1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự qua thực tiễn tại thành phố hồ chí minh

68 144 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan thi hành án do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc đương sự người phải thi hành án phải thực hiện

Trang 1

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

KHOA LUẬT

Trang 2

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ QUA THỰC TIỄN

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

KHOA LUẬT

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô tại khoa Luật Kinh tế của trường Đại học Công Nghệ Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của các Thầy, Cô và bạn bè Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô, gia đình và bạn bè

Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ths NGUYỄN VĂN THẠCH đã hết lòng tạo điều kiện và hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Trong quá trình thực hiện khóa luận, do chưa có kinh nghiệm thực tiễn nên không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý của quý Thầy, Cô cũng như quý đọc giả để tôi có thể rút ra được những kinh nghiệm và ngày càng hoàn thiện bản thân hơn

Cuối lời, tôi xin kính chúc toàn thể quý Thầy, Cô, gia đình và bạn bè luôn luôn khỏe mạnh và thành công trong công việc

Trân trọng cảm ơn!

Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)

Phạm Thanh Thiện

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: PHẠM THANH THIỆN, MSSV: 1511270797

Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong khóa luận tốt nghiệp này

được thu thập từ nguồn thực tế, trên các sách báo khoa học chuyên ngành (có trích dẫn

đầy đủ và theo đúng qui định);

Nội dung trong báo cáo này do kinh nghiệm của bản thân được rút ra từ quá

trình nghiên cứu và thực tế, KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu, báo cáo khác

Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường và pháp luật

Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)

Phạm Thanh Thiện

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

STT Tên hình ảnh minh họa

01 Hình 1.1 Cuộc họp thống nhất giữa các thành phần tham gia

cưỡng chế

02 Hình 1.2 Chấp hành viên đọc quyết định cưỡng chế thi hành

án dân sự

Trang 7

1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Kết cấu của khóa luận 5

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 6

1.1 Khái quát về cưỡng chế thi hành án dân sự 6

1.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự 6

1.1.2 Khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự 8

1.1.3 Đặc điểm về cưỡng chế thi hành án dân sự 8

1.1.4 Nguyên tắc cưỡng chế thi hành án dân sự 12

1.2 Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự 14

1.2.1 Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 14

1.2.2 Thẩm quyền cưỡng chế thi hành án dân sự 23

1.2.3 Chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự 24

1.2.4 Thủ tục cưỡng chế thi hành án dân sự 27

Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 36

2.1 Thực trạng cưỡng chế thi hành án dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh.36 2.1.1 Tình hình án phải thi hành và cưỡng chế tại Thành phố Hồ Chí Minh 36

2.1.2 Những thuận lợi và tồn tại 37

2.2 Kiến nghị cưỡng chế thi hành án dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh 50

2.2.1 Về xây dựng pháp luật 50

2.2.2 Về cơ chế phối hợp công tác cưỡng chế thi hành án 52

2.2.3 Về thực hiện các quy định pháp luật cưỡng chế THADS 52

2.2.4 Về Chấp hành viên 53

2.2.5 Về quá trình tổ chức thực hiện cưỡng chế THADS 53

Trang 8

2

2.2.6 Một số đề xuất khác 54

KẾT LUẬN 56

Trang 9

Trong thi hành án dân sự, cưỡng chế thi hành án là một trong những biện pháp mà Chấp hành viên lựa chọn để đảm bảo thi hành các Bản án, Quyết định của Tòa án, Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh được chấp hành, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự

là biện pháp cứng rắn nhất mang tính quyền lực nhà nước nhằm khôi phục và bảo

vệ các quan hệ xã hội bị xâm hại và thường được Chấp hành viên lựa chọn áp dụng nhằm thi hành nghĩa vụ trả tiền của người phải thi hành án theo Bản án, Quyết định của cơ quan có thẩm quyền Do đó, việc thi hành dứt điểm các bản án, quyết định

đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng thuộc trường hợp phải thi hành ngay trên thực tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, tính nghiêm minh của pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Cưỡng chế THADS là một biện pháp phức tạp đòi hỏi Chấp hành viên phải có kỹ năng toàn diện, ngoài ra còn cần sự phối hợp của các ngành, các cấp tổ chức Nhà nước

Trong nền kinh tế ngày càng phát triển như hiện nay, với bối cảnh Nhà nước ta đang xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vô

số các quan hệ giao dịch được phát sinh mang tính phức tạp dẫn đến các tranh chấp cũng ngày càng tăng với số lượng án đã xử phải thi hành cũng tăng Tính đến ngày 30/9/2017, tổng số việc các cơ quan thi hành án dân sự trong toàn quốc phải thi hành là 869.430 việc, đã thi hành xong là 549.415 việc, còn 320.015 việc (chiếm 20,75% tổng số việc phải thi hành) chưa thi hành được do người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án, không tự nguyện thi hành án dẫn đến cơ quan thi hành án dân sự phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự (trong năm 2017, các cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định cưỡng chế có huy động

Trang 10

2

lực lượng là 5.549 trường hợp)1 Hoạt động THADS nói chung và biện pháp cưỡng chế THADS nói riêng mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ vững trật tự xã hội, kỷ cương phép nước và đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thi hành trên thực tế Bên cạnh đó, các đề tài nghiên cứu về biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự còn bị bó buộc trong một khuôn khổ nhất định không thể phát huy được một cách toàn diện góc nhìn từ khoa học đến thực tiễn của một vấn đề Mặt khác, đề tài này sẽ là một sự cập nhật những quy định mới của pháp luật, giúp đọc giả có thể nhìn nhận một cách rõ ràng và chính xác nhất

Đối với pháp luật chuyên ngành, biện pháp cưỡng chế THADS cũng được các nhà làm luật khá quan tâm, bởi đã định hình được tầm quan trọng của các biện pháp cưỡng chế thi hành án, thậm chí nó còn được xem như bộ phận không thể tách rời của ngành THADS nước ta

Xuất phát từ tầm quan trọng của biện pháp cưỡng chế và những bất cập còn tồn tại trong hệ thống pháp luật THADS nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác ngành thi hành án thì việc góp ý hoàn thiện pháp luật về biện pháp cưỡng chế THADS là một yêu cầu tất yếu, khách quan Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Pháp luật

về Cưỡng chế thi hành án dân sự” làm đề tài nghiên cứu và thực hiện khóa luật tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Thực tế cho thấy rằng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động thi hành án dân sự cũng như các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự Vì vậy, việc tiếp cận đề tài không gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, các văn bản quy phạm về biện pháp cưỡng chế THADS có số lượng khá lớn và gia tăng theo từng ngày, nên đòi hỏi phải luôn có sự cập nhật một cách liên tục

Mặc khác, hoạt động cưỡng chế thi hành án tác động trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự Có nghĩa là, việc tiếp cận các quy định pháp luật không khó nhưng tiếp cận các vấn đề thực tế thì vô cùng khó khăn và phức tạp Trước những đòi hỏi mang tính khách quan của công tác THADS, đã có những công trình nghiên cứu về vấn đề này:

1 Báo cáo thống kê – Cổng thông tin điện tử Tổng Cục Thi hành án Dân sự-Bộ tư pháp

Trang 11

3

Đề tài: “Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay” , Luận án Tiến sĩ Luật học tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Nguyễn Thanh Thủy, năm 2008

Đề tài: “Cưỡng chế thi hành án dân sự, những vấn đề lý luận và thực tiễn” khoá luận tốt nghiệp của tác giả Dương Thu Hương, năm 2010

Đề tài: “Biện pháp cưỡng chế, kê biên tài sản trong thi hành án dân sự” luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thanh Phong, năm 2011

Đề tài: “Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự” luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Phan Huy Hiếu, năm 2012

Đề tài: “Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà Nội” luận văn thạc sĩ luật học của tác giả

