1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục trung học cơ sở thành phố thái nguyên, tỉnh thái nguyên (2009 2017)

118 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 7,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên có hệ thống các trường học từbậc tiểu học đến trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung cấp, đào tạo nghề,cao đẳng, đại học chuyên nghiệp.... Tuy

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRẦN VIỆT HUẤN

GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam công trình nghiên cứu: “Giáo dục trung học cơ sở thành phố

Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (2009-2017) dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Quế Loan là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả

nghiên cứu trong Luận văn là trung thực và chưa từng có ai công bố trong bất

kì một công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 7 năm 2019

Tác giả luận văn Trần Việt Huấn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và

sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện thuận lợi đểtôi hoàn thành luận văn

Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS NguyễnThị Quế Loan đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện

Luận văn: Giáo dục trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 2009-2017.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo Khoa Lịch sử,Phòng Đào tạo sau đại học Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã chỉ bảotận tình, tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong thời gian học tập vàhoàn thành luận văn

Đồng thời, tôi xin cảm ơn cơ quan Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên,UBND tỉnh Thái Nguyên, Thành ủy, UBND thành phố Thái Nguyên, Sở Giáodục và Đào tạo tỉnh, Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Thái Nguyên đãtạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và sưu tầmtài liệu

Thái Nguyên, tháng 7 năm 2019

Tác giả luận văn Trần Việt Huấn

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Đối tượng, phạm vi, mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Nguồn tài liệu, phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của luận văn 6

6 Bố cục Luận văn 7

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN VÀ GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ TRƯỚC NĂM 2009 8

1.1 Khái quát về thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 8

1.2 Giáo dục trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên trước năm 2009 11

1.2.1 Thời kỳ từ năm 1962 đến năm 1985 11

1.2.2 Thời kỳ từ năm 1986 đến năm 2008 19

Tiểu kết chương 1 31

Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 2009 ĐẾN NĂM 2017 33

2.1 Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục và triển khai thực hiện ở Thái Nguyên 33

2.2 Hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, giáo viên và học sinh THCS 37

2.2.1 Hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất 37

2.2.2 Đội ngũ cán bộ, giáo viên và học sinh Trung học cơ sở 42

2.3 Chương trình và các hoạt động giáo dục 46

Trang 5

2.3.1 Chương trình giáo dục 46

2.3.2 Hoạt động giáo dục 51

Tiểu kết chương 2 54

Chương 3: NHỮNG KẾT QUẢ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN (2009-2017) .55

3.1 Mạng lưới trường, lớp và đội ngũ cán bộ, giáo viên 55

3.1.1 Mạng lưới trường, lớp 55

3.1.2 Đội ngũ cán bộ, giáo viên 58

3.2 Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học 63

3.3 Chất lượng giáo dục 69

3.4 Bài học kinh nghiệm và một số đánh giá, đề xuất của tác giả 81

3.4.1 Bài học kinh nghiệm 81

3.4.2 Một số đánh giá, đề xuất của tác giả 83

Tiểu kết chương 3 86

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng

Bảng 1.1 Cơ sở vật chất xây dựng cơ bản THCS 30Bảng 1.2 Trang thiết bị dạy học THCS năm học 2005-2006 30Bảng 2.1 Số trường THCS của thành phố Thái Nguyên đạt chuẩn

quốc gia tính đến năm 2015-2016 40Bảng 2.2 Tỷ lệ giáo viên trung học cơ sở đạt chuẩn (2010-2017) 44Bảng 2.3 Tổng số học sinh THCS thành phố Thái Nguyên (2010-2017) 44

Bảng 2.4 So sánh chất lượng học sinh bậc THCS năm học 2010-2011

với năm học 2015-2016 45Bảng 3.1 Thống kê số lượng trường THCS thành phố qua một số năm

học 55

Bảng 3.2 Số trường THCS thuộc thành phố Thái Nguyên sau điều

chỉnh địa giới 56Bảng 3.3 Thống kê số lượng các trường, lớp bậc THCS của thành phố

Thái Nguyên (tính đến năm 2017) 57Bảng 3.4 Số giáo viên THCS thành phố đạt chuẩn qua một số năm

học 2010-2017 60Bảng 3.6 Số lượng học sinh THCS thành phố qua một số năm học 63Bảng 3.7 Ngân sách đầu tư cho sự nghiệp giáo dục thành phố Thái

Nguyên qua các giai đoạn 68Bảng 3.8 Kết quả thi giải Toán trên mạng năm học 2015-2016 75Bảng 3.9 Kết quả thi giải toán trên máy tính cầm tay lớp 9 một số

năm học 76Bảng 3.10 Thống kê trường THCS đạt chuẩn quốc gia (tính đến năm 2017) 80

Biểu

Biểu đổ 2.1 Đánh giá hạnh kiểm tốt qua một số năm học (đơn vị tính %) 46

Trang 8

v

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Bác Hồ đọc bản Tuyênngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, sự kiện này đánhdấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Trong những năm kháng chiếnchống Pháp, chống Mỹ cứu nước, Đảng và Nhà nước luôn đề cao vai trò củagiáo dục, coi dốt cũng là một loại giặc “giặc dốt” Sau ngày đất nước thốngnhất, Đại hội Đảng IV (14-20/12/1976), xác định tiến hành cải cách giáo dụctrong cả nước; phát triển giáo dục phổ thông; sắp xếp, từng bước mở rộng vàhoàn chỉnh mạng lưới các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyênnghiệp; phát triển rộng rãi các trường dạy nghề

Bước sang thời kỳ đổi mới, giáo dục và đào tạo luôn là một trong nhữngnội dung quan trong được Đảng đề cập trong văn kiện của các kỳ đại hội Đặcbiệt, trong thời đại cuộc cách mạng khoa học và công nghệ 4.0 đã và đang làmbiến đổi sâu sắc đời sống vật chất, tinh thần của xã hội, và cũng đặt ra baothách thức có thể giữ vững sự ổn định, phát triển trong tình hình mới, giáo dục

và đào tạo trở thành một trong những nhân tố hàng đầu quyết định đến sự pháttriển của đất nước

Phát triển giáo dục chính là phát triển con người, xây dựng con người mới

xã hội chủ nghĩa, xây dựng con người cả về đạo đức, lối sống, lẫn kỹ năng,trình độ nhằm phát huy đúng tư cách là chủ thể sáng tạo nên mọi giá trị vật chất

và tinh thần của xã hội; con người là nguồn lực cơ bản tạo ra mọi nguồn lựckhác thúc đẩy sự phát triển của xã hội Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước luôndành sự ưu tiên hàng đầu cho sự phát triển của giáo dục và đào tạo Hằng nămngân sách nhà nước dành từ 18-20% để chi cho giáo dục và đào tạo

Trong hệ thống giáo dục phổ thông, giáo dục trung học cơ sở (THCS)đóng vai trò là cầu nối giữa giáo dục tiểu học (TH) với giáo dục trung họcphổ thông (THPT), được thực hiện trong 4 năm (từ lớp 6 đến lớp 9) Học

Trang 10

sinh vào học Trung học cơ sở là những học sinh đã hoàn thành chương trìnhgiáo dục tiểu học.

Do đặc điểm tâm, sinh lý ở độ tuổi vị thành niên rất phức tạp cho nên việcgiáo dục học sinh ở cấp học trung học cơ sở có vai trò hết sức quan trọng trongviệc nâng cao nhận thức, trau dồi đạo đức, làm cơ sở cho việc phân luồng họcsinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở

Nhận thức được vị trí, vai trò hết sức quan trọng của bậc học, trong nhữngnăm qua, ngành Giáo dục không ngừng đẩy mạnh nâng cao chất lượng dạy vàhọc của cấp trung học cơ sở, song bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chấtlượng giáo dục của cấp học vẫn còn bộc lộ nhiều yếu, kém, bất cập, chưa đápứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội

Thành phố Thái Nguyên (tỉnh Thái Nguyên) có hệ thống các trường học từbậc tiểu học đến trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung cấp, đào tạo nghề,cao đẳng, đại học chuyên nghiệp dày đặc Trong đó, các trường THCS có sốlượng không nhỏ Để đánh giá khách quan, toàn diện về những kết quả đã đạtđược của sự phát triển giáo dục THCS của thành phố Thái Nguyên Trên cơ sở

đó, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác giáo dục trung học cơ sở

nói chung, tác giả chọn “Giáo dục trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (2009 - 2017)” làm đề tài luận văn thạc sĩ.

2 Lịch sử nghiên cứu

Cho tới nay, vấn đề giáo dục giành được sự quan tâm nghiên cứu củanhiều nhà khoa học Tuy nhiên, nghiên cứu về sự nghiệp giáo dục Việt Namnói chung và của tỉnh Thái Nguyên nói riêng thì mới có một số công trình tiêubiểu như:

Năm 1995, cuốn sách “Năm mươi năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo (1945-1995)” của Bộ Giáo dục và Đào tạo được xuất bản đã khái quát

về bức tranh giáo dục Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1995, trong đó có ngànhgiáo dục phổ thông giai đoạn 1975-1995 Cuốn sách đã cung cấp cho đọc giảnhững tài liệu cơ bản về đường lối, chính sách và tình hình phát triển phổ thông

và những đánh giá, nhận xét về giáo dục Việt Nam trong giai đoạn này [24]

Trang 11

Năm 2004, cuốn sách “Lịch sử giáo dục Việt Nam” của tác giả Bùi Minh

Hiển được xuất bản đã khái quát được lịch sử giáo dục Việt Nam qua các thời

kỳ, trong đó nghiên cứu về giáo dục phổ thông ở nước ta từ năm 1975 đến năm

Năm 2005, Luận văn “Giáo dục phổ thông Thái Nguyên từ khi tái lập tỉnh đến nay (1997-2005)” của tác giả Nguyễn Minh Tuấn đã tập trung nghiên cứu

về sự phát triển và những đặc điểm của giáo dục phổ thông tỉnh Thái Nguyêngiai đoạn 1997 đến 2005 [48]

Năm 2009, Luận văn “Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo từ năm 1997 đến 2005” của tác giả Lý Trung Thành đã trình bày

một cách hệ thống về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với sựnghiệp Giáo dục - Đào tạo giai đoạn 1997-2005 [46]

Năm 2011, Luận văn “Giáo dục phổ thông tỉnh Thái Nguyên 1954)” của tác giả Bùi Thị Hoa đã tập trung nghiên cứu về giáo dục tỉnh Thái

(1945-Nguyên trước cách mạng tháng Tám năm 1945, giáo dục phổ thông tỉnh TháiNguyên trong 02 giai đoạn 1945-1949 và 1950-1954 [27]

Năm 2015, Luận án Tiến sĩ “Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm 1997 đến năm 2010” của tác giả Đoàn Thị

Yến đã tập trung làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên quán triệt,

Trang 12

vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng về giáo dục vào điều kiện thực tiễncủa địa

Trang 13

phương trong những năm 1997 - 2010; làm rõ những thành tựu, sự phát triển màGDPT tỉnh Thái Nguyên đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, qua đó phântích những ưu điểm, hạn chế của Đảng bộ tỉnh trong quá trình lãnh đạo sựnghiệp GDPT trong những năm 1997 - 2010 để rút ra được một số kinh nghiệmlịch sử cho những năm tiếp theo [51].

