1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý dạy học tự chọn ở các trường trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)

112 108 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý dạy học tự chọn ở các trường trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Quản lý dạy học tự chọn ở các trường trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Quản lý dạy học tự chọn ở các trường trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Quản lý dạy học tự chọn ở các trường trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Quản lý dạy học tự chọn ở các trường trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Quản lý dạy học tự chọn ở các trường trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Quản lý dạy học tự chọn ở các trường trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Quản lý dạy học tự chọn ở các trường trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Quản lý dạy học tự chọn ở các trường trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Quản lý dạy học tự chọn ở các trường trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Quản lý dạy học tự chọn ở các trường trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Quản lý dạy học tự chọn ở các trường trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Quản lý dạy học tự chọn ở các trường trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Quản lý dạy học tự chọn ở các trường trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Quản lý dạy học tự chọn ở các trường trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Quản lý dạy học tự chọn ở các trường trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Quản lý dạy học tự chọn ở các trường trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)Quản lý dạy học tự chọn ở các trường trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Huệ

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào của tác giả khác

Tác giả luận văn

Bế Minh Thoa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Huệ, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các Thầy, Cô và cán bộ Trường Đại học

Sư phạm Thái Nguyên đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin tri ân sự động viên, khích lệ và ủng hộ của gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

Bế Minh Thoa

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ v

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC TỰ CHỌN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 5

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 10

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 12

1.2.1 Quản lý nhà trường, quản lý dạy học 12

1.2.2 Dạy học tự chọn, quản lý dạy học tự chọn ở trường trung học phổ thông 14

1.3 Một số vấn đề về dạy học môn tự chọn ở trường THPT 14

1.3.1 Vài nét về chương trình giáo dục phổ thông và dạy học tự chọn trong chương trình 14

1.3.2 Dạy học tự chọn ở trường THPT 16

Trang 6

1.4 Nội dung quản lý dạy học tự chọn ở trường trung học phổ thông 23

1.4.1 Quản lý việc thực hiện mục tiêu dạy học tự chọn 23

1.4.2 Quản lý việc thực hiện nội dung chương trình dạy học tự chọn 23

1.4.3 Quản lý cách thức tổ chức thực hiện nội dung, chương trình dạy học tự chọn 25

1.4.4 Quản lý giáo viên và học sinh trong dạy học tự chọn 25

1.4.5 Quản lý việc kiểm tra đánh giá trong dạy học tự chọn 33

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dạy học tự chọn ở trường trung học phổ thông 34

1.5.1 Nhóm yếu tố ảnh hưởng thuộc về chủ thể quản lý 34

1.5.2 Nhóm yếu tố ảnh hưởng thuộc về đối tượng quản lý 34

1.5.3 Nhóm yếu tố ảnh hưởng thuộc về môi trường quản lý 35

Tiểu kết chương 1 35

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DẠY HỌC TỰ CHỌN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN HẠ LANG, TỈNH CAO BẰNG 37

2.1 Khái quát chung về khảo sát thực trạng 37

2.1.1 Mục tiêu, nội dung khảo sát 37

2.1.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian khảo sát 37

2.1.3 Công cụ và phương pháp khảo sát 40

2.1.4 Cách thức xử lý số liệu khảo sát 40

2.2 Thực trạng dạy học tự chọn ở các trường THPT huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng 40

2.2.1 Thực trạng về nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên trung học phổ thông về ý nghĩa của dạy học tự chọn 40

2.2.2 Thực trạng về nội dung dạy học tự chọn ở các trường THPT của huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng 44

Trang 7

2.2.3 Thực trạng sử dụng phương pháp trong dạy học tự chọn ở các trường

THPT trên địa bàn huyện Hạ Lang 46

2.2.4 Thực trạng về hình thức tổ chức dạy học tự chọn ở các trường THPT huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng 48

2.2.5 Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học phục vụ dạy học tự chọn 49

2.3 Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tự chọn ở các trường THPT huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng 50

2.3.1 Thực trạng quản lý mục tiêu, kế hoạch dạy học tự chọn của giáo viên 50

2.3.2 Thực trạng quản lý việc thực hiện nội dung, chương trình dạy học tự chọn 54

2.3.3 Thực trạng quản lý phương pháp, hình thức dạy học tự chọn của giáo viên 56

2.3.4 Thực trạng quản lý hoạt động dạy tự chọn của giáo viên và hoạt động học tự chọn của học sinh 58

2.3.5 Thực trạng việc quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá của giáo viên 62

2.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dạy học tự chọn ở các trường THPT huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng 64

2.5 Đánh giá chung về những ưu điểm và hạn chế của quản lý dạy học tự chọn ở các trường THPT huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng 67

2.5.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 67

2.5.2 Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân 67

Tiểu kết chương 2 69

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ DẠY HỌC TỰ CHỌN Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNGHUYỆN HẠ LANG, TỈNH CAO BẰNG 70

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý 70

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 70

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 70

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 70

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 70

Trang 8

vi

3.2 Biện pháp quản lý dạy học tự chọn ở các trường THPT huyện Hạ Lang,

tỉnh Cao Bằng 71

3.2.1 Bồi dưỡng nhằm nâng cao nhận thức về dạy học tự chọn cho các đối tượng liên quan 71

3.2.2 Phát huy vai trò của tổ chuyên môn trong quản lý dạy học tự chọn 73

3.2.3 Tổ chức có hiệu quả hoạt động bồi dưỡng năng lực chuyên môn và nghiệp vụ thực hiện dạy học tự chọn theo quan điểm phân hóa cho đội ngũ giáo viên 75

3.2.4 Tổ chức hoạt động dạy học tự chọn theo đơn vị lớp, đảm bảo nhu cầu tự chọn môn học tự chọn và chủ đề tự chọn của học sinh 77

3.2.5 Sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và xây dựng các điều kiện hỗ trợ dạy học tự chọn 79

3.2.6 Tổ chức giờ lên lớp theo nhu cầu và hứng thú học tập của HS 81

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý dạy học tự chọn 83

3.4 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 85

3.4.1 Mục đích khảo sát 85

3.4.2 Đối tượng xin ý kiến đánh giá 85

3.4.3 Tiến trình thực hiện phương pháp chuyên gia để xác định mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 85

3.4.4 Kết quả đánh giá mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 86

Tiểu kết chương 3 89

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90

1 Kết luận 90

2 Khuyến nghị 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ Bảng:

Bảng 2.1 Thực trạng nhận thức của CBQL, GV các trường THPT 42 Bảng 2.2 Thực trạng về nội dung DHTC 45 Bảng 2.3 Thực trạng sử dụng phương pháp DHTC 46 Bảng 2.4 Thực trạng về hình thức tổ chức DHTCở các trường THPT

huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng 48 Bảng 2.5 Thống kê CSVC, thiết bị dạy học 49 Bảng 2.8 Tổng hợp đánh giá về mức độ thực hiện các nội dung quản lý

kế hoạch dạy học 53 Bảng 2.9 Tổng hợp đánh giá về mức độ thực hiện nội dung,chương trình

dạy học tự chọn 54 Bảng 2.10 Thực trạng việc chỉ đạo đổi mới phương pháp, hình thức dạy học

tự chọn ở các trường THPT huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng 56 Bảng 2.11 Kết quả khảo sát thực trạng QL hoạt động dạy học tự chọn của

GV ở các trường THPT huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng 58 Bảng 2.12 Kết quả khảo sát thực trạng QL hoạt động học tự chọncủa HS

ở các trường THPT huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng 61 Bảng 2.13 Tổng hợp đánh giá về mức độ thực hiện quản lý hoạt động kiểm

tra, đánh giá của giáo viên 63 Bảng 2.14.Thực trạng về yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dạy học tự chọnở

các trường THPT huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng 64 Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết của các biện pháp 86 Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm mức độ khả thi của các biện pháp 87

Biểu đồ:

Biểu đồ 2.1 Tổng hợp đánh giá về mức độ thực hiện các nội dung quản lý

kế hoạch dạy học 53Biểu đồ 2.2 Tổng hợp đánh giá về mức độ thực hiện nội dung,chương

trình dạy học tự chọn 55Biểu đồ 3 Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thicủa các biện

pháp 88

Sơ đồ:

Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý dạy học tự chọn 85

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Từ năm học 2019-2020, lộ trình áp dụng chương trình giáo dục phổ thông mới bắt đầu được thực hiện Nghị quyết số: 88/2014/QH13 của Quốc hội về đổi

mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông ghi rõ: “Đổi mới nội dung

giáo dục phổ thông theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và định hướng nghề nghiệp; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên

Ở cấp THPT yêu cầu học sinh học một số môn học bắt buộc đồng thời được

tự chọn các môn học và chuyên đề học tập theo hình thức tích lũy tín chỉ” [21]

Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo định hướng phân hóa mạnh ở cấp THPT, trong đó cùng với các môn bắt buộc và tự chọn (bắt buộc) sẽ có các chuyên đề học tập nhằm đáp ứng học sinh các lớp 11,12

tự chọn nhằm đáp ứng hiểu biết và kỹ năng ban đầu là nhập môn các môn khoa học hoặc ngành nghề; giúp học sinh có những thông tin định hướng và thông tin định hướng và tiếp cận nghề nghiệp sau THPT

