Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại dự án trọng điểm xây dựng cấp bách cơ sở hạ tầng bảo vệ biên giới xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại dự án trọng điểm xây dựng cấp bách cơ sở hạ tầng bảo vệ biên giới xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại dự án trọng điểm xây dựng cấp bách cơ sở hạ tầng bảo vệ biên giới xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại dự án trọng điểm xây dựng cấp bách cơ sở hạ tầng bảo vệ biên giới xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại dự án trọng điểm xây dựng cấp bách cơ sở hạ tầng bảo vệ biên giới xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại dự án trọng điểm xây dựng cấp bách cơ sở hạ tầng bảo vệ biên giới xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại dự án trọng điểm xây dựng cấp bách cơ sở hạ tầng bảo vệ biên giới xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại dự án trọng điểm xây dựng cấp bách cơ sở hạ tầng bảo vệ biên giới xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại dự án trọng điểm xây dựng cấp bách cơ sở hạ tầng bảo vệ biên giới xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐINH THẾ MẠNH
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TẠI DỰ ÁN TRỌNG ĐIỂM XÂY DỰNG CẤP
BÁCH CƠ SỞ HẠ TẦNG BẢO VỆ BIÊN GIỚI
XÃ LŨNG CÚ, HUYỆN ĐỒNG VĂN, TỈNH HÀ GIANG
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số ngành: 8 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: GS TS NGUYỄN THẾ HÙNG
Thái Nguyên - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin can đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả
sử dụng để nghiên cứu viết luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ học vị nào, mọi trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Đinh Thế Mạnh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và nghiên cứu đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của các thầy, cô khoa quản lý tài nguyên
và khoa quản lý đào tạo sau đại học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân,
tôi có nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của GS.TS Nguyễn Thế Hùng, là
người hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và viết luận văn
Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND huyện Đồng Văn; Phòng Tài nguyên và Môi trường và Hội đồng bồi thường GPMB huyện Đồng Văn, UBND xã Lũng Cú, Ban quản lý đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm tỉnh Hà Giang và các anh, chị em, bạn bè đồng nghiệp, sự động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và người thân
Với tấm lòng chân thành, tôi xin cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Đinh Thế Mạnh
Trang 4: Hội đồng bồi thường : Hội đồng nhân dân : Quy hoạch sử dụng đất : Kế hoạch sử dụng đất : Kinh tế xã hội
: Tài nguyên và Môi trường : Tái định cư
: Thủ tục hành chính : Ủy ban nhân dân
Trang 5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu đề tài 3
1.1.1 Cơ sở lý luận 3
1.1.2 Các yếu tố tác động đến công tác giải phóng mặt bằng 4
1.1.3 Đặc điểm của công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC 8
1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài 9
1.2.1 Căn cứ pháp lý của đề tài 9
1.2.2 Quy trình thực hiện thu hồi đất, bồi thường GPMB 9
1.2.3 Những quy định về thu hồi đất 10
1.2.4 Những quy định về bồi thường về đất, hỗ trợ và TĐC 12
1.2.5 Những quy định về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất 19
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 26
1.3.1 Chính sách GPMB của một số nước trên thế giới 26
1.3.2 Công tác GPMB ở Việt Nam hiện nay 32
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 34
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 34
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 34
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 34
2.3 Nội dung nghiên cứu 34
2.4 Phương pháp nghiên cứu 35
Trang 62.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 35 2.4.2 Phương pháp so sánh, tổng hợp, xử lý, đánh giá và phân tích số liệu 37
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Đánh giá tổng quan về công tác bồi thường, GPMB trên địa bàn tỉnh
Hà Giang 38 3.1.1 Đánh giá sơ lược tình hình cơ bản của tỉnh Hà Giang 38 3.1.2 Sơ lược về tình hình quản lý và sử dụng đất của tỉnh Hà Giang 44 3.1.3 Đánh giá tổng quát về thực trạng bồi thường, hỗ trợ, TĐC trên địa
bàn tỉnh Hà Giang 52 3.2 Đánh giá kết quả bồi thường, GPMB dự án xây dựng cấp bách cơ sở
hạ tầng bảo vệ biên giới tại trung tâm xã Lũng Cú (giai đoạn I) 53 3.2.1 Tổng quan về khu vực thực hiện dự án 53 3.2.2 Đánh giá kết quả bồi thường, GPMB dự án xây dựng cấp bách cơ
sở hạ tầng bảo vệ biên giới tại trung tâm xã Lũng Cú (giai đoạn I) 57 3.4 Đánh giá công tác bồi thường, GPMB thông qua ý kiến của người
dân bị thu hồi đất và người dân xung quanh khu vực dự án 67 3.4.1 Tình hình thu nhập, lao động và việc làm của các hộ dân sau khi bị
thu hồi đất 67 3.4.2 Tác động đến việc phát triển các công trình hạ tầng kĩ thuật, hạ
tầng xã hội 69 3.4.3 Tác động đến tình hình an ninh, trật tự xã hội 70 3.4.4 Tác động đến cảnh quan và môi trường sống của người dân 70 3.4.5 Đánh giá của người dân về công tác bồi thường, GPMB của dự án 71 3.6 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn, tồn tại của công tác thu hồi đất bồi thường GPMB của dự án và đề xuất một số giải pháp khắc phục hạn
chế của công tác thu hồi đất GPMB dự án 72 3.6.1 Thuận lợi 72
Trang 73.6.2 Khó khăn, vướng mắc 73
3.6.3 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác bồi thường GPMB tại huyện Đồng Văn 74
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 76
1 Kết luận 76
2 Đề nghị 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2018 tỉnh Hà Giang 44
Bảng 3.2: Thực trạng về các công trình, dự án thực hiện giai đoạn 2015 -2017 trên địa bàn tỉnh Hà Giang 52
Bảng 3.3: Kết quả thu thập thông tin chung về án trong giai đoạn nghiên cứu 58
Bảng 3.4: Tổng hợp diện tích thu hồi đất và kinh phí bồi thường GPMB dự án 60
Bảng 3.5 Tổng hợp kết quả điều tra, xác định đối tượng được BT tại dự án 61
Bảng 3.6 Kết quả bồi thường về đất của dự án 62
Bảng 3.7 Kết quả phê duyệt phương án bồi thường về tài sản, vật kiến trúc và cây trồng trên đất của dự án 63
Bảng 3.8 Tổng hợp kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ tại dự án 65
Bảng 3.9 Tình hình hỗ trợ, đào tạo nghề và xin việc làm sau khi thu hồi đất 67
Bảng 3.10 Thu nhập bình quân của người dân tại dự án 68
Bảng 3.11 Tình hình thu nhập của các hộ sau khi bị thu hồi đất 68
Bảng 3.12 Tình hình cơ sở hạ tầng sau khi thu hồi đất 69
Bảng 3.13 Tình hình an ninh, trật tự xã hội sau khi thu hồi đất 70
Bảng 3.14 Tình hình cảnh quan và MT sống của người dân sau khi thu hồi đất 71
Bảng 3.15: Kết quả đánh của người dân về công tác BTGPMB 71
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia và không thể thay thế được trong đời sống, trong quá trình sản xuất của con người Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta có sự phát triển mạnh mẽ, cùng với áp lực về sự gia tăng dân số làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Đồng thời quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh làm cho đất đai ngày càng có giá trị kinh tế cao và nhu cầu về mặt bằng lớn để phục cho sản xuất, kinh doanh Để có mặt bằng thực hiện các dự án chúng ta phải thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất Chính vì vậy công tác GPMB là một trong những điều kiện tiên quyết của sự phát triển, nó tác động mạnh mẽ đến công tác quản lý nhà nước về đất đai
Trước thực trạng như vậy, công tác bồi thường GPMB là một trong những công việc hết sức khó khăn, phức tạp và được xã hội đặc biệt quan tâm, bồi thường GPMB không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có đất bị thu hồi mà còn ảnh hưởng rất lớn đến tình hình kinh tế, chính trị,
xã hội của địa phương sau khi TĐC cho người dân Bồi thường GPMB là lĩnh vực nhạy cảm và gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện như thương lượng giá đền bù hợp lý với người dân, TĐC và giải quyết hậu quả sau GPMB Do vậy cần
áp dụng linh hoạt các quy định của pháp luật vào điều kiện thực tế của địa phương Trước những khó khăn như vậy, việc đánh giá công tác GPMB để đưa ra những phương án khả thi giải quyết những khó khăn khi bồi thường GPMB đang là một nhu cầu hết sức cấp thiết của xã hội
Trong những năm qua, tỉnh Hà Giang đã và đang thực hiện chủ trương về thu hút các nhà đầu tư chiến lược, có tiềm năng để đầu tư các dự án về thương mại dịch
vụ, du lịch và sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh đã tạo công ăn việc làm cho nhiều nguời dân Cùng với đó Hà Giang cũng không ngừng đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, nhiều dự án đã được triển khai trên địa bàn tỉnh Trong đó những dự án xây dựng các khu thương mại giao thương với nước bạn tại các khu vực biên giới giáp với Trung Quốc hoặc các dự án xây dựng cấp bách cơ sở hạ tầng nhằm bảo vệ biên giới, đã