Năm 2016, Đề tài khoa học và công nghệ cấp đại học “Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông thời kỳ 1997-2012”

của tác giả Đoàn Thị Yến đã tập trung nghiên cứu chủ trương và sự lãnh đạocủa Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với sự nghiệp giáo dục phổ thông từ năm

1997 đến 2005; Đảng bộ lãnh đạo đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục phổ thông từnăm 2006 đến 2012 [52]

Năm 2018, Luận văn “Giáo dục phổ thông huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên (1986-2016)” của tác giả Dương Thị Thảo đã tập trung nghiên cứu về

tình hình giáo dục phổ thông huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên qua các giaiđoạn: trước năm 1986; từ 1986 đến năm 2016, qua đó đã đánh giá tổng quan vềgiáo dục phổ thông của địa phương từ năm 1986-2016 [47]

Các công trình nghiên cứu trên cho thấy, trong nhiều năm nay, bậc THCS

ít dành được sự quan tâm, nghiên cứu từ các học giả Hầu hết những công trìnhđều tập trung nghiên cứu về quản lý các hoạt động giáo dục; giáo dục đạo đứchọc sinh THCS, đạo đức học sinh tại một trường hoặc một địa phương nào đóthuộc tỉnh Thái Nguyên; cũng có một số công trình nghiên cứu đề cập sơ lược

về nội dung giáo dục trung học cơ sở khi tìm hiểu về giáo dục phổ thông, do đóchưa tái hiện được tổng thể bức tranh xây dựng và phát triển của giáo dục bậcTHCS tỉnh Thái Nguyên nói chung cũng như thành phố Thái Nguyên nói riêng

Chính vì vậy, tác giả lựa chọn nghiên cứu về “Giáo dục trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (2009-2017)”.

3 Đối tượng, phạm vi, mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống giáo dục trung học cơ sởthành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 2009 - 2017

Trang 14

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu là các trường trunghọc cơ sở thuộc địa bàn thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, do PhòngGiáo dục và Đào tạo thành phố Thái Nguyên quản lý

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu “Giáo dục trung học cơ sở thành phốThái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2017” Sở dĩtác giả chọn từ năm 2009 vì đây là mốc thời gian Ngành Giáo dục thực hiệntheo Luật Giáo dục sửa đổi, bổ sung (do Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 25/11/2009)

Về nội dung: Giáo dục trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên, tỉnh TháiNguyên (hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ giáo viên, họcsinh, các hoạt động giáo dục và kết quả đạt được) giai đoạn 2009-2017 Bêncạnh đó, tác giả cũng tìm hiểu giáo dục trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên

từ năm 1962 (theo quyết định số 114 ngày 19/10/1962 của Phủ Thủ tướng, thị

xã Thái Nguyên trở thành thành phố Thái Nguyên) đến năm 2009 để thấy đượcquá trình phát triển giáo dục bậc trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên

3.3 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu về thành tựu, kết quả giáo dục trung học cơ sở thành phốThái Nguyên từ năm 2009 đến năm 2017

- Qua nghiên cứu “Giáo dục trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên, tỉnhThái Nguyên 2009 - 2017” rút ra bài học kinh nghiệm trong giáo dục trung học

cơ sở của thành phố Thái Nguyên

3.4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung làm rõ những vấn đề khoa học sau đây:

- Khái quát về thành phố Thái Nguyên (vị trí địa lý, dân cư, kinh tế ) vàtình hình giáo dục THCS thành phố Thái Nguyên trước năm 2009 Nghiên cứu

về hệ thống trường lớp, cơ sở vật chất phục vụ giáo dục, những kết quả đạtđược của giáo dục trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên từ năm 2009 đếnnăm 2017

Trang 15

- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của luận văn, tác giả rút ra bài học kinhnghiệm, đánh giá, đề xuất một số giải pháp tiếp tục phát triển giáo dục trunghọc cơ sở thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

4 Nguồn tài liệu, phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Tác giả dựa trên nguồn tư liệu chính như sau để thực hiện luận văn:

- Tài liệu thành văn: Bao gồm các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của trungương, của tỉnh Thái Nguyên; các báo cáo, số liệu thống kê của UBND tỉnh,Thành ủy Thái Nguyên, UBND thành phố Thái Nguyên, Sở Giáo dục và Đàotạo tỉnh, Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Thái Nguyên; các báo cáo củacác trường… có nội dung liên quan đến giáo dục THCS của thành phố TháiNguyên, tỉnh Thái Nguyên

- Tài liệu điền dã: Hình ảnh trường, lớp, các hoạt động giáo dục tác giả cóđược trong quá trình đi thực tế điền dã

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháplogic là chủ đạo nhằm tìm hiểu, hệ thống quá trình ra đời, phát triển của giáodục trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Thái Nguyên qua các thời kỳ Từ

đó, rút ra những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn giáo dục THCS của thànhphố Thái Nguyên

Cùng với đó, tác giả sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp

để làm rõ giá trị tài liệu và nội dung của các tài liệu sử dụng trong nghiên cứu;phương pháp điền dã nhằm thu thập tư liệu ảnh tại thực địa

5 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở giải quyết nhiệm vụ đặt ra, luận văn đóng góp sau:

- Tái hiện quá trình giáo dục trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên từnăm 2009 đến năm 2017

- Kết quả nghiên cứu chỉ rõ mặt tích cực và hạn chế của giáo dục trunghọc cơ sở trong giáo dục phổ thông của thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái

Trang 16

Nguyên Qua đó rút ra được bài học kinh nghiệm, một số kiến nghị, đề xuất vềgiáo dục trung học cơ sở trong thời gian tới.

Trang 17

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN VÀ GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ THÀNH PHỐ TRƯỚC NĂM 2009

1.1 Khái quát về thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

Năm 1962, Phủ Thủ tướng ban hành quyết định số 114 ngày 19/10/1962công nhận thị xã Thái Nguyên trở thành thành phố Thái Nguyên với diện tích

tự nhiên hơn 100 km2, dân số khoảng 60.000 người Thành phố có vị trí thuậnlợi, cách thủ đô Hà Nội 80 km, phía bắc giáp huyện Đồng Hỷ và huyện PhúLương, phía đông giáp thành phố Sông Công, phía tây giáp huyện Đại Từ, phíanam giáp huyện Phú Bình và thị xã Phổ Yên

Thành phố Thái Nguyên mang những nét chung của khí hậu vùng ĐôngBắc Việt Nam, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới Hằng năm

có 2 mùa rõ rệt, lượng mưa trung bình từ 1.700 mm đến 2.000 mm Địa hìnhcủa Thành phố nằm trên vùng trung du với những dãy đồi, núi thấp, độ caotrung bình từ 30 m - 50 m, xen kẽ những cánh đồng hẹp; có nền dốc dần theohướng Tây Bắc - Đông Nam Chất đất chủ yếu là đất sỏi pha với đất sét có độchua trung tính Với chất đất, địa hình và khí hậu như vậy thuận lợi cho pháttriển các loại cây nông, lâm nghiệp có giá trị kinh tế tương đối cao, trong đó,tiêu biểu là cây chè Thành phố Thái Nguyên có nhiều vùng chè nổi tiếng nhưPhúc Trìu, Phúc Xuân, đặc biệt là chè Tân Cương

Thành phố Thái Nguyên cũng là địa phương hội tụ nhiều dân tộc, trong đó

có 8 dân tộc chủ yếu sinh sống là: K i n h ,T à y ,N ùn g ,Sán D ì u ,M ô n g ,S á nC

h a y ,H o a v à D a o

Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, địa giới thành phố Thái Nguyêncũng có những thay đổi Năm 1965, do nhu cầu phát triển kinh tế và tăng cườngkhả năng quốc phòng, hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên được sáp nhập thànhtỉnh Bắc Thái, lấy thành phố Thái Nguyên làm tỉnh lỵ Từ một thị xã nhỏ bé

Trang 18

dưới thời thuộc Pháp, thành phố Thái Nguyên trở thành trung tâm chính trị,kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật, y tế, du lịch, dịch vụ của tỉnhBắc Thái và v ùn g t r u n g d u m i ền n ú i phí a B ắc, bao gồm 16 phường và 8 xãngoại thành Phạm vi thành phố không ngừng được mở rộng, với vị trí thenchốt là cửa ngõ phía Bắc, là cái áo giáp che chở thủ đô Hà Nội, trái tim của tổquốc vừa là chìa khóa của miền châu thổ Bắc Bộ và là một trong những thịtrường quan trọng nhất của Bắc Kỳ, thành phố Thái Nguyên đã trở thành đầumối giao thông giữa các địa phương trong và ngoài tỉnh.

