Nghiện ma túy là một trong nhiều tệ nạn xã hội nguy hiểm và có tính phổ biến hiện nay, và là một hiểm họa lớn của toàn nhân loại. Không chỉ riêng Việt Nam phải đối mặt với vấn nạn ngày càng nghiêm trọng này mà hầu hết các nước trong khu vực và trên thế giới đều có tỉ lệ người nghiện ma túy rất cao. Không một quốc gia một dân tộc nào không phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng do buôn lậu ma túy gây ra cho đời sống kinh tế xã hội. Tình hình tệ nạn ma túy diễn biến rất phức tạp, tiềm ẩn, khó lường, có xu hướng gia tăng về số người nghiện và các tội phạm ma túy, tính chất hoạt động ngày càng tinh vi, tinh xảo, và manh động. Ma túy làm suy thoái nhân cách, phẩm giá, tàn phá cuộc sống gia đình, gây xói mòn đạo lý, làm gia tăng tội phạm, bạo lực, tham nhũng, vắt cạn kiệt nguồn nhân lực, tài chính, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội. Nghiêm trọng hơn, ma túy là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đại dịch thế kỷ HIVAIDS trên toàn cầu. Trong thời buổi hiện nay, khi mà chất ma túy, chất gây nghiện đang ngày càng trở nên đa dạng với nhiều thể loại tinh vi và mới lạ, thì việc có nhiều người dại dột dính vào ma túy, chất gây nghiện cũng là một điều dễ hiểu. Nó hấp dẫn và kích thích sự tò mò của người khác qua hình dạng, màu sắc và các thể loại khác nhau. Sự đa dạng về thể loại cũng khiến cho một bộ phận người dùng ma túy cảm thấy hứng thú và không ngừng dừng lại sự tò mò. Đối với một bộ phận thanh thiếu niên và giới trẻ thì lại càng dễ dính vào ma túy. Bởi đây chủ yếu là những đối tượng còn quá non trẻ, chưa đủ chín chắn bản lĩnh và suy nghĩ để nhận thức về sự nguy hiển và hậu quả khi dính và ma túy. Những đối tượng này bằng nhiều nguyên nhân và con đường sẽ tìm đến ma túy như một trò tiêu khiển. Có người nghiện ma túy do bị bạn bè lôi kéo dụ dỗ, có người nghiện ma túy như thể hiện đẳng cấp hay thú chơi ngông, và cũng có người dùng ma túy để tìm những cảm giác lạ thăng hoa trong cuộc sống, hay để quên đi những phiền muộn của cuôc đời. Bên cạnh đó, việc nắm bắt và kiểm soát ma túy lưu hành trong thị trường của các cơ quan chức năng là một việc vô cùng khó khăn. Có quá nhiều nguồn cung cấp ma túy vào thị trường Việt Nam, việc kiểm soát ma túy và chất gây nghiện gần như là một việc làm quá sức đối với các cơ quan an ninh và lực lượng chức năng. Khiến cho lượng ma túy, chất gây nghiện càng trở nên đa dạng phong phú và rất dễ có thể kiếm được. Do siêu lợi nhuận và lợi dụng tự do hóa thương mại, chính sách mở cửa thu hút đầu tư của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, bọn tội phạm ma túy tiến hành mở rộng phạm vi hoạt động sản xuất, buôn bán ma túy. Việc Việt Nam ký kết nhiều hiệp định tự do há thương mại, tham gia vào các diễn đàn kinh tế thế giới, mở rộng thương mai đầu tư, kinh doanh, buôn bán đã tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức tội phạm ma túy hoạt động. Với diễn biến phức tạp của tệ nạn ma túy ở các nước nói chung, ở Việt Nam nói riêng, hàng năm số người nghiện ma túy ở nước ta vẫn tăng bình quân 11%. Trong 20 năm trở lại đây, số người nghiện ma túy tăng gấp 4 lần. Đó là thông tin được Bộ Lao động Thương binh và xã hội ( Bộ LĐTBXH ) đưa ra theo kết quả rà soát của Bộ Công an tại hội nghị biểu dương người cai nghiện thành công do Bộ LĐTBXH tổ chức sáng 1411, tại Hà Nội. Số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý đã tăng gần 4 lần trong 20 năm kể từ năm 1994 đến nay (năm 1994 là 55.445 người, trung bình mỗi năm tăng khoảng 7.000 ngườiĐến tháng 92014, 142 Trung tâm cai nghiện ma túy cả nước đang quản lý và cai nghiện cho khoảng 32.200 người, giảm 3.737 người người so với thời điểm cuối năm 2013. 