Trang 10được triển khai thực hiện nhằm thúc đẩy về phát triển KT-XH của tỉnh và bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc Tuy nhiên công tác bồi thường, GPMB để thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh trong những năm qua cũng còn gặp không ít khó khăn, bất cập làm chậm tiến độ của dự án so với kế hoạch đề ra Vì vậy, việc nghiên cứu công tác bồi thường, GPMB của dự án này để thấy được những khó khăn, thuận lợi và hạn chế, từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm và giải pháp nhằm góp phần xây dựng các chính sách về bồi thường, hỗ trợ và TĐC của tỉnh Hà Giang Xuất
phát từ lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá công tác bồi thường, GPMB tại dự án xây dựng cấp bách cơ sở hạ tầng bảo vệ biên giới tại trung tâm xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang”
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá công tác bồi thường, GPMB dự án trọng điểm xây dựng cấp bách
cơ sở hạ tầng bảo vệ biên giới tại xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang;
- Đánh giá công tác GPMB của dự án qua ý kiến người dân;
- Phân tích những thuận lợi, khó khăn và đề xuất các giải pháp đối với công tác bồi thường, GPMB trên địa bàn tỉnh Hà Giang trong thời gian tới
3 Ý nghĩa của đề tài
Trang 11Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu đề tài
1.1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1.1 Một số khái niệm về thu hồi đất, GPMB
Thu hồi đất: là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi
phạm pháp luật về đất đai (Luật đất đai, 2013)
GPMB: là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới GPMB
là giải pháp quan trọng mang tính đột phá nhằm chủ động quỹ đất, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển và triển khai thực hiện các
dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH
Quá trình GPMB được tính từ thời điểm thành lập hội đồng GPMB đến khi giải phóng xong và giao đất cho chủ đầu tư mới Đây là quá trình đa dạng và rất phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa các dự án và liên quan đến lợi ích trực tiếp của người dân, doanh nghiệp và cả của xã hội, vì vậy quá trình GPMB phải đảm bảo hài hoà các lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp và đặc biệt là lợi ích của người dân
có đất bị thu hồi Công tác GPMB quyết định đến tiến độ của các dự án, là khâu đầu
tiên thực hiện dự án (Phạm Tuấn Anh, 2013)
1.1.1.2 Bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất và tài sản
bị thiệt hại với diện tích đất bị thu hồi cho người sử dụng đất Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại
đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất (Luật đất đai, 2013)
Có 2 loại bồi thường: bồi thường thiệt hại về đất và bồi thường thiệt hại về tài sản + Bồi thường thiệt hại về đất là biện pháp để phân bố lại tài nguyên trên quan điểm lấy bao nhiêu bù bấy nhiêu
Trang 12+ Bồi thường thiệt hại về tài sản gồm: nhà, công trình, vật kiến trúc, cây cối hoa màu, công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật gắn với đất đai bị thu hồi
1.1.1.3 Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển Chính sách này thể hiện sự quan tâm của nhà nước, tính nhân văn của pháp luật đối với người có đất bị thu hồi, góp phần tích cực đẩy nhanh tiến độ GPMB, thời gian thi công, công trình được đảm bảo
1.1.1.4 Tái định cư
TĐC là quá trình khôi phục và ổn định cuộc sống cho những người phải di chuyển chỗ ở do nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan TĐC là việc di chuyển chỗ ở của người có đất bị thu hồi đến sinh sống tại nơi ở mới do nhà nước bố trí để giúp người bị thu hồi đất ổn định đời sống, sản xuất tại khu TĐC TĐC bắt buộc là
sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi để thực hiện các công trình,
dự án vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế xã hội (Chính phủ, 2014)
TĐC khi người sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở thì được bố trí đất ở, nhà ở TĐC theo quy định tại Điều 86 và Điều 87 Luật Đất đai năm
2013, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ
Hiện nay nước ta khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người
sử dụng đất được bố trí TĐC bằng các hình thức sau: bồi thường bằng nhà ở, bồi thường bằng đất ở mới, bồi thường bằng tiền để xây dựng nơi ở mới Trường hợp người bị thu hồi đất tự lo chỗ ở thì ngoài việc được bồi thường về đất còn được nhận thêm khoản tiền hỗ trợ TĐC
1.1.2 Các yếu tố tác động đến công tác giải phóng mặt bằng
Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về đất đai ở nước ta hiện nay mặc dù
đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều bất cập và vướng mắc đã tác động không tới công tác bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh Vấn đề đặt ra ở đây đó chính là phải tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai; nâng cao năng lực pháp lý, trước hết phải tập trung xây dựng và hoàn thiện thể chế để điều chỉnh các mối quan
hệ về đất đai Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thực hiện công tác bồi
thường, GPMB khi nhà nước thu hồi đất (Đào Trung Chính & cs, 2013)
Trang 131.1.2.1 Việc ban hành văn bản và thực hiện các văn bản
Ở nước ta, sau khi ban hành Luật Đất đai 1993 đến nay, Chính phủ đã ba lần trình Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đất đai năm 1998,
2001, 2003 và 2013 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH đất nước Theo đó, chính sách bồi thường, GPMB cũng luôn được Chính phủ không ngừng hoàn thiện, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế trong từng giai đoạn phát triển Với những đổi mới về pháp Luật Đất đai, đã cơ bản đáp ứng được tính ổn định, thống nhất của pháp Luật Đất đai qua các thời kỳ mà công tác bồi thường, GPMB đã gặp khá nhiều khó khăn và cản trở Thực tiễn triển khai cho thấy việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai, việc tổ chức thực hiện các văn bản
đó có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường, GPMB Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2013 của Bộ TN&MT cho thấy
(Nguyễn Văn Hùng, 2015):
- Nhận thức của người dân và kể cả một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý đất đai ở địa phương về chính sách pháp luật nhìn chung còn hạn chế; trong khi đó việc tuyên truyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệm chưa tốt
- Nhận thức pháp luật của một số người dân còn hạn chế, cùng với đó là việc
áp dụng pháp luật còn thiếu dân chủ, không công khai, công bằng ở các địa phương chính là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ GPMB
1.1.2.2 Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng,
là địa bàn phân bổ dân cư, xây dựng các công trình văn hoá xã hội Vì vậy QHSDĐ được xem là giải pháp tổng thể định hướng cho quá trình phát triển và quyết định tương lai của nền kinh tế Thông qua QHSDĐ, Nhà nước can thiệp vào các quan hệ đất đai, khắc phục những nhược điểm do lịch sử để lại hay giải quyết những vấn đề
mà quá trình phát triển đang đặt ra
QHSDĐ không chỉ là công cụ cho thị trường mà còn là phương tiện quan trọng nhất thực hiện các mục tiêu chính trị - xã hội hoá về công bằng, dân chủ, văn minh trong bồi thường GPMB và cũng là công việc mà hoạt động quản lý Nhà nước
Trang 14có ảnh hưởng nhiều nhất, hiệu quả nhất, đúng chức năng nhất Quy hoạch, KHSDĐ
có tác động tới chính sách bồi thường GPMB trên hai phương diện:
- Quy hoạch, KHSDĐ là một trong những căn cứ quan trọng nhất để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 thì việc giao đất, cho thuê đất chỉ được thực hiện khi thực hiện xong việc chi trả tiền bồi thường và có quyết định thu hồi đất đó của người đang sử dụng
- Quy hoạch, KHSDĐ là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất, từ đó tác động tới giá đất tính bồi thường
1.1.2.3 Công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 thì người sử dụng đất phải thực hiện đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và được cấp GCNQSDĐ GCNQSDĐ
là chứng thư pháp lý khẳng định quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân đối với mảnh đất (lô đất) cụ thể, làm căn cứ cho việc thực hiện các quyền của
người sử dụng đất và giải quyết các tranh chấp liên quan tới quyền sử dụng đất Trong công tác bồi thường GPMB, GCNQSDĐ là căn cứ để xác định loại đất, diện tích đất, đối tượng tính bồi thường Hiện nay, công tác đăng ký đất đai ở tỉnh Hà Giang vẫn còn hạn chế, đặc biệt là đăng ký biến động về sử dụng đất; việc GCNQSDĐ vẫn chưa hoàn tất Chính vì vậy mà công tác bồi thường, GPMB ở huyện
đã gặp rất nhiều khó khăn Làm tốt công tác đăng ký đất đai, GCNQSDĐ thì công tác
bồi thường GPMB sẽ thuận lợi, tiến độ GPMB nhanh hơn (Luật đất đai, 2013)
1.1.2.4 Yếu tố giá đất và định giá đất
Một trong những vấn đề đang gây ách tắc cho công tác bồi thường, GPMB hiện nay đó là giá bồi thường cho người có đất bị thu hồi
Giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành thì giá đất được hình thành trong các trường hợp sau đây:
- Do UBND tỉnh quy định (căn cứ vào nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất và khung giá đất do Chính phủ quy định) và được công bố công khai trên
Website của sở TN&MT Hà Giang
