Việc lựa chọn đa phần ca dao vàohọc ở lớp 7 là thoả đáng, tuy dung lợng kiến thức cha thật nhiều học ở tuần 3và tuần 4 nhng đó là những bài ca dao đợc lựa chọn, tiêu biểu cho các nộidung
Trang 1III Nội dung của chùm ca dao về tình cảm gia đình 13Chơng III Quá trình thực hiện những giải pháp mới Bài học kinh
bè, có lòng yêu nớc, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hớng tới những t tởng tình cảmcao đẹp nh lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng cămghét cái xấu, cái ác Đó là những con ngời biết rèn luyện để có tính tự lập, có
t duy sáng tạo, bớc đầu có khả năng cảm thụ các giá trị Chân - Thiện - Mĩtrong nghệ thuật, trớc hết là trong văn học, có năng lực thực hành và năng lực
Trang 2sử dụng tiếng Việt nh một công cụ để t duy và giao tiếp Trong chơng trình cấphọc, phần ca dao chiếm một vị trí quan trọng, trong đó có chùm ca dao về tìnhcảm gia đình đợc đa vào chơng trình lớp 7 Việc lựa chọn đa phần ca dao vàohọc ở lớp 7 là thoả đáng, tuy dung lợng kiến thức cha thật nhiều (học ở tuần 3
và tuần 4) nhng đó là những bài ca dao đợc lựa chọn, tiêu biểu cho các nộidung của ca dao Việt Nam cũng nh ca dao về tình cảm gia đình Qua đó họcsinh đợc tiếp xúc với những giá trị tinh thần phong phú và những đặc sắc vềvăn hoá, cảnh vật, cuộc sống, con ngời Việt Nam.Từ đó giáo dục cho học sinhbiết trân trọng, yêu quý thành tựu văn học nớc nhà, có ý thức giữ gìn sự trongsáng, giàu đẹp của tiếng Việt Hơn nữa thông qua những bài học, mỗi học sinh
có ý thức và biết ứng xử, giao tiếp trong gia đình, trong trờng học và ngoài xãhội một cách lễ phép có văn hoá Biết yêu quý các giá trị Chân - Thiện- Mĩ
Ca dao là sản phẩm tinh thần của ngời lao động, nó ra đời và tồn tại vìnhu cầu của con ngời Mỗi lời ca đều gây đợc những rung động sâu xa tronglòng ngời đọc Chính điều đó góp phần bồi dỡng tâm hồn con ngời Bởi vì
"Văn chơng là hình dung của cuộc sống, văn chơng tái tạo ra sự sống" (HoàiThanh)
Ngoài việc cảm nhận đợc cái hay cái đẹp mà ca dao đem lại, nếu họcsinh thuộc và nắm chắc kiến thức về thể loại văn học dân gian này, sẽ là bớc đ-ờng thuận lợi, có điều kiện tốt để tìm hiểu các tác phẩm văn học khác, đặc biệt
là thơ trữ tình
2 Lý do chủ quan:
Qua thực tế giảng dạy môn ngữ văn của trờng THCS, tôi nhận thấy nếubiết huy động vốn kiến thức của giáo viên và học sinh, ngời giáo viên biết tìmtòi một phơng pháp giảng dạy thoả đáng thì học sinh sẽ càng yêu thích mônhọc Ngữ văn Hơn nữa ca dao là thể loại trữ tình đặc sắc mang rõ nét bản sắcvăn học Việt Nam, lời lẽ giản dị không cầu kì, dễ thuộc dễ nhớ, các hình ảnh
so sánh, ẩn dụ và lối viết thể thơ dân tộc(6-8) đã khiến nhiều học sinh yêuthích học tập phần văn học này
Song thực tế giảng dạy, một số giờ học chùm ca dao về tình cảm gia
đình cha thực sự thu hút sự quan tâm hứng khởi của học sinh Có lẽ việc phântích, hớng dẫn đọc hiểu của ngừơi thầy còn sơ sài, việc cảm nhận của học sinhcòn chung chung nên cha nắm bắt đợc cái hồn, ngụ ý sâu xa trong mỗi từ, mỗicâu chữ của thể thơ lục bát - thể thơ dân tộc truyền thống, thực sự học sinh chahọc tập đợc nhiều cách nói năng ý nhị duyên dáng để vận dụng trong giao tiếphằng ngày, tức khả năng ứng dụng cha cao Tóm lại là cha khai thác đợc cáihay cái đẹp mà mỗi bài ca dao đem lại, cha thực sự bồi dỡng đợc những tìnhcảm tốt đẹp cho các em
Xuất phát từ những lí do trên, với cơng vị là một giáo viên giảng dạy bộmôn ngữ văn trong nhà trờng phổ thông, tôi nhận thấy cần tích cực đổi mới để
có một phơng pháp giảng dạy thích hợp phát huy hiệu quả tối đa việc dạy phần
ca dao về tình cảm gia đình Đây là một vấn đề có tầm quan trọng và thiếtthực Do vậy tôi nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần để mỗi giáo viên và bảnthân tự bồi dỡng chuyên môn để giảng dạy tốt hơn nữa phần ca dao về tìnhcảm gia đình
II Tình hình nghiên cứu.
