1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Chế định mất quyền phản đối trong tố tụng trọng tài thương mại

77 171 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu đề tài Bài viết hướng tới mục đích khái quát chế định mất quyền phản đối, làm rõ hơn về vị trí của chế định này trong hình thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng

Trang 1

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

CHẾ ĐỊNH MẤT QUYỀN PHẢN ĐỐI

TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

Ngành: LUẬT KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2018

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM

KHOA LUẬT

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 4

[II]

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: ĐỖ DIỆP ANH PHI, MSSV: 1511270818

Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khoá luận tốt nghiệp

này được thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và theo đúng qui định);

Nội dung trong khoá luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác

Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường và pháp luật

Sinh viên

Trang 5

DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

1 AA 1996 – Arbitration Act 1996 : Luật Trọng tài của nước Anh 1996

13 TAND: Tòa án nhân dân

14 TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao

15 Ths: Thạc sĩ

16 TLST: Thụ lý sơ thẩm

17 TTTM: Trọng tài thương mại

18 TS: Tiến sĩ

19 UBTVQH: Ủy ban Thường vụ Quốc Hội

20 UNCITRAL – United Nations Commission On International Law: Ủy

ban Liên Hợp Quốc về Luật quốc tế

21 VIAC – Vietnam International Arbitration Centre at the Vietnam

Chamber of Commerce and Industry: Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Trang 6

[IV]

MỤC LỤC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP LỜI CẢM ƠN I LỜI CAM ĐOAN II DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT III MỤC LỤC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP IV

Phần mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ MẤT QUYỀN PHẢN ĐỐI VÀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 4

1.1 Khái quát về tố tụng trọng tài thương mại 4

1.1.1 Khái quát về trọng tài thương mại 4

1.1.2 Thủ tục tố tụng trọng tài thương mại 4

1.1.3 Hậu quả pháp lý trong thủ tục tố tụng Trọng tài thương mại 6

1.2 Khái quát về tranh chấp được giải quyết bằng tố tụng Trọng tài 7

1.2.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh thương mại 7

Trang 7

1.2.2 Điều kiện để xuất hiện tranh chấp kinh doanh thương mại 8

1.2.3 Phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 9

1.3 Khái quát về mất quyền phản đối 11

1.3.1 Khái niệm và đặc điểm về quyền phản đối và mất quyền phản đối 11

1.3.2 Điều kiện thực hiện quyền phản đối 13

1.3.3 Hậu quả khi không thực hiện quyền phản đối 13

Chương 2: CHẾ ĐỊNH MẤT QUYỀN PHẢN ĐỐI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI - THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ VỀ CHẾ ĐỊNH MẤT QUYỀN PHẢN ĐỐI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI THEO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 2010 16

2.1 Chế định mất quyền phản đối trong tố tụng trọng tài thương mại 16

2.1.1 Quy định pháp luật về chế định mất quyền phản đối 16

2.1.2 Thời điểm áp dụng chế định mất quyền phản đối 25

2.1.3 Hậu quả pháp lý của việc mất quyền phản đối 45

2.2 Thực tiễn áp dụng và kiến nghị về chế định mất quyền phản đối trong tố tụng trọng tài thương mại theo luật Trọng tài thương mại 2010 47

2.2.1 Thực tiễn việc áp dụng cơ chế mất quyền phản đối trong tố tụng trọng tài thương mại 47

2.2.2 Một số kiến nghị về áp dụng chế định mất quyền phản đối trong tố tụng trọng tài thương mại 55

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 8

[VI]

PHỤ LỤC 63

Phụ lục số 1 63

Phụ lục số 2 64

Phụ lục số 3 65

Phụ lục số 4 67

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với việc phát triển mối quan hệ hợp tác, giao lưu nền kinh tế thị trường với các nước trên thế giới, Việt Nam cũng có sự thay đổi và củng cố những văn bản pháp luật để phù hợp hơn với sự đổi mới của quốc gia, trong đó có luật Trọng tài thương Mại 2010

Trọng tài Thương mại là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu và ngày càng phổ biến trong lĩnh vực kinh doanh thương mại ở khắp nơi trên thế giới Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài lần đầu tiên xuất hiện là dưới thời Babylon Theo thời gian, hình thức này ngày càng được phổ biến rộng rãi trong các nước và theo đó là những văn bản về luật Trọng tài được hình thành kết hợp với việc sửa đổi và cải cách để tiến tiệm cận với Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế UNCITRAL

Tại Việt Nam, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được ghi nhận lần đầu trong Sắc lệnh số 29 ngày 12/3/1947 của Chủ tịch nước Qua nhiều giai đoạn phát triển, đến ngày 25/02/2003, Ủy ban thương vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại số 08/2003/PL-UBTVQH và ngày 17/6/2010, Quốc hội thông qua luật Trọng tài thương mại 2010 số 54/2010/QH12.1

Với những cải cách tiến bộ với nhiều quy định đầy đủ hơn, luật Trọng tài thương mại 2010 đã đảm bảo sự phù hợp giữa các văn bản pháp luật trong nước cũng như nâng cao tính khả thi và tiệm cận với tiêu chuẩn Luật mẫu về Trọng tài hơn, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển trong việc giải quyết các tranh chấp bằng Trọng tài ở Việt Nam

Một trong những thay đổi tiến bộ, nguyên tắc “cấm hành vi mâu thuẫn trong tố tụng” – một trong những nguyên tắc quan trọng của pháp luật tố tụng đã được luật Trọng tài thương mại tiếp thu Điển hình là về chế định Mất quyền phản đối, một chế

1 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, Giáo trình Pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương

mại – trang 341, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hà Nội

Trang 10

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Bài viết hướng tới mục đích khái quát chế định mất quyền phản đối, làm rõ hơn

về vị trí của chế định này trong hình thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng tố tụng Trọng tài thương mại Qua đó nêu lên những thực tiễn về việc áp dụng cơ chế mất quyền phản đối trong quá trình tố tụng trọng tài thương mại, những bất cập khi áp dụng chế định này và kiến nghị để hoàn thiện hơn

Vì đây là một trong những chế định mới của pháp luật Việt Nam nói chung cũng như của luật Trọng tài thương mại nói riêng nên vẫn chưa có nhiều bài viết nghiên cứu chi tiết Trong đó, Phó giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Đại (Trưởng khoa Luật dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời là Trọng tài viên Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt nam – VIAC và là Phó Chủ tịch hội đồng khoa học pháp lý, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam) đã có nghiên cứu về chế định này trong cuốn sách Pháp luật Trọng tài thương mại Việt Nam – Bản án và bình luận bản án thông qua nhiều vụ việc khác nhau

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài

Về đối tượng, bài viết này nghiên cứu về chế định mất quyền phản đối trong hoạt động tố tụng Trọng tài thương mại

Để thực hình phần nghiên cứu này, bài viết sử dụng các văn bản, quy định liên quan đến Trọng tài thương mại trong và ngoài nước, như là luật Trọng tài thương mại

2010, Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP về hướng dẫn thi hành một số quy định luật Trọng tài thương mại, v.v

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

Bằng cách phân tích, so sánh, đánh giá và tham khảo tài liệu của thầy cô, giáo sư

và những tác giả đi trước để có thể làm rõ hơn về khái niệm và vai trò của chế định mất quyền phản đối trong tố tụng Trọng tài thương mại Bên cạnh đó, bài Khóa luận còn hướng đến những tài liệu, văn bản nước ngoài để có thể nghiên cứu sâu hơn về chế định mới này

5 Kết cấu đề tài

Với những mục tiêu ở trên, bài luận văn có kết cấu như sau:

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ MẤT QUYỀN PHẢN ĐỐI VÀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

Chương 2: CHẾ ĐỊNH MẤT QUYỀN PHẢN ĐỐI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI - THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ

VỀ CHẾ ĐỊNH MẤT QUYỀN PHẢN ĐỐI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI THEO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 2010

Trang 12

4

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ MẤT QUYỀN PHẢN ĐỐI VÀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

1.1 Khái quát về tố tụng trọng tài thương mại

1.1.1 Khái quát về trọng tài thương mại

Cơ chế giải quyết tranh chấp bằng tố tụng Trọng tài thương mại là một sự kết hợp giữa hai yếu tố là thỏa thuận và tài phán Nói cách khác, cơ chế giải quyết Trọng tài hoàn toàn dựa trên ý chí và tinh thần tự nguyện của các bên nhưng lại có sự hỗ trợ của pháp luật mang tính ràng buộc cao

Thứ nhất, đây là cơ chế mang tính linh hoạt, mềm dẻo được luật Trọng tài thương

mại quy định dựa trên sự tôn trọng tinh thần và ý chí của các bên tham gia Theo đó, các bên có thể tự do thỏa thuận để quyết định việc tố tụng trọng tài có hay không sẽ trở thành phương thức giải quyết tranh chấp, tự do lựa chọn ngôn ngữ, địa điểm, quy trình

tố tụng…

Thứ hai, giải quyết bằng Trọng tài có thể đảm bảo được tính bí mật cao đặc biệt

là những vụ tranh chấp liên quan đến những nhà doanh nghiệp lớn, những bí mật kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh mang tính cạnh tranh cao, sở hữu trí tuệ… các bên có thể giữ được tính bí mật một cách tuyệt đối

