1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Pháp luật về giải phóng mặt bằng thực tiễn tại tỉnh ninh thuận

65 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế hiện nay cho thấy, công tác thu hồi đất của công dân để phục vụ phát triển các dự án đầu tư trong nước, nước ngoài và việc bồi thường, GPMB giải quyết không tốt, không thỏa đáng

Trang 1

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG – THỰC TIỄN TẠI TỈNH NINH THUẬN

Ngành: LUẬT KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH-2018

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

KHOA LUẬT

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG – THỰC TIỄN TẠI TỈNH NINH THUẬN

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

KHOA LUẬT

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau bốn năm học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Công Nghệ thành phố

Hồ Chí Minh, bằng sự biết ơn và kính trọng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và

sự tri ân sâu sắc đối với các Thầy, Cô của Trường Đại học Công Nghệ thành phố

Hồ Chí Minh, đặc biệt là thầy cô Khoa Luật của trường đã chỉ dạy em những kiến thức bổ ích

Với lòng biết ơn chân thành nhất, em xin gửi lời cảm ơn đến Cô Nguyễn Thị Bích Phượng đã hết lòng tạo điều kiện và hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Hoàn thành khóa luận tốt nghiệp cũng như em đã hoàn thành được 2/3 chặng đường học tập hiện tại của mình Em cũng xin cảm ơn tất cả gia đình, bạn bè luôn là động lực và sự ủng hộ cho em từ khi em bước chân vào giảng đường đại học đến nay

Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, do kiến thức bản thân, trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài báo cáo khó tránh khỏi sai sót, kính mong nhận được sự góp ý của các Thầy, Cô để em có thể rút

ra được những kinh nghiệm quý báu có thể hoàn thiện hơn vốn hiểu biết của mình cũng như học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: Hoàng Thị Thu Thảo, MSSV: 1511271288, Lớp: 15DLK10

Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khóa luận tốt nghiệp này được thu nhập từ nguồn thực tế tại trên các sách báo và các tạp chí khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng quy định)

Nội dung trong Khóa luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác

Nếu sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường

và pháp luật

Sinh viên

(ký tên, ghi đầy đủ họ tên)

Hoàng Thị Thu Thảo

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Kết cấu của đề tài 4

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ THU HỒI, BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG 6

1.1 Khái quát về thu hồi, bồi thường, giải phóng mặt bằng 6

1.1.1 Thu hồi 6

1.1.2 Vai trò của bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất 11

1.2 Pháp luật hiện hành về bồi thường, giải phóng mặt bằng 13

1.2.1 Thẩm quyền thu hồi đất 13

1.2.2 Phạm vi và đối tượng được bồi thường khi thu hồi đất, giải phóng mặt bằng 16

1.2.3 Nguyên tắc và điều kiện được bồi thường khi thu hồi đất, giải phóng mặt bằng 17

1.2.4 Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất, giải phóng mặt bằng 22

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TẠI TỈNH NINH THUẬN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 27

2.1 Thực trạng về giải phóng mặt bằng tại tỉnh Ninh Thuận 27

2.1.1 Thực tiễn triển khai công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại tỉnh Ninh Thuận 27

2.1.2 Tình hình áp dụng các quy định về tài chính và áp giá đất bồi thường tại tỉnh Ninh Thuận 32

2.1.3 Một số thuận lợi trong quá trình bồi thường, giải phóng mặt bằng tại tỉnh Ninh Thuận 34

2.1.4 Một số khó khăn, hạn chế trong quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng tại tỉnh Ninh Thuận 36

2.1.5 Nguyên nhân của những khó khăn, tồn tại trong quá trình thu hồi, bồi thường, giải phóng mặt bằng tại tỉnh Ninh Thuận 40

2.2 Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về thu hồi đất, giải phóng mặt bằng 43

2.2.1 Một số kiến nghị về quy định pháp luật 43

2.2.2 Một số kiến nghị về các công tác khác có liên quan 47

KẾT LUẬN 52

Trang 7

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm trở lại đây, với chính sách đổi mới đúng đắn của Nhà nước, nền kinh tế nước ta đạt tốc độ tăng trưởng cao Bên cạnh những thành tựu đã đạt được của việc đổi mới, hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai vẫn tồn tại nhưng bất cập chưa được giải quyết kịp thời Trong khi đó, nhu cầu sử dụng đất để xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngày càng tăng Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ ở các địa phương đã làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống kinh tế và văn hóa của người dân, làm biến đổi xã hội nông thôn truyền thống Sự biến đổi đời sống của người nông dân có đất khi Nhà nước thu hồi là một vấn đề mang tính thời sự cấp bách Vấn đề thiếu việc làm ở nhiều địa phương, đặc biệt là có sự di chuyển tự do của lao động nông thôn lên thành phố để tìm việc làm đã làm phát sinh các vấn đề xã hội: quản lý hộ tịch, hộ khẩu, an ninh trật tự, bố trí chỗ ở, vệ sinh môi trường… tại các khu tập trung đông lao động của các khu công nghiệp

Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về bồi thường,

hỗ trợ ổn định đời sống, giải quyết việc làm cho người lao động có đất bị Nhà nước thu hồi và đạt nhiều kết quả tích cực Tuy nhiên, tình trạng lao động trong vùng thu hồi đất không tìm được việc làm hoặc tìm được việc làm nhưng không ổn định

Thực tế hiện nay cho thấy, công tác thu hồi đất của công dân để phục vụ phát triển các dự án đầu tư trong nước, nước ngoài và việc bồi thường, GPMB giải quyết không tốt, không thỏa đáng quyền lợi của người dân có đất khi Nhà nước thu hồi và những người bị ảnh hưởng khi thu hồi đất để dẫn đến bùng phát khiếu kiện, đặc biệt

là những khiếu kiện tập thể đông người, sẽ trở thành vấn đề xã hội phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự, mất ổn định xã hội và phần nào ảnh hưởng đến lòng tin của người dân đối với các chính sách của Nhà nước Nếu việc thu hồi đất bị lạm dụng, quỹ đất nông nghiệp bị giảm dần, về lâu dài có thể ảnh hưởng tới an ninh lương thực quốc gia

Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để xây dựng các công trình quốc phòng,

an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng, phát triển kinh tế là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng Công tác bồi

Trang 9

thường giải phóng mặt bằng là điều kiện tiên quyết để triển khai thực hiện các dự án nhưng cũng là một vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp; xã hội và cộng đồng dân cư; ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của Nhà nước, của chủ đầu tư, đặc biệt đối với các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi

Hiện nay, các quy định của pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu quản lý của Nhà nước và giải quyết được quyền lợi của người bị thu hồi đất; từng bước khắc phục được những tồn tại, vướng mắc trước đây