Trang 3Vấn đề nội dung, phơng pháp dạy và học ca dao trong chơng trìnhTHCS không phải là vấn đề mới Trớc đây trong cải cách giáo dục THCS(1986) sau đó là thời kỳ chỉnh lý (1995) và chơng trình thay sách giáo khoaTHCS (2002) việc nghiên cứu nội dung, phơng pháp dạy và học ca dao, trong
đó có chùm ca dao về tình cảm gia đình vẫn đợc tiến hành thờng xuyên Nhiềutác giả cũng đã nghiên cứu và biên soạn giáo trình hớng dẫn giảng dạy ca daonh: GS Phan Đăng Nhật, P.GS Nguyễn Xuân Lạc…Trong thời kỳ hiện nayTrong thời kỳ hiện nayviệc đổi mới phơng pháp dạy và học tiếp tục đợc đề cao, đáp ứng mục tiêu yêucầu nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới
Xuất phát từ yêu cầu thực tế khi giảng dạy bộ môn tôi đã suy nghĩ và
nghiên cứu đề tài:"Phơng pháp dạy và học chùm ca dao về tình cảm gia đình trong trờng THCS" và bớc đầu đã thu đợc những kết quả nhất định
III Mục đích và nhiệm vụ của đề tài.
1 Mục đích của đề tài.
- Thứ nhất: Nhằm củng cố, nắm vững, mở rộng phần kiến thức về ca daoViệt Nam đặc biệt là chùm ca dao về tình cảm gia đình
- Thứ hai: Nhằm đạt tới yêu cầu giảng dạy ca dao đúng với đặc trng thểloại
- Thứ ba: Phấn đấu đạt mục tiêu về chất lợng môn học đề ra theo hớngtích hợp, tích cực
- Thứ t: Hớng tới góp phần hình thành kỹ năng phân tích, cảm thụ cadao, các kỹ năng củng cố, khắc sâu kiến thức, bồi dỡng t tởng tình cảm chohọc sinh
- Thứ năm: Tìm ra một phơng án tối u khi giảng dạy ca dao về tình cảmgia đình Từ đó nâng cao chất lợng giảng dạy của giáo viên và chất lợng họctập của học sinh
- Thứ sáu: Tạo thành một "thói quen" tích hợp cho cả giáo viên và họcsinh khi học ca dao
2 Nhiệm vụ của đề tài.
a Nhiệm vụ tổng quát.
Đề tài này tổng kết các phơng pháp, cách thức kỹ năng mà ngời viết thu
đợc từ hoạt động thực tiễn giảng dạy ở trờng THCS Những việc đã làm từ thực
tế trong giảng dạy môn Ngữ văn đợc đúc rút thành kinh nghiệm Thông qua đềtài này mong muốn phần nào, hoặc là sự gợi ý, tham khảo đối với mỗi giáoviên giảng dạy môn Ngữ văn của trờng THCS
b Nhiệm vụ cụ thể.
Đề tài đa ra phơng pháp giảng dạy ca dao mà ngời viết đã từng vận dụngtrong giảng dạy, đúc rút thành kinh nghiệm Đề tài có nhiệm vụ tập trungthành vấn đề "phơng pháp dạy và học chùm ca dao về tình cảm gia đình trongtrờng THCS" Đa ra phơng pháp tiếp cận những bài ca dao này đạt hiệu quả tối
u nhất, để mỗi giáo viên học sinh tiếp thu một cách nhanh chóng hiểu kỹ mỗibài ca dao, có khả năng vận dụng trong thực tiễn giao tiếp và có khả năng họctập các phần Văn học khác
IV Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
1 Đối tợng nghiên cứu.