Ở Việt Nam, dạy học tự chọn trong chương trình giáo dục phổ thông dù

đã và đang được nghiên cứu, tuy nhiên năng lực tổ chức, quản lý cũng như xây dựng các điều kiện để triển khai dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa còn nhiều hạn chế Việc nghiên cứu các biện pháp quản lý dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa là rất cần thiết và quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường Đặc biệt hơn nữa, ở bậc học Trung học phổ thông vấn

đề dạy học phân hóa chưa được chú trọng đúng mức nên chưa phát huy hết tiềm năng và lợi thế của nó

Trong những năm gần đây, các trường THPT huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng đã và đang tổ chức dạy học phân hóa theo các văn bản chỉ đạo của ngành.Tuy nhiên năng lực tổ chức, quản lý cũng như các điều kiện để tổ chức

Trang 12

quản lý dạy học tự chọn tại nhà trường còn nhiều hạn chế và gặp nhiều lúng túng Việc nghiên cứu các biện pháp QLDH các môn học tự chọn của nhà trường là vấn đề cấp thiết và quan trọng hiện nay

Trong những năm qua, với cương vị là Tổ trưởng chuyên môn của nhà trường, bản thân tôi luôn suy nghĩ, trăn trở tìm ra biện pháp quản lý dạy học phù hợp với đặc điểm tình hình của nhà trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục cho

nhà trường Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý dạy học tự chọn ở các trường THPT huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng" để nghiên

cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý dạy học tự chọnở các trường THPT huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng, luận văn đề xuất một số biện pháp quản lý dạy học tự chọn ở các trường THPT huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Quản lý dạy học tự chọn ở trường THPT 3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý dạy học tự chọn ở các

trường THPT huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng

4 Giả thuyết khoa học

Do các biện pháp quản lý dạy học tự chọn chưa rõ ràng nên dạy học môn học tự chọn ở các trường THPT huyện Hạ Lang tỉnh Cao Bằng hiện nay còn nhiều hạn chế Nếu người hiệu trưởng có được các biện pháp quản lý hoạt động dạy học tự chọn phù hợp với điều kiện phát triển của nhà trường trong giai đoạn hiện nay thì dạy học tự chọn ở các trường THPT huyện Hạ Lang tỉnh Cao Bằng

sẽ có hiệu quả hơn

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý dạy học tự chọn theo chương trình giáo dục trung học phổ thông

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý dạy học tự chọn ở các trường THPT huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng

Trang 13

5.3 Đề xuất biện pháp quản lý dạy học tự chọn cho các trường THPT huyện

Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng và khảo nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của chúng

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1.Về nội dung

Luận văn tập trung nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý dạy học tự chọn trong chương trình giáo dục phổ thông cho Hiệu trưởng nhà trường

6.2 Về khách thể khảo sát: Cán bộ quản lý, giáo viên giảng dạy các môn tự

chọn và học sinh các trường THPT Hạ Lang và trường THPT Bằng Ca, huyện

Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng

6.3 Về thời gian khảo sát: Từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 03 năm 2019

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận

Mục đích: Sử dụng các phương pháp này để xây dựng cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

- Phân tích và tổng hợp lí thuyết

- Phân loại và hệ thống hóa lí thuyết

- Mô hình hóa lí thuyết

- Phương pháp giả thuyết

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát

Thu thập thông tin qua việc quan sát hoạt động giảng dạy của giáo viên trongnhàtrườngthôngqua việc dự giờ; quan sát hoạt động quản lý dạy học của Ban giám hiệu, quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn của tổ trưởng chuyên môn…

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra hoặc phỏng vấn trực tiếp CBQL,GV

và HS với mục đích thu thập các số liệu nhằm xác định thực trạng các biện pháp quản lý dạy học tự chọn hiện có tại nhà trường Phân tích nguyên nhân của những thành công và hạn chế của thực trạng này

Trang 14

7.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Nghiên cứu giáo án, nội dung sinh hoạt tổ nhóm, dự giờ dạy trên lớp của GV… nhằm đánh giá kết quả công tác quản lý dạy học tự chọn tại nhà trường

7.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Tổng kết kinh nghiệm quản lí hoạt động giảng dạy của nhà trường thông qua các hội thảo, báo cáo kinh nghiệm, sinh hoạt chuyên môn

7.3 Các phương pháp hỗ trợ

7.3.1 Phương pháp chuyên gia

Tham khảo ý kiến chuyên gia trong quá trình xây dựng đề cương, thiết kế công cụ nghiên cứu, đề xuất biện pháp thông qua xêmina, phỏng vấn trực tiếp, xin ý kiến góp ý

7.3.2 Phương pháp thống kê toán học

Dùng một số công thức toán thống kê để xử lí kết quả nghiên cứu nhằm rút ra kết luận khoa học

8 Cấu trúc luận văn

Gồm phần mở đầu; kết luận và khuyến nghị; danh mục tài liệu tham khảo; phụ lụcvà 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý dạy học tự chọn ở trường Trung học phổ thông

Chương 2: Thực trạng quản lý dạy học tự chọn ở các trường Trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng

Chương 3: Biện pháp quản lý dạy học tự chọn ở các trường Trung học phổ thông huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC TỰ CHỌN

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Vào cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, khoa học giáo dục thực sự có sự biến đổi về lượng và chất Trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, các nhà nghiên cứu giáo dục đã đi sâu nghiên cứu về vai trò và trách nhiệm của đội ngũ CBQL trong việc quản lí HĐDH trong nhà trường V.A.Xukhomlinxki, V.P Xtrezicondin, Jaxapob đã nghiên cứu và đề ra một số vấn đề quản lí của HT ở trường phổ thông như vấn đề phân công nhiệm vụ giữa HT và PHT Các tác giả

đã thống nhất và khẳng định HT phải là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm trong công tác quản lí nhà trường P.V Zimin, M.I.Konđakôp, N.I.Saxerđôtôp đã đi sâu nghiên cứu công tác lãnh đạo HĐGD, giáo dục trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong công tác quản lí của HT [28]

Dạy học tự chọn là một phương thức và xu thế trong giáo dục, xuất hiện

từ khá lâu trên thế giới Xu thế này xuất phát từ mục đích giáo dục phải hướng tới sự phát triển cao nhất của cá nhân học sinh, khai thác và tạo điều kiện năng lực, sở trường, năng khiếu cá nhân được bộc lộ, nuôi dưỡng và hoàn thiện trí tuệ cùng nhân cách học sinh trong suốt quá trình giáo dục

Mặt khác, DHTC còn là một xu thế nhằm tăng tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của mỗi nhà trường Phương thức DHTC, cho đến nay, được tổng kết gồm

có ba loại hình: học ở nhà, trường tự chọn và chương trình tự chọn Riêng chương trình tự chọn lại có hai cấp độ khác nhau: đó là môn học tự chọn và chủ đề tự chọn

- Học ở nhà: là một xu thế xuất hiện khá sớm và phát triển mạnh mẽ ở Mỹ

vì lí do tôn giáo (cha mẹ không muốn cho con tới trường công vì muốn gìn giữ, bảo vệ các giá trị truyền thống) Hiện nay, xu hướng này vẫn tồn tại và khá phổ

Trang 16

biến Tại nước Mỹ, năm 1993, loại hình tự chọn học ở nhà được công nhận và hợp pháp hoá tại 50 bang, với 1,5 triệu học sinh đang học tại nhà, gấp năm lần

so với năm 1990 và vượt quá số học sinh đang học tại trường công của thành phố New York Nhiều chuyên gia giáo dục dự báo, học ở nhà sẽ là loại hình tự chọn phát triển mạnh trong tương lai, nhất là với gia đình kinh tế khá giả, có điều kiện

- Trường tự chọn: Loại hình trường tự chọn còn xuất hiện sớm hơn, từ đầu thập kỷ 90, ở bang Virginia (Mỹ) và ngày càng phổ biến Cũng như học ở nhà, trường tự chọn sẽ là kiểu học tập của tương lai.Với loại hình trường tự chọn, học sinh có thể lựa chọn cách thức học tập phù hợp nguyện vọng và thời lượng mỗi môn học

- Chương trình tự chọn: Sự khác biệt của loại hình học theo chương trình

tự chọn, là nó diễn ra ngay trong nhà trường truyền thống, dựa trên một chương trình cốt lõi gồm những chủ đề các môn học, tự chọn ở đây đi theo hai cấp độ khác nhau, bao gồm môn học tự chọn và chủ đề tự chọn

- Môn học tự chọn: do giáo viên lựa chọn (có sự tham khảo ý kiến của các bậc cha mẹ) Theo các chuyên gia giáo dục, ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, mục đích của môn học tự chọn là nhằm phát huy sở trường, hứng thú của học sinh, nâng cao trình độ văn hoá, thúc đẩy sự phát triển về thể chất, tâm hồn và các

kỹ năng tư duy, hành động, khả năng giải quyết vấn đề của học sinh

Các nước trên thế giới, cấp trung học phổ thông kéo dài trong 3 năm (một

số nước là 2 năm dành cho độ tuổi từ 15 đến 18 Nhìn chung trên thế giới giáo dục trung học phổ thông đều hướng vào mục tiêu chủ yếu là hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có