8 tháng đầu năm, các Trung tâm đã tiếp nhận cai nghiện cho 3.946 người, chủ yếu là những người đã có quyết định trước khi Luật xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực; có 2.902 người được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng, tương đương với 3,5% số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý; trong đó, số cai tại gia đình 1.567 người (54%) và số cai tại cộng đồng là 1.335 người (46%). Bên cạnh việc đưa ra các giải pháp quyết liệt phòng chống ma túy, Nhà nước ta cũng đồng thời quan tâm đến việc tổ chức cai nghiện, cắt cơn cho những người sa vào con đường nghiện ngập, phục hồi sức khỏe, hành vi và nhân cách để tái hòa nhập cộng đồng. Công tác cai nghiện tuy đã đạt được một số kết quả bước đầu, nhưng về cơ bản tính hiệu quả và tính bền vững chưa cao, tỷ lệ tái nghiện còn ở mức báo động, có những nơi lên tới 80 90%. Trình độ văn hóa thấp, không có nghề nghiệp, không có việc làm là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng nghiện ma túy trong thanh thiếu niên. “ Hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho người nghiện ma túy” là một trong những biện pháp quan trọng có ý nghĩa nhằm giúp đối tượng trở về với cuộc sống bình thường, tái hòa nhập với cộng đồng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tệ nạn ma túy. Chủ trương này thể hiện rõ trong các văn bản chỉ đạo của Đảng và Chính phủ như Chỉ thị 33 CTTƯ, Chỉ thị 52 CTTƯ, Nghị quyết 06CP của Chính phủ và gần đây nhất là Chỉ thị 21 CTTƯ... Tuy nhiên, trên thực tế kết quả hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho người nghiện ma túy còn nhiều hạn chế. Hằng năm, số đối tượng được đào tạo việc làm ở cộng đồng chỉ chiếm khoảng 10% số đối tượng được chữa trị phục hồi. Nguyên nhân của tình trạng này ngoài những khó khăn khách quan của nền kinh tế thị trường còn do nhận thức, trách nhiệm của chính quyền, đoàn thể các cấp chưa cao, đặc biệt là chính quyền cấp xã, phường, cộng đồng khu phố, thôn xóm ít quan tâm. Về phía bản thân đối tượng và gia đình họ còn ỷ lại xã hội, không nỗ lực tìm kiếm việc làm. Mặt khác, Nhà nước ta cũng chưa có cơ chế chính sách phù hợp để khuyến khích, huy động nhiều thành phần kinh tế xã hội tham gia giải quyết việc làm cho đối tượng. Chính vì thế, hỗ trợ việc làm, dạy nghề, tổ chức lao động sản xuất, tạo việc làm, có thu nhập ổn định không những là một nội dung quan trọng của quy trình cai nghiện, mà còn là yêu cầu thiết yếu, tạo điều kiện cho đối tượng tái hòa nhập cộng đồng, phòng chống tái nghiện có hiệu quả. Điều đó đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết ở nước ta hiện nay là cần có sự nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống vấn đề hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho những người cai nghiện và cả sau cai nghiện ma túy để họ thực sự tái hòa nhập cộng đồng và có cuộc sống yên ổn, trở thành người có ích cho xã hội. Để góp phần nâng cao hiệu quả các nghiên cứu trên, em chọn đề tài “ Chính sách hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề đối với người cai nghiện ma túy ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn cho môn học Chính sách xã hội. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Cùng với đề tài và nội dung nghiên cứu về “ Chính sách hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề đối với người cai nghiện ma túy ở Việt Nam hiện nay” ở Việt Nam trong thời gian qua cũng có một số đề tài với góc độ tiếp cận và nội dung cụ thể khác nhau Có thể kể đến các nghiên cứu như: Chiến lược việc làm và đào tạo nghề thời kỳ 2001 2010 của Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng, Tạp chí Lao động xã hội, 2001. Kế hoạch tổng thể cai nghiện phục hồi, giai đoạn 2001 2010, Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm, Hà Nội, 2002. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý cai nghiện ma túy và sau cai 02X07 của Tiến sĩ Nguyễn Thành Công, Hà Nội, 2003. Báo cáo Sơ kết 3 năm thực hiện quyết định 151 của Thủ tướng Chính phủ về cai nghiện phục hồi, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Hà Nội, 2004. Báo cáo Tổng kết công tác cai nghiện phục hồi, giai đoạn 2001 2005, phương hướng nhiệm vụ thời kỳ 2006 2010, Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm, Hà Nội, 2006. Tài liệu Giới thiệu và hướng dẫn áp dụng mô hình cai nghiện có hiệu quả, Cục Phòng chống tệ nạn xã hội, Hà Nội, 2007. Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng trên các tạp chí về vấn đề này với những cách tiếp cận khác nhau. 3. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu không nhằm mục đích chỉ ra thực trạng, nguyên nhân, hậu quả tình hình nghiện ma túy ở Việt Nam, mà nhằm mục đích nghiên cứu sâu vào các chính sách của Đảng và Nhà nước trong “ Hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho người nghiện ma túy ở Việt Nam hiện nay”. Sự cần thiết của việc cần phải xây dựng, hoàn thiện các chính sách đối với nghiền cai nghiện ma túy, cùng với đó là sự quan tâm của toàn xã hội đối với những đối tượng này. Nghiên cứu còn tìm hiểu về những vấn đề tồn tại trong quá trình thực thi các chính sách hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho người nghiện ma túy trong thời gian qua. Ngoài ra, nghiên cứu còn nhằm mục đích trả lời cho các câu hỏi: Việc thực thi các chính sách hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho người nghiện ma túy ở Việt Nam trong thời gian qua diễn ra như thế nào? Những thành tựu và hạn chế trong thực thi chính sách trên? Nguyên nhân và giải pháp cho nâng cao hiệu quả thực thi chính sách? Trong thời gian tới, có nâng cao được số việc làm cho đối tượng cai nghiện ma túy không? 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. a. Đối tượng nghiên cứu của đề tài. Đối tượng nghiên cứu của đề tài không phải là những mặt xấu, tác hại của nghiện ma túy, hay những người nghiện mà túy. Mà đề tài tập trung đi sâu vào nghiên cứu các chính sách hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho người cai nghiện ở Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu các nhân tố tác động tới tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy, các cách thức tổ chức, quản lý trong đào tạo việc làm. Các thành tựu chính sách đạt được cùng với đó là chủ trương định hướng trong tương lai của chính sách. b. Phạm vi nghiên cứu của đề tài. Về không gian: Đề tài nghiên cứu về vấn đề hỗ trợ tạo việc làm cho những người cai nghiện ma túy có hồ sơ quản lý cai nghiên trên phạm toàn quốc. Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho những người nghiện ma túy từ năm 2001 đến nay. Từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị. Về nội dung: Tập trung nghiên cứu số liệu tổng hợp của các cơ quan quản lý có liên quan về hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho người cai nghiện ma túy trên cả nước. 5. Phương pháp nghiên cứu Dựa trên các tài liệu nghiên cứu đã có, số liệu tổng hợp, thống kê và một số đề tài nghiên cứu khoa học, điều tra khảo sát của Cục phòng chống tệ nạn xã hội Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, của Văn phòng Thường trực phòng chống ma túy Bộ Công an, cũng như báo cáo thống kê của địa phương. Tiểu luận sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá, khái quát hóa các số liệu, thông tin và dữ liệu thu thập được. 6. Ý nghĩa của đề tài. a. Ý nghĩa lý luận Đề tài góp phần phân tích và làm rõ những vấn đề cơ bản về ma túy, sử dụng ma túy, cai nghiện ma túy, nguyên nhân và tác hại của sử dụng ma túy, tái nghiện, quản lý sau cai nghiện, tái hòa nhập cộng đồng và hỗ trợ tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma túy. Hệ thống các giải pháp khả thi, hiệu quả cho người sau cai nghiện nhằm nhân rộng các mô hình trong cả nước. b. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nghiên cứu hoạch định chính sách và chỉ đạo thực tiễn về tạo việc làm cho người sau cai nghiện, phù hợp với điều kiện, và tình hình ở mỗi địa phương, góp phần đẩy mạnh công tác phòng chống ma túy, làm giảm tỷ lệ tái nghiện và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nói chung. PHẦN HAI : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU. Chương 1: Cơ sở lý luận, và cơ sở pháp lý của “ Chính sách hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho người nghiện ma túy ở Việt Nam hiện nay”. 1.1. Tổng quan về địa bàn, vấn đề nghiên cứu. 1.1.1 Khái quát về đại bàn nghiên cứu. Để có thể thu được kết quả tốt nhất, cái nhìn đầy đủ và hoàn thiện nhất về kết quả thực hiện chính sách, chúng ta không thể chỉ nhìn nhận, xem xét, đánh giá quá trình thực thi và hiệu quả chính sách chỉ trong một địa bàn cục bộ hay một thời gian nhất định. Hơn nữa, phạm vi đối tượng nghiện ma túy ở Việt Nam là rất rộng, trên tất cả các địa phương trên cả nước. Việc chọn địa bàn nghiên cứu là rất quan trọng, vì nếu chọn đúng, chính xác sẽ giúp đem lại cho nghiên cứu những kết quả khả quan, chính xác, phản ánh đúng được thực trạng chinh sách. Từ đó, có thể đưa ra những giải pháp, khuyến nghị đóng góp xây dựng chính sách. Đối với đề tài nghiên cứu “ Chính sách hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho người nghiện ma túy ở Việt Nam hiện nay” địa bàn nghiên cứu cũng như phạm vi nghiên cứu được mở rộng ra trên địa bàn toàn quốc. Bởi chính sách hỗ trợ đưa ra là của Nhà nước, nên tất yếu, việc thực thi chính sách sẽ là bao trùm tất cả các tỉnh thành. Từ việc lựa chọn địa bàn nghiên cứu là phạm vi trên cả nước, ta còn có thể chọn đi sâu vào nghiên cứu cục bộ một vài tỉnh thành đi đầu trong thực thi chính sách, từ đó có những nhận định so sánh, rút ra bài học kinh nghiệm cho các địa phương khác tham khảo trong quá trình thụ hưởng, thực thi chính sách. 1.1.2. Giới thiệu về hệ thống chính sách. Trước tình trạng tệ nạn ma túy đang diễn ra phức tạp và khó kiểm soát như hiện nay, cùng với mức độ tái nghiện của người sau cai nghiện có dấu hiệu tăng nhanh ( có khu vực lên đến 90% tái nghiện), để ngăn chặn điều đó, Đảng và Nhà nước ta cần phải có những bước đi, sự hành động thật quyết liệt, ngăn chặn sự gia tăng của tệ nạn. Từ đó, càn phải có một hệ thống chính sách hoàn thiện trong chính sách phòng chống tệ nạn ma túy, ngăn chặn sự tái nghiện bền vững. Cụ thể đối với sự ngăn chặn tái nghiện, chúng ta cần quan tâm đến những đối tượng đã và đang cai nghiện. Tạo mọi điều kiện tốt nhất cho quá trình cai nghiện, cắt cơn và quá trình tái hòa nhập cuộc sống cộng đồng cho những đối tượng sau cai nghiện. Giúp đỡ những đối tượng này tái hòa nhập cuộc sống, có cuộc sống ổn định, có thu nhập và tránh xa được sự lôi kéo của ma túy. Để đáp ứng và giải quyết được vấn đề đặt ra, Đảng và Nhà nước ta đã thật sự quan tâm đến thực trạng nay. “ Hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho người nghiện ma túy” là một trong những chủ trương, giải pháp nhằm đẩy lùi tệ nạn ma túy, chủ trương này thể hiện rõ trong các văn bản chỉ đạo của Đảng và Chính phủ .Cụ thể như sau: Nghị quyết 06CP của Chính phủ về tăng cường công tác chỉ đạo, phòng chống, kiểm soát ma túy đã nêu ở Mục 2 về tổ chức công tác phòng chống ma túy như sau: Tổ chức cai nghiện, chữa trị và thực hiện