Trang 4Đối tợng là học sinh lớp 7 bậc THCS Tìm hiểu phơng pháp tiếp cận củahọc sinh đối với phần VHDG, đặc biệt là chùm ca dao về tình cảm gia đình để
từ đó tạo dựng phơng pháp giảng dạy phù hợp Đề tài này đã từng thực hiệntrên đối tợng học sinh lớp 7 trờng THCS Thọ Sơn - Việt Trì
VI Kết cấu chuyên luận.
Chơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chơng 2: Khái niệm, đặc trng thể loại của ca dao và nội dung của chùm
ca dao về tình cảm gia đình
Chơng 3: Quá trình thực nghiệm những giải pháp mới
Bài học kinh nghiệm
Phần nội dung Chơng I: Cở lý luận và thực tiễn
Trang 5thích môn Văn, một số giáo viên cha thực sự tích cực đổi mới phơng phápgiảng dạy Do vậy đòi hỏi ngời thầy phải không ngừng tự học, tự bồi dỡngchuyên môn nghiệp vụ và đặc biệt đổi mới phơng pháp giảng dạy để thu hút vàphát huy khả năng tích cực học tập của học sinh
Hơn nữa trong thực tế hiện nay, nhiều phụ huynh có tâm lý không thíchcho con học Văn, bản thân học sinh nhiều em ngại học Văn Tâm lý đó có thểmột phần do cách giảng dạy của ngời thầy, một phần do nhận thức của phụhuynh Từ thực tế ấy xảy ra thực trạng là học sinh cha yêu thích môn học, dovậy việc đổi mới giảng dạy ngữ văn nói chung và phần văn học dân gian nóiriêng là cần thiết Mặt khác trong văn học dân gian mảng ca dao chiếm một vịtrí quan trọng, trong đó chùm ca dao về tình cảm gia đình có vai trò vừa là mộtbài học cung cấp kiến thức, vừa bồi dỡng tình cảm đạo đức cho các em, giúpcác em biết yêu quý, trân trọng những tình cảm thiêng liêng, biết nâng niunhững giá trị của cái đẹp trong đời sống tâm hồn, tình cảm của con ngời
Trớc khi viết đề tài này tôi đã khảo sát trên 75 em học sinh lớp 7 trờngTHCS Thọ Sơn - Việt Trì Với câu hỏi trắc nghiệm về lí do yêu thích học cadao, phần ca dao về tình cảm gia đình, về khả năng vận dụng trong cuộc sống,trong giao tiếp hàng ngày và về phơng pháp giảng dạy của giáo viên…Trong thời kỳ hiện nayKết quảthu đợc nh sau:
Em có yêu thích các bài ca dao không? 70 hs (93%) 5 hs (7%)
Em thích học các bài ca dao về tình cảm gia đình không? 64 hs (85%) 11 hs (15%)
Em có thờng xuyên vận dụng lời ăn tiếng nói của ca dao? 26 hs (34,7%) 49 hs (65,3%) Phơng pháp giảng dạy hiện nay em thấy có hợp lí không? 55 hs (73,4%) 20 hs (26,6%)Qua kiểm tra phần ca dao về tình cảm gia đình ở 75 học sinh thu đợc kếtquả cụ thể nh sau: Số bài giỏi 19 bài ( 25,3%), số bài khá 31bài ( 41,4%)
Với câu hỏi khám phá, đặt tình huống:"Em thích thầy cô bổ sung thêmnhững gì trong giảng dạy?" Với câu hỏi này, tôi đã nhận đợc một số đề xuấtkhá thú vị và có ý nghĩa thiết thực nh:
- Các thầy cô nên hát minh họa (nếu bài ca dao có tiếng đệm, tiếng láy)
- Đợc đi thực tế nghe, xem hát các làn điệu dân ca
- Nhà trờng tổ chức câu lạc bộ dân ca để các em đợc thể hiện
Tựu chung lại: Từ thực tế trên cho thấy đa số học sinh đều yêu thíchphần văn học này Đó là một thuận lợi cho việc nghiên cứu đề tài Nhng bêncạnh đó còn cho thấy, mặc dù đã tích cực đổi mới phơng pháp giảng dạy nhngkhi dạy phần ca dao về tình cảm gia đình, giáo viên cần bổ xung thêm một sốnội dung để thực sự làm nổi bật đặc trng của của ca dao, từ đó làm nổi bật chủthể trữ tình ở mỗi lời ca, mỗi bài ca
Nh vậy, nguyên nhân chính là ngời giáo viên cha thực sự đặt ca dao
đúng mảnh đất của nó, cha làm cho ca dao ở đúng vị trí phô bày, diễn xớng màvẫn bị gò bó trong câu chữ thuyết trình của ngời giáo viên nên tự thân ca daocha ăn sâu vào trí tuệ, tâm hồn mỗi học sinh
Thiết nghĩ nếu không có sự đổi mới trong phơng pháp giảng dạy thìchúng ta cha thực sự khơi gợi hết vẻ đẹp vốn có của ca dao, vô tình chúng ta
Trang 6đã tớc bỏ đi những vẻ đẹp mà cha ông ta đã gửi gắm trong đó, mỗi bài ca daochỉ còn là những bài văn đơn điệu về một thể loại Văn học.