Lê Xuân Tùng, năm 2016

Đề tài: “Thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự ở Việt Nam” , Luận án Tiến sĩ Luật học tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả Bùi Đức Tiến, năm 2018

Về tổng quan, các tình hình nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ một số vấn đề

về lý luận lẫn thực tiễn ở một số địa bàn trên cả nước về hoạt động ngành thi hành

án dân sự nói chung và biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng Tuy nhiên, các văn bản quy phạm về biện pháp cưỡng chế THADS gia tăng theo từng ngày, nên đòi hỏi phải luôn có sự cập nhật một cách liên tục

Khóa luận đi sâu vào nghiên cứu, phân tích về các hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự trên cơ sở lý luận từ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

Từ đó đánh giá thực trạng, thực tiễn áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự trong quá trình tổ chức cưỡng chế của Cơ quan thi hành án dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh Để thực hiện mục tiêu này, em đã đi sâu vào nghiên cứu và lập ra

2 nhiệm vụ chính để làm rõ

Thứ nhất, phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản và pháp lý về

cưỡng chế thi hành án dân sự

Thứ hai, đánh giá tình hình áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự

tại Thành phố Hồ Chí Minh, phân tích những kết quả đã đạt được và những hạn chế,

Trang 12

4

tồn đọng trong việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trên địa bàn từ thực tiễn Từ

đó, đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự

Bài viết sẽ mang đến cho người đọc cái nhìn toàn diện về hoạt động thi hành án của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, với sự cập nhật những quy định pháp luật mới nhất Bên cạnh đó, tác giả đã nghiên cứu, tiếp thu , kế thừa

và đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự hiện nay

để từ đó xác định những yếu tố để góp ý, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật

về cưỡng chế thi hành án dân sự và bảo đảm thực hiện pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, cải cách hành chính ở nước ta trong thời gian tới Hi vọng bài viết

sẽ đem lại những thông tin bổ ích đến cho người đọc

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài

Trong sự giới hạn nội dung của một Khóa luận tốt nghiệp, tác giả sẽ phân tích về các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự từ cái nhìn pháp lý đến cái nhìn thực tế Trong phần quy định của pháp luật về biện pháp cưỡng chế thi hành án dân

sự, đối tượng nghiên cứu là tổng hợp các quy định pháp luật hiện hành trong Luật thi hành án dân sự 2008, sửa đổi bổ sung 2014 và các thông tư, nghị định của Quốc Hội, Chính Phủ, Cơ quan Thi hành án Dân sự Việt Nam về hoạt động thi hành án nói chung và biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng Bên cạnh đem đến cho đọc giả những quy định hiện hành của pháp luật về biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, tác giả sẽ kết hợp phân tích các vấn đề về hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự trên thực tiễn từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự và hạn chế một số bất cập trong công tác thực hiện cưỡng chế thi hành án dân sự

4 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với đối tượng và nội dung nghiên cứu của đề tài trong điều kiện Việt Nam hiện nay, đó là: Phương pháp kế thừa; Phương pháp đối chiếu với văn bản pháp quy phạm pháp luật; Phương pháp thống kê; Phương pháp phân tích, so sánh và một số phương pháp kết hợp khác

Trang 13

Một là, nghiên cứu các quy định của pháp luật về các biện pháp cưỡng chế

THADS, trong đó tập trung vào các quy định pháp luật đang hiện hành

Hai là, phân tích và đánh giá thực tiễn áp dụng, thi hành pháp luật về các

biện pháp cưỡng chế THADS trong các trường hợp cụ thể

Ba là, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về

các biện pháp cưỡng chế THADS

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, bố cục khóa luận tốt nghiệp được chia làm hai chương:

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cưỡng chế thi hành án dân sự

Chương 2: Thực tiễn về hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự và kiến nghị

Trang 14

6

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái quát về cưỡng chế thi hành án dân sự

1.1.1 Khái niệm thi hành án dân sự:

Thi hành án dân sự là việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định về dân

sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay trên thực tế Theo quy định của Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành, việc tổ chức thi hành án dân sự phải tuân thủ các trình tự, thủ tục một cách nghiêm ngặt ngay từ khâu thụ lý, ra quyết định thi hành án đến quá trình tổ chức thi hành Luật thi hành án dân sự ra đời đáp ứng nhu cầu của các quan

hệ dân sự trong đời sống xã hội Trên cơ sở này, hoạt động thi hành án dân sự nhằm bảo vệ quyền và nghĩa vụ của đương sự, quyết định dân sự có hiệu lực của Toà án phải được đảm bảo thi hành theo những trình tự, thủ tục thi hành án dân sự Trên

tinh thần của Điều 106 luật Hiến pháp 2013 có đề cập “Bản án, quyết định của Toà

án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng;

cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.” đã nêu được

tầm quan trọng và cần thiết của hoạt động thi hành án dân sự, mang tính quyền lực nhà nước để bảo đảm cho hoạt động thực thi pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trước sự chây ỳ, chống đối

Thuật ngữ “thi hành án” xuất hiện nhưng không được định nghĩa cụ thể

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này do các nhà nghiên cứu đưa ra nhưng những ý kiến đó đều được thể hiện rõ ở hai quan điểm

Thứ nhất, quan điểm thứ nhất cho rằng thi hành án là một hoạt động của cơ

quan nhà nước, điều chỉnh và xử lý các bản án do cơ quan có thẩm quyền ban hành Trên tinh thần, có thể hiểu quan điểm này muốn đề cập đến một chuỗi hoạt động xét

xử vụ án của các cơ quan nhà nước, các hoạt động này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất và xét xử là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng, cho nên bản án, quyết định của toà án là kết quả cuối cùng đánh dấu sự kết thúc của quá trình tố tụng Cơ quan thi hành án thi hành các bản án, quyết định đã

có hiệu lực của Tòa án thuộc giai đoạn kế tiếp và không thuộc quá trình tố tụng

Đồng tình với quan điểm này, GS.TS Lê Minh Tâm cho rằng “Thi hành án có mục

đích khác với mục đích của tố tụng, tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của vụ việc

đã diễn ra trên thực tế, trên cơ sở đó đưa ra phương án giải quyết vụ việc theo đúng

Trang 15

7

quy định của pháp luật còn thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án dã có hiệu lực pháp lực" 2

Thứ hai, quan điểm này lại cho rằng thi hành án là một giai đoạn của tố

tụng vì "Có xét xử thì phải có thi hành án, thi hành án dựa trên cơ sở của của công

tác xét xử Xét xử và thi hành án là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ lợi ích của đương sự".3 Quan điểm này thừa nhận không phải mọi hoạt động trong quá trình thi hành án và quyết định của tòa án đều nằm trong phạm vi điều chỉnh của

Luật tố tụng nhưng lại cho rằng thi hành án "thực chất là hoạt động tố tụng của Tòa

án, của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nhằm bảo đảm cho bản án và quyết định của tòa án được thi hành một cách chính xác, kịp thời".4 Vì vậy, có thể nói công tác xét xử một vụ án của Tòa án là việc đi tìm chân lý và chân lý đó chỉ được thể hiện trên văn bản, giấy tờ Muốn nó trở thành hiện thực thì phải thông qua hoạt động thi hành án Quá trình đi tìm chân lý và hiện thực hóa chân lý trải dài trong suốt quá trình tố tụng đến khi chân lý được khẳng định trên thực tế thông qua hoạt động thi hành án