Tuy nhiên, do đặc thù của từng địa phương khác nhau, một số quy định về chính sách bồi thường, GPMB còn mang tính chất chung chung, chưa quy định chi tiết đến từng trường hợp cụ thể; việc ban hành các văn bản vi phạm pháp luật của địa phương theo thẩm quyền chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ nên công tác giải phóng mặt bằng cũng còn không ít khó khăn, vướng mắc và chính sách pháp luật về thu hồi, bồi thường, GPMB còn chưa đồng bộ, bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang diễn ra hiện nay

Vì vậy, việc điều tra xã hội học, khảo sát thực tế, phân tích, đánh giá trên cơ

sở khoa học nhằm đề xuất việc bổ sung, hoàn thiện chính sách bồi thường và đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng, đảm bảo lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất, góp phần thiết lập trật tự, kỉ cương pháp luật, hạn chế tranh chấp, khiếu kiện về đất đai trong việc bồi thường giải phóng mặt bằng

Do vậy, em chọn đề tài: “Pháp luật về giải phóng mặt bằng – thực tiễn

tại tỉnh Ninh Thuận” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận của mình

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung pháp luật về thu hồi, bồi thường, GPMB theo quy định của pháp luật đất đai

- Phân tích các vấn đề pháp lý và thực tiễn liên quan đến thực trạng về pháp luật GPMB tỉnh Ninh Thuận

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả GPMB tỉnh Ninh Thuận nói riêng, về GPMB nói chung; về pháp luật GPMB

Trang 10

3 Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu của đề tài

* Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu đánh giá thực thi pháp luật về bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất qua thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận Đề tài nghiên cứu thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất để làm rõ những kết quả đạt được và đưa ra khó khăn, vướng mắc trong quá trình Nhà nước thu hồi đất Nghiên cứu để tìm ra những nguyên nhân, những khó khăn tồn tại và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

* Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ có hạn của một bài khóa luận, đề tài tập trung nghiên cứu

hệ thống pháp luật thực định, các nguyên tắc pháp lý cũng như các quy định pháp luật của Việt Nam hiện hành trong lĩnh vực bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất

Bài khóa luận đã tiếp cận và phân tích, bình luận các quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Nghị định

số 47/NĐ-CP ngày 15/05/2014 về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Nghị định số 44/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định về giá đất…Bên cạnh

đó, Bài khóa luận cũng tìm hiểu các quy định khác của pháp luật cũng như quy chế

có liên quan đến bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận như: Quyết định Số 81/2013/QĐ-UBND về ban hành quy chế thực hiện dân chủ trong công tác bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư, định canh trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận Qua việc nghiên cứu những quy định của pháp luật,

em mong muốn làm rõ, cụ thể hóa các vấn đề liên quan đến bồi thường, GPMB, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất để rút ra những kết quả đạt được trong công tác thực thi pháp luật về mảng đề tài này Đồng thời, tôi cũng đưa ra những đánh giá, nêu ra những khó khăn, nguyên nhân và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hơn nữa trong công tác bồi thường, GPMB

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, trong quá trình thực hiện bài khóa luận sẽ

sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây: phương pháp luận nghiên cứu Khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp duy vật biện chứng lịch sử, tư tưởng

Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền trong nền kinh tế thị trường, bài báo cáo sử dụng phương pháp thu thập thông tin, điều tra- tổng hợp và phân tích dữ liệu từ các nguồn văn bản pháp luật liên quan, tổng hợp thống kê, kết hợp nghiên cứu lý thuyết với phân tích thực trạng GPMB ở tỉnh Ninh Thuận (kế thừa những tài liệu, số liệu đã có; tham khảo các báo cáo, kiến nghị của các tổ chức, cá nhân) và đưa ra một số đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động GPMB

Bên cạnh đó, với mục tiêu tìm hiểu và đánh giá thực tiễn thi hành về pháp luật bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất, bài khóa luận còn sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, đánh giá: Phân tích, tổng hợp

số liệu, dữ liệu thu thập được tại Sở Tài nguyên và Môi trường Phân tích thực trạng pháp luật về bồi thường, GPMB, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu các quy định pháp luật, tìm ra các điểm bất cập, chưa phù hợp, chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất; điểm chưa phù hợp giữa quy định pháp luật với thực tiễn thi hành

- Phương pháp quy nạp, diễn dịch: Phương pháp này được sử dụng khi nghiên cứu một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này Bài khóa luận đã tiếp cập, thu thập kế thừa các thông tin, tài liệu tổng kết thi hành Luật Đất đai năm

2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các số liệu của các công trình khoa học đã công bố để trên cơ sở đó phân tích, đánh giá pháp luật về bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất, đồng thời nhận diện những tồn tại, bất cập của pháp luật về vấn đề này để đề xuất các giải pháp phù hợp theo mục tiêu đặt ra

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài lời cam đoan, lời cảm ơn, lời nói đầu, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, Khóa luận gồm 2 chương:

Trang 12

Chương 1: Tổng quan về thu hồi, bồi thường giải phóng mặt bằng

Nội dung chủ yếu của chương 1 tập trung tìm hiểu sơ lược về khái niệm và vai trò của thu hồi và bồi thường GPMB cũng như sự tác động của nó ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân và sự ổn định chính trị Đánh giá thực trạng

áp dụng và việc định hướng hoàn thiện pháp luật về nguyên tắc cũng như điều kiện

về bồi thường, hỗ trợ GPMB khi Nhà nước thu hồi đất

Chương 2: Thực trạng về giải phóng mặt bằng tại tỉnh Ninh Thuận và kiến nghị hoàn thiện

Nội dung chương này tập trung tìm hiểu rõ hơn và đi sâu hơn về vấn đề

“tổng quan pháp luật về thu hồi, bồi thường GPMB” qua thực trạng áp dụng pháp

luật về thu hồi, bồi thường GPMB ở tỉnh Ninh Thuận Qua đó có thể biết được kết quả và cả khó khăn cũng như nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước Thực trang về giải phóng mặt bằng

ở tỉnh Ninh Thuận đã cho thấy rõ vấn đề và qua đó cần hòan thiện hơn và đổi mới hơn giúp cho xã hội ngày càng phát triển

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT THU HỒI, BỒI THƯỜNG

GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG 1.1 Khái quát về thu hồi, bồi thường, giải phóng mặt bằng

1.1.1 Thu hồi đất

Trước khi các công trình được xây dựng nhằm phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia được triển khai thì đòi hỏi Nhà nước cần phải có mặt bằng để thực hiện dự án Thế nhưng đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi người dân, là điều kiện sinh tồn và phát triển của con người

và nó thuộc sở hữu toàn dân, với tư cách là người quản lý, nhằm đảm bảo được lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhân dân, khi đó Nhà nước sẽ ra quyết định thu hồi quyền sử dụng đất của người dân hoặc đất được Nhà nước giao quản lý

Từ điển Tiếng Việt phổ thông định nghĩa: “Thu hồi là việc thu về lại, lấy lại cái trước đó đã đưa ra, đã cấp phát hoặc bị mất vào tay kẻ khác”1

Từ đó, ta có thể hiểu thu hồi đất là việc Nhà nước lấy lại đất đã giao, đã cho thuê vì lý do nào đó Việc thu hồi đất có thể xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau nhưng đều hướng đến hai mục đích: thu hồi đất nhằm bảo vệ quyền sở hữu đất đai của Nhà nước khi người SDĐ có hành vi vi phạm pháp luật đất đai có khả năng gây tổn hại đến tài sản của Nhà nước; và thu hồi đất để hỗ trợ cho quá trình điều phối đất đai khi Nhà nước cần điều chỉnh lại việc sử dụng đất về mục đích, chủ thể sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.2 Đối với Nhà nước, thu hồi đất là hoạt động (hay

một công cụ) mang tính “cưỡng chế” được đặt ra dựa trên cơ sở quyền sở hữu đất

đai và quyền lực công của Nhà nước, người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai

“Hai tư cách trong một” này giúp Nhà nước có thể phân phối đất đai hoặc lấy lại

đất đã chuyển giao cho các chủ thể khác một cách thuận lợi, dễ dàng Đây là phương tiện hữu hiệu giúp Nhà nước dễ dàng thực hiện các hoạt động điều phối đất đai, cũng như bảo vệ quyền sở hữu đất đai của mình trong trường hợp cần phải

“cách ly” người SDĐ có hành vi gây nguy hại đối với tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước.

1

Gs Hoàng Phê (2017), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Hồng Đức

2 Trường Đại Học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình Luật đất đai, Nhà xuất bản Hồng Đức-Hội Luật Gia Việt

Nam

Trang 14

Khác với với giao đất, cho thuê đất là những hình thức pháp lý làm hình thành một quan hệ pháp luật đất đai thì thu hồi đất là một biện pháp pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai Hình thức pháp lý này là một quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất Biện pháp này thể hiện quyền lực Nhà nước trong tư cách là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai Vì vậy, để thực thi nội dung này, quyền lực Nhà nước được thể hiện nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội đồng thời lặp lại trật tự, kỉ cương trong quản lý Nhà nước về đất đai

Thu hồi đất phải được hiểu dưới các khía cạnh sau đây:

-Là một quyết định hành chính của người có thẩm quyền nhằm chấm dứt quan hệ sử dụng đất của người sử dụng

-Quyết định hành chính thể hiện quyền lực Nhà nước nhằm thực thi nội dung của quản lý Nhà nước về đất đai

-Việc thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước và xã hội hoặc là biện pháp chế tài được áp dụng nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng

Từ đó ta có thể định nghĩa thu hồi đất như sau: là văn bản hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ pháp luật đất đai để phục vụ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành chính hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất Và theo khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai

2013, thì “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử đất

của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp pháp luật về đất đai”

Trên thực tế công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng được thực hiện sau khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng,

an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế nhằm đảm bảo quyền lợi cho những tổ chức, cá nhân có đất bị thu hồi

Việc xây dựng những khu công nghiệp cho mục tiêu phát triển kinh tế, những con đường quốc gia để phục vụ lợi ích chung là rất cần thiết nhưng không vì thế mà phải hy sinh quyền lợi của những cá nhân, những nhóm người Do đó, khi quyền sử dụng đất của người dân bị thu hồi thì Nhà nước sẽ bồi thường thiệt hại

Trang 15

Theo từ điển Tiếng Việt thì “Bồi thường” có nghĩa là trái lại tương xứng giá

trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác gây ra hay là đền bù những tổn hại gây ra3 Trong giải phóng mặt bằng, cùng với chính sách hỗ trợ và tái định cư, chính sách bồi thường là một phần quan trọng trong chính sách đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất Việc bồi thường này nhằm giúp cho người bị thu hồi đất có thể tái lập, ổn định cuộc sống mới do những thiệt hại vật chất hoặc thiệt hại phi vật chất do việc thu hồi đất gây ra, mặt khác giúp

họ giải quyết được những khó khăn khi phải thay đổi nơi ở mới

Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất theo khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai 2013

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền

sử dụng đất, vật kiến trúc, hoa màu trên diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất; trong đó giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất đối với từng loại đất trên một diện tích, vị trí đất và thời hạn sử dụng đất xác định Điều này có nghĩa: không phải tất cả thiệt hại của chủ thể nào đó đều được bồi thường bằng tiền là xong mà chủ thể đó phải được đảm bảo về lợi ích hợp pháp; sự mất mát của người bị thu hồi đất, tài sản trên đất không chỉ riêng là về mặt vật chất mà còn mất mát cả về tinh thần nhất là khi họ phải rời chỗ ở cũ của mình đến nơi ở mới4

Đặc điểm của công tác bồi thường mag tính chất phức tạp tốn kém thời gian

cụ thể là:

- Đối với đất nông nghiệp: trong khi trình độ sản xuất nông nghiệp của người dân còn thấp, sản xuất hàng hóa chưa phát triển và cây trồng vật, nuôi cũng rất đa dạng nên việt thu hồi đất nông nghiệp là ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm của người dân nên Nhà nước cần quan tâm đến chuyển đổi nghề nghiệp cho người bị thu hồi đất

- Đối với đất ở lại càng phức tạp hơn do những nguyên nhân sau:

3 Gs Hoàng Phê (2017), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Hồng Đức

4

Nguyễn Thị Minh Tâm (2010), Đánh giá thực trạng công tác thu hồi, bồi thường giải phóng mặt bằng của

http://www.zbook.vn/ebook/danh-gia-thuc- bac-45868/ , download ngày 15/09/2018

Trang 16

trang-cong-tac-thu-hoi-boi-thuong-giai-phong-mat-bang-cua-mot-so-du-an-tren-dia-ban-thi-xa-tu-son-tinh-+Đất ở là tài sản có giá trị lớn, nó gắn bó trực tiếp với đời sống và sinh hoạt

của người dân và ảnh hưởng đến tâm lý “an cư, lập nghiệp” của người bị thu hồi đất

nên khi thu hồi đất ở Nhà nước cần quan tâm đến việc xây khu tái định cư mới

+Nguồn gốc sử dụng đất khác nhau và do cơ chế chính sách không đồng bộ, thiếu chặt chẽ dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai xây nhà trái phép diễn ra thường xuyên gây ra khó khăn cho việc xác định nguồn gốc sử dụng đất để làm cơ sở xác định đối tượng và điều kiện bồi thường

+Thiếu quỹ đất do xây dựng khu tái định cư cũng như khu tái định cư thấp chưa đảm bảo được yêu cầu

+Ở một số khu vực dân cư sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ và sống bám vào các trục đường giao thông của khu dân cư làm kế sinh nhai nay chuyển đến

ở khu vực mới thì điều kiện sống bị thay đổi nên họ không muốn di chuyển

+Do tập quán sinh hoạt của gia đình

+Do chính sách pháp luật chưa phù hợp

+Việc áp dụng để tính bồi thường giữa thực tế và quy định của Nhà nước có những khoảng cách khá xa cho nên việc triển khai thực hiện cũng không được sự đồng thuận của người dân

Vậy, so với Luật Đất đai 2003 thì Luật Đất đai 2013 ra đời thì đã có nhiều điểm mới tiến bộ hơn so với luật cũ, trong đó có tiến bộ trong chế định bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất được tách ra một cách rõ ràng hơn thành bồi thường về đất và bồi thường về chi phí đầu tư vào đất, bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất kinh doanh Theo khoản 12 điều 3 Luật Đất đai 2013

quy định “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất” Và theo khoản 13 điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định “Chi phí đầu tư vào đất đai lại còn bao gồm chi phí san lấp mặt bằng và chi phí khác liên quan trực tiếp có căn cứ chứng minh đã đầu tư vào đất

mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được” Vì vậy, khi chủ thể

đáp ứng một số điều kiện theo luật định, Nhà nước sẽ bồi thường về đất và bồi thường chi phí đầu tư vào đất khi thu hồi

Trang 17

Về GPMB: tuy pháp luật không đưa ra khái niệm cụ thể nhưng có thể hiểu đây là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện sự di chuyển người dân đang sinh sống, di chuyển nhà ở, các công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất…tại những nơi mà đất đai thuộc diện tích thu hồi để phục vụ mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế Trong đó, vấn đề bồi thường giải phóng mặt bằng chủ yếu bao gồm các vấn đề: thu

vấn đề vừa có tính “thời vụ” vừa mang tính “cấp bách” của phát triển mà nhiều

nước trên thế giới hiện nay cần có đất để phát triển sản xuất, kinh doanh đang phải đối mặt Trong những năm gần đây vấn đề này trở thành trung tâm của dư luận, là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý, nhà đầu tư Thực tiễn chứng minh rằng, làm tốt công tác GPMB không chỉ tạo được môi trường thông thoáng cho phát triển, thu hút được đầu tư, mà còn góp phần làm lành mạnh nhiều quan hệ xã hội, củng cố được lòng tin của nhân dân.5Quá trình GPMB được tính từ khi bắt đầu hình thành Hội đồng giải phóng mặt bằng đến khi giải phóng xong và giao cho chủ đầu tư mới Đây là một quá trình đa dạng

và phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa các dự án và liên quan trực tiếp đến các bên tham gia và của toàn xã hội

-Tính đa dạng thể hiện: mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội và trình độ dân trí khác nhau Đối với khu vực đô thị, có mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn dẫn đến quá trình giải phóng mặt bằng có những điểm riêng biệt nhất định Đối với khu vực ven đô thị, mật độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: công nghiệp, thương mại, buôn bán nhỏ… quá trình giải phóng mặt bằng cũng có đặc trưng riêng của nó Còn đối với khu vực ngoại thành, hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông nghiệp, đời sống phụ thuộc chính vào nông nghiệp, trình độ dân trí còn hạn chế do đó, giải phóng mặt bằng cũng được tiến hành với những đặc điểm riêng biệt của vùng đó

-Tính phức tạp thể hiện: đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội đối với mọi người dân Ở khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình tự sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề

5 Phan Ngọc Long (2012), Thực tiễn thi hành pháp luật về giải phóng mặt bằng ở tỉnh Hà Tỉnh, Nguồn:

http://ebooks.vnu.edu.vn/iii/cpro/DigitalItemViewPage.external?lang=vie&sp=1001590&sp=T&sp=Pall%2C Ru1000001%40%2CQphan+ng%E1%BB%8Dc+long&suite=def, download ngày 17/09/2018

Trang 18

nghiệp khó khăn do đó tâm lý dân cư vùng này là giữ được đất để sản xuất Mặt khác, cây trồng, vật nuôi trên vùng đó cũng đa dạng, không được tập trung vào một loại nhất định nên gây khó khăn cho công tác GPMB

Từ các điểm trên cho thấy mỗi dự án khác nhau thì công tác giải phóng mặt bằng được thực hiện khác nhau Giải phóng mặt bằng là một khái niệm được sử dụng trong một số văn bản pháp luật đất đai Tuy nhiên, Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành khác lại không đưa ra định nghĩa cụ thể về khái niệm này Căn cứ vào nội dung quy định về giải phóng mặt bằng của Luật Đất đai 2013

và các văn bản hướng dẫn thi hành, Luật Xây dựng 2014, chúng ta có thể hiểu giải phóng mặt bằng là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện sự di chuyển người dân dang sinh sống, di chuyển nhà ở, các công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất…tại những nơi mà đất đai thuộc diện tích thu hồi để phục vụ mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế.6

Như vậy, việc Nhà nước thu hồi đất để phục vụ mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích công cộng,… cũng tạo nên những khó khăn nhất định cho người có đất

bị thu hồi do vậy công tác bồi thường, GPMB là không thể thiếu nhằm đảm bảo ổn định cho đời sống người dân, đảm bảo lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất Công tác bồi thường, GPMB nếu được thực hiện tốt sẽ góp phần quan trọng giúp cho việc GPMB được thực hiện suôn sẻ, rất cần thiết để xây dựng các công trình mới đáp ứng nhu cầu đổi mới của xã hội, nhằm sử dụng đất đai hợp lý và đạt hiệu quả

1.1.2 Vai trò của bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất

Thứ nhất, việc bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất

nhằm bảo đảm giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người thu hồi đất Về phía Nhà nước: Thông qua các cơ quan nhà nước, những lợi ích mà dự án thu hồi đất mang lại được xác định trong các căn cứ thu hồi đất, mục đích thu hồi đất Từ khi lập dự thảo, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch SDĐ, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cân nhắc đến tất cả các yếu tố lợi ích về phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… một khi thực hiện dự án Các yếu tố này vẫn tiếp tục được xem xét trong quá trình phê duyệt những dự án phù hợp với kế

https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc- bang-khi-Nha-nuoc-thu-hoi-dat-voi-viec-duy-tri-on-dinh-chinh-tri xa-hoi-9367/, download ngày 18/9/2018

Trang 19

thuat/Tieu-luan-luat-dat-dai Moi-quan-he-giua-thuc-tien-ap-dung-phap-luat-ve-boi-thuong-giai-phong-mat-hoạch SDĐ hàng năm cũng như giám sát kiểm tra việc thực hiện dự án, bảo đảm đúng với mục tiêu ban đầu Còn về phía người bị thu hồi đất, nếu một dự án thực hiện mà không mang lại bất kỳ lợi ích nào cho người dân với tư cách cộng đồng thì không còn là một dự án có thu hồi đất đúng nghĩa nữa Trực tiếp hay gián tiếp, một

bộ phận lớn người dân phải được hưởng lợi nhất định từ dự án Ví dụ: Dự án mở rộng đường phố sau khi thực hiện sẽ làm giảm ùn tắc giao thông, phục vụ tốt hơn cho nhu cầu đi lại của người dân, đặc biệt là người dân địa phương7 Việc chia sẻ lợi ích và bù đắp những thiệt hại cho các chủ thể SDĐ, đồng thời nhanh chóng ổn định đời sống, sản xuất, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người bị thu hồi đất

