1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ tại việt nam

98 168 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 3,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ TẠI VIỆT NAM 1.1 Khái quát về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 1.1.1 Khái niệm,

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin gửi đến Quý Thầy, Cô Khoa Luật đã tạo điều kiện giúp đỡ

em thực hiện Khóa luận tốt nghiệp, đặc biệt xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Đoàn Trọng Chỉnh, giảng viên Khoa Luật Hutech đã hết lòng hướng dẫn em hoàn thành luận văn này, ngoài ra xin cảm ơn các anh chị tại quý doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Prudential đã chia sẽ những kinh nghiệm, cho em những thực tiễn thiết thực phục vụ khóa luận tốt nghiệp

Vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân còn chưa nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên nội dung của luận văn không tránh khỏi những thiếu xót, em rất mong nhận sự góp ý, chỉ bảo thêm của quý thầy cô, bạn đọc để tôi em có thể hoàn thiện kiến thức của mình được tốt hơn

Một lần nữa, xin gửi đến Qúy Thầy, Cô Khoa Luật Hutech lời cảm ơn chân thành

và nhiều niềm vui trong cuộc sống

TP.Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 12 năm 2018

Sinh viên

(ký tên, ghi đầy đủ họ tên)

TRẦN THẾ ANH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: TRẦN THẾ ANH, MSSV: 1511270910 Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khoá luận tốt nghiệp

này được thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và

theo đúng qui định);

Nội dung trong khoá luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác

Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường và pháp luật

Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)

TRẦN THẾ ANH

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu của khóa luận 3

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ TẠI VIỆT NAM 5

1.1 Khái quát về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 5

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 5

1.1.2 Loại hình bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam 8

1.2 Chế định pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 9

1.2.1 Khái quát pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 9

1.2.2 Đặc điểm của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 10

1.2.3 Bảo hiểm nhân thọ là đối tượng của kinh doanh bảo hiểm 11

1.2.4 Hợp đồng kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 19

1.2.5 Nguyên nhân phát sinh tranh chấp trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 29

Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ TẠI VIỆT NAM, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 32

2.1 Thực trạng về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 32

2.1.1 Thực trạng thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam 32

Trang 4

2.1.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về chủ thể kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

2.2 Những mặt tích cực, hạn chế trong việc áp dụng pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và xử lý vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 52

2.2.1 Kết quả đạt được khi áp dụng pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 52 2.2.2 Bất cập trong áp dụng pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 52 2.2.3 Thực tiễn xử lý vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 57

2.3 Kiến nghị hoàn thiện 59

2.3.1 Quy định pháp luật đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

59

2.3.2 Quy định pháp luật bảo đảm quyền lợi người tham gia bảo hiểm nhân thọ

60

KẾT LUẬN 63 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC

Trang 6

về hưu

Ngoài ra, bảo hiểm nhân thọ còn là một công cụ tiết kiệm hiệu quả giúp người tham gia hoạch định được tài chính bằng việc ký hợp đồng và thanh toán các khoản phí trong suốt thời hạn hợp đồng, qua đó có thể ổn định cuộc sống, tương lai cho bản thân người tham gia hoặc con cái người tham gia đó, cung cấp việc làm cho số đông người lao động qua việc để người lao động trở thành đại lý phân phối

Từ những lợi ích trên của bảo hiểm, nên trong quá trình kinh doanh bảo hiểm không khó để có thể bắt gặp những trường hợp trục lợi bảo hiểm từ các bên tham gia bảo hiểm, làm thất thoát số tiền không nhỏ cho các bên tham gia, đối với công ty BHNT nhà nước tình trạng trên sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực đến ngân sách của nhà nước, đối với công ty tư nhân sẽ kìm hãm sự phát triển và làm mất lòng tin từ người dân khi tham gia BHNT

Chế tài về xử lý trục lợi bảo hiểm còn nhiều vướng mắc, chưa thống nhất gây khó khăn trong việc xét xử và tổn hại đến hoạt động, lợi ích của các bên tham gia bảo hiểm Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam” để nghiên cứu, tăng thêm sự hiểu biết cho bản

Trang 7

thân và qua đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Cho đến thời điểm thực hiện luận văn, đã có rất nhiều luận văn nghiên cứu về bảo hiểm nhân thọ, nhưng chưa đào sâu ở khía cạnh thực tiễn, thông qua việc tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam, có sự so sánh, đối chiếu, luận văn hướng tới mục đích nghiên cứu một cách có hệ thống và xác thực các quy định trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ cũng như hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm góp phần bổ sung những hiểu biết cá nhân vào hệ thống pháp luật kinh doanh bảo hiểm, qua đó

có thể hạn chế bớt các vấn nạn trục lợi bảo hiểm và ổn định hoạt động kinh doanh, quyền lợi của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm Để thực hiện được mục đích trên, tác giả thực hiện các mục tiêu cụ thể sau:

- Nghiên cứu các vấn đề pháp lý đặc thù của bảo hiểm nhân thọ, trong đó tập trung vào vấn đề mang tính bản chất của việc kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

- Nghiên cứu các hoạt động giao kết, đền bù và các nguyên nhân tranh chấp hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

- Phân tích và đánh giá thực tiễn áp dụng, thi hành pháp luật kinh doanh BHNT hiện nay

- Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước hiện nay đối với lĩnh vực kinh doanh BHNT

- Kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về kinh doanh BHNT

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Các cơ sở pháp lý áp dụng trong kinh doanh BHNT quy định tại Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản pháp luật khác như Bộ Luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Bộ Luật Hình Sự, và các nghị định có liên quan dùng để điều chỉnh lĩnh vực

Trang 8

BHNT với cách tiếp cận thông qua các vấn đề thực tiễn liên quan đến kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

- Các kiến thức, quan điểm từ những cá nhân, tổ chức khác có công trình đã công bố liên quan đến lĩnh vực BHNT

Đối tượng nghiên cứu của luận văn bao gồm:

Tác giả không nghiên cứu toàn bộ quy định về kinh doanh bảo hiểm và chi tiết toàn bộ các nghiệp vụ của kinh doanh BHNT mà chỉ tập trung vào “kinh doanh bảo hiểm nhân thọ tại doanh nghiệp” cụ thể là để làm rõ các vấn đề có tính bản chất cần thiết cho việc xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật trong lĩnh vực này Phạm vi địa lý nghiên cứu của luận văn là các doanh nghiệp kinh doanh BHNT đang hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh

4 Phương pháp nghiên cứu

Để phân tích, làm rõ được thế nào là bảo hiểm nhân thọ và kinh doanh bảo hiểm nhân thọ cũng như những bất cập, hạn chế trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ hiện nay, tác giả thông qua tìm hiểu thực tế ngành bảo hiểm nhân thọ, đi sâu vào nghiên cứu quy trình thực hiện mua bán, thực hiện hợp đồng bảo hiểm giữa các bên tham gia, những phương pháp phân tích, so sánh các cơ sở pháp lý điều chỉnh đối với lĩnh vực BHNT cùng với thống kê các số liệu liên quan làm luận cứ, từ đó đúc kết được

ưu và nhược điểm mà hệ thống pháp luật bảo hiểm hiện hành cần sửa đổi, bổ sung

và phát triển

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, bố cục luận văn được chia làm hai (02) chương:

Chương 1: Lý luận chung về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và chế định pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam, kiến nghị hoàn thiện

Trang 10

Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM

NHÂN THỌ TẠI VIỆT NAM 1.1 Khái quát về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Khái niệm

Có thể hiểu BHNT là sự cam kết giữa công ty bảo hiểm (Doanh nghiệp bảo hiểm) với người tham gia bảo hiểm (bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởng) mà trong đó công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả số tiền bảo hiểm cho người tham gia khi người tham gia có những sự kiện đã định trước còn người tham gia bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm đầy đủ và đúng thời hạn Hiện nay khái niệm BHNT được căn cứ tại Khoản 12, điều 13 Luật Kinh Doanh Bảo

Hiểm sửa đổi 2010 thì Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường

hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết, riêng cá nhân tôi chọn định nghĩa ngắn

gọn như sau BHNT là tiền cho con người khi gặp rủi ro và cả trong trường hợp sống thọ Do đó, BHNT có những đặc điểm cơ bản sau:

Đặc điểm

Thứ nhất, BHNT mang nhiều đặc điểm bao gồm tính tiết kiệm, đầu tư và mang

tính rủi ro: Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa BHNT với BHPNT Thật vậy, bên mua BHNT sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ gọi là phí bảo hiểm cho bên bảo hiểm, ngược lại bên bảo hiểm có trách nhiệm trả số tiền lớn gọi là số tiền bảo hiểm cho bên hưởng quyền lợi bảo hiểm gọi là bên thụ hưởng như

đã thỏa thuận từ trước khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra Số tiền bảo hiểm được trả khi bên được bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định, hoặc con cái bên được bảo hiểm đạt đến độ tuổi nhất định theo các loại hình hợp đồng bảo hiểm đầu tư học vấn

và được ấn định trong hợp đồng Hoặc số tiền này được trả cho thân nhân và gia đình người được bảo hiểm khi người này không may bị rủi ro mất sớm ngay cả khi

họ mới đóng được một ít phí bảo hiểm hợp lệ Số tiền này giúp những người còn sống trang trải những khoản chi phí cần thiết cho cuộc sống khi người bảo hiểm mất hoặc tàn tật do tai nạn, bệnh hiểm nghèo…Chính vì vậy, BHNT vừa mang tính tiết

Trang 11

trong từng cá nhân, từng gia đình một cách thường xuyên, có kế hoạch và có kỷ luật Nội dung tiết kiệm khi mua BHNT khác với hình thức tiết kiệm khác ở chỗ, bên bảo hiểm đảm bảo trả cho người tham gia bảo hiểm hay người thân của họ một

số tiền rất lớn ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền nhỏ Có nghĩa là khi bên được bảo hiểm không may gặp rủi ro, trong thời hạn bảo hiểm được ấn định, những người thân của họ sẽ nhận được những khoản trợ cấp hay số tiền bảo hiểm từ công ty bảo hiểm Điều đó thể hiện rõ tính chất rủi ro trong BHNT

