Căn cứ quy định của LDN 2014, CTCP là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, được phép phát hành cổ phần các loại để huy đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
KHOA LUẬT
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH TRONG
CÔNG TY CỔ PHẦN
Tp Hồ Chí Minh - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
KHOA LUẬT
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH TRONG
CÔNG TY CỔ PHẦN
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thành Đức
Sinh viên thực hiện : Vũ Trần Bích Sơn MSSV: 1511271265 Lớp: 15DLK09
Tp Hồ Chí Minh - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn TS Nguyễn Thành Đức - người đã chỉ bảo tận tình, chu đáo và cung cấp những kiến thức, tài liệu bổ ích để em có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Đồng thời, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giảng dạy trong trường đã cho em những kiến thức nền tảng cho việc hình thành đề tài này
Mặc dù đã cố gắng nhưng do thời gian có hạn, trình độ kỹ năng còn chưa nhiều nên không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em rất mong nhận được những đóng góp của thầy cô cũng như sự quan tâm tới bài viết, để bài khóa luận của
em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)
Vũ Trần Bích Sơn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Vũ Trần Bích Sơn, MSSV: 1511271265
Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khoá luận tốt
nghiệp này được thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn
đầy đủ và theo đúng qui định);
Nội dung trong khoá luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác
Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường
và pháp luật
Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)
Vũ Trần Bích Sơn
Trang 5DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu của đề tài 3
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 4
1.1 Khái niệm về công ty cổ phần 4
1.1.1 Khái quát và đặc điểm về công ty cổ phần 4
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần và pháp luật về công ty cổ phần tại Việt Nam 5
1.1.3 Vai trò của công ty cổ phần đối với nền kinh tế 7
1.2 Khái niệm về chế độ tài chính trong công ty cổ phần 8
1.2.1 Khái quát về chế độ tài chính trong công ty cổ phần 8
1.2.2 Khái quát về quản lý, sử dụng vốn trong công ty cổ phần 12
1.2.3 Khái quát về cổ tức trong công ty cổ phần 14
1.3 Vai trò, ý nghĩa của chế độ tài chính trong công ty cổ phần 15
1.3.1 Vai trò của vốn điều lệ trong công ty cổ phần 15
1.3.2 Vai trò phát hành cổ phiếu, trái phiếu của công ty cổ phần 16
1.3.3 Vai trò của chính sách cổ tức trong công ty cổ phần 17
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 19
2.1 Huy động vốn trong công ty cổ phần 19
2.1.1 Huy động vốn điều lệ trong công ty cổ phần 19
2.1.2 Mối quan hệ giữa cổ đông với nghĩa vụ tài chính trong CTCP 22
2.1.3 Huy động vốn vay trong công ty cổ phần 25
2.2 Quy định về quản lý, sử dụng vốn trong công ty cổ phần 28
2.2.1 Mua lại cổ phần từ cổ đông của công ty 28
2.2.2 Tăng vốn điều lệ của công ty cổ phần 29
2.2.3 Giảm vốn điều lệ của công ty cổ phần 32
2.3 Cổ tức trong công ty cổ phần 32
Trang 72.3.1 Điều kiện để chia cổ tức trong công ty cổ phần 32
2.3.2 Trả cổ tức trong công ty cổ phần 33
2.3.3 Lập quỹ chuyển lỗ trong công ty cổ phần 35
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 39
3.1 Thực trạng pháp luật về chế độ tài chính trong công ty cổ phần 39
3.1.1 Thực trạng pháp luật về hạn chế chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần 39
3.1.2 Thực trạng pháp luật về việc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn trong công ty cổ phần 44
3.1.3 Thực trạng pháp luật về việc trả cổ tức cho cổ đông trong công ty cổ phần 46
3.1.4 Trách nhiệm liên đới khi định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế của tài sản 47
3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật cụ thể về chế độ tài chính trong công ty cổ phần 48
3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện về hạn chế chuyển nhượng cổ phần 48
3.2.2 Kiến nghị hoàn thiện về cơ cấu vốn điều lệ trong công ty cổ phần 48
3.2.3 Một số kiến nghị khác 50
KẾT LUẬN ĐỀ TÀI 54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Có cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể,
sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.1
Đã có rất nhiều loại hình doanh nghiệp được phép thành lập, hoạt động với nhiều chế độ sở hữu khác nhau Các công ty mới được thành lập trên thực tế với số lượng đáng kể, trong đó CTCP là một loại hình doanh nghiệp được rất nhiều nhà đầu tư, kinh doanh lựa chọn Bởi đây là loại hình công ty có nhiều ưu thế như: Khả năng tích tụ tập trung vốn cao và linh hoạt, khả năng luân chuyển vốn tốt, mô hình quản lý tiên tiến, Chính việc phát triển loại hình CTCP đã tạo điều kiện xã hội hóa hoạt động huy động vốn, nâng cao hiệu quả kinh doanh và góp phần quan trọng vào việc phát triển thị trường chứng khoán nâng cao hoạt động của nền kinh tế
CTCP hình thức tổ chức kinh doanh phổ biến trong nền kinh tế thị trường có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế, góp phần hoàn thiện cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Trong nền kinh tế thị trường, CTCP tạo ra các công cụ để có thể huy động vốn với quy mô lớn và hiệu quả cao Nhờ phát hành cổ phiếu và trái phiếu, CTCP có thể huy động được những nguồn vốn nhỏ lẻ để đầu tư vào những công trình đòi hỏi những nguồn vốn lớn và dài hạn mà từng cá nhân hoặc từng doanh nghiệp không có khả năng tích lũy được nhiều đầu tư Tuy nhiên, LDN 2014 vẫn chưa tránh khỏi những tình trạng thực tiễn xoay quanh về vấn đề tài chính mà CTCP đang gặp phải như việc: Huy động vốn, chuyển nhượng cổ phần, chào bán cổ phiếu riêng lẻ,
Nói về CTCP, có lẽ đây không còn là một đề tài quá mới mẻ đối với giới nghiên cứu luật học Đã nhiều bài viết, khóa luận tốt tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ nói
về vấn đề này Mỗi bài viết, đề tài nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của CTCP Tuy nhiên, trong các đề tài đó chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách chuyên sâu về vấn đề chế độ tài chính trong CTCP của LDN 2014 Đến thời điểm này, có thể khẳng định công ty cổ phần chính là “phương thức phát triển cao
1
Điều 15 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 9nhất của loài người để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển”2
Xuất phát từ mong muốn hiểu rõ hơn về bản chất của chế độ tài chính và muốn xấy dựng nên một hệ thống pháp luật vững chắc để tránh tình trạng “nan giải” của các công ty cổ phần đã và đang gặp phải nên em đã mạnh dạn chọn nội dung
“Pháp luật về chế độ tài chính trong Công ty cổ phần” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ vấn đề về chế độ tài chính trong CTCP dưới góc độ pháp lý, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chế độ tài chính và CTCP để đảm bảo thực thi có hiệu quả trên thực tế
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài
Khóa luận xác định đối tượng nghiên cứu là những vấn đề về chế độ tài chính trong CTCP như: khái niệm cổ phần, cổ phiếu; các loại cổ phần; vấn đề phát hành cổ phiếu, chuyển nhượng cổ phần, phát hành trái phiếu; cùng thực tiễn áp dụng pháp luật về chế độ tài chính