Theo quan điểm của tác giả, khái niệm thi hành án dân sự được thể hiện rất

rõ ràng và mang tính liên kết chặt chẽ thông qua quan điểm thứ hai Thi hành án là một giai đoạn tố tụng và là một sâu chuỗi liên kết với các cơ quan tố tụng để đưa một bản án, quyết định có hiệu lực trở nên hiện thực hóa và kết thúc một vụ việc Nếu tách hoạt động thi hành án ra khõi một quá trình tố tụng thì sẽ không thực hiện được mục tiêu chung của toàn bộ quá trình tố tụng Cơ quan thi hành án phải tác động vào người phải thi hành án để đối tượng này tự giác thực hiện nghĩa vụ của mình, trong trường hợp người phải thi hành án không có thiện chí, tự nguyện trong việc thi hành án thì bị áp dụng biện pháp cưỡng chế Từ đó có thể đưa ra kết luận

rằng “Khi chân lý được làm sáng tỏ thể hiện trong bản án, quyết định của Tòa án

thì mới dừng lại ở việc làm rõ đúng hay sao, phải hay trái trên văn bản, giấy tờ Muốn nó thực hiện trên thực tế, cần phải chờ ở hiệu quả của công tác thi hành án

Vì vậy, thi hành án dân sự là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử Ở giai đoạn này, cơ quan thi hành án áp dụng các biện pháp được pháp luật quy định để đưa

2 Lê Minh Tâm (2001), Cưỡng chế thi hành án dân sự, khóa luận cử nhân luật, tr.1

3 Nguyễn Công Bình - “Mấy vấn đề về thi hành án dân sự trong việc soạn thảo bộ luật tố tụng dân sự”, Tạp chí luật học, tr.43, 44

4 Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Trường đại học luật Hà Nội, Nxb CAND, Hà Nội 2000, tr.282

Trang 16

8

chân lý trở thành hiện thực trong đời sống thực tế Quá trình đi tìm chân lý kéo dài suốt quá trình tố tụng cho tới khi chân lý được khẳng định trên thực tế.”5

1.1.2 Khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự:

Cơ quan thi hành án, Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án có thể sử dụng nhiều phương pháp, cách thức để tổ chức thi hành sao cho đạt được hiệu quả cao nhất Nếu như tự nguyện thi hành án là một biện pháp đầu tiên, quan trọng để các Chấp hành viên thi hành bản án, quyết định của Tòa án, nó chứa đựng

sự tự nguyện của các đương sự trên cơ sở kỹ năng giải thích, thuyết phục… của Chấp hành viên thì cưỡng chế thi hành án lại chứa đựng những nội dung rất phức tạp, đòi hỏi Chấp hành viên phải sử dụng tổng hợp nhiều kỹ năng và phải tuân theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ

Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan thi hành án do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc đương sự (người phải thi hành án) phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành

án không tự nguyện thi hành án khi hết thời gian tự nguyện, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án hủy hoại, tẩu tán tài sản.6

Cưỡng chế thi hành án dân sự là một biện pháp nghiêm khắc, thể hiện quyền lực nhà nước, được Chấp hành viên áp dụng trong quá trình tổ chức thi hành

án để buộc người phải thi hành án thi hành bản án, quyết định mà tòa án đã tuyên, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Tuy nhiên trên thực tế hiện nay, việc tổ chức cưỡng chế không hề đơn giản, thường vấp phải sự khiếu kiện của người dân Vì vậy đòi hỏi Chấp hành viên cần nắm vững quy trình, kỹ năng tổ chức cưỡng chế cũng như nắm vững các quy định của Luật thi hành án dân sự và pháp luật có liên quan

1.1.3 Đặc điểm về cưỡng chế thi hành án dân sự:

Thứ nhất, cưỡng chế THADS là một biện pháp mang tính quyền lực nhà

nước Nó mang tính chất quyền uy thể hiện qua việc bắt buộc người phải thi hành

án phải thực hiện nghĩa vụ của mình được quy định trong bản án có hiệu lực Hoạt

5 Thông tin Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (chuyên đề: Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động thi hành án hiện nay), tr.8-9

6 Điều 46, Luật thi hành án dân sự 2008

Trang 17

9

động thi hành án dân sự mang tính hành chính – tư pháp nhằm thực hiện nhiệm vụ của nhà nước thông qua các quy định pháp luật trong lĩnh vực tư pháp, bảo đảm việc bản án được hiện thực hóa trên thực tế và các quyết định của Tòa án Hoạt động này được thực hiện bởi cơ quan Thi hành án dân sự và Chấp hành viên là chủ thể thực hiện quyền lực Nhà nước để thi hành bản án, quyết định theo quy định Để minh họa cho tính quyền lực của cơ quan thi hành án dân sự, tác giả xin đưa ra một bản án đã được áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh:

“ Tại HĐ 052122 (Hợp đồng có biện pháp bảo đảm) có nêu vợ chồng ông Lai vay ông Tuệ 1,2 tỷ đồng, có biện pháp bảo đảm là thế chấp căn nhà 93/44 Lũy Bán Bích (số mới 44 Trần Văn Cẩn); HĐ 052123 (Hợp đồng không có biện pháp bảo đảm), vợ chồng ông Lai vay ông Tuệ 2,762 tỷ đồng Cả hai Hợp đồng trên đều

có kỳ hạn 12 tháng và lãi suất 1,5%/tháng Đến ngày 19/11/2011 hết hạn hợp đồng,

vợ chồng ông Lai không thanh toán hết số vốn và lãi của khoản vay trên nên ông Tuệ khởi kiện ra TAND quận Tân Phú Theo bản án sơ thẩm số 191/2014/DS-ST (bản án số sơ thẩm), ngày 22/5/2014 của TAND quận Tân Phú đã tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc vợ chồng ông Lai thanh toán số tiền gốc và lãi của cả hai Hợp đồng vay tiền nêu trên (tổng cộng 3.915.730.000 đồng) Tuy nhiên, hết thời hạn tự nguyện thi hành án nhưng vợ chồng ông Lai vẫn không chịu thực hiện nghĩa vụ trả tiền Ngày 02/8/2017 Chi cục THADS quận Tân Phú ra Thông báo số 2985/TB-CCTHADS thông báo về việc cưỡng chế thi hành án vào sáng ngày 11/8/2017, Chi cục THA Dân sự quận Tân Phú đã tiến hành cho lực lượng cưỡng chế giao nhà số 93/44 Lũy bán Bích (số mới 44 Trần Văn Cẩn) để giao nhà đất cho người mua trúng đấu giá là ông Nguyễn Đức Huy”.7

Thứ hai, hoạt động cưỡng chế THADS được tiến hành theo những thủ tục

chặt chẽ và phù hợp với quy định của pháp luật Theo một quy trình tiến hành áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS, Chấp hành viên cần phải lên kế hoạch chặt chẽ

và kỹ lưỡng trước khi tiến hành biện pháp này Các thủ tục được quy định tại Điều

72 Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung 2014 như sau:

“Một là, trước khi tiến hành cưỡng chế thi hành án, Chấp hành viên phải

lập kế hoạch cưỡng chế, trừ trường hợp phải cưỡng chế ngay.

Hai là, kế hoạch cưỡng chế thi hành án bao gồm các nội dung chính sau

đây:

7 Thi hành án dân sự Ông Trương Hữu Lai, http://www.phapluatplus.vn/news/50790.amp

Trang 18

10

- Biện pháp cưỡng chế cần áp dụng;

- Thời gian, địa điểm cưỡng chế;

- Phương án tiến hành cưỡng chế;

- Yêu cầu về lực lượng tham gia và bảo vệ cưỡng chế;

- Dự trù chi phí cưỡng chế.

Ba là, kế hoạch cưỡng chế phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát, cơ quan

Công an cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế hoặc cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành án.

Bốn là, căn cứ vào kế hoạch cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự, cơ

quan Công an có trách nhiệm lập kế hoạch bảo vệ cưỡng chế, bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện trường, kịp thời ngăn chặn, xử

lý hành vi tẩu tán tài sản, hành vi cản trở, chống đối việc thi hành án, tạm giữ người chống đối, khởi tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm tội.”