Thứ ba, thời gian giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài diễn ra nhanh chóng và

linh hoạt vì luật quy định thủ tục trọng tài đơn giản, việc giải quyết bằng tố tụng Trọng tài thương mại có thể tiết kiệm được khá nhiều thời gian cho các đương sự, đặc biệt là những doanh nghiệp lớn hay doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài, doanh nghiệp nước ngoài hợp tác và làm việc tại Việt Nam

1.1.2 Thủ tục tố tụng trọng tài thương mại

Thủ tục tố tụng trọng tài thương mại được tiến hành hoàn toàn dựa trên ý chí và

sự thỏa thuận của các bên Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận Trọng tài, thì khi có tranh chấp xảy ra, chỉ cần một trong các bên có đầy đủ chứng cứ chứng minh

Trang 13

được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại thì có thể đưa đơn khởi kiện ra Tòa Khi đó, các bên còn lại cũng như tất cả những bên có liên quan bắt buộc phải tham gia phiên tòa để đưa lời khai cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân Việc xét xử sẽ do Hội đồng xét xử của cơ quan tòa án tiến hành và các bên không

có quyền có bất cứ sự lựa chọn nào khác về địa điểm, thời gian và người tiến hành tố tụng

Ở cơ chế giải quyết tranh chấp bằng tố tụng Trọng tài thì các bên lại có quyền định đoạt gần như là tất cả mọi thứ, tùy theo hình thức Trọng tài mà các bên lựa chọn

về ngôn ngữ, thời gian và địa điểm, ngay cả Hội đồng trọng tài để tiến hành quá trình giải quyết mâu thuẫn, sao cho việc giải quyết được trở nên thuận tiện hơn cho tất cả các bên

Về cơ chế giải quyết, Trọng tại thương mại tồn tại dưới hai hình thức: Trọng tài

vụ việc (Trọng tài ad-hoc) và Trọng tài thường trực (Trọng tài thường xuyên, trọng tài quy chế) Việc lựa chọn hình thức trọng tài rất quan trọng vì nó sẽ ảnh hưởng đến toàn

bộ quá trình, thủ tục giải quyết tranh chấp

Bản chất của Trọng tài vụ việc được thành lập hoàn toàn dựa trên ý chí của các bên Trọng tài ad-hoc không có cơ quan thường trực mà chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và kết thúc khi sự việc đã giải quyết xong Trọng tài vụ việc không bị giới hạn bởi các nguyên tắc do nó không có cơ sở thường trực hay bộ máy điều hành, cũng không có những quy tắc riêng cho quá trình tố tụng Tất cả đều phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa các bên để đưa ra những quy định chung trong quá trình giải quyết Ưu thế của Trọng tài Ad-hoc là có thể giải quyết một cách nhanh chóng, mềm dẻo và linh hoạt vì nó không bị ràng buộc bởi nhiều quy tắc ngoài những quy định của Luật này Hạn chế của hình thức Trọng tài ad-hoc là chỉ có được sự trợ giúp duy nhất từ Tòa án, Trọng tài vụ việc không có sẵn danh sách như Trọng tài quy chế và nếu các bên không đạt được sự thống nhất trong việc lựa chọn những quy định chung về thủ tục, quy trình giải quyết thì tố tụng Trọng tài vụ việc sẽ phải dừng lại

Trọng tài trường trực, hay còn được gọi là Trọng tài quy chế, là hình thức giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài theo quy định của luật Trọng tài thương mại và có những quy tắc tố tụng riêng Khi các bên lựa chọn hình thức này thì sẽ nhận

Trang 14

6

được sự hỗ trợ của tổ chức trọng tài trong việc thực hiện quy trình tố tụng Việc lựa chọn hình thức trọng tài quy chế sẽ đảm bảo về tính chuyên nghiệp cao

Về cơ bản, những tổ chức trọng tài là những pháp nhân có hình thức riêng, trụ sở

ổn định, danh sách trọng tài viên, những quy tắc tố tụng chặt chẽ và tuân theo quy định pháp luật của quốc gia mà Trung tâm trọng tài đó tổ chức và hoạt động Chính vì vậy

mà việc tổ chức tố tụng, tiến hành giải quyết tranh chấp được diễn ra một cách chi tiết

mà không phụ thuộc nhiều vào ý chí của các bên, thậm chí là không cần đến sự có mặt của các bên trong một vài trường hợp cụ thể, đặc biệt

Tuy nhiên, điểm hạn chế của hình thức giải quyết này chính là về chi phí cao Ngoài việc trả thù lao giải quyết cho Trọng tài viên thì các bên còn phải trả thêm một khoản chi phí gọi là phí hành chính để được nhận sự hỗ trợ từ các Trung tâm trọng tài Hơn nữa là vì hình thức này đã có những quy tắc tố tụng riêng buộc phải tuân theo dẫn đến quá trình giải quyết sẽ bị kéo dài

1.1.3 Hậu quả pháp lý trong thủ tục tố tụng Trọng tài thương mại

Phán quyết của Trọng tài có sự ràng buộc về mặt pháp lý và có giá trị chung thẩm Khác với Tòa án, một vụ tranh chấp có thể đi qua nhiều giai đoạn và thậm chí có thể phải giải quyết nhiều lần dẫn đến sự phức tạp và làm mất nhiều thời gian thì ở Trọng tài, một khi phán quyết được đưa ra sẽ được coi như là quyết định cuối cùng và các bên sẽ hoàn toàn chấm dứt vụ tranh chấp Như vậy, không những có thể tiết kiệm được khá nhiều thời gian mà các bên còn có thể đảm bảo mâu thuẫn sẽ triệt để được giải quyết

Hiện nay việc thực hiện các mối quan hệ kinh doanh thương mại giữa các tổ chức trong và ngoài nước đang ngày một tăng Vậy nên các loại tranh chấp cũng trở nên đa dạng hơn và không thể thiếu yếu tố nước ngoài Khi đó, các bên có thể lựa chọn giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài và việc tiến hành có thể được diễn ra trong lãnh thổ Việt Nam hay ngoài lãnh thổ Việt Nam, tùy thuộc vào

sự thỏa thuận giữa các bên

Khi đó, phán quyết được đưa ra bởi trọng tài nước ngoài được gọi là phán quyết của trọng tài nước ngoài Các phán quyết của trọng tài nước ngoài sẽ không bị Tòa án

Trang 15

Việt Nam hủy theo luật Trọng tài thương mại như phán quyết của trọng tài trong nước Nhưng phán quyết của trọng tài nước ngoài muốn có giá trị pháp lý tại Việt Nam, muốn được thi hành trên lãnh thổ Việt Nam thì phải thực hiện theo thủ tục công nhận

và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài Trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã có các quy định chung về thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài.2

Ngày 28/7/1995, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Quyết định số 453/QĐ-CTN về việc tham gia Công ước về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài Được biết cho đến nay đã có khoảng 156 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia Công ước 19583 , đồng nghĩa với việc các quyết định trọng tài sẽ được công nhận và cho thi hành tại 156 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới

1.2 Khái quát về tranh chấp được giải quyết bằng tố tụng Trọng tài

1.2.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh thương mại

Tranh chấp được giải quyết bằng tố tụng Trọng tài được quy định cụ thể tại Điều

2 của luật Trọng tài thương mại 20104 là tranh chấp liên quan đến hoạt động thương mại Theo đó thì hoạt động thương mại có một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, hoạt động kinh doanh thương mại được thực hiện nhằm tạo sự giao lưu

và thông thương hàng hóa giữa các quốc gia;

2 Xem: Tưởng Duy Lượng – Nguyên Phó Chánh án TAND tối cao, Thực tiễn giải quyết đơn yêu cầu công nhận

và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam và một số điểm cần lưu ý, Nguồn:

http://tdkt.toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/baiviet?p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&article_detail s=1&item_id=105206303&fbclid=IwAR1abLccItnudwbHiV9-L4xJnEUyzQuKzAThLTz2yagYZH7LoHF8Ychg ZZI

3 Xem: Chuyên đề Tập huấn trực tuyến của TANDTC (2018), Công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng

tài nước ngoài tại Việt Nam, Nguồn:

https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2018/10/15/cong-nhan-va-cho-thi-hanh-phan-quyet-cua-trong-tai-nuoc-ngoai-tai-viet-nam/

4 Quốc hội (2010), Luật Trọng tài thương mại 2010, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự Thật, Hà Nội

Trang 16

8

Thứ hai, về bản chất thì kinh doanh thương mại nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận Lợi nhuận có được có thể là tài sản vô hình hoặc hữu hình;

Thứ ba, đối tượng hàng hóa phù hợp với quy định pháp luật của từng quốc gia;

Thứ tư, chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại thường là thương nhân.5

1.2.2 Điều kiện để xuất hiện tranh chấp kinh doanh thương mại

Có thể định nghĩa “tranh chấp thương mại” là các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các chủ thể thực hiện các hoạt động đó.6

Về lĩnh vực, tranh chấp kinh doanh thương mại phát sinh khi có sự xung đột về quyền và nghĩa vụ liên quan đến các hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi giữa các bên, bao hàm cả những tranh chấp được quy định tại Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự7

5 Trường Đại học Luật – Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình pháp luật thương mại hàng hóa và dịch vụ –

trang 40 - 41, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội

6 Trường Đại học Luật – Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh

chấp thương mại – trang 312, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội

7 Xem Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội

Điều 30 Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận

2 Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận

3 Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty

4 Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công

ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty

5 Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật

Trang 17

Về chủ thể trong tranh chấp kinh doanh thương mại có thể là tổ chức hoặc cá nhân và thường là thương nhân.8 Trong trường hợp mối quan hệ tranh chấp chỉ có một bên là thương nhân thì việc xác định có phải hay không là tranh chấp kinh doanh thương mại trong những trường hợp này sẽ căn cứ vào việc bị đơn có phải là thương nhân hay không

1.2.3 Phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại có thể được hiểu như là việc sử dụng những hình thức, biện pháp hay các hoạt động nhằm khắc phục hay điều chỉnh những vấn đề nảy sinh, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên cũng như các mối quan hệ thương mại Các loại phương thức hiện nay được sử dụng phổ biến bao gồm: thương lượng, hòa giải, tòa án và trọng tài

Thứ nhất: thương lượng sẽ là hình thức gần như được ưu tiên hàng đầu khi có bất

kì tranh chấp nào phát sinh Theo đó, các bên tranh chấp sẽ tự thỏa thuận, bàn bạc với nhau nhằm chấm dứt phát sinh giữa họ.9

Thứ hai: là hình thức có sự tham gia của bên thứ ba Bên thứ ba, hay còn được

gọi là hòa giải viên, có thể là bất kì ai hay tổ chức nào và không có bất kì lợi ích nào liên quan đến vụ tranh chấp Có hai thể loại hòa giải là hòa giải ngoài tố tụng và hòa giải trong tố tụng

Đối với loại hòa giải ngoài tố tụng thì việc thực hiện phương án giải quyết phải hoàn toàn dựa vào tinh thần tự nguyện của các bên (trừ hòa giải thông qua trung tâm hòa giải thương mại thì quyết định hòa giải thành phải được đăng ký tại Tòa án và nó

sẽ trở thành một văn bản pháp lý có hiệu lực bắt buộc) Còn hòa giải trong tố tụng là một trong những quy trình tố tụng được quy định theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 hay

8 Xem ThS Trần Đức Thắng (2016), Nhận diện tranh chấp thương mại, Nguồn:

http://tcdcpl.moj.gov.vn/UserControls/News/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=/qt/tintuc/Lists/PhapLuatKinhTe& ListId=&SiteId=&ItemID=99&OptionLogo=0&SiteRootID

9 Trường Đại học Luật – Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh

chấp thương mại – trang 320, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội

Trang 18

10

luật Trọng tài thương mại 2010 Theo đó, nếu các bên hòa giải giải thành thì quyết định hòa giải thành sẽ là một văn bản có hiệu lực pháp lý buộc các bên phải thi hành

Thứ ba: một trong những phương thức giải quyết tranh chấp rất quen thuộc đó

chính là Tòa án Đây là phương thức được thực hiện tại cơ quan xét xử nhân danh và

sử dụng quyền lực nhà nước với những trình tự, thủ tục tiến hành giải quyết tranh chấp được pháp luật quy định chặt chẽ

Thứ tư: là giải quyết tranh chấp bằng con đường tố tụng Trọng tài Trọng tài

thương mại là một hình thức giải quyết tranh chấp mà ở đó sẽ có một bên thứ ba độc lập đứng ra để tìm cách hòa giải, xử lý hay chấm dứt xung đột giữa các bên trong quá trình diễn ra các hoạt động kinh doanh thương mại.10

Trong hình thức giải quyết tranh chấp bằng Tố tụng Trọng tài, Trọng tài viên hay Hội đồng trọng tài có những quyền lực nhất định trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp và là người đưa ra quyết định cuối cùng Trọng tài viên tham gia giải quyết tranh chấp có tính trung lập, vô tư khách quan và tính chuyên nghiệp cao

Phán quyết của Trọng tài có giá trị ràng buộc và có tính pháp lý cao như bản án của Tòa án nhân dân Mặc dù Trọng tài là cơ quan “tài phán tư”, trong hoạt động xét

xử của Trọng tài không được sử dụng quyền lực công như Tòa án nhưng phán quyết của Trọng tài có tính chung thẩm và không thể kháng cáo (trừ những trường hợp ngoại

lệ như thỏa thuận trọng tài vô hiệu, phán quyết trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam…)

Cơ chế giải quyết này lại được một cơ quan có quyền lực là Tòa án hỗ trợ trong quá trình tố tụng như: trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định Trọng tài viên, thi hành quyết định Trọng tài…

Phán quyết của Trọng tài được quốc tế công nhận Đây là một ưu thế quan trọng đối với các quyết định trọng tài có yếu tố nước ngoài Hiện nay Việt Nam ta đang ngày càng phát triển quan hệ thương mại với các quốc gia trên thế giới, Trọng tài sẽ là một

10 Quốc hội (2010), Luật Trọng tài thương mại 2010, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự Thật, Hà Nội

Trang 19

sự lựa chọn phù hợp cho các bên để có thể giải quyết tranh chấp trong hòa bình, hữu nghị mà vẫn được các quốc gia trên thế giới công nhận

1.3 Khái quát về mất quyền phản đối

1.3.1 Khái niệm và đặc điểm về quyền phản đối và mất quyền phản đối

► Khái niệm về quyền phản đối

Trong cuộc sống, đặc biệt là trong những mối quan hệ sẽ luôn có những ý kiến trái chiều khác nhau George S Patton ( là một vị tướng, nhà chỉ huy quân sự nổi tiếng của Lục quân Hoa Kỳ trong Chiến tranh Thế giới lần II trong các chiến dịch ở Bắc Phi, Sicilia, Pháp và Đức, 1943–1945 ) từng nói rằng: “Nếu mọi người đang suy nghĩ giống nhau, thì có nghĩa là ai đó không thực sự động não.” Và có một điều chắc chắn là trong tất cả những sự khác biệt đó, con người sẽ không bao giờ đồng tình với tất cả Khi đó, việc họ lên tiếng hay hành động để đưa ra quan điểm của bản thân thì đây chính là sự phản đối Tuy nhiên, khi nào thì cần có sự phản đối?

Một ví dụ điển hình cho quyền phản đối của một quốc gia được thực thi: đó là việc Trung Quốc đưa giàn khoan HD981 vào vùng biển đặc quyền kinh tế Việt Nam đã làm dấy lên một làn sóng dư luận mạnh mẽ của cả người dân trong nước cũng như báo chí ở nước ngoài Theo đó, Hội Người đi biển Việt Nam khẳng định, hành vi đưa giàn khoan HD 981 và tàu củ a Trung Quốc vào khu vực vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam đã vi phạm Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, gây ảnh hưởng tới quyền tự do hàng hải và làm ảnh hưởng tới an toàn hàng hải trong khu vực Tuyên bố của Hô ̣i Người đi biển Viê ̣t Nam nhấn ma ̣nh: "Hội cực lực phản đối và yêu cầu Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc dừng ngay lập tức các hoạt động bất hợp pháp và rút giàn khoan HD-981 cùng các tàu hộ tống, kể cả các tàu quân sự, tàu hải cảnh, hải giám ra khỏi vùng viển của Việt Nam ”11

11Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2014), Nhiều tiếng nói phản đối Trung Quốc đưa giàn khoan vào

vùng biển Việt Nam, Nguồn:

https://thanhnien.vn/thoi-su/nhieu-tieng-noi-phan-doi-trung-quoc-dua-gian-khoan-

vao-vung-bien-viet-nam-80300.html?fbclid=IwAR1XKcLrjTQFLTmTib3qiu5IfbSXTs1x84b4PAKh-4coyy5MkDAyyN-yU9I

Trang 20

►Đặc điểm của quyền phản đối

Đặc điểm đầu tiên của quyền phản đối đó là khi có một vấn đề phát sinh làm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm Quyền và lợi ích ở đây có thể là của cá nhân hoặc tổ chức thực hiện quyền phản đối, cũng có thể là của xã hội, cộng đồng giống như trường hợp của sự việc Trung Quốc đặt giàn khoan HD981 hay một số hình ảnh khác

đó là phản đối hành vi xâm hại tình dục trẻ em, phản đối sử dụng túi nylon để bảo vệ môi trường,…

Đặc điểm thứ hai, quyền phản đối có thể thực hiện bằng hành động hoặc lời nói, tùy theo tính chất của sự việc Tuy nhiên vấn đề ở đây cần đặt ra là ngoài việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ra thì quyền phản đối cần được thực hiện sao cho phù hợp theo quy định của pháp luật

Đặc điểm thứ ba là khi muốn phản đối bất kì một vấn đề nào, việc tìm hiểu tính chất của sự việc rất quan trọng Không thể chỉ nói “Tôi phản đối” mà không thể nói ra được phản đối về điều gì, như vậy người nghe sẽ không có sự thuyết phục Muốn phản đối thì điều đầu tiên họ phải biết là vì sao họ phản đối và việc đưa ra quan điểm, chứng

cứ để chứng minh là điều cần thiết để đối phương có thể hiểu được nhiều mặt của sự việc, những khía cạnh khác nhau của vấn đề và mọi chuyện có thể trở nên dễ dàng hơn trong quá trình giải quyết

Đặc điểm thứ tư đó là thời điểm Bất kì việc gì khi làm vào đúng thời điểm thì kết quả đạt được vẫn luôn là tốt nhất Thời điểm để thực hiện quyền phản đối tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể Song, việc lựa chọn thời điểm phản đối làm sao để bảo vệ được quyền lợi của bản thân là một điều vô cùng cần thiết và quan trọng

Trang 21

1.3.2 Điều kiện thực hiện quyền phản đối

Như đã nói đến ở phần trên thì mỗi cá nhân đều có quyền phản đối Quyền phản đối phải được thực hiện đúng thời điểm và phù hợp với sự việc đang diễn ra Song, câu hỏi đặt ra: phản đối như thế nào là đúng?