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất (năm 1975), thành phố TháiNguyên có 18 đơn vị hành chính gồm 6 xã, 2 thị trấn và 10 tiểu khu(1) với sốdân là 163.223 người [2, tr6]

Từ năm 1997, tỉnh Bắc Thái được tách ra thành hai tỉnh Bắc Kạn và tỉnhThái Nguyên, thành phố Thái Nguyên là đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh TháiNguyên Với vị trí quan trọng của địa phương, thành phố Thái Nguyên khôngngừng được mở rộng và phát triển

Năm 2005 thành phố có diện tích 173 km2 với dân số trên 23 vạn người;thành phố có 26 đơn vị hành chính gồm 18 phường, 8 xã

Đến năm 2010 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 1615/QĐ-TTgcông nhận thành phố Thái Nguyên là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thái Nguyên.Nhìn chung, so với các địa phương khác trong tỉnh, thành phố Thái Nguyên cónhiều điều kiện thuận lợi hơn để phát triển một nền kinh tế tương đối toàn diệnvới cơ cấu phát triển kinh tế chủ đạo của thành phố là: Công nghiệp - thươngmại dịch vụ - nông lâm nghiệp… cụ thể:

Thành phố Thái Nguyên là đầu mối giao thông quan trọng lưu thông giữacác huyện, thị trong tỉnh, giữa các tỉnh trong vùng Việt Bắc, giữa các tỉnh vùngTrung du miền núi Bắc bộ với các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng và Thủ đô

1 10 tiểu khu: Tân Long, Quan Triều, Hoàng Văn Thụ, Phan Đình Phùng, Chiến Thắng, Phú Xá, Trung Thành, Tân Thành, Hương Sơn, Trưng Vương

Trang 19

Hà Nội thông qua các tuyến quốc lộ: QL3 nối Hà Nội - Thái Nguyên - Bắc Kạn

- Cao Bằng, cửa khẩu Tà Lùng Cao Bằng; QL1B nối Thái Nguyên - Lạng Sơn,cửa khẩu Hữu nghị quan; QL37 nối với các tỉnh Thái Nguyên - Tuyên Quangvới Bắc Giang - Bắc Ninh, hệ thống đường xe lửa Thái Nguyên - Bắc Giang -Lạng Sơn - Hà Nội; Đường cao tốc QL3 mới nối với Thủ đô Hà Nội đã đượcthông tuyến; Thành phố Thái Nguyên cách sân bay quốc tế Nội bài 52Km.Thành phố Thái Nguyên có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đadạng, rất thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp Trên địa bàn tập trung nhiềukhu công nghiệp sản xuất công nghiệp - thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ

và thương mại Với vị thế là thành phố công nghiệp luyện kim đầu tiên và làcánh chim đầu đàn của Ngành Luyện kim Việt Nam Thành phố Thái Nguyên

có Khu công nghiệp Gang thép và các nhà máy luyện kim màu mỗi năm cungcấp cho cho Tổ quốc hơn nửa triệu tấn gang thép Hiện nay đang được đầu tư,

mở rộng giai đoạn 2 để đáp ứng thép gang cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

-Thành phố Thái Nguyên là trung tâm đào tạo lớn, đứng thứ 3 trong toànquốc về giáo dục đào tạo chuyên nghiệp chỉ sau Hà Nội và thành phố Hồ ChíMinh, đồng thời là trung tâm y tế lớn của cả vùng Trung du miền núi phía Bắc.Hiện nay, hai lĩnh vực này được quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trangthiết bị để đáp ứng tốt hơn sự nghiệp giáo dục, chăm sóc sức khỏe cho Nhândân

Thành phố còn là trung tâm nối với các tuyến, tua, điểm du lịch của cáctỉnh phía Bắc Nơi có khu du lịch nổi tiếng Hồ Núi Cốc và vùng chè đặc sảnTân Cương Hiện trên địa bàn có hơn 100 điểm di tích đã được xếp hạng cấptỉnh và quốc gia Giữa trung tâm thành phố là Bảo tàng Văn hóa các Dân tộcViệt Nam - nơi lưu giữ văn hóa của 54 dân tộc trên đất nước Việt Nam; Di tíchĐại đội thanh niên xung phong 915 Đây là những tiền đề thuận lợi để thànhphố Thái Nguyên đẩy mạnh đầu tư phát triển du lịch trong thời gian tới

Ngày 20/12/2016, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 2486/QĐ-TTg

Trang 20

Về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Thái Nguyên, tỉnh

Trang 21

Thái Nguyên đến năm 2035 Theo đó, thành phố được định hướng phát triểnhai bên bờ sông Cầu, theo mô hình đô thị sinh thái, đa trung tâm gắn với việchình thành các khu chức năng: Trung tâm lịch sử hiện hữu; trung tâm giáo dục

- đào tạo, y tế chất lượng cao, thương mại - dịch vụ, tài chính - ngân hàng; cáckhu cải tạo nâng cấp; khu phát triển mới; khu vực phát triển công nghiệp,logistic phía Bắc; khu vực du lịch sinh thái gắn với nông nghiệp chất lượngcao; khu dự trữ phát triển và nông nghiệp đô thị Với mục tiêu xây dựng thànhphố Thái Nguyên thành trung tâm đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực của Quốc gia;trung tâm kinh tế - dịch vụ - du lịch, trung tâm y tế chăm sóc sức khỏe chấtlượng cao gắn với nghiên cứu khoa học của vùng Trung du miền núi phía Bắc.Tính đến 1/10/2017, thành phố Thái Nguyên có diện tích 222,93km2,dân số gần 40 vạn người với 32 đơn vị hành chính trực thuộc (gồm 21phường: Cam Giá, Chùa Hang, Đồng Bẩm, Đồng Quang, Gia Sàng, HoàngVăn Thụ, Hương Sơn, Phan Đình Phùng, Phú Xá, Quan Triều, QuangTrung, Quang Vinh, Tân Lập, Tân Long, Tân Thành, Tân Thịnh, ThịnhĐán, Tích Lương, Trung Thành, Trưng Vương, Túc Duyên; và 11 xã: CaoNgạn, Đồng Liên, Huống Thượng, Linh Sơn, Phúc Hà, Phúc Trìu, PhúcXuân, Quyết Thắng, Sơn Cẩm, Tân Cương, Thịnh Đức); Thành phố có trên

30 trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp; 137 trường mầmnon, tiểu học, THCS; tập trung 13 bệnh viện đa khoa, chuyên khoa củatrung ương và của địa phương [4, tr 1-2]

1.2 Giáo dục trung học cơ sở thành phố Thái Nguyên trước năm 2009

1.2.1 Thời kỳ từ năm 1962 đến năm 1985

Ngày 19/10/1962, Hội đồng Chính phủ ban hành quyết định số 114 thànhlập thành phố Thái Nguyên, trực thuộc tỉnh Thái Nguyên Trước những yêucầu, nhiệm vụ mới, Đảng bộ thành phố Thái Nguyên đã tổ chức Đại hội đạibiểu lần thứ nhất từ ngày 22/5 đến 25/5/1963 Đó là một sự kiện chính trị quantrọng, mở ra một thời kỳ hoạt động mới của Đảng bộ và nhân dân thành phố

Trang 22

Thái Nguyên Đại hội đã đề ra Nghị quyết đại biểu thành phố Thái Nguyên lầnthứ nhất (5/1963) để tổ chức triển khai thực hiện.

Cùng với bước chuyển biến về kinh tế, ngành văn hóa, giáo dục thành phốcũng có những điều kiện thuận lợi để không ngừng nâng cao và mở rộng.Trong thời gian này, các trường lớp phổ thông tăng lên với nhịp độ khá nhanh.Năm học 1962-1963 toàn Thành phố có 77 lớp học phổ thông cấp I + II, tăng1,3 lần so với năm học 1961-1962; có 3.884 học sinh, tăng gần 1,3 lần so vớinăm học 1961-1962 [1, tr110] Các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương cónhiều có gắng trong việc vận động, tổ chức nhân dân đóng góp xây dựngtrường sở, đáp ứng những yêu cầu cơ bản về phương tiện học tập, vui chơi chohọc sinh các cấp Phong trào thi đua “Hai tốt”, học tập các điển hình tiên tiếnđược phát động sâu rộng trong các trường học

Bước sang giai đoạn 1965-1975, trước tình hình giặc Mỹ leo thang bắnphá miền Bắc, ngành Giáo dục Thành phố đã phải có sự chuyển hướng trongđào tạo, thực hiện quyết định của Thành ủy tất cả các lớp học phải nhanh chóngrời khỏi thành phố; trường học ở các xã phải phân tán nhỏ về các xóm Thành

ủy còn chỉ thị các cấp ủy đảng cơ sở phải tận dụng mọi khả năng của nhân dân

và của các cơ quan, công trường để di chuyển và làm thêm trường lớp Nhờ

đó, năm học 1965-1966 ngành Giáo dục Thành phố trong thời gian ngắn đã xâyđược 75 phòng học mới, 16 dãy nhà tập thể và 2 nhà gửi trẻ

Thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tụcthi đua dạy tốt và học tốt”, các năm học 1964-1965, 1965-1966 và 1966-1967,con em các dân tộc thành phố Thái Nguyên trong các trường học đều đạt tỷ lệlên lớp và đỗ tốt nghiệp cao nhất tỉnh Trong năm học 1967-1968, toàn thànhphố có 6 trường cấp II đỗ chính thức 100%; đội học sinh giỏi văn và toán củathành phố đoạt giải nhất tỉnh, góp phần đưa đội giỏi văn lớp 7 đạt giải khuyếnkhích toàn miền Bắc; 60% học sinh thành phố được công nhận là cháu ngoanBác Hồ Trong phong trào thi đua “Hai tốt”, trường phổ thông cấp II HoàngVăn Thụ là lá cờ đầu, được Hội đồng Chính phủ tặng thưởng Huân chương Laođộng hạng Ba

Trang 23

Thời kỳ khôi phục kinh tế sau chiến tranh phá hoại lần I (1969-1972) làchặng đường rất có ý nghĩa đối với thành phố Thái Nguyên tiếp tục đẩy mạnhthực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ III (6/1967) Tiếp đó,tháng 4/1971 Đại hội Đảng bộ thành phố Thái Nguyên lần IV được triệu tập và