Biện pháp cưỡng chế THADS là một biện pháp khắt khe và liên quan trực tiếp đến quyền nhân thân Vì vậy, Chấp hành viên phải nắm vững chuyên môn nghề nghiệp, sử dụng tổng hợp nhiều kỹ năng và phải tuân theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ

Thứ ba, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng linh hoạt ở

những thời điểm, địa điểm khác nhau nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tài sản trong quá

trình thi hành án “Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu

tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có quyền

áp dụng ngay các biện pháp quy định tại Chương IV của Luật này.” 8 hoặc hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án vẫn chây ỳ, không có thiện chí

thực hiện “Thời hạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi

hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án."9 Trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 45 có đề cập đến thời hạn là 15 ngày để người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ của mình đã được sửa đổi thành 10 ngày trong luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung 2014 Đây là một điểm bất hợp lý vì thời hạn thi hành án bị giảm đi dẫn đến việc tạo áp lực và gây khó khăn cho người phải thi hành

án thực hiện nghĩa vụ của mình Với khoảng thời gian là 10 ngày, người phải thi hành án chưa đủ điều kiện để thi hành bản án thì sẽ bị cơ quan thi hành án dân sự có

8 Khoản 2, Điều 45, Luật thi hành án dân sự 2008

9 Khoản 1, Điều 45, Luật thi hành án dân sự 2008

Trang 19

Thứ tư, Chấp hành viên là người có thẩm quyền ra quyết định thực hiện

biện pháp cưỡng chế THADS “Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm

vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự.”11 Chấp hành viên mang một trọng trách cực kì lớn vì thực hiện biện pháp cưỡng chế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của đương sự Để có được

sự công bằng và hiệu quả trong việc thực hiện biện pháp cưỡng chế THADS, đội ngũ Chấp hành viên phải thường xuyên được tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ

về công tác thi hành án dân sự nhằm thống nhất việc áp dụng pháp luật tại các cơ quan thi hành án dân sự địa phương trong cả nước; kịp thời tháo gỡ vướng mắc, xử

lý nghiêm những trường hợp vi phạm, góp phần đảm bảo chấp hành đúng pháp luật

và hoàn thành tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ về thi hành án dân sự “Khi áp dụng biện

pháp cưỡng chế này Chấp hành viên cần phải xem xét, đánh giá tình hình, nghiên cứu kỹ nội dung bản án, quyết định của tòa án Nếu thấy những điểm nào chưa rõ ràng, Chấp hành viên phải tham mưu kịp thời cho Thủ trưởng đơn vị có văn bản yêu cầu tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích Nếu trong văn bản giải thích của Tòa án vẫn chưa rõ ràng, thì Chấp hành viên đề xuất Thủ trưởng có văn bản kiến nghị cơ quan, cá nhân có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục Tái thẩm hoặc Giám đốc thẩm bản án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được thi hành án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.” 12 Ngoài ra, cơ quan thi hành án dân sự phải củng cố, kiện toàn về tổ chức bộ máy, biên chế, nâng cao năng lực, rèn luyện

10 Báo Pháp Luật (2017), “Chuyển quyền sử dụng tài sản khi đang chấp hành nghĩa vụ thi hành án”

11 Điều 17, Luật thi hành án dân sự 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014

12 www.vksndtc.gov.vn/tin-chi-tiet-6319

Trang 20

12

phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ chấp hành viên làm công tác thi hành án dân sự

1.1.4 Nguyên tắc cưỡng chế thi hành án dân sự:

Hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự thực sự là một biện pháp nghiêm khắc nhất trong quá trình xử lý một vụ việc tố tụng Nó mang tính quyền uy của nhà nước, bắt buộc người phải thi hành án thực hiện đúng phần nghĩa vụ và trách nhiệm của mình Vì vậy, trong quá trình thực hiện biện pháp cưỡng chế THADS đòi hỏi Chấp hành viên phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, xử lý tốt tình huống, không được áp dụng tùy tiện mà phải luôn tuân thủ theo những nguyên tắc mà pháp luật quy định tại Điều 20, 46 Luật THADS và Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-

CP Cụ thể là:

Nguyên tắc thứ nhất, điều kiện để áp dụng biện pháp cưỡng chế là hết thời

hạn tự nguyện thi hành án, người phải thi hành án có điều kiện mà không thực hiện

phần nghĩa vụ của mình được quy định trong bản án sẽ bị cưỡng chế “Hết thời hạn

quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật này, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.”13 Tuy nhiên, Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự bất kể lúc nào khi phát hiện có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc các hoạt động khác nhằm trốn

tránh việc thi hành án của người phải thi hành án “Trường hợp cần ngăn chặn

người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên áp dụng ngay biện pháp quy định tại Chương IV của Luật này.”14 Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự tuy nghiêm khắc, cứng rắn nhưng pháp luật vẫn tôn trọng và đề cao quyền nhân thân, quyền con người của người bị cưỡng chế Tính nhân đạo của pháp luật thể hiện qua khoản 2, điều 13 nghị định 62/2015/NĐ-CP và khoản 2, điều 46 luật THADS 2008, sửa đổi

bổ sung 2014 “Không tổ chức cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến

06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định.” Nói chung, nguyên tắc này

quy định rõ ràng và chi tiết các trường hợp cần phải áp dụng biện pháp cưỡng chế, không được áp dụng tùy tiện, bừa bãi mà phải được thực hiện theo đúng phạm vi quy định của pháp luật

13 Khoản 1, Điều 46, Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung 2014

14 Khoản 2, Điều 45, Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung 2014

Trang 21

13

Nguyên tắc thứ hai, việc tổ chức cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với

phần nghĩa vụ của người phải thi hành án căn cứ vào bản án, quyết định và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Nguyên tắc này đòi hỏi rất cao về mặt chuyên môn nghiệp

vụ của Chấp hành viên Chấp hành viên phải quyết định đúng đắn và ước tính được giá trị tài sản làm cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án Việc tổ chức cưỡng chế có thuận lợi hay không, có đảm bảo tình hình trật tự an ninh xã hội hay không đều phụ thuộc vào việc Chấp hành viên áp dụng thống nhất và chặt chẽ nguyên tắc này trên thực tế Để làm rõ hơn về nguyên tắc này, tác giả sẽ nêu một ví

dụ minh họa để dẫn chứng cho tầm quan trọng của việc tổ chức cưỡng chế thi hành

án phải tương ứng với phần nghĩa vụ của người phải thi hành án:

“A và B cùng mua chung một thửa đất 200m2, số tiền mà A và B bỏ ra là bằng nhau Trong đó, A là người phải thi hành án Như vậy, ta dễ dàng xác định được phần sở hữu chung của A là 1/2 giá trị thửa đất Tuy nhiên, để kê biên 1/2 thửa đất trên là tương đối khó khăn đối với chấp hành viên kể cả trường hợp phân chia không làm giảm giá trị của thửa đất Vì để kê biên phần đất của A thì chấp hành viên phải xác định được phần đất của A ở chỗ nào, tứ cận ra sao Mặc dù khi chia thì A và B mỗi người được 100m2, nhưng rõ ràng trên thực tế, vị trí hai thửa đất

sẽ có giá trị khác nhau.”15 Xét thấy, việc khiếu nại của A và B rất dễ phát sinh (trừ trường hợp có thể thỏa thuận được) Chính vì vậy, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng với phần sở hữu của người phải thi hành án thường chỉ được chấp hành viên áp dụng khi tài sản rõ ràng, dễ phân chia, đã được phân chia theo bản án, quyết định hoặc do các đương sự thỏa thuận

Nguyên tắc thứ ba, Chấp hành viên chỉ được áp dụng các biện pháp cưỡng

chế được quy định tại Điều 71, Luật thi hành án dân sự 2008 Điều 71 Luật THADS

2008 có quy định rõ ràng sáu biện pháp cưỡng chế THADS Tùy vào trường hợp và bản án đã tuyên có hiệu lực, Chấp hành viên căn cứ vào đó để lựa chọn biện pháp cưỡng chế cho phù hợp với từng loại nghĩa vụ được quy định trong bản án Việc lựa chọn biện pháp cưỡng chế THADS là rất quan trọng đối với những trường hợp cần phải cưỡng chế Vì vậy, Chấp hành viên cần tuân thủ đúng quy định của pháp luật

để làm căn cứ áp dụng các biện pháp cưỡng chế THADS

Ví dụ: Trong trường hợp người phải thi hành án có nghĩa vụ phải thanh toán

nợ cho người được thi hành án, nếu Chấp hành viên xác minh được người phải thi

15 hanh-an-mot-so-van-de-tu-thuc-tien

Trang 22

https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/ke-bien-xu-ly-tai-san-thuoc-so-huu-chung-cua-nguoi-phai-thi-14

hành án có mở tài khoản tại ngân hàng và số tiền trong tài khoản đủ để thanh toán phần nghĩa vụ của người phải thi hành án thì Chấp hành viên sẽ tiến hành áp dụng biện pháp “Khẩu trừ tiền trong tài khoản” được quy định tại Điều 71 Luật THADS

2008

1.2 Pháp luật về cưỡng chế thi hành án dân sự

1.2.1 Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự

Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự

Như đã nói ở phần nguyên tắc, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự mang tính nghiêm khắc, vì vậy Chấp hành viên không được tùy tiện áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế thi hành án phải dựa trên 6 nguyên tắc mà pháp luật đã đề ra Để giải quyết việc thi hành án thì Chấp hành viên có thể lựa chọn một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế để thi hành án Tại điều 71 Luật thi hành án dân sự 2008 có đề cập rất rõ ràng và chi tiết 6 biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự như sau:

Một là, khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của

người phải thi hành án.16Biện pháp này được Chấp hành viên áp dụng với mục đích giải quyết trực tiếp nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án thông qua việc khấu trừ tiền trong tài khoản hoặc thu hồi trực tiếp tiền của người phải thi hành án Chấp hành viên ra quyết định thu tiền nếu có căn cứ xác định được khoản tiền đó là của người phải thi hành án hoặc khấu trừ trực tiếp vào tài khoản của người phải thi hành án Nội dung của biện pháp được quy định tại điều 21 Nghị định 62/1025/NĐ/CP và điều 76, điều 80 Luật thi hành án dân sự 2008 Về biện pháp xử

lý giấy tờ có giá của người phải thi hành án được quy định tại điều 82, điều 83 Luật thi hành án dân sự 2008 áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có nắm giữ giấy tờ có giá Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế thu hồi giấy tờ có giá của người phải thi hành án để thực hiện nghĩa vụ thi hành án Trường hợp người phải thi hành án không giao giấy tờ có giá thì Chấp hành viên có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền chuyển giao giá trị của giấy tờ để thực hiện nghĩa vụ thi hành

án

16 Khoản 1, Điều 71, Luật THADS 2008

Trang 23

15

Ví dụ minh họa: Chi cục Thi hành án dân sự quận 1 ra quyết định thi hành bản án của TAND quận I, buộc Công ty cổ phần đầu tư giải trí Phước Sang là ông Lưu Phước Sang, bà Phạm Thị Kim Thư và 3 người liên quan khác phải trả cho Ngân hàng Á Châu (ACB) số tiền hơn 113 tỷ đồng cùng lãi suất phát sinh Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất của các đương sự này tại huyện Long Thành, Đồng Nai, trong đó có số tiền phát sinh 2,7 tỷ đồng được đền bù quyền sử dụng đất đang được đứng tên tài khoản bởi Trung tâm phát triển quỹ đất huyện Long Thành, mở tại VietinBank Đồng Nai Do đương sự không tự nguyện thi hành án, Chi cục thi hành án quận 1 xác minh và tiến hành khấu trừ số tiền này của ông Phước Sang, bà Kim Thư và ông Thiện Hậu được đền bù từ việc thu hồi quyền sử dụng đất Ngày 18/5, Chi cục giao quyết định khấu trừ cho phía ngân hàng.17

Hai là, trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.18 Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án đối với các khoản như: tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác Việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện trong các trường hợp: Theo thỏa thuận của đương sự; Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án Mức khấu trừ không được vượt quá 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành

án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác có trách nhiệm thực hiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.19 Ngoài ra nội dung, thủ tục và hồ sơ còn được Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN quy định rất rõ ràng tại điều 11, điều 12

Ví dụ minh họa: Bản án tuyên ông A và bà B (là 2 vợ chồng) được hưởng 300m2 đất và phải chịu 3.000.000 đồng án phí (không tuyên là nghĩa vụ liên đới, không tuyên rõ phần của từng người) Bà B đã chết và không có di chúc nên cơ

17 3416818.html

https://vnexpress.net/kinh-doanh/tranh-cai-quanh-viec-vietinbank-khong-chiu-thi-hanh-an-voi-phuoc-sang-18 Khoản 2, Điều 71, Luật THADS 2008

19 Điều 78 Luật thi hành án dân sự 2008

Trang 24

16

quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án mới buộc ông A và 3 người con

(của ông A, bà B) phải thi hành 3.000.000 đồng án phí Hiện nay ông A và các con

đều không tự nguyện thi hành án Chấp hành viên xác minh thấy ông A có nhà đất

và lương hưu, các con đều buôn bán nhỏ Chấp hành viên nhận thấy người phải thi

hành án có tài sản là quyền sử dụng đất có giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải thi

hành án và ông A có thu nhập ổn định Vì vậy, Chấp hành viên áp dụng biện pháp

cưỡng chế trừ vào thu nhập của ông A để thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo điểm c

khoản 2 Điều 78 nêu trên.20

Ba là, kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang

do người thứ ba giữ.21 Đây là biện pháp mà Chấp hành viên áp dụng nhằm xử lý,

kê biên tài sản của người thi hành án, kể cả tài sản do người thứ ba giữ để thực hiện

nghĩa vụ thi hành án Biện pháp này cụ thể là kê biên quyền sử dụng đất được quy

định tại điều 110-113 Luật thi hành án dân sự 2008 Chấp hành viên chỉ được kê

biên quyền sử dụng đất mà người phải thi hành án nắm giữ giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất Nếu không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà người phải thi

hành án thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cơ quan

có thẩm quyền phải cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người phải thi hành

án để tiến hành kê biên theo quy định cấp tại điều 100, điều 101 Luật đất đai 2013

Nếu người phải thi hành án có tài sản gắn liền với đất bị kê biên thì Chấp hành viên

phải kê biên luôn cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất Nếu tài sản gắn

liền với đất không thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án thì Chấp hành

viên phải thông báo cho người sở hữu tài sản đó

Ví dụ minh họa: Theo Bản án số 305/DSST ngày 03/7/2015 của TAND

huyện X thì bà Nguyễn Thị B, trú tại: thôn V, xã Y, huyện X, phải thanh toán trả bà

Nguyễn Thị A số tiền: 3.000.000.000đ (ba tỷ đồng) Kết quả xác minh điều kiện thi

hành án cho thấy bà B có tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 70m2 tại thửa đất số

321, tờ bản đồ số 3 ở thôn V, xã Y, huyện X Bà Nguyễn Thị B có đơn đề nghị cơ

quan THADS kê biên mảnh đất nói trên để thi hành án trả bà A Cơ quan THADS

đã tiến hành kê biên quyền sử dụng đất và áp dụng quy định tại Điều 58; Điều 112

Luật THADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 tạm giao tài sản kê biên cho người phải thi