Trang 15- Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất
- Do người sử dụng đất thỏa thuận về giá đất với những người có liên quan khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất
Để xác định được giá đất chính xác và đúng đắn chúng ta cần phải có những hiểu biết về định giá đất Định giá đất là phương pháp kinh tế nhằm tính toán lượng giá trị của đất bằng tiền tại một thời điểm khi chúng tham gia trong một thị trường nhất định Hay nói cách khác, định giá đất được hiểu là sự ước tính về giá trị quyền
sử dụng đất bằng tiền cho một mục đích cụ thể tại một thời điểm xác định
Khi định giá đất người định giá phải căn cứ vào mục đích sử dụng của từng loại đất tại thời điểm định giá để áp dụng phương pháp định giá đất cho phù hợp với thực tế Hiện nay, việc định giá đất chủ yếu sử dụng một số phương pháp, đó là phương pháp so sánh trực tiếp, phương pháp thu nhập, phương pháp triết trừ và phương pháp thặng dư
Tình hình phổ biến hiện nay là giá đất cho các địa phương quy định và công
bố đều không theo đúng nguyên tắc đó, dẫn tới nhiều trường hợp ách tắc về bồi thường đất đai và phát sinh khiếu kiện Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm
2015 của Bộ TN&MT cho thấy trong 17.480 đơn tranh chấp khiếu nại, tố cáo về đất đai thì có tới 12.348 trường hợp là khiếu nại về bồi thường GPMB chiếm 70,64% Trong các trường hợp khiếu nại về bồi thường, GPMB thì có tới 70% là khiếu nại
về giá đất nông nghiệp bồi thường quá thấp so với giá đất chuyển nhượng thực tế trên thị trường hoặc giá đất ở được giao tại nơi TĐC lại quá cao so với giá đất ở đã
được bồi thường tại nơi bị thu hồi (Tạp chí Cộng sản, 2007)
Như vậy, nếu công tác định giá đất để bồi thường GPMB không được làm tốt
sẽ làm cho công tác GPMB ách tắc, dẫn tới không có mặt bằng đầu tư, làm chậm
tiến độ triển khai dự án hoặc làm lỡ cơ hội đầu tư
1.1.2.5 Thị trường bất động sản
Thị trường bất động sản là nơi giải quyết quan hệ về cung - cầu bất động sản trong một thời gian và không gian nhất định Việc hình thành và phát triển thị trường
Trang 16bất động sản góp phần giảm thiểu việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư do người đầu tư có thể đáp ứng nhu cầu về đất đai thông qua các giao dịch trên thị trường, đồng thời người bị thu hồi đất có thể tự mua hoặc thuê đất, nhà cửa mà không nhất thiết phải thông qua Nhà nước thực hiện chính sách TĐC và bồi thường
Giá cả của bất động sản được hình thành trên thị trường và nó sẽ tác động tới giá đất tính bồi thường
1.1.3 Đặc điểm của công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC
Mỗi dự án liên quan đến giải phóng mặt bằng có một đặc điểm riêng, liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội GPMB vừa
mang tính đa dạng, vừa mang tính phức tạp (Nguyễn Thị Lợi, 2017)
- Tính đa dạng: Mỗi dự án được thể hiện trên một địa điểm khác nhau với điều kiện
tự nhiên, kinh tế xã hội, trình độ dân trí nhất định Do đó, giá trị của đất và các tài sản gắn liền với đất ở các khu vực khác nhau là khác nhau dẫn đến công tác bồi thường, GPMB
sẽ có những nét đặc trưng riêng, nhất định cho từng vùng, từng khu vực
Thứ hai, đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống KT - XH nên khi GPMB cũng gặp nhiều khó khăn GPMB được thực hiện chủ yếu ở các khu dân cư
có đời sống kinh tế và trình độ dân trí chưa cao nên rất phức tạp, tâm lý của người dân là không muốn di chuyển đi nơi khác
Thứ ba, tính phức tạp còn gặp phải khi thực hiện công tác GPMB là do nguồn gốc hình thành đất đai khác nhau, giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất chưa đầy
đủ, hợp pháp
Trang 171.2 Cơ sở pháp lý của đề tài
1.2.1 Căn cứ pháp lý của đề tài
- Luật Đất đai năm 2013
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013
- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về giá đất
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
- Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai
- Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai
và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai
- Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết phương pháp xác định giá đất; xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất
- Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
- Quyết định số 07/2015/QĐ-UBND ngày 09/6/2015 của UBND tỉnh Hà Giang ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hà Giang
1.2.2 Quy trình thực hiện thu hồi đất, bồi thường GPMB
Căn cứ các quy định của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, trên cơ sở thực tiễn triển khai công tác thu hồi đất, bồi thường GPMB trên địa bàn tỉnh Hà Giang thì công tác thu hồi đất, bồi thường GPMB gồm 9 bước như sau: Bước 1: Thông báo thu hồi đất
Trang 18Bước 2: Kiểm kê đất đai, tài sản có trên đất; cưỡng chế thực hiện quyết định
kiểm đếm bắt buộc (nếu có)
Bước 3: Lập phương án bồi thường, hỗ trợ và TĐC; xác định giá đất cụ thể
để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Bước 4: Niêm yết công khai lấy ý kiến nhân dân về dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ và TĐC
Bước 5: Thẩm định và hoàn chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ và TĐC
Bước 6: Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và TĐC
Bước 7: Quyết định thu hồi đất (Bước 6-phê duyệt phương án BT, GPMB và Bước 7 thu hồi đất được phê duyệt trong cùng một ngày)
Bước 8: Tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, bố trí TĐC theo phương án
đã được phê duyệt
Bước 9: Bàn giao mặt bằng, cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất (nếu có)
1.2.3 Những quy định về thu hồi đất
Theo quy định Pháp luật về đất đai hiện hành thì việc Nhà nước thu hồi đất được thực hiện trong các trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh,
phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, cộng cộng (quy định tại Điều 61, Điều
62 Luật Đất đai năm 2013) Cụ thể như sau:
* Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, bao gồm 10 trường hợp sau
- Làm nơi đóng quân, trụ sở làm việc;
- Xây dựng căn cứ quân sự;
- Xây dựng công trình phòng thủ quốc gia, trận địa và công trình đặc biệt về quốc phòng, an ninh;
- Xây dựng ga, cảng quân sự;
- Xây dựng công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh;
- Xây dựng kho tàng của lực lượng vũ trang nhân dân;
- Làm trường bắn, thao trường, bãi thử vũ khí, bãi hủy vũ khí;
- Xây dựng cơ sở đào tạo, trung tâm huấn luyện, bệnh viện, nhà an dưỡng của lực lượng vũ trang nhân dân;
Trang 19- Xây dựng cơ sở giam giữ, cơ sở giáo dục do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý
* Thu hồi đất để phát triển KT - XH vì lợi ích quốc gia, công cộng gồm 03 trường hợp sau:
- Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất;
- Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư
mà phải thu hồi đất, bao gồm:
+ Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA);
+ Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
- xã hội ở trung ương; trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia; + Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứa xăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải;
- Thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất bao gồm:
+ Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
- xã hội; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp địa phương;
+ Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải;
+ Dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư;
dự án TĐC, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng;
Trang 20+ Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng;
+ Dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản (Luật Đất đai, 2013)
1.2.4 Những quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.4.1 Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
- Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai năm 2013 thì được bồi thường
- Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất
- Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật (Luật Đất đai, 2013)
1.2.4.2 Điều kiện để được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
Điều kiện được bồi thường đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc
phòng, an ninh; phát triển KT-XH vì lợi ích quốc gia, công cộng (quy định tại Điều
75 Luật Đất đai năm 2013), như sau:
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có GCNQSDĐ, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc có đủ điều kiện để được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
Trang 21- Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện
để được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền
sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
- Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền nhận chuyển nhượng đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
- Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp
- Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự
án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc bán kết hợp cho thuê; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp (Luật Đất đai, 2013).
1.2.4.3 Giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Theo quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật đất đai 2013 thì việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của
Trang 22loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất Như vậy giá đất để tính bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là giá đất cụ thể do UBND tỉnh quyết định tại thời điểm có quyết định thu hồi đất
1.2.4.4 Những quy định bồi thường về đất
* Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở: Việc bồi thường về đất khi
Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 79 của Luật Đất đai năm 2013 được thực hiện như sau:
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có GCNQSDĐ hoặc đủ điều kiện để được cấp GCNQSDĐ, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:
+ Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của UBND cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở TĐC
+ Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của UBND cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở
- Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại Khoản 1 Điều này mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu
đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi thì UBND cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở TĐC và tình thực tế tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở TĐC cho từng hộ gia đình
- Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này mà không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở TĐC thi được Nhà nước bồi thường bằng tiền
Trang 23- Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do UBND cấp tỉnh quy định (Luật Đất đai, 2013).
* Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển KT - XH vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng trong trường hợp không có hồ sơ, chứng từ chứng minh
Việc xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất mà người
sử dụng đất không có hồ sơ, chứng từ chứng minh thì Người sử dụng đất có trách nhiệm kê khai các chi phí đầu tư vào đất Trên cơ sở nội dung kê khai, HĐBT phối hợp với UBND các xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi và các tổ chức, cá nhân có liên quan kiểm tra, xác minh các khoản chi phí quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định
số 47/2014/NĐ-CP và xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại tại thời điểm thu hồi đất theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP và gửi hồ sơ đến cơ quan chuyên môn về xây dựng hoặc nông nghiệp thẩm tra, trình UBND huyện, thành
phố (sau đây gọi chung là UBND cấp huyện) phê duyệt (Quyết định số UBND của UBND tỉnh Hà Giang)
07/2015/QĐ-1.2.4.5 Bồi thường về tài sản (Quyết định số 07/2015/QĐ-UBND của UBND tỉnh
Hà Giang)
* Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất
- Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với đất của hộ gia đình,
cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (theo quy định tại khoản 1, Điều 89 Luật Đất đai) thì được bồi thường bằng giá trị xây mới của nhà, công trình có tiêu
chuẩn kỹ thuật tương đương Mức bồi thường được tính theo đơn giá xây dựng quy định tại Phụ lục số 01 ban hành kèm theo Quyết định này
- Đối với nhà, công trình vật kiến trúc khác không thuộc đối tượng quy định
tại Khoản 1 Điều này (đối với các tổ chức) thì được bồi thường như sau:
Trang 24Mức bồi thường nhà, công trình bằng tổng giá trị hiện có của nhà, công trình
bị thiệt hại và khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) theo giá trị hiện có của nhà, công trình đó
a) Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại được xác định theo công thức quy định tại Khoản 2 Điều 9 của Nghị định 47/2014/NĐ-CP
b) Khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình
là 50%, nhưng mức bồi thường không quá 100% giá trị xây mới của nhà, công trình
có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt hại
Trường hợp giá trị hiện có của nhà, công trình bằng 0 (đã hết thời gian khấu hao) hoặc trong quá trình sử dụng có sửa chữa, cải tạo, nâng cấp thì xác định giá trị
hiện có theo thực tế
c) Thời gian khấu hao áp dụng đối với nhà, công trình bị thiệt hại được quy định như sau:
+ 8 năm đối với nhà tạm, vật kiến trúc khác;
+ 20 năm đối với nhà một tầng mái lợp ngói, tôn hoặc PhiPrô Xi măng (không
áp dụng cho nhà xưởng và kho thông dụng quy định tại bảng suất vốn đầu tư xây dựng công trình do Bộ Xây dựng công bố) tường bao quanh xây gạch chiều cao lớn hơn 3m (không tính chiều cao tường thu hồi);
+ 30 năm đối với nhà 1 tầng mái bằng bê tông cốt thép hoặc mái bằng bê tông cốt thép trên lợp tôn, lợp ngói hoặc PhiPrô Xi măng;
+ 30 năm đối với nhà xưởng và kho thông dụng quy định tại bảng suất vốn đầu tư xây dựng công trình do Bộ Xây dựng công bố;
+ 50 năm đối với nhà 2-3 tầng tường xây gạch, mái bằng bê tông cốt thép hoặc mái bằng bê tông cốt thép trên lợp tôn, lợp ngói hoặc PhiPrô Xi măng;
+ 60 năm đối với nhà 4-5 tầng trở lên;
- Đối với nhà, công trình nhà xây một tầng mái bằng bê tông cốt thép, nhà xây
từ hai tầng trở lên, nhà để sản xuất kinh doanh, nhà xây 01 tầng lợp mái, nhà tạm bị phá dỡ một phần diện tích nhà, phần bị phá dỡ tường hoặc cột chịu lực thì tính bồi thường, hỗ trợ như sau:
Trang 25a) Nhà, công trình, bộ phận kết cấu công trình bị cắt xén, phá dỡ một phần mà phần còn lại không đảm bảo khả năng chịu lực thì được bồi thường toàn bộ nhà, công trình;
b) Nhà bị cắt xén phá dỡ không thuộc quy định tại Điểm a, khoản này mà diện tích còn lại chỉ còn cầu thang, nhà vệ sinh thì được bồi thường toàn bộ diện tích nhà; c) Bồi thường bổ sung phần nhà, công trình bị ảnh hưởng do cắt xén, phá dỡ: Nhà, công trình bị cắt xén, phá dỡ một phần thì ngoài phần bồi thường diện tích phá dỡ đến chỉ giới cắt xén theo quy hoạch, còn được bồi thường bổ sung theo quy định sau: + Đối với nhà khung bê tông cốt thép hoặc kết cấu khung thép thì diện tích sàn xây dựng được bồi thường bổ sung tính từ chỉ giới cắt xén theo quy hoạch đến khung kết cấu chịu lực gần nhất nhân (x) với số tầng bị cắt xén;
+ Đối với kết cấu xây gạch chịu lực bị cắt xén một phần, không ảnh hưởng tới
an toàn của căn nhà thì diện tích sàn xây dựng được bồi thường bổ sung bằng chiều rộng mặt tiền nhà trước khi cắt xén nhân (x) với chiều sâu bằng 1 m và nhân (x) với
số tầng nhà bị cắt xén
d) Bồi thường hoàn trả mặt tiền ngôi nhà:
Đối với nhà, công trình bị cắt xén, phá dỡ một phần mà phần còn lại vẫn sử dụng được thì ngoài việc bồi thường theo quy định còn được bồi thường hoàn trả mặt tiền nhà, công trình theo công thức sau:
Gmt = Bmt x Gxd x Smt x T
Gmt: Giá trị phần mặt tiền được bồi thường hoàn trả;
Bmt: Chiều rộng mặt tiền được xác định như sau:
+ Bằng chiều rộng mặt tiền nhà trước khi cắt xén trong trường hợp chiều rộng mặt tiền tại vị trí cắt theo chỉ giới quy hoạch nhỏ hơn chiều rộng mặt tiền nhà trước khi cắt xén;
+ Bằng chiều rộng mặt tiền nhà tại vị trí cắt theo chỉ giới quy hoạch trong trường hợp chiều rộng mặt tiền tại vị trí cắt theo quy hoạch lớn hơn hoặc bằng chiều rộng mặt tiền nhà trước khi cắt xén
Gxd: Đơn giá xây dựng tính trên một mét vuông sàn xây dựng, công trình xây dựng;
Trang 26Smt: Chiều sâu được tính bằng 1 m;
T: Số lượng tầng bị cắt xén
đ) Đối với nhà xây 01 tầng lợp mái, nhà tạm để ở và phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân, bị phá dỡ một phần tường hoặc cột chịu lực của nhà đó, phần còn lại vẫn sử dụng được thì được bồi thường giá trị phần bị phá dỡ và chi phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà
- Trường hợp nhà, công trình khác liền kề bị ảnh hưởng trong quá trình thực hiện dự án mà những công trình này không thể sử dụng được theo thiết kế, quy hoạch ban đầu thì phần bị ảnh hưởng được bồi thường theo đơn giá bồi thường Trường hợp phần còn lại không sử dụng được thì bồi thường toàn bộ nhà, công trình theo quy định
- Nhà tạm, công trình xây dựng phục vụ sản xuất nông nghiệp trên đất nông nghiệp, kể cả trên đất nông nghiệp cho thuê, đấu thầu được UBND xã cho phép bằng văn bản thì được bồi thường bằng 100% đơn giá xây dựng theo quy định tại Phụ lục số 01 ban hành theo Quyết định này
- Đối với nhà, công trình xây dựng chưa có trong đơn giá bồi thường thì Hội đồng bồi thường thực hiện theo Khoản 3, Điều 8 Quy định này và tổng hợp dự toán bồi thường, hỗ trợ theo các quy định tại Quyết định này
* Bồi thường chi phí di chuyển khi Nhà nước thu hồi đất
- Khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển tài sản thì được Nhà nước bồi thường chi phí để tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt; trường hợp phải di chuyển hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất còn được bồi thường đối với thiệt hại khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt
- HĐBT lập dự toán chi phí di chuyển cho từng trường hợp cụ thể và gửi hồ sơ đến cơ quan chuyên môn về xây dựng tại các huyện, thành phố thẩm tra, trình UBND huyện phê duyệt
* Bồi thường về di chuyển mồ mả : Việc bồi thường về di chuyển mồ mả quy
định tại Điều 18 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP được thực hiện như sau:
- Người có mồ mả phải di chuyển được bố trí đất tại nghĩa trang, nghĩa địa tập trung: HĐBT phối hợp cùng chính quyền địa phương bố trí đất tại các nghĩa trang,
Trang 27nghĩa địa để di chuyển mộ phù hợp với quy hoạch và đảm bảo phong tục, tập quán của địa phương
- Người có mồ mả phải di chuyển được bồi thường chi phí đào, bốc, xây dựng mới như quy mô ban đầu theo đơn giá bồi thường tài sản quy định tại Phụ lục số 01 ban hành kèm theo Quyết định này
- Người có mồ mả phải di chuyển được bồi thường chi phí di chuyển mồ mả như sau:
a) Di chuyển trong tỉnh: 3.000.000 đồng/ngôi mộ;
b) Di chuyển ngoài tỉnh: 4.000.000 đồng/ngôi mộ
c) Trường hợp mồ mả chưa có người nhận thì giao cho chính quyền địa phương chủ trì phối hợp với HĐBT thực hiện việc di chuyển, mức bồi thường di chuyển: 2.000.000 đồng/ngôi mộ
* Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi là thủy sản:
- Bồi thường đối với rừng trồng tập trung và rừng tự nhiên: Việc bồi thường đối với rừng trồng tập trung và rừng tự nhiên thực hiện theo mức giá quy định trong Bảng giá tại Nghị quyết số 131/2014/NQ-HĐND ngày 11/7/2014 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang về việc thông qua bảng giá các loại rừng và Văn bản số 2538/UBND-NNTNMT ngày 6/8/2014 của UBND tỉnh Hà Giang về việc triển khai Nghị quyết HĐND tỉnh
- Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi là thủy sản: Mức giá bồi thường về
cây trồng hàng năm; cây lâu năm (không lấy gỗ) và cây lâm nghiệp được người dân trồng phân tán (nhỏ lẻ, rải rác không thành rừng) khi Nhà nước thu hồi đất thì được
bồi thường theo mức giá quy định tại Phụ lục số 02, ban hành kèm theo Quyết định này Mức giá bồi thường đối với vật nuôi là thủy sản mà tại thời điểm thu hồi đất chưa đến thời kỳ quy hoạch thì được bồi thường theo mức giá quy định tại Phụ lục
số 03, ban hành kèm theo Quyết định này
1.2.5 Những quy định về hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
* Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất
- Hỗ trợ ổn định đời sống: Việc hỗ trợ ổn định đời sống cho các đối tượng quy định tại các Điểm a, b, c và d khoản 1, Điều 19 Nghị định 47/2014/NĐ-CP và Điều 5 Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT thì được quy định như sau:
Trang 28a) Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được
hỗ trợ trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện KT-XH khó khăn hoặc có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ là 24 tháng;
b) Trường hợp thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn
có điều kiện KT-XH khó khăn hoặc có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ là 36 tháng;
c) Diện tích đất thu hồi quy định tại Điểm a, b Khoản này được xác định theo từng quyết định thu hồi đất của UBND cấp có thẩm quyền;
d) Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu quy định tại Điểm a, b và c, Khoản này, khi xét hỗ trợ phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống và sản xuất Mức hỗ trợ được tính bằng tiền tương đương 30 kg gạo
tẻ thường/01 nhân khẩu/01 tháng theo giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất Đơn giá hỗ trợ gạo là đơn giá loại gạo tẻ thường theo báo cáo giá cả thị trường hàng tháng của Sở Tài chính tại thời điểm lập dự toán
- Hỗ trợ ổn định sản xuất:
a) Hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng đất nông nghiệp thì được hỗ trợ
ổn định sản xuất, bao gồm: Hỗ trợ giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất nông nghiệp, các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y,
kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với sản xuất kinh doanh dịch vụ công thương nghiệp, mức hỗ trợ là: 7.000.000 đồng/hộ;
b) Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đăng ký kinh doanh mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh khi nhà nước thu hồi đất thì được hỗ trợ ổn định sản xuất bằng tiền Mức hỗ trợ bằng 30% một năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của 03 năm liền kề trước đó Thu nhập sau thuế được xác định căn cứ vào báo cáo tài chính được kiểm toán hoặc được cơ quan Thuế chấp thuận
Trang 29Trường hợp chưa được kiểm toán hoặc chưa được cơ quan Thuế chấp thuận thì việc xác định thu nhập sau thuế được căn cứ vào thu nhập sau thuế do đơn vị kê khai tại báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoại động sản xuất kinh doanh cuối mỗi năm đã gửi cơ quan Thuế
c) Người lao động do tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại điểm đ, Khoản 1, Điều 19 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP thuê lao động theo hợp đồng lao động thì được áp dụng hỗ trợ chế độ trợ cấp ngừng việc theo quy định của pháp luật
về lao động
+ Đối tượng được hỗ trợ chế độ trợ cấp ngừng việc là người lao động có hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng lao động xác định thời hạn từ một năm đến ba năm;
+ Mức trợ cấp ngừng việc trong một (01) tháng được tính bằng 60% mức lương tối thiểu vùng nhân (x) với hệ số cấp bậc công việc của ngành nghề tương ứng mà người lao động đang được hưởng theo quy định hiện hành của Nhà nước và không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng;
+ Thời gian trợ cấp ngừng việc là 06 tháng và được chi trả một (01) lần khi thực hiện chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ
d) Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản của các nông, lâm trường quốc doanh thuộc đối tượng quy định tại điểm d, Khoản 1, Điều 19 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP , khi Nhà nước thu hồi đất được hỗ trợ bằng tiền, mức hỗ trợ như sau:
+ Đối với đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản: Mức hỗ trợ bằng 50% giá đất cùng loại trong Bảng giá đất do UBND tỉnh ban hành nhân với diện tích thực tế thu hồi;
+ Đối với đất rừng sản xuất: Mức hỗ trợ bằng 40% giá đất cùng loại trong Bảng giá đất do UBND tỉnh ban hành nhân với diện tích thực tế thu hồi;
Diện tích được hỗ trợ (nêu trên) không vượt quá hạn mức giao đất nông
nghiệp quy định tại Điều 129 Luật Đất đai
Trang 30- Hộ gia đình vừa có nhân khẩu là cán bộ, công chức, viên chức (đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) vừa có
nhân khẩu không phải là cán bộ, công chức, viên chức nhưng đang sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích sản xuất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình đó thì nhân khẩu không phải là cán bộ, công chức, viên chức được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất theo mức quy định tại khoản 1 và điểm a,
khoản 2 Điều này (Quyết định số 07/2015/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hà Giang)
* Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp
- Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp quy định tại các điểm a, b,
c khoản 1, Điều 19 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản
5, Điều 4, Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà được bồi thường bằng tiền; hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất quy định tại các điểm d, đ và e khoản 1 Điều 19 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 5, Điều 4, Nghị định số
01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh, của công ty nông, lâm nghiệp được chuyển đổi từ các nông, lâm trường quốc doanh đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp thì được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm với mức hỗ trợ bằng tiền bằng 1,5 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất do UBND tỉnh ban hành nhân với diện tích đất nông nghiệp thực tế bị thu hồi, nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật Đất
đai năm 2013” (Quyết định số 07/2015/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hà Giang)
* Hỗ trợ TĐC đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở
- Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận đất ở, nhà
ở TĐC mà số tiền được bồi thường về đất nhỏ hơn giá trị một suất TĐC tối thiểu quy định tại Điều 21 Quy định này thì được hỗ trợ khoản chênh lệch giữa giá trị suất TĐC tối thiểu và số tiền được bồi thường về đất
Trang 31- Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà tự lo chỗ ở
(không nhận đất ở tại khu TĐC) thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền về đất còn
được nhận khoản tiền hỗ trợ TĐC, mức hỗ trợ bằng 50.000.000 đồng/hộ
- Các hộ phải di chuyển chỗ ở đến khu TĐC, Nhà nước không thu lệ phí địa chính khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại khu TĐC, không thu lệ phí cấp phép xây dựng và các khoản lệ phí liên quan đến xây dựng nhà ở tại khu TĐC
(Quyết định số 07/2015/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hà Giang)
* Hỗ trợ người đang thuê nhà ở không thuộc sở hữu nhà nước: Việc hỗ trợ
chi phí di chuyển tài sản cho hộ gia đình, cá nhân đang thuê nhà ở không phải là nhà
ở thuộc sở hữu nhà nước khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì
được thực hiện như sau:
- Mức hỗ trợ bằng 50% mức bồi thường chi phí di chuyển quy định tại Điều
10 Quy định này
-Việc hỗ trợ chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau:
+ Có hợp đồng thuê nhà ở được ký trước thời điểm thông báo thu hồi đất, tại thời điểm thu hồi đất còn thời hạn thuê nhà;
+ Người thuê nhà ở đã thực hiện đăng ký hộ khẩu thường trú, hoặc tạm trú
theo quy định của pháp luật trước thời điểm thông báo thu hồi đất (Quyết định số 07/2015/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hà Giang)
* Các khoản hỗ trợ khác
- Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai thì được hỗ trợ bằng mức bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định tại Điều 3 Quy định này
- Hỗ trợ thuê nhà, thuê địa điểm kinh doanh
a) Hỗ trợ thuê nhà:Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở mà không còn chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi
có đất thu hồi; Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở (có nhà ở) nằm trong hành lang
an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có
Trang 32đất trong hành lang an toàn, trong thời gian chờ tạo lập chỗ ở mới được bố trí vào nhà ở tạm hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà ở
+ Mức hỗ trợ thuê nhà ở cụ thể là:
Khu vực các phường thuộc thành phố Hà Giang: 1.500.000 đồng/hộ/tháng Khu vực trung tâm các huyện lỵ và trị trấn: 1.000.000 đồng/hộ/tháng
Các khu vực còn lại: 800.000 đồng/hộ/tháng
+ Thời gian hỗ trợ được quy định như sau:
Trường hợp di chuyển trước khi được giao đất TĐC (theo yêu cầu của Dự án
và có sự đồng ý của hộ gia đình, cá nhân) thì thời gian hỗ trợ được tính từ khi di
chuyển đến khi được giao đất TĐC tại thực địa cộng thêm 06 tháng để ổn định nơi ở mới Trường hợp di chuyển sau khi được giao đất TĐC tại thực địa, nhưng thời gian
di chuyển chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày được giao đất TĐC tại thực địa hoặc hộ gia đình, cá nhân tự lo TĐC thì thời gian hỗ trợ là 06 tháng
b) Hỗ trợ thuê địa điểm sản xuất, kinh doanh, trụ sở làm việc đối với tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân (có đăng ký kinh doanh và đang hoạt động):
Mức hỗ trợ là 50.000 đồng/m2/tháng tính theo mét vuông (m2) xây dựng nhà làm việc hoặc xưởng sản xuất bị phá dỡ, thời gian hỗ trợ là 06 tháng
- Hỗ trợ gia đình chính sách, gia đình đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội khi phải di chuyển chỗ ở
a) Hộ gia đình có người hoạt động cách mạng trước 01/01/1945; người hoạt động cách mạng từ 01/01/1945 đến trước tổng khởi nghĩa 19/8/1945; anh hùng lực lượng vũ trang; anh hùng lao động; bà mẹ Việt Nam anh hùng; thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh có tỷ lệ thương tật từ 81% trở lên; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; gia đình liệt sĩ đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng, phải phá dỡ toàn bộ nhà, công trình để di chuyển chỗ ở được hỗ trợ 3.000.000 đồng/hộ;
b) Hộ gia đình có người là thương binh, bệnh binh và người hưởng chính sách như thương, bệnh binh mất sức từ 21%-80%; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động dưới 81%; gia đình có công
Trang 33với cách mạng đang hưởng trợ cấp hàng tháng, phải phá dỡ toàn bộ nhà, công trình
để di chuyển chỗ ở được hỗ trợ 2.000.000 đồng/hộ;
c) Hộ gia đình có người thuộc diện được hưởng trợ cấp xã hội khác của Nhà nước phải phá dỡ toàn bộ nhà, công trình để di chuyển chỗ ở được hỗ trợ 1.000.000 đồng/hộ;
d) Trong hộ gia đình có nhiều đối tượng chính sách xã hội thì được hưởng một mức hỗ trợ cao nhất
- Hỗ trợ hộ nghèo: Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất thuộc diện hộ nghèo do Chính phủ, Bộ Lao động thương binh và Xã hội quy định, được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xác nhận trong từng thời kỳ thì được hỗ trợ bằng tiền một lần để vươn lên thoát nghèo, mức hỗ trợ là 200.000 đồng/ một nhân khẩu/ tháng, thời gian
hỗ trợ như sau:
a) Hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở thì thời gian
hỗ trợ là 48 tháng (quy định này áp dụng cho cả trường hợp hộ gia đình vừa phải di chuyển chỗ ở, vừa có đất nông nghiệp bị thu hồi);
b) Hộ gia đình, cá nhân có đất nông nghiệp bị thu hồi mà không phải di chuyển chỗ ở:
Diện tích thu hồi dưới 30% thì thời gian hỗ trợ 06 tháng;
Diện tích thu hồi từ 30% đến 50% thì thời gian hỗ trợ 12 tháng;
Diện tích thu hồi từ trên 50% đến 70% thì thời gian hỗ trợ 24 tháng;
Diện tích thu hồi từ trên 70% thì thời gian hỗ trợ 36 tháng
- Thưởng bàn giao mặt bằng trước thời hạn: Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ
sử dụng đất bàn giao mặt bằng trước hạn 5 ngày theo thời gian bàn giao mặt bằng quy định trong Phương án bồi thường, hỗ trợ, TĐC được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì được thưởng như sau:
a) Đối với đất có đủ điều kiện được bồi thường:
Đất ở, đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, mức thưởng là 2.000 đồng/m2 nhân với diện tích thực tế thu hồi;