đề ra phương hướng, nhiệm vụ mới nhằm phát triển kinh tế, văn hóa Nhữngnăm 1969-1972 cũng đánh dấu bước phát triển mới của ngành Giáo dục thànhphố Thái Nguyên Với phòng trào thi đua “Hai tốt”, các trường đều tích cực đisâu vào việc cải tiến nội dung, phương pháp dạy và học Trong năm học 1971-

1972, số học sinh cấp II được lên lớp đạt vượt xa chỉ tiêu do đại hội Đảng thànhphố lần IV đề ra Toàn thành phố có 20/34 trường đạt danh hiệu “Đơn vị tiêntiến” cấp thành và cấp tỉnh (tăng hơn 18 đơn vị so với năm học 1970-1971) [1,tr138] Ngành Giáo dục Thành phố đã chỉ đạo đưa lao động sản xuất vàotrường học bước đầu có kết quả Dựa vào sức lao động của thầy và trò, được sựủng hộ của nhân dân địa phương, các trường đã tu sửa 63 phòng học, xây dựngthêm 45 phòng bằng tre, nứa, lá và 64 phòng học bằng gạch, ngói

Sau khi đế quốc Mỹ ngừng ném bom lần II, học sinh, giáo viên của cáctrường đã di chuyển về thành phố, kịp thời khắc phục hậu quả chiến tranh,nhanh chóng khôi phục và ổn định trường lớp để đảm bảo tốt nhu cầu học tậpcủa con em nhân dân Phong trào “Hai tốt” vẫn được giữ vững, năm học 1972-

1973 các trường lớp đã đảm bảo cho 22.596 học sinh các cấp trở lại học tậpbình thường mặc dù số học sinh tăng lên 1.800 em Ngành Giáo dục tiếp tụcthực hiện phương châm “giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”, các trườngđều tổ chức nung vôi, làm gạch, tự sửa chữa trường lớp, điển hình là trườngphổ thông Công nghiệp và trường cấp II xã Đồng Quang Chất lượng giáo dụcđược giữ vững, số học sinh lên lớp ở các cấp học đều vượt chỉ tiêu từ 1% đến5% Toàn thành phố có 57% số trường đạt đơn vị tiên tiến cấp thành và cấptỉnh; 85% số học sinh đạt tiêu chuẩn cháu ngoan Bác Hồ

Đại hội lần thứ VI của Đảng bộ thành phố Thái Nguyên (từ 4/6 đến8/6/1974) đã đề ra Nghị quyết tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp văn hóa, giáo dục

Trang 24

trong tình hình mới Ngành Giáo dục Thành phố tiếp tục duy trì và đẩy mạnhphong trào thi đua “Hai tốt”; tăng cường cơ sở vật chất trong các trường học.Bằng kinh phí của Nhà nước, Tỉnh cùng với sự đóng góp của phụ huynh họcsinh, các trường học tổ chức lao động xây dựng phòng học, tu sửa bàn ghế do

đó, số phòng học bán kiên cố từ 34% trong năm học 1972-1973 đã tăng lên59% trong năm học 1973-1974

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, thành phốThái Nguyên trở thành trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa củatỉnh Thành phố là nơi có nhiều trường đại học, trung học chuyên nghiệp, dạynghề và nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học Đội ngũ cán bộ chủ chốt của Thành

ủy do Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ VI (1974) bầu gồm 25 ủyviên, do đồng chí Trần Tường làm Bí thư Thành ủy, các đồng chí Nguyễn ĐìnhHinh và Nguyễn Đức Tân làm Phó Bí thư - cơ bản ổn định nhiệm vụ và vị trícông tác, là một trong những thuận lợi để Đảng bộ trong việc lãnh đạo nhândân đẩy mạnh khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục

Thực hiện kế hoạch 5 năm (1976-1980), ngành Giáo dục thành phố TháiNguyên đã hoàn thành nhiệm vụ năm học 1975-1976 với chất lượng cao vàtoàn diện nhất so với các năm học trước Các trường phổ thông cấp I, II có 85%

số học sinh đạt tiêu chuẩn “Cháu ngoan Bác Hồ”, thi tốt nghiệp cấp II đạt93,9%, vượt chỉ tiêu 3%; tỷ lệ học sinh lên lớp ở các cấp I, II, III đều đạt từ90% đến 95%, vượt chỉ tiêu kế hoạch từ 1% đến 5% Tổ giáo viên bộ môn xãhội Trường cấp II Nha Trang và tổ giáo viên tự nhiên Trường cấp II Gia Sàngđạt danh hiệu “Tổ lao động xã hội chủ nghĩa” Các trường cấp II Gia Sàng, cấp

I - II Nha Trang đạt danh hiệu “Đơn vị tiên tiến xuất sắc”

Năm học 1975-1976, Thành phố có trên 2000 học viên theo học các lớp

bổ túc văn hóa ban đêm Trường bổ túc văn hóa cấp II Trưng Vương mở thêm

2 phân hiệu Nha Trang và Đội Cấn Các đồng chí lãnh đạo Thành ủy và Uỷ bannhân dân thành phố vừa quan tâm động viên phong trào, vừa gương mẫu theo

Trang 25

học các lớp bổ túc văn hóa, do đó phong trào phát triển mạnh, số học viên tăng

400 người so với năm học trước, tỷ lệ thi tốt nghiệp bổ túc cấp II đạt 96% (vượtchỉ tiêu trên 26%), tỷ lệ lên lớp đạt 75% (vượt chỉ tiêu trên 5%)

Năm học 1976-1977, thành phố có 34.875 học sinh, tăng 3.403 học sinh sovới năm học trước, trong đó tỷ lệ học sinh phổ thông tăng 11,1% học sinh bổtúc văn hóa tăng 60% Trước tình hình đó, việc xây dựng trường sở, đảm bảotrang thiết bị dạy và học, đáp ứng yêu cầu học tập của con em nhân dân lànhiệm vụ nặng nề và cấp thiết của Đảng bộ Thành phố Ngày 8/9/1976, Thành

ủy ra Nghị quyết số 15/NQ-TP “Tăng cường lãnh đạo công tác giáo dục, phátđộng cuộc vận động toàn dân tham gia xây dựng trường sở”, thành lập Ban Chỉđạo cuộc vận động do đồng chí Trần Tường, Bí thư Thành ủy làm Trưởng ban.Tiếp đó, ngày 26/3/1977, Thành ủy ra Nghị quyết “Đẩy mạnh lãnh đạo thựchiện cuộc vận động toàn dân tham gia xây dựng trường sở” Ngày 22/10/1977,Thành ủy tổ chức Hội nghị tổng kết cuộc vận động: “Trong cuộc vận động này,toàn Thành phố đã xây dựng và đưa vào sử dụng 171 phòng học kiên cố và bánkiên cố, vượt 23 phòng học so với kế hoạch đề ra (trong số 171 phòng học, có 2nhà 2 tầng, với 22 phòng); đã phân phối tới các trường 3.527 bộ bàn ghế, chấmdứt tình trạng một số nơi phải học 3 ca trong ngày; chấm dứt tình trạng họcsinh các cấp phải ngồi học bàn tròn” [2, tr35]

Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Thái Nguyên lần thứ VII vòng 2(27/1 đến 31/1/1978) đã quyết định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu lãnhđạo của Đảng bộ trong 2 năm 1978-1979 và các năm tiếp theo Thực hiện Nghịquyết của Đại hội, Ngành Giáo dục Thành phố cũng có bước tiến mới Trongnăm học 1978-1979, tổng số học sinh các cấp lên tới 41.000 em, tăng hơn3.000 học sinh so với năm học trước Các trường đã khắc phục khó khăn, xâydựng được 90 phòng học bán kiên cố và kiên cố Các trường cấp I + II TânLong, Quan Triều, Hoàng Văn Thụ, Nha Trang, Hương Sơn, Núi Voi, TrạiCau, Gia Sàng, Túc Duyên tổ chức cho học sinh lao động sửa chữa trường lớp,

Trang 26

bàn, ghế hư hỏng Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố trang bị thêm cho cáctrường trên 2000 bộ bàn ghế, cử 350 giáo viên theo học các hệ tại chức Chấtlượng dạy và học trong các trường được nâng lên: số giờ dạy có chất lượng khá

và giỏi tăng 50% so với năm học trước; có 3 học sinh đạt giải nhất, 1 học sinhđạt giải nhì trong kỳ thi chọn học sinh giỏi toán và văn lớp 7 của tỉnh Đảng

bộ Thành phố lãnh đạo hoàn thành xuất sắc việc xây dựng trường sở kiên cố,nửa kiên cố, đảm bảo đủ chỗ ngồi học cho con em nhân dân, chất lượng giáodục toàn diện ngày càng được nâng lên, các chỉ tiêu trong 3 năm học đều vượt

kế hoạch Vì vậy, Thành phố Thái Nguyên là một trong hai đơn vị được Uỷ bannhân dân tỉnh tặng cờ và tiền thưởng vì có thành tích xuất sắc trong phong tràothi đua xây dựng trường (1976-1978)

Bước sang năm 1979, tình hình biên giới phía Bắc có nhiều diễn biếnphức tạp Thực hiện Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương Đảng và của Tỉnh ủy,Ngành Giáo dục Thành phố thực hiện bản Tuyên bố ngày 17/2/1979 của Chínhphủ và Thông báo ngày 18/2/1979 của UBND tỉnh Thái Nguyên làm tốt côngtác tuyên truyền, giáo dục Toàn Ngành quyết tâm cùng các tầng lớp nhân dânThành phố sẵn sàng lên đường chiến đấu và phục vụ chiến đấu chống xâmlược Đảng bộ Thành phố đã lãnh đạo công tác giáo dục chuyển hướng kịp thời,thực hiện thắng lợi năm học 1978-1979 Số học sinh được lên lớp ở các cấp đạt

từ 95% đến 98% (vượt kế hoạch từ 1% đến 3%), thi tốt nghiệp cấp II phổ thôngđạt từ 89% đến 97% (vượt chỉ tiêu từ 7,8% đến 9%) [2, tr 73-78]

Bên cạnh đó, hưởng ứng chiến dịch “Trần Quốc Toản ra quân đánh thắngquân xâm lược” do Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố phát động, Liên hộithiếu niên tiền phong các Trường phổ thông cấp II đã tích cực quyên góp, ủng

hộ lương thực, thực phẩm cho bộ đội và thương binh, tiêu biểu điển hình nhưTrường phổ thông cấp II Đồng Quang quyên góp được 794 đậu xanh, 806 quảtrứng và 38 kg đường ủng hộ bộ đội và thương binh Ngay sau khi quân xâmlược rút về nước, Ngành Giáo dục Thành phố tiếp tục cùng nhân dân thành phố

Trang 27

quyên góp, ủng hộ đồng bào Cao Bằng nhanh chóng ổn định đời sống và khôiphục sản xuất Nhiều giáo viên và sinh viên được cử, chia làm nhiều đoàn lêncác tỉnh biên giới công tác hỗ trợ các tỉnh khắc phục hậu quả chiến tranh.