Trang 17

điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, do đó hiện nay giáo dục trung học phổ thông đã quan tâm nhiều hơn đến chất lượng, phấn đấu để ngày càng có nhiều học sinh được hưởng một nền giáo dục trung học có chất lượng được nâng cao, chuẩn bị nguồn lực cho con người thế kỷ XXI, thế kỷ của đỉnh cao trí tuệ Nội dung chương trình dạy học ở các nước chủ yếu vẫn là học nhiều môn, bao gồm tất cả các nội dung liên quan đến đời sống hàng ngày của trẻ và các kiến thức về khoa học cơ bản Một số nước đã chú ý rèn luyện khả năng thực hành, tính tự tin, khả năng tự khám phá và kỹ năng sống cho học sinh.Về thời lượng học, phần lớn các nước đều tổ chức học cả ngày (dạy học 2 buổi/ngày) Để hình thức dạy học 2 buổi/ngày không lãng phí về thời gian mà mang lại hiệu quả dạy học cao thì cần phải có chương trình DHTC ở buổi thứ hai,

do đó ngoài các môn học bắt buộc thuộc chương trình chính khoá các nước đã tăng

số lượng các môn học dưới hình thức DHTC được tiến hành hết sức nhẹ nhàng, vừa sức với học sinh

Giáo dục Trung học phổ thông Thái LanGDTrH ở Thái Lan thực hiện bắt buộc 3 năm đối với mọi trẻ em từ 15 đến

18 tuổi Nội dung chương trình trung học phổ thông ở Thái Lan gồm 4 lĩnh vực:

Từ năm 2000 học sinh được tự lựa chọn các môn học yêu thích Sự thay đổi này đã biến lối học vẹt truyền thống thành những hình thức học sáng tạo và kích thích trí tuệ của các bạn học sinh hơn Các trường trung học phổ thông ở Thái Lan đã chú trọng đến nội dung chương trình DHTC, đưa các môn tự chọn

và chủ đề tự chọn vào dạy cho học sinh ngoài chương trình dạy học các môn học bắt buộc

Về cơ sở vật chất, mỗi trường học đều có đầy đủ 1 phòng học/1 lớp, với

đủ bàn ghế 1 đến 2 chỗ ngồi, có đủ phòng học chuyên biệt, phòng chức năng, thư viện, phòng thiết bị thí nghiệm, phòng học tiếng, phòng học vi tính, phòng họp, sân chơi rộng rãi Đổi mới giáo dục ở Thái Lan thực hiện từng công đoạn dựa theo điều kiện và sự phát triển của mỗi vùng

Giáo dục Trung học phổ thông ở Trung Quốc

Trang 18

Giáo dục trung học gồm Giáo dục phổ thông và Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp Giáo dục phổ thông được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục sơ trung và cao trung (tương đương với cấp 2 và cấp 3) mỗi giai đoạn 3 năm Các môn học gồm Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ, Chính trị, Lịch sử, Địa, Lý, Hoá, Sinh học, Kỹ thuật lao động Bên cạnh các môn bắt buộc trong chương trình chính khoá, HS còn được tham gia lựa chọn các môn học, các chủ đề tự chọn mà mình thích, HS được học chương trình DHTC Qua đó nhằm đạt các yêu cầu: tính ổn định của chương trình, chú ý hơn đến việc học phát hiện, làm việc độc lập và hợp tác, tập giải quyết vấn đề và các nội dung cần lựa chọn để học tập, đưa vào các cấp những cơ sở đầu tiên của KHTN và KHXH cũng như toán học hiện đại và ngôn ngữ, coi trọng các nhiệm vụ đặc trưng cho môn học trong giờ Nghệ thuật,

Âm nhạc và giờ học ở xưởng trường

Giáo dục Trung học phổ thông Hoa Kỳ

Cũng như các nước khác Hoa Kỳ thực hiện GDTrH bắt buộc 3 năm, bên cạnh những môn cốt lõi được dạy trong chương trình như Tiếng mẹ đẻ, Toán, Khoa học, Nghệ thuật, Thể dục thì những môn học khác như Môi trường, Tôn giáo cũng như nội dung đặc thù của một số môn học cốt lõi được đưa vào dạy trong nhà trường trung học phổ thông dưới hình thức tự chọn Các trường THPT

ở Mỹ đã đưa vào dạy các nội dung tự chọn như: Âm nhạc, Kịch, Thể thao nhằm giúp học sinh phát triển năng khiếu cá nhân Các trường còn tổ chức các ban nhạc học sinh, các đội đồng ca hợp xướng sinh hoạt ngoài giờ lên lớp, ở những lớp này còn tổ chức dạy sử dụng nhạc cụ cho những học sinh có nhu cầu, có nguyện vọng

Ngoài ra, một số trường THPT ở Hoa Kỳ cũng đưa một số nội dung tự chọn khác tạo điều kiện cho học sinh có thể trang bị cho bản thân những kiến thức, kỹ năng tối thiểu và cần thiết cho cuộc sống sau này như: các kiến thức

về phòng chống tội phạm, kỹ năng người tiêu dùng, kỹ năng sống dưới hình thức DHTC

Như vậy, một số nước trên thế giới đã tổ chức đa dạng các nội dung và

Trang 19

hình thức dạy học và giáo dục, ngoài việc tăng thời gian học tập còn tăng số lượng các môn học dưới hình thức tự chọn đã trở thành xu thế chung và tất yếu

Qua các thông tin trên có thể rút ra một số nhận xét sau:

Ở hầu hết các nước, số năm học bậc trung học phổ thông là 2 hoặc 3 năm (tuỳ theo điều kiện và truyền thống GD) Hầu như các nước đều có chương trình quốc gia thống nhất Số môn học: khoảng 10 đến 12 môn, một số nước phân chia thành môn cốt lõi (Tiếng mẹ đẻ, Toán và Khoa học) và môn nền tảng (các môn còn lại) Giáo viên nói chung phải dạy đủ tất cả các môn, cũng có nước bố trí được GV dạy các môn chuyên biệt như: Hoạ - Nhạc, Thể dục, Ngoại ngữ và Tin học nên nhiều trường đã tổ chức hình thức DHTC, học sinh ngoài việc học các môn bắt buộc còn được học chương trình DHTC, nhằm đáp ứng nhu cầu, sở thích, tạo điều kiện, năng lực, sở trường, năng khiếu cá nhân được bộc lộ và phát triển

Tìm hiểu xu thế tổ chức DHTC trên thế giới cho thấy các môn học tự chọn

ở nhiều nước có nhiều sự khác biệt Tuy nhiên, xu thế chung là tỉ lệ thời lượng dành cho các môn học tự chọn tăng dần từ THCS tới THPT, thường từ 10% ở THCS tăng lên đến 40% ở THPT Tại một số nước như Hoa Kỳ, Đức, Newzeland, sau khi kết thúc chương trình cơ bản (Basis Curriculum), chươngtrình của 2 lớp cuối cấp hoàn toàn chỉ bao gồm các khóa học tự chọn Việc phân chia các môn học tự chọn diễn ra khác nhau ở các nước

Từ kinh nghiệm DHTC của các nước Mỹ, Phần Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore và Trung Quốc… đã rút ra nhận định: Để tổ chức DHTC thực sự có ý nghĩa và hiệu quả thì chương trình phải bao gồm 2 hệ thống Đó là chương trình các môn học bắt buộc và chương trình các môn học tự chọn; việc học tập được thực hiện theo chế độ tín chỉ; các học trình thường được xây dựng ở nhiều cấp

độ khác nhau; tỉ lệ thời lượng DHTC cao, thường từ 30% trở lên và có xu hướng ngày càng tăng; để tổ chức DHTC có hiệu quả, cần phải có những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất; hình thức DHTC đòi hòi GV phải sáng tạo và đầu tư nhiều

Trang 20

công sức Chương trình THPT mới của Việt Nam đã tiếp cận với những xu thế chung của thế giới là: bảo đảm tính toàn diện và cân đối, tính phát triển, tính thiết thực và cập nhật Tuy nhiên chương trình THPT chỉ mới có nội dung các môn học bắt buộc, đa số các trường mới chỉ thực hiện dạy học các môn bắt buộc trong chương trình, môn có chủ đề DHTC giáo viên vẫn phải chọn, biên soạn nội dung cho phù hợp, các nội dung dạy học đáp ứng nhu cầu, hứng thú học tập và tạo điều kiện cho học sinh phát triển năng khiếu thì chưa được các nhà trường chú trọng đưa vào dạy cho HS

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Trong những năm gần đây, vấn đề dạy học tự chọn đã thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả Theo tác giả Trần Luận (Viện Khoa học giáo dục Việt Nam), DHTC nhằm mục đích phân hoá học sinh cũng như góp phần giáo dục toàn diện, phát triển năng lực cá nhân trong một số lĩnh vực học tập, góp phần bồi dưỡng tài năng theo đặc điểm của cấp Trung học và của địa phương, đạt được mục tiêu của giáo dục THPT Chương trình DHTC là sự phát triển theo chiều sâu của các kiến thức, kỹ năng cơ bản trong chương trình THPT hiện hành ở các lớp 10, 11,

12 (trừ môn nghề phổ thông và ngoại ngữ 2 có chương trình độc lập) Tăng cường khả năng vận dụng, thực hành các kiến thức, kỹ năng cơ bản để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội… gần gũi với đời sống của học sinh Theo định hướng của nội dung DHTC ở trung học mà Viện Chiến lược và chương trình GD đưa ra thì tất cả các môn bắt buộc trong chương trình THPT hiện hành đều được đưa vào nội dung DHTC Đối với môn Ngữ văn, Lịch sử và Địa lý thì nhằm phát triển các kỹ năng thực hành giải quyết các tình huống có vấn đề trong đời sống gần gũi với học sinh Các môn Âm nhạc, Thể dục nhằm phát triển các kiến thức, kỹ năng cơ bản gắn với bản sắc, truyền thống của dân tộc, phát triển năng khiếu cá nhân của học sinh