các biện pháp dạy nghề, tạo việc làm cho người nghiện. Chỉ thị số 21CTTW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 26 tháng 3 năm 2008 về Tiếp tục tăng cường lãnh đạo và chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma tuý trong tình hình mới. Mục 2. Điều 5 Tăng mức đầu tư từ ngân sách nhà nước, đồng thời tích cực tranh thủ các nguồn viện trợ quốc tế; huy động sự đóng góp của các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, doanh nhân và nhân dân, bảo đảm đủ kinh phí cho công tác tuyên truyền, giáo dục, đấu tranh phòng, chống tội phạm và cai nghiện ma tuý. Hoàn thiện chế độ, chính sách hỗ trợ cho người nghiện trong quá trình cai nghiện và tạo việc làm cho những người đã hoàn thành cai nghiện; chế độ, chính sách đối với các cán bộ làm công tác chuyên trách, trực tiếp, kiêm nhiệm và những người không hưởng lương từ ngân sách nhà nước tham gia công tác phòng, chống ma tuý. Thông tư Liên tịch Số:1212010TTLTBTCBLĐTBXH, của Bộ Tài chính Bộ LĐ TBXH đã nêu rõ ràng cụ thể như sau: Điều 2. Chế độ hỗ trợ đối với người sau cai nghiện ma tuý áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú 2. Hỗ trợ học nghề: Người sau cai nghiện ma tuý nếu có nhu cầu học nghề được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét hỗ trợ một lần kinh phí học nghề trình độ sơ cấp nghề: 1.000.000 đồngngườikhóa học nghề. Căn cứ đơn đề nghị hỗ trợ kinh phí học nghề của người sau cai nghiện ma tuý và biên lai thu học phí của cơ sở đào tạo nghề, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét hỗ trợ kinh phí học nghề cho người sau cai nghiện ma tuý. 3. Các mức hỗ trợ quy định tại Điều này là mức tối thiểu, tuỳ theo khả năng, điều kiện cụ thể, Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định mức hỗ trợ cao hơn để tạo điều kiện cho người sau cai nghiện ma tuý có việc làm, thu nhập ổn định. Điều 4. Chế độ hỗ trợ đối với người sau cai nghiện ma tuý áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm e) Học nghề: Đối tượng áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm lần đầu, nếu chưa qua đào tạo nghề, có nhu cầu học nghề được hỗ trợ kinh phí học nghề trình độ sơ cấp nghề: 1.000.000 đồngngười; không hỗ trợ tiền học nghề cho những đối tượng áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm từ lần thứ hai trở đi. Hình thức hỗ trợ: Kinh phí hỗ trợ học nghề được bố trí trong dự toán hàng năm của Trung tâm theo phân cấp của Luật Ngân sách nhà nước hiện hành: + Trường hợp người sau cai nghiện ma tuý học nghề do Trung tâm trực tiếp tổ chức thì Trung tâm được chi các nội dung: Khai giảng, bế giảng, cấp chứng chỉ nghề; mua tài liệu, giáo trình học nghề; thù lao giáo viên dạy lý thuyết và giáo viên hướng dẫn thực hành nghề; hỗ trợ nguyên, nhiên, vật liệu học nghề; chỉnh sửa, biên soạn lại chương trình, giáo trình (nếu có). + Trường hợp người sau cai nghiện ma tuý học nghề bên ngoài Trung tâm thì Trung tâm xét hỗ trợ kinh phí học nghề ngắn hạn cho người sau cai nghiện đóng học phí phù hợp với từng nghề. Căn cứ trình độ và năng lực của người sau cai nghiện ma tuý; điều kiện về cơ sở vật chất của Trung tâm và tình hình thực tế, Giám đốc Trung tâm quyết định hình thức học nghề cho phù hợp. Điều 5. Chế độ hỗ trợ tìm việc làm 1. Người sau cai nghiện ma tuý được Trung tâm giới thiệu việc làm tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí theo quy định tại Thông tư liên tịch số 952007TTLTBTCBLĐTBXH ngày 0782007 của Bộ Tài chính Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hướng dẫn về phí giới thiệu việc làm. 2. Hỗ trợ tìm việc làm 1.000.000 đồngngười đối với người sau cai nghiện ma tuý áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú và người sau cai nghiện