Lý luận về chế độ tài chính là một lĩnh vực kiến thức lớn liên quan đến cả vấn đề kinh tế và vấn đề pháp lý Do đó, bài viết xác định phạm vi nghiên cứu của mình ở những nội dung sau: Đưa ra những vấn đề lý luận chung nhất về tài chính và công ty cổ phần có sự so sánh ưu, nhược điểm với một vài loại hình doanh nghiệp khác ở Việt Nam cũng như trên thế giới Sau đó, bài viết tập trung nghiên cứu sâu vấn đề chế độ tài chính trong CTCP Trên cơ sở đó phát hiện ra được những hạn chế thiếu sót của pháp luật về tài chính để có hướng hoàn thiện phù hợp
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp duy vật biện chứng: Xem xét giải pháp pháp lý nhằm hoàn thiện pháp luật về CTCP ở Việt Nam hiện nay một cách toàn diện trong mối tương quan với một số nước phát triển thế giới và thực tiễn tại Việt Nam
2
Nguyễn Ngọc Bích (2003), Luật Doanh nghiệp, vốn và quản lý trong Công ty cổ phần, NXB Trẻ, tr.18
Trang 10Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân chia các vấn đề lớn, phức tạp thành những vấn đề nhỏ chi tiết, cụ thể hơn Sau khi phân tích thì tổng hợp lại và khái quát để đưa tới sự nhận thức tổng thể về pháp luật về chế độ tài chính trong CTCP ở Việt Nam hiện nay và giải pháp hoàn thiện
Phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch: Đề tài đi từ những vấn đề chung đến những vấn đề riêng, từ những hiện tượng riêng lẻ đến những cái chung
Phương pháp thống kê: Đề tài tập hợp những số liệu về vốn pháp định ở Việt Nam, trên thế giới và thực tiễn làm cơ sở khoa học
Phương pháp so sánh: Đề tài đặt thực tiễn về vấn đề cần nghiên cứu trong mối liên hệ và so sánh với thực tiễn của một số nước phát triển trên thế giới, qua đó tìm ra những ưu nhược điểm của vấn đề và đề xuất phương hướng hoàn thiện để giải quyết nội dung vấn đề cần nghiên cứu
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài lời nói đầu và kết luận, khóa luận tốt nghiệp được cơ cấu thành ba chương với các nội dung cụ thể sau:
Chương 1: Khái quát về CTCP và chế độ tài chính trong CTCP
Chương 2: Quy định pháp luật về chế độ tài chính trong CTCP
Chương 3: Thực trạng pháp luật về chế độ tài chính trong CTCP và kiến nghị hoàn thiện
Trang 11CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CHẾ ĐỘ TÀI
CHÍNH TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1 Khái niệm về công ty cổ phần
1.1.1 Khái quát và đặc điểm về công ty cổ phần
Khái niệm CTCP ở Việt Nam được định nghĩa trong rất nhiều tài liệu khác nhau Theo Từ điển thuật ngữ Luật học, Nhà xuất bản Tư pháp năm 2006 định nghĩa thì: “CTCP là công ty trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau, nhỏ nhất gọi là cổ phần Các thành viên của công ty (cổ đông) có thể sở hữu một hoặc nhiều cổ phần và chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi giá trị cổ phần mà họ nắm giữ Công ty có quyền phát hành cổ phần rộng rãi trong công chúng để huy động vốn” Định nghĩa này nhấn mạnh đến cấu trúc vốn cũng như chế độ trách nhiệm của thành viên
Căn cứ quy định của LDN 2014, CTCP là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, được phép phát hành cổ phần các loại để huy động vốn; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp, có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình ngoại trừ một số trường hợp nhất định do Luật quy định3
CTCP là loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: CTCP là loại hình doanh nghiệp đặc trưng cho công ty đối vốn Các nhà đầu tư vào CTCP chỉ chịu TNHH trong phần vốn góp của mình với các khoản nợ Điều này làm cho các nhà đầu tư mạnh dạn đầu tư vào những lĩnh vực có rủi ro cao nhưng đem lại lợi nhuận lớn Khi tham gia vào công ty, các cổ đông không quan tâm đến mối quan hệ gia đình hay thân thích của nhau mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp Vì vậy, khi có một thành viên chết, mất năng lực hành vi dân sự,
bị phá sản ở nơi công ty khác hoặc bị tù tội thì cũng không ảnh hưởng gì đến quá trình hoạt động và tồn tại của công ty Công ty hoạt động một cách độc lập với thành viên của công ty Các thành viên trong công ty có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người ngoài công ty một cách dễ dàng, góp phần làm cho số
3
Điều 110 LDN 2014.
Trang 12lượng cổ đông của công ty đông đảo và tăng khả năng huy động vốn Tính chuyển nhượng dễ dàng này còn tạo điều kiện cho các nhà đầu tư không bị ràng buộc vào công ty khi không muốn đầu tư nữa hoặc rút vốn để đầu tư kinh doanh vào một ngành nghề khác
Thứ hai: CTCP là một pháp nhân được thành lập một cách hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản riêng độc lập với tổ chức cá nhân khác Tài sản này được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng chủ yếu hình thành từ nguồn vốn
do các cổ đông góp và tách bạch với tài sản của cổ đông Khi cổ đông góp vốn vào công ty, họ có quyền sở hữu một phần trong công ty tương ứng với giá trị cổ phần
mà mình nắm giữ Với tư cách là một chủ thể pháp luật, CTCP nhân danh chính mình tham gia vào các quan hệ pháp luật và phải chịu trách nhiệm trước các nghĩa
vụ phát sinh bằng chính những tài sản của công ty
Thứ ba: CTCP là loại hình công ty có cấu trúc đa dạng, dễ dàng thay đổi để đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của nhà đầu tư Với cấu trúc vốn đa dạng, dễ dàng chuyển nhượng tạo cho CTCP có khả năng huy động vốn lớn để đầu tư kinh doanh Ngoài ra, CTCP còn được phát hành chứng khoán ra công chúng
Thứ tư: CTCP có cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý chặt chẽ Trong cơ cấu tổ
chức, bộ máy quản lý có sự phân chia quyền lực rõ ràng giữa các bộ phận Với quy định không hạn chế số lượng thành viên tối đa nên CTCP cần có một bộ máy quản
lý chặt chẽ, để có thể kiểm soát kịp thời những hoạt động của CTCP, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan Tính chặt chẽ trong cơ cấu tổ chức, điều hành giám sát công ty không chỉ được pháp luật Việt Nam quy định mà nó còn được ghi nhận trong hầu hết pháp luật doanh nghiệp của các nước trên thế giới
1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần và pháp luật về công ty cổ
phần tại Việt Nam
Về mặt lịch sử hình thành, CTCP ra đời sau các loại công ty đối nhân nhưng
là hình thức đầu tiên của loại hình công ty đối vốn khác với sự ra đời của hình thức công ty TNHH – là sản phẩm của các nhà lập pháp xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn kinh doanh, CTCP được hình thành trong hoạt động kinh doanh và do nhu cầu của các nhà kinh doanh rồi sau đó mới được pháp luật thừa nhận và được hoàn thiện thành một chế định pháp lý Chẳng hạn như ở Anh, Luật công ty được ban hành lần
Trang 13đầu tiên năm 1844 nhưng trước đó hơn 100 năm đã có sự xuất hiện của các CTCP
Và đến năm 1856, ở Anh mới có Luật về CTCP
CTCP xuất hiện đầu tiên trên thế giới là công ty Đông Ấn (East India Company) của Anh (1600 – 1874) Nó được thành lập ngày 31/10/1860 bởi một nhóm có 218 người, và được cấp phép độc quyền kinh doanh trong vòng 15 năm ở vùng Đông Ấn, các quốc gia và hải cảng ở Châu Á, Châu Phi và được đi lại từ tất cả các hải cảng của các đảo, thị trấn và địa điểm ở Châu Á, Châu Phi và Mỹ hay bất kỳ địa điểm nào như thế nằm ngoài Mũi Hảo Vọng (Cape of Good Hope) và eo biển Magellan