Riêng đối với những trường tổ chức dạy 2 buổi/ngày, ngoài thời gian học chính khoá bắt buộc phải tuân thủ kiến thức của chương trình khung thì học sinh

có quyền tự do lựa chọn môn học mình yêu thích, nhưng tối đa là 3 môn học

Trang 21

Mục tiêu của DHTC là không biến buổi học phụ kia thành học thêm, nhồi nhét kiến thức mà tập trung phát triển năng khiếu cho học sinh, phối hợp “học mà chơi, chơi mà học”, tạo ra hứng thú và năng lực sáng tạo cho học sinh Một số

thuật ngữ cơ bản và vấn đề liên quan như sau: Phân hóa;Giáo dục; Dạyhọc;

Phân hóa trong giáo dục; Năng lực; Tích hợp trong giáo dục; Học vấn phổ thông

và các lĩnh vực học tập; Chương trình GD phổ thông (xét theo mứcđộ có các

loại: cơ bản, mở rộng, nâng cao, chuyên sâu; xét về tính phổ biến có chương trình

GD bắt buộc; tự chọn với tự chọn bắt buộc và tự chọn tuỳ ý) Việc phát triển

chương trình GD của nhiều quốc gia trên thế giới đang chuyển từ “định hướng

đầu vào”sang “định hướng đầu ra”- còn được gọi là quan điểm phát triển

chương trình dựa vào năng lực người học; Hình thức tổ chức phân hoá trong

giáo dục (Phân ban; Phân luồng; Dạy học tự chọn; Phân ban kết hợp với dạy học

tự chọn; Phân luồng kết hợp với dạy học tự chọn)

Những căn cứ của phân hoá trong giáo dục bao gồm:

- Triết lí giáo dục: Trong xu thế hội nhập, toàn cầu hoá, đề tài cho rằng triết lý GD Việt Nam trong giai đoạn tới phải tiếp cận được triết lý GD chung

của thế kỷ XXI, vì vậy, GD Việt Nam phải là nền GD đại chúng, cho mọi người

trongxã hội; GD suốt đời, để mọi người ở mọi lúc, mọi nơi đều được hưởng phúc lợi GD,… chú ý tới năng lực riêng tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của

sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Cơ sở tâm lý học lứa tuổi: Những sự khác biệt về mặt tâm lý tạo nên sự phong phú đa dạng của cuộc sống xã hội, đồng thời còn là những cơ sở quan trọng để tiến hành phân hoá trong GD Vào những năm 60 - 70 của thế kỷ XX, những nghiên cứu về các giai đoạn phát triển tâm lí của trẻ em của một số nhà

tâm lí học nước ngoài như J Piaget (Lý thuyết Phát triển nhận thức), Howard

Gardner (Lý thuyết đa trí tuệ),… đã ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện phân

hoá GD ở các nước

Những lý thuyết hiện đại về sinh lý học và đặc biệt là tâm lý nhận thức của

Trang 22

trẻ vị thành niên cho thấy muốn phát triển những khả năng tiềm ẩn trong mỗi con người cần tổ chức thực hiện phân hoá trong GD và cần có sự phân chia mức độ thực hiện phân hoá đối với từng cấp, bậc học sao cho vừa đảm bảo nền học vấn phổ cập, bắt buộc đối với mọi đối tượng, vừa tạo điều kiện phát huy tối đa tiềm năng của mỗi con người

- Cơ sở giáo dục học: Dựa vào nhóm năng lực, hứng thú hoặc nhu cầu học tập của người học và mục tiêu GD của xã hội tạo ra những khác biệt nhất định trong hệ thống GD, trong việc tổ chức các loại hình trường/ lớp, các nội dung

GD và phương thức GD theo nhiều hướng khác nhau

GD học đưa ra một số nguyên tắc thực hiện phân hoá trong GD: Tính đa dạng của chương trình GD; Tính khác biệt của quá trình và kết quả học tập; Tối

đa hóa các cơ hội học tập; Tính công bằng về cơ hội học tập; Tính linh hoạt của các cơ hội và điều kiện học tập; Tính thích ứng của quản lí chương trình

- Cơ sở kinh tế - xã hội: Phân tích mối quan hệ cung cầu giữa nền kinh tế

- xã hội và GD cho thấy nền kinh tế càng phát triển thì bắt buộc GD phải hình thành nhiều phương thức đào tạo, ngành nghề đào tạo khác nhau và phân hoá trong GD tất yếu phải thực hiện

Phân hoá trong GD phải tính tới các điều kiện nhằm đảm bảo quyền học tập và công bằng xã hội, bình đẳng về cơ hội học tập của trẻ em thuộc các nhóm

xã hội, các giai tầng xã hội khác nhau Như vậy, cần xây dựng một chương trình

GD phổ thông theo đúng nghĩa là “phổ thông”, để tất cả trẻ em đều được đi học, học được đồng thời xây dựng những chương trình GD lựa chọn để trẻ em nào có điều kiện đều có thể tự do tham gia học tập

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Quản lý nhà trường, quản lý dạy học

1.2.1.1 Quản lý nhà trường

Theo Phạm Minh Hạc “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của

Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục - đào tạo đối với ngành giáo

Trang 23

dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [6]

Theo tác giả Trần Hồng Quân “Quản lý nhà trường phổ thông là quản lý

dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác, để dần tới mục tiêu giáo dục” [25]

Như vậy QL nhà trường là những hoạt động của chủ thể QL nhà trường (Hiệu trưởng) đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có

chất lượng và hiệu quả

1.2.1.2 Quản lý dạy học

Quản lý dạy học thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình dạy học (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường Quản lý dạy học giữ

vị trí quan trọng trong công tác quản lý nhà trường.Mục tiêu quản lý chất lượng đào tạo là nền tảng, là cơ sở để nhà quản lý xác định các mục tiêu quản lý khác trong hệ thống mục tiêu quản lý của nhà trường

Quản lý dạy học là nhiệm vụ trọng tâm của người Hiệu trưởng Xuất phát

từ vị trí quan trọng của hoạt động dạy học, người Hiệu trưởng dành nhiều thời gian và công sức cho công tác quản lý hoạt động dạy học nhằm ngày càng nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội Quản lý dạy học có ba đặc điểm: Một là, quản lý dạy học mang tính chất quản lý hành chính sư phạm, có nghĩa là quản lý theo pháp luật, theo những nội qui, qui chế, quyết định có tính bắt buộc trong hoạt động dạy học Đồng thời, việc quản lý phải tuân thủ các qui luật của quá trình dạy học, giáo dục diễn ra trong môi trường sư phạm, lấy hoạt động và quan hệ dạy - học của thầy và trò làm đối tượng quản lý Hai là, quản lý hoạt động dạy học mang tính đặc trưng của khoa học quản lý Nó phải vận dụng hiệu quả các chức năng quản lý trong việc điều khiển quá trình dạy học Ba là, quản lý hoạt động dạy học có tính xã

Trang 24

hội hóa cao do chịu sự chi phối trực tiếp của các điều kiện kinh tế - xã hội và có mối quan hệ tương tác thường xuyên với đời sống xã hội

1.2.2 Dạy học tự chọn, quản lý dạy học tự chọn ở trường trung học phổ thông

1.2.2.1 Dạy học tự chọn

Trong nhà trường, hoạt động dạy học là hoạt động cơ bản, đặc trưng cho trường học Dạy học tự chọn là một hình thức dạy học phân hóa cho phép mỗi học sinh ngoài việc học theo một chương trình chung còn có thể chọn học một

số môn học, nội dung học khác nhau phù hợp với sở trường của mình

1.3 Một số vấn đề về dạy học môn tự chọn ở trường THPT

1.3.1 Vài nét về chương trình giáo dục phổ thông và dạy học tự chọn trong chương trình

Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành được Bộ GD&ĐT ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05-5-2006 chia làm ba cấp

Trang 25

học: cấp tiểu học, cấp THCS và cấp THPT Cấp THPT bao gồm ba lớp học: lớp

10, lớp 11, lớp 12

Trong đó, cấp THPT thực chương trình phân ban theo đề án của Bộ

GD-ĐT, gồm có ba ban được tổ chức trong các trường THPT là Ban Khoa học Tự nhiên (với 4 môn Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học), Ban Khoa học Xã hội - Nhân văn (với 4 môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Ngoại ngữ) và Ban Cơ sở (dạy

và học theo chương trình chuẩn đối với tất cả các môn)

Với ba ban này, chương trình THPT được sắp xếp lại, bao gồm chương trình chuẩn cho tất cả các môn học và chương trình nâng cao cho 8 môn phân hóa, đó là các môn: Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa, Ngoại ngữ Mức độ chênh lệch kiến thức giữa các môn nâng cao so với chương trình chuẩn là 20% Đối với 8 môn nâng cao này sẽ có 2 bộ sách giáo khoa (SGK) tương ứng cho hai ban, riêng đối với Ban Cơ sở, học sinh sẽ dùng SGK theo chương trình chuẩn cho tất cả các môn học Tuy nhiên, học sinh học Ban Cơ sở

có thể sử dụng sách nâng cao cho một số môn do nhà trường quyết định dựa trên nhu cầu của học sinh và điều kiện của nhà trường

Trong kế hoạch dạy học của Ban Cơ sở có 4 tiết dạy học tự chọn/tuần, học sinh Ban Cơ sở có thể sử dụng số tiết dạy học tự chọn này để chọn lọc từ 1 - 3 môn trong số 8 môn nâng cao Các trường sẽ tự quyết định các ban có trong trường mình căn cứ vào nguyện vọng của học sinh, điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và khả năng tổ chức của nhà trường