II Cơ sở để giải quyết vấn đề.
1 Cơ sở lí luận.
Căn cứ vào thực trạng đã khảo sát, hơn nữa phần ca dao không đợc dạynhiều trong chơng trình toàn cấp học, trong đó chùm ca dao về tình cảm gia
đình chỉ đợc học trong một bài, ngời giáo viên càng phải cố gắng thâm nhập
để có thể truyền tải hết nội dung, giá trị nghệ thuật kể cả phần ca dao về chủ
đề này, giúp học sinh có cái nhìn tổng quát về một bộ phận Văn học có ýnghĩa làm tiền đề cho thể loại thơ trữ tình sau này Trong nền Văn học ViệtNam, nhiều nhà thơ nổi tiếng nh: Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Du, Bà HuyệnThanh Quan, Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu, Hồ Chí Minh, Tố Hữu…Trong thời kỳ hiện nayđã rấtthành công khi vận dụng thể thơ lục bát dân tộc và những câu ca dao vào cácsáng tác của mình Do vậy, tuy phần ca dao không đợc giảng dạy nhiều trongchơng trình nhng nó có ý nghĩa, vị trí quan trọng trong cách nhìn tổng thể củachơng trình cấp học
- Chuẩn bị về t liệu, thiết bị, về kiến thức
- Giảng dạy trên lớp (là bớc quan trọng)
- Luyện tập và hớng dẫn về nhà
Chơng II Khái niệm, đặc trng thể loại của ca dao
và nội dung của chùm ca dao về tình cảm gia đình.
I Khái niệm ca dao.
Có rất nhiều các thuật ngữ khác nhau để chỉ cùng một đối tợng các câuhát dân gian là: phong dao, ca dao, dân ca, thơ ca dân gian, bài hát dân gian
"Phong dao", "ca dao" là những thuật ngữ Hán Việt Nếu định nghĩatheo từ nguyên thì "ca" là bài hát có chơng khúc hoặc có âm nhạc kèm theo,còn "dao" là bài hát ngắn không có chơng khúc Nh vậy, xét về bản chất thì cadao và dân ca hầu nh không có ranh giới rõ rệt Song, sau này trên thực tế,thuật ngữ "ca dao" có nội dung hẹp hơn thuật ngữ "dân ca" Trớc đây, khi sutầm các câu hát và bài hát dân gian các nho sĩ trí thức chỉ chú ý đến phần lời
Trang 7thơ của những sáng tác ấy, chỉ tuyển chọn những bài hay nhất và có ý nghĩakhái quát nhất về mặt phản ánh đời sống, tình cảm, đạo đức, phong tục Nhvậy "ca dao" thờng đợc hiểu là lời của bài hát dân gian, khi tách lời ca ra khỏi
điệu hát, để phân biệt "ca dao" và "dân ca" về mặt diễn xớng Một bài ca dao
để đọc không cần tiếng đệm, luyến láy nhạc điệu thì là ca dao; còn một bài cadao đợc dùng để hát, có thêm tiếng nhạc đệm, đa hơi thì nó sẽ thành dân ca
II Đặc trng thể loại.
1 Đề tài.