Chính từ nhu cầu khách quan phát triển kinh tế - xã hội cần có sự liên kết hùn vốn, đồng thời về mặt chủ quan, các nhà đầu tư muốn chia sẻ những gánh nặng rủi ro trong kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận cao hơn đã dẫn đến sự ra đời của CTCP Sự ra đời và phát triển của CTCP đòi hỏi cần phải có sự điều chỉnh của pháp luật Ở Việt Nam, Luật lệ về công ty lần đầu tiên được quy định là trong “Bộ dân luật thi hành tại các tòa Nam án Bắc Kỳ”, trong đó tiết thứ 5 (Chương IX) nói về hội buôn được chia thành hai loại là hội người và hội vốn Trong đó hội vốn được chia thành hai loại là hội vô danh (CTCP) và hội hợp cổ (Công ty hợp vốn đơn giản) Nhìn chung, quy định của Pháp luật thời kỳ này về CTCP còn rất sơ khai4 Dưới thời Pháp thuộc, các quy định của Bộ luật thương mại Pháp năm 1807, trong
đó có quy định về hình thức CTCP được áp dụng ở cả ba kỳ tại Việt Nam Đến năm
1944, chính quyền Bảo Đại ban hành Bộ luật thương mại Trung phần có hiệu lực áp dụng tại Trung Kỳ, trong đó có quy định về CTCP (gọi là công ty vô danh) từ Điều
102 đến Điều 142 và từ Điều 159 đến Điều 171
Ở miền Bắc, sau năm 1954 cho đến khi thống nhất đất nước vào năm 1975
và trên phạm vi cả nước từ sau năm 1975 đến những năm 80 của thế kỷ 20, với chính sách kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các hình thức công ty nói chung và CTCP nói riêng hầu như không được pháp luật thừa nhận Khái niệm “công ty” trong giai đoạn này không được hiểu đúng bản chất pháp lý mà chỉ được hiểu theo hình thức kinh doanh Các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh trong giai đoạn này chủ yếu bao gồm các nhà máy, xí nghiệp quốc doanh, hợp tác xã (đối với thành phần kinh tế tập thể) và công tư hợp danh (hình thành từ quá trình cải tạo công thương nghiệp xã hội chủ nghĩa) Trong giai đoạn này, mặc dù Điều lệ về đầu tư
4
Lê Thị Châu (1997), Quyền sở hữu tài sản của công ty, NXB Lao Động, Hà Nội, tr.17
Trang 14của nước ngoài ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam5 có đề cập đến hình thức CTCP khi quy định “xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp” có thể thành lập theo hình thức “công ty vô danh” (một tên gọi khác của CTCP) nhưng lại không có văn bản pháp luật nào quy định về tổ chức và hoạt động của hình thức CTCP này Và trên thực tế, cũng không có xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp nào được thành lập theo hình thức “công ty vô danh” theo quy định của Điều lệ về đầu tư của nước ngoài năm 1977 kể trên)
Cho đến khi Luật công ty được ban hành ngày 21/12/1990, hình thức CTCP mới chính thức được quy định cụ thể Sau khi Luật công ty ra đời, nhiều văn bản pháp luật khác nhau đã được ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau nhưng được tổ chức dưới hình thức CTCP Hoạt động của các doanh nghiệp này một mặt phải tuân thủ các quy định của Luật công ty, mặt khác, do đặc thù riêng của các ngành nghề kinh doanh, hoạt động của các doanh nghiệp này còn phải tuân thủ theo quy định của các luật chuyên ngành Chẳng hạn như trong Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 01/10/1998 tại Điều 12 quy định về các loại hình tổ chức tín dụng có hình thức tổ chức tín dụng cổ phần của Nhà nước và nhân dân, hay nói cách khác các Ngân hàng thương mại cổ phần chính là các CTCP hoạt động trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ
Khi có LDN 1999, LDN 2005 và LDN 2014, CTCP vẫn tiếp tục được ghi nhận và được quy định theo hướng tiếp cận dần đến các chuẩn mực quốc tế về quản trị CTCP
1.1.3 Vai trò của công ty cổ phần đối với nền kinh tế
Đất nước ta trong thời kỳ phát triển kinh tế rất cần sự phát triển của các công
ty, doanh nghiệp, đặc biệt là CTCP, loại hình này có khả năng huy động vốn nhanh, tận dụng các nguồn vốn trong xã hội và tạo lợi nhuận cho các nguồn vốn đó, có khả năng kinh doanh năng động, hiệu quả cao, cạnh tranh tốt trên thị trường trong và ngoài nước Là loại hình kinh tế phổ biến nhất hiện nay đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường, rất ít bị thua lỗ và rủi ro mà sự lớn mạnh ngày càng cao Trong các CTCP hiện nay một thành viên có thể tham gia vào nhiều công ty khác nhau, luôn luôn phát huy và tận dụng được trí tuệ, nhân lực lao động trong sản xuất kinh doanh Trong kinh doanh có sự an toàn cao tạo niềm tin cho các nhà đầu
Trang 15CTCP cũng chính là nơi tạo nên thị trường chứng khoán phát hành cổ phiếu, trái phiếu có tiềm năng là sân chơi kinh doanh bình đẳng cho các nhà đầu tư CTCP chính là nơi tạo ra chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Các công ty nhà nước, các doanh nghiệp nước ta vẫn còn trì trệ, thua lỗ trong kinh doanh do sự cạnh tranh, do thiếu hụt vốn, do sự quản lý ít có trách nhiệm, việc thay đổi, thành lập CTCP sẽ khắc phục được nhược điểm đó Các CTCP nhà nước đã làm cho lãi doanh thu nhà nước thu được là rất cao, bổ sung vào ngân sách phát triển hệ thống
an ninh, quốc phòng, ổn định trật tự xã hội, tạo đà phát triển nền kinh tế nước nhà
1.2 Khái niệm về chế độ tài chính trong công ty cổ phần
1.2.1 Khái quát về chế độ tài chính trong công ty cổ phần
Tài chính công ty cố phần là sự hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của CTCP trong khuôn khổ pháp luật cho phép Tài chính CTCP mang đầy đủ những đặc điểm của tài chính doanh nghiệp, đồng thời cũng mang trong mình những đặc trưng riêng CTCP vì có những nét riêng về đặc điểm của công ty nên vấn đề tài chính của CTCP cũng mang những nét đặc trưng Nếu như nói ngắn gọn thì tài chính của CTCP bao gồm vốn và tài sản của CTCP hay nói cách khác nhìn dưới góc độ tài chính là các quỹ tiền tệ được thể hiện dưới dạng vốn và tài sản khác Nhìn ở một góc độ khác, tài chính của CTCP mang nhiều nét đặc trưng mà các doanh nghiệp khác không có:
Vốn điều lệ của CTCP được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần
và được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu Các cổ phần có giá trị bằng nhau và một
cổ đông có thể sở hữu nhiều cổ phần Vốn điều lệ CTCP là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán các loại Vốn điều lệ của CTCP tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty6
Theo quy định của LDN 2014, tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán7 Lúc này, vốn điều lệ của CTCP là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được cổ đông đăng ký mua Tuy nhiên, nếu sau thời hạn 90 ngày kể từ ngày công ty được cấp GCNĐKDN (trừ trường hợp Điều lệ công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần quy định một thời hạn khác ngắn hơn),
mà các cổ đông chưa thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua thì công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị mệnh giá số cổ phần đã được thanh toán
Trang 16đủ Như vậy, tối đa sau 90 ngày kể từ khi công ty được cấp GCNĐKDN, vốn điều
lệ sẽ được tính bằng tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán các loại
Để công ty có thể dễ dàng huy động vốn điều lệ cũng như để thuận tiện hơn trong việc chia lợi nhuận cho các cổ đông trong công ty thì cổ phiếu chính là cách
để biểu hiện cổ phần ra bên ngoài của cổ phần Cổ phiếu là một loại chứng khoán được xác định dưới dạng văn bản (chứng chỉ do CTCP phát hành) hoặc bút toán ghi
sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty Còn trái phiếu là một loại chứng khoán phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận nghĩa vụ trả nợ (bao gồm cả vốn gốc và lãi) của công ty phát hành trái phiếu với người sở hữu trái phiếu
LDN 2014 quy định CTCP có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác8
Cùng với số cổ phiếu là công cụ huy động vốn chủ
sở hữu, CTCP có thể sử dụng trái phiếu để vay vốn trung hạn và dài hạn, đáp ứng cho nhu cầu về vốn kinh doanh có lúc vượt ngoài khả năng tài chính của các cổ đông Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người
sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành9 Trái phiếu có thể bao gồm các loại: trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu không chuyển đổi, trái phiếu có bảo đảm, trái phiếu không có bảo đảm
Theo pháp luật Việt Nam, phát hành cổ phiếu có thể thực hiện bằng hai phương thức cơ bản:
Phát hành riêng lẻ: là hình thức phát hành trong đó cổ phiếu có thể được chào bán cho phạm vi một số người nhất định với số lượng hạn chế, thông thường bán cho những người trong công ty để tránh tình trạng pha loãng cổ đông
Phát hành cổ phiếu ra công chúng: là phương thức phát hành trong đó cổ
phiếu được bán rộng rãi ra công chúng cho một số lượng lớn nhà đầu tư với khối lượng cổ phiếu phát hành đạt được một tỉ lệ quy định nhất định và phải dành một tỷ
lệ nhất định cho các nhà đầu tư nhỏ Việc phát hành cổ phiếu ra công chúng là việc tạo hàng hóa để giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán (thị trường tập trung) Phát hành cổ phiếu ra công chúng được chia làm 2 trường hợp: Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng là việc phát hành trong đó cổ phiếu của công ty lần đầu tiên được
Trang 17bán cho công chúng đầu tư Phát hành thêm cổ phiếu là việc phát hành cổ phiếu bổ sung cho công chúng đầu tư
Bên cạnh đó, còn có chào bán cổ phần Chào bán cổ phần là việc công ty tăng thêm số lượng cổ phần được quyền chào bán và bán các cổ phần đó trong quá trình hoạt động để tăng vốn điều lệ Về giá chào bán cổ phần, LDN 2014 quy định rất chặt chẽ, đảm bảo quyền lợi cho đa số cổ đông Giá bán cổ phần không được thấp hơn giá thị trường tại thời điểm chào bán hoặc giá trị được ghi trong sổ sách của cổ phần tại thời điểm gần nhất, trừ những trường hợp sau đây: Cổ phần chào bán lần đầu tiên cho những người không phải là cổ đông sáng lập; Cổ phần chào bán cho tất cả cổ đông theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ ở công ty; Cổ phần chào bán cho người môi giới hoặc người bảo lãnh Trường hợp này, số chiết khấu hoặc tỷ
lệ chiết khấu cụ thể phải được sự chấp thuận của ĐHĐCĐ; Trường hợp khác và mức chiết khấu trong các trường hợp đó do Điều lệ công ty quy định Chào bán cổ phần có thể thực hiện theo một trong các hình thức sau đây:
Chào bán cho các cổ đông hiện hữu: là trường hợp công ty tăng thêm số lượng cổ phần được quyền chào bán và bán toàn bộ số cổ phần đó cho tất cả cổ đông theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ tại công ty10
Chào bán ra công chúng: Được thực hiện theo pháp luật về chứng khoán Theo đó chào bán chứng khoán ra công chúng là việc chào bán chứng khoán theo một trong các phương thức: Thông qua phương tiện thông tin đại chúng kể cả internet, chào bán chứng khoán từ 100 nhà đầu tư trở lên không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không xác định
Chào bán cổ phần riêng lẻ: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định chào bán cổ phần riêng lẻ, công ty phải thông báo việc chào bán cổ phần riêng lẻ với Cơ quan đăng ký kinh doanh Công ty có quyền bán cổ phần sau 05 ngày làm việc, kể từ ngày gửi thông báo mà không nhận được ý kiến phản đối của
Cơ quan đăng ký kinh doanh Công ty thực hiện đăng ký thay đổi vốn điều lệ với cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hoàn thành đợt bán cổ phần
Thêm vào đó, cổ phần của CTCP được tự do chuyển nhượng, chỉ trừ ba trường hợp: (i) Cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng; (ii) Trong
10
Điều 124 LDN 2014
Trang 18thời hạn 3 năm kể từ ngày CTCP được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp,
cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập không được chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập của công ty nếu không có sự chấp thuận của ĐHĐCĐ; (iii) Điều lệ CTCP có quy định hạn chế khác về chuyển nhượng cổ phần
và các hạn chế này được ghi rõ trong cổ phiếu tương ứng
Trong chế độ tài chính của CTCP còn có 2 hình thức mua lại cổ phần, đó là mua lại cổ phần theo quyết định của công ty và mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông
Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông: “Cổ đông biểu quyết phản đối
nghị quyết về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình”11
Yêu cầu phải bằng văn bản, trong đó nêu rõ tên, địa chỉ của cổ đông, số lượng cổ phần từng loại, giá dự định bán, lý do yêu cầu công ty mua lại Yêu cầu phải được gửi đến công ty trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ĐHĐCĐ thông qua nghị quyết
về các vấn đề quy định tại khoản này Công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông nêu trên với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu Các bên
sẽ thỏa thuận về giá mua lại cổ phần Trường hợp không thỏa thuận được về giá thì các bên có thể yêu cầu một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá Công ty giới thiệu ít nhất 03 tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là quyết định cuối cùng12
Mua lại cổ phần quyết định của công ty: là việc công ty mua lại không quá 30% tổng số cổ phần phổ thông đã bán, một phần hoặc toàn bộ cổ phần ưu đãi cổ tức đã bán theo quy định của pháp luật HĐQT nếu có quyết định mua lại cổ phần thường sẽ quyết định giá và các điều lệ sẽ không cho phép mua lại quá 10% tổng số
cổ phần của từng loại đã được chào bán trong mỗi 12 tháng Trong nhiều trường hợp khác, việc mua lại cổ phần sẽ do ĐHĐCĐ quyết định HĐQT bao giờ cũng quyết định giá mua lại đối với các cổ phần phổ thông và giá mua lại không được cao hơn giá thị trường tại thời điểm mua lại, trừ trường hợp có các thỏa thuận đặc biệt qua các giao dịch thỏa thuận Đối với loại cổ phần khác thì giá mua lại không được thấp hơn giá thị trường
Trang 19Cổ đông đồng ý bán lại cổ phần, theo quy định thường thấy phải gửi bản chào bán cổ phần của mình bằng phương thức bảo đảm đến được công ty trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo Chào bán phải có họ tên, địa chỉ thường trú, số giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với cổ đông sáng lập là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký kinh doanh đối với cổ đông là tổ chức; số cổ phần sở hữu
và số cổ phần chào bán; phương thức thanh toán; chữ ký của cổ đông hoặc người đại diện theo pháp luật của công ty Công ty chỉ mua lại cổ phần được chào bán trong thời hạn nói trên
1.2.2 Khái quát về quản lý, sử dụng vốn trong công ty cổ phần
CTCP phải có số lượng cổ đông tối thiểu là 3 thành viên và không hạn chế số lượng (có thể là cá nhân hoặc tổ chức là cổ đông)13
Người mua cổ phần trở thành
cổ đông của công ty kể từ thời điểm cổ phần được thanh toán đủ và những thông tin