ma tuý sau khi chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm trở về địa phương đã có nhiều tiến bộ, cam kết không tái phạm, chưa có việc làm; bản thân, gia đình thuộc diện hộ nghèo, gia đình chính sách theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. Căn cứ đơn đề nghị hỗ trợ kinh phí tìm việc làm của người sau cai nghiện ma tuý, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đối tượng cư trú xem xét, trợ cấp để tự tạo việc làm, ổn định đời sống. Thông tư Liên tịch Số:2014TTLTBTCBLĐTBXH của Bộ Tài chính Bộ LĐ TBXH. Điều 5. Các khoản chi phí cho học viên trong thời gian chấp hành quyết định xử lý hành chính tại Trung tâm 5. Chi học nghề: a) Học viên chưa có nghề hoặc có nghề nhưng không phù hợp, có nhu cầu học nghề trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng được hỗ trợ một lần chi phí học nghề. Căn cứ trình độ và năng lực của học viên; điều kiện về cơ sở vật chất của Trung tâm và tình hình thực tế, Giám đốc Trung tâm quyết định hình thức học nghề cho phù hợp. Mức hỗ trợ cụ thể tùy theo từng đối tượng, từng nghề, thời gian học nghề thực tế và hình thức học nghề nhưng tối đa không vượt quá mức quy định tại Quyết định số 1956QĐTTg ngày 27112009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn và các văn bản hướng dẫn thực hiện Quyết định số 1956QĐTTg; không hỗ trợ tiền học nghề cho học viên bị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm từ lần thứ hai trở đi. b) Hình thức học nghề: Trường hợp học viên học nghề do Trung tâm trực tiếp tổ chức thì Trung tâm được chi các nội dung: Khai giảng, bế giảng, cấp chứng chỉ nghề; mua tài liệu, giáo trình học nghề; thù lao giáo viên dạy lý thuyết và giáo viên hướng dẫn thực hành nghề; hỗ trợ nguyên, nhiên, vật liệu học nghề; chỉnh sửa, biên soạn lại chương trình, giáo trình (nếu có); chi phí điện, nước, phục vụ lớp học; sửa chữa tài sản, thiết bị dạy nghề; chi thuê thiết bị dạy nghề (nếu có); chi cho công tác quản lý lớp học không quá 5% tổng kinh phí cho lớp đào tạo. Trường hợp học viên học nghề theo hình thức liên kết đào tạo giữa Trung tâm với cơ sở dạy nghề, Trung tâm thanh toán theo hợp đồng đào tạo. Trường hợp học viên học nghề tại cơ sở dạy nghề bên ngoài Trung tâm, thì Trung tâm xét hỗ trợ kinh phí học nghề ngắn hạn cho học viên đóng học phí phù hợp với từng nghề. 1.1.3. Vị rí, vai trò, ý nghĩa của chính sách. Từ sự quan tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước đối với chính sách, có thể nhận thấy rằng việc ổn định cuộc sống cho những đối tượng cai nghiện và sau cai nghiện ma túy là vô cùng quan trọng. N có vị trí chiến lược trong công cuộc phòng chống và đẩy lùi tệ nạn xã hội, tệ nạn ma túy. Chúng ta không chỉ quan tâm đến vấn đề kiểm soát, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về buôn bán sử sụng chất gây nghiện, mà còn quan tâm đến vấn đề hỗ trợ người cai nghiện. Đây là việc làm có tính chiến lược, mang ý nghĩa sâu sắc và có tính bền vững lâu dài. Tránh được sự gia tăng hay tái nghiện trở lại. . Hệ thống chính sách trên đã phản ánh rõ sự quan tâm, đề cao vấn đề chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề chính sách. Góp phần đem lại hiểu quả cao trong công tác phòng chống ma túy. Đẩy lùi sự lây lan mạnh mẽ của tệ nạn. Đẩm bảo an toàn và an sinh xã hội. Nó mà mục tiêu quan trọng hàng đầu trong cuộc chiến phòng chống và đẩy lùi tệ nạn ma túy. Nó góp phần đưa những người nghiện ma túy trở lại gần gũi với cuộc sống hằng ngày, tái hòa nhập với xã hội mà kh ông bị bất cứ một rào cản nào. Đúng như câu tục ngữ “ Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại” để thấy rằng, cả xã hội xã không bao giờ quay lưng, hay khước từ những ai muốn làm lại cuộc đời.