Từ những căn cứ trên, dưới sự hướng dẫn của Sở GD&ĐT Cao Bằng, đồng thời dựa vào điều kiện thực tế ở địa phương như cơ sở vật chất, trình độ nhận thức của học sinh,… các trường THPT huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng đã thực hiện chương trình dạy học Ban Cơ sở với bộ sách giáo khoa theo chương trình chuẩn từ năm học 2005 - 2006 Trong đó, dạy học tự chọn được thực hiện theo hướng dẫn của các cấp có thẩm quyền

Trang 26

1.3.2 Dạy học tự chọn ở trường THPT

1.3.2.1 Mục tiêu của dạy học tự chọn

Dạy học tự chọn nhằm đáp ứng hiểu biết nâng cao hoặc mở rộng kiến thức các môn học; cung cấp những hiểu biết và kỹ năng ban đầu như là nhập môn các khoa học hoặc ngành nghề; giúp học sinh có những thông tin định hướng tiếp cận nghề nghiệp sau THPT

Mục tiêu dạy học tự chọn được nêu rõ trong công văn số GDTrH,ngày 10 tháng 08 năm 2006: “Góp phần thực hiện dạy học phân hoá, trên cơ sở bảo đảm một mặt bằng chuẩn kiến thức phổ thông thống nhất, thực hiện phân hoá nhằm đáp ứng nguyện vọng, phát triển năng lực và hướng nghiệp cho học sinh Dạy học phân hoá ở cấp THCS thực hiện bằng dạy học tự chọn, ở cấp THPT thực hiện bằng kết hợp phân ban với dạy học tự chọn”

7092/BGDĐT-1.3.2.2 Yêu cầu của dạy học tự chọn

Dạy học tự chọn cần đáp ứng được các yêu cầu:

- Một là: Củng cố, hệ thống hoá, khai thác sâu nội dung kiến thức, kỹ năng của chương trình các môn học và hoạt động giáo dục

- Hai là: Bảo đảm dạy học sát đối tượng, rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn

- Ba là: Kế hoạch dạy học tự chọn phải khả thi, thiết thực, bám sát mục

tiêu, phù hợp với điều kiện đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất của nhà trường

- Bốn là: Thực hiện nghiêm túc thời lượng dạy học theo quy định trong Kế hoạch giáo dục, không được tự ý giảm nhẹ hoặc gây quá tải trong dạy học tự chọn

1.3.2.3 Đối tượng, cách thức, tài liệu dạy học tự chọn

- Đối tượng dạy học tự chọn là học sinh THPT

- Về cách thức dạy học tự chọn, trong công văn số: 8227/BGDĐT-GDTrH, ngày 06 tháng 8 năm 2007, về việc Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTrH năm

Trang 27

học 2007 - 2008, Bộ GD&ĐT đã quy định dạy học tự chọn: Đối với Ban Cơ sở (còn gọi là Ban Cơ bản), sử dụng thời lượng dạy học tự chọn theo một trong hai cách sau đây:

Cách 1: Dạy học từ 1 đến 3 môn nâng cao trong số 8 môn có nội dung nâng cao (Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Ngoại ngữ) Các môn này có thể dạy theo SGK nâng cao hoặc SGK chương trình chuẩn kết hợp với các chủ đề tự chọn nâng cao Thời lượng dạy học tự chọn còn lại dành

1.3.2.4 Phương pháp dạy học tự chọn

Để đạt được Mục tiêu dạy học tự chọn, cần thực sự đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu, phân tích, suy luận, sát với từng loại đối tượng học sinh Giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện các hoạt động để thu thập và xử

lý thông tin, phát hiện các vấn đề đặt ra từ thực tiễn để giải quyết

Phương pháp dạy học các môn học tự chọn về cơ bản như các môn học khác Phương pháp dạy các chủ đề tự chọn nâng cao phải đáp ứng yêu cầu bổ

sung, nâng cao kiến thức, khai thác sâu chương trình, rèn luyện kỹ năng và năng

lực tư duy sáng tạo cho học sinh Phương pháp dạy học các chủ đề tự chọn bám

sát phải tập trung củng cố, hệ thống hoá kiến thức, làm rõ các nội dung khó nhằm

Trang 28

giúp học sinh nắm vững kiến thức và rèn luyện kỹ năng để đạt được yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình

1.3.2.5 Hướng dẫn học sinh lựa chọn môn học, chủ đề; tổ chức hình thức dạy học tự chọn và địa điểm dạy học tự chọn

- Căn cứ vào danh mục môn học và chủ đề tự chọn, các trường hướng dẫn học sinh lựa chọn các môn và các chủ đề tự chọn sao cho phù hợp, thiết thực với

đa số học sinh; có giáo viên của trường hoặc giáo viên thỉnh giảng giảng dạy, có

đủ cơ sở vật chất để phục vụ giảng dạy, học tập

- Hiệu trưởng các trường quy định số lượng học sinh của mỗi lớp cho phù hợp với khả năng bố trí giáo viên và cơ sở vật chất của nhà trường

- Tùy theo nội dung dạy học tự chọn, có thể sử dụng các hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp sau đây: Dạy học tự chọn theo lớp; Chia thành nhóm, học sinh tự thực hiện theo nhóm dưới sự hướng dẫn của giáo viên; Tổ chức hoạt động tham quan, tìm hiểu thực tế, viết báo cáo và cho học sinh trình bày kết quả thu được

- Tùy theo hình thức mà lựa chọn địa điểm dạy học tự chon cho phù hợp: Phòng học, Phòng học, phòng truyền thống, phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm, thư viện, phòng nghe nhìn (phòng đa năng) và phòng máy vi tính; Xưởng trường, vườn trường, nhà tập đa chức năng và sân bãi tập; Công trường, nhà máy, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, di tích văn hoá, câu lạc bộ, thư viện, sân vận động, nhà thi đấu, bảo tàng,…

1.3.2.6 Một số quy định cụ thể của dạy học tự chọn

- Về số tiết: Ban Cơ bản là 4 tiết/ tuần

- Ban Cơ bản khi dạy chủ đề tự chọn: Sử dụng tài liệu tự chọn chủ đề bám

sát của các môn học có trong Kế hoạch giáo dục; Chọn các chủ đề nâng cao, bám

sát thuộc các môn học có trong Kế hoạch giáo dục Học sinh có thể căn cứ năng lực học tập, nguyện vọng và hướng dẫn của nhà trường để đăng ký lựa các môn

Trang 29

học và chủ đề tự chọn nhằm đảm bảo thời lượng dạy học tự chọn theo quy định đối với từng lớp

- Giáo viên dạy môn học và chủ đề tự chọn:

+ Giáo viên các trường THPT có trách nhiệm tham gia dạy các chủ đề tự chọn theo sự phân công của nhà trường

+ Có thể mời giáo viên thỉnh giảng là các nhà quản lý, nhà giáo, nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật có đủ phẩm chất, năng lực, sức khoẻ đáp ứng yêu cầu dạy học tự chọn Giáo viên dạy vượt giờ quy định (trong đó có giờ dạy tự chọn), được chi trả tiền thù lao vượt giờ tiêu chuẩn theo chế độ hiện hành

- Việc kiểm tra đánh giá kết quả dạy học tự chọn thực hiện theo Quy chế mới về đánh giá, xếp loại hạnh kiểm, học lực của học sinh THCS và THPT của

Bộ GD&ĐT áp dụng từ năm học 2005 - 2006

1.3.2.6 Quản lý dạy học tự chọn

1.3.2.6.1 Trách nhiệm quản lý của Sở GD&ĐT

- Giải quyết các yêu cầu về cơ sở vật chất, chế độ làm việc cho giáo viên giảng dạy tự chọn của trường và giáo viên thỉnh giảng

- Phân công một cán bộ theo dõi, tập hợp đầy đủ hệ thống các văn bản chỉ đạo về dạy học tự chọn; theo dõi tổ chức dạy học tự chọn ở các trường; phản ánh

và đề xuất với lãnh đạo những vấn đề cần giải quyết trong các trường

- Tổ chức nghiên cứu tài liệu của Bộ, của các địa phương khác; tổ chức biên soạn, thẩm định tài liệu dạy học tự chọn của địa phương

- Các Sở cần lựa chọn cán bộ, giáo viên giỏi, có kinh nghiệm (cả giáo viên thỉnh giảng) tổ chức biên soạn tài liệu; nghiên cứu kinh nghiệm và tài liệu của các đơn vị bạn để áp dụng Bộ sẽ lựa chọn, giới thiệu một số tài liệu do các địa phương biên soạn để làm tài liệu tham khảo

- Cung cấp cho các trường THPT danh mục các chủ đề tự chọn và tài liệu tương ứng để dạy học

- Tổ chức bồi dưỡng giáo viên dạy tự chọn theo hướng dẫn của Bộ

Trang 30

- Tổ chức hội nghị, hội thảo rút kinh nghiệm trong quản lý, chỉ đạo dạy học tự chọn; bàn giải pháp khắc phục khó khăn để thực hiện tốt việc dạy học tự chọn theo quy định

- Tổ chức tham quan, trao đổi, học tập kinh nghiệm giữa các trường và các địa phương về dạy học tự chọn

1.3.2.6.2 Trách nhiệm quản lý của hiệu trưởng các trường THPT

- Thực hiện tốt công tác tuyên truyền đến giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và xã hội về mục đích, ý nghĩa dạy học tự chọn