Thơ ca trữ tình dân gian đợc sáng tác, nuôi dỡng, lu truyền bởi tập thểnhân dân lao động Nhân vật trữ tình trong thơ ca dân gian là những con ngờibình dị, những ngời dân lao động nh: ngời nông dân, ngời làm nghề chài lới,ngời tiều phu, ngời lính, ngời tiểu thơng …Trong thời kỳ hiện nayChính qua con mắt, suy nghĩ và tráitim của họ, cuộc sống đợc phản ánh một cách chân thật và đa dạng Những suynghĩ và tình cảm ấy tạo ra nội dung cơ bản của thơ ca dân gian Đề tài phản
ánh của ca dao rất rộng bao gồm ca dao nghi lễ - phong tục, ca dao gắn vớisinh hoạt tình cảm gia đình, ca dao gắn với sinh hoạt cộng đồng, làng xóm
2 Chức năng thể loại.
Thơ ca trữ tình dân gian là nơi bộc lộ rõ nhất tâm hồn dân tộc ý nghĩacơ bản cuả thơ ca trữ tình dân gian là biểu đạt những t tởng, tình cảm và cảmxúc của nhân dân Rabisep nhận thấy trong các bài hát trữ tình dân gian " sựtạo thành tâm hồn dân tộc chúng ta" , "nỗi đau tâm hồn" Puskin nhận thấytrong đó "sự chia ly xa vời", "Nỗi buồn đau tự trái tim" Theo cách diễn đạtchính xác và hình tợng cảu Ghecxen, trong các bài hát dân gian ngời ta nhậnthấy sự diễn đạt sáng rõ nhất: "tất cả những khởi đầu thơ ca,cuộc du ngoạntrong tâm hồn nhân dân"
Các nhà nghiên cứu, các nghệ sĩ Việt Nam đã từng đánh giá rất cao giátrị nhiều măt của thơ ca dân gian: "là tiếng tơ đàn muôn điệu của tâm hồnquần chúng"
"Nếu không có ca dao dân ca thì cũng không có Nguyễn Du và Truyện Kiều"
"Thơ cổ điển có những u điểm lớn lao khác nhng cha dễ trong thơ cổ
điển đã có đợc cái chất tâm hồn ngời mới cày xới, còn tơi rói, bốc hơi chảymáu"
"Những câu ca dao từ Nam chí Bắc nh có đất, nh có nớc, nh có cát, cóbiển, có mồ hôi ngời Đó là một giọt tinh tuý chắt ra từ ruột già của nonsông"
Điều trớc tiên, khi xác định đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thơ trữtình dân gian cần phải chú ý rằng, ta đang tiếp xúc với dạng thơ trữ tình mà vềnguyên tắc cảm nhận nghệ thuật khác về cơ bản với thơ ca tự sự Nếu nh trongcác thể loại tự sự, các hiện tợng và sự kiện cần phản ánh chiếm vị trí chủ đạo(ví dụ truyền thuyết lịch sử, truyện cổ tích) thì trong thơ ca trữ tình, sự biểuhiện mối quan hệ này khác đối với hiện tợng và sự kiện cuộc sống ,sự biểu đạtnhững t tởng, tình cảm và cảm xúc mà chúng tạo ra đóng vai trò đặc biệt quantrọng Đôbrôliubốp đã nhận xét: "Thể loại tự sự có u thế rất lớn trong việc kể
về những điều xảy ra trong cuộc sống Một phơng thức khác có khả năng đặc
Trang 8biệt trong việc biểu đạt những sự kiện và truyền đạt tình cảm, cảm xúc mànhững sự kiện này tác động vào tâm hồn con ngời Phơng thức này gọi là thơ
ca trữ tình"
Những điều nói về thơ ca trữ tình truyền thống đợc mở rộng sang thơ catrữ tình dân gian Cũng cần nhấn mạnh rằng tất cả những t tởng, tình cảm đợcbiểu đạt trong bài hát trữ tình dân gian không trìu tợng mà bằng phơng thứcnghệ thuật cụ thể nổi lên nhận thức, tâm trạng của từng con ngời riêng biệt ởcác nhân vật trữ tình cụ thể Mỗi ngời, từng nơi, từng lúc, từng hoàn cảnh đềusoi đợc, tìm thấy ở ca dao một phần hồn mình trong đó
3 Đặc điểm về diễn xớng.