Đất rừng sản xuất, mức thưởng là 1.000 đồng/m2 nhân với diện tích thực tế thu hồi
Trang 34b) Đối với nhà ở của hộ gia đình, cá nhân: Trường hợp phải phá dỡ toàn bộ nhà, công trình mà phải di chuyển chỗ ở thì được thưởng như sau:
Nhà tạm, nhà 1 tầng lợp mái, mức thưởng là 5.000.000 đồng/hộ;
Nhà xây mái bằng, kiên cố, mức thưởng: 7.000.000 đồng/hộ
+ Trường hợp phải phá dỡ một phần nhà, công trình mà phải di chuyển chỗ ở thì được thưởng như sau:
Nhà tạm, nhà 1 tầng lợp mái, mức thưởng là: 2.500.000 đồng/hộ;
Nhà xây mái bằng, kiên cố, mức thưởng là 3.500.000 đồng/hộ (Quyết định số 07/2015/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hà Giang)
* Suất TĐC tối thiểu
1 Suất TĐC tối thiểu bằng đất ở, nhà ở:
a) Đối với đất ở: Khu vực các phường, thị trấn: diện tích tối thiểu là 80 m2; Khu vực các xã: diện tích tối thiểu là 200 m2
Trường hợp có điều kiện về quỹ đất thì có thể giao mức cao hơn, nhưng không vượt quá hạn mức giao đất ở theo quy định tại Quyết định 14/2014/QĐ-UBND b) Đối với nhà ở: Diện tích xây dựng nhà tối thiểu là 36m2 cho một hộ gia đình có dưới 4 nhân khẩu, nếu hộ gia đình có từ 5 nhân khẩu trở lên thì cứ mỗi nhân khẩu được cộng thêm 9m2 xây dựng nhà cho mỗi nhân khẩu
2 Suất TĐC tối thiểu bằng tiền:
Suất TĐC tối thiểu bằng tiền = [Giá trị của suất đất ở TĐC tối thiểu cộng (+) với giá trị của nhà ở TĐC tối thiểu]
Giá trị của suất đất ở TĐC tối thiểu được tính bằng diện tích đất tại điểm a, khoản 1, Điều này nhân (x) với giá đất ở cụ thể do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định tại nơi bố trí TĐC
Giá trị của nhà ở TĐC tối thiểu được tính bằng diện tích xây dựng tại điểm b, khoản 1, Điều này nhân (x) đơn giá xây dựng được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt (Quyết định số 07/2015/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hà Giang)
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.3.1 Chính sách GPMB của một số nước trên thế giới
Đối với mọi quốc gia trên thế giới, đất đai là nguồn lực cơ bản, quan trọng nhất đối với mọi hoạt động trong đời sống KT-XH Vì vậy, nhiều nước trên thế giới
Trang 35đang cố gắng không ngừng trong việc hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai, trong đó có chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC của cơ quan quản lý Nhà nước Dưới đây là một số kinh nghiệm trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai của một số nước trên thế giới, đồng thời giúp cho chúng ta có cái nhìn tổng quát hơn về
công tác bồi thường GPMB (Trương Ánh Tuyết, 2002)
Về phương thức bồi thường: Nhà nước sẽ thông báo rộng rãi cho người sử dụng đất biết trước việc họ sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm Người dân có quyền lựa chọn các phương thức bồi thường bằng tiền hoặc bằng nhà tại khu ở mới Tại thành phố Thượng Hải và một số thành phố lớn khác, người dân lựa chọn bồi thường thiệt hại bằng tiền và được tự lựa chọn chỗ ở mới phù hợp với công việc
và điều kiện sống của mình
Về giá bồi thường: tiêu chuẩn để xác định mức giá bồi thường dựa trên mức giá thị trường Mức giá này cũng được Nhà nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà, công trình và tài sản trên đất, đồng thời cũng được điều chỉnh rất linh hoạt để phù hợp với thực tế tình hình tại từng địa phương, khu vực, đây cũng là chính sách của Nhà nước nhằm tác động và điều chỉnh lại chính thị trường đó Riêng đối với đất nông nghiệp, bồi thường theo tính chất của đất và loại đất đó
Về hỗ trợ và TĐC: các khu TĐC và các khu nhà ở được xây dựng cùng lúc và kịp thời, trước khi quá trình thu hồi đất hoàn thành, nhằm đáp ứng được nhu cầu sử dụng với nhiều loại căn hộ khác nhau Các chủ sử dụng đất phải di chuyển chỗ ở được địa phương chú ý tạo điều kiện về việc làm, trường hợp các đối tượng chính sách xã hội được Nhà nước có chính sách đặc biệt
Quá trình di dời được thực hiện dựa trên nguyên tắc: nơi ở mới tốt hơn nơi ở
cũ Khu TĐC được quy hoạch tổng thể, theo mô hình nhà ở, trường học, chợ…, cân đối được giao thông động và tĩnh
Trang 36Tại thủ đô Bắc Kinh, tiêu chí để sắp xếp bồi thường di dời nhà hiện nay được thực hiện theo 3 loại:
- Loại 1: Lấy theo giá thị trường của nhà đất đối với nhà bị tháo dời cộng thêm
với “Giá tăng thêm nhân với diện tích xây dựng của ngôi nhà bị tháo dỡ”
- Loại 2: Đổi nhà theo tiêu chuẩn giá trị, bố trí nhà lấy theo giá thị trường, giá
tương đương với giá nhà bị tháo dỡ, di dời
- Loại 3: Bố trí nhà theo tiêu chuẩn diện tích, đây là tiêu chuẩn chính quyền
quận, huyện nơi có nhà di dời lập ra đối với những người có khó khăn về nhà
ở Người bị di dời có thể chọn hình thức bố trí nhà ở cho phù hợp Dựa vào khu vực
bố trí nhà ở để tăng thêm diện tích, dựa theo phân cấp từng vùng trong thành phố Càng ra ngoại vi hệ số tăng thêm càng cao, mức tăng thêm có thể là 70%, 80% hay 100% (Tạp chí Cộng sản, 2007)
* Hàn Quốc
Đất nước Hàn Quốc có tới 70% diện tích đất là đất đồi núi nên đất chuyên dùng được xem là một vấn đề hết sức quan trọng Vì vậy, để sử dụng đất một cách hiệu quả và tiết kiệm thì các quy hoạch và quy chế được coi như một hình thức pháp luật (Tạp chí Cộng sản, 2007)
Luật đất đai của Hàn Quốc được xây dựng dựa trên cơ sở Luật quy hoạch đô thị và Luật quản lý sử dụng đất quốc gia, bao gồm tất cả các đô thị, Nhà nước chỉ định một số khu vực sử dụng để cân bằng sự phát triển đồng bộ
Trong đó, khái niệm cơ bản của luật quản lý sử dụng đất quốc gia công khai rõ ràng về đất đai Đây có ý nghĩa là tách riêng hai phần quyền sở hữu và quyền sử dụng đất để nhấn mạnh tầm quan trọng của đất công cộng trong xã hội Chế độ này giúp việc sử dụng đất một cách hữu dụng bằng cách thúc đẩy quyền sử dụng đất nhiều hơn quyền sở hữu đất Luật bồi thường GPMB của Hàn Quốc được chia ra thành hai thể chế
Một là “đặc lệ” liên quan đến bồi thường GPMB cho đất công cộng đã đạt được theo thủ tục thương lượng của pháp luật
Hai là luật “sung công đất” theo thủ tục quy định cưỡng chế của công pháp
Để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế thì cần rất nhiều đất công cộng trong một khoảng thời gian ngắn với mục đích cưỡng chế đất cho nên luật “sung công
Trang 37đất” đã được thiết lập trước vào năm 1962 Sau đó theo pháp luật ngoài mục đích thương lượng thu hồi đất công cộng thì còn muốn thống nhất việc này trên phạm vi toàn quốc và đảm bảo quyền tài sản của công nên luật này đã được lập vào năm
1975 và dựa vào hai luật trên Hàn Quốc đã triển khai bồi thường cho đến nay Tuy nhiên dưới hai thể chế luật và trong quá trình thực hiện luật “đặc lệ” thương lượng không đạt được thỏa thuận thì luật “sung công đất” được thực hiện bằng cách cưỡng chế, nhưng nếu cứ như vậy thì phải lặp đi lặp lại quá trình này và đôi khi trùng lặp cho nên thời gian có thể bị kéo dài hoặc chi phí cho bồi thường sẽ tăng lên Do đó, cho đến nay đã có nhiều thảo luận thống nhất hai thể chế này thành một Thực hiện bồi thường theo luật mới của Hàn Quốc thì sẽ thực hiện theo ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: Tiền bồi thường đất đai được các nhân viên công vụ đánh giá
trên tiêu chuẩn giá quy định để thu hồi đất phục vụ cho công trình công cộng Mỗi năm Hàn Quốc cho thi hành đánh giá đất trên 27 triệu địa điểm trên toàn quốc và chỉ định 470.000 địa điểm làm tiêu chuẩn và thông qua đánh giá của giám định để dựa theo đó hình thành giá quy định cho việc bồi thường Giá quy định không dựa vào lợi nhuận khai thác do đó có thể đảm bảo sự khách quan trong việc bồi thường
Giai đoạn 2: Pháp luật có quy định không gây thiệt hại nhiều cho người có
quyền sở hữu đất trong quá trình thương lượng chấp thuận thu hồi đất Quy trình chấp thuận theo thứ tự là công nhận mục đích, lập biên bản tài sản và đất đai, thương lượng, chấp nhận thu hồi