Sau gần 5 năm đẩy mạnh khôi phục và phát triển kinh tế, xã hội 1979) Đến năm 1980 Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Thái Nguyên lần thứVIII (từ ngày 4/2 đến 7/2/1980) quyết định phương hướng, nhiệm vụ và chỉ tiêu

(1976-cụ thể về kinh tế, xã hội, giáo dục trong 2 năm 1980-1981 Sự nghiệp giáo dụctiếp tục đạt được nhiều kết quả

Thực hiện Nghị quyết số 14 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục, từ năm

1981 cuộc cải cách giáo dục đã đưa hệ thống giáo dục của nước ta thống nhấtthực hiện trong 12 năm (bỏ lớp vỡ lòng), kéo theo sự đổi mới chương trình sáchgiáo khoa và cải tiến chữ viết Ngày 27/3/1981 Hội đồng Chính phủ ban hànhQuyết định số 135-CP về hệ thống giáo dục phổ thông mới Theo đó Hệ thốnggiáo dục phổ thông trong cả nước là hệ thống trường phổ thông 12 năm, đượcchia làm hai bậc: Bậc phổ thông cơ sở, từ lớp 1 đến lớp 9; Bậc phổ thông trunghọc, từ lớp 10 đến lớp 12 Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định sáp nhập cấp 1

và cấp 2 thành trường phổ thông cơ sở

Ngành Giáo dục Thành phố thực hiện nghiêm túc cuộc cải cách giáo dụcnăm 1981 theo chỉ đạo của Trung ương, Bộ GD&ĐT Trong 3 năm (1980-1982) Ngành đã tập trung huy động các nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chấttrường, lớp cho con em địa phương học tập, xây dựng 40 phòng học mới, tu sửahàng trăm phòng học cũ, mua sắm trên 4.000 bộ bàn ghế trang bị cho cáctrường học Năm học 1982-1983 phong trào thi đua “Hai tốt” tiếp tục được duytrì, bậc phổ thông cơ sở thành phố có 805 lớp với tổng số 31.900 học sinh (tăng2.361 em học sinh so với năm học trước) trong đó có 8.775 học sinh chiếm 1/3tổng số học sinh phổ thông cơ sở học theo chương trình cải cách mới

Hầu hết con em cán bộ và Nhân dân của thành phố Thái Nguyên được đếntrường học Các bậc học phát triển cân đối và không ngừng nâng cao chất

Trang 28

lượng giáo dục Cùng với việc quan tâm xây dựng cơ sở vật chất trường học,Đảng bộ Thành phố đặc biệt coi trọng vấn đề nâng cao chất lượng giảng dạy,học tập của giáo viên và học sinh Phong trào cải tiến phương pháp giảng dạythường xuyên được phát động và được đông đảo các thầy, cô giáo hưởng ứng.Cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương sáng cho học sinh noitheo” cũng được phát động, có tác dụng thiết thực trong việc nâng cao chấtlượng giáo dục trong nhà trường Nhiều điển hình tập thể tiên tiến xuất hiện,nổi bật là các Trường phổ thông cơ sở Độc Lập, Nha Trang, Đội Cấn, Phú Xá,Hương Sơn, Trưng Vương, Nguyễn Huệ [2, tr105].

Từ năm 1983 đến năm 1985, mô hình trường vừa học, vừa làm trong cácđơn vị sản xuất được mở rộng Cơ sở vật chất của các trường học được nângcấp từng bước; tỷ lệ kiên cố hóa, ngói hóa trường học ngày càng tăng lên Tiếptục phấn đấu từng bước chuyển biến chất lượng theo yêu cầu cải cách giáo dục.100% giáo viên cấp 1, 2 phổ cập trung học hoàn chỉnh, nhiều giáo viên có trình

độ sơ cấp chính trị, có kiến thức qua lớp quản lý kinh tế 3-6 tháng Ngành tậptrung tổ chức mỗi giáo viên học 1 nghề phụ Tu sửa, xây dựng cơ sở vật chấtcho dạy và học, không học ca 3, đẩy mạnh phân cấp quản lý giáo dục

Năm 1985 thành phố Thái Nguyên được công nhận là đơn vị hoàn thànhphổ cập cấp I bổ túc văn hóa cho nhân dân trên địa bàn Trong giai đoạn 1981-

1985 toàn bộ các trường theo hình thức đào tạo phổ thông cơ sở (dạy 2 bậc họccấp I II), không có trường phổ thông cơ sở Tư thục được phép hoạt động theoquy định của Nhà nước

Bên cạnh những kết quả đạt được bậc phổ thông cơ sở Thành phố vẫn cònnhiều hạn chế: Công tác quản lý cơ sở vật chất chưa tốt; tốc độ xây dựngtrường, lớp chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh, nhiều trường cònphải học 3 ca, chất lượng đội ngũ giáo viên chưa thật đáp ứng được yêu cầu củacuộc cải cách giáo dục

Trang 29

1.2.2 Thời kỳ từ năm 1986 đến năm 2008

Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 12/1986 là mốc mở đầucho công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước Việt Nam Đại hội chỉ rõ:

“Chặng đường đầu tiên là một bước quá độ nhỏ trong bước quá độ lớn” vànhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đườngđầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng nhữngtiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trongchặng đường tiếp theo” [50, tr 41- 42] Trong đó, chủ trương của Ngành Giáodục trong thời kỳ này là đa dạng hóa các loại hình trường, lớp, các hình thứcđào tạo, quy chế các trường, lớp dân lập, tư thục đã được ban hành

Tại thành phố Thái Nguyên, Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ

X (30/9 - 4/10/1986) thông qua Nghị quyết quyết định phương hướng, nhiệm

vụ của Đảng bộ trong nhiệm kỳ Đảng bộ và Nhân dân thành phố Thái Nguyêncùng cả nước bước vào công cuộc đổi mới, trong đó việc chăm lo cải thiện,từng bước nâng cao đời sống vật chất và văn hóa tinh thần cho Nhân dân là mộttrong những mục tiêu hàng đầu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thànhphố lần thứ X đã nêu lên nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể trên lĩnh vực văn hóa -giáo dục - xã hội: “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, xây dựng conngười mới xã hội chủ nghĩa ở cả 3 ngành học, kể cả văn hóa, đạo đức, hướngnghiệp, dạy nghề và lao động sản xuất Riêng bổ túc văn hóa đến năm 1990phấn đấu hoàn thành phổ cập cấp I toàn Thành phố Tăng cường chất lượngcông tác nuôi dạy trẻ Phát động quần chúng tham gia xây dựng trường sở,nhằm khắc phục và phấn đấu giảm bớt các lớp phải học ca 3 Tăng cườngcủng cố rạp hát ngoài trời, tăng cường cơ sở vật chất cho rạp và các đội chiếubóng ” [5, tr36]

Thực hiện Nghị quyết Đại hội, chất lượng 3 bậc học và đội ngũ giáo viênđược nâng lên Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” để xâydựng cơ sở vật chất, tiếp tục ngói hóa, giải quyết đầy đủ bàn, ghế cho học sinh,

Trang 30

nỗ lực xóa 3 ca và quan tâm đến đời sống giáo viên Ngay trong năm học

1986-1987, từ 80 lớp phải học ca ba, đã giảm xuống còn 31 lớp Mặc dù còn nhiềukhó khăn về kinh tế, các ngành học, cấp học Thành phố vẫn cố gắng vươn lên,trở thành đơn vị dẫn đầu toàn tỉnh Bắc Thái trong năm học 1987-1988 Trongnăm học này, ngành Giáo dục Thành phố có đội học sinh giỏi đi thi, đạt đượcgiải của tỉnh và toàn quốc Nhiều trường phổ thông cơ sở đạt danh hiệu trườngtiên tiến Năm học 1988-1989 tỷ lệ tốt nghiệp của bậc phổ thông cơ sở đạt95,1%, trong đó có 16/32 trường đỗ tốt nghiệp 100%

Đại hội đại biểu Thành phố Thái Nguyên lần thứ XI (29/3-30/3/1989) đãthông qua Nghị quyết quyết định phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm trong 2năm (1989-1990) trong đó giáo dục vẫn là một trong những mục tiêu hàng đầucủa Đảng bộ Thành phố: “Ổn định từng bước đời sống nhân dân, trước hết đốivới công nhân, viên chức, lực lượng vũ trang, các đối tượng chính sách ; giảiquyết việc làm cho người lao động; nâng cao chất lượng sự nghiệp giáo dục, y

tế, văn hóa ” [29, tr 1-2]

Nhận thức rõ vị trí hàng đầu của sự nghiệp giáo dục trong chiến lược conngười Đảng bộ đã có sự đầu tư thích đáng cho Ngành Giáo dục Thành phố.Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lần thứ XI chỉ rõ: Trong 2 nămtới, công tác giáo dục phải hướng trọng tâm vào việc từng bước ổn định tìnhhình và nâng cao chất lượng Phải đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân; tiếptục điều chỉnh cải cách giáo dục theo hướng nâng cao chất lượng kiến thức vănhóa và rèn luyện đạo đức cho học sinh Phải đảm bảo các nhu cầu tối thiểu về

cơ sở vật chất của các trường; giải quyết đủ bàn ghế cho các trường phổ thông

cơ sở, kiên quyết xóa bỏ học ca 3 Đổi mới công tác quản lí giáo dục, mở rộngquyền chủ động cho trường học, phân cấp cho các phường, xã trong công tácquản lý, phát triển và tự trang trải kinh phí giáo dục

