

Bài nghiên cứu của Ogadimma Chukwubueze, Arisukwu (2013) đã tìm hiểu mộttrong những lí do mà sinh viên sống thử Những dữ liệu mà bài nghiên cứu thu thập làtrên 300 người sinh viên đang sinh sống và học tập tại Trường Đại học Ibadan ở Nigeria Bài nghiên cứu đã sử dụng cả 2 phương pháp đinh tính và định lượng, để thu thập dữliệu và hỏi đáp hơn 300 sinh viên mới nhập học tại trường còn những sinh viên đã tốtnghiệp hay những sinh viên từ nơi khác đến sẽ không phải là đối tượng khảo sát Bàinghiên cứu cũng khảo sát những sinh viên không có ý định sống thử để tiếp cận vấn đề

từ những người ngoài nhìn vào là như thế nào Một trong những nguyên nhân mà bàinghiên cứu tìm hiểu được là do sự gia tăng số lượng sinh viên và nhà trường và chínhphủ lại không cung cấp đầy đủ chỗ ở như kí túc xá cho sinh viên nên dẫn đến việc sinhviên ở chung và dần dần nảy sinh sự gần gũi và thân mật với người yêu Nghiên cứucũng đã chỉ ra lứa tuổi từ 21-25 là có nhu cầu sống thử cao nhất và họ rất cởi mở và sẵnsàng trong việc này Và bố mẹ của họ cũng đã từng sống thử nên họ đã quen dần với

Trang 12

điều này Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, phần lớn những người sống thử là vì yêu và đếnvới nhau, một phần vì thiếu chỗ ở do sự bất tiện khi sống chung với quá nhiều ngườitrong kí túc xá, số còn lại là do tiết kiệm để giảm chi phí sinh hoạt hàng ngày.

Bài nghiên cứu của Liv về sống thử trước hôn nhân của một số căp hôn nhân tại

Na Uy, tìm hiểu về nguyên nhân, ý nghĩa của sống thử đối với họ là như thế nào trongtình yêu Để tìm hiểu vấn đề này, người ta đặt ra những câu hỏi như “ tại sao sống thửlại có suwac thu hút như thế đối với mọi người” hay “ tại sao các cặp vợ chồng hoànhôn nhân cho đến khi họ có con” Bài nghiên cứu đã sử dụng hoàn toàn phương phápđịnh tính Dữ liệu họ phân tích là phỏng vấn 17 cặp vợ chồng đang sinh sống và làmviệc thành thị Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng Na Uy là một trong những quốc gia có tỉ lệsống thử cao nhất, và nó đã trở thành xu hướng và gần như là thói quan của các cặp tìnhnhân trước khi dẫn tới hôn nhân

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu thứ cấp: Tìm kiếm, thu thập thông tin từ các nguồn tài liệu như: sách,báo, tạp chí hay từ các trang mạng, internet…

Dữ liệu sơ cấp: Kết hợp giữa hai phương pháp định tính và định lượng

2.2.1 Phương pháp định tính

Sử dụng phương pháp định tính nhằm bổ sung, giải thích các vấn đề liên quanđến nhận thức của sinh viên về vấn đề sống thử mà những thông tin định lượng chưagiải quyết được Đồng thời tìm kiếm, đánh giá các thông tin liên quan đến vấn đề nghiêncứu

Trang 13

Số mẫu phỏng vấn được lựa chọn đồng đều theo đối tượng (đã, đang sống thử và chưa sống thử) với tỉ lệ khoảng 4:6 hay 5:5).

Sử dụng phần mềm SPSS để thống kê và phân tích dữ liệu

Trang 14

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Sau khi nhóm tiến hành đi nghiên cứu khảo sát về vấn đề “ Đánh giá nhận thức củasinh viên về vấn đề sống thử của sinh viên Đại học Thủ Dầu Một” thì nhóm đã có nhữngkết quả như sau:

3.1 Những thông tin cơ bản

3.1.1 Giới tính và khoa

Bảng 1 Những thông tin cơ bản

Theo kết quả nhóm khảo sát được thì nữ chiếm 67% với 100 phiếu, trong khi đónam chỉ chiếm 33% trên tổng số phiếu khảo sát Chúng tôi thực hiện khảo sát với tất cảsinh viên ở 8 khoa khác nhau Trong đó khoa kinh tế chiếm tỉ lệ cao nhất với 86 phiếutương đương với 57% Và 10 phiếu cho cả hai khoa là khoa khoa học tự nhiên và khoa

Trang 15

khoa học xã hội và nhân văn.

