Có thể nhận thấy rằng, phần lớn các bản kể trên chỉ mới dừng lại ở chỗ chú giải điển cố văn chương, hoặc thích nghĩa những chữ Hán văn, còn về từ ngữ nói chung cũng như văn lý của Truyện
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Thị Khánh Ly
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập khóa học Thạc sĩ Văn học Việt Nam tại trường Đại học Khoa học Thái Nguyên, tôi luôn nhận được sự quan tâm, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo Hoàn thành luận văn thạc sĩ khóa học này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo đã tận tâm giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu Đặc biệt
xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến GS.TS Trần Nho Thìn người đã hết lòng
giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các đồng chí lãnh đạo Khoa, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc trao đổi, chuẩn bị tư liệu, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 06 năm 2019
Tác giả
Trần Thị Khánh Ly
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Về tiểu sử và sự nghiệp của Lê Văn Hòe 3
3 Lịch sử vấn đề 6
4 Mục đích nghiên cứu 8
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5.1 Đối tượng nghiên cứu 8
5.2 Phạm vi nghiên cứu 8
6 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 9
6.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
6.2 Phương pháp nghiên cứu 9
7 Cấu trúc của luận văn 10
8 Đóng góp của luận văn 10
CHƯƠNG 1: HỆ THỐNG CÁC CHÚ GIẢI VỀ TỪ NGỮ, ĐIỂN TÍCH, ĐIỂN CỐ, NGỮ PHÁP, NGHĨA TRONG NGỮ CẢNH 12
1.1 Giải thích nghĩa của từ, thành ngữ, cụm từ 13
1.1.1 Đối với việc chú giải nghĩa của từ bao gồm từ thuần Việt và từ Hán Việt 13 1.1.2 Đối với việc chú giải thành ngữ 17
1.1.3 Đối với việc chú giải cả cụm từ 18
1.2 Giải thích từ nguyên (gốc từ) 19
1.3 Dẫn xuất xứ một ý, một cách diễn đạt từ văn học Trung Quốc 21
1.3.1 Chú giải được dẫn từ Kinh Thi 21
1.3.2 Chú giải được dẫn từ thơ Đường 22
1.3.3 Chú giải được dẫn từ Thơ cổ Trung Quốc 23
1.4 Giải thích ngữ pháp của câu thơ 25
1.5 Giải thích nghĩa trong văn cảnh (ngữ cảnh)-context 27
Trang 61.6 Giải thích điển tích, điển cố 29
Tiểu kết chương 1 33
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG CÁC BÌNH LUẬN CỦA LÊ VĂN HÒE VỀ NHÂN VẬT VÀ VĂN CHƯƠNG NGHỆ THUẬT CỦA TÁC GIẢ NGUYỄN DU 34
2.1 Hệ thống các lời bình của Lê Văn Hòe về nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du 34
2.1.1 Thúy Kiều- Thúy Vân- Kim Trọng 34
2.1.2 Thúc Sinh - Từ Hải 43
2.1.3 Tú bà - Mã Giám Sinh - Hoạn Thư 47
2.1.4 Một số nhân vật khác 50
2.2 Hệ thống các bình luận của Lê Văn Hòe về văn chương nghệ thuật của tác giả Nguyễn Du - Bình luận về văn tài, nghệ thuật sáng tác của Nguyễn Du 53
2.2.1 Lê Văn Hòe bình về văn tài và thi pháp của Nguyễn Du 54
2.2.2 Lê Văn Hòe phê bình chính tác giả Nguyễn Du 57
2.2.3 Lê Văn Hòe góp ý cho văn chương Nguyễn Du 59
2.2.4 Lê Văn Hòe bình luận cách hiểu của các nhà bình chú khác 61
Tiểu kết chương 2 64
CHƯƠNG 3 HỆ THỐNG CÁC NHẬN XÉT BÌNH LUẬN VỀ CÁC BẢN KIỀU QUỐC NGỮ KHÁC VÀ CÁC BẢN DỊCH “TRUYỆN KIỀU” SANG TIẾNG PHÁP 66
3.1 Lê Văn Hòe nhận xét về các bản Truyện Kiều quốc ngữ khác 66
3.2 Lê Văn Hòe nhận xét về các bản dịch Truyện Kiều ra Pháp văn 71
Tiểu kết chương 3 83
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 1 90
PHỤ LỤC 2 153
PHỤ LỤC 3 175
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Truyện Kiều ra đời đã hơn hai trăm năm, kết tinh văn học truyền thống
phương Đông và dân tộc, nhưng vật liệu xây dựng tác phẩm là ngôn ngữ và
hệ thống điển cố điển tích của một thời đại văn học đã xa, nhiều từ ngữ và điển cố, điển tích không còn dễ hiểu đối với thế hệ độc giả hiện đại, những người đọc từ đầu thế kỷ XX đã chuyển qua học chữ quốc ngữ và chữ Pháp
Chính vì thế mà những văn bản Truyện Kiều từ đầu thế kỷ XX, do các nhà
Hán học thực hiện, đã bắt đầu chú thích từ ngữ và điển tích, điển cố
Quá trình chú giải Truyện Kiều bằng chữ quốc ngữ có thể hình dung về
đại thể có thể phác họa như sau:
*Vào loại sớm nhất có bản Kim Vân Kiều của Trương Vĩnh Ký in tại Sài
Gòn (1875) Trong cuốn này, Trương Vĩnh Ký đã chú giải bước đầu nhưng chắc
có lẽ khi đó còn nhiều người đọc biết Hán học nên không cần chú giải kỹ lưỡng
*Sang nửa đầu thế kỷ XX, trong bối cảnh hiện đại hóa văn học dân tộc, nhu cầu cấp thiết xây dựng nền văn học viết bằng “quốc âm”-tiếng Việt-bằng
chữ quốc ngữ, Truyện Kiều trở thành một đối tượng quan tâm hàng đầu của
giới trí thức Tây học Điều đó dễ hiểu Các trí thức Tây học nhanh chóng nhận
thấy địa vị của Truyện Kiều trong buổi khởi động của quá trình hiện đại hóa
này Là kiệt tác văn học dân tộc, đã đi vào lỏng người Việt Nam hàng thế kỷ,
lại bằng “quốc âm” nên bằng Truyện Kiều giới trí thức tân học có thể dễ dàng
thuyết phục xã hội về tính khả thi, về niềm tin vào khả năng thành công của nền văn học quốc âm-dân tộc Ngày 10/8 năm 1924, Hội Khai trí tiến đức tổ chức long trọng ngày giỗ Nguyễn Du, trong buổi lễ đó, Phạm Quỳnh tuyên bố
Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn, gây ra một nghi
án tranh luận sôi nổi Trần Trọng Kim cũng được mời diễn thuyết về thân thế
sự nghiệp Nguyễn Du và văn phẩm Truyện Kiều Trên Nam phong số 31 năm
1920, Đoàn Quỳ đã dịch bài tựa Truyện Kiều nổi tiếng tài hoa của Chu Mạnh
Trang 8Trinh, thu hút sự quan tâm của cả xã hội về kiệt tác của Nguyễn Du Trên
Nam phong số 119/1927, Phạm Quỳnh tổ chức mục Địa vị Truyện Kiều trong văn học Việt Nam với ý kiến của những trí thức nổi tiếng đương thời Phạm
Quỳnh, Trần Trọng Kim, Lê Thước, Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam
Phạm Quỳnh cũng đã cho đăng một số bài viết bình luận giá trị của Truyện Kiều như các bài viết của Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục, Vũ Đình Long, Đồ
Nam Nguyễn Trọng Thuật và của bản thân ông Như vậy, hiện đại hóa văn học dân tộc không phải chỉ thể hiện ở các sáng tác mới theo các thể loại mới (truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, kịch, ký) bằng quốc âm mà còn thể hiện qua thái độ ứng xử trân trọng, đề cao di sản văn học quốc âm của dân tộc Việt Không phải ngẫu nhiên mà văn bản chú giải sớm sau bản của Trương Vĩnh
Ký (1875) là bản Kim Túy tình từ do Phạm Kim Chi thực hiện cũng xuất hiện
tại Sài Gòn từ năm 1917 Nam Kỳ là nơi có những bước đi hiện đại hóa văn học sớm hơn Bắc Kỳ
Có thể nói, bản chú giải Truyện Kiều của Bùi Kỷ-Trần Trọng Kim
(1925) đã phản ánh không chỉ nhu cầu chú giải tường tận, kỹ lưỡng hơn phục
vụ cho lớp người đọc mới ít hiểu biết về Hán học và cổ học mà còn đáp ứng yêu cầu lịch sử hiện đại hóa nền văn hóa và văn học dân tộc ở nửa đầu thế kỷ
XX Nói cách khác, cần chú ý đến ngữ cảnh hiện đại hóa văn học dân tộc của
các bản chú giải Truyện Kiều
Đặc điểm của bản chú giải Truyện Thúy Kiều của Bùi Kỷ-Trần Trọng Kim là ở đầu văn bản, Trần Trọng Kim đã viết phần khảo cứu sơ bộ về thân
thế Nguyễn Du, về tư tưởng tác phẩm, về cái hay cái đẹp của tác phẩm Tuy nhiên, xét về phần chú giải thì mặc dù hai nhà chú giải Bùi Kỷ-Trần Trọng
Kim đã tiến một bước xa so với bản Kim Vân Kiều của Trương Vĩnh Ký, song dường như chưa đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu một cách tường tận Truyện Kiều của thế hệ độc giả tân học ở nửa đầu thế kỷ XX Đó là lý do sau bản này, tiếp tục xuất hiện những bản chú giải Truyện Kiều khác như Vương Thúy Kiều
Trang 9chu giải tân truyện (1951), tiếp tục xu hướng chú giải ngày một tường tận, kỹ lưỡng hơn Nhưng nếu nói đến một bản chú giải Truyện Kiều qui mô nhất,
toàn diện nhất, tổng hợp được tất cả các bản chú đã có thì chúng ta phải nhắc
đến bản Truyện Kiều chú giải của Lê Văn Hòe (1952)
Bản Truyện Kiều chú giải của Lê Văn Hòe thể hiện xu hướng tập chú tường giải văn bản Truyện Kiều điển hình nhất, với số trang và số lượng chú
thích nhiều nhất, cách làm việc công phu nhất (Lê Văn Hòe thực hiện 2389 chú, ông có đánh số trình tự các chú thích đó )
Tiếp cận Truyện Kiều chú giải của Lê Văn Hòe tôi nhận thấy đây là một
công trình đồ sộ và quy mô với 700 trang viết và hiện nay, có rất ít những đánh giá chuyên sâu về công trình này Nên bạn đọc sẽ không hiểu hết được đóng góp của công trình đối với lịch sử nghiên cứu Truyện Kiều Trong giới
hạn của luận văn này, chúng tôi xin được đánh giá “Truyện Kiều chú giải
(Tác giải Lê Văn Hòe) nhìn từ góc độ thống kê”
2 Về tiểu sử và sự nghiệp của Lê Văn Hòe
Học giả Lê Văn Hòe - Nhà nghiên cứu lịch sử, Nhà văn, Nhà giáo - bút danh là Vân Hạc, sinh ngày 1 tháng 11 năm 1911 tại huyện Chương Mỹ, Hà Đông nay thuộc Hà Nội) Lúc còn nhỏ ông học ở Hà Nội, đang học tại trường Trung học Albert Sarraut, ông tham gia bãi khóa nhân lễ truy điệu Phan Châu Trinh nên bị đuổi học Từ đó ông tự học và trở thành một nhà nghiên cứu nhà
báo có khả năng thời đó Ông đã từng làm chủ bút tờ Ngọ Báo Sau năm 1945, ông tham gia các hoạt động văn hóa và xã hội trong Hội Văn hóa cứu quốc
Sau năm 1954, ông quay lại dạy học tại các trường Trung học ở miền Bắc
Trong bài viết:“Kỷ niệm 100 năm sinh học giả Lê Văn Hoè (1911 - 2011)” đã thống kê các công trình trước tác, biên khảo của Lê Văn Hòe đã
in (từ 1927 đến 1954), bao gồm:
Thứ nhất, về loại sáng tác, gồm :
- Bể lòng (Truyện) Hà Nội, Nhà in F Asiatique, 1930, 48 trang
Trang 10- Mảnh hồn thơ (Thơ) Hà Nội, Nhà in Đông Tây, 1931, 43 trang
- Người lịch thiệp (Tiểu luận) Hà Nội, Nhà in Thụy Ký, 1941, 134 trang
- Lược luận về phụ nữ Việt Nam (Tiểu luận) Hà Nội, Nhà xuất bản Quốc học thư xã, 1943
- Nghệ thuật và Danh giáo (Tiểu luận) Hà Nội, Nhà xuất bản Quốc học thư xã, 1943
Thứ hai, về lọai Nghiên cứu, phê bình, gồm :
- Quốc sử đính ngoa Hà Nội Quốc học thư xã, 1941, 103 trang
- Thi nghệ ( Lược luận về thơ và nghệ thuật làm thơ) Hà Nội, Quốc học thư xã, Nhà in Thụy Ký, 1941, 94 trang
- Học thuyết Mặc Tử (Nghiên cứu) Hà Nội, Quốc học thư xã, Nhà in Thụy Ký, 1942, 112 trang
- Trăm hoa (Phê bình thơ) Hà Nội, Quốc học thư xã, Nhà in Thụy Ký,
1942, 83 trang
- Thi thọai, Hà Nội, Quốc học thư xã, Nhà in Thụy Ký, 1942, 260 trang
- Tầm nguyên tự điển Hà Nội, Quốc học thư xã, Nhà in Thụy Ký, 1942,
379 trang
- Khổng Tử học thuyết Tựa của Phạm Quỳnh Hà Nội, Quốc học thư xã, Nhà in Thụy Ký, 1943, 3 quyển, mỗi quyển 164 trang
Thứ ba, về tài liệu bách khoa đại từ điển gồm :
- Hàn lâm viện Hà Nội, Nhà in Thụy Ký, 1043, 19 trang
- Giao chỉ Hà Nội, Nhà in Thụy Ký, 1943, 16 trang
- Sĩ Hà Nội, Nhà in Thụy Ký, 1943, 16 trang
- Thống chế Hà Nội, Nhà in Thụy Ký, 1943, 16 trang
- Tứ bình Hà Nội, Nhà in thụy Ký, 1943, 19 trang
- Tứ phối Hà Nội, Nhà in Thụy Ký, 1942, 16 trang
- Tứ thư Hà Nội, Nhà in Thụy Ký, 1943, 16 trang
- Lịch sử báo chí thế giới Hà Nội, Nhà xuất bản Quốc học, 1944
Trang 11- Tục ngữ lược giải (ba quyển I, II, III) Hà Nội, Nhà xuất bản Quốc học thư xã, 1952
- Tìm hiểu tiếng Việt Hà Nội, Nhà xuất bản Quốc học thư xã, 1952
- Tự vị chính tả Hà Nội, Nhà xuất bản Quốc học thư xã, 1953
- Những bài học lịch sử Tập I : Quang Trung; Tập II : Hưng Đạo Vương; Tập III: Bình Định Vương; Tập IV : Hồ Quý Ly; Tập V : Mạc Đăng Dung Hà Nội, Nhà xuất bản Quốc học thư xã, 1952
- Truyện Kiều chú giải Hà Nội, Nhà xuất bản Quốc học thư xã, 1953,
724 trang
- Cung oán chú giải Hà Nội, Nhà xuất bản Quốc học thư xã, 1954
- Triết lý Truyện Kiều Hà Nội, Nhà xuất bản Quốc học thư xã, 1954 Thứ tư, về sách dịch thuật, gồm :
- Huyết vệ Đại Vũ Hán Thiết huyết thanh niên (Dịch in báo hằng ngày, sau in thành sách) Chợ Lớn, Nhà xuất bản Lữ Việt, Hoa Liên cứu quốc kịch
xã, Nhà in Dân Thái, 1939, 31 trang
- Gió Tây (dịch thơ của 29 quốc gia phương Tây) Hà Nội, Nhà xuất bản Quốc học thư xã, 1952
Sách giáo khoa, có :
- Khai tâm luân lý Hà Nội, 1927
- Thành ngữ cách ngôn
- Văn pháp Việt Nam
- Luận thi tiểu học
- Luận thi trung học
- Phép làm luận
- Sử ký lớp nhất (tiểu học) - Sử ký lớp nhì
- Luận lớp nhất (tiểu học) - Luận lớp nhì
- Luận đệ thất đệ lục
Trang 12Dấu ấn của Lê Văn Hòe về nghệ thuật và chữ nghĩa Truyện Kiều của
Nguyễn Du đã phản ánh trong hàng chục tác phẩm đã ấn hành, có giá trị lớn
đối với nền văn học nước nhà Và không thể không nhắc đến Truyện Kiều chú giải- cuốn sách chú giải đồ sộ bậc nhất của ông, “bộc lộ vốn tri thức uyên
thâm về cả Đông- Tây kim- cổ” của Lê Văn Hòe
Có thể kể đến một số bản chú giải về Truyện Kiều của các tác giả như
Bùi Khánh Diễn, Nguyễn Văn Vĩnh, Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Tản Đà, Đào Duy Anh, Nguyễn Thạch Giang Có thể nhận thấy rằng, phần lớn các bản kể trên chỉ mới dừng lại ở chỗ chú giải điển cố văn chương, hoặc thích nghĩa
những chữ Hán văn, còn về từ ngữ nói chung cũng như văn lý của Truyện Kiều thì chưa được “khảo sâu” Điều này làm hạn chế sự tiếp nhận kiệt tác
văn chương này của các thế hệ sau trong việc nghiên cứu, tìm hiểu tác phẩm
Truyện Kiều chú giải của Lê Văn Hòe là bản chú giải đầy đủ, chi tiết
đã tìm hiểu, nghiên cứu về công trình Trong bài viết này, ông chỉ chú trọng
viết về phần đánh giá của Lê Văn Hòe trong phần đầu của Truyện Kiều chú giải Phan Khôi viết: “Nhan sách là Truyện Kiều chú giải, nhưng mở đầu ra, người chú giải có đánh giá Truyện Kiều Phần đánh giá chỉ có 2 trang mà thôi,
nhưng tôi, tôi lại coi phần ấy là trọng yếu còn hơn 770 trang chú giải kia Tôi chưa có thì giờ để thảo luận tỉ mỉ về chú giải vì nó khí bề bộn quá, cho nên trong bài phê bình này tôi chỉ mới nói trước về phần đánh giá” [12] Nghĩa là
Phan Khôi chỉ thảo luận về tư tưởng Truyện Kiều nhân một vài ý kiến vắn tắt
Trang 13mà Lê Văn Hòe đưa ra ở phần đầu bản chú giải chứ không đề cập, đánh giá nội dung chú giải
Đến năm 2007, Trần Nho Thìn có bài viết “Hành trình Truyện Kiều từ thế kỉ XIX đến thế kỉ XXI”, in trong: Truyện Kiều: khảo - chú - bình, Nxb Giáo dục Ông nhấn mạnh vai trò của Truyện Kiều trong nền văn học dân tộc
rằng: “Nếu thiếu đi tác phẩm, chân dung văn hóa của dân tộc ta không thể trọn vẹn.” [26]
Năm 2015, GS.TS Trần Đình Sử trên Trang cá nhân Trần Đình Sử có
bài viết Suy nghĩ về vấn đề chú thích, chú giải Truyện Kiều đã thống kê một
số công trình chú giải, chú thích Truyện Kiều và chỉ ra những nét chính trong công trình Truyện Kiều chú giải của Lê Văn Hòe: “Đến Lê Văn Hòe, trong công trình Truyện Kiều chú giải đồ sộ, in năm 1953 tại Hà Nội, ông cũng
nhận xét rằng các bản chú trước do phần nhiều chỉ chú các điển cố hay từ ngữ mượn của Hán văn mà bỏ qua các mặt khác Đến lượt mình, ông muốn có một
sự chú thích toàn diện” [24]
Trong lời mở đầu của Truyện Kiều chú giải, với mong muốn giúp được mọi người, hiểu thấu Truyện Kiều, thưởng thức hết cái hay của Truyện Kiều, phân biệt cái dở của Truyện Kiều, ông đã chỉ ra 9 mục, nội dung ông sẽ làm rõ
trong tác phẩm, đó là:
(1) Chú giải ý nghĩa từng câu;
(2) Chú giải những tiếng Nôm khó hiểu;
(3) Chú giải văn phạm, văn pháp;
(4) Chú giải điển cố văn chương, chữ sách Tàu, chữ lấy ở ca dao, tục ngữ; (5) Vạch những chỗ tác giả dùng sai;
(6) Sửa những chữ in lầm từ trước;
(7) Sửa những lời chú giải sai lầm của các bản trước (Việt-Pháp);
(8) Phê bình lướt qua nhân vật trong truyện về mặt luân lý
(9) Nêu những chỗ hay, dở trong văn lý;
Trang 14Như vậy, có thể nói việc tìm hiểu Truyện Kiều chú giải đã được đặt ra
trong một số bài viết khoa học Nhưng trên thực tế, trong những năm qua
chưa có công trình nào sưu tầm, nghiên cứu tổng thể về Truyện Kiều chú giải
của Lê Văn Hòe Đây cũng chính là động lực thôi thúc chúng tôi đến với đề
tài: “Truyện Kiều chú giải” (Tác giải Lê Văn Hòe) nhìn từ góc độ thống kê
4 Mục đích nghiên cứu
Luận văn được triển khai nhằm hướng tới các mục tiêu sau:
Thống kê, phân tích các chú giải về từ ngữ, điển tích điển cố và lời bình
của tác giả về Truyện Kiều để làm nổi bật nét đặc sắc, giá trị của công trình Truyện Kiều chú giải
Việc thống kê lại các chú giải về từ ngữ, điển tích điển cố và lời bình trong công trình - đây là một nguồn tài liệu có ích cho các nhà nghiên cứu sau này
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ công trình Truyện Kiều chú giải (Lê
Văn Hòe) Đề tài đi sâu vào nghiên cứu về hệ thống các chú giải về từ ngữ điển tích, điển cố, ngữ pháp, nghĩa trong ngữ cảnh; đồng thời hệ thống các bình luận của Lê Văn Hòe về nhân vật và văn chương nghệ thuật của tác giả Nguyễn Du và cuối cùng là hệ thống các nhận xét bình luận về các bản Kiều
quốc ngữ khác và các bản dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Công trình Truyện Kiều chú giải (Tác giả Lê Văn Hòe) và so sánh với một số bản chú giải Truyện Kiều khác, với các nguồn tài liệu dùng để so sánh như: Truyện Thúy Kiều (Tác giả Bùi kỷ và Trần Trọng Kim); Từ điển truyện Kiều (Tác giả Đào Duy Anh); Truyện Kiều (Nguyễn Thạch Giang); Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện (Tác giả Tản Đà)
Trang 156 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thống kê các từ ngữ, các lời bình về nhân vật, về văn chương, bình về
các bản Kiều quốc ngữ khác và các bản dịch Truyện Kiều sang Tiếng Pháp trong công trình Truyện Kiều chú giải
- Có phân tích, so sánh với các công trình chú giải tiêu biểu để làm nổi
bật nét đặc sắc của Truyện Kiều chú giải
6.2 Phương pháp nghiên cứu
- Trong luận văn, chúng tôi ứng dụng khoa học thống kê (statistical science), tức là một bộ môn khoa học thực nghiệm: phát triển giả thiết khoa học, tiến hành thí nghiệm, phân tích dữ liệu, và diễn dịch dữ liệu Khoa học thống kê đóng một vai trò cực kì quan trọng, không thể thiếu được trong bất
cứ công trình nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học thực nghiệm và ngay cả
Đồng thời khoa học thống kê đã làm nổi bật các lời bình luận, phát biểu
ý kiến bình luận của riêng tác giả Lê Văn Hòe về nhân vật; Bình luận văn tài của tác giả, về thi pháp của Nguyễn Du của học giả Lê Văn Hòe; Hệ thống
các nhận xét bình luận về các bản Kiều quốc ngữ khác và các bản dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp của Lê Văn Hòe trong Truyện Kiều chú giải
Hơn nữa, để thực hiện luận văn tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp so sánh, đối chiếu;
Trang 16So sánh Công trình Truyện Kiều chú giải (Tác giả Lê Văn Hòe) với một
số bản chú giải Truyện Kiều khác như: Truyện Thúy Kiều (Tác giả Bùi kỷ và Trần Trọng Kim); Từ điển truyện Kiều (Tác giả Đào Duy Anh); Truyện Kiều (Nguyễn Thạch Giang); Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện (Tác giả Tản Đà) để làm nổi bật nét đặc sắc của Truyện Kiều chú giải
- Phương pháp phân tích, tổng hợp;
Luận văn phân tích hệ thống các nhân vật từ Thúy Kiều, Thúy Vân, Kim Trọng, đến Hoạn Thư, Tú Bà, Mã Giám Sinh, Thúc Sinh, Từ Hải, Hồ Tôn Hiến qua đó tìm hiểu được cách nhìn nhận của học giả Lê Văn Hòe Cách phân tích các chú giải về từ ngữ, điển tích điển cố và lời bình của tác giả về
Truyện Kiều để làm nổi bật nét đặc sắc, giá trị của công trình
- Phương pháp tiếp cận liên ngành văn hóa- văn học:
Để thực hiện đề tài này, luận văn còn kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu văn hóa, nghiên cứu dân tộc học,…phương pháp nghiên cứu liên ngành sẽ giúp luận văn giải quyết những vấn đề nghiên cứu được thỏa đáng
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được triển khai thành ba chương:
Chương 1 Hệ thống các chú giải về từ ngữ, điển tích, điển cố, ngữ pháp, nghĩa trong ngữ cảnh
Chương 2: Hệ thống các bình luận của Lê Văn Hòe về nhân vật và văn chương nghệ thuật của tác giả Nguyễn Du
Chương 3 Hệ thống các nhận xét bình luận về các bản Kiều quốc ngữ
khác và các bản dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp
8 Đóng góp của luận văn
- Thống kê đầy đủ và rõ ràng số lượng từ, đặc biệt là những lời bình luận
về các nhân vật, sự việc, bình luận về các bản Kiều quốc ngữ khác và các bản
Trang 17dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp trong Truyện Kiều đã được tác giả chú giải,
bình luận trong công trình của mình
- So sánh với một số công trình chú giải Truyện Kiều tiêu biểu để
khẳng định những đóng góp đáng trân trọng của học giả Lê Văn Hòe đối với nền văn học Việt Nam
- Kết quả của luận văn là một tài liệu tham khảo, bổ sung kiến thức
cho những nghiên cứu công trình Truyện Kiều chú giải về sau Đồng thời giúp bạn đọc biết đến và hiểu thấu công trình Truyện Kiều chú giải, từ đó thưởng thức hết cái hay của Truyện Kiều
Trang 18CHƯƠNG 1:
HỆ THỐNG CÁC CHÚ GIẢI VỀ TỪ NGỮ, ĐIỂN TÍCH, ĐIỂN CỐ,
NGỮ PHÁP, NGHĨA TRONG NGỮ CẢNH
Trong lịch sử chú giải Truyện Kiều thì cuốn Kim Vân Kiều Truyện của
Trương Vĩnh Ký bằng Quốc ngữ năm 1875 là cuốn chú giải sớm nhất Nhưng trong cuốn này các chú giải còn rất đơn giản và thiếu nhiều, có lẽ là
vì thời bấy giờ kiến thức Hán học của người đọc còn tốt nên không cần phải chú nhiều
Bước sang thế kỷ XX, so sánh với các bản chú trước đó, trong
bản Truyện Thúy Kiều của Bùi Kỉ, Trần Trọng Kim in năm 1925 là bản Kiều
quốc ngữ kế sau Trương Vĩnh Ký biết ghi khảo dị Cộng cả phần khảo dị toàn truyện chỉ có 992 chú thích Bản chú giải này đã chú thích kỹ hơn so với cuốn
“Kim Vân Kiều truyện” của Trương Vĩnh ký Ở thời điểm này, số người biết
Hán học đã dần giảm đi nên nhu cầu về chú giải kỹ hơn Tuy nhiên, cuốn của Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim mới chỉ dừng lại ở việc chú thích gốc điển tích điển
cố Hán học và 335 lần giải thích từ ngữ Hán học, hầu như không có phân tích
về ngữ cảnh trong câu thơ, bình về các bản Quốc ngữ khác, bình về nhân vật
và văn chương của Nguyễn Du
Năm 1941, Tản Đà đã biên khảo một cuốn chú giải Truyện Kiều bằng
chữ Quốc đó là Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện, Tản Đà đã có 987 phần
chú Ông vừa chú thích từ Hán, nguồn gốc các câu thơ từ Kinh thi, thơ Đường, các điển tích điển cố…và bắt đầu bình văn của Truyện Kiều Tản Đà
đã có 147 lần bình văn của Truyện Kiều Cách chú giải của Tản Đà chú trọng văn chương hơn và tỉ mỉ hơn với bản Kiều của Trương Vĩnh Ký
Nhưng xét một các toàn diện thì bản Truyện Kiều chú giải của tác giả Lê
Văn Hòe quả thật mẫu mực Trong bảng thống kê, Lê Văn Hòe đã thực hiện
2389 phần chú Ông không chỉ chú thích từ ngữ (Hán việt, thuần Việt) mà còn
Trang 19chú điển tích điển cố, thành ngữ, chú giải ý nghĩa từng câu…và bình văn
chương Truyện Kiều Riêng phần từ ngữ ông chú giải 2552 từ ngữ (Phụ lục 1
– Tr90) Nhìn chung, Lê Văn Hòe đã chú giải đầy đủ các từ ngữ, cẩn thận, tỉ
mỉ và dễ hiểu, đặt ra trước bạn đọc một bản Kiều mà Lê Văn Hòe cho là giống với nguyên tác nhất
1.1 Giải thích nghĩa của từ, thành ngữ, cụm từ
1.1.1 Đối với việc chú giải nghĩa của từ bao gồm từ thuần Việt và từ Hán Việt
Lê Văn Hòe đã chú giải nghĩa của từ bằng một ngòi bút thận trọng, kỹ lưỡng và sâu sắc hiếm có
Về chú giải nghĩa của từ thuần Việt, Lê Văn Hòe chú rất chi tiết và
công phu Ông chú giải kỹ lưỡng và có những từ ông giải nghĩa theo văn cảnh Có thể ví dụ như:
Chú 1, “Trăm năm” được dịch ra từ chữ Bách tuế 百歲, Người xưa cho
rằng người ta chỉ sống đến trăm tuổi là cùng, nên dùng chữ “Trăm năm” để chỉ khoảng thời gian của người từ lúc đẻ đến lúc chết.Vậy câu thơ “Trăm năm trong cõi người ta” nghĩa là trong cả cuộc đời một con người
Ở bản Truyện Thúy Kiều của Bùi Kỉ- Trần Trọng Kim, tác phẩm ra đời trước Truyện Kiều chú giải hơn 20 năm, Bùi Kỉ- Trần Trọng Kim cho rằng
“Trăm năm dịch từ chữ “Trang Tử” (có phiên âm chữ Hán) bách niên cảnh
nhu ngã do vi nhân, ý là trong một cõi trăm năm mà ta vẫn là người, tức là trong cả cuộc đời người Tựu chung, ở hai bản đều dịch ra nghĩa giống nhau
đó là trong cả một cuộc đời người”.[14.tr52]
Bản Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện của Tản Đà cũng bình về hai chữ “Trăm năm” do chữ “bách niên, bách tuế” mà dịch nghĩa ra Về cơ bản,
cách chú của Lê Văn Hòe ở hai chữ này đã kế thừa cách chú của Tản Đà
Chú 12, Lê Văn Hòe chú từ “Nghỉ” đó là tiếng Nghệ Tĩnh nghĩa như hắn,
y, nó Cách chú như thế hẳn là rất dễ hiểu, nhất là tiếng địa phương thì rất cần chú giải để mọi người, không phân biệt vùng miền vẫn có thể hiểu được
Trang 20Hay như chú 19, với từ “Hoa cười”, Lê Văn Hòe chú là: cười tươi như hoa
So sánh với bản của Bùi Kỉ- Trần Trọng Kim, ta thấy từ “Hoa cười” không được chú trong bản này Tuy ra đời sau bản Truyện Thúy Kiều, nhưng không thể phủ
nhận sự công phu của Lê Văn Hòe trong việc chú-bình tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du Bản sau đã công phu, tỉ mỉ, chi tiết hơn các bản trước, thậm chí còn đính chính những chỗ chưa thật hợp lý so với bản của Bùi Kỉ- Trần Trọng Kim, của Tản Đà
Với lời chú 27, từ “Tính trời”, ở bản Bùi Kỉ-Trần Trọng Kim không chú
từ này, nhưng ở bản Truyện Kiều chú giải, “Tính trời” được Lê Văn Hòe chú
là thiên bẩm, thiên tính, nghĩa là tự nhiên mà có, như là do trời sinh
ra.“Thông minh vốn sẵn tính trời” nghĩa là vốn thông minh từ thuở bé
Chú 39, Lê Văn Hòe chú từ “Cỏ non” tức cỏ mùa xuân; Quả thật ý chú
giải của tác giả rất khớp với ý của tác giả Nguyễn Du Khi ta đọc hai câu thơ:
“Cỏ non xanh tân chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
Hai câu thơ trên tả cảnh cuối mùa xuân, sắp sang mùa hè Vì lê nở hoa vào đầu mùa hè, cỏ thì non xanh Không có từ ngữ nào nói về thời gian nhưng với nghệ thuật tả cảnh của tác giả ta cũng biết bấy giờ là cuối xuân
Chú 56 từ “Dầu dầu” được tác giả chú là: là hơi dầu, hơi héo, tức cỏ úa,
sắc nửa vàng nửa xanh Nói mộ có cỏ úa để tỏ rằng mộ không có ai thăm viếng, rẫy cỏ sửa sang, tức nấm mộ hoang Ta thấy, tác giả chú thích cũng thật tỉ mỉ, rõ ràng
Chú 72, “Thỏ” là con thỏ, đây là mặt trăng; người xưa tin rằng cái tinh
trong mặt trăng là con thỏ
Chú 76, “Ngày xanh” là ngày xuân, ngày tuổi trẻ, do chữ thanh xuân
青春 mà ra Cả câu thơ “Ngày xanh mòn mỏi mà hồng phôi pha” Lê Văn
Trang 21Hòe chú giải nghĩa cả câu là ngày xuân qua đi lần lần bảo mòn, nhan sắc thì ngày một phai nhạt
Chú 91, Từ “Hay” được tác giả chú là lạ, là nực cười Hay sao là lạ làm
sao, nực cười làm sao?
Chú 102, “Đè chừng” là phỏng đoán ngọn gió thổi đi phía nào thì trông
theo phía đó Phải Đè chừng vì gió vô hình, người ta đoán phỏng chừng nó thổi đi đâu chứ không trông thấy rõ ràng được
Chú 109, “Lòng thơ” tức là khi lòng cảm thấy có hứng làm thơ (Muốn là thơ) câu này nghĩa là: ý thơ dào dạt trong lòng
Chú 111, “Nhạc vàng” là nhạc bằng kim loại kim khí, tức là nhạc đồng chứ không phải bằng vàng Vàng đây dịch chữ “kim” là kim loại, như đồng, sắt, vàng, bạc, chì thiếc “Gần gần” là hơi gần Nếu văn xuôi, thì câu này viết:
tiếng nhạc vàng ở đâu nghe thấy gần gần Nhạc tức là nhạc đeo ở cổ ngựa Không nói người nói ngựa, chỉ nói nhạc mà người ta biết có người đi ngựa Hay ở chỗ đó
Qua phần chú giải từ ngữ Hàn Việt, Ta thấy, Lê Văn Hòe không chỉ
chú giải từ ngữ trong câu mà còn giải nghĩa cả câu để người đọc Truyện Kiều hiểu kỹ lưỡng câu thơ, cho ta thấy rõ Nguyễn Du quả là bậc thầy về
sử dụng ngôn ngữ
Về chú giải nghĩa của từ Hán Việt, Lê Văn Hòe chỉ ra rất tỉ mỉ, trích
xuất tường tận, chính xác nghĩa của từ Có thể ví dụ như:
Chú 3, Từ “Bể dâu” trong câu:
“Trải qua một cuộc bể dâu”
Lê Văn Hòe chú rằng: “Bể dâu” dịch chữ “Tang thương” trong câu chữ
sách Thần Tiên Truyện: Thương hải biến vi tang điền, tang điền biến bi thương hải: Bể cả biến thành ruộng dâu, ruộng râu biến thành bể cả
Trong bản Truyện Thúy Kiều của Bùi Kỉ- Trần Trọng Kim, hai chữ “Bể dâu” cũng được chú như vậy Do đó có thể thấy rằng, về phần chú này, Lê Văn Hòe đã cơ bản kế thừa nội dung Truyện Thúy Kiều
Trang 22Chú 7, Lê Văn Hòe chú từ “Cảo thơm” bằng cách kế thừa cách chú của
Bùi Kỉ- Trần Trọng Kim: Cảo thơm tức Phương Cảo (có phiên âm chữ Hán), tức là pho sách thơm, ý nói pho sách hay lưu mùi thơm lại đời sau
Hay như chú 8, cũng học tập cách chú trước của bản Truyện Thúy Kiều, Lê Văn Hòe chú từ “Sử xanh” là sử cổ Và còn giải thích chi tiết
rằng: Đời xưa chép sử sách vào thanh tre, cật tre nên gọi là Thanh Sử (có phiên âm chữ Hán)
Chú 12, học giả họ Lê chú về từ “Gia tư” trong câu:
“Gia tư nghĩ cũng thường thường bực trung”
Ông chú “Gia tư” (có phiên âm chữ Hán) tức là của cải trong nhà, nghĩa
cũng như gia tài Phần này Lê Văn Hòe cơ bản kế thừa cách chú của Tản Đà
trong Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện: “ là của cải trong nhà, cũng như
nói gia sản”[5,tr12]
Hay chú 19, từ “ Đoan trang” được Lê Văn Hòe chú rằng: Đoan trang
là đoan chính và trang nghiêm Đoan chính là đứng đắn, trang nghiêm là bệ
vệ đường hoàng Hiếm có ai chú giải từ mà được chi tiết, tỉ mỉ như học giả
họ Lê đây!
Chú 124, “Trâm Anh”: trâm là cái trâm cài mũ, anh là giải mũ Nhà trâm
anh là nhà toàn người đội mũ, ý nói nhà danh giá Ngày xưa ở nước Tàu, người thường dân không được đội mũ
Chú 183: “Tú Khẩu cẩm tâm” là miệng thêu lòng gấm, ý nói tư tưởng
đẹp, lời nói hay của nhà làm thơ Giá trị những bài thơ ấy nó như thêu như gấm, khác hẳn thơ thường
Chú 308, Lê Văn Hòe chú rằng từ “Tất giao” 漆膠 tất là sơn, giao là keo “Lời gắn bó tất giao” là lời cam kết với nhau bền chặt như gắn bó bằng
Trang 23Hay chú 452, “Đồng” là đứa trẻ chưa thành nhân, tức là 19 tuổi trở lại (Hai mươi tuổi đội mão – quan – có tên Tự mới thành nhân) “Gia đồng” là
thằng nhỏ nhà nuôi
1.1.2 Đối với việc chú giải thành ngữ
Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ mang tính chất dân tộc sâu sắc
Một trong những lý do làm người đọc cảm nhận ngôn ngữ trong Truyện Kiều gần gũi với đời sống hàng ngày và đậm chất dân gian là nghệ thuật sử
dụng tiếng nói quần chúng của Nguyễn Du qua tài năng vận dụng thành ngữ vào thơ ca của mình Có lẽ khó tìm được một tác phẩm nào mà thành ngữ
xuất hiện nhiều như trong Truyện Kiều Chính vì vậy, Lê Văn Hòe rất công
phu khi chú giải thành ngữ một cách tỉ mỉ nhất để chất liệu dân gian ấy trở
nên càng gần gũi và thân thuộc hơn với độc giả
Ví dụ như:
Chú 16, Lê Văn Hòe chú thành ngữ “Mười phân vẹn mười” là: giá như
vẻ của mai cốt cách có mười phần thì Kiều có đủ cả mười phần, vẻ của tuyết tinh thần có mười phần thì vân có đủ mười phần ấy
Quay trở về bản Kiều của Bùi Kỉ-Trần Trọng Kim, ta thấy lời bình còn ngắn, chưa đi vào chiều sâu: “Mỗi người một vẻ mà vẻ nào cũng đẹp”.[14, tr53]
Đến bản Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện, Tản Đà không để cập
đến thành ngữ này Như vậy, chỉ đến bản của Lê Văn Hòe, mới có lời bình sâu sắc và đầy đủ, tâm huyết đến như vậy!
Hay như thành ngữ “Ăn xổi ở thì” ở chú 435, Lê Văn Hòe chú là: ăn xổi
là ướp muối qua ngày ăn Ở thì là ở thì ở giờ, ở tạm bợ được lúc nào hay lúc
ấy Ăn xổi ở thì là ăn ở tạm bợ không định ăn ở dài lâu
Thành ngữ “Chắp cánh liền cành” ở chú 440 được học giả họ Lê chú: ý
nói ăn nằm gần gũi với nhau như vợ chồng Ông nêu chi tiết câu này lấy chữ trong bài Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị (có phiên âm chữ Hán) và dịch nghĩa rất công phu và dễ hiểu, tường tận
Trang 24Thành ngữ “Đầu trâu, mặt ngựa” ở chú 494, Sai nha người nào trông
cũng dữ tợn như quỉ sứ đầu trâu mặt ngựa
Thành ngữ: “Nhả ngọc phun châu” ở chú 345, Văn hay hình như phun
nhả ra châu ngọc
Thành ngữ: “Bóng chim tăm cá” ở chú 2233 là tin tức thư từ Ngày xưa
dùng chim bồ câu đưa thư; phong thư ngày xưa làm hình con cá Ở trên trời cao thẳm, biết bóng chim ở đâu? ở dưới vực sâu thẳm biết cá ở đâu? Ý nói Kim Trọng không biết dò la tin tức Kiều đích xác ở đâu để chàng tìm tới
Thành ngữ: “Tay đã nhúng chàm” 1228, Lê Văn Hòe chú: Những tay đã
trót nhúng vào chàm dù rút tay ra thì cũng bị nhuộm xanh rồi, không rửa sạch được Thúc Sinh ví việc chàng lấy Kiều với việc nhúng tay vào chàm, biết là dại nhưng không lấy lại được
Chú 1570, “ Rẽ thúy chia uyên”, Lê văn Hòe chú: chia rẽ chim uyên -
ương Chim phỉ thúy là những giống chim hay đi đôi như vợ chồng Đây nói chia rẽ lứa đôi vợ chồng (Kiều và Thúc Sinh)
1.1.3 Đối với việc chú giải cả cụm từ
Chú 2, “Khéo là ghét nhau”: ghét nhau đến hay, đến khéo, ghét nhau
một cách lạ lùng, nghĩ mà khó hiểu tức cười
Chú 3,“Trải qua một cuộc bể dâu” nghĩa là trải qua một cuộc biến
chuyển của đời người”
Lê Văn Hòe còn chú ở chú 10 cụm từ “Bốn phương phẳng lặng”, ông chú ý là khắp nước thái bình không có giặc giã “Hai kinh vững vàng” là hai
kinh đô yên ổn, bấy giờ nước Tàu có hai kinh đô là Bắc Kinh và Nam Kinh Với câu ở chú 15:
“Mai cốt cách, tuyết tinh thần”
Nếu với độc giả không thuộc tầng lớp trí thức thì có lẽ sẽ khó để hiểu được
ý nghĩa của cụm từ “mai cốt cách” và “tuyết tinh thần” Thật vậy, Lê Văn Hòe
đã tinh tế khi có một bản chú giải để ai cũng có thể đọc để hiểu, mà hiểu một cách chi tiết, cặn kẽ, chính xác các câu từ, nội dung, bối cảnh lịch sử
Trang 25Chính vì thế ông đã chú “mai cốt cách” và “tuyết tinh thần” Ông cho rằng “mai cốt cách” ý là cốt cách thanh kỳ như cây mai hoặc cành mai, ý nói
tầm vóc người dong dỏng cao thanh thanh như cành mai (cành mai coi gầy guộc xương xẩu thanh thanh)
“Tuyết tinh thần” ông chú: Tinh thần trong trắng như tuyết, ý nói tư
tưởng trong sạch, đầu óc ngây thơ, không bợn một chút gì là ô trọc tức là ngoan ngoãn nết na, thật thà chất phác
Quả thực Lê Văn Hòe chú chi tiết và dễ hiểu!
Hay là chú 23 có từ “Làn thu thủy”, Lê Văn Hòe chú là làn nước mùa
thu, đây nói mắt trong sáng như nước mùa thu
Hay từ “Nét xuân sơn” là nét núi mùa xuân, đây nói nét lông mày thanh
thanh như núi mùa xuân
Trong chú 144 “Dứt về chỉn khôn”, Lê Văn Hòe đã chú rằng: nhưng
cuối cùng Kim Trọng ra về trước, lễ giáo bắt chàng phải hành động như thế
Có thể kể một số ví dụ khác ông chú giải cả cụm từ như ở chú 46-“Ngựa
xe như nước”, “Áo quần như nêm”; “Nguyệt nọ hoa kia” ; 65- “Lặng ngắt như tờ”; 114- “Lưng túi gió trăng”; 115- “Tuyết in sắc ngựa”; 126- “Văn chương nết đất”; 134- “”Trộm dấu thầm yêu; 135- “Giải cấu tương phùng”,
2222 – “Gặp lúc lưu ly”…
1.2 Giải thích từ nguyên (gốc từ)
Lê Văn Hòe đã dày công nghiên cứu, chú giải với lượng từ ngữ phong phú, từ những tiếng nôm khó hiểu đến chú giải ý nghĩa từng câu, Ông chú giải văn phạm văn pháp, chữ sách Tầu, hay các chữ lấy ở ca dao, tục ngữ; Đặc biệt hơn ông giải thích cả từ nguyên (gốc từ)
Việc làm này không chỉ mang lại nhiều giá trị về nghệ thuật dùng từ của Nguyễn Du, về cách triển khai ý tứ trong câu thơ, mà còn đóng góp cho nền nghiên cứu văn học dân tộc
Trang 26Đọc một câu thơ không chỉ là hiểu nội dung, mà còn phải rõ nguồn gốc
từ, từ ấy được Nguyễn Du công phu, tỉ mỉ trích từ gốc từ nào, liệu từ ấy đã hợp lý hay chưa?
Ta có thể điểm qua một số ví dụ đưa ra sau đây:
Câu thơ:
“Này trong khuê các đâu mà đến đây”
Lê Văn Hòe chú: “ Khuê các” chính là Khuê cáp, thường nói trạnh ra là
Khuê các, khuê là cửa nách buồng thường xây cuốn tò vò Cáp là của nách buồng nhỏ hơn là của khuê Ông giải thích thêm rằng “Khuê cáp” (khuê các) được dùng để trỏ chỗ ở của đàn bà, con gái, vì phụ nữ xưa luôn muốn ở trong buồng kín, không ra tới ngoài Tác giả giải thích được như thế cũng tường tận, chi tiết thay!
Hay như câu:
“Đục như tiếng suối mới sa nửa vời”
Ông cho rằng: “nửa vời” do “nửa vì” nói trạnh ra, vì là ngôi, chỗ, vị trí;
nửa vời là giữa chỗ, khoảng từ vị trí này đến vị trí kia Nước dội ở trên cao xuống thấp, tức là từ vị trí cao sa xuống vị trí thấp
Ví dụ Lê Văn Hòe giải thích gốc từ “nao nao” trong câu:
“Rột lòng mình cũng nao nao lòng người”(419)
“Nao-nao” là “nau” đọc trạnh ra “Nau” là đau đớn êm dịu, âm ỷ, đau
nhẹ nhưng đau thấm thía Người có chửa sắp đẻ thường ngâm ngẩm đau
bụng, người ta gọi làm nau, đau nau Có người cho “nao nao” là dòng nước
chảy quanh một vật gì tròn
Ngoài ra, Lê Văn Hòe chỉ ra gốc từ được dịch từ chữ Hán, ví dụ ở câu:
“Ba cây chập lại một cành mẫu đơn”(1248) Thì ông đã chú từ “Ba cây” được dịch chữ tam mộc (là một thứ hình cụ
thời xưa, gông cổ và kẹp cả chân tay)
Hay như từ “Dặm hồng” dịch chữ Hồng trần (có trích chữ Hán) là tiếng
chỉ cuộc đời gió bụi vất vả trong câu thơ:
Trang 27“Dặm hồng, bụi cuối chinh an”(1326) Hoặc từ “Giếng vàng”, Lê Văn Hòe chú rằng dịch chữ Hán Kim tỉnh
(phiên âm) là cái giếng xâu đẹp dễ, lộng lẫy, cầu kỳ hình như là xây bằng vàng
Sự tỉ mỉ, công phu của Lê Văn Hòe đã tạo ra những bản chú “vượt tầm thời đại”, kết nối cội nguồn của từ ngữ, giúp người đọc đọc một biết mười, thấu hiểu cả tấm lòng của Đại thi hào đặt vào tác phẩm
1.3 Dẫn xuất xứ một ý, một cách diễn đạt từ văn học Trung Quốc
Chúng ta không phủ nhận ảnh hưởng to lớn của văn hóa Trung Quốc đối với Truyện Kiều Việc tìm rõ xuất xứ của ý thơ, cách diễn đạt từ văn học Trung Quốc trong cả Kinh Thi, Thơ Đường, thơ cổ Trung Quốc có giá trị văn học lớn lao cho thế hệ Kiều học
1.3.1 Chú giải được dẫn từ Kinh Thi
Chú 128, Lê Văn Hòe giải nghĩa từ “Phong nhã” là nói tắt, thơ Quốc
phong, thơ Đại Nhã, Tiểu Nhã trong kinh thi Phong nhã được dùng để chỉ việc văn chương thơ phú
Chú 196 “Nhà huyên” tức Huyên đường chỉ người mẹ Sở dĩ Huyên được dùng để trỏ người mẹ là do chứ Kinh Thi: “Yên đắc Huyên thảo ngôn thụ chi bội” nghĩa là:
“Sao được cỏ Huyên Trồng ở chái bắc”
Bội là chái phía bắc, xưa theo phương hướng kiến trúc của Tầu là chái
phía sau nhà, gọi là “bắc đường” Phàm có việc tế tự, lễ bái, thì địa vị người
mẹ là ở Bắc đường, nên Bắc đường chỉ chỗ người mẹ ở Bắc đường có thể trồng cỏ Huyên, nên gọi là Huyên đường…
Hay là từ “yêu đào” trong chú 430:
“Vẻ chi một đóa yêu đào”
Thì ông cho rằng: “Yêu đào” lấy chữ trong thơ “Đào yêu Kinh Thi” rồi trích dẫn cả bài, có chữ Hán và lời dịch…
Trang 28Chú 219, ông cho rằng câu thơ lấy Chữ Kinh thi: “Nhất nhật bất kiến như lam thu hề” là một ngày không thấy nhau coi lâu bằng bà thu Chữ Kinh
thi nói: Một ngày bằng ba năm Đây tác giải nói ngược lại: dồn ba năm mới dài bằng một ngày (nhớ người đẹp) Cách diễn tả của tác giải có lẽ tài tình hơn Kinh thi vì nêu ba năm lên trước đã làm nổi bật được ý chính là sự ngày giờ dài quá đối với người mê gái
Hay như câu: “Lượng xuân dù quyết hẹp hòi”, chú 298, Lê Văn Hòe chú giải như sau: Xuân = mùa xuân; đây là tình yêu Kinh Thi có câu “Hữu nữ hoài xuân cát sĩ dụ chi”…Do câu thơ cổ đó mà sau người ta dùng chữ “Xuân”
để trỏ việc trai gái yêu nhau
Tác giả bình Chú 835, “Tiểu tinh” nghĩa đen là sao nhỏ, nghĩa bóng là phận lẽ mọn Sở dĩ có nghĩa bóng đó là vì “Tiểu tinh” lấy chữ “thơ Tiểu tinh”
trong Kinh thi Thơ Tiểu Tinh gồm có hai chương, có dẫn chữ Hán, phiên âm
và dịch nghĩa Bài thơ mượn lời vợ lẽ mọn để tả cái tư tưởng an phận thủ thường, chịu cam số phận…
1.3.2 Chú giải được dẫn từ thơ Đường
Trong chú 64: “Trâm gẫy bình rơi”, Tác giả chú là: chiếc trâm gẫy, cái
bình vỡ; ý nói người đã chết Câu trên và câu này hình như tác giả đã thoát dịch câu thơ Đường:
“Nhất phiến tình chu phương đáo ngọn Bình trầm hoa chiết dĩ đa thì”
Lược dịch là: Một là thuyền tình vừa tới bến, bình chìm hoa gẫy đã từ
lâu Nếu quả như vậy, thì có lẽ phải chép là: “hoa gẫy bình rơi mới đúng”
Trong câu thơ:
“Trong khi chắp cánh liền cành”(440)
Lê Văn Hòe giải thích: “chắp cánh liền cành” ý nói ăn nằm gần nhau như
vợ chồng-câu này lấy chữ trong bài Trường hận ca của Bạch Cư Dị Ngoài ra,
ông dẫn chữ Hán, phiên âm và dịch nghĩa
Trang 29“Mầu hoa lê hãy đầm đìa giọt mưa”.(198)
Lê Văn Hòe cho rằng câu thơ được lấy ý thơ trong bài Trường Hận ca
của Bạch Cư Dị đời Đường có câu: “Ngọc dung tịch mịch, lệ lan can, lê hoa nhất chi xuân đới vũ” được dịch ra là: mặt ngọc buồn rầu, nước mắt lã chã,
như hoa lê mùa xuân đọng nước mưa Ý câu thơ này là: (Lời bà mẹ Kiều hỏi nàng) Vì sao không ngủ lại ngồi khóc?
Phần bình thứ 691,692: Gió đông đây lấy chữ trong câu thơ của Đỗ Mục đời Đường, trích dẫn thơ:
“Đông Phong bất dữ Chu lang tiện Đồng tước xuân thâm tỏa nhị Kiều”
Lê Văn Hòe khéo léo giải nghĩa: Gió đông nếu không giúp sức cho Chu lang thì hai cô họ Kiều đã bị nhốt kín vào đài Đồng Tước
Lê Văn Hòe giải nghĩa Chú 834 “Lưu ly” là lưu lạc và ly tán có nghĩa là
cùng khổ và trôi nổi giữa đường Ý nghĩa từ lấy từ Thơ của Bạch Cư Dị:
“Cốt nhục lưu ly đạo lộ trung”
Nghĩa là: Ruột thịt lưu lạc ly tán giữa đường Bước lưu ly tức là bước đường khốn cùng và trôi nổi…
Và một số ví dụ khác:
Chú 533- “tấc cỏ”, “ba xuân” lấy chữ trong bài thơ của Mạnh Giao đời
Đường, rồi trích dẫn câu thơ, có chữ hán và lời dịch
Chú 715- “Thuyền quyên” lấy ý ở câu thơ Mạnh Giao đời Đường, có dẫn
chữ hán, phiên âm, dịch nghĩa
1.3.3 Chú giải được dẫn từ Thơ cổ Trung Quốc
Trang 30Chú: 44, “Chơi xuân” được Lê Văn Hòe chú là đi chơi ngoài cánh đồng
cỏ Ông chú giải như vậy vì cho rằng câu thơ trên được lấy ý từ câu thơ Tầu
cổ: “Xuân du phương thảo địa” nghĩa là: Mùa xuân chơi cánh đồng cỏ thơm
Hay như hai câu thơ trong phần chú 77:
“Sống làm vợ khắp người ta Hại thay thác xuống làm ma không chồng”
Lê Văn Hòe chú giải: Hai câu thơ này thoát dịch câu thơ Tầu cổ: “Sinh vi vạn nhân thế/ Tử vi vô phu quỷ” có nghĩa là: Sống là vợ muôn người, chết
làm ma không chồng
Chú 371, Cả câu được dịch là ánh trăng giọi xuống đầu cành, gặp chỗ mau là thì thành từng mảng ánh trăng (tức mau, nhiều) phải chỗ thưa lá thì ánh sáng không thành mảng (tức thưa ít) Tác giả cho rằng Nguyễn Du lấy ý ở
câu thơ Tầu cổ: “Nguyệt minh tài thượng liễu sao đầu” nghĩa là: ánh trăng
mới soi qua trên ngọn cây liễu
Tác giả chú phần 376, “Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần”, là được thoát ý
từ câu “Nguyệt di hoa ảnh ngọc nhân lai” nghĩa là bóng trăng dời chuyển
bóng hoa đi hình như có người đẹp như ngọc tới
Câu thơ:
“Sông tương một giải nông sờ (313) Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia” (314) Tác giả chú rằng: Hai câu thơ này thoát ý ở câu thơ của Tầu: “Quân tại Tương giang đầu/ Tiếp tại Tương giang vĩ/ Tương tư bất tương kiến/ Đồng
ẩm Tương giang thủy” Dịch là: Chàng ở đầu sông Tương, thiếp ở cuối sông
Tương, cùng nhớ nhau mà chẳng thấy nhau Hai bên cùng uống nước sông tương Ý nói: ở cách nhau có một chút mà hai người đều nhớ nhau, chờ đợi nhau, không thấy mặt nhau
Chú 344: Lê Văn Hòe chú giải “Gió đáp mưa sa” là thoát ý trong câu thơ cổ: “Phong vũ thôi thi tứ” nghĩa là tứ thơ nhanh như gió mưa thúc đẩy
Câu này tả cái tài hoa của Thúy Kiều
Trang 31Trong câu thơ: Sông Tần một dải xanh xanh (1309), Lê Văn Hòe có chú rằng: Lấy ý câu thơ cổ: Dao vọng tần xuyên, can trương đoạn tuyệt: dõi
trông nước Tần mà gan ruột như đứt từng khúc Có bản giảng sông Tần là sông Tần Hoài là con sông chảy ở miền Giang Tô quê hương Thúc Sinh, giảng thế nghe cũng có lý
Tản Đà trong Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện thì không cho là như
vậy Ông cho rằng hai câu thơ trên được lấy ý từ hai bài thơ mà tiếp nhau ở chữ “liễu” Hai bài thơ đó là Hoài thượng biệt hữu nhân (Trên sông Hoài biệt người bạn) của Trịnh Cốc và Tống Nguyên Nghị sứ An - tây (Tiễn Nguyên Nhị đi sứ nước An - tây) của Vương Duy “Bài thơ sau này, người đời sau
trong khi tống biệt, thường hay dùng để hát, gọi là Ba nhịp Dương quan Cũng bởi thế mà hai chữ Dương Quan mới có thể được đặt vào trong câu thơ
này, nghĩa của nó nên nhận như hai chữ biệt ly mà thôi Chớ cứ thực thời Dương quan là một cái cửa ải ở biên giới tỉnh Thiểm tây, tức là hết địa giới nước tầu về mạn Tây Bắc, với con sông Tần Hoài ở tỉnh Tô Giang là chỗ quê Thúc Sinh xa cách nhau lắm lắm…”[5, 117]
1.4 Giải thích ngữ pháp của câu thơ
Thơ là hình thức nghệ thuật dùng từ trong ngôn ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới hình thức lô-gíc nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mỹ cho người đọc, người nghe Một câu thơ là một hình thức câu cô đọng, truyền đạt một hoặc nhiều hình ảnh, có ý nghĩa cho người đọc, và hoàn chỉnh trong cấu trúc ngữ pháp Việc giải thích ngữ pháp của câu thơ như Lê Văn Hòe đã làm, không chỉ giúp người đọc thưởng thức nghệ thuật mà còn để bày tỏ tâm tư và chứa đựng tính sáng tạo của Nguyễn Du Có thể nói, sự tồn tại của Truyện Kiều đi song song với sự tồn tại của ngôn ngữ
Chính vì lý do đấy mà Lê Văn Hòe đã chỉ ra ngữ pháp trong Truyện Kiều, có thể điểm qua các ví dụ như:
“Rằng: Quen mất nết đi rồi”(420)
Trang 32Lê Văn Hòe chú rằng: chủ từ (tức chủ ngữ) của động từ rằng ở trên và ở đây đều lần, chủ từ của rằng trên là Kim Trọng, ở dưới là Kiều Nếu không có
sự phân tích này, chắc sẽ có nhiều người nhầm giữa chủ từ của câu “rằng: hay
thì thực là hay” và câu “rằng: quen mất nết đi rồi”, vì tưởng là chỉ một người
Nhưng Lê Văn Hòe đã chỉ ra câu trên chủ từ là Kim Trọng, dưới chỉ Kiều Hay như câu:
“Khéo vô duyên bấy là mình với ta”(68) Ông cho rằng: “Khéo” đây là trạng từ (adverbe) có nghĩa là thật quả;
“mình” là tiếng xưng hô dùng để trỏ người thứ hai bằng hàng với mình có
hàm ý thân mật
“Thang mây rón bước ngọn tường”(275) Nếu để nguyên câu này, hiếm có người hiểu hành động “rón bước” này
là ai đang “rón bước”, vì cả 3 câu liền kề trên và dưới đều không nói là ai Lê
Văn Hòe chú rằng: Chủ từ là Kim Trọng, Kim Trọng nói, Kim Trọng chạy về nhà, Kim Trọng trèo thang, Kim Trọng nhìn thấy Kiều và tự hỏi Như vậy bút pháp tác giả quả thật tài tình!
Hay ông chú chủ từ của những động từ: đắn đo cân, ép, thử trong hai câu này, là chữ khách đặt cách một câu, ở dưới ở câu thơ:
“Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ (550)
Mặn nồng một vẻ một ưa Bằng lòng, khách mới tùy cơ dặt dìu”
Ngoài chỉ rõ cấu trúc ngữ pháp, Lê Văn Hòe còn có những phát hiện trong câu thơ khi thiếu/ bị ẩn đi những thành phần câu Điển hình là việc thiếu mất động từ khi ông chú: Nàng ở đây thì rõ là Kiều, nhưng hình như câu thiếu mất Động từ trong câu:
“Một mình nàng ngọn đèn khuya”(602)
Và một số ví dụ khác ở dưới đây:
Ở chú thứ 785- Chủ từ câu này là “Vương ông”, tức “Ông” ở câu đi
liền sau
Trang 33Chú 799- Chủ từ câu này tuy lần không rõ, song theo văn lý, người ta
cũng biết rằng “trông vời gạt lệ” là Vương Ông Vương Bà trông vời gạt lệ
Khách tức Mã Giám Sinh cùng Kiều đã ngồi xe đi như bay rồi Chỉ còn trơ lại chủ đứng trông theo dấu xe đi mỗi lúc một xa
Chú 800- Chủ từ câu này cũng là chủ từ câu trên, tức cha mẹ Kiều
Hay như chú 1244- “Phó về”, danh từ quen dùng trong việc quan
1.5 Giải thích nghĩa trong văn cảnh (ngữ cảnh)-context
Giải thích nghĩa trong văn cảnh, tức là ý nghĩa của từ, cụm từ trong văn mạch, trong câu thơ, đoạn thơ sao cho rõ ràng, tường tận ngữ nghĩa Việc làm này nhắm đến độc giả phổ thông, độc giả bình dân Văn học Việt Nam, thậm chí văn học thế giới, ít có tác phẩm nào chinh phục được tình cảm của đông
đảo người đọc đến như vậy Ngôn từ trong ''Truyện Kiều'' được dùng rộng rãi
trong các sinh hoạt văn hóa của mọi tầng lớp nhân dân Vì vậy, việc giải thích nghĩa trong văn cảnh (ngữ cảnh) đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với
việc đưa “Truyện Kiều” đến với mọi tầng lớp nhân dân
Trong câu:
“Đừng điều nguyệt nọ hoa kia”
Lê Văn Hòe chú rằng: “nguyệt nọ hoa kia” ở đây trỏ sự trai gái ăn nằm với nhau; Thành thực, nếu không đọc bản chú của ông thì từ “nguyệt nọ hoa kia” chỉ phù hợp với tầng lớp trí thức, vì chỉ họ mới có thể hiểu ý nghĩa sâu xa
của từ này
Hay câu:
“Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai”
Trong câu xuất hiện hai chữ “ai”, nhưng không biết chữ “ai” đó ám chỉ nhân vật nào, hai người khác nhau hay cả hai chữ “ai” chỉ một người?
Lê Văn Hòe đã chú được rằng: “ai” ở trên chỉ Kiều, “ai” ở dưới chỉ
Kim Trọng Vì chữ ai trên là Kiều tự xưng Nhưng ở đây cho đầy đủ hơn, ông giải thích lại toàn câu một lần rằng tại sao Kiều lại nói như thế, sẽ rõ ý hơn
Trang 34Hay như lúc Nguyễn Du tả “sượng sùng ý rụt rè” đi liền với “người hôm nọ”, tả dáng điệu, thái độ “người hôm nọ” Và Lê Văn Hòe chỉ ra ở đây duy chỉ có Kiều là “sượng sùng, rụt rè” Vậy Kiều là “Người hôm nọ”
Xin liệt kê một số ví dụ điển hình khác:
Chú 144- “Chị em” đây là chị em nhà cô Kiều
Chú 78- “Phượng, loan”: ý nói trai và gái Câu này nói những người yêu
Đạm Tiên ngày xưa
Chú 104: “nàng” ở đây trỏ Kiều
Chú 118-119: Từ đằng xa mới nhìn tỏ mặt người (đây trỏ Vương Quan
và chị em Kiều) “khách” (đây là Kim Trọng) đà xuống ngựa đi bộ tới nơi để
chuyện trò
Chú 144- “Khách đây” trỏ Kim Trọng, “Người” là trỏ Kiều
Chú 256- “Bóng người thướt tha”: bóng con gái, ý nói bóng nàng Kiều Chú 376- “Hoa lê” đây trỏ nàng Kiều Câu này ý nói: Kim Trọng nghe
tiếng bước chân người, thức giấc đã thấy Kiều tới gần bên
Chú 383- “Tóc mây” đây chỉ tóc Kiều, vì chỉ có tóc đàn bà mới bóng
mượt như mây
Chú 587- “Hoa dù rã cánh” = dù hoa bị rời rũ cánh (nói Kiều bán mình);
Lá còn xanh cây = cây còn xanh lá, ý nói cây vẫn không bị khô héo (Vương ông được vô sự)
Chú 671- “Bèo nổi mây chìm” = bèo nổi trôi lênh đênh vô định, ý nói lênh đênh chìm nổi ở phương xa
Chú 685- “Thẹn lục”= thẹn cho màu lục, tức màu xanh, đây trả tóc xanh Kiều cảm thấy thẹn có mái tóc đẹp, và e ngại cho má hồng vì đã lọt vào tay người nàng không yêu
Chú 700- “Một khắc một chầy:” ý nói Kiều thức khuya nên cảm thấy đêm dài
Chú 764- “Chủ” đây trỏ Vương Ông, vì Vương Ông là chủ bữa tiệc tiễn hành họ Mã
Chú 1138- “Gã kia” trỏ Thúc Sinh, “Con người ấy” trỏ Thúy Kiều
Trang 351.6 Giải thích điển tích, điển cố
Trong công trình Truyện Kiều chú giải, Lê Văn Hòe nhận xét rằng các bản
chú trước do phần nhiều chỉ chú các điển cố hay từ ngữ mượn của Hán văn mà
bỏ qua các mặt khác Đến lượt mình, ông muốn có một sự chú thích toàn diện Mỗi lần chú là một lần ông bình về điển tích, điển cố đó Lê Văn Hòe không chỉ tiếp thu những tinh hoa từ những học giả bình về Truyện Kiều trước đó, mà còn sáng tạo nên những nét bình mới, tạo cho người đọc cảm thấy một thế giới của riêng ông, chứ không thể nhầm lẫn với học giả nào khác
Ví như từ “Đồng Tước”, trong câu thơ:“Một nền Đồng tước khóa xuân hai Kiều”(132) , ta bắt gặp chú giải từ “Đồng tước” trong bản của Tản Đà chỉ
là lý giải ở mức cô đọng nhất mà không có bình vào câu thơ, Tản Đà chú rằng: “Tào Tháo định hễ phá được Ngô thời bắt hai nàng họ Kiều là vợ Tôn Sách và vợ Chu Du, khóa giam vào ở đài Đồng tước”.[5, tr21]
Đến Lê Văn Hòe, ông chú thêm về câu thơ Đỗ Mục đời Đường để nêu
rõ nguồn gốc của điển tích, điển cố, rằng: “Tên một tòa lâu đài lộng lẫy đồ
xộ do Tào Tháo dựng nên đời Tam Quốc” Thơ Đỗ Mục đời Đường có câu:
“Đông phong bất dữ Chu lang tiện, Đồng tước xuân thắm tỏa nhị Kiều
Nếu gió đông không giúp cho Chu- Du (phóng hỏa phá trận Xích bích) thì hai chị em họ Kiều bị (Tào Tháo bắt đem về) khóa kín trong đài Đồng tước (ở trước Ngụy) ”
Đến bản Truyện Kiều của Đào Duy Anh (1979), “Đồng Tước” được ông
chú gọn lại rằng: “Cái nhà của Tào Tháo nước Nguy đời Tam quốc làm (ở huyện Lâm Chương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc) định rằng hễ đánh được nước Ngô thì sẽ bắt hai mỹ nhân của Đông Ngô (Đại Kiều và Tiểu Kiều) một người
vợ Tôn Sách, một người vợ Chu Du, để ở đây ” Đào Duy Anh đã học tập được Lê Văn Hòe để thêm vào chú của mình câu thơ của Đỗ Mục đời Đường nhưng ông đã rút kinh nghiệm để giải nghĩa đầy đủ hơn về câu thơ đó so với bản của Lê Văn Hòe: “Nếu gió đông không nổi lên để cho Chu Du được tiện
mà phá quân Tào Tháo ở Xích Bích thì Tào Tháo đã bắt được hai mỹ nhân của Đông Ngô mà khóc xuân ở đài Đồng Tước rồi” Bên trên đã nêu ra phần
Trang 36giải thích của Lê Văn Hòe: “Nếu gió đông không giúp cho Chu- Du (phóng hỏa phá trận Xích bích) thì hai chị em họ Kiều bị (Tào Tháo bắt đem về) khóa kín trong đài Đồng tước (ở trước Ngụy) ”
Hay ta bắt gặp cách chú một cách tỉ mỉ, trau chuốt đến từng từ, từng
chữ trong cách chú từ “Ba sinh” của Lê Văn Hòe, ông chú rằng: Dịch từ
chữ tam sinh, nghĩa là ba kiếp luân chuyển kiếp này sang kiếp khác Xuất phát từ điển sau: Đời Đường có vị sư tên là Viên Trạch một hôm cùng bạn là
Lý Nguyên Thiện đi chơi Gặp một mụ đàn bà gánh nước Viên Trạch nói:
"Người đàn bà này đã có mang ba năm đợi tôi vào làm con Nay đã gặp đây, không thể nào trốn được Hẹn ba ngày nữa thì bạn đến, ta lấy nụ cười làm tin Mười ba năm sau ta lại sẽ gặp nhau ở chùa Thiên Trúc tỉnh Hàng Châu, vào đêm Trung Thu trăng sáng" Chiều đó Viên Trạch mất Người đàn bà nọ đẻ con trai Ba hôm sau, Lý tới thăm, quả nhiên đứa bé thấy Lý thì cười, đúng như lời hẹn Mười ba năm sau Lý đến chùa Thiên Trúc Hàng Châu, nghe thấy một trẻ trâu hát rằng:
"Tam sinh thạch thương cực tinh hồn Thưởng nguyệt phong bất yếu luân Tam qui tình nhân viễn tương phỏng Thử thân tuy dị, tinh thưởng đồng.”
Một ví dụ khác, đó là khi Tản Đà chú thích “Lam kiều” trong 43 từ rằng:
“Là cái cầu trên sông Lam, ở mạn đông nam huyện Lam điền tỉnh Thiềm tây, tục truyền chỗ đó từ xưa có tiên ở, tức là chỗ Bùi Hằng gặp Vân Anh Đây chỉ
là mượn lời nói chỗ có gái đẹp”.[5,tr30]
Ta lại nhìn sang bản chú giải của Lê Văn Hòe cùng từ “Lam kiều”,
ông chú trong 146 từ: “Lam Kiều là tên một địa điểm ở huyện Lam Điền tỉnh Thiềm Tây Đời Đường, Bùi Hàng gặp nàng Vân Kiều tặng cho một bài thơ, trong thơ có câu: Lam Kiều bản thị thần tiên quật: Lam Kiều vốn chỗ thần ở Sau này, Bùi Hàng qua một nơi gọi là Lam Kiều (vì đó có cầu) khát nước vào hàng uống nước, thấy trong quán có người gái đẹp tên là
Trang 37Vân Anh, chàng muốn lấy vợ Vân Anh bảo chàng hễ đem được cái chày ngọc kháp vừa cái cối ngọc của nhà bà thì bà gả cho Bùi Hàng về gặp tiên cho chày ngọc đem đến, lấy được Vân Anh Rồi hai vợ chồng điều thành tiên Do Điển đó, Lam Kiểu được dùng để trỏ nơi ở của đàn bà đẹp Đây Lam Kiều trỏ chỗ nhà nàng Kiều ” [8]
Ví như khi chú giải về tích “Đào Nguyên”, Lê Văn Hòe chú rằng: “Văn
sĩ Đào Tiềm đời Tấn chép truyện rằng có một người thuyền chài chèo đò ngược theo một nguồn nước đi mãi đến một nơi trồng toàn đào, hoa đào rụng đỏ cả suối, đi quá vào trong thì tới một nơi có người ở từ đời nhà Tần cách đấy mấy trăng năm, sống riêng biệt với thiên hạ Cảnh đời êm đẹp như cảnh tiên”[8]
Tản Đà cũng chú thích “Đào Nguyên” theo nghĩa tương tự Lê Văn Hòe:
“…Xưa đời Tấn có người ngư phủ chèo thuyền đi theo một cái nguồn nước, dẫn thấy có nhiều câu đào, tới cùng, thành ra thấy một chỗ tiên cảnh Đây ý nói người khách tiên” [5, tr26]
Hay như tích “Lá thắm”, học giả họ Lê tỉ mỉ chú từ việc chàng Vu Hựu
nhặt được lá cho đến nguồn gốc bài thơ của Hàn Thủy Tần: “Đời Đường, chàng Vu Hựu bắt được một cái lá đỏ (ngờ là lá bàng) trôi từ dòng sống nhỏ chảy ở cung Vua ra Trên lá có đề một bài thơ Hựu cũng lấy một cái lá họa thơ thả xuống dòng sông nhỏ Lá trôi vào cung Vua Hàn Thủy Tần là cung cung nữ bắt được cái lá họa thơ của mình, vì lá đỏ trước là do nàng thả ra Sau này nhờ vụ thải cung tần, Vu Hựu lấy được Hàn thị bấy giờ mới biết rằng trước kia đã xướng họa thơ trên lá với nhau Do đó người ta mượn chữ lá thắm để trỏ việc thông tin mối lái vợ chồng.”
Dùng tích về Vua Hán Vũ Đế, Lê Văn Hòe giải thích điển “Chim xanh”
như sau: “Vua Hán Vũ Đế đang ngự chơi, bỗng có hai con chim xanh bay đến Đông phương Sóc hầu bên tâu rằng đó là sứ giả của Tây vương Mẫu đến trước, Tây vương Mẫu sắp tới bây giờ Quả nhiên lát sau Tây vương Mẫu tới thăm vua Do tích đó, chữ chim xanh được mượn trỏ kẻ đưa tin”
Trang 38Xét ví dụ về cách giải thích điển “Động khóa nguồn phong” của Lê
Văn Hòe, ông chú rằng: “Động khóa, đâu nói Động Thiên Thai là nơi tiên
nữ ở, khi Lưu Thần Nguyễn Triệu trở lại, thì động lấp mất lối vào Nguồn phong: nguồn bị phong tỏa, bị niêm phong không mở, đây nói Nguồn Đào túc Đào Nguyên là nơi tiên cảnh, khi người ngư phủ đời Tấn trở lại thì quên mất lối vào”
Ta có thể thấy cách ông chú thích rất tỉ mỉ, cẩn thận Ban đầu ông giải thích nguồn gốc của Động khóa, là nơi tiên nữ ở; Sau đó nêu về nội dung câu chuyện rằng khi Lưu Thần Nguyễn Triệu trở lại động thì đã bị lấp mất lối vào Còn nguồn phong ông giải thích từng từ, nguồn phong là nguồn bị phong tỏa, bị niêm phong không mở; Sau đó nói rõ về điển tích Nguồn Đào túc Đào Nguyên
Hay nói về từ “Thiên thai”, Lê Văn Hòe chú rằng: “Động Thiên thai là
nơi tiên ở: Lưu Thần, Nguyễn Triệu xưa lên núi hái thuốc lạc vào động Thiên thai Động ở trên núi cao vót nên quanh năm cửa động có mây Đây nói rẽ mây là rẽ đám rào gai, vào nhà Kim Trọng” Ông đã chú chi tiết từ động là nơi tiên ở, đến điển về Lưu Thần, Nguyễn Triệu và cuối cùng là điểm lại nội dung toàn câu thơ, câu ấy ý nói như thế nào
Quay về bản của Bùi Kỉ, Trần Trọng Kim, ta không thấy từ Thiên thai được chú giải;
Đến Đào Duy Anh trong cuốn Truyện Kiều (1979), ông nói: “do điển bài tựa Cao Đường phú của Tống Ngọc, non thần tức nhân núi ấy mà nói là núi có thần Và ông giải thích ý câu thơ, ý nói Kim Trọng đương chợp ngủ thấy Kiều đến thì mơ mạng như thấy thần nữ đến”
Từ “Giáp non thần” lấy từ điển: “Xưa vua Sở, Tương Vương ngự chơi
đất Cao Đường nằm mơ thấy người con gái đẹp đến hầu Hỏi thì nàng nói” Thiếp ở núi Vu Sơn sớm làm mây tối làm mưa, luôn luôn ở chỗ Dương đài (tức ngọn núi phía đông) sau nhà vua sai lập miếu thờ (tức miếu Vu Sơn Thần Nữ) gọi là miếu Triên Vân.”
Trang 39Lê Văn Hòe giải thích thêm rằng sau người ta dùng những chữ Vu Sơn,
Vu Giáp, đỉnh Giáp non thần, mây mưa, giấc mộng Cao đường, giấc mộng Dương Đài để trỏ việc trai gái đi lại với nhau
Và cuối cùng, ông giải thích ý toàn câu thơ, ý câu thơ nói: Kim Trọng
mơ mộng bâng khuâng những việc ân ái
Nhìn lại chú thích chú giải điển tích, điển cố trong quyển Truyện Kiều chú giải, một mặt ta thấy công phu, tâm huyết của tác giả đã bỏ ra để giúp người đọc hiểu, thưởng thức cái hay cái đẹp của từng câu trong Truyện Kiều, một mặt ta thấy giá trị văn chương từ những lời chú giải ấy
Tiểu kết chương 1
Như vậy, việc hệ thống các chú giải về từ, thành ngữ, cụm từ, điển tích, điển cố, ngữ pháp, nghĩa trong ngữ cảnh, Lê Văn Hòe đã tỏ rõ ông là người có
tâm huyết và trân trọng tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du Ông đã đầu tư
nhiều tâm sức và trí lực để khảo cứu một tác phẩm văn học lớn Ông cho thấy tất cả sự tinh thế, nhạy cảm thẩm mĩ, công phu, tinh thần nghiêm túc và khi biên soạn Kiều, đặc biệt là với chú giải từ ngữ…
Trong tác phẩm đồ sộ dày 724 trang khổ lớn, Lê Văn Hòe đã cố gắng giải thích nghĩa của từ, thành ngữ, cụm từ; Giải thích từ nguyên (gốc từ): Dẫn xuất xứ một ý, một cách diễn đạt từ văn học Trung Quốc (Kinh Thi, thơ Đường; Giải thích ngữ pháp của câu thơ; Giải thích điển tích, điển cố; Giải thích nghĩa trong văn cảnh (ngữ cảnh)-context Phải nói rằng đó là một công trình lớn lao mà ông đã làm có mục đích giúp mọi người hiểu thấu truyện Kiều, thưởng thức hết cái hay của truyện Kiều, và đưa truyện Kiều ra làm công cụ học vấn giáo dục có lợi ích cho giới học đường Việc chú giải này đòi rất nhiều công phu, tuy vậy ông đã cố gắng hoàn thành một cách đầy đủ nhất
Cũng qua Truyện Kiều chú giải chúng ta hiểu Lê Văn Hòe hơn, thấy
được ở Lê Văn Hòe một học giả uyên bác và một nhà văn đầy bản lĩnh
Trang 40CHƯƠNG 2:
HỆ THỐNG CÁC BÌNH LUẬN CỦA LÊ VĂN HÒE VỀ NHÂN VẬT
VÀ VĂN CHƯƠNG NGHỆ THUẬT CỦA TÁC GIẢ NGUYỄN DU
2.1 Hệ thống các lời bình của Lê Văn Hòe về nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
Truyện Kiều chú giải của Lê Văn Hòe là bản chú thứ hai có bình luận về nhân vật và văn chương của Nguyễn Du sau Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện - Tản Đà Hệ thống các lời bình của Lê Văn Hòe về nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du bao gồm 209 lời bình (Phụ lục 2 - Tr153)
2.1.1 Thúy Kiều- Thúy Vân- Kim Trọng
Bình về chị em Thúy Kiều, Thúy Vân, học giả Lê Văn Hòe ngợi ca vẻ đẹp của hai nàng trong độ tuổi xuân xanh:
“Người quốc sắc, kẻ thiên tài”
Ông bình rằng: có người hỏi rằng người quốc sắc đây là ai và có ý cho
là tác giả nói lờ mờ không gẫy gọn Thật ra không phải thế, dù có Thúy Vân hay có trăm ngàn con gái cùng đi với Kiều thì nói người quốc sắc,
người ta biết ngay là nói Kiều, vì chỉ Kiều“sắc đành đòi một” mới có thể
gọi là quốc sắc được
Học giả họ Lê ít bình về Thúy Vân, chỉ điểm qua tính cách và vẻ đẹp của nàng qua những câu bình về Kiều “dù có Thúy Vân hay có trăm ngàn con gái cùng đi với Kiều thì nói người quốc sắc, người ta biết ngay là nói Kiều”, ý muốn nói nàng cũng đẹp, nhưng không phải “người quốc sắc” ở đây
Qua các lời bình của Lê Văn Hòe ta thấy ông đã tỏ ra là nhà nho có quan điểm bảo thủ nên sự khen chê đạo đức nhân vật của ông thường mang đặc điểm này,
nhất là khi ông bình về đoạn Thúy Kiều “xăm xăm băng lối” đi tìm Kim Trọng,
hay như đoạn Thúy Kiều lần thứ hai phải vào lầu xanh Ngoài ra, ông nêu ra những chỗ ông cho rằng tối nghĩa và chưa thấy văn lí trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du