về người mua được ghi đúng, ghi đủ vào sổ đăng ký cổ đông Sau khi cổ phần được được bán, công ty phải phát hành và trao cổ phiếu cho người mua Pháp luật ràng buộc trách nhiệm của những người quản lý công ty khi có sai sót trong nội dung và hình thức cổ phiếu nhằm bảo vệ tối đa lợi ích của người sở hữu cổ phiếu đó Trường hợp có sai sót trong nội dung và hình thức cổ phiếu do công ty phát hành thì quyền
và lợi ích của người sở hữu nó không bị ảnh hưởng Người đại diện theo pháp luật công ty chịu trách nhiệm về thiệt hại do những sai sót đó gây ra14 Ngoài ra, cổ đông không được rút vốn đã góp bằng cổ phần phổ thông ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được công ty hoặc người khác mua lại cổ phần
So với các loại công ty khác thì CTCP thường có quy mô lớn và cơ cấu vốn khá phức tạp Chính vì vậy, pháp luật quy định tương đối chặt chẽ về cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của CTCP Cơ chế quản lý, sử dụng vốn trong CTCP được thực hiện qua các cơ quan sau:
Đại hội đồng cổ đông: Với vị trí là cơ quan cao nhất, ĐHĐCĐ có quyền quyết định hầu hết các vấn đề quan trọng15, cơ bản của công ty, trong đó chủ yếu là những vấn đề liên quan đến việc quản lý và sử dụng vốn Cụ thể là: Quyết định loại
cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; Quyết định mức cổ
Trang 20tức hàng năm của từng loại cổ phần; Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng số giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ hoặc một giá trị khác; Thông qua báo cáo tài chính hằng năm; Quyết định mua lại 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại.16
Hội đồng quản trị: HĐQT là cơ quan thường trực cho ĐHĐCĐ, cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ17 Với việc quản lý và sử dụng vốn của công ty, HĐQT có quyền: Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại; Quyết định bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được quyền chào bán của từng loại; Quyết định huy động thêm vốn theo hình thức khác; Quyết định giá bán cổ phần và trái phiếu của công ty; Quyền quyết định mua lại không quá 10% tổng số cổ phần của từng loại đã được chào bán trong 12 tháng Trường hợp khác, việc mua lại cổ phần do ĐHĐCĐ quyết định; Thông qua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty, nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ hoặc giá trị khác; Kiến nghị mức cổ tức được trả; Quyết định thời hạn và thủ tục trả cổ tức hoặc xử lý lỗ phát sinh trong quá trình kinh doanh18
Ngoài ra, trong cơ cấu bộ máy quản lý, điều hành CTCP còn có Chủ tịch HĐQT, HĐQT bầu một thành viên của HĐQT làm Chủ tịch Chủ tịch HĐQT có thể kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 152 và Điều lệ công ty, pháp luật về chứng khoán không có quy định khác CTCP do Nhà nước nắm giữ trên 50% tổng số phiếu biểu quyết thì Chủ tịch HĐQT không được kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Tuy nhiên, Chủ tịch HĐQT không được quản lý phần vốn trong CTCP
Bên cạnh đó còn có Giám đốc (Tổng giám đốc) sau đây gọi tắt là Giám đốc
là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty Giám đốc do HĐQT bầu ra, chịu sự giám sát của HĐQT; chịu trách nhiệm trước HĐQT và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao Nhiệm kỳ của Giám đốc không quá 05 năm; có thể được bổ nhiệm lại với số nhiệm kỳ không hạn chế
Trang 21Giám đốc có những quyền về mặt tài chính sau: Quyết định tiền lương và quyền lợi khác đối với người lao động trong công ty kể cả người quản lý thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; Kiến nghị phương án trả cổ tức hoặc xử
lý lỗ trong kinh doanh
Thêm vào đó, cơ chế quản lý trong CTCP còn có BKS BKS có từ 03 đến 05 thành viên, do ĐHĐCĐ bầu ra Nhiệm kỳ của Kiểm soát viên không quá 05 năm và Kiểm soát viên có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế19 Ban kiểm soát
có hai chức năng chính, đó là (i) Giám sát công việc quản lý và điều hành công ty bởi HĐQT và Giám đốc20 và (ii) Thẩm định các loại báo cáo bắt buộc của công ty21
1.2.3 Khái quát về cổ tức trong công ty cổ phần
Đối với CTCP, số lợi nhuận sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho Nhà nước, về cơ bản sẽ được chia thành hai phần: phần lợi nhuận dành để trả cho các cổ đông hiện hành của công ty được gọi là lợi tức cổ phần hay cổ tức và phần lợi nhuận lưu giữ lại không chia gọi là lợi nhuận giữ lại
Như vậy, cổ tức là khoản lợi nhuận sau thuế của công ty dành trả cho các cổ đông hiện hữu Việc trả cổ tức hay không trả, tỷ lệ và hình thức chi trả cổ tức cho cổ đông như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh, chính sách cổ tức của công ty và do ĐHĐCĐ của công ty quyết định Nếu công ty giữ lại nhiều lợi nhuận để tái đầu tư, thì phần để trả cổ tức sẽ ít và ngược lại Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế của công ty được phân bổ cho mục đích giữ lại và chia cổ tức như thế nào là tuỳ thuộc vào chiến lược của từng công ty Những công ty lớn, nhiều uy tín trong kinh doanh có thể dành một tỷ lệ cao lợi nhuận sau thuế để trả cổ tức Một
số công ty đang tăng trưởng rất nhanh có thể dành phần lớn hoặc thậm chí là toàn
bộ lợi nhuận sau thuế để tái đầu tư, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng của công ty Mặc
dù về mặt pháp lý không có quy định nào bắt buộc các công ty phải trả cổ tức cho các cổ đông; tuy nhiên, hầu hết các công ty làm ăn có lợi nhuận đều thực hiện chi trả cổ tức cho các cổ đông
Trang 22“Chỉ tiêu chi trả cổ tức nói lên công ty chi trả phần lớn thu nhập cho cổ đông hay giữ lại để tái đầu tư”22
Thu nhập của nhà đầu tư trong doanh nghiệp bao gồm 2 đầu: cổ tức và chênh lệch giá do chuyển nhượng cổ phiếu Nếu tỷ lệ chi trả
cổ tức thấp điều đó chưa hẳn là xấu, bởi vì nhà đầu tư có thể chấp nhận tỷ lệ chi trả
cổ tức thấp để dành phần lớn lợi nhuận tái đầu tư “Họ mong đợi một tăng trưởng
nhanh trong cổ tức và hưởng được sự chênh lệch lớn của giá cổ phiếu” 23
Cổ tức có thể được chi trả bằng tiền mặt, bằng cổ phần của công ty hoặc bằng tài sản khác quy định tại Điều lệ công ty Nếu chi trả bằng tiền mặt thì phải được thực hiện bằng đồng Việt Nam và có thể được chi trả bằng séc, chuyển khoản hoặc lệnh trả tiền gửi bằng bưu điện đến địa chỉ thường trú hoặc địa chỉ liên lạc của
cổ đông
1.3 Vai trò, ý nghĩa của chế độ tài chính trong công ty cổ phần
1.3.1 Vai trò của vốn điều lệ trong công ty cổ phần
Từ phương diện khoa học tài chính, vốn của doanh nghiệp được quan niệm
là vốn kinh doanh và là cơ sở vật chất cho hoạt động của doanh nghiệp Có thể khái quát, vốn của công ty là giá trị của toàn bộ tài sản được đầu tư vào hoạt động của công ty, được công ty sử dụng trong kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi Vốn là nhân tố cơ bản không thể thiếu của tất cả các doanh nghiệp Cũng như các chủ thể kinh doanh khác, để tiến hành các hoạt động kinh doanh, CTCP phải có vốn Là loại hình công ty đối vốn điển hình nên vấn đề vốn của CTCP là vấn đề hết sức phức tạp Vốn của CTCP có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ, dựa trên những tiêu chí khác nhau