Thứ hai, các loại hợp đồng trong BHNT rất đa dạng và phức tạp: Tính đa dạng

và phức tạp trong các hợp đồng BHNT thể hiện ở trong các sản phẩm của chính hợp đồng đó Mỗi sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau, chẳng hạn BHNT hỗn hợp có các hợp đồng 5 năm, 10 năm Mỗi hợp đồng với mỗi thời hạn khác nhau, lại có sự khác nhau về số tiền bảo hiểm, phương thức đóng phí,

độ tuổi của người tham gia…Ngay cả trong một bản hợp đồng, mối quan hệ giữa các bên cũng rất phức tạp Khác với các bản hợp đồng BHPNT, trong mỗi hợp đồng BHNT có thể có 4 bên tham gia gồm bên bảo hiểm, bên được bảo hiểm, bên tham gia bảo hiểm và bên được thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm

Thứ ba, BHNT mang đặc điểm số đông bù số ít tức là nhiều người chung tay

giúp đỡ người không may gặp rủi ro, vì không phải tất cả ai cũng đều gặp rủi ro trong cuộc sống, chỉ một số ít có thể gặp rủi ro và công ty bảo hiểm sẽ trích phần tiền từ quỹ rủi ro để chi trả quyền lợi cho người bất hạnh, những ai may mắn, sống khỏe và an bình sẽ nhận được quyền lợi tương ứng là lãi cộng bảo tức trên số tiền mình đã đóng góp

Thứ tư, phí BHNT chịu tác động tổng hợp của nhiều yếu tố, vì vậy quá trình

định phí khá phức tạp Trong tiến trình này, người bảo hiểm phải bỏ ra rất nhiều chi phí để tạo nên sản phẩm, như chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng…Nhưng những chi phí đó mới chỉ là một phần để cấu tạo nên giá cả sản phẩm BHNT, một phần chủ yếu khác lại phụ thuộc vào các điều kiện sau gồm độ tuổi của người được bảo hiểm, tuổi thọ bình quân của con người, số tiền bảo hiểm, thời hạn tham gia bảo hiểm phương thức thanh toán, lãi suất đầu tư, tỷ lệ lạm phát …

Thứ năm, hợp đồng BHNT được thực hiện dựa trên nguyên tắc BMBH chưa

cần đến, nghĩa là trước khi mua bảo hiểm, người được bảo hiểm không được có bệnh án, tình trạng sức khỏe không đủ điều kiện trực tiếp dẫn đến các sự kiện bảo

Trang 12

hiểm xảy ra, người không đủ điều kiện theo thông tin sức khỏe theo hợp đồng bảo hiểm yêu cầu sẽ không mua được BHNT với bất cứ giá nào :

Ví dụ: Anh A đăng ký mua bảo hiểm nhân thọ tại Công Ty TNHH BHNT Prudential Việt Nam vào ngày 25/08/2018, nhưng trước đó Anh A đã có tiền án bệnh tim nên Anh A không được công ty phát hành hợp đồng BHNT

Thứ sáu, BHNT ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế, xã hội nhất

định Ở các nước kinh tế phát triển, BHNT ra đời và phát triển hàng trăm năm nay Ngược lại có một số quốc gia trên thế giới hiện nay vẫn chưa triển khai rộng rãi loại hình BHNT, mặc dù người ta hiểu rất rõ vai trò và lợi ích của nó Để lý giải vấn đề này, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng, cơ sở chủ yếu để BHNT ra đời và phát triển là điều kiện kinh tế xã hội phát triển

Những điều kiện về xã hội bao gồm: Điều kiện về dân số, tuổi thọ bình quân của người dân, trình độ học vấn, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh, hiểu biết, thói quen và tập quán của người dân

Ngoài điều kiện kinh tế, xã hội thì chế tài pháp lý cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của doanh nghiệp BHNT đi kèm với quyền lợi, nghĩa vụ của người tham gia bảo hiểm Thông thường ở các nước, luật kinh doanh bảo hiểm, các văn bản, quy định có tính pháp quy phải ra đời trước khi ngành bảo hiểm phát triển Luật bảo hiểm và các văn bản có liên quan sẽ đề cập cụ thể đến các vấn đề như: tài chính, đầu tư, hợp đồng, thuế Đây là những vấn đề mang tính chất sống còn cho hoạt động kinh doanh BHNT Chẳng hạn ở một số nước phát triển như: Anh, Pháp, Đức Nhà nước thường tạo điều kiện thuận lợi cho BHNT bằng cách có chính sách thuế ưu đãi Mục đích là tạo ra cho các cá nhân cơ hội để tiết kiệm, tự mình lập nên quỹ hưu trí, từ đó cho phép giảm bớt phần trợ cấp từ nhà nước Mặt khác, còn đẩy mạnh được quá trình tập trung vốn trong các công ty bảo hiểm để từ

đó có vốn dài hạn đầu tư cho nền kinh tế Cũng vì những mục đích trên, mà một số nước Châu Á như: Ấn Độ, Hồng Kông, Singapore kể cả Việt Nam…không đánh thuế doanh thu đối với các sản phẩm BHNT Sự ưu đãi này là đòn bẩy tích cực để BHNT phát triển

Trang 13

1.1.2 Loại hình bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam

Loại hình bảo hiểm nhân thọ có nhiều quy định đặc thù do đây là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết.1Ông Ngô Trung Dũng - Phó Tổng thư ký IAV cho biết

Với tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay cùng với nhu cầu cần được bảo vệ của con người ngày càng tăng cao, nền bảo hiểm nhân thọ đã được phát triển và mở rộng các loại hình nhằm đáp ứng nhu cầu trên của con người Để xác định được các loại hình bảo hiểm, ta phân chia các loại hình theo từng nhóm sau:

Các loại hình bảo hiểm nhân thọ theo nhóm mức độ rủi ro bao gồm:

- Bảo hiểm trong trường hợp tử vong (gọi tắt là bảo hiểm tử kỳ): căn cứ tại

khoản 14 Điều 3 Văn bản hợp nhất luật Kinh doanh bảo hiểm 2013: nghiệp vụ bảo

hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm chết trong một thời hạn nhất định, theo

đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm chết trong thời hạn được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm

Quy định trên cho thấy luật đã quy định chặt chẽ về hợp đồng bảo hiểm tử kỳ, nếu khách mua bảo hiểm và mất trong thời hạn đã thỏa thuận với bên bảo hiểm thì lúc này tiền bảo hiểm sẽ được chi trả

- Bảo hiểm trong trường hợp sống (gọi tắt là bảo hiểm sinh kỳ): căn cứ tại

khoản 13 điều 3 Văn bản hợp nhất luật Kinh doanh bảo hiểm 2013 là nghiệp vụ

bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm chết trong một thời hạn nhất định, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm chết trong thời hạn được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm

- Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp: căn cứ tại khoản 15 Điều 3 Văn bản hợp nhất luật

Kinh doanh bảo hiểm 2013 là loại hình kết hợp giữa bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm

tử kỳ Ba loại hình bảo hiểm trên cũng là ba loại hình chủ yếu, cơ bản nhất của

BHNT hiện nay, ngoài ra còn có các loại hình BHNT khác phân theo các nhóm sau:

Các loại hình BHNT theo phương thức tham gia bảo hiểm:

1 Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, http://www.iav.vn/News/Item/2727/226/vi-VN/Default.aspx

Trang 14

- Bảo hiểm cá nhân: Là loại bảo hiểm thực hiện dưới hình thức người tham gia

bảo hiểm là cá nhân riêng biệt Cá nhân tự nguyện tham gia một hay nhiều hợp đồng bảo hiểm Với bảo hiểm này, người được bảo hiểm chính có thể mua thêm các sản phẩm bổ sung cho người thân trong gia đình trên cùng một hợp đồng

- Bảo hiểm nhóm: Là loại bảo hiểm theo hình thức tham gia tập thể có kèm theo

danh sách cá nhân là người được bảo hiểm

Thường là các sản phẩm bảo hiểm hưu trí nhóm như Điểm Tựa Hưu Trí

của Manulife, Bảo hiểm hưu trí của Bảo Việt Nhân thọ

1.2 Chế định pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

1.2.1 Khái quát pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là tổng thể các quan hệ phát sinh trong quá trình tham gia bảo hiểm nhân thọ, được pháp luật Kinh doanh bảo hiểm điều chỉnh

Có thể hiểu, khi các tranh chấp giữa các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ xảy ra thì dựa vào cơ sở pháp lý quy định về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, tòa

án sẽ ra phán quyết

Nếu tòa án có thẩm quyền ra phán quyết về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm xảy

ra nếu có khởi kiện, thì lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm được quản lý, quy định bởi

Bộ Tài Chính, cụ thể là Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm là đơn vị thuộc Bộ Tài chính, có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính thực hiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm trong phạm vi cả nước; trực tiếp quản

lý, giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm và các hoạt động dịch vụ thuộc lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật.2 Dẫn chứng trên nhằm mục đích cho thấy, ngoài các quyền và nghĩa vụ được quy định trong luật kinh doanh bảo hiểm thì Bộ Tài Chính có thẩm quyền quản lý, quy định cụ thể đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

2 Chính Phủ (2016), Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 hướng dẫn thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi.