Thứ nhất, quyền phản đối là của mỗi chủ thể (cá nhân, tổ chức), là để đưa ra nhiều quan điểm, ý kiến đóng góp giúp sự việc có thể được tìm hiểu từ nhiều khía cạnh giúp việc thực hiện hay giải quyết trở nên dễ dàng hơn Song, dù sự việc có thể thay đổi hay không thì đây cũng là cách để người khác có thể ghi nhận lại ý kiến chủ quan của chủ thể phản đối, trong trường hợp việc phản đối này không gây ảnh hưởng bất lợi đến người khác và không trái với quy định của pháp luật Đặc biệt là khi hành vi phản đối không xuất phát từ việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân thì phải đảm bảo không xâm phạm trật tự công cộng, bảo vệ đạo đức xã hội cũng như bảo vệ an ninh quốc gia

Thứ hai là về chủ thể thực hiện Mỗi cá nhân hay tổ chức đều có quyền lên tiếng

để phản đối về bất kì một vấn đề nào đó mà chủ thể phản đối cho là không phù hợp, không thỏa đáng có ảnh hưởng đến quyền lợi của họ Nhưng không phải bất kì ai cũng

có quyền lên tiếng phản đối về tất cả mọi việc Chỉ khi là chủ thể trong một một vấn

đề, một vụ tranh chấp cụ thể thì mỗi chủ thể phản đối mới có thể biết quyền lợi của mình đang bị xâm phạm như thế nào và cần phải làm sao để bảo vệ nó Kể cả khi nếu muốn để người khác bảo vệ quyền lợi của chính họ thì chủ thể phản đối cũng phải thể hiện sự đồng ý, thể hiện yêu cầu thì điều đó mới có thể xảy ra

1.3.3 Hậu quả khi không thực hiện quyền phản đối

Khi không thực hiện quyền phản đối điều đó được xem như là đã ngầm đồng ý với ý kiến, quan điểm của đối phương đưa ra Như khi một trong hai bên đã đặt bút ký xuống bản hợp đồng, điều đó được xem như là đã có sự xác nhận về thỏa thuận và ý chí của các bên thì những vấn đề phát sinh sau đó đi ngược lại với những gì đã giao kết trong bản hợp đồng được xem là không xác đáng ngoại trừ các trường hợp thuộc về thỏa thuận vô hiệu do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa… theo quy định về giao dịch dân sự

vô hiệu của từng quốc gia

Trang 22

14

Quyền phản đối có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức, cụ thể hơn vẫn là thông qua hành động hoặc lời nói Tuy nhiên trong một vài trường hợp, vì để bảo vệ quyền lợi của cá nhân mà thay vì lên tiếng xác nhận, họ im lặng và chờ đợi thời cơ đến mới thực hiện mục đích của mình Từ đó đối phương có sự nhầm lẫn và dẫn đến rất nhiều tranh cãi trong vấn đề này Như vậy, im lặng khi nào thì được xem như là đồng

ý, khi nào thì là phản đối?

Im lặng có là sự phản đối hay là sự đồng thuận là một sự suy đoán và việc hiểu đúng là rất mơ hồ Vì đây là điều rất ít và khó có thể xảy ra bởi vì nó nằm ngay ranh giới giữa đồng ý với không đồng ý và dễ gây ra nhiều sự nhầm lẫn Có thể im lặng chính là không đồng tình với bất kì một quan điểm nào được đưa ra nhưng cũng không phải là phản đối với những quan điểm đó Đây là một trường hợp được nhìn thấy rất rõ trong những cuộc bầu cử, bình chọn khi có sự xuất hiện của những phiếu trắng Phiếu trắng chắc chắn sẽ không được tính là một phiếu bầu để làm cơ sở cho sự đồng ý nhưng cũng không thể xác định được liệu người đó có phản đối với những vấn đề đang cần được bình chọn hay không

Tuy nhiên trong một vài trường hợp cụ thể thì im lặng chính là sự phản đối Giả

sử đó là khi một bên đưa ra lời đề nghị và có yêu cầu: “Trong trường hợp nếu bạn đồng

ý thì hãy lên tiếng về lời đề nghị này.” Bỏ qua khả năng người tiếp nhận không biết đến đề nghị này, nếu người nhận vẫn giữ im lặng thì đây chính là hành động thể hiện

sự từ chối đối với lời đề nghị của đối phương

Một trường hợp khác khá là đặc biệt và được ghi nhận trong nhân quyền đó quyền im lặng trước tòa Đây là một trong những quyền của con người và lần đầu được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 Theo đó, bị cáo có quyền giữ im lặng trước tòa và cơ quan tiến hành tố tụng Khi đó, cơ quan tiến hành tố tụng không có quyền buộc bị cáo phải khai báo bất kì điều gì bằng mọi biện pháp không hợp pháp

Song, im lặng thường bị nhận định là như biểu hiện của sự đồng ý Đó là khi một người biết đến về sự tồn tại của vấn đề, sự việc nhưng lại không có bất kì một hành động phản bác nào, hay nói cách khác tất cả những gì mà họ biểu hiện ra ngoài là im lặng, thì điều đó nghiễm nhiên được coi như đã ngầm đồng ý Hay một trường hợp

Trang 23

khác là khi một bên đã đưa ra những lời cảnh báo, đề nghị cho bên còn lại nhưng không có bất kì sự hội đáp nào trong một khoảng thời gian “hợp lý” cho thấy có sự phản đối thì sự im lặng lúc này sẽ được coi như là đã “đồng ý”

Như vậy, một khi đã có sự xác nhận là đồng thuận đồng tình giữa hai bên thì không có bất kì lý do gì để một trong các bên có quyền phản bác ngược lại Khi đó, quyền phản đối của họ bị coi như là “đã mất” và họ phải chịu trách nhiệm trước quan điểm của mình Trong trường hợp quyền và lợi ích bị xâm phạm thì sẽ không được bồi thường một cách thỏa đáng

“Mất quyền phản đối là một (các) bên bị tước đi quyền phản đối của mình trong việc đưa ra những ý kiến, tranh luận Mất đi quyền phản đối đồng nghĩa với việc mất

đi quyền được đòi lại lợi ích hợp pháp, quyền tự bảo vệ mình cũng như quyền được đưa ra ý kiến về một số vấn đề được quan tâm trong cộng đồng, xã hội”

Như vậy, trong lĩnh vực kinh tế, hoạt động kinh doanh thương mại là một trong những hoạt động nổi trội, là điều kiện tiền đề thúc đẩy cho nhiều lĩnh vực khác phát triển Song, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì những mâu thuẫn, xung đột trong các mối quan hệ hợp tác trong và ngoài nước là điều không thể tránh khỏi Khi đó, tùy theo mức độ của sự việc và sự thiện chí mà các bên có thể lựa chọn một trong những phương thức giải quyết tranh chấp sau để giải quyết vấn đề đó là: thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án

Cho tới thời điểm hiện tại, không có một phương thức nào được coi là tối ưu nhất Tuy nhiên với những đặc điểm nổi trội về sự linh hoạt, mềm dẻo, nhanh chóng, hạn chế kinh phí cũng như việc đảm bảo uy tín cũng như các bí mật kinh doanh, các mối quan

hệ hợp tác mà tố tụng bằng Trọng tài thương mại là hình thức đang ngày càng được thừa nhận và lựa chọn một cách rộng rãi Với những quy định của tố tụng trọng tài thương mại, các bên có thể dễ dàng giải quyết tranh chấp một cách tự do, thiện chí những cũng không kém phần nghiêm ngặt, chặt chẽ Trong đó, chế định mất quyền phản đối đòi hỏi các bên khi tham gia giải quyết tranh chấp sẽ phải chủ động hơn dựa trên thiện chí và sự thỏa thuận

Trang 24

2.1 Chế định mất quyền phản đối trong tố tụng trọng tài thương mại

2.1.1 Quy định pháp luật về chế định mất quyền phản đối

Mất quyền phản đối được dịch từ tiếng Anh là “Lose of the right to object” theo Luật Trọng tài của nước Anh (Arbitration Act 1996 (AA 1996)) hay còn được hiểu theo một thuật ngữ tiếng Anh cổ có nguồn gốc từ Pháp là “Estoppel”

Trong bài phân tích “Hiểu như thế nào về nguyên tắc "giữ nguyên hiện trạng" ở

Biển Đông?”, Tiến sĩ Trần Công Trục có giải thích:

“Thuật ngữ này xuất hiện dựa trên từ chữ Estoupail tiếng Pháp, estopper và tiếng

La tinh là 'stupa' Chữ "estoppel" được Từ điển Collins của nước Anh định nghĩa như sau: "Estoppel" là quy tắc về bằng chứng, theo đó, một cá nhân không được phép phủ nhận sự thật về điều mà trước đây người này đã tuyên bố hoặc về những sự kiện mà người này cho là có thật.”12 (Sự thật ở đây có thể được xác định bởi quyết định của Tòa án, đạo luật hay hành động, văn bản, phát ngôn của một bên khác.)