Trang 25

17

Bốn là, khai thác tài sản của người phải thi hành án.23Biện pháp này được

quy định tại điều 107 Luật thi hành án dân sự 2008 “Chấp hành viên cưỡng chế

khai thác tài sản trong trường hợp tài sản của người phải thi hành án có giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải thi hành và tài sản đó có thể khai thác để thi hành án hoặc người được thi hành án đồng ý cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án nếu việc khai thác tài sản không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba”

Đối với tài sản khai thác phải thuộc các hình thức được quy định tại điều 108 Luật

thi hành án dân sự 2008 như sau “Tài sản mà người phải thi hành án đang trực tiếp

khai thác hoặc cho người khác khai thác thì người đang khai thác được tiếp tục khai thác; Trường hợp tài sản, bao gồm cả quyền sử dụng đất mà chưa khai thác thì chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án ký hợp đồng khai thác tài sản với tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác tài sản”

Ví dụ minh họa: Ông A phải thi hành trả khoản nợ cho ông B là 50 triệu đồng, trong khi đó ông A chỉ có tài sản duy nhất là căn nhà có diện tích 300m2 theo đơn giá do cơ quan tài chính cung cấp và tham khảo mức giá ở địa phương thì tài sản trên có giá khoảng 500 triệu đồng Như vậy, giá trị tài sản của ông A lớn hơn rất nhiều lần nghĩa vụ phải thi hành Do đó, việc kê biên tài sản sẽ không tương ứng với nghĩa vụ thi hành án, nên chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản nếu có đủ các điều kiện theo quy định

Năm là, buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.24 Biện pháp này buộc người phải thi hành án chuyển giao quyền sử dụng của vật, tài sản hoặc giấy tờ mà người phải thi hành án sở hữu nhằm thực hiện nghĩa vụ thi hành án Căn cứ vào đối tượng áp dụng biện pháp cưỡng chế là vật để thi hành nghĩa vụ trả vật theo nội dung được ghi cụ thể trong bản án, quyết định, có thể phân loại thành

04 biện pháp cưỡng chế như:

Thứ nhất, biện pháp chuyển giao vật đặc định được Chấp hành viên yêu cầu

người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng trả vật cho người được thi hành án; nếu người đó không thi hành thì chấp hành viên thu hồi vật để trả cho người được thi hành án Đối với vật cùng loại thì chấp hành viên thực hiện việc cưỡng chế

23 Khoản 4, Điều 71, Luật THADS 2008

24 Khoản 5, Điều 71, Luật THADS 2008

Trang 26

18

theo nội dung bản án, quyết định Trường hợp vật phải trả không còn hoặc bị hư hỏng, giảm giá trị thì xử lý theo thỏa thuận của đương sự25

Thứ hai, biện pháp chuyển giao quyền tài sản, cụ thể là trả nhà, giao nhà

được quy định tại điều 115 Luật thi hành án dân sự 2008 Trường hợp người phải thi hành án có nghĩa vụ trả nhà thì chấp hành viên buộc người phải thi hành án và những người khác có mặt trong nhà ra khỏi nhà, đồng thời yêu cầu họ tự chuyển tài sản ra khỏi nhà; nếu họ không tự nguyện thực hiện thì chấp hành viên yêu cầu lực lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra khỏi nhà Trường hợp cưỡng chế giao nhà

là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người mua được tài sản bán đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, chấp hành viên trích lại từ số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà phù hợp với giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm Nghĩa vụ thi hành án còn lại được tiếp tục thực hiện theo quy định.26

Thứ ba, biện pháp cưỡng chế trả giấy tờ là việc Chấp hành viên ra quyết

định cưỡng chế buộc người phải thi hành án trả giấy tờ cho người được thi hành án Trường hợp xác định người thứ ba đang giữ giấy tờ phải trả thì chấp hành viên yêu cầu người đó giao giấy tờ đang giữ, nếu người thứ ba không tự nguyện giao thì chấp hành viên cưỡng chế buộc người đó giao giấy tờ để thi hành án Trường hợp giấy tờ không thể thu hồi được nhưng có thể cấp lại thì chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra quyết định hủy giấy tờ đó và cấp giấy tờ mới cho người được thi hành án.27

Ví dụ minh họa: Trong một vụ tranh chấp hợp đồng dân sự giữa bà Nguyễn Thị S với bà Huỳnh Thị H được Tòa án nhân dân tỉnh H tuyên tại bản án sô 20/DSPT ngày 25/3/2009: “Buộc bà vợ chồng bà H phải trả căn nhà số 195 đường

K và bản gốc giấy chứng nhận quyền sở hữu căn nhà đó cho bà nguyễn Thị bà S” Sau khi án có hiệu lực thi hành, bà S có đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành

án thi hành án thụ lý và ra quyết định thi hành án Việc tổ chức thi hành án được thực hiện theo đúng quy trình pháp luật nhưng vợ chồng bà H không tự nguyện thi hành, nên cơ quan thi hành án tiến hành cưỡng chế thi hành án giao nhà theo quy

25 Điều 114 Văn bản hợp nhất số 13/VBHN-VPQH Luật thi hành án dân sự

26 Điều 115 Luật thi hành án dân sự 2008

27 Điều 116 Văn bản hợp nhất số 13/VBHN-VPQH Luật thi hành án dân sự

Trang 27

19

định tại điều 115 Luật Thi hành án dân sự và buộc vợ chồng bà H giao trả bản gốc giấy chứng nhận quyền sở hữu căn nhà đó

Sáu là, buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện

công việc nhất định.28Biện pháp này được chia thành 2 loại:

Thứ nhất, biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc

nhất định: Biện pháp này được quy định tại Điều 118 Luật Thi hành án dân sự năm

2008 Trường hợp thi hành nghĩa vụ phải thực hiện công việc nhất định theo bản án, quyết định mà người phải thi hành án không thực hiện thì chấp hành viên quyết 15 định phạt tiền và ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó thực hiện nghĩa vụ thi hành án Hết thời hạn đã ấn định mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thi hành án: Nếu công việc đó có thể giao cho người khác thực hiện thay thì chấp hành viên giao cho người có điều kiện thực hiện; chi phí thực hiện do người phải thi hành án chịu Trường hợp công việc đó phải do chính người phải thi hành án thực hiện thì chấp hành viên đề nghị cơ quan

có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án29

Thứ hai, biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công

việc nhất định: Biện pháp này được quy định tại Điều 119 Luật Thi hành án dân sự

2008 Người phải thi hành án không tự nguyện chấm dứt việc thực hiện công việc

mà theo bản án, quyết định không được thực hiện thì chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người đó, trong trường hợp cần thiết có thể yêu cầu họ khôi phục hiện trạng ban đầu Trường hợp người đó vẫn không chấm dứt công việc không được làm, không khôi phục lại hiện trạng ban đầu thì chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án30

Để giải quyết một vụ việc thi hành án dân sự, Chấp hành viên có thể áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế cùng một lúc trong số 6 biện pháp được phân tích trên Việc áp dụng một hay nhiều biện pháp tùy thuộc vào từng loại nghĩa

vụ và đối tượng khác nhau của vụ việc đó Chấp hành viên căn cứ vào nội dung bản

án, quyết định; tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án; đề nghị của đương sự và tình hình thực tế của địa phương để lựa chọn việc

áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp theo quy định tại khoản 1 điều

28 Khoản 6, Điều 71, Luật THADS 2008

29 Điều 118 Luật thi hành án dân sự 2008

30 Điều 119 Luật thi hành án dân sự 2008

Trang 28

20

13 Nghị định 62/2015/NĐ-CP “Việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi

hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 24 Nghị định này Trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế để thi hành án.”