Xét về hình thức diễn xớng ca dao cso hai hìhn thức cơ bản là hát cuộc
và hát lẻ:
a Hát cuộc (hát lề lối, thủ tục)
Đây là hình thức hát tập thể đợc diễn ra quy mô với hình thứuc đối canam nữ (có thể một tốp nam một tốp nữ hoặc hai phờng hai họ) thờng đợc tuânthủ theo ba chặng:
*Hát chào, mời đố hỏi:
Đây là chặng hát mang tính chất của lời chào hỏi làm quen trong buổigặp gỡ ban đầu của đôi bên nam nữ, cho nên dờng nh nó mang tính chất trangtrọng, xã giao Họ làm quen, mời trầu, mời nớc, thử tài, ra điều kiện
- Hỏi chàng quê quán nơi nao Sao mà chàng biết vờn đào có hoa.
- Anh là khách lạ đờng xa Biết đây có khách đào hoa tới tìm.
- Em đố anh biết sông nào sâu nhất?
Núi nào cao nhất nớc ta?
Anh mà đoán đựơc cho ra Thì em kết nghĩa giao hoà cùng anh.
- Cao nhất là núi Lam Sơn
Có ông Lê Lợi trong ngàn bớc ra Câu đố anh đã giải ra Mời ngời thục nữ giao hoà cùng anh.
- Hát xe duyên (còn gọi là hát kết, hát thơng)
Giống nh một cuộc tình đã qua bớc đi ban đầu khó khăn nhất, bây giờbớc vào thời kỳ đằm thắm, chặng hát xe kết này là tầng tầng lớp lớp, đầy ắpcung bậc tình cảm của đôi lứa yêu đơng: nhớ mong, giạn hờn, trách móc, thềnguyền, ớc hẹn:
- Đôi ta nh thể con tằm Cùng ăn một chiếu cùng nằm một nong.
- Đôi ta nh thể con ong Con quấn con quýt con trong con ngoài.
- Tình anh nh nớc dâng cao Tình em nh dải lụa đào tẩm hơng.
Trang 9Câu thơ ba chữ rành rành Chữ trung chữ hiếu chữ tình là ba Chữ trung thì để phần cha Chữ hiếu phầm mẹ, đôi ta chữ tình.
- Ngời về em những khóc thầm Hai hàng nớc mắt dầm dầm nh ma.
-Ngời về em có rặn rằng
Đâu hơn ngời lấy, đâu bằng đợi em.
-Ngời về để áo lại đây
Đêm khuya em đắp gió tây lạnh lùng.
Hình thức hát theo lề lối này rất phổ biến trên khắp mọi miền đất nớc từBắc chí Nam: hát ghẹo Vĩnh Phúc, hát quan họ bắc Ninh, hát trống quânThanh Hoá, hát ví phờng vải Nghệ Tĩnh, hát giã gạo Quảng Nam, hát đối đáp
Gò Công, Nam Bộ…Trong thời kỳ hiện naydiễn ra trong lao động nghề nghiệp, đặc biệt trong các lễ
hội mùa xuân Trong lời bạt cho cuốn sách Dân ca miền Nam Trung Bộ, Nhà
thơ Xuân Diệu có kể về thời thơ ấu của mình từng đợc chứng kiến hình thứcsinh hoạt văn nghệ này ở mảnh đất Quảng Nam quê ông: Cứ bảy, tám ngờiphụ nữ giã gạo thì có khoảng sáu, bảy ngời nam giới đến giã gạo giúp và hát
đối đáp Họ vừa giã gạo vừa hát trong đêm trăng theo hình thức hát cuộc, cũngchào hỏi, đối đáp thử tài, cũng hát thơng rồi hát chia tay Họ hát say sa thâu
đêm suốt sáng Có nhiều khi gạo đã giã xong rồi mà lời hát đối còn cha muốndứt, họ lại đổ trấu vào giã tiếp và hát tiếp Trong những cuộc hát này cũng cónhiều đôi nên vợ nên chồng, lại cũng có ngời thua cuộc mà cay cú cắt tóctuyên bố "giải nghệ" thề không đi hát nữa
4 Một vài đặc trng nghệ thuật của ca dao, dân ca
a "Ca dao cũng nh thơ, một loại thơ riêng biệt" (Xuân Diệu) Điều
đó nói lên rằng ca dao thuộc loại hình trữ tình dân gian, nó có những đặc tr ngphân biệt với tự sự và kịch Mặt khác ca dao tuy giống thơ nhng cũng khác thơvì nó không phải đợc sáng tạo lên để đọc mà để hát, nó gắn liền với môi trờng
ca hát, nghệ nhân diễn xớng và các yếu tố âm nhạc, tạo hình, vũ đạo…Trong thời kỳ hiện nay
b Thời gian nghệ thuật trong tác phẩm ca dao, dân ca bao giờ cũng
là thời gian hiện tại hoặc thời gian quá khứ không xa xôi lắm (còn trong
truỵên cổ tích thì thời gian nghệ thuật bao giờ cũng là thời gian quá khứ xaxôi) Chẳng hạn trong ca dao dân ca chúng ta thờng gặp những câu hỏi mở
đầu:
Trang 10Gặp đây mận mới hỏi đào:
Vờn hồng đã có ai vào hay cha?