Trang 15

1.2.2 Đặc điểm của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Căn cứ phân tích qua phụ lục 06: Từ sự khác biệt về bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, từ đó hệ thống pháp lý điều chỉnh quan hệ của các loại hình này cũng khác nhau Về những quy định chung về hợp đồng của các loại hình bảo hiểm đa số giống nhau, nhưng về nội dung cụ thể của hợp đồng thì luật quy định khác nhau (các nội dung về phạm vi, thời hạn, phí giữa các loại hình bảo hiểm đã được liệt kê cụ thể ở Phụ lục 06: Bảng phân biệt giữa BHNT và BHPNT)

Ngoài ra, pháp luật điều chỉnh về kinh doanh BHNT còn có những đặc điểm khác biệt rõ rệt với BHPNT như sau mà từ đó giúp giảm đi các trường hợp trục lợi bảo hiểm, ổn định hoạt động kinh doanh của công ty bảo hiểm nhân thọ :

- Thông báo tuổi trong bảo hiểm nhân thọ theo điều 34 Luật Kinh Doanh Bảo

Hiểm sửa đổi bổ sung 2010:

Đây là một trong những nội dung phải thực hiện khi tham gia hợp đồng bảo

hiểm, Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ khai đúng số tuổi thật của mình hoặc người được bảo hiểm

BMBH khai thấp hơn số tuổi thật tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm nhằm mục đích giảm phí đóng bảo hiểm thì DNBH có quyền yêu cầu BMBH đóng thêm phí bảo hiểm hoặc giảm số tiền bảo hiểm đã thỏa thuận tương ứng với số phí

đã đóng Ngược lại, trường hợp khách hàng kê khai tuổi cao hơn tuổi thực tế, nhưng tuổi thực tế của NĐBH vẫn thuộc nhóm được bảo hiểm, BMBH có trách nhiệm trả lại số phí đóng bảo hiểm chênh lệch

Trường hợp, BMBH kê khai tuổi sai so với thực tế, mà tuổi thực tế của NĐBH không còn nằm trong độ tuổi được bảo hiểm, thì DNBH có quyền hủy bỏ HĐBH và

hoàn lại số phí sau khi đã khấu trừ các chi phí liên quan Trong trường hợp bên mua

bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm từ hai năm trở lên mà doanh nghiệp bảo hiểm đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng theo quy định tại khoản 2 Điều này thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác

- Không được yêu cầu người thứ ba bồi hoàn: Căn cứ tại điều 37 Luật Kinh

Doanh Bảo Hiểm sửa đổi bổ sung 2010 Trong trường hợp người được bảo hiểm

Trang 16

chết, bị thương tật hoặc đau ốm do hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp của người thứ

ba gây ra, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm mà không có quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã trả cho người thụ hưởng Người thứ ba phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm theo quy định của pháp luật Điều này thể hiện rõ một điều, tính

mạng con người là vô giá, không thể định giá được để DNBH có thể đòi bồi thường

từ bên thứ ba

1.2.3 Bảo hiểm nhân thọ là đối tượng của kinh doanh bảo hiểm

Khái niệm về kinh doanh bảo hiểm

Hiện nay, khái niệm kinh doanh bảo hiểm được ghi nhận tại khoản 3 Điều 15

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm sửa đổi bổ sung 2010 kinh doanh bảo hiểm là hoạt

động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

Để xác định rõ về thế nào là kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, ta cùng xem xét các đặc trưng cơ bản của hoạt động kinh doanh BHNT qua các nội dung sau:

Kinh doanh BHNT là một ngành kinh doanh có điều kiện:

Căn cứ những quy định pháp luật cho thấy, những cá nhân, tổ chức hoạt động kinh doanh BHNT phải hội đủ các điều kiện cần thiết để có thể thực hiện hoạt động kinh doanh BHNT tại Việt Nam

- Một là, điều kiện thành lập DNBH kinh doanh BHNT thường chặt chẽ hơn so

với các doanh nghiệp thông thường Ví dụ: Về vốn pháp định, tổng tài sản của DNBH luôn phải đáp ứng quy định Cụ thể về tổng tài sản của DNBH nước ngoài cần 2 tỷ đô la Mỹ, DNBH trong nước cần 2000 tỷ, qua đó có thể đảm bảo cho hoạt động kinh doanh BHNT được vận hành

- Hai là, người quản trị, người điều hành có năng lực quản lý, chuyên môn,

nghiệp vụ về bảo hiểm Pháp luật đòi hỏi phải có đủ chuyên môn và kinh nghiệm để

có thể quản lý tổ chức hoạt động một cách hiệu quả

Trang 17

- Ba là, DNBH kinh doanh BHNT phải luôn giữ biên khả năng thanh toán của

tổ chức mình để từ đó đảm bảo an toàn cho việc chi trả hoạt động bảo hiểm đối với BMBH Để đảm bảo việc này, DNBH phải trích lập dự phòng nghiệp vụ, thành lập các quỹ dự bắt buộc

- Bốn là, trong hoạt động đưa sản phẩm đến khách hàng, DNBH phải đảm bảo

thực hiện các hoạt động sau: Phân tích nhu cầu và khả năng tài chính của BMBH lập tài liệu minh họa sản phẩm và các giá trị hoàn lại bằng con số cụ thể khi BMBH

được hưởng, giải thích rõ các điều khoản hợp đồng cho bên mua bảo hiểm

Hoạt động kinh doanh BHNT tại doanh nghiệp

Thực trạng tại Việt Nam hiện nay, con số người dân tham gia bảo hiểm nhân thọ chưa cao so với các nước phát triền, nguyên nhân bởi đất nước trải qua thời kỳ chiến tranh kéo dài, ngành BHNT trong nước còn khá non trẻ và nhận thức của người dân về bảo hiểm nhân thọ chưa cao, chưa sẵn sàng để tham gia bảo hiểm nhân thọ Vì vậy các công ty bảo hiểm ra đời và phân bổ mạng lưới văn phòng đại

lý ở khắp mọi nơi trên đất nước nhằm thu hút người tham gia bảo hiểm, ngoài ra hệ thống pháp lý điều chỉnh cũng được ban hành kèm theo kể từ luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 được ban hành

- Điều kiện đối với các tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ:

Để được cấp phép thành lập tổ chức hoạt động lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ, cơ

sở pháp lý có quy định gồm:

Điều kiện chung để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm: Căn cứ tại Điều 6 Nghị định 73/2016/NĐ-CP hướng dẫn luật Kinh doanh bảo hiểm và luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi, yêu cầu bao gồm có vốn điều lệ đã góp (đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm), vốn được cấp (đối với chi nhánh nước ngoài) không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định tại Điều

10 Nghị định này, có loại hình doanh nghiệp, điều lệ công ty (đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm), quy chế tổ chức và hoạt động (đối với chi nhánh nước ngoài) phù hợp với quy định tại Nghị định này và các quy định pháp luật khác có liên quan Có người quản trị, điều hành dự kiến đáp ứng quy định

và có hồ sơ đề nghị cấp giấy phép theo quy định tại Nghị định này

Trang 18

Căn cứ theo bảng số liệu tại phụ lục 05: Về mô hình tổ chức kinh tế kinh doanh BHNT tại Việt Nam hiện nay đa phần đều là mô hình công ty TNHH, chỉ duy nhất Công ty cổ phẩn Phú Hưng Life là công ty cổ phần đầu tiên hoạt động tại Việt Nam Trình tự thủ tục đăng ký doanh nghiệp đối với công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ và công ty Cổ phần Bảo hiểm nhân thọ ngoài chịu sự điều chỉnh theo pháp luật Kinh doanh bảo hiểm còn phải tuân theo quy định của Luật Doanh Nghiệp 2014

Đối với điều kiện thành lập tổ chức bảo hiểm nước ngoài:

Quy định tại Điều 7 Nghị định 73/2016/NĐ-CP hướng dẫn luật Kinh doanh bảo hiểm và luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi yêu cầu:

- Là doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho phép hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dự kiến tiến hành tại Việt Nam hoặc công ty con chuyên thực hiện chức năng đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài ủy quyền để góp vốn thành lập doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam

- Có ít nhất 10 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực dự kiến tiến hành tại Việt Nam

- Có tổng tài sản tối thiểu tương đương 02 tỷ đô la Mỹ vào năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép

- Không vi phạm nghiêm trọng các quy định pháp luật về hoạt động KDBH và các quy định pháp luật khác của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính trong thời hạn 03 năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép

Đối với điều kiện thành lập tổ chức bảo hiểm trong nước:

- Là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

- Có tổng tài sản tối thiểu 2.000 tỷ đồng Việt Nam vào năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép

Đối với Điều kiện thành lập chi nhánh nước ngoài:

Quy định tại Điều 8 Nghị định 73/2016/NĐ-CP hướng dẫn luật Kinh doanh bảo hiểm và luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi

Trang 19

Theo nghị định quy định về việc thành lập và hoạt động của các doanh nghiệp BHNT, Nghị định đã nêu rõ tổ chức, cá nhân muốn hoạt động KDBH, kinh doanh tái bảo hiểm, hoạt động môi giới bảo hiểm tại Việt Nam phải được Bộ Tài chính cấp giấy phép thành lập và hoạt động hoặc đáp ứng các điều kiện về cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới theo quy định tại Nghị định này

Tổ chức, cá nhân có nhu cầu tham gia bảo hiểm có quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm và chỉ được tham gia bảo hiểm tại DNBH, chi nhánh nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam, trừ trường hợp sử dụng dịch vụ bảo hiểm qua biên giới theo quy định Không tổ chức, cá nhân nào được phép can thiệp trái pháp luật đến quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài của bên mua bảo hiểm

Nghị định quy định rõ điều kiện thành lập công ty TNHH bảo hiểm Theo đó,

để thành lập công ty TNHH bảo hiểm thì ngoài các điều kiện chung theo quy định, thành viên tham gia góp vốn thành lập công ty TNHH bảo hiểm phải là tổ chức đáp ứng các điều kiện sau:

Đối với tổ chức nước ngoài: Phải là doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được cơ

quan có thẩm quyền của nước ngoài cho phép hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực

dự kiến tiến hành tại Việt Nam hoặc công ty con chuyên thực hiện chức năng đầu tư

ra nước ngoài của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài ủy quyền để góp vốn thành lập doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam Có

ít nhất 10 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực dự kiến tiến hành tại Việt Nam

Về tổng tài sản của doanh nghiệp BHNT trong nước: Nghị định

73/2016/NĐ-CP hướng dẫn luật Kinh doanh bảo hiểm và luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi nêu

rõ doanh nghiệp, tổ chức trong nước phải là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; có tổng tài sản tối thiểu 2.000 tỷ đồng Việt Nam vào năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép

Về tổng tài sản của doanh nghiệp BHNT nước ngoài: Tối thiểu tương đương 2

tỷ USD vào năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép; không vi phạm nghiêm trọng các quy định pháp luật về hoạt động KDBH và các quy định pháp luật

Trang 20

khác của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính trong thời hạn 3 năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép

- Các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ được phép áp dụng:

Về các nghiệp vụ và sản phẩm bảo hiểm mà DNBH Nhân Thọ được phép kinh doanh được quy định tại Điều 4 Nghị định 73/2016/NĐ-CP hướng dẫn luật Kinh doanh bảo hiểm và luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi và văn bản hợp nhất luật Kinh doanh bảo hiểm 2013 Bảo hiểm nhân thọ bao gồm các nghiệp vụ sau:

- Bảo hiểm trọn đời: Là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp rủi ro và sự kiện bảo hiểm vào bất kỳ thời điểm nào trong suốt cuộc đời người đó Hợp đồng bảo hiểm trọn đời là dạng hợp đồng dài hạn, không bị giới hạn ngày hết hạn hợp đồng

- Bảo hiểm sinh kỳ: Căn cứ tại Khoản 13 Điều 3 Văn bản hợp nhất luật Kinh doanh bảo hiểm 2013 là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm vẫn sống đến một thời hạn

được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm

- Bảo hiểm tử kỳ: Căn cứ tại Khoản 14 Điều 3 Văn bản hợp nhất luật Kinh doanh bảo hiểm 2013 là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm

chết trong một thời hạn nhất định Theo đó DNBH phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm chết trong thời hạn được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, thời điểm quy định trong hợp đồng thường là thời điểm đáo hạn

của hợp đồng

- Bảo hiểm hỗn hợp: Là nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp giữa bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ

- Bảo hiểm trả tiền định kỳ: Được quy định tại khoản 17 Điều 3 Luật Kinh

doanh bảo hiểm sửa đổi bổ sung 2010 Là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người

được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định; sau thời hạn đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm định kỳ cho người thụ hưởng theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm

Trang 21

- Bảo hiểm liên kết đầu tư: Là sản phẩm bảo hiểm nhân thọ không chia lãi bao gồm hai phần tách biệt nhau: Phần bảo hiểm và phần đầu tư, trong đó chủ yếu là phần đầu tư

- Bảo hiểm hưu trí: Căn cứ tại khoản 1 Điều 2 Thông Tư số 115/2013/TT-BTC Hướng dẫn bảo hiểm hưu trí và quỹ hưu trí tự nguyện Bảo hiểm hưu trí là sản phẩm bảo hiểm nhân thọ do doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện nhằm cung cấp thu nhập bổ sung cho người được bảo hiểm khi hết tuổi lao động Bảo hiểm hưu trí bao gồm bảo hiểm hưu trí cho từng cá nhân và bảo hiểm hưu trí cho nhóm người lao động Trường hợp bảo hiểm hưu trí cho nhóm người lao động (sau đây gọi là bảo hiểm hưu trí nhóm), bên mua bảo hiểm là chủ sử dụng lao động, người lao động sẽ được nhận toàn bộ quyền lợi của hợp đồng bảo hiểm sau một thời hạn nhất định theo thỏa thuận giữa các bên và được ghi nhận tại hợp đồng bảo hiểm.3

Về quá trình kinh doanh BHNT tại doanh nghiệp, sau khi doanh nghiệp được cấp phép thành lập và hoạt động, ngoài mở các văn phòng tổng đại lý nơi trực tiếp

ký kết, chi trả hợp đồng với khách hàng thì DNBH Nhân Thọ còn cơ cấu hệ thống nhóm đại lý bảo hiểm đứng đầu là nhóm trưởng, người quản lý các đại lý bảo hiểm trong hoạt động phân phối các sản phẩm bảo hiểm của doanh nghiệp đến khách hàng

Về phần đại lý bảo hiểm, các chi nhánh của tổng công ty Prudential đều có các nhóm trưởng, họ là những tư vấn viên, đại lý có kinh nghiệm lâu năm được công ty quyết định chức danh, thực hiện vai trò quản lý các đại lý, tư vấn viên bảo hiểm khác trong nhóm đối với việc phân bố bảo hiểm đến khách hàng Những người đại

lý bảo hiểm giữ vai trò rất quan trọng bởi lẽ, khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, thông qua tư vấn một cách chính xác, đầy đủ, trung thực về hợp đồng thì khi đó khách hàng mới hiểu được chính xác sản phẩm, tránh tình trạng tranh chấp do khi mua sản phẩm rồi khách không hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của họ Do đó luật có quy định cụ thể về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của người đại lý bảo hiểm

tại các điều 85,86 và 88 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm sửa đổi bổ sung 2010 4

Trang 22

Tính đến nay, thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam có khoảng 621 ngàn tư vấn viên, vì thế khó đánh giá về kiến thức của các đại lý, tư vấn viên Để quản lý và giám sát các đại lý, doanh nghiệp BHNT thực hiện các quy định ràng buộc với đại

lý, tổ chức các buổi huấn luyện các đại lý bảo hiểm để nâng cao kiến thức về sản phẩm của công ty, tuyên truyền đạo đức nghề nghiệp cho người đại lý Tính đến nay, thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam có khoảng 621 ngàn tư vấn viên, vì thế khó đánh giá về kiến thức của các đại lý, tư vấn viên Ví dụ thực tế: Hàng tháng các địa bàn có chi nhánh Prudential luôn tổ chức các buổi học tư vấn viên bảo hiểm dành cho các đại lý bảo hiểm, bổ sung kiến thức sản phẩm để người đại lý hoạt động hiệu quả

Cơ sở pháp lý áp dụng trong việc phát hành hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Ngành BHNT là một ngành hoạt động có điều kiện khắt khe hơn so với các doanh nghiệp thông thường khác, nên đi kèm với nó là rất nhiều các quy định trong hoạt động kinh doanh Để có thể giao kết hợp đồng bảo hiểm, tổ chức kinh doanh BHNT phải đáp ứng những điều kiện sau:

- Đối với những sản phẩm BHNT phải được phê chuẩn bởi Bộ Tài Chính trước khi bán, lúc này BTC sẽ xem xét đánh giá kỹ thuật của gói sản phẩm BHNT này trước khi cho phép lưu hành, đối với doanh nghiệp BHNT phải kê khai thông tin chi tiết sản phẩm và điều khoản hợp đồng rõ ràng cho BMBH

- Trước khi giao kết hợp đồng, DNBH Nhân thọ phải tìm hiểu các thông tin cần thiết của khách hàng, đánh giá khả năng tài chính của mình, đảm bảo duy trì các nguồn lực tài chính, khả năng thanh toán và các hệ thống quản lý rủi ro, đảm bảo không phân biệt đối xử về điều kiện bảo hiểm và mức phí bảo hiểm giữa các đối tượng bảo hiểm có cùng mức độ rủi ro.5

- Đối với hoạt động kinh doanh bằng hình thức môi giới bảo hiểm, doanh nghiệp BHNT có quyền và nghĩa vụ phải tuân thủ các điều khoản quy định tại Mục

2, Chương 4, Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm sửa đổi bổ sung 2010

Quy trình hợp pháp để hợp đồng BHNT được phát hành thông qua các giai đoạn như sau: Vì hợp đồng BHNT là hợp đồng dân sự nên hội tụ các đặc điểm như

5 Bộ Tài Chính (2017), Khoản 2 Điều 3 Thông tư số 50 /2017/TT-BTC ngày 15 tháng 5 năm 2017, Hướng dẫn thi hành Nghị định số 73/2016/NĐ-CP

Trang 23

sự thỏa thuận của các bên như hợp đồng dân sự bao gồm các chủ thể tham gia hợp đồng gồm: Doanh nghiệp BHNT và bên mua bảo hiểm

Về cơ sở pháp lý đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được phát hành, bằng chứng giao kết hợp đồng BHNT được cấu thành bởi hồ sơ yêu cầu bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm, telex, fax và các hình thức khác do luật quy định,6 hồ sơ yêu cầu được bên DNBH soạn sẵn và có sự đối chiếu với quy định của Bộ Tài Chính về điều khoản, sau khi xem xét hợp lệ hồ sơ yêu cầu bảo hiểm, DNBH sẽ phát hành giấy chứng nhận bảo hiểm

Quy định pháp lý đối với bên bán bảo hiểm

Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng bảo hiểm

dựa trên quy định tại điều 23 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm sửa đổi bổ sung 2010 :

1 Bên mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm

2 Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác

3 Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm trong thời gian gia hạn đóng phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm

Trong trường hợp có tranh chấp bồi thường hợp đồng xảy ra, nếu cá nhân, tổ chức có hành vi trục lợi bảo hiểm thì căn cứ xử phạt BMBH theo luật định tại điều

174 và 213 Bộ Luật Hình Sự 2015, nếu lỗi thuộc về bên bán bảo hiểm, thì DNBH vẫn phải chi trả bồi thường hợp đồng cho khách hàng căn cứ tại điều 88 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm sửa đổi bổ sung 2010 và người gây ra lỗi sẽ bị xử phạt theo luật định tại điều 174 và 213 Bộ Luật Hình Sự 2015 và điều 88 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm sửa đổi bổ sung 2010

Về việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của DNBH và BMBH được quy định tại điều 18, 19 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm sửa đổi bổ sung 2010

6 Quốc Hội (2013), Điều 14 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm sửa đổi bổ sung 2010

Trang 24

Nếu trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm căn cứ tại Điều

21 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm sửa đổi, bổ sung 2010 điều này thể hiện rõ tính chất của bảo hiểm là bảo vệ con người, vì nếu người mua bảo hiểm là các chủ thể có nhận biết kém về hợp đồng sẽ được bảo vệ bởi khung pháp lý an toàn cho người mua

Trường hợp bảo hiểm vô hiệu, chấm dứt hợp đồng bảo hiểm được quy định tại điều 22, 23 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm sửa đổi bổ sung 2010

1.2.4 Hợp đồng kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Khái niệm, đặc điểm và phân loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Về khái niệm HĐBH Nhân thọ, khác với Bộ luật dân sự 2005 thì luật mới sửa đổi về lĩnh vực KDBH quy định, căn cứ tại Khoản 1 Điều 12 Luật Kinh Doanh Bảo

Hiểm sửa đổi bổ sung 2010 thì hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua

bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Từ đó ta thấy được

thay vì quy định một cách chung chung thì luật Kinh Doanh Bảo Hiểm quy định cụ

thể, chi tiết về hợp đồng bảo hiểm hơn Bộ luật dân sự

Đặc điểm hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Hợp đồng bảo hiểm con người không áp dụng nguyên tắc bảo hiểm trùng và nguyên tắc thế quyền: Đặc điểm trên xuất phát từ tính chất không thể định giá được

tính mạng con người,, nếu như trong bảo hiểm tài sản căn cứ tại Khoản 1 điều 44 VBHN Luật kinh doanh bảo hiểm 2013: Hợp đồng bảo hiểm trùng là trường hợp bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm với hai doanh nghiệp bảo hiểm trở

lên để bảo hiểm cho cùng một đối tượng, với cùng điều kiện và sự kiện bảo hiểm

Khoản 2 điều 44 quy định: Tổng số tiền bồi thường của các doanh nghiệp bảo hiểm không vượt quá giá trị thiệt hại thực tế của tài sản Do đó mà HĐBH Nhân thọ không áp dụng nguyên tắc này Từ đặc điểm trên, khi người tham gia bảo hiểm mua đồng thời nhiều bảo hiểm ở nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau thì BMBH có

Trang 25

quyền nhận đầy đủ các khoản tiền đã thỏa thuận ở mỗi doanh nghiệp chứ không bị giới hạn về giá trị nhận được như bảo hiểm tài sản

Hợp đồng bảo hiểm con người không áp dụng nguyên tắc thế quyền: Ngoài ra,

trong HĐBH Nhân thọ không áp dụng nguyên tắc thế quyền Bên bảo hiểm sau khi

đã thanh toán, bồi thường hợp đồng bảo hiểm thì không được phép thay cho BMBH hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm truy đòi bên thứ ba bồi hoàn số tiền bảo hiểm tương tự.7

Quy định trên cho thấy tính mạng, lợi ích của khách hàng được bảo vệ và ưu tiên khi tham gia bảo hiểm nhân thọ

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đa dạng với nhu cầu của người tham gia: Đặc

điểm này thể hiện ở trong từng loại HĐBH, cụ thể đối với từng đối tượng tham gia khác nhau thì sẽ có các loại HĐBH khác nhau, ví dụ đối với đối tượng của bảo hiểm nhân thọ, tai nạn hay sức khỏe thì sẽ có các loại hợp đồng tương ứng mang những

sắc thái đặc điểm riêng cho từng đối tượng bảo hiểm đó

Khác với hợp đồng bảo hiểm tài sản chỉ góp phần khắc phục hậu quả gây ra đối với tài sản, bảo hiểm nhân thọ đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm như các HĐBH đầu tư cho con cái, hợp đồng đó sẽ giúp cho những người con có thể an tâm sinh sống và hoàn thành được con đường học tập, vì dù cha mẹ không may có mất đi hoặc mất khả năng lao động thì con cái vẫn được chu cấp tiền hàng năm trong những năm học Quyền lợi học vấn với trị giá 175% Số tiền bảo hiểm (STBH) được đảm bảo và được chi trả tăng dần trong 5 năm cuối của hợp đồng

Ngoài ra, khách hàng sẽ nhận thêm các khoản lãi bao gồm bảo tức tích lũy và lãi chia cuối hợp đồng.8Chính vì sự đa dạng trong các loại hình bảo hiểm nhân thọ cùng với nhu cầu của người tham gia ngày càng nhiều nên đã làm cho thị trường bảo hiểm nhân thọ rất phát triển ngày nay

7 2013 Quốc Hội (2013), Điều 37 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm sửa đổi bổ sung 2010

8 Chi tiết sản phẩm bảo hiểm nhân thọ Prudential,

https://www.prudential.com.vn/vi/our-products/product/pru-edusaver/

Trang 26

Hình thức của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: Về hình thức của hợp đồng BHNT

phải được lập thành văn bản Bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, hồ sơ yêu cầu bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp luật quy định Trong trường hợp kinh doanh BHNT, bên mua bảo hiểm có thể dựa vào hồ sơ yêu cầu bảo hiểm để chứng minh việc giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, vì hồ sơ yêu cầu bảo hiểm cũng là một dạng của hợp

đồng bảo hiểm

Phân loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: Trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có

các sản phẩm bảo hiểm khác nhau và mức độ rủi ro, nhóm đối tượng tham gia, phương thức tham gia và thời hạn bảo hiểm khác nhau nên HĐBH được phân theo các loại khác nhau

Đối với hợp đồng bảo hiểm tử kỳ

-Quy định về người tham gia: Có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, năng lực tài

chính, kê khai thông tin đầy đủ, trung thực mọi chi tiết liên quan đến hợp đồng bảo

hiểm theo yêu cầu của DNBH

-Quy định về thời hạn: Thời điểm quy định trong hợp đồng thường là thời điểm

đáo hạn của hợp đồng nếu như hết thời hạn bảo hiểm mà người được bảo hiểm không gặp sự kiện rủi ro liên quan đến tính mạng thì DNBH sẽ không có trách nhiệm phải thanh toán một khoản tiền nào cho bên mua bảo hiểm Như vậy, DNBH chỉ trả tiền khi người được bảo hiểm bị tử vong trong thời hạn hợp đồng bảo hiểm

Kể cả trường hợp người được bảo hiểm tử vong sau khi hết hạn hợp đồng bảo hiểm một thời gian rất ngắn, chẳng hạn sau đó 1 ngày thì DNBH vẫn không có trách nhiệm trả tiền Chính vì lý do này phí bảo hiểm trong các hợp đồng này thường là thấp nhất, so với các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khác, Bảo hiểm tử kỳ không có

mục đích tiết kiệm mà chỉ đơn thuần mang tính bảo vệ, chống lại rủi ro tử vong

Hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp sống

- Quy định về người tham gia: Có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, năng lực tài

chính, kê khai thông tin đầy đủ, trung thực mọi chi tiết liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của DNBH

- Quy định về thời hạn: Thời điểm quy định trong hợp đồng thường là thời

điểm đáo hạn của hợp đồng nếu như hết thời hạn bảo hiểm, nếu như người được bảo

Trang 27

hiểm chết trước thời hạn thanh toán thì DNBH sẽ không phải chi trả bất cứ khoản tiền nào cho bên mua bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp: căn cứ tại Khoản 15 Điều 3 Văn bản hợp

nhất luật Kinh doanh bảo hiểm 2013 là loại hình kết hợp giữa bảo hiểm sinh kỳ và

bảo hiểm tử kỳ Ba loại hình hợp đồng bảo hiểm trên cũng là ba loại hình chủ yếu,

cơ bản nhất của hợp đồng BHNT hiện nay

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Trước khi tham gia vào các sản phẩm bảo hiểm, ngoài việc tìm hiểu về quyền lợi bảo hiểm đem lại, người tham gia bảo hiểm cần phải hiểu rõ về những chủ thể thường được nhắc đến trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ bao gồm:

- Bên bảo hiểm (bao gồm doanh nghiệp và đại lý bảo hiểm nhân thọ)

- Bên mua bảo hiểm (BMBH)

- Người được bảo hiểm (NĐBH)

- Người thụ hưởng bảo hiểm (NTHBH)

Đối với bên bảo hiểm: Là các doanh nghiệp BHNT được cấp phép thành lập

DNBH tại Việt Nam Có điểm khác biệt giữa quy định về cấp phép thành lập giữa doanh nghiệp BHNT và BHPNT là DNBH Phi nhân thọ được thành lập chi nhánh hoạt động tại Việt Nam còn lĩnh vực BHNT thì không Để được cấp phép hoạt động, doanh nghiệp BHNT phải thỏa mãn quy định tại Luật Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ 2010 sửa đổi, bổ sung và phải được Bộ Tài Chính cấp phép Điều kiện để được cấp phép của DNBH Việt Nam cũng tương đồng với nhiều quốc gia, đặc biệt

là các quốc gia đang phát triển Ví dụ, theo Luật Bảo hiểm Trung Quốc năm 1995

có quy định DNBH chỉ được cấp phép khi thỏa mãn các điều kiện như: quy chế phải phù hợp với Luật Doanh nghiệp và Luật Bảo hiểm, có số vốn tối thiểu là 200 triệu nhân dân tệ, các chức danh quản lý cấp cao phải có chuyên môn và kinh nghiệm, cơ cấu tổ chức và hệ thống quản lý chặt chẽ và cuối cùng là phải có cơ sở kinh doanh phù hợp với chức năng KDBH.9

9 The People's Republic of China (2002), The Insurance Law, http://www.china.org.cn/

english/DAT/214788.html ( Luận án pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam, những vấn đề

lý luận và thực tiễn, Trần Vũ Hải), tr xxi

Trang 28

Quyền lợi của bên bảo hiểm: Để hỗ trợ cho nguồn vốn cho việc vận hành doanh

nghiệp và chi trả các hợp đồng bảo hiểm cho BMBH, doanh nghiệp BHNT ngoài hoạt động kinh doanh BHNT thì còn có hoạt động đầu tư, hoạt động này có vai trò quan trọng và tính chất liên kết với kinh doanh BHNT nhằm gia tăng tài sản cho

doanh nghiệp trong việc chi trả bảo hiểm

Cơ sở cho hoạt động đầu tư của DNBH được thực hiện bởi các căn cứ sau đây:

- Thứ nhất, DNBH có quyền sử dụng nguồn vốn đáng kể từ thu phí bảo hiểm để

đầu tư Sau khi đảm bảo biên khả năng thanh toán cho BMBH các sự kiện bảo hiểm

có thể xảy ra thì nguồn dự phòng từ tiền thu phí bảo hiểm cùng với vốn doanh nghiệp được dùng để đầu tư Quyền đầu tư từ nguồn dự phòng phí của DNBH được công nhận rộng rãi ở các quốc gia bởi bản chất của doanh nghiệp BHNT là một chủ thể kinh doanh, như thế chủ thể đó có quyền tận dụng các nguồn lực sẵn có để phát triển kinh doanh, ngoài lợi ích gia tăng tài sản cho doanh nghiệp BHNT còn có thể đóng góp của cải cho xã hội thông qua Thuế và đầu tư vào trái phiếu chính phủ

Ví dụ minh chứng, ngày 4/1/2016, Prudential chính thức công bố nhận chứng nhận đầu tư của Bộ Tài chính cho khối lượng trái phiếu chính phủ kỳ hạn 30 năm trị giá 500 tỷ đồng Đây là lần đầu tiên Việt Nam phát hành trái phiếu kỳ hạn 30 năm Ngoài việc phát hành trái phiếu trị giá 500 tỷ đồng kể trên, Prudential cũng cam kết đầu tư tiếp tục 5.500 tỷ đồng trong năm 2016, nâng tổng giá trị đầu tư vào trái phiếu chính phủ kỳ hạn 30 năm lên đến 6.000 tỷ đồng.10

Trước đó, hồi tháng 7/2015, Prudential cũng có mức đầu tư kỷ lục 3.200 tỷ đồng vào trái phiếu chính phủ kỳ hạn 20 năm

- Thứ hai, hoạt động đầu tư của DNBH Nhân thọ không phải là hình thức đánh

bạc, vì đầu tư có thể sinh lời hoặc chịu lỗ, nhưng đối với hoạt động đầu tư của DNBH Nhân thọ mang tính chất ổn định và được nghiên cứu, đảm bảo bởi đội ngũ chuyên viên tài chính của doanh nghiệp

10 Kim Lan (05/01/2016), Prudential đầu tư trái phiếu chính phủ, Cổng thông tin điện tử Bộ Tài Chính http://nif.mof.gov.vn/webcenter/portal/ttncdtbh/r/m/gsbh/ttt/gsbhttt_chitiet;jsessionid=SqJkrPlJ1coMm9_S_ V0BbzQsOKZbpH14jMdHr5VXTZUh-bi3XosS!-

2112301690!692848347?dDocName=MOF149742&dID=55335&_afrLoop=53670872074437390#!%40%4 0%3FdID%3D55335%26_afrLoop%3D53670872074437390%26dDocName%3DMOF149742%26_adf.ctrl-

Trang 29

- Thứ ba, hoạt động đầu tư mang vai trò chủ chốt đối với sự tồn tại của doanh

nghiệp BHNT, vì hiện nay nguồn kinh phí thực tế mang lại từ hoạt động bảo hiểm không nhiều cho DNBH Nhân thọ xuất phát từ nguyên nhân bởi đa số khách hàng mua BHNT thường chọn gói bảo hiểm hỗn hợp (bao gồm cả hai loại sinh kỳ và tử kỳ), đối với đa phần hợp đồng BHNT hỗn hợp mà doanh nghiệp giao kết thì DNBH luôn phải chi trả số tiền bảo hiểm cho BMBH cao hơn số tiền BMBH đã đóng phí, ngoại trừ bảo hiểm tử kỳ Vì thế, để gia tăng tài sản và giảm đi khả năng chi lỗ thì hoạt động đầu tư góp vai trò rất lớn cho sự tồn tại của DNBH Nhân thọ

Để phân tích rõ tính chất liên kết lẫn nhau của hoạt động đầu tư đối với hoạt động kinh doanh BHNT của doanh nghiệp, tác giả dùng những nội dung sau:

- Thứ nhất, hoạt động đầu tư và kinh doanh BHNT phải luôn được thực hiện

trong doanh nghiệp kinh doanh BHNT, bởi lẽ nếu chỉ thực hiện một hoạt động đầu

tư mà bỏ đi kinh doanh BHNT thì doanh nghiệp đã làm sai quy định về kinh doanh

so với giấy phép hoạt động, hoặc nếu bỏ đi hoạt động đầu tư thì DNBH sẽ không gia tăng được tài sản cho mình để chi trả cho hoạt động KDBH nhân thọ

- Thứ hai, hoạt động đầu tư của DNBH được thực hiện trên nguồn dự phòng

nghiệp vụ Nguồn vốn này có được dựa trên số lượng sản phẩm BHNT được phân phối đến BMBH, theo đó BMBH đóng phí theo kỳ hạn đã thỏa thuận với BMBH Nếu không có hoạt động phân phối BHNT thì sẽ không có vốn để đầu tư, qua đó cho thấy, hai hoạt động kinh doanh BHNT và đầu tư hỗ trợ cho nhau cùng tồn tại trong doanh nghiệp BHNT

- Từ những phân tích trên, có thể hiểu hoạt động kinh doanh BHNT là hoạt động kinh doanh có điều kiện của DNBH được cấp phép, qua đó DNBH cung cấp sản phẩm BHNT đến BMBH

Quyền lợi của BBH trong hoạt động kinh BHNT được căn cứ theo luật định

Trang 30

– Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo điều khoản trong Luật Kinh doanh bảo hiểm (Cơ sở pháp lý: điểm c, khoản 1 điều 17 Văn bản hợp nhất luật Kinh doanh bảo hiểm 2013 và theo quy định tại khoản 2 Điều 19, khoản 2 Điều 20, khoản 2 Điều 35 và khoản 3 Điều 50 của Luật này)

– Từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc từ chối bồi thường cho người được bảo hiểm trong trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm (Cơ sở pháp lý: Điểm d, khoản 1 điều 17 Văn bản hợp nhất luật Kinh doanh bảo hiểm 2013)

– Yêu cầu bên mua bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan (Cơ sở pháp lý: Điểm đ, khoản 1 điều 17 Văn bản hợp nhất luật Kinh doanh bảo hiểm 2013)

– Yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm

đã bồi thường cho người được bảo hiểm do người thứ ba gây ra đối với tài sản và trách nhiệm dân sự (phần này chỉ áp dụng cho hợp đồng bảo hiểm tài sản và trách

nhiệm dân sự)

*Nghĩa vụ của bên bảo hiểm: Nghĩa vụ quan trọng và cốt lõi nhất của BBH khi

thực hiện HĐBHNT là đảm bảo trả tiền bảo hiểm đúng như thỏa thuận khi sự kiện bảo hiểm xảy ra sau khi HĐBHNT có hiệu lực, trong trường hợp đối với các hợp đồng bảo hiểm mang tính chất đầu tư thì DNBH Nhân thọ phải cam kết về thanh

toán hoặc chia lãi đối với BMBH

Các nghĩa vụ của DNBH trong thực hiện HĐBHNT bao gồm:

– Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm (Cơ sở pháp lý: Điểm a, khoản 2 điều 17 Văn bản hợp nhất luật Kinh doanh bảo hiểm 2013)

– Cấp cho bên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm ngay sau khi giao kết hợp đồng bảo hiểm (Cơ sở pháp lý: Điểm b, khoản 2 điều 17 Văn bản hợp nhất luật Kinh doanh bảo hiểm 2013)

Trang 31

– Trả tiền bảo hiểm trong thời gian quy định cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm (Cơ sở pháp lý: Điểm

c, khoản 2 điều 17 Văn bản hợp nhất luật Kinh doanh bảo hiểm 2013)

– Giải thích bằng văn bản lý do từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồi thường (Cơ sở pháp lý: Điểm d, khoản 2 điều 17 Văn bản hợp nhất luật Kinh doanh bảo hiểm 2013)

– Phối hợp với bên mua bảo hiểm để giải quyết yêu cầu của người thứ ba đòi bồi thường về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm (Cơ sở pháp lý: Điểm đ, khoản 2 điều 17 Văn bản hợp nhất luật Kinh doanh bảo hiểm 2013)

Đối với bên trung gian: Trong hoạt động đưa sản phẩm BHNT đến khách

hàng, phương thức được các DNBH ưa dùng nhất hiện nay đó là phân phối sản phẩm qua kênh trung gian thay vì sử dụng kênh phân phối trực tiếp Nguyên nhân bởi kênh phân phối trực tiếp yêu cầu cơ sở mặt bằng kinh doanh và tiền lương cho nhân viên văn phòng bảo hiểm, trong khi khách hàng phải tự đến văn phòng giao dịch và đội ngũ nhân viên văn phòng làm việc theo giờ hành chính nên sẽ hạn chế chế đến việc ký kết hợp đồng Để khắc phục hạn chế trên, các DNBH Nhân thọ hiện nay khai thác tối đa kênh phân phối, chủ yếu là đại lý bảo hiểm, theo đó đại lý bảo hiểm có thể là tổ chức hoặc cá nhân được cấp chứng chỉ hành nghề và được DNBH

ủy quyền trực tiếp phân phối sản phẩm của DNBH đến khách hàng Ưu điểm của kênh phân phối là khách hàng và đại lý của DNBH có thể thỏa thuận địa điểm và

thời gian giao kết hợp đồng

Quy định đối với đại lý bảo hiểm:

Trước khi phân phối sản phẩm BHNT, người tư vấn viên bảo hiểm khi hội đủ

các điều kiện để trở thành đại lý bảo hiểm căn cứ tại điều 84,86 và khoản 3 điều 3

Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi bổ sung 2010 phân phối loại hợp đồng bảo hiểm

được DNBH ủy quyền đến khách hàng, đại lý bảo hiểm được DNBH ủy quyền phân phối hợp đồng thông qua hợp đồng đại lý bảo hiểm giữa DNBH và người đại lý các

nội dung các hoạt động của đại lý bảo hiểm được dựa trên điều 85 Luật Kinh

Doanh Bảo Hiểm sửa đổi bổ sung 2010

Trang 32

Trong quá trình phân phối, thì người đại lý bảo hiểm phải tuân thủ điều kiện

quy định tại khoản 3, 4, 6, 7 điều 124 và điểm đ, khoản 4 điều 10 Luật Kinh Doanh

Bảo Hiểm sửa đổi bổ sung 2010, các quy định dành cho người đại lý khi tham gia

phân phối hợp đồng đến khách hàng được DNBH quy định chặt chẽ trong điều khoản hợp đồng đại lý

Quyền của đại lý bảo hiểm:

Sau khi phân phối, người đại lý bảo hiểm có thể thu phí bảo hiểm theo ủy quyền của DNBH và nộp lại phí đóng bảo hiểm của khách hàng về tổng công ty với thời hạn theo quy định, tiếp đó người đại lý bảo hiểm được hưởng hoa hồng từ DNBH chi trả theo như hợp đồng đại lý bảo hiểm đã ký kết với DNBH, từ cơ sở hợp đồng yêu cầu bảo hiểm hợp lệ, DNBH sẽ phát hành giấy chứng nhận bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm Trong quá trình thực hiện hợp đồng, DNBH và BMBH có thể sửa

đổi, bổ sung, tái hoặc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm trên cơ sở pháp lý tại điều

25, 26, 27 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm sửa đổi bổ sung 2010

Nghĩa vụ của đại lý bảo hiểm:

Trong quá trình phân phối, thì người đại lý bảo hiểm phải tuân thủ điều kiện

quy định tại khoản 3, 4, 6, 7 điều 124, và khoản 4 điều 10 Luật Kinh Doanh Bảo

Hiểm sửa đổi bổ sung 2010 các điều khoản này yêu cầu người đại lý bảo hiểm

không được vi phạm phải Các quy định dành cho người đại lý khi tham gia phân phối hợp đồng đến khách hàng được DNBH quy định chặt chẽ trong điều khoản hợp đồng đại lý bảo hiểm giữa DNBH và người đại lý bảo hiểm

Đối với bên mua bảo hiểm: Là tổ chức, cá nhân tham gia giao kết hợp đồng

BHNT với DNBH Nhân thọ, theo đó BMBH có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm theo định kỳ theo thỏa thuận với DNBH, và khi sự kiện bảo hiểm xảy ra thì BMBH

sẽ nhận lại số tiền bảo hiểm đúng theo thỏa thuận

Quyền của BMBH:

Được tự do chọn DNBH để giao kết HĐBH, thỏa thuận hạn mức, phương thức

và thời hạn đóng phí Được yêu cầu giải thích rõ điều khoản, chỉnh sửa, gia hạn, yêu cầu bồi thường hợp đồng và đơn phương chấm dứt hợp đồng theo quy định pháp luật và thỏa thuận trong HĐBH đối với DNBH Trong trường hợp DNBH không

Trang 33

chấp nhận yêu cầu, BMBH có quyền khởi kiện ra Toà án nhân dân giải quyết Ngoài ra quyền của BMBH còn được thể hiện rõ qua các quy định pháp lý sau:

– Lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam để mua bảo hiểm (Cơ sở pháp lý: Điểm a, khoản 1 Điều 18 Văn bản hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm 2013)

– Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm, cấp giấy chứng nhận và hợp đồng bảo hiểm (Cơ sở pháp lý: Điểm b, khoản 1 Điều 18 Văn bản hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm 2013)

– Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 3 Điều 19, khoản 1 Điều 20 của Luật Kinh doanh bảo hiểm (Cơ sở pháp lý: Điểm c, khoản 1 Điều 18 Văn bản hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm 2013)

– Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm (Cơ sở pháp lý: Điểm d, khoản 1 Điều 18 Văn bản hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm 2013)

– Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm hoặc theo quy định của pháp luật (Cơ sở pháp lý: Điểm đ, khoản 1 Điều 18 Văn bản hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm 2013)

Nghĩa vụ của BMBH:

Kê khai thông tin trung thực và chính xác mọi thông tin mà DNBH yêu cầu, cụ thể như tình trạng sức khỏe, độ tuổi và nghề nghiệp của NĐBH Theo thỏa thuận trong hợp đồng BHNT đã giao kết, BMBH có nghĩa vụ đóng phí đúng theo thỏa thuận cho DNBH Trong trường hợp có những sự kiện làm thay đổi khả năng dẫn đến tăng khả năng sự kiện bảo hiểm xảy ra Ví dụ: Ông A có nghề nghiệp là giảng viên mua BHNT cho mình trong 10 năm, sau khi đóng phí đến năm thứ 4, ông A chuyền nghề sang lái xe, lúc này ông A phải thông báo cho DNBH

Hơn nữa, BMBH có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất xảy ra đối với NĐBH, nếu không thực hiện thì DNBH sẽ đề nghị BMBH phải

Trang 34

thực hiện trong thời gian cụ thể hoặc tăng phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong HĐBH

Ngoài ra, để được nhận bồi thường bảo hiểm đúng và nhanh chóng, BMBH hoặc những người có liên quan phải thông báo cho DNBH sự kiện bảo hiểm đã xảy

ra kịp thời Ngoài ra, nghĩa vụ của BMBH còn được thể hiện rõ qua các quy định pháp luật sau:

– Đóng phí bảo hiểm đầy đủ, theo thời hạn và phương thức đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm (Cơ sở pháp lý: Điểm a, khoản 2 Điều 18 Văn bản hợp nhất

Luật kinh doanh bảo hiểm 2013)

– Kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm (Cơ sở pháp lý: Điểm b, khoản 2 Điều 18 Văn bản hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm 2013)

– Thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm (Cơ sở pháp lý: Điểm c, khoản 2 Điều 18 Văn bản hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm 2013)

– Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm (Cơ sở pháp lý: Điểm d, khoản 2 Điều 18 Văn bản hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm 2013)

– Áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan (Cơ sở pháp

lý: Điểm đ, khoản 2 Điều 18 Văn bản hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm 2013)

1.2.5 Nguyên nhân phát sinh tranh chấp trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Qua phần phân tích trên, tác giả đúc kết được những vấn đề làm phát sinh tranh chấp trong việc bồi thường hợp đồng bảo hiểm thành hai khía cạnh sau : Khía cạnh nguyên nhân phát sinh từ DNBH, đại lý bảo hiểm và bên mua bảo hiểm

Về nguyên nhân xuất phát từ doanh nghiệp bảo hiểm: Bên bảo hiểm và bên

bán bảo hiểm với hình thức là DNBH nên tác giả gọi chung là các DNBH, các DNBH là các tổ chức được thành lập hợp pháp và có chuyên môn cao trong lĩnh

Trang 35

vực của mình nên ít phạm lỗi hơn các cá nhân kinh doanh, tuy thế để trụ vững với sức ép cạnh tranh trên thị trường, các công ty bảo hiểm nhân thọ phải chạy đua tăng trưởng nóng về lượng hợp đồng, doanh thu, đại lý Và dĩ nhiên, điều đó kéo theo những vụ việc liên quan đến tranh chấp quanh hợp đồng bảo hiểm nhân thọ xảy ra ngày một nhiều.11Những sai phạm sau mà DNBH hay mắc phải:

- Áp dụng sai các quy định về pháp lý trong việc bồi thường hợp đồng

- Chạy đua doanh thu, hợp đồng ồ ạt dẫn đến khó quản lý được chất lượng của hợp đồng: Ví dụ thực tiễn, trong việc chạy đua số hợp đồng ký kết được, các DNBH không siết chặt các nghiệp vụ bảo đảm an toàn cho hợp đồng vì chưa giải thích rõ các điều khoản hợp đồng cho người mua, dẫn đến tranh chấp hợp đồng

- Tuyển dụng ồ ạt đại lý bảo hiểm từ đó không quản lý chặt chẽ được chất lượng của người đại lý bảo hiểm

Về nguyên nhân xuất phát từ phía đại lý bảo hiểm: Có những trường hợp

sau mà đại lý bảo hiểm mắc phải dẫn đến tranh chấp bồi thường BHNT xảy ra :

- Không thực hiện nghĩa vụ hướng dẫn, tư vấn đầy đủ, chính xác thông tin về hợp đồng bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm

- Tự thực hiện điền kê khai thông tin, chữ ký của bên mua bảo hiểm

- Thu phí bảo hiểm nhưng không nộp về tổng công ty đúng hạn

- Không có hoặc đã nghỉ việc tại DNBH nhưng vẫn bán bảo hiểm bất hợp pháp bằng cách giả danh HSYCH, khuyến mãi cho khách hàng khi tham gia bảo hiểm

- Thông đồng với các cá nhân, tổ chức khác thực hiện các hành vi trục lợi bảo hiểm

Về nguyên nhân xuất phát từ phía bên mua bảo hiểm: Khi ký kết hợp đồng

bảo hiểm nhân thọ, bên mua BHNT kê khai không trung thực thông tin cần thiết để chuẩn hóa những yêu cầu từ phía DNBH để có thể phát hành hợp đồng, không đọc

kỹ các điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm như điều khoản loại trừ trách nhiệm, điều khoản quy định quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia bảo hiểm, không đóng phí bảo hiểm đúng hạn, không hiểu rõ về sản phẩm bảo hiểm

Ngoài ra, vì tiền chi trả bảo hiểm quá cao nên có một số đối tượng thấy đó để thực hiện hành vi trục lợi bảo hiểm nhằm được số tiền bảo hiểm từ DNBH

11 Nguyễn Ngọc (01/07/2017), Bất an với bảo hiểm nhân thọ, Nguồn:

http://www.nhandan.com.vn/cuoituan/goc-nhin-kinh-te/item/33332402-bat-an-voi-bao-hiem-nhan-tho.html

Trang 36

Hậu quả của hành vi trục lợi bảo hiểm gây thất thoát tài chính cho DNBH cũng như ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, lòng tin của người dân khi tham gia bảo hiểm qua đó làm giảm sự phát triển về phần trăm dân số tham gia bảo hiểm, gây khó cho việc phát triển của các doanh nghiệp KDBH nhân thọ trong nước và sự phát triển kinh tế, xã hội quốc gia

Để hạn chế những tác hại nêu trên của vấn đề tranh chấp hợp đồng bồi thường bảo hiểm, thì pháp luật phù hợp và hiệu quả về KDBH là rất quan trọng

Trang 37

Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ TẠI VIỆT NAM, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

2.1 Thực trạng về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

2.1.1 Thực trạng thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam

Hiện nay có 95% thị trường bảo hiểm ở Việt Nam chưa khai thác, và đây là cơ hội lớn cho các công ty bảo hiểm quốc tế.12Nhận định của ông Tổng Giám đốc AIA Việt Nam (VN) Kenneth Juneau

Về các nguyên nhân dẫn đến thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam kém phát triển được chia thành các lý do sau:

-Thời gian ra đời: Thị trường KDBH nhân thọ tại Việt Nam vẫn đang là một

lĩnh vực kinh doanh còn tương đối mới mẻ so với các nước phát triển vì lĩnh vực bảo hiểm tại Việt Nam mới được coi trọng và phát triển từ năm 1993 khi nghị định 100CP của Chính Phủ ra đời trong khi so với Thái Lan thì loại hình bảo hiểm đã có tuổi đời hơn 60 năm như công ty bảo hiểm AIA, hơn nữa lĩnh vực BHNT tại Việt Nam còn là một nhánh trong lĩnh vực bảo hiểm vừa được quan tâm gần đây Do đó, không thể phủ nhận việc người dân chưa nhận thức được loại hình này một cách rộng rãi

- Kinh tế khó khăn: Ngoài ra, còn có cá nguyên nhân sau dẫn đến số lượng

người tham gia bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam chưa cao bởi vì đời sống người dân còn khó khăn sau cuộc chiến tranh tàn khốc kéo dài trong lịch sử, làm cho tốc độ phát triển đất nước bị chậm hơn rất nhiều so với các nước khác

- Phong tục tập quán khác biệt với các nước phát triển: Nói đến bảo hiểm nhân

thọ là nói đến sự bồi thường cho những mất mát của người thân, theo đó mua bảo hiểm nhân thọ là đồng nghĩa chuyện không hay ngày nào đó sẽ xảy ra Với những suy nghĩ rủi ro như vậy, người dân Việt Nam vốn là những người không muốn nghĩ đến rủi ro nên còn rất e ngại khi tham gia mua bảo hiểm này

12 http://www.ncif.gov.vn/Pages/NewsDetail.aspx?newid=5380

Trang 38

- Hệ thống pháp luật còn chưa đầy đủ, nhất quán: Cho đến thời điểm hiện tại

chỉ có Luật KDBH 2010 sửa đổi bổ sung và Bộ Luật Dân Sự 2015 cùng với các thông tư, nghị định khác có liên quan điều chỉnh nên chưa thể đáp ứng được tình trạng phát triển nhanh chóng của xã hội ngày nay, khi mà ngày càng nhiều các vấn nạn trục lợi bảo hiểm, tranh chấp bảo hiểm giữa các bên tham gia bảo hiểm xảy ra và công tác xử lý tranh chấp của các DNBH khác nhau từ

đó làm ảnh hưởng đến tâm lý người mua bảo hiểm

- Hợp đồng bảo hiểm phức tạp: Các hợp đồng bảo hiểm rất dài và nhiều điều

khoản, nên có một số khách hàng tham gia cũng chưa đủ kiến thức để thẩm định thông tin để hiểu rõ, nên đây cũng là nguyên nhân dẫn đến các rủi ro về giải quyết quyền lợi bảo hiểm, tranh chấp

Theo nhận định của các chuyên gia, mảng bảo hiểm nhân thọ được đánh giá vẫn còn nhiều dư địa, việc khai thác bảo hiểm qua kênh Bancassurance hiện cũng chỉ đạt 6% tổng doanh thu của ngành, trong khi trên thế giới là 70%.13Qua đócho thấy đất trống cho ngành bảo hiểm nhân thọ vẫn còn rất lớn, đặc biệt là các vùng ngoài

đô thị Để cải thiện tình trạng trên, sự cố gắng nổ lực cần xuất phát từ nhiều bên bao gồm người tham gia, DNBH và cả hệ thống chính trị

2.1.2 Thực trạng áp dụng pháp luật về chủ thể kinh doanh bảo hiểm nhân thọ

Hiện nay, đa số các DNBH hoạt động tại Việt Nam là các công ty nước ngoài, chỉ số ít trong đó là DNBH trong nước điển hình như Bảo hiểm Bảo Việt Để quản

lý về hoạt động của các DNBH thì luật hiện hành có quy định đối với điều kiện về thành lập, hoạt động của các DNBH nói chung và DNBH Nhân Thọ nói riêng

Về điều kiện thành lập doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam chưa được mở rộng đối với hình thức công ty cổ phần, vì vậy đa số các doanh nghiệp KDBH Nhân thọ tại Việt Nam hiện nay đa phần là các công ty trách nhiệm hữu hạn Tiêu biểu căn cứ tại phụ lục 05: Có 18 doanh nghiệp KDBH Nhân thọ tại Việt Nam thì chỉ có Phú Hưng Life là công ty cổ phẩn duy nhất hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần

13 Hoàng Hà (04/10/2018), Nóng bỏng thị trường bảo hiểm nhân thọ, Nguồn: chinh-kinh-doanh/nong-bong-thi-truong-bao-hiem-nhan-tho-150976.html

Trang 39

http://tapchitaichinh.vn/tai-Ngoài ra, hiện nay các DNBH Nhân thọ không trực tiếp bán bảo hiểm mà phân phối hợp đồng bảo hiểm thông qua kênh phân phối là các tổ chức, cá nhân là đại lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm dưới hình thức công ty TNHH và trả tiền cho các tổ chức, cá nhân này theo hình thức thưởng doanh số hợp đồng bằng tiền hoa hồng như công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Prudential trụ sở chính tại nước Anh Cụ thể công ty TNHH ủy quyền cho các tổ chức, cá nhân thực hiện việc phân phối hợp đồng bảo hiểm và chi thưởng theo số hợp đồng đã giao kết Thực trạng này cho thấy khả năng cao phát sinh các trường hợp các tổ chức, cá nhân đại lý, môi giới bảo hiểm vì chạy đua doanh số hợp đồng bảo hiểm mà thực hiện các chương trình quảng cáo sai sự thật, thực hiện hợp đồng sai nguyên tắc trong giao kết hợp đồng bảo hiểm qua đó gây ảnh hưởng đến uy tín của các DNBH Nhân thọ ủy quyền Thực trạng trên cho thấy cần có cơ sở pháp lý quy định chặt chẽ đối với các tổ chức, cá nhân là kênh phân phối của DNBH Nhân thọ và cải thiện quy định đối với điều kiện thành

lập tổ chức kinh tế của các DNBH Nhân thọ nước ngoài

2.1.3 Thực trạng áp dụng pháp luật về giao kết trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Về cơ sở pháp lý đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được phát hành, bằng chứng giao kết hợp đồng BHNT được cấu thành bởi hồ sơ yêu cầu bảo hiểm, giấy chứng nhận bảo hiểm, telex, fax và các hình thức khác do luật quy định,14hồ sơ yêu cầu được bên DNBH soạn sẵn và có sự đối chiếu với quy định của Bộ Tài Chính về điều khoản, sau khi xem xét hợp lệ hồ sơ yêu cầu bảo hiểm, DNBH sẽ phát hành giấy chứng nhận bảo hiểm

Quy trình để quyết định hợp đồng BHNT được phát hành hợp pháp được thực hiện thông qua các giai đoạn như sau :

Trước khi phân phối, người đại lý bảo hiểm cần hội đủ các điều kiện để trở thành đại lý bảo hiểm căn cứ tại:

- Khoản 3 điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi bổ sung 2010 về hoạt động

đại lý bảo hiểm

14 Quốc Hội (2013), Điều 14 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm sửa đổi bổ sung 2010

Trang 40

- Điều 84 Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi bổ sung 2010 về khái niệm, đặc thù công việc của người đại lý bảo hiểm

- Điều 86 Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi bổ sung 2010 về điều kiện hoạt

động đại lý bảo hiểm

Sau khi đáp ứng các nội dung nêu trên, người đại lý bảo hiểm có thể phân phối loại hợp đồng bảo hiểm được DNBH ủy quyền đến khách hàng, đại lý bảo hiểm được DNBH ủy quyền phân phối hợp đồng thông qua hợp đồng đại lý bảo hiểm giữa DNBH và người đại lý, các nội dung các hoạt động của đại lý bảo hiểm được quy định tại điều 85 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm sửa đổi bổ sung 2010 về nội dung hoạt động đại lý bảo hiểm

Trong quá trình phân phối, thì người đại lý bảo hiểm phải tuân thủ điều kiện quy định tại khoản 3, 4, 6, 7 điều 124, và khoản 4 điều 10 Luật Kinh Doanh Bảo

Hiểm sửa đổi bổ sung 2010 các điều khoản này yêu cầu người đại lý bảo hiểm

không được vi phạm phải Các quy định dành cho người đại lý khi tham gia phân phối hợp đồng đến khách hàng được DNBH quy định chặt chẽ trong điều khoản hợp đồng đại lý bảo hiểm giữa DNBH và người đại lý bảo hiểm

Sau khi phân phối, người đại lý bảo hiểm có thể thu phí bảo hiểm theo ủy quyền của DNBH và nộp lại phí đóng bảo hiểm của khách hàng về tổng công ty với thời hạn theo quy định, tiếp đó người đại lý bảo hiểm được hưởng hoa hồng từ DNBH chi trả theo như hợp đồng đại lý bảo hiểm đã ký kết với DNBH, từ cơ sở hợp đồng yêu cầu bảo hiểm hợp lệ, DNBH sẽ phát hành giấy chứng nhận bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm Trong quá trình thực hiện hợp đồng, DNBH và BMBH có thể sửa đổi, bổ sung, tái hoặc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm trên cơ sở pháp lý tại điều

25, 26, 27 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm sửa đổi bổ sung 2010

Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng bảo hiểm dựa trên quy định tại điều 23 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm sửa đổi bổ sung 2010 :

1 Bên mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm

2 Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác

Ngày đăng: 17/12/2019, 16:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w