Thứ hai, việc bồi thường góp phần vào việc duy trì ổn định chính trị, trật tự

an toàn xã hội Trong trường hợp đất bị thu hồi thì quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất bị xâm hại trực tiếp; và họ bị mất quyền sử dụng đất và bị buộc phải dời đi nơi khác và cuộc sống của họ trở nên đảo lộn vì phải rời đi nơi họ đã gắn

bó lâu nay Việc mất đất đai đối với họ tương đương với việc mất kế sinh nhai, không có việc làm thì hậu quả thường dẫn đến các tệ nạn nguy hại cho xã hội: trộm cắp… nên chính vì vậy nên họ sẽ có những phản ứng quyết liệt, phẫn nộ, gay gắt thông qua khiếu kiện về bồi thường Nên vai trò của công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng hết sức quan trọng và cần thiết; nó góp phần giúp cho người bị thu hồi đất và gia đình của họ có cuộc sống ổn định nhanh chóng, an cư lạc nghiệp để tập trung vào công việc sản xuất và nâng cao chất lượng đời sống Hơn nữa, việc bồi thường giúp củng cố thêm niềm tin của người dân vào chủ chương, chính sách của Đảng

Thứ ba, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trước hết nhằm bảo đảm lợi ích

công cộng Trong đó việc cân bằng lợi ích là việc Nhà nước, thông qua pháp luật, chủ trương, đường lối, cơ chế chính sách để giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích công cộng và lợi ích chính đáng của những người có đất bị thu hồi Đây được xem như là một nguyên tắc, lựa chọn tối ưu cần phải được chọn để bảo vệ lợi ích cho cả hai bên Thực tế cho thấy, cân bằng là một trạng thái trong một khoảng thời gian nhất định và trong một hoàn cảnh cụ thể Ví dụ: Trong thời kỳ chiến tranh hay khủng hoảng kinh tế, lợi ích công cộng cần phải được nhấn mạnh hơn Tuy nhiên, trong hòa bình, lợi ích công cộng là một trong những cách hiệu quả để hài hòa các

7,8

Phan Trung Hiền (2016), Điều tiết và cân bằng lợi ích giữa Nhà nước, chủ đầu tư và người dân khi Nhà

https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/dieu-tiet-va-can-bang-loi-ich-giua-nha-nuoc-chu-dau-tu-va-nguoi-dan-khi-nha-nuoc-thu-hoi-dat-245/, download ngày 18/9/2018

Trang 20

lợi ích cá nhân của các tầng lớp khác nhau trong xã hội và có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.8

1.2 Pháp luật hiện hành về bồi thường, giải phóng mặt bằng

1.2.1 Thẩm quyền thu hồi đất

Về cơ bản, thẩm quyền thu hồi đất được quy định trong Luật Đất đai 2013 trên cơ sở kế thừa quy định của Luật Đất đai 2003 Theo đó, UBND cấp tỉnh có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn; đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đối với đất của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; đất ở của người Việt Nam định

cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện

Tuy nhiên, Điều 66 của Luật Đất đai 2013 có sửa đổi thẩm quyền thu hồi đất

so với Luật đất đai cũ để cải cách hành chính khi thực hiện các dự án, cụ thể là UBND cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định thu hồi đất đối với trường hợp khu đất thu hồi có cả tổ chức và hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng thuộc thẩm quyền thu hồi đất của UBND cấp tỉnh và đối tượng thuộc thẩm quyền thu hồi của UBND cấp huyện theo khoản 1, 2 Điều 66 Luật Đất đai 2013 thì UBND cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho UBND cấp huyện quyết định thu hồi.9

UBND cấp tỉnh có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn; đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định

cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

UBND cấp huyện có thẩm quyền thu hồi đất đối với đất của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

9 Trường Đại Học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình Luật đất đai, Nhà xuất bản Hồng Đức-Hội Luật Gia Việt

Nam

Trang 21

Trường hợp khu đất thu hồi có cả tổ chức và hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thì UBND cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho UBND cấp huyện quyết định thu hồi đất 10

Trường hợp đất đã thu hồi theo quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai

2013 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật Đất đai 2013 này là đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân ở nông thôn thì giao cho UBND cấp xã quản

lý Quỹ đất này được giao, cho thuê đối với hộ gia đình, cá nhân không có đất hoặc thiếu đất sản xuất theo quy định của pháp luật

UBND cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày Ngoài ra theo điểm

a khoản 1 điều 69 Luật Đất đai 2013 thì UBND cấp có thẩm quyền thu hồi đất ban hành thông báo thu hồi đất và thông báo thu hồi đất được gửi đến từng người có đất thu hồi, họp phổ biến đến người dân trong khu vực có đất thu hồi và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở UBND xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã phổ biến và niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương

án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở UBND cấp xã và địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi; gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư đến từng người có đất thu hồi, trong đó ghi rõ về mức bồi thường, hỗ trợ, bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có), thời gian, địa điểm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ; thời gian bố trí nhà hoặc đất tái định cư (nếu có) và thời gian bàn giao đất đã thu hồi cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng

Theo khoản 2 điều 69 Luật Đất đai 2013, thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phối hợp với UNBD cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở UNBD cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi Việc tổ chức lấy ý kiến phải được lập thành biên bản có xác nhận của đại diện UNBD cấp xã, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, đại diện những người có đất thu hồi Tổ chức làm nhiệm vụ bồi

10 Quốc hội (2013), Luật Đất đai năm 2013, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội

Trang 22

thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm tổng hợp ý kiến đóng góp bằng văn bản, ghi rõ số lượng ý kiến đồng ý, số lượng ý kiến không đồng ý, số lượng ý kiến khác đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; phối hợp với UNBD cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức đối thoại đối với trường hợp còn có ý kiến không đồng ý

về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hoàn chỉnh phương án trình cơ quan

có thẩm quyền Cơ quan có thẩm quyền thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước khi trình UNBD cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất

Tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm quản lý đất đã được giải phóng mặt bằng

UBND cấp xã có trách nhiệm là phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng triển khai thực hiện các kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm; khi đó người sử dụng đất có trách nhiệm phối hợp với

tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện việc điều tra, khảo sát, đo đạc xác định diện tích đất, thống kê về nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất để lập lên phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

UBND huyện có thẩm quyền thu hồi đất ban hành thông báo thu hồi đất: 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp theo khoản 1 điều 67 Luật Đất đai 2013 Thông báo thu hồi đất sẽ được gửi đến từng người có đất thu hồi, họp phổ biến đến những người dân trong khu vực có đất thu hồi và phải thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết tại trụ sở UBND cấp

xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi Trường hợp người

sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất trước thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 67 Luật đất đai 2013 này thì UBND cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất mà không phải chờ đến hết thời hạn thông báo thu hồi đất Và khi quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt được công bố công khai, người có đất thu hồi phải chấp hành quyết định thu hồi đất

Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực có đất thu hồi không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong việc điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm theo điểm d khoản 1 điều 69 Luật Đất đai 2013 thì UBND xã,

Trang 23

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm

vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người sử dụng đất thực hiện Và trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được vận động, thuyết phục mà người sử dụng đất vẫn không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc Người có đất thu hồi có trách nhiệm thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc Trường hợp người có đất thu hồi không chấp hành thì Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc và tổ chức thực hiện cưỡng chế theo quy định tại Điều 70 của Luật Đất đai

2013

Trường hợp thu hồi đất trong khu công nghệ cao, khu kinh tế thì do ban quản

lý khu công nghệ cao, khu kinh tế có trách nhiệm thu hồi đất đã giao lại hoặc cho thuê theo quy định tại điều 150, 151 Luật đất đai 2013 và điều 52, 53 Nghị định 43/2014 NĐ-CP.11

1.2.2 Phạm vi và đối tượng được bồi thường khi thu hồi đất, giải phóng mặt bằng

Thứ nhất, phạm vi được bồi thường

Phạm vi được bồi thường quy định theo điều 61, 62, 64, 65 của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, thì Nhà nước thu hồi đất trong một số các trường hợp nhất định như: sử dụng vì mục đích quốc phòng, an ninh; để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; do vi phạm pháp luật về đất đai (sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao cho, không đạt hiệu quả; đất được giao, cho thuê không đúng thẩm quyền;…); do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mang con người (đất giao cho tổ chức không thu tiền sử dụng đất hoặc có thu tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không có nhu cầu sử dụng đất; người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất; ngoài ra đất bị ô nhiễm, đất có nguy cơ sạt lở, sụt lún

bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác có thể được bồi thường theo Điều 6, 16,

22 Nghị định 47/2014 NĐ-CP;…)…

11 Trường Đại Học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình Luật đất đai, Nhà xuất bản Hồng Đức-Hội Luật Gia

Việt Nam

Trang 24

Tuy nhiên, việc bồi thường chỉ được thực hiện trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế 12; thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy

cơ đe dọa tính mạng con người… người sử dụng đất mới được bồi thường Bên cạnh đó, tùy từng trường hợp Nhà nước sẽ thực hiện các chính sách hỗ trợ cho người bị thu hồi đất

Thứ hai, đối tượng được bồi thường

Theo quy định của Luật Đất đai 2013 thì đối tượng được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, GPMB gồm: tổ chức, cộng đồng, dân cư, cơ sở tôn giáo, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao đang sử dụng đất đang sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi đất (khoản 2 điều 2 Nghị định 47/2014 NĐ-CP)

Đối tượng phải bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, GPMB đối với các nhà đầu tư để sử dụng vào các mục đích khác nhau như vì lợi ích công cộng, quốc phòng an ninh hay phát triển kinh tế

1.2.3 Nguyên tắc và điều kiện được bồi thường khi thu hồi đất, giải phóng mặt bằng

* Về nguyên tắc bồi thường

Các chế định bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong Luật Đất đai năm 2003 trên thực tế đã không thể thể chế, truyền tải hết các quy định mang tính nguyên tắc để thực hiện thống nhất khi xử lý những vấn đề phức tạp phát sinh trong thực tiễn thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại các địa phương, các bộ, ngành Khắc phục hạn chế này, Luật Đất đai năm 2013 đã tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành 02 điều riêng biệt Trong đó, quy định cụ thể các nguyên tắc bồi thường về đất và các nguyên tắc bồi thường thiệt

12

Phan Ngọc Long (2012), Thực tiễn thi hành pháp luật về giải phóng mặt bằng ở tỉnh Hà Tỉnh, Nguồn:

http://ebooks.vnu.edu.vn/iii/cpro/DigitalItemViewPage.external?lang=vie&sp=1001590&sp=T&sp=Pall%2C Ru1000001%40%2CQphan+ng%E1%BB%8Dc+long&suite=def , download ngày 19/09/2018

Trang 25

hại về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất để các bộ, ngành, địa phương và người thu hồi đất căn cứ vào đó thống nhất thực hiện

Nguyên tắc của bồi thường trong thu hồi đất được thể chế hóa ở hai quy định

trong Luật Đất đai 2013 Điều 74 về “Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất quy định:

1 Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường

2 Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất

3 Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.’’

Quy định trên thể hiện khi Nhà nước lấy đi phần lợi ích của người dân mà người dân có đầy đủ điều kiện được bồi thường thì Nhà nước có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại Khi Nhà nước thu hồi đất thì bồi thường bằng đất cùng loại, nếu không có đất cùng loại thì bồi thường bằng tiền với giá trị tương đương Cách tiếp cận này xuất phát từ quan niệm coi đất đai là tài sản có thể quy đổi giá trị sang tiền Mức giá bồi thường được quyết định và thống nhất thực hiện bởi cơ quan hành chính địa phương dựa trên nguyên tắc dân chủ, khách quan, công bằng, công khai

và kịp thời

Nguyên tắc người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất có đủ điều kiện được bồi thường theo khoản 1 điều 74 Luật Đất đai 2013, thì mục đích của nguyên tắc này nhằm đảm bảo việc bồi thường cho đúng đối tượng đủ điều kiện được được bồi thường.13

Nguyên tắc việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể theo khoản 2 điều 74 Luật Đất đai 2013, thì có thể hiểu là giá đất tính bồi thường là giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND

13, 14

Trường Đại Học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình Luật Đất Đai, Nhà xuất bản Hồng Đức-Hội Luật Gia

Việt Nam

Trang 26

cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất và đấy cũng là yêu cầu rất quan trọng để đảm bảo lợi ích chính đáng của người bị thu hồi đất.14

Nguyên tắc việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật theo khoản 3 điều 74 Luật Đất đai 2013, thì đây là nguyên tắc giúp người bị thu hồi đất bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình thông qua việc được biết đầy đủ các thông tin liên quan đến việc bồi thường Người bị thu hồi đất có quyền có ý kiến về những nội dung bồi thường Trong trường hợp không đồng ý với quyết định bồi thường, họ có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, bảo vệ theo quy định pháp luật.15

Nguyên tắc dân chủ được hiểu rằng quá trình tính toán, xem xét mức bồi thường phải có ý kiến của nhân dân, đặc biệt từ phía những người bị thu hồi đất Quan điểm, lý lẽ, nguyện vọng của những đối tượng này phải được coi trọng bởi đây chính là những người gánh vác hậu quả trực tiếp từ hành vi thu hồi đất

Nguyên tắc khách quan được hiểu là việc bồi thường thu hồi đất phải được xem xét dựa trên các yếu tố khách quan Điều này sẽ quyết định sự hợp tình, hợp lý của mức bồi thường trong thu hồi đất, hạn chế sự tùy nghi, chủ quan dẫn đến bất hợp lý của người tiến hành công tác bồi thường