Mận hỏi thì đào xin tha:
Vờn hồng có lối nhng cha ai vào Gặp đây anh nắm cổ tay Anh hỏi câu này nàng nói làm sao
Ai là mận ai là đào
Ai mà kết nghĩa tơng giao ở đời.
Đêm qua thắp ngọn đèn loan Nhớ chàng quân tử thở than vài lời.
c Kết cấu của ca dao, dân ca thờng có những dạng cơ bản sau đây.
* Kết cấu trần thuật.
Mình nói với ta mình hãy còn son
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò Con mình những đất cùng tro
Ta đi gánh nớc tắm cho con mình
* Kết cấu đối đáp:
+ Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng đợc chăng + Đan sàng thiếp cũng xin vâng Tre vừa đủ lá nên chăng hỡi chàng
* Xen kẽ câu trần thuật và đối đáp.
Sáng ngày em đi hái dâu Thấy hai anh ấy ngồi câu thạch bàn Hai anh đứng dậy hỏi han Hỏi rằng: Cô ấy vội vàng đi đâu?
Tha rằng em đi hái dâu Hai anh đứng dậy mở trầu ra ăn Tha rằng: Bác mẹ em răn Làm thân con gái chớ ăn trầu ngời
* Kết cấu song trùng tức là lặp lại một câu hoặc vài ba từ trong câu:
Diều hầu không tranh tổ chim nhạn
Đeo chiếc bông tai Khoai than thân khoai
Đào lên bới xuống Muống than thân muống Bứt đọt nấu canh … .
Trang 11d Để xây dựng hình tợng nhân vật trữ tình trong ca dao, dân ca ngời
ta thờng dùng những ẩn dụ nghệ thuật để thay cho quan hệ giữa ngời với ngời Bên cạnh cách xng hô "Anh, em", "Thiếp, chàng" còn có những biểu tợng - mây, loan - phợng, thuyền - bến, trúc - mai…Trong thời kỳ hiện nay.(ở ngời Vịêt) Cây trám, hoa pạc piều, cái cọn nớc, chim khảm khắc, chim kền kền (ở dân tộc thiểu số)
* Kết luận:
Ca dao, dân ca suốt các giai đoạn của cuộc đời con ngời Lúc mới lọt lòng chúng ta đã nghe những câu hát ru của bà, của mẹ bên tao nôi Lúc chập chững biết đi, biết nói chúng ta chơi dung dăng dung dẻ, rồng rắn lên mây và hát những bài đồng dao Khi đến tuổi thành niên ta đi tìm bạn để trao nhau những câu hát đối đáp giao duyên Khi thành gia thất, làng bản cùng ta hát quan lang, cò lẩu Lúc lên lão chúng ta đợc nghe câu hát mừng thọ và lúc nhắm mắt xuôi tay những ngời thân cũng đa tiễn nhau bằng bài ca tăng lễ
"Trẻ vui cảnh nhà, già vui cảnh chùa" bên khói hơng chốn của thần, cửa phật cũng vang vọng bài dân ca nghi lễ Khi lên nơng, lúc xuống đồng, bài dân ca lao động cũng không bao giờ ngng Ca dao dân ca là cầu nối tạo nên sự giao lutình cảm giữa ngời và ngời, là phơng thức để con ngời cảm nhận thế giới tự nhiên và nhận thức xã hội Vì vậy nó trờng tồn không chỉ ở buổi bình minh nhân loại mà cả đến ngày nay
III Nội dung của chùm ca dao về tình cảm gia đình.
Gia đình là nguồn đề tài chiếm số lợng khá lớn trong ca dao bởi: "gia
đình cá thể là hình ảnh thu nhỏ của những mối quan hệ xã hội" là nơi cácthành viên trong gia đình thể hiện cảm nghĩ của mình với nhau một cách rõ nétnhất Đó là các mối quan hệ giữa ông bà - cháu, cha mẹ - con cái, vợ - chồng,anh - em
Những bài ca dao thể hiện sâu sắc đạo lý truyền thống dân tộc Trongmối quan hệ của con cháu với ông bà, cha mẹ, chũ "hiếu" thờng đợc xemtrọng Chữ "hiếu" thờng xuyên đợc xem trọng Chữ "hiếu" theo quan niệmNho giáo đợc dân gian hoá một cách giản dị:
Đền công ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xa.