Được sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng và chính quyền, ngànhGiáo dục thành phố Thái Nguyên có những bước chuyển biến mới so với thời

Trang 31

gian trước Một số trường học đã biết gắn các hoạt động giáo dục với 3 chươngtrình kinh tế lớn Đội ngũ giáo viên được củng cố và nâng cao dần về chấtlượng Tuy nhiên, một bộ phận giáo viên còn yếu về chuyên môn, nghiệp vụ,chưa thật sự yêu ngành, yêu nghề Hiện tượng học sinh lười học, phạm pháphình sự, tiêu cực xã hội ở lứa tuổi học sinh có chiều hướng tăng lên Nhằmkhắc phục tình trạng này, ngày 4/9/1989 Ban Thường vụ Thành ủy ra Nghịquyết 01/NQ-TP “Về công tác giáo dục 1989-1990” Nghị quyết xác định mụctiêu chung là “Tiếp tục củng cố, ổn định và phát triển sự nghiệp giáo dục phùhợp với điều kiện kinh tế, xã hội theo hướng đổi mới với trọng tâm là tiếp tụcđiều chỉnh cải cách giáo dục, kiên quyết xóa mù chữ, thực hiện phổ cập cấp I,quan tâm tốt chất lượng toàn diện Đổi mới phương pháp dạy và học, từng bướcnâng cao chất lượng đào tạo trên các mặt chính trị, đạo đức, văn hóa, khoa học

và giáo dục Tiếp tục củng cố và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán

bộ quản lí giáo dục theo hướng tiêu chuẩn hóa; đa dạng hóa các loại trường lớp

từ mầm non đến phổ thông Thực hiện dân chủ hóa trường học Phấn đấu giữvững là đơn vị dẫn đầu về công tác giáo dục của tỉnh” [29]

Ban Thường vụ Thành ủy cũng vạch ra những nhiệm vụ và một số biệnpháp thực hiện chủ yếu, trong đó nhấn mạnh: “Xây dựng kế hoạch phát triểngiáo dục nằm trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy mô loại hình phảiphù hợp với yêu cầu và khả năng kinh tế của thành phố và từng cơ sở phường,

xã Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện theo mục tiêu, phù hợp với yêu cầucủa cải cách giáo dục, trước hết quan tâm giải quyết chất lượng đạo đức và vănhóa đầu tư các điều kiện cần thiết để thực hiện công tác giáo dục”

Quán triệt thực hiện Nghị quyết 01 của Ban Thường vụ Thành ủy, cáctrường giữ vững nền nếp dạy và học, một số trường công tác đào tạo bắt đầuchuyển hướng đa dạng Để nhanh chóng xóa bỏ tình trạng học ca 3 và gópphần nâng cao chất lượng giáo dục, Thành ủy tập trung giải quyết sự yếu kém

về cơ sở vật chất của các trường học Ngân sách dành cho sự nghiệp giáo dục

Trang 32

năm 1990 trên 1,5 tỷ đồng, trong đó 250 triệu đồng dành cho việc mua sắmbàn ghế và xây dựng phòng học Nhờ vậy, từ chỗ có 43 lớp phải học ca 3 đầunăm học, cuối năm học chỉ còn 12 lớp Bậc phổ thông cơ sở đã quy hoạchmạng lưới trường, lớp, xây dựng và nâng cao chất lượng mô hình trườngchuyên, lớp chọn.

Bước sang giai đoạn 1991-1995 sự nghiệp Giáo dục Thành phố đã cóbước phát triển về chất Năm 1991 có 24 phường, xã (trong tổng số 25 phường,xã) được công nhận hoàn thành xóa nạn mù chữ Năm học 1991-1992 thi tốtnghiệp cấp II đạt 94,5% Bậc Phổ thông cơ sở có 21 em học sinh đạt giải trong

kỳ thi học sinh giỏi toàn quốc; 61 thầy cô giáo đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏicấp thành phố, 21 thầy cô giáo đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh [6].Trên cơ sở quán triệt “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá

độ đi lên chỉ nghĩa xã hội” và “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xãhội đến năm 2000” được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII,những mục tiêu kinh tế - xã hội của Đảng bộ tỉnh Bắc Thái, Đại hội đại biểuĐảng bộ Thành phố Thái Nguyên lần thứ XII vòng 2 (20/1-22/1/1992) tiếp tụcquan tâm đến chiến lược con người, quyết định trong những năm trước mắtphải tiếp tục đổi mới công tác giáo dục, ổn định và nâng cao chất lượng giáodục trong nhà trường Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, Đảng bộ thànhphố vẫn giữ được sự ổn định về kinh tế, từ đó tạo cơ sở vững chắc cho sựnghiệp giáo dục phát triển

Những năm 1993-1995, Ngành Giáo dục phát triển nhanh Số học sinhnăm 1993 tăng 4,3% so với năm 1992 Hệ thống trường, lớp đầy đủ, khangtrang hơn trước, 100% số trường đã được ngói hóa và chấm dứt tình trạng học

“ca 3” Thành ủy chủ trương tập trung đầu tư cho trường chuyên, lớp chọnnhằm đào tạo nhân tài cho đất nước Ngoài việc mở rộng các loại hình trường,lớp bán công, bán trú ngành Giáo dục Thành phố còn quan tâm đến việc nângcao chất lượng giáo dục

Trang 33

Năm học 1993-1994 khối phổ thông cơ sở thành phố Thái Nguyên có 47trường (18 trường cấp 1, 15 trường cấp 2 và 14 trường Phổ thông cơ sở) với

1724 giáo viên, 1038 lớp, 38.327 học sinh Trong đó, cấp 2: 386 lớp, 15.185học sinh; kết quả thi tốt nghiệp cấp 2 đạt 96%, tỷ lệ lên lớp bình quân đạt 95%.Khối phổ thông cơ sở đã có 88 em học sinh đạt giải cuộc thi học sinh giỏi củatỉnh, 3 em học sinh đạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, chất lượng giáodục toàn diện của học sinh được quan tâm, tỷ lệ học sinh có đạo đức tốt, kháchiếm 91% [7] Thành phố đã đầu tư trên 700 triệu đồng vào việc xây dựng, tusửa trường học, chỉ đạo đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, nhiều nơi đãhuy động được sự hỗ trợ ngân sách của các địa phương, các đơn vị và sự đónggóp của Nhân dân để xây dựng cơ sở vật chất các nhà trường, tạo điều kiệnkinh phí tổ chức đi thăm quan, du lịch cho giáo viên và học sinh Ngành Giáodục Thành phố là đơn vị tiên tiến cấp tỉnh

Năm học 1994-1995 Thành phố thực hiện chủ trương tách riêng cáctrường cấp 1, cấp 2 Quy hoạch lại hệ thống trường sở, đa dạng hóa các loạihình trường lớp Từng bước xây dựng kiên cố các trường học, có kế hoạchđầu tư trang thiết bị phục vụ dạy và học ở các nhà trường Duy trì phổ cậpcấp 1, phấn đấu phổ cập cấp 2 ở các xã, phường có đủ điều kiện Năm học1994-1995 khối phổ thông cơ sở trên địa bàn Thành phố có 49 trường (19trường tiểu học, 17 trường THCS và 13 trường phổ thông cơ sở) với 1690giáo viên và 38.363 học sinh

Ngành Giáo dục Thành phố đã chỉ đạo làm tốt các chương trình trong cácngành học, đặc biệt là chương trình chuyên, chương trình giáo dục công nghệ,chương trình lồng ghép Duy trì và mở rộng các loại hình trường, lớp, từngbước tiêu chuẩn hóa độ ngũ giáo viên bằng việc thường xuyên bồi dưỡngnghiệp vụ, mở các lớp đại học tại chức, cử cán bộ, giáo viên đi đào tạo và đàotạo lại, tổ chức các cuộc thi giáo viên dạy giỏi, giáo viên thanh lịch, thi đồ dùngdạy học từ cơ sở đến thành phố giúp đội ngũ giáo viên nâng cao chất lượng về

Trang 34

chuyên môn, lý luận và đạo đức Đội ngũ cán bộ quản lí và giáo viên đến năm

1995 Thành phố có 1.731 người; trong đó 178 người có trình độ đại học, 862người có trình độ cao đẳng, số còn lại có trình độ trung cấp sư phạm 100%giáo viên ở các trường phổ thông cơ sở được tiêu chuẩn hóa (có trình độ đạihọc và cao đẳng) Năm học 1994-1995, Thành phố có 76 giáo viên dạy giỏi cấptỉnh, 390 giáo viên dạy giỏi cấp thành phố Ngành Giáo dục Thành phố cònluôn chăm lo cải thiện đời sống vật chất và văn hóa tinh thần cho đội ngũ giáoviên Thành ủy cũng chủ trương đưa chương trình giáo dục dân số, pháp luật,luật lệ an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường vàocác trường học đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho họcsinh thành phố

Ngày 6/11/1996, tại kì họp lần thứ 10, Quốc hội khóa VI nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị quyết chia tách và điều chỉnh địa giới một

số tỉnh trong cả nước Tỉnh Bắc Thái được tách thành hai tỉnh: Bắc Kạn và TháiNguyên từ ngày 1/1/1997 Thành phố Thái Nguyên đặt tại tỉnh Thái Nguyên.Như vậy thành phố Thái Nguyên sau 31 năm là tỉnh lị thuộc tỉnh Bắc Thái - từnay là thủ phủ của tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm quan trọng về công nghiệp,thương mại, dịch vụ, khoa học kỹ thuật, giáo dục và là đầu mối giao thông củacác tỉnh Việt Bắc Việc tái lập lại tỉnh Thái Nguyên hoàn toàn không làm thayđổi vị trí, nhiệm vụ chính trị của thành phố Thái Nguyên với dân số trên205.000 người

Từ năm 1996 đến năm 1998, quy mô giáo dục ở các cấp học của thànhphố Thái Nguyên tiếp tục được mở rộng; chất lượng dạy và học được nâng lên

Số học sinh tốt nghiệp các cấp đều đạt trên 95% 100% các trường học đượcngói hóa trong đó có trên 40% trường học có nhà cao tầng

Năm học 1997-1998 có 95,42% học sinh tốt nghiệp THCS Bước vào nămhọc 1998-1999 khi ngành Giáo dục Thành phố bắt đầu thực hiện Luật giáo dục

1998, Ngành đã chỉ đạo củng cố kiện toàn tổ chức cán bộ của các nhà trường,

Trang 35

việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, quy hoạch hệ thống trường lớp theo hướngchuẩn hóa đang từng bước được triển khai tích cực Sau 1 năm thực hiện Nghịquyết Trung ương 2, khóa VIII về giáo dục và đào tạo, chất lượng giáo dụctoàn diện của các trường được nâng lên, đặc biệt là công tác đảng trong trườnghọc được trú trọng, các tổ chức cơ sở đảng được củng cố; số giáo viên được kếtnạp đảng ngày 1 tăng Chủ trương điều chuyển giáo viên trong ngành giáo dụcphổ thông đã được chỉ đạo chặt chẽ, từng bước giải quyết những khó khăn vềtình trạng mất cân đối cơ cấu giáo viên giữa các trường Năm 1998 có 8/25 đơn

vị xã phường hoàn thành phổ cập giáo dục THCS

Năm học 1999-2000 sự nghiệp Giáo dục Thành phố có nhiều tiến bộ, tỷ lệtốt nghiệp THCS đạt 96,25% Tính đến tháng 3/2000 đã có 19/25 phường xãhoàn thành phổ cập giáo dục THCS [8], đến tháng 12/2000 thành phố cơ bảnhoàn thành phổ cập giáo dục THCS, tạo tiền đề cho sự phát triển của ngànhgiáo dục thành phố trong những năm đầu của thế kỷ 21 [9]

Luật Giáo dục số 11/1998/QH10 ngày 02/12/1998 được ban hành quyđịnh chi tiết, cụ thể hệ thống giáo dục của cả nước, trong đó giáo dục phổ thông

có hai bậc học là bậc tiểu học và bậc trung học; bậc trung học có hai cấp học làcấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông Như vậy giáo dục phổ thông

đã được chia thành 3 cấp học, cụ thể:

- Cấp 1: Từ lớp 1 đến lớp 5, cuối lớp 5 phải thi bằng Tiểu học

- Cấp 2: Từ lớp 6 đến lớp 9, cuối lớp 9 phải thi bằng Trung học cơ sở rồithi nhập học vào lớp 10 trường công lập

- Cấp 3: Từ lớp 10 đến lớp 12, cuối lớp 12 thi bằng tốt nghiệp Trung họcphổ thông

Cũng từ năm 1998 Trung ương đã có chủ trương xã hội hóa sự nghiệpgiáo dục Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo sựnghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lànhmạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục

Trang 36

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thựchiện đa dạng hoá các loại hình nhà trường và các hình thức giáo dục; khuyếnkhích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sựnghiệp giáo dục.

Nhà nước quy định cơ sở giáo dục phổ thông gồm: Trường tiểu học;Trường trung học sơ sở; Trường trung học phổ thông; Trung tâm kỹ thuật tổnghợp - hướng nghiệp Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được thànhlập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục

và được tổ chức theo các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục Nhàtrường thuộc các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục đều chịu sựquản lý nhà nước của các cơ quan quản lý giáo dục theo sự phân công, phâncấp của Chính phủ Nhà nước tạo điều kiện để trường công lập giữ vai trò nòngcốt trong hệ thống giáo dục quốc dân; có chính sách khuyến khích tổ chức, cánhân mở trường dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội

Luật quy định: Bậc Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố vàphát triển những kết quả của giáo dục tiểu học, có trình độ học vấn phổthông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếptục học trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vàocuộc sống lao động

Thực hiện Luật giáo dục và chủ trương của Bộ, ngành Giáo dục Thànhphố đã tập trung chỉ đạo các nhà trường nghiêm túc thực hiện, theo đó tiếp tụcchia tách các trường Phổ thông cơ sở thành trường Tiểu học và Trường THCS.Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, huy động mọi nguồn lực đầu tư cho sự nghiệpgiáo dục, khuyến khích thành lập, xây dựng các trường dân lập, tư thục

Đến năm 2000 Quốc hội ban hành Nghị quyết số 41/2000/NQ-QH10 ngày09/12/2000 về thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở từ năm 2001 đến

2010 nhằm mục tiêu bảo đảm cho hầu hết thanh niên, thiếu niên sau khi tốtnghiệp tiểu học tiếp tục học tập để đạt trình độ trung học cơ sở trước khi hết

Trang 37

tuổi 18, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tàiphục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Việc phổ cập giáo dục trung học cơ sở trên địa bàn thành phố TháiNguyên được thực hiện đáp ứng đầy đủ các chỉ tiêu sau:

Đối với xã, phường, thị trấn trực thuộc thành phố Thái Nguyên: Huy động

số học sinh tốt nghiệp tiểu học hằng năm vào học trung học cơ sở đạt tỷ lệ từ95% trở lên; ở những xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khókhăn từ 80% trở lên Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở trung học cơ sở;giảm tỷ lệ lưu ban, bỏ học; bảo đảm tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sởhàng năm từ 90% trở lên; ở những xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn vàđặc biệt khó khăn từ 75% trở lên Bảo đảm tỷ lệ thanh, thiếu niên trong độ tuổi

từ 15 đến 18 đạt trình độ trung học cơ sở từ 80% trở lên; ở những xã có điềukiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn từ 70% trở lên

Đối với thành phố Thái Nguyên: Bảo đảm 90% số xã, phường, thị trấntrực thuộc thành phố đạt các mục tiêu phổ cập giáo dục trung học cơ sở

Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Thái Nguyên lần thứ XIV 16/11/2000) đã thông qua Nghị quyết số 02 ngày 29/6/2001 của Ban Thường

(14/11-vụ Thành ủy Thái Nguyên về xây dựng và phát triển thành phố Thái Nguyêngiai đoạn 2001 đến năm 2005 Thành ủy đã đề ra Chương trình hành động 10

điểm, trong đó có điểm 4: “Phát triển văn hóa - xã hội, xây dựng nếp sống văn minh đô thị để thành phố xứng đáng là trung tâm văn hóa, khoa học, giáo dục của vùng Việt Bắc” Qua đó, sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo Thành phố tiếp tục

nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi để có bướcphát triển cả về số lượng và chất lượng Trong năm học 2000-2001 số học sinhcác cấp lên lớp đạt bình quân 97%, số học sinh tốt nghiệp THCS đạt 97,5%.Chủ trương khai thác các nguồn vốn, quản lý tập trung nguồn thu tiền đóng gópxây dựng của học sinh để đầu tư kiên cố hóa trường lớp bước đầu triển khaithực hiện đạt kết quả Năm 2000 số trường tiểu học và THCS đạt 59,1% trên

Trang 38

tổng số trường của địa bàn Thành phố có nhà cao tầng Năm 2001 đã xây dựngmới được 11 nhà lớp học cao tầng với 86 phòng học kiên cố với tổng số vốntrên 6 tỷ đồng [10].

Năm học 2001-2002 ở bậc trung học cơ sở, số học sinh lên lớp đạt 99,7%,trong đó số khá, giỏi là 71,5% (tăng 2,05%); số học sinh tốt nghiệp đạt 89,52%,trong đó có 37,62% khá, giỏi Trong năm học này, Thành phố đã đầu tư trên 6

tỷ đồng để xây dựng thêm 92 phòng học kiên cố

Năm học 2002-2003 việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số QH10 ngày 9/12/2000 của Quốc hội về thực hiện phổ cập giáo dục THCS vàchủ trương của Bộ Giáo dục về đổi mới chương trình sách giáo khoa lớp 1 vàlớp 6 đảm bảo yêu cầu đề ra Sau hai năm thực hiện việc quản lý điều hành tậptrung nguồn thu tiền đóng góp xây dựng của học sinh để kiên cố hóa trường lớpđược khẳng định là chủ trương đúng đắn Đến năm 2002 đã có 59,5% số trườngTHCS có nhà cao tầng, chất lượng giáo dục các cấp học, bậc học nâng lên.Năm học 2002-2003 tỷ lệ học sinh lên lớp THCS đạt 99,7%; tỷ lệ tốt nghiệpTHCS đạt 88,9%

41/2000/NQ-Năm học 2003-2004, thành phố Thái Nguyên nhận bàn giao 01 trườngTHCS dân lập từ tỉnh về thành phố quản lý Năm học này đã có 60% số trườngtrên địa bàn có nhà cao tầng, riêng trong năm 2003 đã đầu tư xây dựng được 5trường học kiên cố (50 phòng học) với tổng số kinh phí 7,9 tỷ đồng Tính đếnnăm học 2003-2004 bậc THCS Thành phố có 27 trường đáp ứng nhu cầu họctập của 16.155 học sinh

Công tác bồi dưỡng, đào tạo, nâng cao trình độ cho cán bộ, giáo viên đượccác trường học quan tâm Tính riêng năm 2003 các bậc học của thành phố TháiNguyên đã có 78 giáo viên được cử đi học cao học và có 16 người nhận đượcbằng thạc sỹ Các hoạt động giáo dục ngoài nhà trường, công tác khuyến họcđược quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển giáo dục toàn diện,đảm bảo công bằng trong giáo dục Năm 2003 đã có 24/25 xã, phường có Hộikhuyến học

Trang 39

Với những thành tựu về kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục đã góp phầntạo tiền đề cho Đảng bộ và nhân dân các dân tộc thành phố Thái Nguyên phấnđấu xây dựng Thành phố trở thành đô thị loại II theo tiêu chuẩn do Nhà nướcquy định Ngày 14/10/2002, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số135/2002/QĐ-TTG công nhận thành phố Thái Nguyên là đô thị loại II.