Ví dụ minh họa: Theo bản án có hiệu lực thi hành thì ông A có nghĩa vụ phải mở lối đi cho ông B Tuy nhiên ông A cố chấp, chây ỳ không chịu thực hiện phần nghĩa vụ thi hành án của mình nên Chấp hành viên đã ra quyết định cưỡng chế bắt buộc ông A phải thực hiện việc mở lối đi cho ông B

Phân biệt biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự và biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

Để hiểu rõ hơn về các nghiệp vụ của hoạt động thi hành án dân sự, tác giả

sẽ phân tích và làm rõ điểm khác biệt giữa biện pháp cưỡng chế THADS và biện pháp bảo đảm THADS Một bản án, quyết định có hiệu lực có được thực thi hay không đều tùy thuộc vào người phải thi hành án có đủ điều kiện để thi hành án hay không Tuy nhiên, nếu đáp ứng được tiêu chí người phải thi hành án đủ điều kiện để thi hành thì chưa hẳn bản án, quyết định được thi thực thi nếu không có các biện pháp bảo đảm Vậy biện pháp bảo đảm THADS là gì?

“Biện pháp bảo đảm là biện pháp lý đặt tài sản của nguời phải thi hành án trong tình trạng bị hạn chế hoặc cấm sử dụng, định đoạt nhằm ngăn chặn việc người phải thi hành án tẩu tán, định đoạt tài sản, trốn tránh việc phải thi hành án

và đôn đốc họ phải tự nguyện phải thi hành án của mình, do chấp hành viên áp dụng trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế.” 31 Nói cách khác, biện pháp bảo

đảm thi hành án là một hoạt động được Chấp hành viên áp dụng theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm đặt tài sản của người phải thi hành án vào tình trạng hạn chế sử dụng, khai thác, chuyển dịch để bảo đảm cho nghĩa vụ thi hành án Biện pháp bảo đảm THADS đóng vai trò cực kì quan trọng trong công tác thi hành

án, nó giúp ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản và là tiền đề cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS

31 Giáo trình luật thi hành án dân sự Đại học luật Hà Nội, tr.259

Trang 29

21

Theo quy định tại khoản 3 Điều 66 luật thi hành án dân sự 2008 thì biện pháp bảo đảm THADS gồm có 3 biện pháp:

Một là, Phong tỏa tài khoản Biện pháp phong tỏa tài khoảng được Chấp

hành viên áp dùng nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tiền dưới mọi hình thức trong tài khoản của người phải thi hành án Đây là một biện pháp rất tiến bộ, nó phù hợp với nền kinh tế xã hội hiện đại và giúp công tác thi hành án dân sự trở nên thuận lợi và

dễ dàng hơn trong việc thực hiện biện pháp bảo đảm THADS Về trình tự và thủ tục thực hiện biện pháp phong tỏa tài khoản được pháp luật quy định tại Điều 20 Nghị định 62/2015/NĐ-CP

Hai là, Tạm giữ tài sản, giấy tờ Theo quy định tại khoản 27 Điều 1 Luật thi

hành án dân sự sửa đổi bổ sung 2014 “ Chấp hành viên đang thực hiện nhiệm vụ thi hành án có quyền tạm giữ tài sản, giấy tờ liên quan đến việc thi hành án mà đương

sự, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý, sử dụng Cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ, thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên trong

thi hành án mà còn có thể áp dụng cho người được thi hành án nếu họ đang quản lý,

sử dụng tài sản, giấy tờ của người phải thi hành án Trình tự, thủ tục của biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ được quy định cụ thể ở Điều 18 Nghị định 62/2015/NĐ-CP

Ba là, Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản

Khi một bản án, quyết định có hiệu lực cũng là lúc đương sự đăng ký, chuyển dịch hoặc thay đổi hiện trạng tài sản nhằm tẩu tán, phá hoại tài sản gây bất lợi cho người được thi hành án và cản trở hoạt động thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự Chấp hành viên áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản nhằm mục đích ngăn chặn và khắc phục việc đương sự có hành

vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm này phải

tuân theo quy định tại Điều 19 Nghị định 62/2015/NĐ-CP “Kể từ thời điểm nhận

được quyết định về việc tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản, cơ quan đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng và các cơ quan,

tổ chức, cá nhân có liên quan không được thực hiện việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng hoặc thay đổi hiện trạng tài sản cho đến khi nhận được quyết định của Chấp hành viên về chấm dứt việc tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản.”

Trang 30

22

Trên đây là những phân tích khái quát về biện pháp bảo đảm THADS để làm nền tảng phân biệt với biện pháp cưỡng chế THADS Hai biện pháp này là những hoạt động cốt lõi trong ngành thi hành án dân sự vì vậy không chỉ Chấp hành viên mà người dân và các tổ chức cần phải nắm rõ những kiến thức cơ bản về hai biện pháp nhằm chấp hành tốt và phục vụ cho lợi ích của bản thân Để nắm vững một cách tổng quát về hai biện pháp này, tác giả sẽ trình bày những điểm khác biệt

cơ bản nhằm phân biệt hai biện pháp này

Thứ nhất, về điều kiện áp dụng Đối với biện pháp bảo đảm THADS, Chấp

hành viên có thể áp dụng biện pháp này khi có đủ 2 điều kiện như: Bản án, quyết định có hiệu lực thi hành án và Chấp hành viên chủ động áp dụng khi phát hiện thấy đương sự có hành vi tẩu tán, phá hoại tài sản nhằm trốn tránh việc thi hành án Đối với biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, điều kiện để có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế được quy định rất cụ thể qua chặt chẽ tại Điều 70 Luật thi hành án dân sự

2008 Chấp hành viên không được tùy tiện áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự mà cần phải có đủ những điều kiện được quy định như: Một là bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực thi hành án32, hai là phải có quyết định thi hành án33,

ba là sau khi người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ thông thường là 15 ngày, người phải thi hành án có đủ điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì cơ quan thi hành án sẽ ra quyết định cưỡng chế thi hành án.34

Thứ hai, về đối tượng áp dụng Đối tượng áp dụng của biện pháp bảo đảm

THADS nhắm đến là tài sản Trong khi đối tượng của biện pháp cưỡng chế THADS ngoài đối tượng là tài sản thì biện pháp cưỡng chế còn điều chỉnh cả đối tượng là hành vi (biện pháp buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định) Vì vậy có thể thấy đổi tượng điều chỉnh của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự có phạm vi rộng hơn và phức tạp hơn rất nhiều so với biện pháp bảm đảm thi hành án dân sự

Thứ ba, về tính chất, mức độ Cả hai biện pháp đều mang tính chất quyền

uy, thể hiện quyền lực nhà nước Tuy nhiên, biện pháp bảo đảm THADS vẫn có phần nhẹ hơn việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS Ở biện pháp bảo đảm THADS, tài sản bảo đảm chỉ bị đặt trong tình trạng hạn chế nhưng vẫn thuộc quyền

sở hữu của người phải thi hành án Vì vậy, Chấp hành viên thực hiện biện pháp này

32 Điều 2 Luật THADS 2008

33 Điều 36 Luật THADS 2008

34 Khoản 1 Điều 46 Luật THADS 2008

Trang 31

23

mà không cần phải báo trước cho người phải thi hành án Biện pháp cưỡng chế THADS sử dụng quyền lực nhà nước một cách triệt để nhằm tước cả quyền sở hữu của người phải thi hành án để thực hiện nghĩa vụ thi hành án (trừ trường hợp tài sản

là đối tượng phải thi hành án có giá trị lớn hơn so với nghĩa vụ thi hành án thì người phải thi hành án sẽ vẫn sở hữu phần tài sản còn lại) Tóm lại, biện pháp cưỡng chế THADS mang tính chất mạnh mẽ và triệt để hơn biện pháp bảo đảm THADS Biện pháp cưỡng chế THADS đã thể hiện rõ mục đích duy trì trật tự xã hội của nhà nước

và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể liên quan trong thi hành án trước sự chây ỳ, chống đối