Mỗi doanh nghiệp nói chung và CTCP nói riêng khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên là doanh nghiệp đó phải có một lượng vốn điều lệ nhất định, lượng vốn đó tối thiểu phải bằng lượng vốn pháp định nếu đăng ký kinh doanh các ngành nghề có vốn pháp định, khi đó địa vị pháp lý của doanh nghiệp mới được xác lập Trường hợp trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn điều lệ của doanh nghiệp không đạt điều kiện mà pháp luật quy định, doanh nghiệp sẽ bị chấm dứt hoạt động như phá sản, giải thể, sáp nhập Vốn điều lệ cũng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và xác lập vị
Trang 23trí của doanh nghiệp trên thị trường Điều này thể hiện càng rõ khi ngày nay với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt về công nghệ thiết bị hiện đại cũng như các mặt hàng ngày càng đa dạng, công ty phải không ngừng cải tiến và cập nhật, và để làm được điều đó thì điều quan trọng nhất chính là vốn điều lệ
Vốn điều lệ có ý nghĩa trong việc xác định tỷ lệ phần vốn góp hay sở hữu cổ phần công ty Thông qua đó làm cơ sở cho việc phân chia quyền, lợi ích và nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư trong công ty Tuy nhiên, cần phân biệt vốn điều lệ và vốn pháp định Theo đó, vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có để có thể thành lập một doanh nghiệp Vốn pháp định do Cơ quan có thẩm quyền ấn định, mà nó được xem
là có thể thực hiện được dự án khi thành lập doanh nghiệp Vốn pháp định sẽ khác nhau tùy theo lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh
1.3.2 Vai trò phát hành cổ phiếu, trái phiếu của công ty cổ phần
Đối với Công ty phát hành: Việc phát hành cổ phiếu sẽ giúp cho công ty có thể huy động vốn khi thành lập hoặc để mở rộng kinh doanh Nguồn vốn huy động này không cấu thành một khoản nợ mà công ty phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực về khả năng cân đối thanh khoản của công ty sẽ giảm rất nhiều, trong khi
sử dụng các phương thức khác như phát hành trái phiếu công ty, vay nợ từ các tổ chức tín dụng thì hoàn toàn ngược lại Tuy nhiên, mỗi phương thức huy động đều
có những ưu nhược điểm riêng và nhà quản lý công ty phải cân nhắc, lựa chọn tùy từng thời điểm và dựa trên những đặc thù cũng như chiến lược kinh doanh của công
ty để quyết định phương thức áp dụng thích hợp
Đối với nhà đầu tư cổ phiếu: Các nhà đầu tư trên thị trường sẵn sàng mua cổ phiếu được công ty phát hành Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần được phát hành dưới dạng chứng thư có giá và được xác định thông qua việc chuyển dịch, mua bán chúng trên thị trường chứng khoán giữa các chủ thể đầu tư và được pháp luật bảo
vệ Mặt khác, người mua cổ phiếu nghĩ rằng đồng vốn họ đầu tư được các nhà quản
lý công ty sử dụng có hiệu quả, tạo ra nhiều lợi nhuận hoặc đánh giá hoạt động cũng như tiềm năng phát triển, sinh lợi của công ty dự định đầu tư là cao, và đương nhiên
họ sẽ được hưởng một phần từ những thành quả đó thông qua việc thanh toán cổ tức cho các cổ đông, đồng thời giá trị cổ phần sở hữu cũng sẽ gia tăng trên cơ sở thực tại và triển vọng phát triển của công ty mình đã chọn Thông thường, khả năng sinh lợi, thu hồi vốn đầu tư cổ phiếu tỷ lệ thuận với giá cả giao dịch cổ phiếu trên thị trường
Trang 24Bên cạnh đó, việc phát hành trái phiếu cũng giúp được một số lợi ích cho các
cổ đông Dù làm ăn thua lỗ, công ty vẫn phải trả đủ tiền lãi, không cắt giảm hoặc bỏ như cổ phiếu Nếu công ty ngừng hoạt động, thanh lý tài sản, trái chủ được trả tiền trước người có cổ phần ưu đãi và cổ phần thông thường Nhưng nếu công ty có lợi nhuận cao, công ty có thể chia thêm cổ tức cho người có cổ phần, thì trái chủ vẫn chỉ được hưởng ở mức đã định
1.3.3 Vai trò của chính sách cổ tức trong công ty cổ phần
Sự phát triển của một doanh nghiệp luôn gắn liền với các chính sách, định hướng của ban quản trị doanh nghiệp Trong một doanh nghiệp thường có ba chính sách quan trọng: chính sách đầu tư, chính sách tài trợ và chính sách cổ tức, chính sách cổ tức tuy đứng ở vị trí ưu tiên thứ ba nhưng tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của doanh nghiệp thì không thể phủ nhận, nhất là đối với các doanh nghiệp lớn trên thế giới Vì chính sách cổ tức được ban quản trị doanh nghiệp sử dụng như là một công cụ để phát tín hiệu ra thị trường cho các nhà đầu tư Đối với nhiều nhà đầu tư, cổ tức được xem như một nguồn thu nhập ổn định và thường xuyên, đáp ứng nhu cầu vốn trong một khoảng thời gian cố định nên đối tượng này đặc biệt phản ứng với chính sách cổ tức của doanh nghiệp Vì vậy, chính sách cổ tức sẽ tác động không nhỏ đến lợi ích của cổ đông doanh nghiệp, nhất là các cổ đông lớn Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển thì sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán cần được quan tâm, vì đây là nơi các đa dạng các dòng tiền chảy vào và là nơi để các doanh nghiệp huy động vốn một cách an toàn và hiệu quả Thị trường chứng khoán sẽ phát triển khi các doanh nghiệp niêm yết hoạt động hiệu quả và ngày càng phát triển Để phát triển cần có tổng hợp nhiều nguồn lực thúc đẩy các doanh nghiệp, chính sách cổ tức là một trong những chính sách thúc đẩy tốt cho thị trường Trong thời gian tới các doanh nghiệp nên chú trọng hơn về công tác xây dựng chính sách cổ tức để phát triển doanh nghiệp hơn nữa cũng như nâng cao giá trị doanh nghiệp trên thị trường
Trang 25KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
CTCP là một loại hình kinh doanh phổ biến hiện nay, được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển24
CTCP là một hình thức doanh nghiệp được pháp luật công nhận Từ khái niệm tài chính, tài chính doanh nghiệp nói chung đã bao quát khái niệm tài chính CTCP Tài chính CTCP là sự hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của CTCP trong khuôn khổ pháp luật cho phép CTCP là loại hình đặc trưng của công ty đối vốn Các công ty đối vốn có rất nhiều
ưu điểm sao với công ty đối nhân, được người kinh doanh ưa chuộng vì chế độ TNHH về tài sản, hơn nữa nó còn có khả năng huy động vốn khổng lồ để tăng quy
mô hoạt động của công ty
Ta có thể thấy rằng, LDN đã quy định tương đối cụ thể cơ cấu tổ chức công
ty nhằm tạo nên một nền tảng pháp lý vững chắc cho quá trình quản lý sử dụng vốn của công ty cũng như cho sự tồn tại và phát triển của CTCP
Quyền được hưởng lợi nhuận từ thành quả kinh doanh của doanh nghiệp là một trong những quyền căn bản của người đầu tư vào hoạt động kinh doanh Đối với cổ đông CTCP điều đó thể hiện ở quyền được hưởng cổ tức Do mỗi loại cổ đông hưởng một quy chế pháp lý khác nhau, nên LDN cũng quy định điều kiện trả
cổ tức khác nhau đối với mỗi loại cổ đông đó
24
Nguyễn Ngọc Bích (2003), Luật Doanh nghiệp, vốn và quản lý trong CTCP, NXB Trẻ, tr.18
Trang 26CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH
TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN
2.1 Huy động vốn trong công ty cổ phần
2.1.1 Huy động vốn điều lệ trong công ty cổ phần
LDN 2014 quy định rõ trách nhiệm của các cổ đông sáng lập về tính chính xác, trung thực đối với giá trị tài sản góp vốn được giới hạn trong phạm vi các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn kết thúc định giá Những người cam kết mua cổ phần còn phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn vào công ty theo đúng quy định25
Căn cứ vào nguồn gốc hình thành vốn, vốn của CTCP được chia thành: vốn chủ sở hữu (vốn tự có) và vốn tín dụng (vốn vay)