Như vậy, Ngành Giáo dục Thành phố Thái Nguyên trong giai đoạn

2000-2005 đã đóng góp tích cực vào thành tích sự nghiệp giáo dục của tỉnh TháiNguyên được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận là đơn vị đạt chuẩn phổ cậpgiáo dục Tiểu học đúng độ tuổi năm 2002 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở.Thành phố Thái Nguyên năm 2004 cũng được công nhận hoàn thành phổ cậpgiáo dục trung học cơ sở

Năm 2005 Quốc hội đã bỏ phiếu thông qua Luật giáo dục (sửa đổi) cóhiệu lực thi hành từ 2006 Theo Luật này học sinh học hết chương trình THCS

có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì đượcTrưởng phòng giáo dục và đào tạo huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh cấp bằngtốt nghiệp THCS, đồng nghĩa với việc bãi bỏ thi tốt nghiệp THCS thay bằnghình thức xét tốt nghiệp THCS được thực hiện từ năm 2006

Để triển khai thực hiện tốt Luật giáo dục sửa đổi 2005, ngành Giáo dụcthành phố Thái Nguyên đã nghiêm túc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2khóa VIII về giáo dục và đào tạo và Quyết định số 553/QĐ-UBND phê duyệt

Đề án Phổ cập giáo dục bậc Trung học phổ thông tỉnh Thái Nguyên giai đoạn2005-2015; thực hiện Quyết định số 2826/2006/QĐ-UBND ngày 18/12/2006của UBND tỉnh Thái Nguyên… Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố đã tíchcực tham mưu cho Thành ủy, UBND thành phố, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnhchỉ đạo các trường THCS tiếp tục thực hiện chủ trương xây dựng trường đạtchuẩn quốc gia, nâng cao chất lượng giáo dục Năm học 2005-2006 tỷ lệ họcsinh tốt nghiệp THCS đạt 97,15% (trong đó loại giỏi đạt 54,68%, loại khá đạt30,34%)

Để đảm bảo những yêu cầu tốt nhất đáp ứng nhu cầu học tập của con emnhân dân thành phố Thái Nguyên Trong hai năm 2006-2007 Thành phố đã

Trang 40

quan tâm, đầu tư xây dựng được 02 trường (THCS Tân Thành, THCS QuangTrung) đạt trường chuẩn quốc gia giai đoạn 2001-2010 để nâng cao chất lượngdạy học [13] Ngoài ra, Thành phố còn quan tâm đa dạng hóa các loại hìnhtrường lớp để tạo điều kiện thuận lợi cho người học, mở rộng các loại hìnhtrường học (công lập, dân lập, tư thục) ở các cấp học, bậc học; linh hoạt cáchình thức giáo dục thường xuyên, đưa lớp học đến khu dân cư…

Năm 2006 trên địa bàn Thành phố có tổng số 94 trường (mầm non, tiểuhọc, THCS) với 815 lớp, 26.850 học sinh và 2.247 giáo viên, trong đó hệ thống

cơ sở vật chất xây dựng cơ bản bậc THCS trong năm học này hiện có như sau:

Bảng 1.1 Cơ sở vật chất xây dựng cơ bản THCS

Nhà thí nghiệm

Phòng bộ môn

Phòng Máy tính

Nhà làm việc hiệu bộ

Nhà hội trường

Nhà vệ sinh

Tổng số chỗ ngồi học sinh T.số

phòng Phòng Cấp 4

Cao tầng Phòng tạm Tổng số Lớp mới

1 THCS 361 415 98 268 49 15 15 12 7 21 4 49 13886 1853

Nguồn: [25]

Nhiều trường chú trọng đầu tư trang thiết bị dạy học: Máy tính, đầu video,tăng âm, sách giáo khoa, sách tham khảo nhằm nâng cao chất lượng dạy - học(bảng 1.2)

Bảng 1.2 Trang thiết bị dạy học THCS năm học 2005-2006

T.số Vô tuyến

T.số đầu video

T.số Radio catset

T.số tăng âm

Sách giáo khoa

Sách tham khảo

Tổng số

Đồng bộ Cấp 1

Đồng bộ Cấp 2

1 (cấp 2)THCS 128 128 95 35 32 38 12.580 15.900

Nguồn: [25]

Thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ năm 2006 Ngành tổchức xét tốt nghiệp THCS Năm học 2007-2008 đã tổ chức xét tốt nghiệpTHCS cho 3.349/3.396 học sinh = 98,62%, trong đó xếp loại giỏi là 749 em

Ngày đăng: 18/12/2019, 12:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Thái Nguyên (1991), Lịch sử Đảng bộ thành phố Thái Nguyên 1930 - 1975, Thành ủy Thái Nguyên xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộthành phố Thái Nguyên 1930 - 1975
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Thái Nguyên
Năm: 1991
2. Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Thái Nguyên (2002), Lịch sử Đảng bộ thành phố Thái Nguyên 1975 - 2002, Thành ủy Thái Nguyên xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộthành phố Thái Nguyên 1975 - 2002
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Thái Nguyên
Năm: 2002
3. Ban Thường vụ Thành ủy Thái Nguyên (2018), Báo cáo số 199-BC/TU ngày 12/3/2018, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 199-BC/TU ngày12/3/2018
Tác giả: Ban Thường vụ Thành ủy Thái Nguyên
Năm: 2018
4. Ban Thường vụ Thành ủy Thái Nguyên (2018), Báo cáo số 226-BC/TU ngày 27/4/2018, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 226-BC/TU ngày27/4/2018
Tác giả: Ban Thường vụ Thành ủy Thái Nguyên
Năm: 2018
5. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tại Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X, Phông số 02, Mục lục số 03, Đơn vị bảo quản 109, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tại Đại hội Đảng bộ thànhphố lần thứ X
6. Báo cáo số 01-BC/TU ngày 20/1/1993 của Thành ủy Thái Nguyên, Phông số 02, Mục lục số 06, Đơn vị bảo quản 243, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 01-BC/TU ngày 20/1/1993 của Thành ủy Thái Nguyên
7. Báo cáo số 08-BC/TU ngày 22/8/1994 của Thành ủy Thái Nguyên, Phông số 02, Mục lục số 06, Đơn vị bảo quản 243, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 08-BC/TU ngày 22/8/1994 của Thành ủy Thái Nguyên
8. Báo cáo số 89-BC/TU ngày 10/3/2000 của Thành ủy Thái Nguyên, Phông số 03, Mục lục số 01, Đơn vị bảo quản 253, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 89-BC/TU ngày 10/3/2000 của Thành ủy Thái Nguyên
9. Báo cáo số 04-BC/TU ngày 01/3/2001 của Thành ủy Thái Nguyên, Phông số 03, Mục lục số 03, Đơn vị bảo quản 462, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 04-BC/TU ngày 01/3/2001 của Thành ủy Thái Nguyên
10. Báo cáo số 13-BC/TU ngày 14/1/2002 của Thành ủy Thái Nguyên, Phông số 03, Mục lục số 03, Đơn vị bảo quản 462, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 13-BC/TU ngày 14/1/2002 của Thành ủy Thái Nguyên
11. Báo cáo số 33-BC/TU, ngày 7/1/2003 của Thành ủy Thái Nguyên, Phông số 03, Mục lục số 03, Đơn vị bảo quản 462, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 33-BC/TU, ngày 7/1/2003 của Thành ủy Thái Nguyên
12. Báo cáo số 58-BC/TU, ngày 24/12/2003 của Thành ủy Thái Nguyên, Phông số 03, Mục lục số 03, Đơn vị bảo quản 462, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 58-BC/TU, ngày 24/12/2003 của Thành ủy Thái Nguyên
13. Báo cáo số 1946/BC-SGD&ĐT ngày 24/12/2007 của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên, Phông số 03, Mục lục số 06, Đơn vị bảo quản 520, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 1946/BC-SGD&ĐT ngày 24/12/2007 của Sở Giáo dục và Đàotạo tỉnh Thái Nguyên
14. Báo cáo số 1082/BC- SGDĐT ngày 6/8/2008 của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên, Phông số 03, Mục lục số 06, Đơn vị bảo quản 522, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 1082/BC- SGDĐT ngày 6/8/2008 của Sở Giáo dục và Đào tạotỉnh Thái Nguyên
15. Báo cáo số 607/BC-SGDĐT ngày 13/5/2009 của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên, Phông số 03, Mục lục số 06, Đơn vị bảo quản 523, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 607/BC-SGDĐT ngày 13/5/2009 của Sở Giáo dục và Đào tạotỉnh Thái Nguyên
16. Báo cáo số 1159/BC-SGDĐT ngày 18/8/2009 của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên, Phông số 03, Mục lục số 06, Đơn vị bảo quản 523, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 1159/BC-SGDĐT ngày 18/8/2009 của Sở Giáo dục và Đào tạotỉnh Thái Nguyên
17. Báo cáo số 1630/BC-SGDĐT ngày 6/11/2009 của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên, Phông số 03, Mục lục số 06, Đơn vị bảo quản 523, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 1630/BC-SGDĐT ngày 6/11/2009 của Sở Giáo dục và Đào tạotỉnh Thái Nguyên
18. Báo cáo số 323/BC-SGDĐT ngày 16/3/2010 của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên, Phông số 03, Mục lục số 06, Đơn vị bảo quản 523, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 323/BC-SGDĐT ngày 16/3/2010 của Sở Giáo dục và Đào tạotỉnh Thái Nguyên
19. Báo cáo số 328/BC-SGDĐT ngày 17/3/2010 của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên, Phông số 03, Mục lục số 06, Đơn vị bảo quản 523, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 328/BC-SGDĐT ngày 17/3/2010 của Sở Giáo dục và Đào tạotỉnh Thái Nguyên
20. Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng bộ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2010-2015, Phông số 03, Mục lục số 06, Đơn vị bảo quản 523, Lưu trữ tại Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng bộ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh TháiNguyên lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2010-2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w