3.1.2 Ảnh hưởng của quê quán đến sống thử

Bảng 2: So sánh số lượng sinh viên sống ở Bình Dương và sinh viên nơi khác đến

`Khu vực đồng bằng sông Cửu Long

Khu vực phía Nam

Khu vực phía Bắc

Khu vực miền Trung

26783115

17.35220.710Bình dương

Nơi khác

6189

4159

Sau khi tiến hành khảo sát 150 sinh viên thuộc Đại học Thủ Dầu Một Về vấn đềkhi vực sinh sống thì nhóm đã thống kê được 4 vùng trong số 94 tỉnh thành từ bắc vàonam Thì theo như kết quả khảo sát số sinh viên ở khu vực phía Nam là chiếm đa số với

78 phiếu và trong đó thì người Bình Dương chiếm 61 phiếu còn lại là từ các tỉnh thànhkhác đến Nhìn chung thì số lượng sinh viên ở nơi khác đến sinh sông, hay học tập tạiBình Dương khá nhiều Điều này cho thấy rằng khả năng ở trọ sẽ rất lớn và cũng chính vìvậy sẽ ảnh hưởng đến vấn đề sống thử khá nhiều

3.2.3 Nơi ở và đối tượng sống cùng

Bảng 3: Nơi ở và đối tượng sống cùng ảnh hưởng đến tình trạng sống thử.

Nơi ở và ở với ai Tần suất Phần trăm %

Trang 16

sinh viên đang sống thử ở mức thấp, nhưng tỉ lệ này có xu hướng sẽ tăng vì số lượng sinhviên ở trọ đang khá cao Trong khi đó, sinh viên ở với gia đình chỉ chiếm 37% Và hầuhết những sinh viên đang ở trọ thì sẽ không phải chịu sự quản lí từ gia đình nên sẽ xảy rasống thử dễ dàng so với những sinh với những sinh viên có sự quản lí từ gia đình Theonhư nghiên cứu thì những sinh viên ở chung với gia đình thì đa số là có nguồn gốc từBình Dương.

3.2 Quan điểm, nhận thức của sinh viên về vấn đề sống thử

3.2.1 Sự phổ biến và suy nghĩ của sinh viên về sống thử

Bảng 4: Sự phổ biến và vấn đề sống thử trong suy nghĩ của sinh viên

Sự phổ biến của sống thử đối với sinh viên Tần suất Phần trăm %

họ, khi hỏi tới sống thì nó đã quá quen thuộc và chỉ một số ít người biết đến những hậu quả của sống thử để lại, chỉ 11% số lượng sinh viên nhận xét rằng sống thử là một hiện tượng xấu

Ngày đăng: 18/12/2019, 12:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Khoa Hải, 2015. Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần cho thanh niên công nhân ở Bình Dương – mấy vấn đề được đặt ra từ thực tiễn khảo sát tại khu công nghiệp Việt Nam – Singapore. Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một, 3(22), trang 76-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học Đại học Thủ DầuMột
2. Trần Thị Phụng Hà, Nguyễn Ngọc Lẹ, 2014. Định hướng giá trị trong tình yêu – hôn nhân và gia đình của sinh viên Đại học Cần Thơ. Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ, 33c, trang 63-74 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa họctrường Đại học Cần Thơ
3. Kasim, F., Falola, O., 2017. A cohabitation and students’ academic performance in selected tertiary institutions in Ibadan, Nigeria. African journal for the psycological study of social issues, 20(2), pp.188-200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: African journalfor the psycological study of social issues
4. Svodziwa, M., Kurete, F., 2017. Cohabitation among Tertiary Education Students. HSS, 1 , pp. 138-148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: HSS
5. Ogadimma, C., Arisukwu., 2013. Cohabitation among university of Ibadan undergraduate students. Humanities and Social Sciences,5(3), pp. 2222-2863 6. Liv, S., 2010. Sense and sensibility: cohabitation in ‘cohabitation land’. Sage journalsbllog, 58(3), pp. 444-462 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Humanities and Social Sciences,"5(3), pp. 2222-28636. Liv, S., 2010. Sense and sensibility: cohabitation in ‘cohabitation land’. "Sagejournalsbllog
7. Ojo, A., 2019. The effects of cohabitation on academic performance of the students in tertiary institutions in Nigeria. International Journal of Sociology and Anthropology Research, 5(2), pp.10-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Sociology and Anthropology Research
8. Ogunsola, M., 2011. The Effect of Premarital Cohabitation on Quality of Relationship and Marital Stability of Married People in Southwest Nigeria, African Nebula, Issue 3, pp.16-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: African Nebula

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w