1.2.2 Thẩm quyền cưỡng chế thi hành án dân sự

Theo quy định tại khoản 1, Điều 13, nghị định 62/2015/NĐ-CP “Chấp hành viên căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết định thi hành án; tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án; yêu cầu bằng văn bản của đương sự và tình hình thực tế của địa phương để lựa chọn việc áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án trong trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại Điều 130 Luật Thi hành án dân sự.” thì thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng

chế thi hành án dân sự là Chấp hành viên

Chấp hành viên là người thực thi quyền lực nhà nước trong hoạt động thi hành án nói chung và hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm Chấp hành viên được phân chia thành 3 ngạch là: Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp Tiêu chuẩn bổ nhiệm Chấp hành viên được pháp luật thi hành án quy định rất cụ thể thông qua điều 18, luật thi hành án dân sự 2008

Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS nằm trong nhiệm vụ và quyền hạn của Chấp hành viên Chấp hành viên có quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án Chấp hành viên được phân chia thành 3 ngạch nhưng luật thi hành án dân sự và các thông tư, nghị định của Chính phủ vẫn chưa quy định rõ ràng việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS thuộc thẩm quyền xử

lý của ngạch Chấp hành viên nào Việc phân chia này được pháp luật quy định nhưng vẫn chưa đạt được mục đích cụ thể của sự phân ngạch này trong việc áp

Trang 32

phương cần phải có sự can thiệp của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự “Trong

trường hợp cần thiết, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu báo cáo Tư lệnh quân khu và tương đương ít nhất là 05 ngày làm việc trước khi tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa bàn theo quy định tại Khoản 1 Điều 172, Khoản 2 Điều 173 và Khoản 2 Điều 174 của Luật Thi hành án dân sự.”35

1.2.3 Chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự

Chi phí cưỡng chế thi hành án là các khoản chi phí do người phải thi hành

án chịu để tổ chức cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp pháp luật quy định chi phí cưỡng chế thi hành án do người được thi hành án hoặc do ngân sách nhà nước chi trả.36 Tuy nhiên, chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự còn tùy thuộc vào trường hợp thi hành án mới có thể xác định được chủ thể phải chịu chi phí cưỡng chế Theo thông tư 200/2016/TT-BTC quy định các đối tượng phải chịu chi phí cưỡng chế THADS như sau:

Thứ nhất, Chi phí cưỡng chế thi hành án do người phải thi hành án chịu

Người phải thi hành án phải chịu các khoản chi phí cưỡng chế được quy định tại Điều 4 Thông tư 200/2016/TT-BTC như sau:

Một là, chi phí thông báo về cưỡng chế Chi phí thông báo về cưỡng chế

bao gồm các khoản: Chi phí thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình, đài phát thanh, báo chí); Chi bồi dưỡng cho những người trực tiếp thực hiện thông báo cưỡng chế thi hành án (cán bộ thi hành án, đại diện chính quyền địa phương, đại diện tổ chức xã hội và các thành phần khác)

35 Khoản 3, điều 13, Nghị định 62/2015/NĐ-CP

36 Khoản 8 Điều 3 Luật thi hành án dân sự 2008

Trang 33

25

Hai là, chi phí mua nguyên liệu, nhiên liệu; thuê phương tiện, thiết bị bảo

vệ, y tế, phòng, chống cháy, nổ, các thiết bị, phương tiện cần thiết khác cho việc cưỡng chế thi hành án

Ba là, chi phí cho việc định giá, định giá lại tài sản, giám định tài sản, bán

đấu giá tài sản Trong phần chi phí này quy định chi tiết từng trường hợp phải chịu chi phí như: Chi phí định giá, định giá lại tài sản; chi bồi dưỡng cho các thành viên họp xác định giá, xác định giá lại tài sản; chi phí giám định tài sản và một số khoản chi thực tế hợp pháp để thực hiện việc giám định tài sản; chi phí bán đấu giá tài sản

Bốn là, chi phí cho việc thuê, trông coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ,

vận chuyển tài sản; chi phí thuê nhân công và khoản chi phục vụ cho việc xây ngăn, phá dỡ; chi thuê đo đạc, xác định mốc giới để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án

Năm là, chi phí cho việc tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ, tài liệu Chi phí

cho việc tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ, tài liệu bao gồm 2 khoản chi chính: Chi thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, thuê địa điểm và các khoản chi phí thực tế hợp pháp khác phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện biện pháp bảo đảm tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ, tài liệu; Chi bồi dưỡng cho các đối tượng trực tiếp thực hiện quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm tạm giữ, thu giữ tài sản, giấy tờ, tài liệu

Sáu là, chi tiền bồi dưỡng cho những người trực tiếp tham gia cưỡng chế và

bảo vệ cưỡng chế thi hành án Chi phí này được quy định chi tiết tại Điểm a Khoản

2 Điều 43 của nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/07/2015

Bảy là, chi phí kê biên, xử lý tài sản quy định tại khoản 4 Điều 17 Nghị

định số 62/2015/NĐ-CP tương ứng với tỷ lệ số tiền, tài sản mà họ thực nhận

Tám là, các khoản chi phí khác do pháp luật quy định nhằm phục vụ cho

hoạt động cưỡng chế THADS

Thứ hai, Chi phí cưỡng chế thi hành án do người được thi hành án chịu

Người được thi hành án phải chịu 4 loại chi phí được quy định tại Điều 5 của thông

tư 200/2016/TT-BTC bao gồm:

Một là, chi phí định giá lại tài sản quy định tại điểm a khoản 3 Điều 4

Thông tư này nếu người được thi hành án yêu cầu định giá lại, trừ trường hợp định giá lại do có vi phạm quy định về định giá

Trang 34

26

Hai là, một phần hoặc toàn bộ chi phí xây ngăn, phá dỡ trong trường hợp

bản án, quyết định xác định người được thi hành án phải chịu chi phí xây ngăn, phá dỡ

Ba là, chi phí kê biên, xử lý tài sản quy định tại khoản 4 Điều 17 Nghị định

số 62/2015/NĐ-CP tương ứng với tỷ lệ số tiền, tài sản mà họ thực nhận

Bốn là, trường hợp người được thi hành án yêu cầu cơ quan thi hành án áp

dụng biện pháp bảo đảm thi hành án không đúng thì người đó phải thanh toán các khoản chi phí thực tế do việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án đó

Thứ ba, Chi phí cưỡng chế thi hành án do người thứ ba chịu Người thứ ba

chịu các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án trong các trường hợp sau đây:

Một là, người thứ ba đang quản lý tài sản không tự nguyện giao tài sản cho

người mua được tài sản bán đấu giá mà bị cưỡng chế thi hành án thì phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án trong trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 17 Nghị định

số 62/2015/NĐ-CP

Hai là, người thứ ba là tổ chức, cá nhân đang giữ tiền, tài sản của người

phải thi hành án phải chịu chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 23 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP

Thứ tư, các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án do ngân sách nhà nước

bảo đảm Các khoản chi phí do nhà nước bảo đảm được quy định tại Điều 7 thông

tư 200/2016/TT-BTC như sau:

Một là, chi phí quy định tại khoản 3 Điều 73 Luật Thi hành án dân sự 2008,

sửa đổi bổ sung 2014 bao gồm: Định giá lại tài sản khi có vi phạm quy định về định giá; chi phí xác minh điều kiện thi hành án trong trường hợp chủ động thi hành án quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật này; trường hợp đương sự được miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật

Hai là, chi phí cần thiết khác theo quy định của Chính phủ được hướng dẫn

chi tiết tại Khoản 1 Điều 43 Nghị định 62/2015/NĐ-CP

Ngày đăng: 17/12/2019, 16:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w