- Định hướng cho học sinh lựa chọn môn học hoặc chủ đề tự chọn sao cho thiết thực nhằm củng cố, nâng cao kiến thức hoặc phục vụ hướng nghiệp, phân luồng sau THPT

- Xây dựng kế hoạch, theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học tự chọn trong nhà trường

- Chuẩn bị cơ sở vật chất cho dạy học tự chọn và bố trí đội ngũ giáo viên dạy, quản lý lớp, lựa chọn và mời giáo viên thỉnh giảng (nếu cần) để bảo đảm triển khai đầy đủ kế hoạch Thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng giáo viên dạy tự chọn

- Tổ chức hội nghị chuyên đề, trao đổi chuyên môn và rút kinh nghiệm về quản lý dạy học tự chọn

- Báo cáo các cấp quản lý về tình hình thực hiện dạy học tự chọn

1.3.2.6.3 Trách nhiệm quản lý của tổ chuyên môn và giáo viên

Tổ chức Điều hành dạy học tự chọn là việc làm mới mẻ, cần thực hiện theo sự chỉ đạo của các cấp quản lý và sự phối hợp thường xuyên, chặt chẽ của

tổ chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm lớp và giáo viên trực tiếp dạy học tự chọn

a) Tổ chuyên môn có nhiệm vụ:

- Theo dõi thường xuyên việc thực hiện kế hoạch dạy học của giáo viên dạy các chủ đề, môn học tự chọn

- Tổ chức trao đổi rút kinh nghiệm về nội dung, phương pháp dạy học tự chọn, coi đó là một trong những trọng tâm trong sinh hoạt chuyên môn của tổ

Từ đó, tham mưu, đề xuất với hiệu trưởng việc lựa chọn các chủ đề tự chọn cho phù hợp với Điều kiện của nhà trường

Trang 31

b) Giáo viên chủ nhiệm có nhiệm vụ:

- Theo dõi tình hình tổ chức dạy và học tự chọn của lớp mình phụ trách

- Theo dõi kết quả học tập tự chọn của học sinh; tổng kết, xếp loại và ghi kết quả học tập của học sinh theo quy định

c) Giáo viên dạy chủ đề tự chọn có nhiệm vụ:

- Dạy chủ đề, môn học tự chọn theo sự phân công của nhà trường

- Tham gia biên soạn tài liệu tự chọn theo phân công của Sở GD&ĐT, nhà trường

- Xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch đã được thông qua

- Trao đổi kinh nghiệm dạy học tự chọn trong hoạt động chuyên môn

1.3.2.7 Một số đặc điểm của hoạt động dạy học hiện đại

Thời đại ngày nay có những biến đổi hết sức to lớn và sâu sắc đã tạo cho HĐDH có những đặc điểm cơ bản

1.3.2.7.1 Hoạt động của người học được tích cực hoá trên cơ sở nội dung dạy học ngày càng hiện đại

Như chúng ta đã biết, một trong những đặc điểm cơ bản của thời đại ngày nay là cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang phát triển như vũ bão đã dẫn

tới sự “bùng nổ thông tin” Tình hình đó đòi hỏi phải không ngừng đổi mới, hiện

đại hoá nội dung dạy học để phản ánh những thành tựu hiện đại về các lĩnh vực khoa học, nhằm cung cấp cho HS những kiến thức cập nhật để họ có thể thích nghi với cuộc sống Điều đó cũng dẫn tới một vấn đề là HĐDH hiện nay đang

tồn tại mâu thuẫn: giữa một bên là khối lượng tri thức đã được đổi mới tăng lên

phức tạp hơn với một bên thời gian học tập ở nhà trường phổ thông về cơ bản là không thay đổi Vì vậy, giải pháp hợp lí là phải tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS, HS thực sự là chủ thể nhận thức trong quá trình dạy học Bản chất của

giải pháp này là khơi dậy và phát huy năng lực tìm tòi độc lập sáng tạo của người

học dưới sự tổ chức,điều khiển một cách khoa học HĐDH của GV Nhờ đó, HS

có khả năng nâng cao được hiệu suất lao động học tập, bồi dưỡng phương pháp

Trang 32

tự học, không ngừng vươn lên, không ngừng tự hoàn thiện trình độ theo yêu cầu

thời đại

1.3.2.7.2 Trong quá trình dạy học hiện nay, vốn sống, năng lực nhận thức của học sinh phát triển hơn so với trẻ cùng độ tuổi trước đây

Trong môi trường xã hội và khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ hiện

nay, HS thường xuyên tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin đa dạng, phong phú từ

rất nhiều nguồn khác nhau (các phương tiện truyền thông, sách báo…), lại luôn chịu ảnh hưởng tác động từ nhiều phía: gia đình, nhà trường và xã hội, đồng thời được tham gia vào nhiều loại hình hoạt động và giao lưu… Vì vậy, vốn sống, kinh nghiệm hoạt động được tích luỹ nhiều Kết quả nghiên cứu của các nhà tâm

lí học trên thế giới và trong nước trong những thập kỉ gần đây khẳng định rằng:

so với trẻ cùng lứa tuổi ở những thế hệ trước, HS phổthông hiện nay có năng lực

nhận thức phát triển hơn, thông minh hơn Mặt khác, trong nhữngđiều kiện tiến

bộcủa xã hộivà cách mạng khoa học công nghệ hiện nay, nội dung, phương pháp,

hình thức tổ chức dạy học được hiện đại hoá sẽ có tác dụng thúc đẩy sự phát triển

năng lực và phẩm chất trí tuệ của HS, tạo nên những biến đổi về chất trong tư duy của HS (ví dụ: ngay từ những lớp đầu tiểu học, HS đã có khả năng tư duy trừu tượng, đã có thể nắm được một số vấn đề lí thuyết của các khoa học) Từ

đó, có thể thấy trong quá trình học tập hiện nay, HS có xu hướng vượt ra khỏi

nội dung tri thức, kĩ năng do chương trình qui định; thể hiện ở chỗ các em không

thoả mãn với những điều đã được học theo chương trình mà muốn đi tìm cái mới

Cụ thể là HS muốn mở rộng, đào sâu những điều đã học, muốn tìm hiểu thực tế

để làm sáng tỏ những điều đã hoc, muốn phát hiện và giải quyết vấn đề bằng nhiều cách khác nhau, muốn vận dụng những hiều biết của mình vào thực tiễn… Đặc điểm này đòi hỏi trong quá trình dạy học hiện nay, GV cần quan tâm khai thác vốn sống phong phú, đa dạng của HS, tính đến khả năng nhận thức của các

em, không ngừng đổi mới nội dung, cải tiến phương pháp và hình thức tổ chức HĐDH để có thể phát huy tối đa tiềm năng và vốn sống của người học

Trang 33

1.3.2.7.3 Quá trình dạy học hiện nay được tiến hành trong điều kiện cơ sở vật chất và phương tiện dạy học ngày càng hiện đại

Hiện nay, CSVC của nhà trường, trong đó các phương tiện dạy học, đặc biệt

là các phương tiện kĩ thuật dạy học đang không ngừng được hiện đại hoá Các phương tiện đó giúp người học lĩnh hội nhanh và dễ dàng vận dụng tri thức đã học vào thực tiễn; đồng thời giảm cường độ lao động của GV về mặt truyền đạt thông tin Do vậy, việc tăng cường trang bị những phương tiện kĩ thuật dạy học

có ý nghĩa thiết thực và đòi hỏi phải nâng cao trình độ nghề nghiệp của người

GV

1.4 Nội dung quản lý dạy học tự chọn ở trường trung học phổ thông

1.4.1 Quản lý việc thực hiện mục tiêu dạy học tự chọn

Việc xây dựng kế hoạch của giáo viên và tổ chuyên môn là một việc làm tất yếu Trên cơ sở yêu cầu chung của công tác giáo dục và yêu cầu riêng của từng bộ môn, căn cứ vào hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của các cấp quản lý và tình hình cụ thể của nhà trường mà mỗi giáo viên và tổ trưởng chuyên môn phải xây dựng kế hoạch phù hợp

Hiệu trưởng phải là người hướng dẫn giáo viên quy trình xây dựng kế hoạch, giúp họ biết xác định mục tiêu đúng đắn và tìm ra các biện pháp để thực hiện mục tiêu đó

1.4.2 Quản lý việc thực hiện nội dung chương trình dạy học tự chọn

Quản lý việc thực hiện nội dung chương trình dạy học tự chọn ở trường THPT là một khâu quan trọng, đó là quản lý việc thực hiện kế hoạch DH theo yêu cầu DHPH Để QL việc thực hiện nội dung chương trình dạy học tự chọn, người Hiệu trưởng cần phải tập trung vào việc thực hiện các chức năng QL, đó là:

Trang 34

Nắm chắc phân phối chương trình, các nguồn lực giáo viên, năng lực học sinh, cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học, nguồn kinh phí

Sử dụng cán bộ, giáo viên đúng khả năng và yêu cầu công việc; quan tâm đúng mức nhu cầu, nguyện vọng của cá nhân

Hướng dẫn GV lập kế hoạch dạy học tự chọn: kế hoạch phải phản ánh được những hoạt động của GV đối với HS có học lực giỏi, khá và HS có học lực

TB, Yếu

* Tổ chức thực hiện

Tạo điều kiện và yêu cầu giáo viên nắm vững chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ của người học ở chương trình giáo dục phổ thông lớp đó, môn

đó để từ đó GV có tinh thần trách nhiệm trong việc xây dựng kế hoạch giảng dạy

cá nhân có tính đến từng loại đối tượng HS

Hướng dẫn, động viên khuyến khích GV xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung từng tiết giảng, từng bài, từng chương phù hợp với nhu cầu nhận thức của HS