- Gió đa cây cửu lý hơng
Xa cha xa mẹ thất thờng bữa ăn.
- Mẹ già nh chuối chín cây Gió lay mẹ rụng con thời mồ côi.
Mối quan hệ anh - em trong gia đình đợc tục ngữ ca dao luôn xem trọng
"Máu chảy ruột mềm", "Chị ngã em nâng":
- Anh em nh thể tay chân Rách lành đùm bọc,dở hay đỡ đần.
- Khôn ngoan đá đáp ngời ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.
Trang 12a Tiếng hát than thân.
Tiếng hát than thân chiếm số lợng nhiều nhất trong các bài ca sinh hoạt gia đình là bài ca của ngời phụ nữ và nói về ngời phụ nữ Có thể nói, ngời phụ nữ là nhân vật trung tâm trong ca dao gia đình Xã hội phong kiến phụ quyền tồn tại hàng ngàn năm với quan niệm bất công, khắt khe "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử" (ở nhà phải theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con), quan niệm trọng nam khinh nữ "Nhất nam viết hữu, thậpnữ viết vô" (Có một con trai thì coi là có con, dẫu có mời con gái thì cũng coi
nh không có con) đã dành mọi u tiên, u đãi cho ngời đàn ông và đẩy ngời phụ nữ xuống địa vị thấp kém nhất trong gia đình cũng nh trong xã hội Ngời phụ nữ hát về thân phận mình thuờng mở đầu bằng hai tiếng "thân em":
- Thân em nh tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.
- Thân em nh hạt ma sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày.
- Thân em nh lá đài bi Ngày thì dãi nắng đêm thì dầm sơng.
- Thân em nh giếng giữa đàng Ngời khôn rửa mặt ngời phàm rửa chân.
- Thân em nh miếng cau khô
Kẻ thanh tham mỏng, ngời thô tham dày.
- Thân em nh chổi đầu hè Phòng khi ma gió đi về chùi chân Chùi rồi lại vứt ra sân Gọi ngời hàng xóm có chân thì chùi.
- Thân em nh ớt chín cây Càng tơi ngoài vỏ càng cay trong lòng.
Có biết bao nhiêu nỗi khổ mà ngời phụ nữ phải chịu đựng, nỗi khổ vềvật chất "ngày ngày hai buổi trèo non", "ngày thì dãi nắng đêm thì nằm sơng".Nhng nỗi khổ lớn nhất, xuất hiện với tần số cao nhất trong bài ca mở đầu theocông thức "thân em" là nỗi khổ về tinh thần, nỗi khổ của thân phận mongmanh, bị động, nhỏ bé, ít giá trị Con ngời bị "đồ vật hoá", đợc định giá theogiá trị sử dụng Thân phận là cái gì lớn lao nhất đối với mỗi con ngời thì lại đ-
ợc so sánh với hạt ma xa, chổi đầu hè, miếng cau khô, cọc bờ rào ….
Không phải ngời phụ nữ không ý thức đợc vẻ đẹp và phẩm giá đáng quýcủa mình Họ luôn ví mình với "tấm lụa đào","giếng nớc trong", nh "cây quếgiữa rừng" …Trong thời kỳ hiện nay.nhng phẩm chất đáng quý ấy không đợc xã hội, ngời đời biết
đến và coi trọng Tính chất tơng đồng trong cấu trúc và đa dạng trong các hình
ảnh so sánh tạo ra một hệ thống mở, hút lấy tiếng lòng thổn thức của ngời phụnữ bao thế hệ, bao vùng miền trên đất nớc Ngời phụ nữ dân tộc Thái cũngtừng đau đớn thốt lên: "Thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa, bằng con chẫuchuộc thôi" Cảm thán chung về vấn đề thân phận ngời phụ nữ trong văn họcdân gian tạo thành nguồn mạch và gặp gỡ cảm xúc của các nữ văn học viết tài
ba Hồ Xuân Hơng thế kỷ XVIII:
Thân em thì trắng phận em tròn Bảy nổi ba chìm với nớc non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn