1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn học dân gian và văn hóa dân gian vùng thiên bản vụ bản (nam định)

125 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

điểm của từng thể loại, cũng như chưa xem xét văn học dân gian với tư cách là một bộ phận, một thành tố của văn hóa dân gian, nên chưa chỉ ra được mối quan hệ nhiều chiều giữa văn học dâ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

TRẦN THỊ BÍCH LÊ

VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HÓA DÂN GIAN VÙNG THIÊN BẢN-VỤ BẢN (NAM ĐỊNH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Thái Nguyên – 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN THỊ HUẾ

Thái Nguyên – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019

Tác giả luận văn

Trần Thị Bích Lê

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và Văn học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn PGS TS Nguyễn Thị Huế đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp

đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019

Tác giả luận văn

Trần Thị Bích Lê

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Nxb VHTT : Nxb Văn hóa thông tin

Nxb VHDT : Nxb Văn hóa dân tộc

Tr : Trang

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài (Lý do chọn đề tài) 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu (Lịch sử vấn đề) 2

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 4

5 Phạm vi nghiên cứu 4

6 Cấu trúc của luận văn 5

7 Đóng góp của luận văn 5

NỘI DUNG 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1

1.1.1 Giới thiệu khái quát về vùng Thiên Bản-Vụ Bản (Nam Định) 1

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về văn học dân gian và văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản (Nam Định) 7

1.2 Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài 10

1.2.1 Văn hóa dân gian và văn học dân gian 10

1.2.2 Lý thuyết và khái niệm vùng văn hóa, vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ 11

Tiểu kết chương 1 16

Chương 2: VĂN HỌC DÂN GIAN VÙNG THIÊN BẢN – VỤ BẢN 18

2.1 Khái quát về văn học dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản 18

2.2 Các thể loại văn học dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản 18

2.2.1 Thần thoại Thiên Bản-Vụ Bản (Thần thoại được truyền thuyết hóa) 18

2.2.2 Truyền thuyết Thiên Bản-Vụ Bản 22

2.2.3 Tục ngữ, ca dao Thiên Bản-Vụ Bản 33

2.2.4 Dân ca Thiên Bản-Vụ Bản 46

2.3 Đặc trưng văn học dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản 57

Tiểu kết chương 2 59

Chương 3: VĂN HÓA DÂN GIAN VÙNG THIÊN BẢN – VỤ BẢN 61

3.1 Khái quát văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản 61

3.2 Một số yếu tố văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản 61

Trang 7

3.2.1 Tín ngưỡng và sinh hoạt tín ngưỡng vùng Thiên Bản-Vụ Bản 61

3.2.2 Phong tục, tập quán Thiên Bản-Vụ Bản 72

3.2.3 Lễ hội Thiên Bản-Vụ Bản 76

3.2.4 Di tích Thiên Bản-Vụ Bản 82

3.3 Đặc trưng văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản 85

3.4 Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn hóa dân gian Thiên Bản-Vụ Bản 87

Tiểu kết chương 3 90

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC 99

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài (Lý do chọn đề tài)

Thiên Bản-Vụ Bản là mảnh đất nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Nam Định thuộc vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ Nơi đây đã xuất hiện dấu vết cư trú của người Việt cổ từ thời

kỳ tiền sơ sử và thời các vua Hùng dựng nước Thiên Bản-Vụ Bản cũng là mảnh đất thiêng, trung tâm của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam Vùng văn hóa, xã hội và kinh tế Thiên Bản-Vụ Bản đã được định hình trong lịch sử lâu dài của đất nước cũng như của

châu thổ sông Hồng nên “lưu đậm dấu ấn văn hóa văn minh của vùng đồng bằng châu

thổ sông Hồng” [1; tr.413] đồng thời lại mang những sắc thái riêng, truyền thống riêng

độc đáo

Văn học dân gian Thiên Bản-Vụ Bản là một bộ phận quan trọng của văn hóa dân gian Thiên Bản-Vụ Bản Do đó, việc nghiên cứu, giới thiệu diện mạo, đặc trưng văn học dân gian cũng như văn hóa dân gian của địa phương này sẽ nhằm khẳng định những nét chung và riêng độc đáo ấy Qua đó góp phần xây dựng cách nhìn đa chiều về vùng đất Thiên Bản-Vụ Bản và góp phần phát huy hơn nữa truyền thống văn hóa của người dân nơi đây nói riêng và của người dân Nam Định nói chung

Từ trước đến nay, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về mảnh đất, con người Thiên Bản-Vụ Bản nói chung, về văn học dân gian Thiên Bản-Vụ Bản nói riêng Tuy nhiên, việc nghiên cứu văn học dân gian Thiên Bản-Vụ Bản trong mối quan hệ với văn hóa dân gian Thiên Bản-Vụ Bản, chỉ có một số bài viết, công trình đề cập đến một vài khía cạnh hoặc ở mức khái quát ban đầu Nhận thấy đây là một vấn đề còn bỏ ngỏ,

do vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu về: Văn học dân gian và văn hóa dân gian

vùng Thiên Bản-Vụ Bản làm đề tài luận văn Thạc sĩ

Hơn nữa, Thiên Bản-Vụ Bản cũng là mảnh đất bản thân tác giả được sinh ra, gắn

bó và lớn lên bằng đường cày nước ngập ngang bụng của ông, bằng những thuyền lúa gặt về giữa những ngày mưa bão của cha mẹ, bằng những câu chuyện, lời ca, tiếng hát

về cuộc đời lam lũ, vất vả nhưng cũng chan chứa tình đời của người dân quê hương Lựa chọn việc nghiên cứu và giới thiệu về văn học dân gian và văn hóa dân gian Thiên Bản - Vụ Bản, chúng tôi muốn làm một việc tri ân với chính quê hương của mình

Trang 9

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu (Lịch sử vấn đề)

Tìm hiểu tình hình tư liệu cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã tiếp cận với một số công trình có liên quan sau đây:

Trước hết là công trình Tục ngữ-Ca dao Nam Định của tác giả Trần Đăng Ngọc

[21] Công trình này đã tập hợp các câu tục ngữ, ca dao Nam Định Cuốn sách có một

số nhận định khái quát về tục ngữ ca dao Nam Định trong đó có tục ngữ, ca dao Thiên Bản-Vụ Bản Đây là một nguồn tư liệu quý giá

Tiếp theo là cuốn Nghề và làng nghề truyền thống ở Nam Định được biên soạn

bởi nhóm tác giả Đỗ Đình Thọ, Lưu Tuấn Hùng, Nguyễn Văn Nhiên, Hồ Đức Thọ, Trần Đăng Ngọc, Thành Nam [52] Công trình này đã cung cấp cho độc giả những tư liệu quý

về các nghề và làng nghề truyền thống của tỉnh Nam Định trong đó có vùng Thiên

Bản-Vụ Bản

Nhà nghiên cứu Bùi Văn Tam trong công trình Thiên Bản lục kỳ huyền thoại đất

Sơn Nam [38] đã nêu lên một số nhận xét về giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật xây

dựng nhân vật của sáu truyện truyền kì trên đất Thiên Bản

Cùng với công trình trên, tác giả Bùi Văn Tam đã cho ra mắt độc giả cuốn Sự

tích các vị thần linh thờ ở đền làng huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định [33] Công trình này

đã sắp xếp sự tích các vị thần theo từng thời kì lịch sử khoa học, logic Đồng thời trong công trình này, tác giả đã nêu lên một số nhận xét về giá trị nội dung, ý nghĩa và mootip chuyện kể văn học dân gian được sử dụng trong các sự tích

Đặc biệt là cuốn Địa chí văn hóa huyện Vụ Bản [36] của nhà nghiên cứu Bùi Văn

Tam Đây là một công trình mang tính tổng hợp về các mặt lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa… của huyện Vụ Bản Trong chừng mực nào đó, công trình đã có đề cập, phác họa một số nét diện mạo văn học dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản

Đây là nguồn tài liệu rất hữu ích và có giá trị, là những tư liệu tham khảo chính được chúng tôi sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài của luận văn

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu mà chúng tôi đề cập trên nhìn chung mới chỉ dừng ở việc sưu tầm, giới thiệu mà chưa tiếp cận văn học dân gian Thiên Bản-Vụ Bản ở các phương diện đặc trưng khái quát mang tính vùng miền, chưa đi sâu chỉ ra đặc

Trang 10

điểm của từng thể loại, cũng như chưa xem xét văn học dân gian với tư cách là một bộ phận, một thành tố của văn hóa dân gian, nên chưa chỉ ra được mối quan hệ nhiều chiều giữa văn học dân gian và văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản

Do vậy, đề tài của chúng tôi sẽ hướng tới việc tiếp cận văn học dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản theo góc nhìn địa - văn hóa, địa - lịch sử, địa - xã hội Từ đó, nhằm bước đầu chỉ ra được nét đặc trưng khái quát cũng như những đặc điểm riêng từng thể loại của văn học dân gian Thiên Bản-Vụ Bản Đồng thời, đề tài cũng hướng tới việc tiếp cận, tìm hiểu và giới thiệu về văn hóa dân gian Thiên Bản-Vụ Bản, xem xét để chỉ ra mối tương quan giữa văn học dân gian và văn hóa dân gian Thiên Bản-Vụ Bản

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là các thể loại của văn học dân gian Thiên Bản-Vụ Bản như: thần thoại được truyền thuyết hóa, truyền thuyết, tục ngữ, ca dao, dân ca Đây là những thể loại văn học dân gian có từ lâu đời, gắn bó mật thiết với các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng của người dân nơi đây

Đối tượng nghiên cứu cũng được mở rộng tới tín ngưỡng, phong tục, tập quán,

lễ hội, di tích ở vùng đất thiêng này, để từ đó thấy được mối quan hệ nhiều chiều giữa văn học dân gian và văn hóa dân gian Thiên Bản-Vụ Bản

3.2 Mục tiêu nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi xác định mục tiêu nghiên cứu trước hết là tìm hiểu

về văn học dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản, phân loại các thể loại văn học dân gian dựa vào những tiêu chí phân loại đã được các nhà Folklore công nhận, từ đó thấy được

sự phong phú, đa dạng của văn học dân gian nơi đây Đồng thời bước đầu đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh giá đặc điểm của từng thể loại, cũng như tổng quan khái quát về đặc trưng của văn học dân gian Thiên Bản-Vụ Bản

Thứ hai là tìm hiểu về văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản, đặc biệt là

những yếu tố của văn hóa dân gian có tác động và đóng vai trò quan trọng đối với đời sống của người dân vùng đất này như: tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lễ hội, di tích

Trang 11

Thứ ba là chỉ ra mối quan hệ nhiều chiều giữa văn học dân gian vùng Thiên

Bản-Vụ Bản với văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Bản-Vụ Bản

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu, chúng tôi đề ra nhiệm vụ của luận văn là:

- Tìm hiểu vùng đất Thiên Bản-Vụ Bản một cách hệ thống về địa lí, dân cư và

lịch sử hình thành vùng đất, hình thành văn hoá vùng đất

- Tập hợp, hệ thống, phân loại tư liệu để nhận diện diện mạo văn học dân gian và

văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản

- Tìm hiểu, nghiên cứu, đưa ra những nhận định, đánh giá về đặc trưng, tính chất của văn học dân gian, văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản và mối quan hệ giữa

văn học dân gian, văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ đối tượng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau theo hướng liên ngành Đó là các phương pháp nghiên cứu như:

- Phương pháp nghiên cứu so sánh loại hình

- Phương pháp điều tra, điền dã

- Phương pháp thống kê (gắn liền với điều tra xã hội học)

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Việc phối hợp các phương pháp trên sẽ giúp chúng tôi tìm hiểu, khai thác đối tượng nghiên cứu một cách toàn diện để đưa ra những kết luận khoa học đúng đắn và có sức thuyết phục

5 Phạm vi nghiên cứu

- Về phạm vi địa lý: Vùng Thiên Bản-Vụ Bản của tỉnh Nam Định

Trang 12

- Về phạm vi đối tượng nghiên cứu: Văn học dân gian và văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản của tỉnh Nam Định

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của

luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề lí luận liên quan

đến đề tài

Chương 2: Văn học dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản

Chương 3: Văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản

7 Đóng góp của luận văn

Công trình nghiên cứu của chúng tôi một mặt kế thừa, tiếp thu những thành tựu của các công trình đi trước; mặt khác đã mang lại những đóng góp có giá trị Đó là

- Hệ thống các tác phẩm văn học dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản theo thể loại

- Nhận diện diện mạo, đặc trưng văn học dân gian và mối tương quan với văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản

- Đóng góp thêm một tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu, học tập, giảng dạy

về văn học dân gian, văn hóa dân gian địa phương vùng Thiên Bản-Vụ Bản

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Giới thiệu khái quát về vùng Thiên Bản-Vụ Bản (Nam Định)

1.1.1.1 Sự thay đổi hành chính-tên gọi qua các thời kì

Thiên Bản-Vụ Bản là mảnh đất nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Nam Định Phía Bắc tiếp giáp với huyện Mỹ Lộc và thành phố Nam Định Phía Đông tiếp giáp với huyện Nam Trực, ngăn cách bởi sông Đào Phía Nam tiếp giáp với huyện Ý Yên Phía Tây Bắc tiếp giáp với huyện Bình Lục (Hà Nam) và phía Tây Nam tiếp giáp với huyện Ý Yên, đều ngăn cách bởi dòng sông Ba Sát Điểm cực bắc của huyện là làng Hướng Nghĩa (xã Minh Thuận), điểm cực nam là làng Cồn Dâu (xã Vĩnh Hào), cách nhau chừng15 km Điểm cực đông là làng Thi Liệu (xã Đại Thắng) và điểm cực tây là trại Dầu (xã Tân Khánh), cách nhau khoảng 10km

Các đơn vị hành chính của huyện Vụ Bản gồm thị trấn Gôi- huyện lỵ trung tâm

và 17 xã: Hiển Khánh, Minh Thuận, Tân Khánh, Hợp Hưng, Trung Thành, Quang Trung, Đại An, Kim Thái, Minh Tân, Tam Thanh, Liên Minh, Thành Lợi, Liên Bảo, Vĩnh Hào, Tân Thành, Cộng Hoà, Đại Thắng

Trải qua biến thiên của lịch sử, huyện Vụ Bản cũng đổi thay nhiều về tên gọi và cương vực Thiên Bản xưa, Vụ Bản nay vốn là mảnh đất cổ được hình thành bởi phù sa bào mòn trong quá trình biển lùi và phù sa sông Hồng, sông Đáy bồi đắp Thời Hùng Vương, huyện Vụ Bản có tên là Bình Chương thuộc bộ Lục Hải (một trong 15 bộ của nước Văn Lang) [1; tr.7] Huyện Bình Chương lúc đó nằm sát biển Thời thuộc Hán, vùng đất này thuộc quận Giao Chỉ Thời Tam Quốc, thuộc Châu Giao Thời thuộc Lương, nằm ở quận Ninh Hải Thời Tùy Đường, lại thuộc quận Giao Chỉ

Thời nhà Lý, nước ta chia làm 24 lộ, huyện Vụ Bản có tên là huyện Hiển Khánh, thuộc phủ Ứng Phong, lộ Hải Thanh Thời nhà Trần, đổi tên là Thiên Bản, thuộc phủ

Trang 14

Kiến Hưng, lộ Hoàng Giang Ngay cái tên cũng đã nói lên ý nghĩa sâu xa của miền đất

cổ vốn sống bằng nghề nông nghiệp Theo các nhà Nho thì Thiên Bản chính là “Nông giả ư thiên hạ chi giả bản” (nghề nông là cái gốc của thiên hạ), viết gọn là thành “Thiên Bản” Tên của các làng ở Thiên Bản-Vụ Bản góp phần lí giải ý nghĩa tên gọi “Thiên Bản” Tên nhiều làng có chữ Bối và chữ Đê (Bối La, Bối Xuyên, Đại Đê,…) chính là những làng nằm ở bờ sông, phải đắp đê ngăn nước lụt, bảo vệ mùa màng Các làng miền thượng huyện với những cái tên: làng Kho, làng Bịch, Đống Lương, là “căn cứ hậu cần quan trọng của thời Trần” [35; tr 6] Không phải ngẫu nhiên mà khi Thái hậu Dương Vân Nga mời Lê Hoàn lên ngôi, thống lĩnh toàn quân chống giặc Tống, vùng Thiên Bản lúc đó được tướng quân Đô Liệu Lương và thảo sứ Phạm Bạch Hổ chọn làm nơi tập trung lương thảo, chuẩn bị thuyền bè chở lương cho quân sĩ Các làng Đại Đê, Đắc Lực, Dương Lai, Bách Cốc, Đô Liệu, đều có kho lương hoặc đội thuyền chở lương Tương truyền Dương Vân Nga đã đi thuyền rồng đến làng Bách Cốc để động viên nhân dân [36; tr 461] Nhà Lý, nhà Trần đã chọn nơi đây là một trong những nơi tập kết lương thực, chỉnh đốn quân sĩ trước những lần Nam tiến Một loạt điền trang, thái ấp của vương tôn, công chúa nhà Trần được xây dựng ở đây Vua Lý Nhân Tông từng về làm lễ Tịch điền tại hành cung Ứng Phong (làng Hướng Nghĩa, xã Minh Thuận) Vì thế, văn hóa Thiên Bản đậm nét dân gian, đậm đà bản sắc dân tộc, mang tính chất của nền văn hóa nông nghiệp rõ rệt

Năm Vĩnh Lạc thứ năm (1407), nhà Minh đổi phủ Kiến Hưng thành Kiến Bình, đổi Thiên Bản thành huyện Yên Bản Năm Vĩnh Lạc thứ mười ba (1415), nhà Minh đổi huyện Độc Lập thành Bình Lập cho sáp nhập vào huyện Yên Bản

Đến đời Lê, niên hiệu Hồng Đức, cho trở lại tên cũ là huyện Thiên Bản thuộc phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam Đầu đời Nguyễn, huyện Thiên Bản có 10 tổng: An Cự, Bảo Ngũ, Đăng Côi, Đồng Đội, Hào Kiệt, Hiển Khánh, Hoàng Lão, Hổ Sơn, Thiên Bản, Trình Xuyên với 92 xã, thôn, phường, trang trại Đến thời Nguyễn, Tự Đức năm thứ 14 (1860) đổi tên thành huyện Vụ Bản, thuộc phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định Niên hiệu Thành Thái thứ 5 (1893), do sông Đào được mở rộng, nối liền sông Kinh Lũng, sông Cốc Giang với sông Vị Hoàng, nối liền sông Hồng với sông Đáy nên nhiều xã thuộc

Trang 15

tổng Thi Liệu, huyện Nam Trực lại ở bên bờ sông phía Bắc ngăn cách với Nam Trực,

do đó triều Nguyễn cắt mấy xã này về Vụ Bản

Năm 1953, Vụ Bản được cắt về tỉnh Hà Nam Đến tháng 4-1956, Vụ Bản lại trở

về Nam Định Ngày 19-8-1964, Chính phủ lại quyết định nhập làng Quảng Cư của xã Yên Lương huyện ý Yên vào xã Tam Thanh huyện Vụ Bản và chuyển thôn Hữu Dụng của xã Tam Thanh huyện Vụ Bản về xã Yên Minh (Ý Yên) Từ đây trở đi, Vụ Bản mới

ổn định địa giới như ngày nay

Nhìn chung, từ trước đến nay, Vụ Bản là huyện ít có sự xáo trộn địa giới nhất

trong số các huyện của tỉnh Nam Định “Huyện Vụ Bản ngày nay bao gồm hầu hết huyện

Thiên Bản và một phần nhỏ huyện Nam Trực xưa” [64; tr 69]

1.1.1.2 Đặc điểm địa hình

Thiên Bản-Vụ Bản nằm tại phần tiến nhanh ra biển của châu thổ sông Hồng cùng với huyện Ý Yên, Mỹ Lộc và thành phố Nam Định, nhất là khi sông Hồng phân ra các chi lưu như sông Trà Lý, sông Đào (sông Nam Định) và sông Ninh Cơ Nói khác đi, 4.000-5.000 năm trước đây, Vụ Bản vẫn đang là vùng đầm lầy ven biển Quá trình được bồi lắng bởi lớp trầm tích phù sa của hệ thống sông Hồng đã chi phối mạnh mẽ tới sự hình thành thổ nhưỡng và cảnh quan hiện tại Vì vậy, địa hình Thiên Bản-Vụ Bản là

kiểu địa hình không còn chịu ảnh hưởng của biển “Tại đây ta gặp kiểu địa hình đồi sót

Trang 16

Cao) nổi tiếng trong vùng, có bàn cờ tiên bằng đá, có giếng tiên (còn gọi là giếng Hang) nước trong vắt Chè cành Côi Sơn hãm với nước giếng Tiên sẽ được bát nước chè tươi thơm ngon đặc biệt Đầu núi phía Tây Bắc có đền thờ Lữ tướng anh dũng chống giặc Hán, có đền thờ Độc Cước tiên sinh chuyên giúp dân chài đi biển bình an Thời Lê dưới chân núi có phủ thành Nghĩa Hưng, có huyện lỵ Thiên Bản Chếch về hướng đông nam

là núi Hổ, có hình dáng một con hổ ngẩng cao đầu, đang vờn quả cầu trước mặt Sườn núi phía nam có chùa Nộn (dân thường gọi là chùa Non), nơi công chúa Trần Huyền Trân về tu, nay cũng là đền thờ hai công chúa đời Trần là Thụy Bảo và Huyền Trân Núi non trải dài một dải giữa đồng bằng lộng gió, là một cảnh quan đặc sắc của huyện Vụ Bản Dấu vết người nguyên thuỷ tìm thấy tại các khu vực núi này minh chứng Thiên Bản-Vụ Bản là một trong những cái nôi sinh ngụ của người Việt cổ

Điều kì thú hơn nữa là Thiên Bản- Vụ Bản lại có sông uốn khúc, sơn thủy hữu tình Mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, phần lớn mang dấu vết ngòi lạch của biển lùi tạo nên, ngày nay được khơi sâu thành những sông, kênh mang tính chất tiêu úng

Phía Đông Thiên Bản-Vụ Bản có sông Đào nối liền sông Hồng với sông Đáy Do quá trình tự đào lòng (nhất là sau những trận lũ lụt lớn như trận lụt năm Thành Thái thứ 2-1890), sông Đào trở thành sông lớn, là một đường thủy quan trọng trong miền, nối đồng bằng Bắc Bộ với Bắc Trung Bộ, thuyền bè không cần ra biển

Sông Đào chạy dọc hướng Bắc Nam phía Đông xã Tân Thành, tạo ra bãi bồi của Trại Cói và xóm Rước ở ngoài đê, mùa nước lũ các xóm quai đê thường nước ngập tràn mang phù sa sông Hồng bồi đắp vườn và đất bãi màu mỡ Sông Đào chạy dọc tiếp theo phía Đông xã Thành Lợi và xã Đại Thắng Lưu lượng nước và phù sa không kém gì sông Hồng Dọc sông Đào có đê Công (đê Đại Hà), đoạn từ Tân Cốc (Tân Thành) đến Cống Lác (Đại Thắng) Đất ngoài đê như Sa Trung, Đồng Mỹ, Trại Cói, Trại Rước, Miễn Hoàn, Thi Liệu, Cốc Đế, vốn là đất bãi bồi ven sông, mùa nước lũ xưa kia thường ngập băng Để bảo vệ mùa màng, dân tự nguyện làm đê Bối (sử sách gọi là đê Bối Tư)

Phía hữu ngạn, sông Đào có hai chi lưu là sông Cầu Dành và sông Chanh Sông Cầu Dành (sông Nêu, sông Tiểu Cốc) nối liền với sông Vĩnh Tường, từ An Duyên qua

Ba Quàn, chảy lên phía sông Châu Giang qua Phú Ốc, La Xá của huyện Mỹ Lộc, đổ vào sông Đào qua cống Bồng

Trang 17

Sông Chanh (sông Vĩnh Giang) nối liền với sông Vĩnh Tường, từ An Duyên, chảy qua Bất Di (sông Bất Di), vòng về Cầu Chuối (Liên Bảo-sông Cầu Chuối), qua Liên Minh (sông Cầu Ngố-sông Cửu Khúc), Vĩnh Hào (sông Si, sông Vĩnh), rồi đổ ra sông Đào qua cống Chanh

Phía Tây huyện Vụ Bản có sông Ba Sát (còn gọi là sông Sắt) chạy dọc theo ranh giới hai huyện Vụ Bản, Ý Yên Sông Ba Sát nối liền sông Châu Giang với sông Đáy Sông Ba Sát từ Bình Lục (Hà Nam) chảy xuôi theo hướng Bắc-Nam, qua Cầu Họ (sông Cầu Họ), chảy qua Minh Thuận, Tân Khánh, qua núi Ngăm- Kim Thái (sông Ngăm), qua Tam Thanh, xuống Ý Yên (Cầu Tào) đổ ra cống Vĩnh Trị trên sông Đáy Thời Lý Trần, nhánh sông này đã có và là đường thủy quan trọng nối liền hành cung Thiên Trường và thành Trấn Sơn Nam với các thành trấn phía nam Sông Ba Sát có đê Bối Tư chạy dọc xuống tận cống Vĩnh Trị, còn gọi là đê Ất Hợi Năm Ất Hơi (Dương Hòa thứ nhất, 1635), đê sông Bầu (Phủ Lý-Hà Nam) bị vỡ, nước tràn về ngập 5 huyện, dân phải tập trung đắp đê thật vững chắc Vào năm 1845, 1890, đều bị vỡ đê Bầu, nước tràn về lại làm vỡ đê Ất Hợi, dân vô cùng khốn khổ

Xã Hiển Khánh có sông Bún, phía Bắc chảy qua cầu Mái, nối với sông Ninh rồi

đổ vào Sông Hồng; phía Nam chảy qua Hợp Hưng, Cộng Hòa, Kim Thái, đổ vào sông Tiên Hương, ra sông Ba Sát

Sông Ba Sát có một nhánh chảy ngang Tiên Hương (sông Tiên Hương), qua Vân Cát, lên cầu Châu Bạc, đến xóm Xuân thì gặp sông Bún thành ngã ba sông rồi ngoặt sang hướng Đông, qua xã Trung Thành, qua cầu xóm Hòe, đổ vào sông Vĩnh ở đoạn Bất Di

Các con sông trên đều là đường thủy quan trọng của huyện, nối liền sông Đáy với sông Hồng ở nhiều ngả, làm cho giao thông thời xưa và thời nay thuận lợi Nói cách khác, mảnh đất này chính là do phù sa sông Hồng và sông Đáy bồi tụ nên

Hệ thống sông ngòi tạo ra sắc thái riêng biệt trong tập quán canh tác, cư trú, tâm

lí ứng xử cũng như sinh hoạt cộng đồng của cư dân nơi đây, tạo nên nền văn minh lúa nước, vừa có cái chung của văn minh khu vực, vừa có cái riêng độc đáo của mình

Trang 18

Về khí hậu, Thiên Bản-Vụ Bản mang đầy đủ đặc điểm của khí hậu châu thổ Bắc Bộ: nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa rõ rệt Nhìn chung, khí hậu thuận lợi cho môi trường sống của con người, cho sự phát triển nông nghiệp, đồng thời cũng tạo điều kiện cho các ngành thủ công nghiệp phát triển

Chính những yếu tố tự nhiên này đã tác động không nhỏ đến đời sống sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người nơi đây, góp phần làm nên diện mạo văn học dân gian cũng như văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản

1.1.1.3 Đặc điểm cộng đồng dân cư

Đặc điểm về địa hình đã tạo điều kiện thuận lợi cho cư dân nguyên thủy về đây sinh sống, khiến Thiên Bản-Vụ Bản trở thành một trong những cái nôi sinh ngụ của người Việt cổ Người nguyên thủy cách đây hàng 4-5 ngàn năm đã từ miền núi, miền trung du Bắc Bộ, men theo sông Hồng, sông Đáy xuống định cư, tạo nên lớp cư dân đầu tiên ở nơi này Tổ tiên đã quai đê lấn biển, khai phá đất hoang, đời đời kế tiếp nhau, cải tạo từ bãi biển sình lầy hoang vu, cói lác rậm rạp thành ruộng đồng phì nhiêu Qua các hiện vật khảo cổ tìm được, chứng tỏ vào hậu kì đồ đá mới sang thời đại kim khí đã có mặt các nhóm cư dân sinh sống dưới chân các núi Ngăm, núi An Thái, núi Báng, núi Lê, núi Gôi, núi Hổ Trên các núi này, nhất là trong di chỉ hang Lồ ở núi Lê,

đã tìm được nhiều di vật Cùng với đó, thần tích nhiều làng từ miền thượng huyện đến miền trung huyện, từ Tây sang Đông đã ghi nhận điều đó Chính vì thế, đất Thiên Bản còn lưu truyền sâu sắc tín ngưỡng văn hóa dân gian cổ truyền cũng như nền văn học dân gian đa dạng

Cũng giống như cư dân ở vùng Bắc Bộ, người dân Thiên Bản-Vụ Bản sống với nghề trồng lúa nước, làm nông nghiệp một cách thuần túy, là những cư dân “xa rừng nhạt biển” Mảnh đất Vụ Bản từ xưa là một vùng kinh tế nông nghiệp trù phú Các vua

Lí Trần đặt tên huyện là “Thiên Bản” với ý “Nông giả ư thiên hạ chi bản dã” có nghĩa

là “nông nghiệp là gốc của thiên hạ vậy”

Người dân Thiên Bản cũng tận dụng thời gian nhàn rỗi làm thêm nghề thủ công

Vụ Bản có nhiều nghề thủ công cổ truyền Nghề rèn ở làng Bảo Ngũ Nghề gò đồng thau có truyền thống xa xưa ở làng Bàn Kết Nghề chạm đá ở làng Thái La Làng Môn

Trang 19

Nha-Báng làm gạch Nghề làm sơn then, sơn mài làng Hổ Sơn Nghề dệt vải, dệt nái tơ tằm Bảo Ngũ, Vân Cát, Lập Vượng, Quả Linh Nghề đan cót làng Si, làm gối mây làng Tiên, tre đan làng Hồ Sen, thêu Hào Kiệt…

Nền kinh tế hàng hóa phát triển, chợ búa ra đời Chợ Viềng trở thành một nét đẹp văn hóa của địa phương

Người dân Thiên Bản-Vụ Bản sống quần tụ thành làng Làng là đơn vị xã hội

cơ sở của Thiên Bản-Vụ Bản cũng giống như những làng quê khác của vùng châu thổ Bắc Bộ

Là mảnh đất cổ của vùng văn hóa Bắc Bộ, vì vậy, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lễ hội dân gian phát triển sớm trên mảnh đất Thiên Bản, in đậm dấu ấn đời sống tâm linh của người dân Thiên Bản-Vụ Bản nói riêng cũng như của người Việt nói chung: tín ngưỡng thờ thiên thần, tín ngưỡng thờ nhân thần, tín ngưỡng thờ tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu, …Mảnh đất này được coi là trung tâm thờ Mẫu lớn nhất cả nước Đời sống tâm linh trên mảnh đất Thiên Bản-Vụ Bản chính là cái nền vững chắc nhất của quan hệ cộng đồng

Văn học dân gian Thiên Bản-Vụ Bản là một bộ phận quan trọng của văn hóa dân gian Thiên Bản-Vụ Bản, vừa có nét chung với văn học dân gian vùng đồng bằng Bắc

Bộ, vừa mang những nét riêng đậm đà màu sắc địa phương với truyền thống văn hóa lâu đời từ thuở các vua Hùng dựng nước

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về văn học dân gian và văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản (Nam Định)

Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, đã có những công trình, bài viết có liên quan đến đề tài mà chúng tôi khảo sát

Trước hết là những tư liệu về văn học dân gian Thiên Bản-Vụ Bản Đầu tiên phải

kể đến công trình Tục ngữ-Ca dao Nam Định của tác giả Trần Đăng Ngọc [21] đã được

đề cập đến trong phần mở đầu

Nhà nghiên cứu Bùi Văn Tam trong công trình Thiên Bản lục kỳ huyền thoại đất

Sơn Nam đã nêu lên một số nhận xét về giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật xây dựng

nhân vật của 6 truyện truyền kì trên đất Thiên Bản: “nội dung phong phú về chuyện

Trang 20

chống cường quyền bạo lực, cả thần quyền lẫn uy quyền của vua quan tham nhũng (…)

đề cao những tấm gương giúp dân phát triển kinh tế văn hóa (…) đề cao chữ hiếu, trinh (…) đề cao chữ trung, đề cao lòng yêu nước (…) thể hiện sự mưu trí dân dã, sự sáng tạo không cùng của dân chúng” [38, tr 17-23]

Cùng với công trình trên, tác giả Bùi Văn Tam đã cho ra mắt độc giả cuốn Sự

tích các vị thần linh thờ ở đền làng huyện Vụ Bản [33] Công trình này đã sắp xếp sự

tích các vị thần theo từng thời kì lịch sử khoa học, logic Đồng thời trong công trình này, tác giả đã nêu lên một số nhận xét về giá trị nội dung, ý nghĩa và mootip chuyện kể văn học dân gian được sử dụng trong các sự tích

Trong luận văn thạc sĩ ngữ văn Thế giới nghệ thuật trong những bài hát văn ở

Phủ Dầy-Nam Định [8], tác giả Phùng Thị Thanh Huyền đã chỉ ra đặc điểm hát văn ở

các phương diện thi pháp như: không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật,

Tác giả Hoàng Ngọc Thanh trong luận văn thạc sĩ Hình tượng người phụ nữ trong

ca từ hát văn [40] đã đi sâu vào một phương diện quan trọng của thể loại hát văn là hình

tượng người phụ nữ

Về những tư liệu văn hóa dân gian Thiên Bản-Vụ Bản, trước hết phải kể đến các

cuốn địa chí Nam Định qua các thời kỳ như Nam Định tỉnh địa dư chí của Nguyễn Như,

tự Ôn Ngọc [19], Nam Định tỉnh địa dư chí lược tân biên của một học giả, nhà giáo, nhà

văn hóa nổi tiếng người Nam Định, Tiến sĩ Tam giáp Khiếu Năng Tĩnh [60] Các công trình trên đều có đề cập đến địa danh Thiên Bản – Vụ Bản nhưng với tư cách là một quyển địa chí của toàn tỉnh nên mới chỉ giới thiệu vắn tắt về mảnh đất này

Trong cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Vụ Bản (1930 – 2000) [1], chương I của cuốn sách “Những truyền thống lịch sử lâu đời về mảnh đất và con người Vụ Bản” đã giới

thiệu tới bạn đọc những nét lớn về lịch sử, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội Vụ Bản

Năm 2003, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Uỷ bản nhân dân tỉnh Nam Định đã

chỉ đạo biên soạn cuốn Địa chí Nam Định [64] Đây là công trình nghiên cứu tổng hợp

về địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa Nam Định qua các thời kỳ lịch sử, có giới thiệu khá đầy đủ về vùng đất Thiên Bản-Vụ Bản

Trang 21

Cũng vào năm 2003, trong cuốn Lễ hội cổ truyền ở Nam Định [56], nhà nghiên

cứu Hồ Đức Thọ đã đề cập đến quá trình hình thành, phát triển lễ hội ở Nam Định và giới thiệu đến bạn đọc 40 lễ hội tiêu biểu của quê hương trong đó có một số lễ hội chính của Thiên Bản-Vụ Bản như hội Phủ Giầy

Năm 2010, tác giả Hồ Đức Thọ sưu tầm, biên soạn cuốn Huyền tích Thánh mẫu Liễu

Hạnh và di sản văn hóa lễ hội Phủ Giầy [55] giới thiệu khá kĩ về thánh Mẫu Liễu Hạnh và

lễ hội Phủ Giầy

Tiếp theo là cuốn Nghề và làng nghề truyền thống ở Nam Định [52] Công trình

này đã cung cấp cho độc giả những tư liệu quý về các nghề và làng nghề truyền thống của tỉnh Nam Định trong đó có vùng Thiên Bản-Vụ Bản

Tác giả Bùi Văn Tam – một nhà nghiên cứu của quê hương Vụ Bản năm 2010 đã

xuất bản cuốn Văn hóa làng trên đất Thiên Bản vùng đồng bằng sông Hồng [35] Như

tên sách được đặt, trong tập khảo cứu này, tác giả đi sâu vào văn hóa làng ở một miền quê có lịch sử lâu đời ở phía nam đồng bằng sông Hồng

Đặc biệt là cuốn Địa chí văn hóa huyện Vụ Bản [36] của nhà nghiên cứu Bùi Văn

Tam Đây là một công trình mang tính tổng hợp về tất cả các mặt lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa… của huyện Vụ Bản Trong cuốn sách này, chúng tôi đặc biệt chú ý đến chương VIII vì chương này cung cấp một cái nhìn tổng thể về tình hình văn học nghệ thuật của vùng Thiên Bản-Vụ Bản trong đó có văn học dân gian Tuy nhiên, công trình này cũng không phải là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn học dân gian của vùng Thiên Bản-Vụ Bản

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu mà chúng tôi đã đề cập ở trên, chủ yếu mới là những công trình sưu tầm, giới thiệu và có những giải thích, nhận định bước đầu

về nội dung, nghệ thuật của các tác phẩm văn học dân gian thuộc các thể loại khác nhau của văn học dân gian Thiên Bản-Vụ Bản Các công trình kể trên chưa tiếp cận ở các phương diện đặc trưng khái quát mang tính vùng miền, chưa đi sâu chỉ ra đặc điểm của từng thể loại, cũng như chưa xem xét văn học dân gian với tư cách là một bộ phận, một thành tố của văn hóa dân gian, nên chưa chỉ ra được mối quan hệ nhiều chiều giữa văn học dân gian và văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản

Trang 22

1.2 Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

1.2.1 Văn hóa dân gian và văn học dân gian

1.2.1.1 Văn hóa dân gian

Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử Vì vậy, văn hóa mang tính khác biệt và tính đại diện Mỗi nền văn hóa đều đại diện cho một cộng đồng Sự đa dạng của các dân tộc cũng chính là sự

đa dạng của văn hóa

Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa Do đó, việc vận dụng các quan điểm và thành tựu của văn hóa để nghiên cứu, lí giải văn học là một hướng tiếp cận được vận dụng khá phổ biến hiện nay

Năm 1846, trên một tờ tạp chí về khảo cổ của Anh, Wiliam Thoms-nhà nhân chủng học người Anh, đã dùng khái niệm “folklore”, trong đó “folk” có nghĩa là dân chúng, “lore” là tri thức, sự hiểu biết, “folklore” có nghĩa là trí tuệ của dân chúng, với ý nghĩa dùng để chỉ những di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu là những di tích của nền văn hóa tinh thần của nhân dân có liên quan tới văn hóa vật chất như phong tục, đạo đức, nghi lễ, lễ hội, ca dao, truyện kể của các thời đại trước

Vào những năm 70, 80 của thế kỉ XX, các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam đã sử dụng và dịch thuật ngữ folklore ra Tiếng Việt là văn nghệ dân gian hay văn

hóa dân gian và cho đến nay chính thức dịch là văn hóa dân gian Văn hóa dân gian có

một ví trí vô cùng quan trọng đối với nền văn hóa dân tộc Do vậy không thể hiểu bản sắc văn hóa Việt Nam nếu như không hiểu văn hóa dân gian Việt Nam

Các nhà nghiên cứu dân gian Việt Nam đã thống nhất quan niệm văn hóa dân gian- folklore gồm 3 bộ phận: Nghệ thuật ngôn từ dân gian, Nghệ thuật tạo hình dân gian, Nghệ thuật diễn xướng dân gian Ba thành phần này vừa có tính độc lập tương đối vừa có mối liên hệ, ảnh hưởng lẫn nhau Chính vì vậy, văn học dân gian không chỉ là đối tượng khai thác nghiên cứu của khoa nghiên cứu văn học dân gian mà còn là đối tượng của nhiều khoa học liên quan gần gũi khác như ngôn ngữ, triết học, khảo cổ, âm nhạc, sân khấu

Trang 23

1.2.1.2 Văn học dân gian

Văn học dân gian (nghệ thuật ngôn từ dân gian) là những sáng tác văn học do nhân dân tạo nên và lưu truyền Văn học dân gian cũng là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ như văn học viết, nhưng lại có những đặc điểm riêng về lịch sử ra đời, phát triển, về người sáng tác, cách lưu truyền, nội dung, tư tưởng và thể loại nghệ thuật

Văn học dân gian đã được các nhà folklore Việt Nam thống nhất ở cách phân loại như sau Về loại hình, gồm có các loại hình tự sự, trữ tình, luận lý, kịch-sân khấu dân gian Loại hình tự sự gồm các thể loại thần thoại, truyền thuyết, truyện cười, truyện ngụ ngôn được thể hiện bằng các lối kể Loại hình trữ tình gồm các thể loại ca dao, dân ca được thể hiện bằng các lối hát Loại hình luận lí có các thể loại câu đố, tục ngữ được thể hiện bằng hình thức lời nói Loại hình kịch-sân khấu dân gian trong đó có các trò diễn, chèo, tuồng dân gian được thể hiện bằng phương thức biểu diễn, múa

1.2.1.3 Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn hóa dân gian

Văn học dân gian vừa là một bộ phận của văn học dân tộc, vừa là một bộ phận của văn hoá dân gian, đóng vai trò, vị trí quan trọng trong đó Vì vậy, khi nghiên cứu về văn học dân gian, cần chú ý tới mối quan hệ tổng hoà giữa tác phẩm văn học dân gian với nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật tạo hình dân gian (vũ đạo, âm nhạc, hội họa…), với những yếu tố thuộc về truyền thống, tinh thần, tâm linh như tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lễ hội… Đặt tác phẩm văn học dân gian vào môi trường diễn xướng tức là đặt tác phẩm văn học dân gian trong văn hoá dân gian vậy

Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn hóa dân gian được thể hiện ở những khía cạnh sau: Văn học dân gian mang dấu ấn của tín ngưỡng, hoặc phản ánh tín ngưỡng, hoặc thể hiện tín ngưỡng Văn học dân gian phản ánh hoặc đúc kết phong tục, tập quán vùng miền Văn học dân gian có vai trò giải thích cho nguồn gốc lễ hội, làm cho lễ hội

có nội dung thêm sinh động, cụ thể Ngược lại, lễ hội có vai trò bảo lưu, giữ gìn văn học dân gian Thần tích (và lễ hội) lưu giữ văn học dân gian Đây là kênh tham khảo giúp

bổ sung, mở rộng cho việc tìm hiểu văn học dân gian

1.2.2 Lý thuyết và khái niệm vùng văn hóa, vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ

1.2.2.1 Vùng văn hóa

Trang 24

Vùng văn hóa là một không gian văn hóa nhất định, được tạo thành bởi các đơn vị dân cư trên một phạm vi địa lý của một hay nhiều tộc người Họ đã sáng tạo ra một hệ thống các dạng thức văn hóa mang đậm sắc thái tâm lý cộng đồng, thể hiện trong môi trường xã hội nhân văn thông qua các hình thức ứng xử của con người với tự nhiên, xã hội và ứng xử với nhau trên một tiến trình lịch sử phát triển lâu dài, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác

Về quan điểm phân vùng văn hóa Việt Nam, hiện nay đang tồn tại những quan điểm không hoàn toàn trùng nhau trong giới khoa học ở Việt Nam Quan điểm phân vùng của

GS Đinh Gia Khánh và nhà thơ Cù Huy Cận trong công trình Các vùng văn hoá Việt

Nam [10] chia vùng văn hoá nước ta thành 9 vùng, đó là: 1.Văn hoá đồng bằng miền Bắc; 2 Văn hoá Việt Bắc; 3 Văn hoá Tây Bắc; 4 Văn hoá Nghệ - Tĩnh; 5 Văn hoá Thuận Hoá - Phú Xuân; 6 Văn hoá Nam Trung bộ; 7 Văn hoá Tây Nguyên; 8 Văn hoá đồng bằng miền Nam; 9 Văn hoá Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội

GS Trần Quốc Vượng trong công trình Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hoá Việt

Nam [66] đã chia các vùng văn hoá Việt Nam làm 6 vùng như sau: 1 Vùng văn hoá Tây Bắc; 2 Vùng văn hoá Việt Bắc; 3 Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ; 5 Vùng văn hoá Trung Bộ; 6 Vùng văn hoá Tây Nguyên; 7 Vùng văn hoá Nam Bộ

GS Ngô Đức Thịnh trong công trình Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt

Nam [47] chia Việt Nam thành 7 vùng văn hoá khác nhau, đó là: 1 Đồng bằng Bắc bộ;

2 Việt Bắc; 3 Tây Bắc và miền núi Bắc Trung bộ; 4 Đồng bằng duyên hải Bắc Trung Bộ; 5 Duyên hải Trung và Nam Trung Bộ; 6 Trường Sơn - Tây Nguyên; 7 Gia Định - Nam Bộ thuộc địa phận các tỉnh Nam Bộ

GS Ngô Đức Thịnh cho rằng trong mỗi vùng có các tiểu vùng, trong vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ có tám tiểu vùng: Đất Tổ Vĩnh Phú (Xứ Đoài); Kinh Bắc - Xứ Bắc; Thăng Long - Hà Nội; duyên hải Đông Bắc (Xứ Đông); trũng Hà Nam Ninh (Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình ngày nay); Hưng Yên; duyên hải Tiền Hải - Hải Hậu, lưu vực sông Mã

Trang 25

Nhìn chung, các quan điểm phân vùng văn hóa trên đều thống nhất ở sự nhận diện vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ Trong đó, mảnh đất Thiên Bản-Vụ Bản (Nam Định) thuộc vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ

1.2.2.2 Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ

Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ là vùng đất lịch sử lâu đời của người Việt, nơi khai sinh của các vương triều Đại Việt, đồng thời cũng là quê hương của các nền văn hoá Đông Sơn, Thăng Long-Hà Nội Đây là cái nôi hình thành văn hoá, văn minh Việt

từ buổi ban đầu, chứa đựng những nét truyền thống của văn hóa Việt Nam Hiện tại, đây cũng là vùng văn hoá bảo lưu được nhiều giá trị giá trị truyền thống hơn cả

Vùng văn hoá châu thổ Bắc Bộ bao gồm: Hà Tây, Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, phần đồng bằng của các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ

An, Hà Tĩnh

Về vị trí địa lí, vùng Bắc Bộ là tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế theo hai trục chính: Tây-Đông và Bắc-Nam Vị trí địa lí này đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại

Về mặt địa hình, vùng Bắc Bộ là địa hình núi xen kẽ đồng bằng hoặc thung lũng, thấp và bằng phẳng, dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam Trong cả vùng cũng như trong các tiểu vùng, địa hình cao thấp không đều Nơi có địa hình cao vẫn có chỗ thấp úng, vùng thấp trũng nhưng vẫn có núi Nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng đã nhấn

mạnh đặc điểm này “Châu thổ Bắc Bộ là sản phẩm chính của phù sa hệ sông Hồng và

cả hệ sông Thái Bình ( ) Châu thổ Bắc bộ không bằng phẳng nên không nên gọi là đồng bằng Trừ một tỉnh Thái Bình không có núi, tất cả các tỉnh khác của châu thổ Bắc

bộ đều có địa hình núi đồi xen kẽ châu thổ và thung lũng Ngoài ra châu thổ Bắc bộ có nhiều “trũng” (ô trũng lớn nhỏ)” [65; tr 487-496)

Về khí hậu, vùng Bắc Bộ có khí hậu cũng rất độc đáo, khác biệt hẳn Nơi đây có dạng khí hậu bốn mùa tương đối rõ nét Mùa đông có ba tháng, nhiệt độ trung bình dưới

18 độ

Trang 26

Vùng Bắc Bộ có một mạng lưới sông ngòi khá dày, gồm các dòng sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, cùng hệ thống các mương máng tưới tiêu dày đặc Yếu tố nước tạo ra sắc thái riêng biệt trong tập quán canh tác, cư trú, tâm lí ứng xử cũng như sinh hoạt cộng đồng, tạo nên nền văn minh lúa nước, vừa có cái chung của văn minh khu vực, vừa có cái riêng độc đáo của mình

Đồng bằng Bắc Bộ tuy được bao bọc bởi rừng núi và vịnh biển Bắc Bộ nhưng vẫn mang nặng yếu tố ‘xa rừng nhạt biển” Do quá trình khai thác theo phương thức

"đao canh hoả chủng" (phát, đốt rồi chọc lỗ tra hạt) của cư dân nơi đây từ xa xưa nên rừng chỉ còn phần nhiều ở miền núi Việt Bắc và Tây Bắc Yếu tố biển cũng nhạt nhoà

vì biển ở đây nông, thấp, lầy lội và nhiều bùn, không có dòng hải lưu lớn chảy qua nên người Việt đã lấn biển làm nông nghiệp

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, người dân Bắc Bộ đã cải tạo, chinh phục thiên nhiên, bằng việc đào mương, đắp bờ, đắp đê và làm nên diện mạo đồng bằng như ngày nay Hệ thống đê điều kì vĩ ngày nay là sự chứng minh hùng hồn tinh thần ngoan cường chế ngự tự nhiên của người Việt Học giả Mĩ CL.Wissler cho rằng khi nghiên cứu vùng

văn hoá tức là nghiên cứu một tổ hợp các yếu tố văn hóa được hình thành bởi "quá trình

lâu dài nhóm cư dân ấy thích ứng với những điều kiện của môi trường sinh thái" [47; tr

29] Sự khác biệt giữa văn hóa Bắc Bộ và các vùng khác trong cả nước được tạo ra từ

sự thích nghi với thiên nhiên này

Hình thức nông nghiệp trồng lúa là tiền đề cho sự tập trung dân cư với lối sống định cư Đó là yếu tố quan trọng để hình thành nên tổ chức xã hội và tổ chức không gian của châu thổ Bắc Bộ mà làng là đơn vị cơ bản Văn hoá làng mang tính cộng đồng tự trị chặt chẽ, thể hiện qua hình ảnh lũy tre bao bọc quanh làng, cổng vào làng, cây đa, cây

si cổ kính đầu làng Đặc biệt là về mặt sở hữu ruộng đất, suốt thời phong kiến, ruộng công, đất công nhiều là đặc điểm của làng Việt Bắc Bộ Do vậy, tạo ra một lối sống ngưng đọng của nền kinh tế tự cấp tự túc, một tâm lí bình quân, ảo tưởng về sự “bằng vai”, “bằng vế”, quan hệ giai cấp ở đây khá “nhạt nhòa” Sự gắn bó giữa các thành viên trong làng không chỉ là quan hệ sở hữu trên đất làng, trên những di sản hữu thể chung như đình làng, chùa làng…, mà còn là sự gắn bó các quan hệ về tâm linh, về chuẩn mực

xã hội, đạo đức Đảm bảo cho những quan hệ này là các hương ước, khoán ước của làng

Trang 27

xã với những quy định khá chặt chẽ về mọi phương diện của làng buộc mọi người thừa nhận và tự giác thực hiện Chính những đặc điểm ấy của làng Việt Bắc Bộ sẽ góp phần tạo ra những đặc điểm riêng của vùng văn hóa Bắc Bộ

Đất đai ở Bắc Bộ không phải là nhiều, dân cư lại đông Vì thế, để tận dụng thời gian nhàn rỗi của vòng quay mùa vụ, người nông dân đã làm thêm nghề thủ công Người Việt nổi tiếng "có hoa tay" về nghề thủ công Không ít làng thủ công đã tách khỏi nông nghiệp Một số nghề đã rất phát triển, có lịch sử lâu đời như nghề gốm, nghề dệt, luyện kim, đúc đồng

Như trên đã nói, sự khác biệt giữa văn hóa Bắc Bộ và các vùng khác trong cả nước chính được tạo ra từ sự thích nghi với thiên nhiên Người nông dân Bắc Bộ thường xây nhà theo kiểu bền chắc, to đẹp mà vẫn hòa hợp với cảnh quan, thường trồng cây cối xung quanh, tạo bóng mát cho ngôi nhà

Ăn uống của cư dân Việt trên châu thổ Bắc Bộ vẫn như mô hình bữa ăn của người Việt ở các vùng đất khác song cũng có những nét đặc sắc riêng "Cơm tẻ, nước chè" là

đồ ăn, thức uống cơ bản hằng ngày Đồ nếp trước đây chỉ gặp trong những ngày lễ tết Trong bữa ăn thường có món canh rau hay canh cua, cá, chủ yếu là các loại thủy sản nước ngọt Thích ứng với khí hậu Bắc Bộ, người dân có chú ý tăng thành phần thịt và

mỡ, nhất là mùa đông lạnh, để giữ nhiệt năng cho cơ thể Đặc biệt, người dân rất ưa dùng các loại mắm (mắm tôm, cá, tép, cáy ) và các loại dưa (cải, hành, cà, kiệu ) Tương và các loại gia vị như ớt, tỏi, gừng, cũng thường thấy trong các bữa ăn Rượu được dùng trong các dịp lễ tết, liên hoan Ăn trầu, hút thuốc lào trước kia chẳng những

là nhu cầu, thói quen mà còn đi vào cả lễ nghi phong tục

Cách mặc của người dân Bắc Bộ cũng là một sự lựa chọn, thích ứng với thiên nhiên Trang phục hàng ngày thường là quần lá tọa, áo cánh màu nâu sống với nam giới, váy thâm, áo nâu với nữ giới Hội hè, lễ tết nữ là áo mớ ba mớ bảy, nam mặc áo the, khăn đen

Mọi tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước có mặt trên hầu khắp các làng quê Bắc Bộ Các tín ngưỡng này tiềm ẩn trong tâm thức con người và tồn tại trong lễ hội Lễ hội ở đồng bằng Bắc Bộ có thể ví như một bảo tàng văn hóa tổng hợp

Trang 28

lưu giữ khá nhiều các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp Các di sản văn hóa hữu thể như đền, phủ, đình, chùa, miếu,… có mặt ở khắp các địa bàn, làng quê Văn học dân gian Bắc Bộ có quan hệ chặt chẽ hữu cơ với văn hóa dân gian nơi đây

Tỉnh Nam Định nay, vùng đất Thiên Trường xưa (trong đó có Thiên Bản-Vụ Bản) với vị trí là trung tâm của châu thổ Bắc Bộ, đã có một chiều dài lịch sử và một bề dày văn hóa rất đáng tự hào Nam Định có một hệ thống phong phú các di tích lịch sử văn hoá, các lễ hội truyền thống, trong đó có những lễ hội mang tính quốc gia hay vùng miền rộng lớn như: lễ hội Đền Trần, lễ hội Phủ Dầy Nam Định cũng là mảnh đất của nhiều nghề và làng nghề truyền thống nổi tiếng với những sản phẩm có giá trị nghệ thuật cao: mây tre đan, rèn, đúc đồng,… Nam Định cũng là vùng đất có nền văn học dân gian lâu đời, phong phú, đa dạng, đặc sắc

Tiểu kết chương 1

Chương 1 của luận văn đã giới thiệu khái quát về vùng Thiên Bản-Vụ Bản-Nam Định trên các phương diện: hành chính, tên gọi, đặc điểm địa hình, đặc điểm cộng đồng dân cư Nhìn chung, từ trước đến nay, Thiên Bản-Vụ Bản là huyện ít có sự xáo trộn địa giới nhất trong số các huyện của tỉnh Nam Định

Trải qua biến thiên của lịch sử, huyện Vụ Bản cũng đổi thay nhiều về tên gọi Tên gọi Thiên Bản có từ thời nhà Trần với ý nghĩa nghề nông là cái gốc của thiên hạ

Những yếu tố tự nhiên đã tác động không nhỏ đến đời sống sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người nơi đây, góp phần làm nên diện mạo văn học dân gian cũng như văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản Thiên Bản-Vụ Bản là một trong những cái nôi sinh ngụ của người Việt cổ từ cách đây hàng 4-5 ngàn năm Cũng giống như cư dân vùng Bắc Bộ, người dân Thiên Bản-Vụ Bản sống với nghề trồng lúa nước Làng là đơn

vị xã hội cơ sở của Thiên Bản-Vụ Bản Vụ Bản có nhiều nghề thủ công cổ truyền Chợ Viềng trở thành một nét đẹp văn hóa của địa phương Tín ngưỡng, phong tục, tập quán,

lễ hội dân gian phát triển sớm trên mảnh đất Thiên Bản, in đậm dấu ấn đời sống tâm linh

Trang 29

của người Việt nói chung đồng thời cũng có những nét riêng của đất này Mảnh đất này được coi là trung tâm thờ Mẫu lớn nhất cả nước

Chương viết cũng đã giới thiệu tổng quan tình hình nghiên cứu về văn học dân gian, văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản, tìm hiểu các công trình nghiên cứu về văn học dân gian và văn hóa dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản, chỉ ra giá trị của các công trình này cũng như sự liên quan tới đề tài nghiên cứu để thấy được ý nghĩa cần thiết của đề tài

Trong chương viết này, chúng tôi cũng đã xác định những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài như: văn hóa dân gian, văn học dân gian, mối quan hệ giữa văn học dân gian

và văn hóa dân gian, lý thuyết và khái niệm vùng văn hóa, vùng văn hóa châu thổ Bắc

Bộ, vị trí của Nam Định (trong đó có Thiên Bản-Vụ Bản) trong vùng văn hóa Bắc Bộ

Trang 30

Chương 2 VĂN HỌC DÂN GIAN VÙNG THIÊN BẢN – VỤ BẢN

2.1 Khái quát về văn học dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản

Văn học dân gian Thiên Bản-Vụ Bản là một bộ phận của văn học Thiên Bản-Vụ Bản đồng thời là một bộ phận của văn hóa dân gian Thiên Bản-Vụ Bản Đặt trong mối quan hệ với các thành tố của văn hoá dân gian Thiên Bản-Vụ Bản, văn học dân gian Thiên Bản-Vụ Bản giữ một vai trò vô cùng quan trọng, góp phần làm nên bản sắc độc đáo, những giá trị tinh thần phong phú của mảnh đất thiêng này

Văn học dân gian Thiên Bản-Vụ Bản đã lưu giữ trong lòng nó đời sống tâm tư, tình cảm, tâm hồn người dân Thiên Bản từ thuở khai sơn phá thạch, lập làng giữ nước

Dù ở bất kì cứ nơi đâu, trong bất kì hoàn cảnh nào, người dân Thiên Bản Vụ Bản vẫn luôn mang theo bên mình những câu chuyện, những lời ca về con người, mảnh đất quê hương Bởi thế, hiểu về văn học dân gian, văn hóa dân gian Thiên Bản Vụ Bản, ta sẽ thêm hiểu, yêu hơn vùng đất này

Nằm trong dòng văn học dân gian của tỉnh Nam Định, trong tổng thể văn học dân gian châu thổ Bắc Bộ, văn học dân gian Thiên Bản-Vụ Bản từ khi mới định hình đã gắn liền với truyền thống văn hóa giàu sức sống của dân tộc Mặt khác, văn học dân gian Thiên Bản-Vụ Bản đồng thời cũng xác lập được những sắc thái riêng đậm đà màu sắc địa phương

Văn học dân gian Thiên Bản-Vụ Bản phong phú về thể loại: thần thoại được truyền thuyết hóa, truyền thuyết, tục ngữ, ca dao, dân ca Các thể loại văn học dân gian Thiên Bản-Vụ Bản phân bố ở các địa bàn có sự khác nhau Hát văn chủ yếu ở xã Kim Thái Hát trống quân lại chủ yếu ở làng Quả Linh, xã Thành Lợi Ca dao, truyền thuyết

có mặt ở khắp các địa phương trong vùng

2.2 Các thể loại văn học dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản

2.2.1 Thần thoại Thiên Bản-Vụ Bản (Thần thoại được truyền thuyết hóa)

2.2.1.1 Thần thoại được truyền thuyết hóa

Trang 31

Về khái niệm thần thoại, cuốn 150 thuật ngữ văn học [3, tr 299] của tác giả Lại Nguyên Ân định nghĩa: Thần thoại là "sáng tạo của trí tưởng tượng tập thể toàn dân,

phản ánh khái quát hiện thực dưới dạng những vị thần được nhân cách hóa hoặc những sinh thể có linh hồn mà dù là quái tượng, phi thường đến mấy cũng vẫn được đầu óc người nguyên thủy nghĩ và tin là hoàn toàn có thực.”

Tuy nhiên, theo thời gian, nhiều thần thoại đã được truyền thuyết hóa Sự chuyển hóa này diễn ra theo quy luật nội tại và khách quan Các vị thần tự nhiên ở đây đã có sự chuyển hóa thành nhân thần và nửa nhiên thần, nửa nhân thần Vì thế, các tác phẩm này

không còn nguyên hình, nguyên dạng như lúc ban đầu

2.2.1.2 Thần thoại được truyền thuyết hóa của vùng Thiên Bản-Vụ Bản

Tín ngưỡng bản địa của Thiên Bản-Vụ Bản chủ đạo là tín ngưỡng đa thần với đặc trưng sùng bái vật linh Bắt nguồn từ đó, nhiều nơi người dân thờ cúng thần tự nhiên

Đó là cơ sở cho sự xuất hiện của những câu chuyện thần thoại Tuy nhiên, cho đến ngày hôm nay, chỉ còn thấy lưu truyền những thần thoại đã được truyền thuyết hóa với số lượng không nhiều (bảng thống kê 1, phụ lục 2)

Trong các thần thoại được truyền thuyết hóa trên, ta có thể thấy hình bóng nhiên thần trong các nhân vật chính vẫn còn lưu lại qua các chi tiết đặc tả diện mạo, qua tên gọi, qua sự tích và chiến công của nhân vật Trong truyện Cường Bạo Đại Vương, diện mạo của Cường Bạo Đại Vương được miêu tả: mắt sáng như sao, tiếng như hổ gầm chuông kêu Sự trưởng thành của Cường Bạo cũng thật phi thường: lớn nhanh như thổi,

ăn gấp năm mười lần trẻ khác, bố mẹ nuôi rất vất vả… thần thái khác người, thông minh tính trời, khí độ khác hẳn, thường giúp kẻ yếu, đánh kẻ mạnh, không sợ một ai

Trong truyện thần Tam Ranh, sự ra đời và diện mạo của ba vị thần Tam Ranh được kể như sau: Bằng phi có mang, ngày trở dạ, sinh ra một cái bọc, mở ra thấy ba đứa

bé thật kỳ dị Đứa thứ nhất không có mặt nhưng trên hai bắp chân có viết chữ “tứ tung”

và “ngũ hoành”, đứa thứ hai không có tay, đứa thứ ba không có chỏm đầu Còn về sự hiển linh thì thật kì ảo: thường vào những đêm tối trời, nhất là những đêm trời mưa phùn lâm thâm, từ phần mộ ba vị xuất hiện ba quả bóng sáng lừ lừ bay lên, vật vờ đi lại, toả

ra, về chỗ cũ, biến mất Ba quả bóng đó phát sáng như đèn, quả màu hồng, quả màu

Trang 32

vàng rực, quả màu tím nhạt Gặp người lỡ độ đường hay cần kíp buộc phải đi đêm, ba

vị sáng rực như ba bó đuốc dẫn đường, không làm hại ai bao giờ

Trong truyện Nàng Đậu, Nàng Đậu là một nhân thần nhưng có thể cầu đảo nhiều

lần mưa chống hạn hán, được phong là Pháp vũ thánh Đậu đại vương

Trong truyện Điền Quận Công, Quận Điền giỏi về phép thuật, biết nhiều phép

lạ trong việc huy động âm binh thần tướng Khi chỉ huy đoàn thuyền đá hộc để kè đê, bỗng thấy trước mặt năm thuyền chiến lớn xông lên khiêu chiến trong sương mù tối tăm Điền Quận dùng âm pháp, nhìn rõ thuỷ quái đang tấn công thuyền đá Ông rút kiếm, niệm thần chú phát hoả liên tục, đất trời mịt mù Hồi lâu khói tan thì năm chiến thuyền kia cũng mất, thuyền xuôi dòng nhẹ nhàng Lần khác suốt mấy ngày liền, thủy quái tìm cách phá sạt đê Quận Điền đợi lúc chúng tập trung quân đông nhất, liền niệm thần chú, tay vung kiếm, tay rắc trấu ra xung quanh, trấu biến thành hổ báo đánh chặn Bọn thuỷ quái, cá to các nhỏ, ba ba, thuồng luồng đều bị xé xác máu đỏ ngòm cả một khúc sông

Khi truyền thuyết hóa thần thoại, các vị thần đã được xác định với một lý lịch, hành trạng rõ ràng Về lai lịch, có truyện kể về nhiên thần hóa thành người cứu độ nhân dân như truyện Đế Thích Đại Vương Theo sổ Thiên tào, Đế Thích được giáng sinh làm minh vương trông coi việc miền sông biển, cưỡi kỳ lân tuấn thú miền hải ngoại, sau thác sinh thành người, đánh nhau với bọn thủy khấu ở cửa biển Côi Sơn, bị thương tích nặng, lên ngựa chạy về và thác ở đây Thượng đế ban mệnh cho làm thành hoàng ba làng Tổ Cầu, Lương Kiệt, Hào Kiệt

Lại có trường hợp các nhiên thần có lai lịch rõ ràng là người địa phương như ba

vị thần Tam Bành trong truyện thần Tam Bành Theo truyện kể, ba vị là do Ngọc Hoàng chọn người ở trần gian hết hạn được đầu thai trở lại để hiện nhập vào Bằng phi-vợ vua Thuận Vương do vua Thục truyền ngôi Một người họ Đỗ tên là Kiều, một người họ Vị tên là Cư, một người họ Trương tên là Chất đều cùng xã Quang Trung Còn truyện Cường Bạo Đại Vương kể rằng Cường Bạo là con ông Phùng Văn Cường, người trại Bối Duyên, trang Cố Lục, huyện Thiên Bản, lấy bà Nguyễn Thị Duyệt vốn người làng Lãng Tình, huyện Đồng Quan (nay thuộc Đông Hưng, Thái Bình) vào thời Vua Đinh Việc những nhiên thần được gắn với nhân vật địa phương khiến các nhân vật trong truyện trở nên gần gũi hơn với đời sống hiện thực con người

Trang 33

Lại có trường hợp nhiên thần mang dáng dấp nhân vật lịch sử, trở nên linh thiêng đối với người dân Trong truyện Điền Quận Công, Điền Quận hiện lên với một lý lịch

rõ ràng Ngài tên thật là Ngô Đình Điền, sinh năm Đinh Sửu (1687), trong một gia đình quý tộc, dòng dõi Tráng Quận công Ngô đình Nga làng Bảo Ngũ (nay thuộc thôn Giáp Nhất, xã Quang Trung, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) Ông thuở nhỏ được học hành

tinh thông cả văn lẫn võ Nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường cho rằng “Nhiên thần

mang dạng nhân vật lịch sử để tự mình có thân xác, trở thành nhân vật lịch sử, vào ngự trị trong sách vở” [62, tr 89] Sự lịch sử hóa này khiến cho diện mạo các vị nhiên thần

biến đổi hết sức mạnh mẽ, thậm chí người ta không còn nhận ra được diện mạo của thần

Về tính cách, các vị thần là hiện thân của các thế lực trong tự nhiên, sức mạnh của tự nhiên nhưng trong thần thoại được truyền thuyết hóa, các vị thần đã được miêu

tả với diện mạo, tính cách, tâm lý, hành động gần gũi với con người chứ không xa lạ và hoang đường kỳ vĩ Cường Bạo đại vương mưu trí, dũng cảm chống lại ông Trời, đánh ngã Thiên Lôi nhà Trời không phải bằng pháp thuật kì lạ mà chỉ bằng mưu trí dân dã, dùng dầu nhớt và lá mùng tơi, dùng ống tre và ổi xanh mà đánh bại được Thiên Lôi, làm cho Thiên Lôi trượt ngã và bị Cường Bạo đánh què chân, tước cả cờ lẫn búa, tức là tước

Như vậy, có thể thấy xu hướng truyền thuyết hóa thần thoại này đã phản ảnh tình cảm gắn bó với quê hương, với cuộc sống con người, thái độ trân trọng lịch sử của nhân dân Thiên Bản-Vụ Bản Tuy nhiên, trong hình dạng nhân thần, bóng dáng nhiên thần vẫn tồn tại bởi vì khi được truyền thuyết hóa, tác giả dân gian vẫn dựa trên chất liệu cơ bản là những sự việc, chi tiết quan trọng về các vị thần ấy Lí do nữa là về tâm linh, nhân

Trang 34

dân khi thờ cúng cũng không muốn một diện mạo hoàn toàn khác biệt đến mức không thể nhận ra đối với vị thần của mình

2.2.2 Truyền thuyết Thiên Bản-Vụ Bản

2.2.2.1 Khái quát truyền thuyết vùng Thiên Bản-Vụ Bản

Truyền thuyết là một thể loại lớn trong văn học dân gian, hình thành, vận động và phát triển lâu đời, đóng vai trò quan trọng Truyền thuyết là những tự sự dân gian có cái lõi lịch sử, màu sắc ít nhiều huyền ảo, nội dung kể về các nhân vật và sự kiện lịch sử

Vì vậy, tìm hiểu truyền thuyết cũng chính là tìm hiểu lịch sử, văn hóa của dân tộc

Truyền thuyết Thiên Bản-Vụ Bản là một bộ phận rất quan trọng của văn học dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản Những truyền thuyết này được truyền tụng trong dân gian, được ghi chép trong thần tích, thần phả dưới dạng chuyện kể, được truyền từ thế

hệ này sang thế hệ khác, được nhân dân ghi nhận, kính ngưỡng Theo thống kê, tư liệu

về truyền thuyết dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản rất phong phú Căn cứ vào đặc điểm nhân vật, truyền thuyết Thiên Bản-Vụ Bản có thể xếp thành những nhóm cơ bản sau: truyền thuyết về các nhân vật lịch sử, truyền thuyết về các nhân vật văn hóa-tổ nghề, truyền thuyết về các nhân vật tôn giáo trong đó tiêu biểu là truyền thuyết về mẫu Liễu Hạnh Việc phân loại truyền thuyết dân gian vùng Thiên Bản-Vụ Bản ở trên chỉ là tương đối, hợp lý nhất trong khả năng có thể

2.2.2.2 Truyền thuyết về các nhân vật lịch sử vùng Thiên Bản-Vụ Bản

Truyền thuyết về các nhân vật lịch sử nổi tiếng ở Thiên Bản-Vụ Bản thời nào cũng có Truyền thuyết về thời Văn Lang-Âu Lạc khá phong phú, có 11 truyền thuyết (xem bảng thống kê số 2, phụ lục 2)

Trong số các nhân vật truyền thuyết thời kì này có nhiều hoàng tử của vua Hùng (Đông Hải Đại Vương-chàng Cả, Tây Hải Đại Vương-Chàng Hai, Bắc Nhạc Đại Vương-Chàng Ba) và các tướng lĩnh có công, gắn bó nhiều với địa phương (Minh Tôn - Minh Gia ở trang Hàn Lâm, Hoàng Tộc Đại Vương và Quan Lang Hoàng Đào ở Hổ Sơn theo Phù Đồng Thiên Vương đánh giặc Ân) Liên quan đến việc vua Hùng nhường ngôi cho

An Dương Vương có truyền thuyết Bạch Mã Linh Lang Đại vương, truyền thuyết Cao Hựu Đại vương đi theo Sơn Thánh có công đánh Thục Thời An Dương Vương có truyền

Trang 35

thuyết Cao Đệ - Trì Chân trong lần đánh thắng Triệu Đà lần thứ nhất, khuyên vua chớ vội tin kế hòa hoãn của Đà, truyền thuyết Thục An Dương Vương đưa Mị Châu chạy đến xóm Phong Vinh, làng Cố Đế, cùng dân làng đắp thành lũy ở núi Bù Đài đánh giặc Triệu Đà, sau thua trận, dân lập đền thờ… Những truyền thuyết này chứng tỏ nhà nước Văn Lang có lãnh thổ rộng xuống cả vùng biển chứ không vẻn vẹn ở vùng trung du Bắc

Bí lập nước Vạn Xuân, truyền thuyết về Triệu Quang Phục được truyền tụng ở nhiều làng: Thiện Đăng xã Đại Thắng, làng Triều xã Minh Tân, làng Đắc Lực xã Liên Bảo Ông đã về đây tuyển quân là những trai tráng giỏi nghề sông nước đưa về huấn luyện tại đầm Dạ Trạch tạo thành đội thủy binh tài giỏi đánh bại giặc Lương

Truyền thuyết về thời Đinh-Lê có 11 truyền thuyết (xem bảng thống kê số 4, phụ lục 2)

Những truyền thuyết này cho thấy Đinh Bộ Lĩnh cũng như Lê Hoàn cùng tướng lĩnh đã có rất nhiều hoạt động trên đất Thiên Bản-Vụ Bản Truyền thuyết hoàng hậu Dương Vân Nga kể việc hoàng hậu đã đi thuyền rồng đến làng Bách Cốc, xã Thành Lợi động viên nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Tống Sự hiện diện của những truyền thuyết này chứng tỏ đây là một vùng đất quan trọng, ngoại vi của kinh đô Hoa Lư xưa, bảo vệ vòng ngoài cho vương triều Đinh-Lê buổi đầu độc lập và thống nhất Hoạt động của nhân dân Thiên Bản-Vụ Bản trong sự nghiệp thống nhất đất nước thời kì này khá mạnh

Truyền thuyết về thời Lý-Trần có 12 truyền thuyết (xem bảng thống kê số 5, phụ lục 2)

Trang 36

Bảng thống kê cho thấy có rất nhiều truyền thuyết về các nhà vua và các công chúa thời Trần được thờ ở đây chứng tỏ Thiên Bản-Vụ Bản gần hành cung Thiên Trường

và có rất nhiều hoạt động trong thời kì này Trưởng công chúa Thái Đường, con thứ ba của vua Trần Thái Tông, có công chiêu tập dân phiêu tán khai khẩn vùng ven sông Đào Nhớ ơn, dân lập đền thờ và đặt tên là trại Miễn Hoàn, nay là thôn Miễn Hoàn, xã Đại Thắng Thụy Bảo công chúa, con gái vua Trần Thái Tông, hai lần góa chồng (Trần Toại, Trần Bình Trọng) Bà về thái ấp làng Chiền, xã An Lạc, lập chùa Phúc Lâm tu hành, giúp đỡ nhân dân trong vùng Nhân dân dựng đền phụng thờ ngay gần chùa Phúc Lâm, làng An Lạc, xã Tam Thanh Trưởng Thiên Thụy công chúa, con gái vua Trần Thánh Tông, xuống tóc đi tu Thương dân Khả Lộng phải phiêu bạt đi làm ăn xa, bà cho gọi

về, đem ruộng thái ấp chia cho, cho sửa sang nhà cửa, khai phá thêm ruộng đất Dân biết

ơn đổi tên Khả Lộng thành Khả Chính, xã Hợp Hưng Sau khi bà mất, dân xin chân hương về lập đền thờ phụng, tôn là Bà chúa Đào Nguyên Huyền Trân công chúa, con gái vua Trần Nhân Tông, về núi Hổ, lập chùa Nộn để tu hành cho gần gũi với bà cô Thụy Bảo tu ở thôn Chiền gần đó Sau khi bà mất, dân làng lập đền thờ ngay ở chùa Nộn Sơn, tạc tượng cả 2 công chúa để thờ Điện súy tướng quân Phạm Ngũ Lão, trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần 2 và lần 3, vừa lo bảo vệ nhà vua vừa lo việc binh lương Ông đã cho lập lập các kho lương ở làng Phú Lão, Làng Bịch (xã Minh Thuận), Phú Thôn, Bàn Kết (xã Tân Khánh)

Truyền thuyết về thời Lê-Nguyễn có 8 truyện (xem bảng thống kê số 6, phụ lục 2) Bảng thống kê cho thấy truyền thuyết thời kì này kể về những nhân vật lịch sử không chỉ nổi tiếng trong vùng mà còn khắp cả nước như Trạng nguyên Lương Thế Vinh, Trịnh thái phi Trần Thị Ngọc Đài Truyền thuyết về Thái phó Bình Quận Công Bùi Ư Đài, người làng Bách Cốc, làm quan trải ba đời vua Lê Thái Tổ, Thái Tông và Nhân Tông phản ánh những thăng trầm của triều Lê Ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn ngay từ những ngày đầu đến khi thắng lợi Ông làm quan thanh liêm, ngay năm đầu tiên đời Lê Thái Tông (1434), đã dâng sớ tâu bày 4 điều cần làm Bọn Lê Sát tố tội gây chia

rẽ vua tôi Vua miễn cưỡng xét xử ông lưu đày Viễn Châu Ba năm sau ông mới được minh oan

Trang 37

Khảo sát các truyện, chúng tôi nhận thấy truyền thuyết về nhân vật lịch sử vùng Thiên Bản-Vụ Bản vừa mang những đặc điểm của truyền thuyết lịch sử nói chung, vừa

có những nét đặc trưng riêng, mang tính địa phương Về qui mô tác phẩm, so với truyền thuyết dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ thì truyền thuyết ở Thiên Bản-Vụ Bản

có cả dạng kết cấu chuỗi (truyện về Trạng Lường Lương Thế Vinh, truyền thuyết về

Bà Chúa Thông Khê Trịnh thái phi Trần Ngọc Đài), kết cấu đơn và tồn tại ở cấp độ chi tiết (mẩu chuyện)

Về diễn tiến cốt truyện, sự tích của một vị thần cũng được trình bày theo motip chuyện kể văn học dân gian Trước hết là sự ra đời thần kì của nhân vật thường bao gồm: bối cảnh lịch sử xã hội đương thời mà vị thần đó xuất hiện và hoạt động, gia cảnh của vị thần đó, điều đặc biệt lúc vị thần đầu thai cũng như chào đời, vóc dáng khác thường, trí thông minh hơn đời Tiếp theo là những chiến công phi thường của nhân vật như: lập nhiều chiến công hiển hách trong chiến đấu, hoặc có nhiều biệt tài xuất chúng

về văn học, nghệ thuật, ngoại giao, chính trị, kinh tế, đóng góp vào sự phát triển của quê hương, đất nước Cuối cùng là kể về sự hóa thân kì lạ và âm phù của nhân vật

Ngôn ngữ kể, lời kể giản dị, biểu cảm cao, gây được nhiều xúc động Giọng kể của truyền thuyết Thiên Bản-Vụ Bản trang trọng, thành kính Chẳng hạn như truyện kể

về Thái Phi Trần Thị Ngọc Đài: “Sau khi bà mất, dân làng Thông Khê, Bảo Ngũ đã đúc tượng đồng, thờ bà ở phủ Thông cùng Mẫu Liễu, hàng năm dân làng đều về làm lễ vào ngày giỗ để ghi nhớ công ơn”

Về không gian diễn ra sự kiện, truyền thuyết Thiên Bản-Vụ Bản luôn gắn với không gian thiêng, thời gian thiêng, liên quan đến số phận nhân vật và vận mệnh cộng đồng dù đó chỉ là một mỏm đất, một con sông, một gốc cây rất đỗi bình thường Chẳng hạn truyền thuyết về Hoàng Hậu Dương Vân Nga đi thuyền rồng đến làng Bách Cốc, động viên nhân dân trong cuộc kháng chiến chông Tống Nơi thuyền rồng ghé được gọi

là Bến Ngự, còn gọi là cầu Ngự

Những nhân vật, sự kiện lịch sử được kể trong truyền thuyết là những nhân vật, sự kiện gần gũi với nhân dân; được nhân dân biết ơn, tôn thờ, ngưỡng mộ và phải tồn tại qua chứng tích văn hóa Bà chúa Thống Khê Trần Thị Ngọc Đài, vợ chúa Trịnh Tráng, trở thành một trong “Thiên Bản lục kỳ” là bởi tuy sống trong cảnh lầu son gác tía, vẫn

Trang 38

luôn hướng về quê nhà với mong muốn đời sống nhân dân ngày càng khấm khá hơn Bà thương dân phu Thiên Bản đang bị mùa màng ngập lụt vẫn phải đi đắp đê tận kinh thành nên đã bày mưu cho dân phu kêu xin chúa Trịnh miễn cho đi phu để trở về Bà đã khuyên dân làng Giáp Nhất Bảo Ngũ mở mang nghề rèn cổ truyền, làng Giáp Ba mở mang nghề dệt, làng Giáp Tư mở mang nghề làm vàng mã, trang kim Bà còn cho mở chợ Dần ở Giáp Nhì Bảo Ngũ để làm nơi giao lưu hàng hóa, mở mang kinh tế trong vùng, nói đùa

là “mở chợ cho trẻ nhỏ ăn quà” Bà đã tổ chức “Hội cuốc thuổng” để cảm ơn Mẫu Liễu, sau biến đổi thành “Hội hoa trượng” là hội kéo chữ bằng gậy hoa, một hình thức văn nghệ dân gian độc đáo trong lễ hội Phủ Dầy

Khi miêu tả, truyền thuyết tìm cách phủ thêm màn sương huyền ảo, nâng nhân vật, sự kiện lên ngưỡng thiêng liêng, bất tử, qua đó thể hiện sự tôn thờ, ngưỡng mộ Trong những câu chuyện về trạng nguyên Lương Thế Vinh, có hàng loạt các mẩu chuyện liên quan đến việc Lương Thế Vinh là Văn Tinh quân giáng thế để giúp vua Lê Thánh Tông trị nước như: giấc mộng của Quanh Thục hoàng hậu (Ngô Thị Ngọc Dao)-mẹ của vua Lê Thành Tông, chuyện Thiên Văn giám của Bắc quốc chiêm tinh biết được, vội cho người sang “yểm” vì không muốn cho Đại Việt có nhiều người tài hưng thịnh đất nước Qua đó, nhân dân bày tỏ lòng biết ơn, tôn thờ, ngưỡng mộ của nhân dân đối với

vị trạng nguyên tài giỏi này

Truyền thuyết về các nhân vật lịch sử Thiên Bản-Vụ Bản đã phản ánh tiến trình lịch sử dựng nước, giữ nước lâu đời của nhân dân Thiên Bản-Vụ Bản trong sự nghiệp chung của dân tộc từ thưở các vua Hùng dựng nước Truyền thuyết về các nhân vật lịch

sử Thiên Bản-Vụ Bản đồng thời đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu về tâm thức và tâm linh của nhân dân vùng đất này Truyền thuyết Thiên Bản-Vụ Bản giúp hiểu rõ hơn, bổ sung nhiều cho sự tích các thần của một tỉnh hay một vùng, miền trong cả nước Qua đó, lịch

sử dân tộc, lịch sử địa phương được làm sáng tỏ hơn Những truyền thuyết về An Dương Vương, Triệu Việt Vương,… trên vùng đất Thiên Bản-Vụ Bản cùng với hệ thống các truyền thuyết của các vùng miền khác đã góp phần làm sáng tỏ các giai đoạn lịch sử nhiều biến động của đất nước

2.2.2.3 Truyền thuyết về các nhân vật văn hóa-tổ nghề

Trang 39

Nghề truyền thống trên đất Thiên Bản-Vụ Bản khá phong phú Nghề rèn ở làng Bảo Ngũ Nghề làm sơn mài của làng Ngõ Trang Nghề dệt vải, dệt nái tơ tằm Bảo Ngũ, Vân Cát, Lập Vượng, Quả Linh Nghề đan cót làng Si, làm gối mây làng Tiên, nghề thêu và cung chăn ở Hào Kiệt… Tuy nhiên, câu chuyện về tổ nghề thì không phải nghề nào cũng có

Truyền thuyết về tổ nghề trên đất Thiên Bản-Vụ Bản hiện nay còn lưu truyền 5 truyện, (xem bảng thống kê số 7, phụ lục 2)

Theo truyền thuyết, các vị tổ nghề có vị là người địa phương, có vị là người ở nơi khác Tổ nghề làng đan cót Vĩnh Lại là Đoàn Phúc Lành và Trần Ngọc Lâm, người địa phương được cụ Phạm Thuần Hậu cũng là người Vĩnh Lại làm Thừa Chính sứ Lạng Giang (vùng Lạng Sơn-Bắc Giang ngày nay) chọn đến làng Ngọc Lũ ở trong vùng học (nay thuộc huyện Tràng Định) nghề đan cót cổ truyền của làng Khi đã thành thạo nghề, lại mời cụ Nguyễn Công Trừ, một nghệ nhân đan cót làng Ngọc Lũ cùng với hai người về dạy dân làng Tổ nghề Làng nghề mây tre đan Tiên Hào là ông Trùm Nguyễn Văn Tại, người địa phương sống vào thời cuối Lê đầu Nguyễn Cụ là một giáo dân được vào địa phận Thiên chúa giáo ở xã Đoài (Nghi Lộc, Nghệ An) để học đạo Cụ ở đó mấy năm liền, thấy nơi đây

có nghề đan gối mây bán rất chạy, thu nhập khá nên đã đưa cả gia đình vào đây quyết học bằng được nghề này Khi đã thông thạo mọi công đoạn, cụ đưa cả gia đình về làng cũ truyền dạy lại nghề cho dân làng Có vị tổ nghề là người nơi khác Tổ nghề làng rèn Bảo Ngũ là Lư Cao Sơn Theo truyền thuyết, Lư Cao Sơn đi nhiều nơi dạy nghề rèn Ông về làng Bảo Ngũ dạy nghề này cho dân làng Ông hướng dẫn dân làng vào Nho Lâm lấy quặng, chủ yếu là mua “chai sắt” về để làm nghề rèn Người ở Vụ Bản lại vào Nho Lâm

để học nghề - làm ăn, lập ra xóm nhỏ đặt là Thiên Bản, trong đó có nhiều người ở làng Bảo Ngũ, Bất Di để vơi nỗi nhớ quê (nay gọi là xóm Vinh Quang) Tổ nghề Làng dệt vải Giáp Ba-Bảo Ngũ là Bà chúa Hoàng Thị Khứu, người làng Tây Mỗ (huyện Nga Sơn, Thanh Hóa) Làng Bảo Ngũ huyện Thiên Bản có chàng nho sinh họ Mai tên Bàng (dân thường gọi là Nho Bường), học giỏi, khôi ngô tuấn tú Vì gia thế gặp biến cố lớn nên chàng đành phải bỏ học, theo phường buôn trong làng đi buôn vải Đến Tây Mỗ, biêt tiếng nàng Khứu đẹp người đẹp nết, chàng tìm cách gặp nàng, mua vải lụa của nàng Sau này, hai người nên

vợ chồng, về quê khôi phục nghề cũ Tổ nghề Làng tre đan Hồ Sen, Vĩnh Hào là Cao Mang

Trang 40

vốn người Tông Tranh, Đường Hào, phủ Hồng Châu (nay thuộc Hải Dương), nơi có nghề đan lát Ông làm tướng nhà Lý, giữ chức Đô thiên giám sát, có nhiều công trạng, được trị nhậm đất lộ Hải Thanh, phủ Ứng Phong Một hôm, ông đến Hồ Liễn (cái khay quý đựng

lễ vật cúng thần), huyện Hiển Khánh, lộ Hải Thanh (nay là làng Hồ Sen, Vĩnh Hào, Vụ Bản), thấy đất đai bằng phẳng như một cái khay, màu mỡ, dân cư còn thưa thớt, nhưng thuần hậu, chất phác Ông cho lập dinh sở, biến thành thực ấp điền trang, xin vua ở lại đây dạy dân cấy cầy, trông dâu nuôi tằm Ông thấy dân làng vất vả quanh năm mà vẫn nghèo đói vì chỉ cấy một vụ chiêm Nhìn con sông Hạ Vạn chảy qua, nhìn vào nhiều đám vườn

có lũy tre, bụi tre rậm rạp, ông quyết định giúp dân làng học nghề đan lát

Theo truyền thuyết tổ nghề, có những nghề truyền thống phát triển trên cơ sở nguyên liệu sẵn có phong phú dồi dào của quê hương: bông, tre, nứa, mây Các vị tổ nghề nhìn thấy tiềm năng nhiên lực và nhân lực, có công đem kĩ thuật nghề nghiệp truyền dạy lại cho nhân dân, có công khôi phục lại và làm phát triển nghề cũ, được nhân dân tôn làm tổ nghề Điều đó cho thấy cho thấy khả năng tiếp thu, học tập đầy thông minh, sáng tạo của người dân vùng đất này

Truyền thuyết về tổ nghề cho thấy từ xa xưa, trên đất Thiên Bản-Vụ Bản các nghề thủ công truyền thống đã rất phát triển, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế địa phương Nghề rèn làng Giáp Nhất “dân biết mặt, nước biết tên” có lịch sử từ lâu đời, gắn với lịch sử phát triển của làng rèn Nho Lâm (Diễn Châu-Nghệ An), với lịch sử dựng và giữ nước của quê hương, dân tộc từ thời Văn Lang-Âu Lạc

Những truyền thuyết được lưu giữ trong lòng đời sống dân gian thể hiện tấm lòng biết ơn những vị sáng lập truyền nghề cho mình, biểu hiện của đạo lý truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” cho các thế hệ đời sau Đồng thời những truyền này cũng thể hiện niềm tự hào về khả năng sáng tạo, sự cần cù, thông minh của người dân Thiên Bản-Vụ Bản

Truyền thuyết tổ nghề đặc sắc hơn cả là truyền thuyết về Bà chúa Hoàng Thị Khứu,

tổ nghề làng dệt vải Giáp Ba-Bảo Ngũ Các truyền thuyết còn lại nội dung ngắn gọn, đơn giản, không có nhiều sự việc, biến cố, không có sự tham gia của các yếu tố thần kì Về sự mang thai, sinh nở kì diệu, truyền thuyết tổ nghề làng dệt vải Giáp Ba-Bảo Ngũ kể rằng:

khi mẹ nàng sắp đến ngày sinh, vào một ngày xuân ấm áp, bà ra sân dạo chơi, bỗng thấy

Ngày đăng: 17/12/2019, 11:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Vụ Bản (2000), Lịch sử Đảng bộ huyện Vụ Bản, Công ty in Nam Định, Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Vụ Bản
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ huyện Vụ Bản
Năm: 2000
2. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy (2001), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nam Định, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nam Định
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 2001
3. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
4. Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, NXB khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: NXB khoa học xã hội
Năm: 1974
5. Đỗ Đức Hiểu chủ biên (2004), Từ điển văn học (bộ mới), NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học (bộ mới)
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu chủ biên
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2004
6. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1997), Từ điển Thuật ngữ Văn học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
7. Kiều Thu Hoạch (1971), Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian Việt Nam
Tác giả: Kiều Thu Hoạch
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1971
8. Phùng Thị Thanh Huyền (2008), Thế giới nghệ thuật trong những bài hát văn ở Phủ Dầy-Nam Định, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật trong những bài hát văn ở Phủ Dầy-Nam Định
Tác giả: Phùng Thị Thanh Huyền
Năm: 2008
9. Đinh Gia Khánh (1992), “Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian Việt Nam”, Tạp chí Văn học, Số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian Việt Nam”, Tạp chí Văn học
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Năm: 1992
10. Đinh Gia Khánh và Cù Huy Cận (chủ biên) (1995), Các vùng văn hoá Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vùng văn hoá Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh và Cù Huy Cận (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1995
11. Vũ Ngọc Khánh (1990), Vân Cát thần nữ, NXB VHDT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vân Cát thần nữ
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB VHDT
Năm: 1990
12. Vũ Ngọc Khánh (2002), Nữ thần và Thánh Mẫu Việt Nam, NXB Thanh niên 13. Nguyễn Xuân Kính (2005), Thi pháp ca dao, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nữ thần và Thánh Mẫu Việt Nam, "NXB Thanh niên 13. Nguyễn Xuân Kính (2005), "Thi pháp ca dao
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh (2002), Nữ thần và Thánh Mẫu Việt Nam, NXB Thanh niên 13. Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: NXB Thanh niên 13. Nguyễn Xuân Kính (2005)
Năm: 2005
14. Nguyễn Hữu Kiểu, Thang Ngọc Pho (1970), Ca dao tục ngữ Nam Hà, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao tục ngữ Nam Hà
Tác giả: Nguyễn Hữu Kiểu, Thang Ngọc Pho
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1970
15. Lã Duy Lan (1997), Truyền thuyết Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thuyết Việt Nam
Tác giả: Lã Duy Lan
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1997
16. Nguyễn Quang Lê (2001), Khảo sát thực trạng văn hóa lễ hội truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thực trạng văn hóa lễ hội truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ
Tác giả: Nguyễn Quang Lê
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
17. Ngô Sĩ Liên (2010), Đại Việt Sử ký toàn thư, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt Sử ký toàn thư
Tác giả: Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2010
18. Nguyễn Xuân Năm (2008), Di tích lịch sử văn hóa tỉnh Nam Định, NXB VHDT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử văn hóa tỉnh Nam Định
Tác giả: Nguyễn Xuân Năm
Nhà XB: NXB VHDT
Năm: 2008
19. Nguyễn Ôn Ngọc (1893), Nam Định tỉnh địa dư chí (Trần Lê Hữu dịch), Thư viện tỉnh Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Định tỉnh địa dư chí
20. Trần Đăng Ngọc (2010), Nghề sơn ở Cát Đằng, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề sơn ở Cát Đằng
Tác giả: Trần Đăng Ngọc
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2010
21. Trần Đăng Ngọc (2011), Tục ngữ-Ca dao Nam Định, NXB ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ-Ca dao Nam Định
Tác giả: Trần Đăng Ngọc
Nhà XB: NXB ĐHQGHN
Năm: 2011

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w