Thiết lập các quy định của nhà trường về việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình dạy học tự chọn và tổ chức thực hiện hiệu quả các quy định đó

HS (sử dụng sự khác nhau của HS như là cơ sở của việc lập kế hoạch)

* Kiểm tra, đánh giá

Thông qua việc QL thời khóa biểu, QL kế hoạch cá nhân, dự giờ thăm lớp, kiểm tra khảo sát… để điều khiển, kiểm soát tiến độ thực hiện chương trình dạy học mà GV đã đề ra theo kế hoạch

Trang 35

Trong quản lý nội dung chương trình dạy học tự chọn, Hiệu trưởng cần tổ chức phân công lao động một cách khoa học và xây dựng phong cách quản lý dân chủ, coi trọng tính sáng tạo và tinh thần hợp tác của GV, giao quyền tự chủ…

1.4.3 Quản lý cách thức tổ chức thực hiện nội dung, chương trình dạy học tự chọn

- Nội dung chương trình dạy học tự chọn là quy định mang tính pháp lí mà nhà trường, các giáo viên phải tuyệt đối tuân thủ

- Quản lý việc chuẩn bị bài lên lớp bằng cách cùng tổ chuyên môn kiểm trađịnh kỳ, đột xuất việc soạn bài và chuẩn bị phương tiện cho bài lên lớp của giáoviên, xây dựng kế hoạch tự kiểm tra, tránh đối phó, hình thức… Kiểm tra để đánh giá xem giáo viên có chuẩn bị bài theo đúng nội dung, chương trình quy định không, có tuân thủ đúng lôgic chương trình không

- Tiếp theo là phải kiểm tra việc thực hiện nội dung, chương trình trên lớp của giáo viên Đánh giá xem tổ chuyên môn, nhà trường đã tổ chức cho giáo viên thực hiện nội dung, chương trình dạy tự chọn như thế nào, có đúng quy định không

- Hoạt động dạy học ở nhà trường phổ thông hiện nay được thực hiện chủ yếu bằng hình thức lên lớp, mỗi giờ dạy là cơ sở tạo nên chất lượng dạy học.Vì vậy, Hiệu trưởng cần giáo viên phải tập trung mọi cố gắng nâng cao chất lượng toàn diện giờ lên lớp Hiệu trưởng cần xây dựng thời khoá biểu một cách khoa học hợp lý, dự giờ, trao đổi về kết quả học tập của học sinh để đánh giá đúng

thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý tối ưu

1.4.4 Quản lý giáo viên và học sinh trong dạy học tự chọn

1.4.4.1 Quản lý công tác đổi mới nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về dạy học tự chọn ở trường trung học phổ thông

Trong xã hội hiện đại, vai trò, vị trí và chức năng của nhà trường nói chung

và của người thầy giáo nói riêng đã có những thay đổi to lớn và căn bản Vị trí trung tâm trong quá trình dạy học đang chuyển dần từ người GV sang người học-

Trang 36

HS với yêu cầu GD&ĐT những thế hệ kế tiếp để trở thành những con người năng động và sáng tạo, thích ứng với những biến đổi nhanh chóng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống hiện đại

Người GV không chỉ có nhiệm vụ truyền thụ kiến thức đơn thuần, mà còn

có nhiệm vụ dạy cho HS cách học, cách thu nhận và xử lý kiến thức, các tình huống trong thực tiễn đời sống đa dạng… Nói cách khác, người GV trong nền giáo dục hiện đại không chỉ được coi là người truyền thụ, người cung cấp những thông tin được soạn thảo trên cơ sở những điều có sẵn, mà phải là người đề xướng, thiết kế nội dung và phương pháp dạy nhằm làm thay đổi thị hiếu, hứng thú người học, là người giúp cho HS biết cách học, cách tự rèn luyện

Trong nền giáo dục hiện đại, vai trò của người GV đã có thay đổi theo các phương hướng lớn sau đây:

- Đảm nhận nhiều chức năng khác hơn so với trước, có trách nhiệm nặng hơn trong việc lựa chọn nội dung dạy học và giáo dục

- Chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học của HS,

sử dụng đến mức tối đa những nguồn tri thức trong xã hội

- Coi trọng hơn việc cá biệt hóa trong học tập, thay đổi tính chất quan hệ thầy trò

- Yêu cầu sử dụng rộng rãi và chặt chẽ hơn những phương tiện dạy học hiện đại do đó có yêu cầu trang bị thêm các kiến thức, kĩ năng cần thiết

- Yêu cầu hợp tác chặt chẽ hơn mối quan hệ với cha mẹ HS và cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống

- Yêu cầu GV tham gia các hoạt động rộng rãi trong và ngoài nhà trường

- Giảm bớt và thay đổi kiểu uy tín truyền thống trong quan hệ với HS, nhất

là đối với HS lớn và với cha mẹ HS

Mục đích của DH theo quan điểm phân hóa là phát triển tối đa phát triển của mọi học sinh bằng cách đáp ứng nhu cầu của các em và giúp các em tiến bộ Trong thực tế, nó gồm cả việc cung cấp cho học sinh một số kinh nghiệm học để đáp lại yêu cầu đa dạng của học sinh

Trang 37

Như vậy, để làm chuyển biến nhận thức về bản chất dạy học tự chọn trong CBQL, GV người Hiệu trưởng phải có kế hoạch tổ chức để CBQL, GV được nghe, được bàn, được thảo luận trên cơ sở được trang bị những tri thức cập nhật

về những thành tựu của khoa học và nhận thức được việc thay đổi quan niệm về dạy học là tất yếu khách quan

1.4.4.2 Quản lý hoạt động dạy tự chọn của giáo viên ở trường trung học phổ thông

Để quản lý hoạt động dạy tự chọn của GV theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất người học, Hiệu trưởng cần tập trung vào các nội dung đổi mới chủ yếu sau đây:

i) Quản lý việc phân công giảng dạy cho giáo viên

QL việc phân công giảng dạy là đầu mối quan trọng trong mọi hoạt động của nhà trường Phân công giảng dạy cho GV có liên quan chặt chẽ đến công tác

tổ chức nhân sự Chất lượng dạy học phụ thuộc vào quyết định phân công, phân nhiệm của Hiệu trưởng Vì vậy, để QL được việc phân công giảng dạy cho GV, trước tiên Hiệu trưởng phải nhận thức được GV tuy có trình độ ngang nhau nhưng năng lực, sở trường, điều kiện, hoàn cảnh, sức khỏe khác nhau Việc phân công đúng người đúng việc sẽ phát huy vai trò cá nhân trong tập thể, tạo điều kiện để

họ tự khẳng định mình Ngoài ra còn giúp họ tự tin, tăng thêm lòng yêu nghề

Để quản lý phân công giảng dạy cho GV một cách hiệu quả, người Hiệu trưởng cần nắm thật chắc chất lượng đội ngũ, hiểu rõ đặc điểm, sàng lọc thông tin, đánh giá chính xác, thận trọng Bên cạnh đó, cần xem xét quyền lợi của HS, tham khảo yêu cầu của phụ huynh HS, nguyện vọng của GV để phân công phù hợp, đáp ứng các yêu cầu trên.Việc phân công các GV bộ môn dạy cùng khối lớp nên có cùng những GV đã có thâm niên về giảng dạy với những GV mới giảng dạy để họ

có thể cùng nhau chia sẻ chuyên môn, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau

ii) Quản lý lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch của tổ chuyên môn và giáo viên

Kế hoạch của tổ chuyên môn và GV chính là hiện thực hóa kế hoạch năm học của nhà trường.Việc xây dựng kế hoạch của tổ chuyên môn và GV phải dựa vào chương trình dạy học quy định phần cứng và phần mềm, dựa vào trình độ,

Trang 38

kỹ năng sư phạm của GV, khả năng HS, kết quả học tập của những năm trước và điều kiện cụ thểcủa nhà trường

Lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch dạy học tự chọn trong cả năm học, đây thực chất là thiết kế chương trình dạy học tự chọn chi tiết cần phải dựa trên kết quả đánh giá đầu vào về khả năng/năng lực, nhu cầu, cách học và điều kiện học tập của HS Các em HS giỏi phải được học ngang tầm với khả năng để có thể phát triển tối đa những tiềm năng sẵn có và nhu cầu/ ham muốn của mình, ngược lại những HS yếu/kém được học phù hợp với khả năng sao cho có thể nâng cao trình độ, không có cảm giác sợ hoặc chán nản với việc học tập

Như vậy, để QL lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch dạy học tự chọn, Hiệu trưởng hướng dẫn các tổ chuyên môn và GV xây dựng kế hoạch chi tiết dựa trên các căn cứ hướng dẫn, đặc biệt chú ý đến quy định của giờ dạy phân hóa mà nhà trường đã đề ra, giúp họ xác định mục tiêu và tìm ra các biện pháp để thực hiện được mục tiêu đó Đồng thời, Hiệu trưởng phải tạo các điều kiện tốt nhất để các

tổ chuyên môn và GV thực hiện được mục tiêu kế hoạch đề ra

iii)Quản lý việc soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên

Việc chuẩn bị bài lên lớp là khâu rất quan trọng góp phần quyết định chất lượng dạy học, gồm các khâu: chuẩn bị từng chương, từng học kì; chuẩn bị từng tiết dạy/bài soạn; chuẩn bị các phương tiện, đồ dùng dạy học; các hồ sơ dạy học của GV QL tốt việc soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp theo quan điểm phân hóa, người Hiệu trưởng đặc biệt lưu tâm đến những công việc sau đây:

- Chỉ đạo tổ chuyên môn thống nhất kế hoạch chuẩn bị bài lên lớp từ khâu điều tra, phân tích nhu cầu và hứng thú của người học với môn học, việc điều tra này giúp GV nắm được động cơ học tập môn học, những nguyên nhân dẫn tới việc thích hoặc không thích học môn học để có chiến lược dạy học phù hợp

- Chỉ đạo tổ chuyên môn thống nhất quy định bài soạn thể hiện tinh thần phân hóa theo đối tượng HS Mục tiêu dạy học theo quan điểm phân hóa phải thể hiện rõ về lĩnh vực nhận thức: căn cứ 6 bậc nhận thức (biết, hiểu, áp dụng, phân

Trang 39

tích, tổng hợp, đánh giá), trong giáo án phải được nêu chi tiết của mục tiêu dạy học tương ứng với bậc 1, bậc 2, bậc 3 Cần xác định rõ, cụ thể hệ thống kĩ năng được hình thành trong bài giảng Cần làm rõ các yêu cầu, nội dung các chuẩn mực giá trị thái độ cần hình thành, củng cố, hoàn thiện trong quá trình đào tạo nói chung và ở phạm vi bài học nói riêng…

- Chỉ đạo tổ chuyên môn kiểm tra chéo hồ sơ chuyên môn trong đó có giáo

án Đưa tiêu chí đảm bảo tính phân hóa theo đối tượng HS vào đánh giá nội dung giáo án

iv) Quản lý giờ lên lớp của giáo viên

GV là người trực tiếp quản lý, điều khiển, hướng dẫn HS học tập thông qua các hình thức tổ chức DH nên GV là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng DH Hiệu trưởng là người tác động gián tiếp đến hiệu quả giờ lên lớp, cho nên để QL tốt giờ lên lớp thể hiện theo quan điểm phân hóa cần phải trung vào các vấn đề sau:

Yêu cầu GV phải xây dựng kế hoạch cá nhân, kế hoạch giảng dạy từng tuần, học kì, năm học có thể hiện rõ việc quan tâm đến từng đối tượng HS…

Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá giờ lên lớp theo hướng PH một cách linh hoạt, sáng tạo, tạo sự phấn đấu dạy học theo hướng tích cực, chú ý đến năng lực, hoàn cảnh, nhu cầu…của HS

Tổ chức dự giờ thăm lớp định kì, đột xuất có rút kinh nghiệm, phân tích đánh giá giờ dạy

Cùng với việc kiểm tra trực tiếp giờ dạy, Hiệu trưởng cũng cần chú ý đến công tác thu thập thông tin của HS, đồng nghiệp, phụ huynh HS về GV bộ môn

v) Quản lý đổi mới phương pháp dạy học tự chọn

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất người học là tư tưởng dạy học hướng vào người học, lấy người học làm trung tâm, là tư tưởng dạy học tích cực, có ý nghĩa nhân văn cao cả Để đảm bảo được những yêu cầu

về đổi mới phương pháp dạy học theo tư tưởng dạy học hướng vào người học,

Trang 40

người Hiệu trưởng cần có những tác động thiết thực như:

- Đổi mới nhận thức của CBQL và GV, xác định đổi mới PPDH là phải ủng hộ và khuyến khích sự chủ động, năng động, sáng tạo của GV và HS, tránh

áp đặt Phải làm từng bước tùy theo điều kiện cụ thể của từng trường, từng lớp

- Chỉ đạo đổi mới PPDH theo hướng khuyến khích sử dụng hợp lí các đồ dùng dạy học; động viên và tạo điều kiện cho GV tự làm đồ dùng dạy học; tăng dần việc sử dụng trang thiết bị dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học; từng bước tổ chức các phòng học bộ môn…

- Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng đội ngũ GV về phương pháp dạy học tích cực có liên quan nhiều đến kĩ thuật dạy học theo quan điểm phân hóa Thực chất của việc đổi mới PPDH là sự phối hợp linh hoạt và ăn khớp các PPDH sao cho phù hợp với nội dung, đặc điểm của người học và điều kiện thực hiện…

- Chỉ đạo thực hiện các giờ thao giảng có lựa chọn và sử dụng hình thức

tổ chức dạy học theo quan điểm phân hóa Tổ chức rút kinh nghiệm các tiết học theo quan điểm phân hóa và nhân rộng hình thức thao giảng với việc lựa chọn đúng và vận dụng hiệu quả hình thức tổ chức dạy học theo quan điểm này trong toàn trường

- Khuyến khích, tôn vinh những cá nhân thực hiện tốt việc DH theo quan điểm phân hóa, có các biện pháp hành chính, tâm lí và kinh tế để thúc đẩy GV thực hiện đổi mới phương pháp dạy học

vi)Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn

Để QL sinh hoạt tổ chuyên môn theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất người học, Hiệu trưởng cần chỉ đạo thống nhất các tổ chuyên môn thực hiện các nội dung sau:

- Có kế hoạch tổ chức cho GV học tập, nắm vững các mục tiêu, nội dung chương trình, sách giáo khoa, quy chế chuyên môn, các nguyên tắc về dạy học phân hóa

- Yêu cầu tổ chuyên môn sinh hoạt định kỳ, xây dựng kế hoạch thực hiện

Ngày đăng: 18/12/2019, 09:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Phúc Châu (2010), Quản lý nhà trường, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà trường
Tác giả: Nguyễn Phúc Châu
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2010
3. Vũ Cao Đàm (1998), Phương pháp luận nghiên cức khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cức khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1998
5. Lê Hoàng Hà, Quản lý dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa ở trường trung học phổ thông, Luận án tiến sỹ, Đại học Giáo dục- Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa ở trường trung học phổ thông
6. Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1986
7. Nguyễn Kế Hào (2011), Dạy và học ở phổ thông trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Kỷ yếu hội thảo quốc gia về khoa học giáo dục Việt Nam tập II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học ở phổ thông trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Tác giả: Nguyễn Kế Hào
Năm: 2011
8. Nguyễn Thị Hiền(2000), Quản lý hoạt động dạy học, Bài giảng lớp cao học K14, Trường cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động dạy học
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2000
10. Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Văn Lê (1999), Giáo dục học đại cương,NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại cương
Tác giả: Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Văn Lê
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1999
11. Trần Kiểm (1997), Quản lí giáo dục và nhà trường, Nxb Viện khoa học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí giáo dục và nhà trường
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Nxb Viện khoa học giáo dục
Năm: 1997
12. Trần Kiểm (2002), Khoa học quản lý nhà trường phổ thông, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Khoa học quản lý nhà trường phổ thông
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
13. Phan Văn Kha (2007), Giáo trình Quản lý nhà nước về giáo dục, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý nhà nước về giáo dục
Tác giả: Phan Văn Kha
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
15. Nguyễn Văn Lê (1997), Khoa học quản lý nhà trường, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học quản lý nhà trường
Tác giả: Nguyễn Văn Lê
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
16. Vũ Quốc Long (2007, chủ biên), Giáo trình bồi dưỡng tổ trưởng chuyên môn trường trung học phổ thông, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bồi dưỡng tổ trưởng chuyên môn trường trung học phổ thông
Nhà XB: NXB Hà Nội
17. Nguyễn Văn Lộc (2007), “Một số ý kiến về định hướng viết tài liệu dạy học chủ đề tự chọn môn Toán cho HS phổ thông phân ban”, Tạp chí GD số 154 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về định hướng viết tài liệu dạy học chủ đề tự chọn môn Toán cho HS phổ thông phân ban”, "Tạp chí GD
Tác giả: Nguyễn Văn Lộc
Năm: 2007
19. Võ Trung Minh (2005), Giáo dục môi trường thông qua hình thức tổ chức dạy học ngoài giờ lên lớp môn TN và XH, ĐHSP HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục môi trường thông qua hình thức tổ chức dạy học ngoài giờ lên lớp môn TN và XH
Tác giả: Võ Trung Minh
Năm: 2005
20. Mai Văn Nam (2007), Mấy vấn đề suy nghĩ về dạy và học tự chọn - Thế giới trong ta, CĐ 59+60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề suy nghĩ về dạy và học tự chọn - Thế giới trong ta
Tác giả: Mai Văn Nam
Năm: 2007
22. Đỗ Bích Ngọc (1992), Quản lý quá trình giáo dục trong trường phổ thông dân tộc nội trú. Bài giảng tại trường cán bộ quản lý giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý quá trình giáo dục trong trường phổ thông dân tộc nội trú
Tác giả: Đỗ Bích Ngọc
Năm: 1992
23. Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1998), Giáo dục học, tập 1,2. NXB GD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Tác giả: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: NXB GD Hà Nội
Năm: 1998
24. Nguyễn Thị Minh Phương, Nguyễn Phú Tuấn, “Về dạy học tự chọn ở trường phổ thông”, Tạp chí khoa học và giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về dạy học tự chọn ở trường phổ thông”
25. Trần Hồng Quân (1996), “Về vai trò giáo viên và vị trí của hệ thống sư phạm”, Tạp chí Giáo viên & Nhà trường, (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vai trò giáo viên và vị trí của hệ thống sư phạm
Tác giả: Trần Hồng Quân
Năm: 1996
26. Nguyễn Thị Tính (2014), Lý luận chung về quản lý và quản lý giáo dục, NXB Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận chung về quản lý và quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thị Tính
Nhà XB: NXB Đại học Thái Nguyên
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w