Nguyên tắc công bằng được hiểu là đối với những trường hợp thu hồi đất giống nhau về hoàn cảnh địa lý, về loại đất, về tính chất và căn cứ thu hồi thì các chủ thể bị thu hồi đất sẽ được nhận mức bồi thường tương đương nhau Không để xảy ra việc trên cùng 1 diện tích đất bị thu hồi mà hộ anh A được nhận mức bồi thường, hỗ trợ cao hơn hộ anh B Thực tiễn xảy ra không ít trường hợp nhà đầu tư chủ động đưa ra một mức bồi thường cao với những hộ gia đình kiên quyết chống đối việc thu hồi đất với mục đích xúc tiến nhanh việc giải phóng mặt bằng để tiến hành xây dựng Hành vi này sau đó bị các hộ gia đình đã chấp nhận mức bồi thường trước đó phát hiện, sự việc trở nên phức tạp khi những hộ này quay trở lại yêu cầu được nhận mức bồi thường mới Đối với những hành vi thuộc trường hợp trên thì người bị thu hồi đất có quyền có ý kiến về những nội dung bồi thường và trong

15 Trường Đại Học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình Luật Đất Đai, Nhà xuất bản Hồng Đức-Hội Luật Gia

Việt Nam

Trang 27

trường hợp không đồng ý với quyết định bồi thường, họ có thể yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, bảo vệ theo quy định của pháp luật

Thu hồi đất cũng như mọi hành vi quản lý nhà nước khác, phải được thực hiện một cách công khai, minh bạch trong từng khâu, từng quy trình Yếu tố này sẽ giúp ngăn ngừa các biểu hiện tiêu cực từ phía người quản lý cũng như người bị quản lý Điều này thực sự cần thiết đối với một vấn đề nhạy cảm và phức tạp như thu hồi đất

Nguyên tắc kịp thời là một trong những điểm đáng bàn và có tính chất then chốt trong vấn đề bồi thường thu hồi đất Điều đáng tiếc là cho đến thời điểm này Luật đất đai Việt Nam vẫn chưa diễn giải thế nào là bồi thường kịp thời đối với các trường hợp thu hồi đất Sự bỏ ngỏ này của nhà làm luật dẫn đến sự thiếu thống nhất trong công tác tổ chức, thực hiện Nhiều trường hợp người dân sau khi bị thu hồi đất rất lâu mới được nhận bồi thường Trong tương lai gần, lỗ hổng này cần nhanh chóng được giải quyết Chúng ta phải có một quy định rõ ràng về thời điểm người dân được nhận bồi thường để quyền lợi của họ được đảm bảo, từ đó giúp họ sớm tìm được các phương án cho cuộc sống sau khi đất bị thu hồi Kinh nghiệm quốc tế trong vấn đề này là những giá trị quý báu có thể tham khảo Luật pháp ở các quốc gia tư hữu về đất đai có những quy định rất chặt chẽ, cụ thể về thời điểm cũng như quy trình bồi thường cho người dân trong những trường hợp đất bị chiếm giữ bắt buộc bởi Nhà nước

Ngoài quy định ở Điều 74, Điều 88 Luật Đất đai 2013 đề cập đến “Nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất”

như sau:

1 Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất

bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường

2 Khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại

Nguyên tắc này là một điểm mới của Luật đất đai 2013 khi đã bắt đầu xem xét đất đai không chỉ với tư cách là tài sản mà còn là tư liệu sản xuất Trên thực tế, ngoài ý nghĩa là tài sản, đất đai còn là tài nguyên thiên nhiên, tư liệu sản xuất và

Trang 28

nguồn sống của con người Vì đất là tư liệu sản xuất của người bị thu hồi đất nên ngoài việc bồi thường giá trị như một tài sản, người dân còn phải được bồi thường

về thu nhập, sinh kế đã bị ảnh hưởng hoặc thiệt hại từ hành vi thu hồi Điều 88 được

bổ sung so với Luật đất đai 2003 này cũng đã nhấn mạnh thêm nguyên tắc khách quan của bồi thường thu hồi đất đã được đề cập trong Điều 74.Nếu chỉ hỗ trợ một khoản trong một thời gian nhất định thì coi như đã phó mặc việc tìm kiếm kế sinh mới cho người mất đất Do đó, thay vì phó mặc gánh nặng hỗ trợ đào tạo nghề đối với người mất đất cho Nhà nước, nhà đầu tư cần phải được yêu cầu cùng bàn bạc với người mất đất về cơ hội tìm sinh kế mới cho họ; đồng thời, nhà đầu tư phải chi trả cho người mất đất một khoản tiền tương ứng với mức thu từ sử dụng đất trước đây cho tới khi người bị mất đất có nguồn thu nhập mới và theo nguyên tắc, càng để lâu, chi phí bồi thường càng lớn để bắt buộc nhà đầu tư không thể trì hoãn

Các phân tích về nguyên tắc trong thu hồi đất trên đây cho ta thấy tính phức tạp của vấn đề Xem xét, tính toán, quyết định một mức giá bồi thường hợp lý, khách quan là một việc không đơn giản Do vậy, ngoài vai trò chủ đạo của các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức thực hiện, sự tham gia của khu vực tư là hết sức cần thiết Trong nhiều trường hợp, Nhà nước cần làm cầu nối giữa người bị thu hồi đất và người thụ hưởng đất sau thu hồi (các nhà đầu tư), bởi đây là hai chủ thể có lợi ích gắn bó trực tiếp trong vấn đề này Thỏa hiệp dân sự trong những trường hợp này không chỉ giảm tải áp lực cho các cơ quan nhà nước mà còn hứa hẹn đem lại những giải pháp tích cực, hợp tình, hợp lý trong vấn đề bồi thường

* Về điều kiện được bồi thường

Theo đó, Luật Đất đai 2013 bổ sung thêm 02 trường hợp được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Điều 75, cụ thể: (i) Bồi thường đối với các trường hợp sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; (ii) trường hợp cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất mà không phải là đất

do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Không phải trường hợp thu hồi đất nào thì người sử dụng đất cũng được bồi thường, mà người bị thu hồi đất phải đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật mới được bồi thường, các đối tượng khác nhau thì sẽ có những điều kiện quy

Trang 29

định cho từng đối tượng khác nhau và người bị thu hồi đất phải đáp các điều kiện theo điều 75 Luật Đất đai 2013 sau đây:

-Quyền sử dụng đất bị thu hồi phải được công nhận là tài sản của con người

sử dụng đất và thuộc loại được cho phép giao dịch Những trường hợp người sử dụng có quyền sử dụng đất hợp pháp nhưng họ chỉ được phép sử dụng có quyền sử dụng đất hượp pháp nhưng họ chỉ được phép sử dụng mà không được giao dịch thì khi bị thu hồi cũng không được bồi thường (như trường hợp tổ chức được giao đất không thu tiền sử dụng đất, các chủ thể thuê đất của Nhà nước mà trả tiền thuê hàng năm)