Giai đoạn 3: Biện pháp di dời là một đặc điểm quan trọng Nhà nước hỗ trợ
tích cực về mặt chính sách đảm bảo sự sinh hoạt của con người, cung cấp đất đai cho những người bị mất nơi cư trú do thực hiện công trình công cộng cần thiết của Nhà nước Đây là công việc có tính hiệu quả cao, thu hút người dân tự nguyện di dời và liên quan rất nhiều tới việc GPMB Theo luật bồi thường, nếu như tòa nhà nơi dự án sẽ được thực hiện có trên 10 người sở hữu thì phải xây dựng cho các đối tượng này nơi cư trú hoặc hỗ trợ 30% giá trị của tòa nhà đó Còn nếu như các dự án xây dựng chung cư nhà ở thì cung cấp cho các đối tượng này chung cư hoặc nhà ở thấp hơn giá thành (Tạp chí Cộng sản, 2007)
Đối với các đối tác kinh doanh để kiếm sống nhưng không có pháp nhân, các đối tác kinh doanh nông nghiệp, gia cầm thì có chính sách mang tính chất ân huệ ngoài biện pháp di dời còn ưu tiên cung cấp cho họ các cửa hàng hoặc khu kinh doanh
Trang 38Luật bồi thường Hàn Quốc được thực hiện theo ba giai đoạn trên đối với đất đai, bất động sản và các quyền kinh doanh nông nghiệp, ngư nghiệp, khoáng sản…
để cung cấp tiền bồi thường và chi phí di dời
Chế độ và luật GPMB: theo luật sung công đất đai thì nếu như đã trả hoặc đặt cọc tiền bồi thường xong nhưng không chịu di dời thì được xem như gây hại cho lợi ích công cộng do đó phải thi hành cưỡng chế giải tỏa được thực hiện quyền thi hành theo luật thực hiện thi hành hành chính và quyền thi hành ngày phải theo thủ tục pháp lệnh cảnh cáo theo quy định Thực chất biện pháp GPMB thường bị người dân hoặc các người ở thuê phản đối và chống trả quyết liệt gây ảnh hưởng xấu đến xã hội cho nên tốt nhất là phải có sự nghiên cứu tìm ra biện pháp cho dân tự nguyện di
dời là hay hơn cả (Tạp chí Cộng sản, 2007)
* Australia (Úc)
Luật đất đai của Úc quy định: đất đai thuộc sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân Luật đất đai bảo hộ tuyệt đối quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai Chủ sở hữu có quyền cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế theo di chúc mà không có sự cản trở nào, kể cả việc tích lũy đất đai (Mai Mộng Hùng, 2008)
Luật đất đai năm 1989 của Úc quy định, có hai loại thu hồi đất:
- Thu hồi đất bắt buộc
- Thu hồi đất tự nguyện
Thu hồi đất tự nguyện được nước Úc tiến hành khi chủ đất cần được thu hồi đất Trong thu hồi đất tự nguyện không có quy định đặc biệt nào được áp dụng mà việc thỏa thuận đó là nguyên tắc cơ bản nhất Chủ có đất cần được thu hồi vốn và người thu hồi đất sẽ thỏa thuận giá bồi thường đất trên tinh thần đồng thuận và căn cứ vào thị trường
Thu hồi đất bắt buộc được nước Úc tiến hành khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích công cộng và các mục đích khác Thông thường, Nhà nước có được đất đai thông qua đàm phán
Trình tự thu hồi đất bắt buộc được thực hiện như sau:
- Nhà nước gửi cho các chủ đất một văn bản trong đó nêu rõ mục tiêu thu hồi đất vì các mục đích công cộng Văn bản này gồm các nội dung chính như cơ quan
Trang 39muốn thu hồi đất, miêu tả chi tiết mảnh đất, mục đích sừ dụng đất sau khi thu hồi và các giải thích vì sao mảnh đất đó phù hợp với mục tiêu công cộng đó
- Chủ sở hữu mảnh đất có thể yêu cầu Bộ trưởng Bộ Tài chính và quản lý xem xét lại vấn đề thu hồi đất Nếu chủ sở hữu vẫn chưa hài lòng thì có thể tiếp tục yêu cầu trọng tài phúc thẩm hành chính phán xử Trọng tài phúc thẩm hành chính không thể xem xét tính đúng đắn về quyết định của Chính phủ nhưng có thể xem xét các vấn đề liên quan khác
- Nhà nước thông báo rộng rãi quyết định thu hồi đất và chủ sở hữu đất phải thông báo cho bất kỳ ai muốn mua mảnh đất đó về quyết định thu hồi đất của Chính phủ Sau đó, Nhà nước sẽ ban hành quyết định thu hồi đất và thông báo trên báo chí
- Chủ sở hữu đất nhận được thông báo tiến hành các thủ tục yêu cầu bồi thường Ngay sau khi có quyết định thu hồi đất, chủ đất có thể yêu cầu Nhà nước bồi thường Nguyên tắc của bồi thường của quốc gia này đó là công bằng và theo giá thị trường Theo đó, các yếu tố sẽ được tính toán trong quá trình bồi thường đó là giá thị trường, giá đặc biệt đối với chủ sở hữu, các chi phí liên quan như phí di chuyển,
chi phí TĐC (Mai Mộng Hùng, 2008)
* Nhận xét, đánh giá về chính sách GPMB của một số nước trên thế giới
Việc xây dựng và phát triển các công trình xây dựng, công trình dân dụng đều cần có đất Do đất đai có hạn, vì thế mọi Nhà nước đều phải sử dụng quyền lực của mình để thu hồi đất hoặc trưng thu của người đang sở hữu, đang sử dụng để phục vụ cho nhu cầu xây dựng các công trình phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia Ở mỗi quốc gia, quyền lực thu hồi, trưng thu đất được ghi trong hiến pháp hoặc tại Bộ luật đất đai hoặc một bộ luật khác Nếu việc thu hồi, trưng thu đã phù hợp với quy định của pháp luật mà người sở hữu hoặc sử dụng đất không thực hiện thì Nhà nước
có quyền chiếm hữu đất đai Việc thu hồi đất, trưng thu đất và bồi thường thiệt hại
về đất tại mỗi quốc gia đều được thực hiện theo chính sách riêng do Nhà nước đó
quy định (Tạp chí Cộng sản,2007)
Qua tìm hiểu chính sách bồi thường GPMB của một số nước trên thế giới, nước ta cần học hỏi 1 số kinh nghiệm để tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường GPMB
Trang 401.3.2 Công tác GPMB ở Việt Nam hiện nay
Vai trò của đất đai đối với quá trình phát triển KT-XH ngày càng được nhìn nhận đầy đủ, toàn diện và khoa học, đặc biệt là trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước Với những đổi mới tích cực, trong những năm qua, việc thực hiện chính sách bồi thường, GPMB ở Việt Nam đã và đang đạt được những hiệu quả nhất định Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đã góp phần rất quan trọng để phát triển KT-XH nhưng đây cũng là một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai hiện nay
Trong năm 2016, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kết hợp với Bộ TN&MT đã tổ chức hội thảo đánh giá tình hình thu hồi đất để thực hiện CNH-HĐH
(Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2015)
* Về diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi để phát triển các khu công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng
Trong 5 năm qua, từ năm 2010-2015, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu
hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm gần 4% tổng diện tích đất nông nghiệp cả nước)
Trong đó diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp và cụm công nghiệp là 39,56 nghìn ha, xây dựng đô thị là 70,32 nghìn ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17 nghìn ha
Các vùng kinh tế trọng điểm và khu vực có diện tích đất nông nghiệp thu hồi lớn nhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc Những địa phương
có diện tích đất thu hồi lớn là Tiền Giang, Hà Nội, Quảng Nam …Theo số liệu điều tra của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tại 16 tỉnh trọng điểm về thu hồi đất, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tích thổ cư chiếm 11% Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích bị thu hồi lớn nhất, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước, tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ là 2,1%, ở nhiều vùng khác là dưới 0,5%
Mặc dù diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi tại mỗi tỉnh chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số diện tích đất tự nhiên của địa phương nhưng lại tập trung vào một số huyện, xã có mật độ dân số cao Diện tích bình quân đầu người thấp, có xã diện tích
đất bị thu hồi chiếm tới 70-80% diện tích đất canh tác (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2015)