Nói cách khác, estoppel – mất quyền phản đối – là một thuật ngữ pháp lý, là chế định ngăn chặn các bên thay đổi một sự việc được cho là sự thật không thể thay đổi Theo đó, bên mất quyền phản đối sẽ bị coi là “estopped”, nghĩa là bị ngăn chặn, loại trừ quyền được thực hiện những hành vi như tranh luận hoặc đưa ra những chứng cứ có

liên quan để bảo vệ quyền và lợi ích của mình

12 Xem: TS Trần Công Trục (2014), TS Trần Công Trục nói rõ nguyên tắc trước sau như một về “Biển Đông”,

Nguồn: post152381.gd

Trang 25

http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/TS-Tran-Cong-Truc-noi-ro-nguyen-tac-truoc-sau-nhu-mot-ve-Bien-Dong-►Quy định theo nguyên tắc luật quốc tế

Trong luật pháp quốc tế, chế định mất quyền phản đối có thể được công nhận thành nhiều loại như:

Thứ nhất, Equitable estoppel (Mất quyền phản đối dựa trên tính hợp lý, sự công

bằng vô tư)

Theo pháp luật của nước Anh thì loại nguyên tắc này tồn tại dưới hai hình thức: promissory estoppel (mất quyền phản đối dựa trên bằng chứng về lời hứa) and proprietary estoppel (mất quyền phản đối dựa trên bằng chứng về tài sản)

Promissory Estoppel – “The doctrine of promissory estoppel prevents one party

from withdrawing a promise made to a second party if the latter has reasonably relied

on that promise”.13

“Reliance-Based Estoppel – involves the reliance of one party on something the other party said or did This is also known as “Promissory estoppel.” 14

Nguyên tắc này còn được biết đến với thuật ngữ “Reliance-Based Estoppel” theo

hệ thống pháp luật của Mỹ Nguyên tắc này được xác định dựa trên nền tảng sự tín nhiệm của một bên đối với phát ngôn, hành động của bên còn lại Promissory estoppel ngăn không cho một bên rút lại lời hứa nếu đối phương có lý do để tin vào điều đó

Để một sự việc được xem là Reliance-Based Estoppel, năm yếu tố cơ bản sau phải được chứng minh: (1) Chứng cứ có được phải chứng minh bên đã thực hiện lời tuyên bố có ý định thuyết phục bên bị hại hành động dựa trên những gì mà họ đã nói hay đã hứa; (2) Bên chịu thiệt hại phải chứng minh được việc họ thực hiện dựa trên lời nói hay lời hứa của đối phương là có căn cứ và hợp lý (3) Hành động được thực hiện bởi bên bị thiệt hại phải hợp lý hoặc việc bên bị thiệt hại thực hiện hành động phải nằm trong dự tính của bên thực hiện lời nói hay lời hứa (4) Bên bị thiệt phải phải chứng minh họ có thể sẽ chịu thiệt hại, tổn thất nếu bên thực hiện lời nói, lời hứa từ chối

13 Wikipedia, the free encyclopedia, Estoppel, Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Estoppel#Types_of_estoppel

14 Xem chi tiết tại bài viết: Estoppel, Nguồn https://legaldictionary.net/estoppel/

Trang 26

18

những gì đã tuyên bố hay hành động (5) Bên bị thiệt hại phải chứng minh hành vi của bên đã thực hiện lời nói, lời hứa quá vô lý để cơ quan xét xử có thể cho phép họ có quyền đảo ngược lại sự việc15

“Proprietary estoppel is not used in American law, but is part and parcel of the

general doctrine of promissory estoppel

Although proprietary estoppel was only traditionally available in disputes affecting title to real property, it has now gained limited acceptance in other areas of law Proprietary estoppel is closely related to the doctrine of constructive trust.” 16

Khác với Promissory estoppel, loại nguyên tắc Proprietary estoppel này không nằm trong hệ thống pháp luật của Mỹ nhưng kết quả đặt được thường giống với học thuyết của Promissory estoppel

Proprietary estoppel thường phát sinh trong quan hệ về quyền sử dụng đất và trong tranh chấp về vấn đề chuyển nhượng, tài sản giữa các bên Mặc dù Proprietary estoppel chỉ tồn tại chủ yếu trong tranh chấp về quyền sở hữu tài sản nhưng hiện nay, nguyên tắc còn được chấp nhận trong một vài phạm vi áp dụng khác của luật pháp Proprietary estoppel có những yếu tố sau:

- Nguyên đơn (người được hứa hẹn hay là bên được nhận tài sản): Có một sai lầm trong quyền lợi của mình, có thể là đã bỏ vốn nhưng không nhận được tài sản (thường

là vì chủ sở hữu muốn chuyển nhượng tài sản nhưng việc chuyển nhượng không được thực hiện hoặc không có hiệu lực pháp lý vì một vài lý do); Thực hiện một số hành động dựa trên sự tín nhiệm đối phương

- Bị đơn (người thực hiện lời hứa hẹn hay bên chuyển giao tài sản): Biết về quyền của mình đối với tài sản và nó mâu thuẫn với quyền bị khiếu nại bởi bên nguyên đơn;

15 Xem chi tiết tại bài viết: Estoppel, Nguồn https://legaldictionary.net/estoppel/

16 Xem chi tiết tại nguồn: traditionally-available-in-disputes/

Trang 27

https://www.coursehero.com/file/p35jnkt/Although-proprietary-estoppel-was-only-Biết về sai lầm của nguyên đơn là dựa trên sự tín nhiệm; Động viên bên nguyên đơn hành động dựa trên sự tín nhiệm đó. 17

Thứ hai, Estoppel by Record (Mất quyền phản đối được xác định theo hồ sơ, ghi chép)

“Estoppel by Record – occurs in a court action in which a judgment or order in a previous case or legal proceeding prevents the parties from reintroducing or re- litigating the same issue or cause of action.” 18 “Estoppel by Record applies the doctrine of ‘Res Judicata’ which, translated from Latin, means ‘a thing adjudged’ or ‘a matter already decided’”19

Loại mất quyền phản đối này thường xuất hiện trong hoạt động tố tụng của Tòa

án, Trọng tài dựa trên phán quyết hay chỉ thị trong một vụ án hay quy trình tố tụng trước đó, được hiểu như là “một vấn đề đã được tuyên án” hay “một sự việc đã được quyết định” Theo đó, các bên không được đưa ra khởi kiện hay tranh chấp cùng một vấn đề đã được xét xử, giải quyết

Một số trường hợp cụ thể mà nguyên tắc này có thể phát sinh như: Khi một vấn

đề thực tế giữa các bên đã có phán quyết của Tòa án, Trọng tài và phán quyết đó đã có hiệu lực nhưng các bên vẫn đưa ra khởi kiện cùng một vụ tranh chấp và chủ thể; Khi một vấn đề đã được phán quyết bởi một hội đồng xét xử mà vấn đề phát sinh có cùng chủ thể thì hội đồng xét xử trước đó không được tham gia quá trình giải quyết, (v.v)

Để áp dụng Estoppel by Record thì hội đồng xét xử phải xem xét một trong những điều kiện sau: (1) Phán quyết phải được đưa ra bởi cơ quan xét xử có thẩm quyền (2) Quy tình tố tùng trước đó phải đưa ra được phán quyết hoặc bản án cuối cùng và phải được phát hành án (3) Phán quyết của trọng tài có thể được xem là căn

cứ để áp dụng nguyên tắc "mất quyền phản đối" như thể nó là một bản án của Toà (cơ

17 Wikipedia, the free encyclopedia, Estoppel, Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Estoppel #Types_of_estoppel

18 Xem chi tiết tại bài viết: Estoppel, Nguồn https://legaldictionary.net/estoppel/

19 Wikipedia, the free encyclopedia, Estoppel, Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Estoppel #Types_of_estoppel

Trang 28

20

quan tư pháp) sau khi nghe các bên trình bày chứng cứ, áp dụng trong trường hợp có bên phản đối vì phán quyết được đưa ra bởi người không có đủ tư cách pháp lý.20

Thứ ba, Estoppel by Deed (Mất quyền phản đối dựa trên văn bản, hành vi)

“The doctrine of estoppel by deed (also known as after-acquired title) is a particular estoppel doctrine in the context of real propertytransfers Under the doctrine, the grantor of a deed (generally the seller of a piece of real property) is estopped (barred) from denying the truth of the deed The doctrine may only be invoked

in a suit arising out of the deed, or involving a particular right arising out of the deed.” 21

Thuật ngữ “estoppel by deed” là một thuật ngữ mất quyền phản đối trong những trường hợp chuyển giao tài sản Theo đó, người chuyển nhượng (thường là người bán)

bị xem như là mất quyền phản đối trong việc phủ nhận một sự thật trong hành động trước đó hay trong văn bản Loại mất quyền phản đối này có thể được viện dẫn trong

vụ kiện có nguồn gốc phát sinh từ hành vi nêu trên hoặc khi có một quyền cụ thể phát sinh ngoài văn bản, hành vi nói trên

Đây còn được coi là loại nguyên tắc về chứng cứ, phát sinh từ quan hệ pháp lý của Hợp đồng được ký kết bằng con dấu – như là những thỏa thuận, được gọi là văn bản, có tính thực thi nghiêm khắc hơn có với những loại hợp đồng khác và các bên phải

sự thận trọng rất cao trong việc kiểm tra nội dung trước khi ký kết Vì vậy, một khi đã

ký thì tất cả những nội dung, sự việc (được trình bày để nói rõ lý do ký kết hợp động, thường được tìm thấy trong phần mở đầu của văn bản) đều được coi là chứng cứ chống lại các bên. 22 Khi đó, nếu một trong các muốn đòi hỏi một quyền lợi khác thì bị coi như mất quyền phản đối

Thứ tư, Estoppel by Silence or Acquiescence (Mất quyền phản đối dựa trên sự

im lặng hay bằng lòng.)

20 Xem chi tiết tại bài viết: Estoppel by record (2012), Nguồn:

http://articles.rollingsons.co.uk/2012/07/estoppel-by-record.html

21 Xem chi tiết tại: Estoppel by deed, Nguồn: https://www.revolvy.com/page/Estoppel-by-deed

22 Wikipedia, the free encyclopedia, Estoppel, Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Estoppel #Types_of_estoppel

Trang 29

“Estoppel by Silence or Acquiescence prevents a party from asserting or stating something that he had the right and opportunity to assert earlier, and where his silence put another party at a disadvantage.”23

Nguyên tắc “Mất quyền phản đối dựa trên sự im lặng hay bằng lòng” ngăn chặn một bên đòi hỏi hay tuyên bố về điều gì đó mà đáng lẽ ra họ đã có quyền hay cơ hội được thực hiện sớm hơn và việc im lặng của họ đã gây ra sự bất lợi cho đối phương

Thứ năm, Laches (Mất quyền phản đối dựa trên sự trì hoãn, chậm trễ)

“Laches – refers to an estoppel after a party deliberately and avoidably delays an action for the purpose of creating a disadantage to an adversary.” 24

Nguyên tắc này được Tòa án áp dụng khi một đương sự cố tình trì hoãn sự việc một cách bất hợp pháp nhằm mục đích gây bất lợi cho đối phương

Theo hệ thống pháp luật của Mỹ thì nguyên tắc tắc này là một phần của nguyên tắc Mất quyền phản đối dựa trên tính hợp lý, sự công bằng vô tư (Equitable Estoppel), được áp dụng khi bên khởi kiện mất quyền đòi hỏi quyền lợi trong vụ kiện Mất quyền phản đối do trì hoãn, chậm trễ được áp dụng khi bằng chứng, chứng cứ được đưa ra trong vụ án không còn hiệu lực Ngoài ra còn có thể được áp dụng trong trường hợp khi có một số tình huống thay đổi trong suốt quá trình trì hoãn, chậm trễ dẫn đến việc thực hiện xét xử trở nên không công bằng, phù hợp với đúng mục đích của bên cố tình gây ra sự chậm trễ và trì hoãn này

Để có thể áp dụng nguyên tắc này, những yếu tố sau đây phải được chứng minh: (1) Sự việc bị che giấu hay không được tuyên bố (2) Bên trình bày biết về sự thật nhưng lại không đưa ra sự thật (3) Bên trình bày có hành vi không trung thực hoặc giấu diếm, lừa đảo (4) Bên bị thiệt hại bị thuyết phục và tin tưởng vào sự việc đã được

23 Xem: Estoppel, Nguồn: https://legaldictionary.net/estoppel/

24 Xem: Estoppel, Nguồn: https://legaldictionary.net/estoppel/

Trang 30

22

tuyên bố (5) Bên bị thiệt hại phải chịu tổn thất hay thiệt hại thực tế (6) Có bằng chứng

rõ ràng về hành động của bên thực hiện lời tuyên bố25

Ngoài ra, nguyên tắc mất quyền phản đối được nước Anh đưa vào Arbitration Act England 1996 – “ Đạo luật Trọng Tài Thương Mại của Anh 1996” từ năm 1996 Theo

đó, một số điều khoản thể hiện rõ nhất về chế định mất quyền phản đối được quy định trong đạo luật này có thể tạm dịch như sau:

Điều 31 về quyền phản đối trong thẩm quyền của Hội đồng xét xử, khoản 1:

“Quyền phản đối phải được đưa ra bởi một (các) bên khi phát hiện có sự sai sót về thẩm quyền của Hội đồng xét xử trước khi Hội đồng xét xử bắt đầu quy trình tố tụng để thực hiện việc xem xét về thẩm quyền liên quan tới vụ tranh chấp đang được đưa ra giải quyết.”

Điều 73 về Mất quyền phản đối, khoản 1: “Nếu một bên trong tố tụng tham gia hay tiếp tục tham gia vào quy trình tố tụng mà không (kể cả ngay lập tức hay trong một khoảng thời gian hợp lý theo thỏa thuận trọng tài hay được cho phép bởi Hội đồng xét

xử hay trong bất kì điều khoản nào của Luật này) thực hiện bất kì lời phản đối nào về:

(a) Hội đồng xét xử không có thẩm quyền

(b) Quy trình thủ tục tố tụng được diễn ra không đúng theo quy định

(c) Có sự bất công ảnh hưởng đến quyền lợi của một (các) bên nếu làm đúng theo thỏa thuận trọng tài hay bất kì điều khoản nào trong luật này

(d) Có dấu hiệu bất thưởng ảnh hưởng đến Hội đồng xét xử hay quy trình tố tụng

một (các) bên không được đưa ra lời hản đối trễ hơn, trước Hội đồng xét xử hay Tòa án, trừ khi chứng minh được việc tại thời điểm tham gia hay tiếp tục tham gia tố tụng không biết hay không thể biết về sự việc xảy ra làm mất quyền phản đối.”

Điều 66 về quyền thi hành phán quyết, khoản 3: “Trong trường hợp yêu cầu hủy phán quyết trọng tài vì lý do nội dung phán quyết không thuộc thẩm quyền Hội đồng

25 Xem: Estoppel, Nguồn: https://legaldictionary.net/estoppel/

Trang 31

xét xử được đưa ra bởi bên bị buộc thi hành phán quyết thì yêu cầu này có thể sẽ không được thực hiện

Khi đó, quyền đưa ra phản đối có thể bị mất theo Điều 73 Luật này.” 26

Còn rất nhiều những khái niệm khác nói về mất quyền phản đối, trên đây chỉ là một vài nội dung về nguyên tắc này trong pháp luật của các nước trên thế giới Hầu hết các nước đều dựa vào Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế được Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế thông qua ngày 21 tháng 06 năm 1985 để ban hành luật trọng tài riêng của mình Theo đó, chế định mất quyền phản đối ở Luật mẫu

được quy định như sau:

“Điều 4: KHƯỚC TỪ QUYỀN PHẢN ĐỐI

Khi một bên biết rằng bất kì Điều khoản của Luật này có thể bị các bên làm tổn hại, hoặc bất kì yêu cầu nào theo thoả thuận trọng tài chưa được tuân thủ và vẫn tiếp tục tiến hành trọng tài mà không tuyên bố sự phản đối của mình về những việc không

26 Xem chi tiết tại: Arbitration Act 1996, Nguồn: https://www.legislation.gov.uk/ukpga/1996/23/contents

Section 31(1) Objection to substantive jurisdiction of tribunal.:

“An objection that the arbitral tribunal lacks substantive jurisdiction at the outset of the proceedings must be raised by a party not later than the time he takes the first step in the proceedings to contest the merits of any matter in relation to which he challenges the tribunal’s jurisdiction”

Section 73: Loss of right to object

(1) If a party to arbitral proceedings takes part, or continues to take part, in the proceedings without making, either forthwith or within such time as is allowed by the arbitration agreement or the tribunal or by any provision

of this Part, any objection—

(a)that the tribunal lacks substantive jurisdiction, (b)that the proceedings have been improperly conducted, (c)that there has been a failure to comply with the arbitration agreement or with any provision of this Part, or (d)that there has been any other irregularity affecting the tribunal or the proceedings,

he may not raise that objection later, before the tribunal or the court, unless he shows that, at the time he took part or continued to take part in the proceedings, he did not know and could not with reasonable diligence have discovered the grounds for the objection

66 Enforcement of the award ( Quyền thi hành phán quyết)

3" Leave to enforce an award shall not be given where, or to the extent that, the person against whom it is sought

to be enforced shows that the tribunal lacked substantive jurisdiction to make the award

The right to raise such an objection may have been lost (see section 73)”

Trang 32

24

chấp hành đó trong thời hạn cho phép thì sẽ xem như đã từ bỏ quyền phản đối của mình.”27

►Quy định theo nguyên tắc luật Việt Nam

Luật Trọng tài thương mại 2010 kế thừa sự phát triển từ Pháp lệnh về Trọng tài thương mại 2003, vẫn giữ lại những quy định cơ bản của Pháp lệnh nhưng đồng thời cũng tiếp thu những nguyên tắc, khái niệm phổ từ pháp luật quốc tế và chế định mất quyền phản đối là một trong số đó

Theo đó, Điều 13 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định:

“Trong trường hợp một bên phát hiện có vi phạm quy định của Luật này hoặc của thỏa thuận trọng tài mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài và không phản đối những vi phạm trong thời hạn do Luật này quy định thì mất quyền phản đối tại Trọng tài hoặc Tòa án.”

Để hiểu rõ hơn và có thể thi hành một cách đúng đắn, thống nhất điều luật trên, Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao số 01/2014/NQ-HĐTP đã có quy định rõ hơn về chế định này như sau:

“Điều 6 Mất quyền phản đối quy định tại Điều 13 Luật TTTM:

1 Trường hợp một bên phát hiện có vi phạm quy định Luật TTTM hoặc của thỏa thuận trọng tài mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài và không phản đối với Hội đồng trọng tài, Trung tâm trọng tài những vi phạm đó trong thời hạn do Luật TTTM quy định thì mất quyền phản đối tại Trọng tài, hoặc tại Tòa án đối với những vi phạm

đã biết đó Trường hợp Luật TTTM không quy định thời hạn thì thời hạn được xác định theo thỏa thuận của các bên hoặc quy tắc tố tụng trọng tài Trường hợp các bên không

27 Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (1985), Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế,

Nguồn: lien-hiep-quoc-ve-Luat-thuong-mai-quoc-te-1985-81043.aspx

Trang 33

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Luat-mau-ve-trong-tai-thuong-mai-quoc-te-cua-Uy-ban-thỏa thuận hoặc quy tắc tố tụng trọng tài không quy định thì việc phản đối phải được thực hiện trước thời điểm Hội đồng trọng tài tuyên phán quyết.” 28

Đây là một khái niệm rất mới lần đầu tiên xuất hiện trong pháp luật Trọng tài nói riêng cũng như pháp luật Việt nam nói chung Tuy nhiên, việc áp dụng chế định này đã tồn tại từ rất lâu trong tố tụng Trọng tài hay Tòa án dưới những hình thức khác nhau

Kể cả khi khái niệm về mất quyền phản đối không được đưa vào trong Pháp lệnh về Trọng tài thương mại 2003, nó vẫn được thể hiện thông qua các điều luật và xuyên suốt trong quá trình tố tụng

2.1.2 Thời điểm áp dụng chế định mất quyền phản đối

Nếu chỉ căn cứ theo quy định tại Điều 13 của luật Trọng tài thương mại 2010 để

áp dụng chế định mất quyền phản đối không thôi sẽ không đủ Như đã nói, chế định này xuất hiện xuyên suốt trong quá trình tố tụng và ở bất kì thời điểm nào, một (các) bên đều có khả năng bị mất quyền phản đối

*Mất quyền phản đối tại thời điểm tiền tố tụng và bắt đầu tố tụng trọng tài

►Quyền khởi kiện, áp dụng thời hiệu khởi kiện

Ở thời điểm này, mất quyền phản đối sẽ chủ yếu xuất hiện bên phía nguyên đơn

Để bắt đầu một quy trình tố tụng trọng tài thì điều đầu tiên cần nhắc tới chính là đơn khởi kiện Đơn khởi kiện phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Theo quy định tại Điều 30 của Luật Trọng tài thương mại 2010 thì đơn khởi kiện bao gồm ngày, tháng làm đơn; tên và địa chỉ của các bên; tóm tắt nội dung vụ tranh chấp; căn cứ để khởi kiện; các yêu cầu cụ thể; tên và địa chỉ Trọng tài viên hoặc đề nghị Trọng tài viên

Một trong những yếu tố giúp vụ tranh chấp được giải quyết một cách nhanh chóng hơn chính là yêu cầu của người khởi kiện Nếu như nguyên đơn có thể nêu ra yêu cầu một cách cụ thể, rõ ràng thì đây chính là tiền đề để tạo sự thuận lợi trong quá

28 Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao (2014), Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định Luật

Trọng tài thương mại, Nguồn:

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Nghi-quyet-01-2014-NQ-HDTP-huong-dan-Luat-Trong-tai-thuong-mai-234283.aspx?anchor=dieu_6

Trang 34

Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về thời hiệu

khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự quy định: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.”

Như vậy có hai trường hợp xảy ra ở đây: Một là đơn khởi kiện của nguyên đơn sẽ vẫn được thụ lý và được đưa ra giải quyết Trong trường hợp này, nếu bị đơn vẫn quan tâm theo dõi, tham gia trong suốt quá trình tố tụng và kết quả cuối cùng là Hội đồng xét xử ra một quyết định, bản án có hiệu lực thi hành thì khi đó bị đơn không còn quyền phản đối về thời hiệu khởi kiện Lúc này, bị đơn buộc phải thi hành bản án, quyết định (nếu bị đơn là bên buộc phải thi hành án) Hai là bị đơn sẽ đưa ra thời hiệu khởi kiện và lúc này nguyên đơn sẽ là người bị mất quyền phản đối Khi đó, vụ án sẽ được đình chỉ nếu đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm

ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết.30

29 Xem: Điều 33 – Luật Trọng tài thương mại 2010

30 Xem điểm e) khoản 1 Điều 217 – Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Trang 35

► Thỏa thuận trọng tài

Nói đến việc có thể tiến hành tố tụng Trọng tài thương mại hay không, một trong những điều quan trọng nhất cần phải xác định đó là thỏa thuận trọng tài Khoản 1 Điều

5 của luật Trọng tài thương mại 2018 quy định: “Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.”

Thỏa thuận trọng tài được quy định theo Pháp lệnh về Trọng tài thương mại 2003 yêu cầu các bên phải “ký thỏa thuận trọng tài” “Tuy nhiên, việc yêu cầu thỏa thuận trọng tài phải ký là không thuyết phục vì thỏa thuận trọng tài hoàn toàn có thể được lập

mà không có chữ ký của ai (chữ ký chỉ là một cách thức thể hiện sự ưng thuận)”.31

Ngày nay, luật Trọng tài thương mại 2010 đã bỏ đi phần “ký thỏa thuận trọng tài” mà hai bên chỉ cần xác lập thỏa thuận trọng tài và thể hiện dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng theo quy định tại Điều 16 của luật Trọng tài thương mại 2010.32

Như vậy có thể hiểu, khi xác lập thỏa thuận trọng tài, hai bên chỉ cần có trao đổi

và lập ra thành văn bản thì thỏa thuận trọng tài coi như tồn tại Tuy nhiên vì không có chữ ký của người có thẩm quyền nên cần đặt ra một vấn đề khác: làm sao để xác định văn bản chứa thỏa thuận trọng tài là đã được hai bên đồng thuận thông qua Nếu là hai bên cùng đưa ra hai văn bản thỏa thuận trọng tài giống nhau thì ở đây hiển nhiên thỏa thuận trọng tài có tồn tại Song, trường hợp hai bên đưa ra hai văn bản chứa hai loại thỏa thuận khác nhau thì lúc bấy giờ, làm thế nào để xác định được thỏa thuận trọng tài bên nào là hợp pháp? Thậm chí trường hợp nếu chỉ có một bên có văn bản chứa thỏa thuận trọng tài thì khi xảy ra tranh chấp, thẩm quyền giải quyết sẽ được xác định như thế nào? Khi đó việc đưa vụ tranh chấp ra Trọng tài giải quyết, bên có văn bản không chứa thỏa thuận trọng tài có quyền phản đối hay không? Và ngược lại vụ tranh chấp có thể được đưa ra giải quyết bằng con đường tố tụng tại Tòa án trong khi có một bên có thỏa thuận trọng tài được hay không?

31 Đỗ Văn Đại (2018), Pháp luật Trọng tài thương mại Việt Nam – Bản án và bình luận bản án – Tập 1, trang 74,

75, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội

32 Xem: Điều 16 – Luật Trọng tài thương mại 2010

Trang 36

28

Trong Quyết định số 03/2014/QĐ-TTTM ngày 18-02-2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội trong việc xem xét Quyết định về thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt nam bên cạnh phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, Nguyên đơn - AAPC giữ bản hợp đồng gốc có chứa thỏa thuận Trọng tài trong khi bản sao bản hợp đồng do Bị đơn - Công ty Đầu tư giữ lại lựa chọn Tòa án nhân dân sẽ là cơ quan giải quyết tranh chấp Khi Nguyên đơn đưa vụ tranh chấp giữa hai bên ra Trọng tài, Trọng tài giải quyết theo hướng “thỏa thuận Trọng tài nằm trong bản gốc còn thỏa thuận tòa án nằm trong bản sao nên bên nào có bản sao thì phải cung cấp bản gốc để đối chiếu.” Theo Trọng tài, “Công ty Đầu tư sẽ phải chịu hậu quả pháp lý của việc không cung cấp bản gốc Hợp đồng” và được coi là “đã từ chôi” cơ hội phản đối tuyên bố của Nguyên đơn về thỏa thuận Trọng tài đã tồn tại Tuy nhiên, hướng này được Tòa án xác định là chưa phù hợp vì lý do Tòa án theo hướng Trọng tài cần phải tiến hành giám định để xác minh tính xác thực của văn bản mà Nguyên đơn cung cấp.33

Sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài là một điều rất quan trọng vì nó điều kiện tiên quyết để xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp Nếu như không có thỏa thuận hay thỏa thuận bị vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thực hiện được thì việc giải quyết bằng Trọng tài sẽ có thể không được diễn ra Theo nguyên tắc, trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải

từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được34 hoặc những trường hợp quy định khác theo quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010

Trong Điều 6 luật Trọng tài thương mại 2010 có nhắc đến “thỏa thuận trọng tài

vô hiệu” và “thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được” Đây được xem là hai trường hợp khiến thỏa thuận trọng tài không có hiệu lực Theo đó, thỏa thuận trọng tài

vô hiệu được quy định cụ thể tại Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010.35 Còn về thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP về

33 Đỗ Văn Đại (2018), Pháp luật Trọng tài thương mại Việt Nam – Bản án và bình luận bản án – Tập 1, trang 77,

Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội

34 Xem: Điều 6 – Luật Trọng tài thương mại 2010

35 Điều 18 luật Trọng tài thương mại 2010: “Những trường hợp sau đây sẽ bị xem là thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Trang 37

hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao có quy định rõ thuật ngữ này tại Điều 4 của Nghị quyết.36

Như vậy, việc xác định có hay không có thỏa thuận trọng tài rất quan trọng đối với quyền lợi của các bên Đây cũng là một trong những yếu tố dễ dẫn đến việc các bên

bị mất quyền phản đối nhất Tại thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài, nếu không một bên tham gia tố tụng nào đưa ra những chứng cứ cho rằng không có thỏa thuận trọng tài thì khi vụ tranh chấp được thụ lý bởi Hội đồng trọng tài, các bên sẽ mất quyền khiếu nại

về việc này

Vấn đề thứ hai cần đặt ra tại thời điểm này đó là quyền đưa vụ án ra giải quyết tại Tòa án Thoả thuận trọng tài có giữa các bên đồng nghĩa với việc các bên đã gián tiếp thoả thuận khước từ thẩm quyền xét xử của Toà án37 Trường hợp một bên đưa đơn kiện ra Tòa nhưng bên còn lại chứng minh có thỏa thuận trọng tài tồn tại và thỏa thuận không bị vô hiệu cũng như có thể thực hiện được thì Tòa án buộc phải từ chối thụ lý theo đúng quy định tại Điều 6 của luật Trọng tài thương mại 2010 Như vậy, bên đưa đơn ra Tòa sẽ mất quyền khởi kiện cũng như phản đối về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài Nếu có hành vi vi phạm thoả thuận trọng tài, các bên có quyền yêu cầu Toà án can thiệp buộc bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ thoả thuận trọng tài

► Thời điểm bắt đầu tố tụng

Khác với tố tụng tại Tòa án, thẩm phán thụ lý vụ án sẽ xem xét đơn khởi kiện và yêu cầu người khởi kiện sửa chửa, bổ sung theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân

36 Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao (2014), Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định Luật

Trọng tài thương mại (2014) Nguồn:

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Nghi-quyet-01-2014-NQ-HDTP-huong-dan-Luat-Trong-tai-thuong-mai-234283.aspx?anchor=dieu_3

Tại Điều 4 của Nghị quyết này quy định: “Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được quy định tại Điều 6

Luật TTTM “Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được” quy định tại Điều 6 Luật TTTM

37 Xem: Các vấn đề khi đưa tranh chấp ra giải quyết bằng thủ tục trọng tài, Nguồn:

http://www.dankinhte.vn/cac-van-de-khi-dua-tranh-chap-ra-giai-quyet-bang-thu-tuc-trong-tai/

Trang 38

Tại thời điểm này, theo quy định ở Điều 32 luật Trọng tài thương mại 2010 thì trong thời hạn 10 kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn, Trung tâm trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn khởi kiện của nguyên đơn và những tài liệu theo quy định tại khoản 3 Điều 30 của luật này.40 (Trừ trường hợp Trung tâm trọng tài

có quy định riêng hoặc các bên có thỏa thuận khác về việc này.)

Trong tố tụng trọng tài, thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài và thông báo đơn khởi kiện rất quan trọng vì đây sẽ là thời điểm để xác định vụ tranh chấp còn hay không còn thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp, v.v Nếu các bên không có bất kì thỏa thuận nào về vấn đề này thì khoản 1, 2 Điều 31 sẽ được áp dụng và khi đó các bên sẽ không quyền phản đối về thời điểm bắt đầu Về những thỏa thuận còn thiếu sót như về phần chọn Trọng tài viên, ngôn ngữ, luật áp dụng… có thể sửa đổi, bổ sung trong đơn khởi kiện, bản tự bảo vệ nhưng không thể dựa vào những yếu tố này để phản đối, buộc dời lại thời điểm bắt đầu tố tụng hay tính vào thời hiệu khởi kiện

Nếu bị đơn không được thông báo việc khởi kiện của nguyên đơn kịp thời, không bảo đảm quyền được thành lập Hội đồng trọng tài… bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục trọng tài Một mặc khác, khi xác định bị đơn đã được nguyên đơn hay Trung tâm

38 Xem Điều 193 về yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện - Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

39 Xem Điều 31 – Luật Trọng tài thương mại 2010

40 Xem: Điều 32 – Luật Trọng tài thương mại 2010

Ngày đăng: 17/12/2019, 16:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quốc hội (2010), Luật Trọng tài thương mại 2010, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Trọng tài thương mại 2010
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự Thật
Năm: 2010
3. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội 4. Đỗ Văn Đại (2018), Pháp luật Trọng tài thương mại Việt Nam – Bản án và bình luận bản án – Tập 1, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, "Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội 4. Đỗ Văn Đại (2018)," Pháp luật Trọng tài thương mại Việt Nam – Bản án và bình luận bản án – Tập 1
Tác giả: Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội 4. Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm: 2018
5. Redfern & Hunter - Ấn bản lần thứ sáu, Trọng tài quốc tế, Trang 770, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trọng tài quốc tế, Trang 770
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên
6. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Giáo trình Pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức – Hà Nội
7. Trường Đại học Luật – Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình pháp luật thương mại hàng hóa và dịch vụ, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình pháp luật thương mại hàng hóa và dịch vụ
Tác giả: Trường Đại học Luật – Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm: 2017
8. Quốc hội (2014), Luật Thi hành án dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung 2014, Nguồn: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thu-tuc-To-tung/Van-ban-hop-nhat-12-VBHN-VPQH-2014-hop-nhat-Luat-thi-hanh-an-dan-su-264499.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thi hành án dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung 2014
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2014
9. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2003), Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 08/2003/PL-UBTVQH11 ngày 25 tháng 02 năm 2003 về Trọng tài thương mại, Nguồn:https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Phap-lenh-Trong-tai-Thuong-mai-2003-08-2003-PL-UBTVQH11-50566.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 08/2003/PL-UBTVQH11 ngày 25 tháng 02 năm 2003 về Trọng tài thương mại
Tác giả: Ủy ban thường vụ Quốc hội
Năm: 2003
10. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao (2014), Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại, Nguồn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại
Tác giả: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao
Năm: 2014
12. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2014), Nhiều tiếng nói phản đối Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam, Nguồn: https://thanhnien.vn/thoi- su/nhieu-tieng-noi-phan-doi-trung-quoc-dua-gian-khoan-vao-vung-bien-viet-nam-80300.html?fbclid=IwAR1XKcLrjTQFLTmTib3qiu5IfbSXTs1x84b4PAKh-4coyy5 MkDAyyN-yU9I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiều tiếng nói phản đối Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam
Tác giả: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ
Năm: 2014
13. Chuyên đề Tập huấn trực tuyến của TANDTC (2018), Công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam, Nguồn:https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2018/10/15/cong-nhan-va-cho-thi-hanh-phan-quyet-cua-trong-tai-nuoc-ngoai-tai-viet-nam/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Chuyên đề Tập huấn trực tuyến của TANDTC
Năm: 2018
14. ThS.LS Lê Văn Sua (2017), Bàn về sự kiện bất khả kháng và nguyên tắc suy đoán lỗi tại điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015, Nguồn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về sự kiện bất khả kháng và nguyên tắc suy đoán lỗi tại điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015
Tác giả: ThS.LS Lê Văn Sua
Năm: 2017
16. Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) (2014), 50 phán quyết Trọng tài quốc tế chọn lọc, Nguồn:https://vietnamarbitration.files.wordpress.com/2016/01/viac-50-phan-quyet-trong-tai-quoc-te-chon-loc.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 phán quyết Trọng tài quốc tế chọn lọc
Tác giả: Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC)
Năm: 2014
17. TS. Trần Công Trục (2014), TS Trần Công Trục nói rõ nguyên tắc trước sau như một về “Biển Đông”, Nguồn: http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/TS-Tran-Cong-Truc-noi-ro-nguyen-tac-truoc-sau-nhu-mot-ve-Bien-Dong-post152381.gd Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS Trần Công Trục nói rõ nguyên tắc trước sau như một về “Biển Đông”
Tác giả: TS. Trần Công Trục
Năm: 2014
18. Tưởng Duy Lượng (2016), Những vấn đề cơ bản về khởi kiện, đơn khởi kiện và bản tự bảo vệ (Phần 1), Nguồn: http://congly.vn/hoat-dong-toa-an/nghiep-vu/nhung-van-de-co-ban-ve-khoi-kien-don-khoi-kien-va-ban-tu-bao-ve-phan-1-159116.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về khởi kiện, đơn khởi kiện và bản tự bảo vệ (Phần 1)
Tác giả: Tưởng Duy Lượng
Năm: 2016
20. Các vấn đề khi đưa tranh chấp ra giải quyết bằng thủ tục trọng tài, Nguồn: http://www.dankinhte.vn/cac-van-de-khi-dua-tranh-chap-ra-giai-quyet-bang-thu-tuc-trong-tai/II. TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề khi đưa tranh chấp ra giải quyết bằng thủ tục trọng tài
21. Arbitration Act England 1996 (Đạo luật Trọng Tài Thương Mại của Anh 1996), Nguồn: https://www.legislation.gov.uk/ukpga/1996/23/contents Sách, tạp chí
Tiêu đề: Arbitration Act England 1996 (
23. Estoppel by record (2012), Nguồn: http: //articles.rollingsons.co.uk/2012/07/ estoppel-by-record.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Estoppel by record (2012)
Tác giả: Estoppel by record
Năm: 2012
25. Estoppel by deed, Nguồn: https://www.revolvy.com/page/Estoppel-by-deed Sách, tạp chí
Tiêu đề: Estoppel by deed
24. Nguồn website: https://www.coursehero.com/file/p35jnkt/Although-proprietary-estoppel-was-only-traditionally-available-in-disputes/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w