-Có căn cứ chứng minh quyền sử dụng đất (thông qua các văn bản, giấy tờ về

sử dụng đất) Cần lưu ý, trường hợp bị thu hồi đất mà hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng vẫn có thể được xem xét bồi thường nếu như

họ đáp ứng đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà

ở và tài sản khác gắn liền với đất theo khoản 1 điều 75 Luật Đất đai 2013 Cũng có trường hợp người bị thu hồi đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và cũng không đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận nhưng vẫn có thể được bồi thường,

đó là trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 theo khoản 2 điều 77 Luật Đất đai 2013

-Việc thu hồi đất không phải do vi phạm pháp luật đất đai

1.2.4 Hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, giải phóng mặt bằng

Hỗ trợ là việc giúp đỡ, tạo điều kiện cho người bị thu hồi đất ổn định đời sống và sản xuất vượt qua khó khăn khi bị thu hồi đất Nội dung của hỗ trợ bao gồm: hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất; hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và đào tạo việc làm; hỗ trợ tái định cư, hỗ trợ người đang thuê nhà ở không thuộc sở hữu Nhà nước; hỗ trợ khi thu hồi đất công ích của xã, phường, thị trấn; hỗ trợ khác…

Tái định cư là việc bố trí chỗ ở mới ổn định cho người bị thu hồi đất mà phải

di chuyển chỗ ở Theo quy định của pháp luật, khu tái định cư phải được xây dựng

cơ sở hạ tầng đồng bộ đảm bảo đủ điều kiện cho người sử dụng tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ Các nội dung cụ thể hóa về tái định cư được quy định trong NĐ 47/2014 NĐ-CP

Trang 30

Nội dung chủ yếu của hỗ trợ, tái định cư khi nhà nwuosc thu hồi đất, GPMB bao gồm:

Một là, hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất được quy định tại điểm a

khoản 2 điều 83 Luật Đất đai 2013 và điều 19 NĐ 47/2014 NĐ-CP

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản; hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng đủ điều kiện được giao đất nông nghiệp nhưng chưa được giao đất nông nghiệp và đang sử dụng đất nông nghiệp do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho, khai hoang theo quy định của pháp luật: thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 24 tháng; đối với trường hợp thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36 tháng; mức hỗ trợ cho một nhân khẩu được kể trên được tính bằng tiền tương đương 30 kg gạo trong 01 tháng theo thời giá trung bình tại thời điểm hỗ trợ của địa phương

Việc hỗ trợ ổn định sản xuất thực hiện theo quy định sau: hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng đất nông nghiệp thì được hỗ trợ ổn định sản xuất, bao gồm: hỗ trợ giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất nông nghiệp,…; còn đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì được hỗ trợ ổn định sản xuất bằng tiền với mức cao nhất bằng 30% một năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của 03 năm liền kề trước đó Thu nhập sau thuế được xác định căn cứ vào báo cáo tài chính đã được kiểm toán hoặc được cơ quan thuế chấp thuận; trường hợp chưa được kiểm toán hoặc chưa được cơ quan thuế chấp thuận thì việc xác định thu nhập sau thuế được căn cứ vào thu nhập sau thuế do đơn vị kê khai tại báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cuối mỗi năm đã gửi cơ quan thuế

Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản của các nông, lâm

Trang 31

trường quốc doanh thì được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất theo hình thức bằng tiền

Người lao động do tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước thuê lao động theo hợp đồng lao động thì được áp dụng hỗ trợ chế độ trợ cấp ngừng việc theo quy định của pháp luật về lao động nhưng không quá 06 tháng

Hai là, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và đào tạo việc làm được quy định tại

điểm b khoản 2 điều 83 Luật Đất đai 2013 và điều 20 NĐ 47/2014 NĐ-CP

Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp quy định tại các điểm a,

b, c và d Khoản 1 Điều 19 NĐ 47/2014 NĐ-CP cấp) khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm

Hỗ trợ bằng tiền không quá 05 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất của địa phương đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp thu hồi; diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương và mức

hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định căn cứ điều kiện thực tế của địa phương

UBND cấp tỉnh căn cứ cơ chế, chính sách giải quyết việc làm đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định, chỉ đạo việc lập và tổ chức thực hiện phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho người trong độ tuổi lao động tại địa phương Phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm được lập và phê duyệt đồng thời với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Trong quá trình lập phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm phải lấy ý kiến của người thu hồi đất

Nếu người được hỗ trợ nói trên có nhu cầu được đào tạo, học nghề, tìm việc làm thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề, được tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vay vốn tín dụng ưu đãi đối với các đối tượng trong độ tuổi lao động

Ba là, Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá

nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở được quy định tại điểm c khoản 2 điều 83 Luật Đất đai 2013 và điều 22 NĐ 47/2014 NĐ-CP

Trang 32

Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận đất ở, nhà

ở tái định cư mà số tiền được bồi thường về đất nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu quy định tại Điều 27 của Nghị định này thì được hỗ trợ khoản chênh lệch giữa giá trị suất tái định cư tối thiểu và số tiền được bồi thường về đất

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tự lo chỗ ở thì ngoài việc được bồi thường về đất còn được nhận khoản tiền hỗ trợ tái định cư UBND cấp tỉnh căn cứ quy mô diện tích đất ở thu hồi, số nhân khẩu của hộ gia đình và điều kiện cụ thể tại địa phương quy định mức hỗ trợ cho phù hợp

Bốn là, hỗ trợ người đang thuê nhà ở không thuộc sở hữu Nhà nước được

quy định tại điều 23 NĐ 47/2014 NĐ-CP

Hộ gia đình, cá nhân đang thuê nhà ở không phải là nhà ở thuộc sở hữu nhà nước thì được hỗ trợ chi phí di chuyển tài sản theo quy định của UBND cấp tỉnh

Năm là, hỗ trợ khi thu hồi đất công ích của xã, phường, thị trấn được quy

định tại điều 23 NĐ 47/2014 NĐ-CP

Đất thu hồi thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn thì được hỗ trợ; mức hỗ trợ cao nhất có thể bằng mức bồi thường và tiền hỗ trợ được nộp vào ngân sách nhà nước và được đưa vào dự toán ngân sách hàng năm của xã, phường, thị trấn; tiền hỗ trợ chỉ được sử dụng để đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng, sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn

Sáu là, hỗ trợ khác ở được quy định tại điểm d khoản 2 điều 83 Luật Đất đai

2013 và điều 25 NĐ 47/2014 NĐ-CP

Ngoài việc hỗ trợ quy định tại các Điều 19, 20, 21, 22, 23 và 24 của Nghị định này, căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định biện pháp hỗ trợ khác để bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống, sản xuất và công bằng đối với người có đất thu hồi; trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai 2013 thì UBND cấp tỉnh xem xét hỗ trợ cho phù hợp với thực tế của địa phương; trường hợp đặc biệt trình Thủ tướng Chính phủ quyết định

Ngày đăng: 17/12/2019, 16:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w