Vốn của chủ sở hữu CTCP: Là chỉ số phản ánh khả năng tài chính thực sự của CTCP Khi mới thành lập vốn của chủ sở hữu đồng thời là vốn điều lệ của công
ty Trong quá trình hoạt động, nguồn vốn của chủ sở hữu được bổ sung bằng cách phát hành cổ phiếu Bộ phận chủ yếu trong vốn của chủ sở hữu là vốn điều lệ Vốn điều lệ là số vốn, tài sản do các nhà đầu tư góp khi thành lập CTCP và được ghi vào điều lệ CTCP Vốn điều lệ có thể được góp bằng tài sản hữu hình hoặc vô hình Vốn góp của các cổ đông có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật và các tài sản khác Loại vốn này chiếm một vai trò quan trọng và phản ánh chính xác năng lực tài chính thực sự của công ty Vốn điều lệ là loại vốn mà bất kỳ công ty nào cũng phải có và phản ánh khả năng tài chính thực sự của công ty, được góp từ khi công ty thành lập Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn thuộc sở hữu của công ty, được hình thành từ đóng góp của cổ đông và vốn do CTCP tự bổ sung từ lợi nhuận của công ty CTCP máy – thiết bị dầu khí có vốn chủ sở hữu đến 31/12/2017 là 459.284.976.499 VNĐ26 Cao hơn 7.000.206.886 NNĐ so với mức vốn vào ngày 01/01/2017 Trong khi đó, CTCP công nghiệp Tung Kuang có số vốn chủ sở hữu vào đầu năm là 454.170.960.579 VNĐ và cuối năm là 434.532.918.756 VNĐ27
Trang 27có thể thấy rằng không phải lúc nào vốn chủ sở hữu lúc nào cũng tăng theo hằng năm, nó có thể giảm hoặc tăng so với năm trước đó Nguyên nhân là vì việc chuyển đổi các trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu, tức là biến tài sản nợ thành tài sản vốn, khi đó vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ tăng lên Trong khi đó, vốn chủ sở hữu giảm xuống có thể do phần lỗ trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Vốn vay: Là khối tài sản mà CTCP huy động được thông qua các chính sách,
chế độ của nhà nước hoặc các hợp đồng giữa CTCP với các tổ chức, cá nhân khác trong một thời hạn nhất định Vốn vay của CTCP bao gồm nhiều loại: Vốn vay của ngân hàng, vay thông qua kênh phát hành trái phiếu, thông qua kênh cho thuê tài chính, vay của các tổ chức, cá nhân có nguồn vốn nhàn rỗi Đây là một nguồn vốn quan trọng giúp công ty có thể tiến hành hoạt động kinh doanh của mình một cách hiệu quả hơn, giải quyết nhu cầu thiếu vốn của công ty Tuy nhiên, trên thực tế việc các CTCP tiếp cận nguồn vốn vay thông qua ngân hàng không phải lúc nào cũng dễ dàng Để vay được vốn công ty phải đáp ứng những điều kiện nhất định, do đó không phải CTCP nào cũng có loại vốn này Hơn nữa, đây là loại vốn không cố định, khi được vay vốn công ty được toàn quyền sử dụng vốn Tuy nhiên, công ty sẽ phải trả trong một thời điểm nhất định nên không mang tính ổn định lâu dài Vì vậy, loại vốn này không được dùng để hình thành cổ phần trong CTCP
Tuy nhiên, cần lưu ý là mức vốn điều lệ sẽ ảnh hưởng đến nghĩa vụ tài chính của công ty đối với nhà nước Cụ thể, mức thuế môn bài doanh nghiệp phải đóng theo Nghị định 139/2016/NĐ-CP và Thông tư 302/2016/TT-BTC Ngoài ra, những người đã cam kết góp vốn dĩ nhiên sẽ chịu trách nhiệm đối với hoạt động của công
ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp Do đó, vốn đăng ký càng cao thì trách nhiệm của thành viên, cổ đông hoặc chủ công ty đối với hoạt động của công ty càng lớn Hiện nay, văn bản đang có hiệu lực hướng dẫn về cách ghi vốn điều lệ CTCP khi đăng ký doanh nghiệp được ghi trong Thông tư số 14/2010/TT-BKH ngày 04/06/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn một số nội dung về hồ sơ, trình
tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP
Ngoài ra, phát hành cổ phiếu cũng là một trong những cách để huy động vốn cho công ty Phát hành cổ phiếu là việc chào bán cổ phần của CTCP cho người đầu
tư nhằm đáp ứng yêu cầu về vốn của công ty Kết quả của việc chào bán cổ phần sẽ đảm bảo huy động vốn điều lệ trong quá trình thành lập công ty hoặc sẽ làm tăng vốn điều lệ của công ty trong trường hợp công ty đang hoạt động Việc phát hành cổ
Trang 28phiếu có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông hiện có trong công ty hay có thể dẫn đến thay đổi vị thế của từng cổ đông Do vậy, việc quyết định loại cổ phần, tổng số cổ phần của từng loại được chào bán sẽ do ĐHĐCĐ quyết định còn HĐQT quyết định thời điểm, phương thức và giá chào bán cổ phần trong số cổ phần được quyền chào bán
Mệnh giá là một quy định đặc biệt chỉ áp dụng đối với cổ phần chứ không áp dụng đối với phần vốn góp Mệnh giá chính là giá trị danh nghĩa của một cổ phần Mệnh giá cổ phiếu, chứng chỉ quỹ chào bán lần đầu ra công chúng là mười nghìn đồng Việt Nam Mệnh giá của trái phiếu chào bán ra công chúng là một trăm nghìn đồng Việt Nam và bội số của một trăm nghìn đồng Việt Nam28
Tổng mệnh giá các
cổ phần do một cổ đông năm giữ thể hiện giá trị phần sở hữu của một cổ đông trong vốn điều lệ của CTCP Có thể hiểu quy định này qua ví dụ sau: CTCP A có vốn điều lệ là 1.000.000 đồng, bao gồm 100 cổ phần Như vậy cổ đông sở hữu 10 cổ phần có tổng mệnh giá là 100.000 đồng thì cổ đông sở hữu 10% vốn điều lệ
Từ quá trình thành lập cũng như trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của công ty, chào bán cổ phần là một trong những hoạt động tài chính quan trọng của công ty, được LDN quy định LDN 2014 chia ra chào bán cổ phần thành hai hình thức gồm: Chào bán cổ phần riêng lẻ và chào bán cổ phần ra công chúng Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định chào bán cổ phần riêng lẻ, công
ty phải thông báo việc chào bán cổ phần riêng lẻ với Cơ quan đăng ký kinh doanh kèm theo thông báo chào bán cổ phần riêng lẻ Công ty có quyền bán cổ phần sau
05 ngày làm việc, kể từ ngày gửi thông báo mà không nhận được ý kiến phản đối của Cơ quan đăng ký kinh doanh Công ty phải thực hiện đăng ký thay đổi vốn điều
lệ với cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hoàn thành đợt bán cổ phần29
Chào bán cổ phần ra đại chúng trong CTCP:30
Tổ chức phát hành thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng phải đáp ứng các điều kiện về tổ chức phát hành cổ phiếu ra công chúng như sau: Doanh nghiệp có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ mười tỷ đồng
Trang 29Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán; Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký chào bán; Có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được ĐHĐCĐ thông qua31
Bên cạnh đó còn có các trường hợp đặc thù khi chào bán cổ phiếu ra công chúng được quy định tại Nghị định 58/2012/NĐ-CP Trong đó quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật chứng khoán và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật chứng khoán
Trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp GCNĐKKD, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của ĐHĐCĐ Trong trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó và người nhận chuyển nhượng đương nhiên trở thành cổ đông sáng lập của công ty Sau thời hạn ba năm, kể từ ngày công
ty được cấp GCNĐKKD, các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập đều được bãi bỏ32
2.1.2 Mối quan hệ giữa cổ đông với nghĩa vụ tài chính trong CTCP
Như đã trình bày, CĐPT là cổ đông sở hữu cổ phần phổ thông của CTCP Quyền của CĐPT được quy định tại Điều 114 LDN 2014 Cụ thể gồm 2 nhóm quyền cơ bản sau:
Đầu tiên là nhóm quyền về tài sản:
Thứ nhất, được nhận cổ tức theo quy định của ĐHĐCĐ Có thể nói trong nhóm quyền về tài sản của CĐPT thì quyền được trả cổ tức là quyền liên quan trực tiếp nhất đến lợi ích vật chất của cổ đông Nhìn chung, quyền được trả cổ tức của cổ đông không chỉ phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như nguyên tắc phân chia lợi nhuận, định hướng phát triển của công ty, tình hình nội bộ cổ đông trong công ty Có những CTCP ít quan tâm đến việc mở rộng quy mô của công ty, vì vậy, khi có lợi nhuận thường đem tất cả chia cho cổ đông, nhưng ngược lại cũng có những CTCP quan tâm đến việc mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, khi đó công ty thường sử dụng lợi nhuận để tái
Trang 30đầu tư bằng cách phát hành thêm cổ phần mới, phần lợi nhuận còn lại mới chia cho
Thứ ba, quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác Như
đã phân tích đặc điểm của CTCP, tạo sự linh hoạt trong đầu tư vốn cho các cổ đông Việc mua bán cổ phiếu là một trong những hình thức thể hiện của quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của cổ đông, bởi vì để chuyển nhượng cổ phần của mình,
cổ đông còn nhiều cách khác như chuyển nhượng trực tiếp cho người khác, hoặc bán lại cho chính công ty
Thứ tư, quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần
Thứ năm, quyền được nhận lại một phần tài sản còn lại của công ty tương ứng với số cổ phần vốn góp vào công ty khi công ty giải thể hoặc phá sản Phần tài sản mà cổ đông được nhận trong trường hợp này phụ thuộc vào hai yếu tố: số tài sản còn lại của công ty sau khi công ty đã thực hiện xong các nghĩa vụ và tỷ lệ phần vốn góp cổ phần của mỗi cổ đông trong công ty Theo quy định tại khoản 2 Điều 54 Luật Phá sản 2014 thì các cổ đông CTCP kể cả chủ doanh nghiệp tư nhân, xã viên hợp tác xã, thành viên công ty TNHH, công ty hợp danh chỉ được chia tài sản của công ty trong trường hợp công ty phá sản khi giá trị tài sản của công ty đã thanh toán đủ theo thứ tự phân chia tài sản quy định tại khoản 1 Điều 54 mà vẫn còn Như vậy, cổ đông CTCP được xếp vào hàng được phân chia tài sản cuối cùng và đương nhiên chỉ là trong trường hợp công ty còn tài sản như đã nói
Ngoài nhóm quyền tài sản ra, cổ đông còn có quyền về nhân thân bao gồm quyền về quản trị công ty và quyền kiểm soát thông tin:
Thứ nhất, tham dự và phát biểu trong các ĐHĐCĐ và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện được ủy quyền hoặc theo hình thức khác do pháp luật, Điều lệ công ty quy định; mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết Xuất phát từ quyền sở hữu một phần tài sản của công ty, với tư cách là thành
Trang 31viên công ty, các CĐPT được quyền tham gia quyết định về các vấn đề quan trọng của công ty Để thực hiện quyền này, pháp luật quy định cho CĐPT nhiều quyền năng khác nhau mà một trong những quyền quan trọng nhất là tham dự và biểu quyết tại ĐHĐCĐ Mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết, do đó việc biểu quyết của CĐPT phụ thuộc vào số lượng cổ phần mà họ nắm giữ
Thứ hai, quyền đề cử người vào HĐQT, BKS HĐQT và BKS là hai cơ quan quan trọng trong cơ cấu tổ chức, quản lý CTCP Cổ đông với tư cách là chủ sở hữu
sẽ có quyền đề cử người vào các cơ quan quản lý và giám sát của CTCP
Thứ ba, quyền yêu cầu triệu tập họp ĐHĐCĐ Thẩm quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ trước hết thuộc về HĐQT Trong trường hợp HĐQT không triệu tập họp theo quy định thì BKS sẽ thay thế HĐQT triệu tập họp ĐHĐCĐ Nếu cả BKS cũng không triệu tập họp theo quy định thì cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng (hoặc một
tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty) có quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ theo quy định của pháp luật33
Thứ tư, quyền yêu cầu BKS kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản
lý, điều hành công ty BKS là cơ quan do ĐHĐCĐ lập ra, có chức năng thay mặt cổ đông giám sát các chức danh quản lý như thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc Do đó, cổ đông còn có quyền yêu cầu BKS kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành công ty mà mình thấy cần thiết
Cổ đông ưu đãi biểu quyết là cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết của CTCP Cổ đông ưu đãi biểu quyết sẽ có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với CĐPT Đổi lại với ưu đãi trên, cổ đông ưu đãi biểu quyết sẽ bị hạn chế quyền chuyển nhượng Họ không được chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết cho người khác trong mọi trường hợp
Cổ đông ưu đãi cổ tức là cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức của CTCP
Cổ đông ưu đãi cổ tức được nhận cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của CĐPT hoặc mức độ ổn định hằng năm Ngoài ra, cổ đông ưu đãi cổ tức còn được nhận lại một phần tài sản còn lại tương ứng với số cổ phần góp vốn vào công ty, sau khi công ty đã thanh toán hết các khoản nợ, cổ phần ưu đãi hoàn lại khi công ty giải
33
Khoản 6 Điều 136 LDN 2014
Trang 32thể hoặc phá sản Về hạn chế quyền, cổ đông ưu đãi cổ tức không có quyền biểu quyết, dự họp ĐHĐCĐ cũng như không có quyền đề cử người vào HĐQT, BKS
Cổ đông ưu đãi hoàn lại là cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại của CTCP Cổ đông ưu đãi hoàn lại được công ty hoàn lại vốn góp bất cứ khi nào theo yêu cầu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại
Về hạn chế quyền, cổ đông ưu đãi hoàn lại không có quyền biểu quyết, dự họp ĐHĐCĐ cũng như không có quyền đề cử người vào HĐQT, BKS
2.1.3 Huy động vốn vay trong công ty cổ phần
Đối với hoạt động tài chính của doanh nghiệp, các nguồn tài trợ cho tài sản
có thể đến từ huy động bằng cách phát hành các mảnh giấy được gọi là nợ (thỏa thuận vay nợ) hoặc cổ phần (cổ phiếu) Đối với nợ lại được chia thành nợ ngắn hạn – nghĩa vụ nợ ngắn hạn bao gồm nợ vay ngân hàng và các nghĩa vụ nợ khác mà doanh nghiệp phải hoàn trả trong vòng 1 năm; và nợ dài hạn – là nghĩa vụ nợ doanh nghiệp không phải hoàn trả trong vòng 1 năm, thường bằng hình thức trái phiếu
CTCP có quyền phát hành trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và các loại trái phiếu khác34 Cùng với số cổ phiếu là công cụ huy động vốn chủ sở hữu, CTCP có thể sử dụng trái phiếu để vay vốn trung hạn và dài hạn, đáp ứng cho nhu cầu về vốn kinh doanh có lúc vượt ngoài khả năng tài chính của các cổ đông Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành35
Như vậy, khác với cổ phiếu, trái phiếu chỉ xác nhận quyền của người sở hữu trái phiếu được trả nợ gốc và lãi suất ấn định trong trái phiếu Quan hệ giữa người
sở hữu trái phiếu với công ty là quan hệ giữa chủ nợ với con nợ Với tư cách là một loại chứng chỉ xác nhận lợi ích tài sản, trái phiếu là phần thứ hai trong cơ cấu vốn của công ty có liên quan đến việc hình thành thị trường chứng khoán Trái phiếu có một số điểm khác biệt cơ bản so với cổ phiếu Về thu nhập định kỳ, lãi suất trái phiếu được ấn định ngay từ khi phát hành, trong khi cổ tức của cổ phiếu lại biến động tùy theo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty phát hành Về mức độ rủi
ro, trái phiếu thường được đánh giá có mức độ rủi ro thấp hơn, do vậy giá trái phiếu