Trang 1ĐỀ TÀI: CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ VIỆC LÀM VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO NGƯỜINGHIỆN MA TÚY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
PHẦN MỘT: GIỚI THIỆU CHUNG
1 Đặt vấn đề.
- Nghiện ma túy là một trong nhiều tệ nạn xã hội nguy hiểm và có tính phổ biếnhiện nay, và là một hiểm họa lớn của toàn nhân loại Không chỉ riêng Việt Nam phảiđối mặt với vấn nạn ngày càng nghiêm trọng này mà hầu hết các nước trong khu vực
và trên thế giới đều có tỉ lệ người nghiện ma túy rất cao Không một quốc gia một dântộc nào không phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng do buôn lậu ma túy gây racho đời sống kinh tế- xã hội
- Tình hình tệ nạn ma túy diễn biến rất phức tạp, tiềm ẩn, khó lường, có xuhướng gia tăng về số người nghiện và các tội phạm ma túy, tính chất hoạt động ngàycàng tinh vi, tinh xảo, và manh động Ma túy làm suy thoái nhân cách, phẩm giá, tànphá cuộc sống gia đình, gây xói mòn đạo lý, làm gia tăng tội phạm, bạo lực, thamnhũng, vắt cạn kiệt nguồn nhân lực, tài chính, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội.Nghiêm trọng hơn, ma túy là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đại dịch thế kỷ HIV/AIDStrên toàn cầu
- Trong thời buổi hiện nay, khi mà chất ma túy, chất gây nghiện đang ngày càngtrở nên đa dạng với nhiều thể loại tinh vi và mới lạ, thì việc có nhiều người dại dộtdính vào ma túy, chất gây nghiện cũng là một điều dễ hiểu Nó hấp dẫn và kích thích
sự tò mò của người khác qua hình dạng, màu sắc và các thể loại khác nhau Sự đa dạng
về thể loại cũng khiến cho một bộ phận người dùng ma túy cảm thấy hứng thú vàkhông ngừng dừng lại sự tò mò Đối với một bộ phận thanh thiếu niên và giới trẻ thìlại càng dễ dính vào ma túy Bởi đây chủ yếu là những đối tượng còn quá non trẻ, chưa
đủ chín chắn bản lĩnh và suy nghĩ để nhận thức về sự nguy hiển và hậu quả khi dính và
ma túy Những đối tượng này bằng nhiều nguyên nhân và con đường sẽ tìm đến matúy như một trò tiêu khiển Có người nghiện ma túy do bị bạn bè lôi kéo dụ dỗ, cóngười nghiện ma túy như thể hiện đẳng cấp hay thú chơi ngông, và cũng có ngườidùng ma túy để tìm những cảm giác lạ thăng hoa trong cuộc sống, hay để quên đinhững phiền muộn của cuôc đời
- Bên cạnh đó, việc nắm bắt và kiểm soát ma túy lưu hành trong thị trường củacác cơ quan chức năng là một việc vô cùng khó khăn Có quá nhiều nguồn cung cấp
ma túy vào thị trường Việt Nam, việc kiểm soát ma túy và chất gây nghiện gần như làmột việc làm quá sức đối với các cơ quan an ninh và lực lượng chức năng Khiến cholượng ma túy, chất gây nghiện càng trở nên đa dạng phong phú và rất dễ có thể kiếmđược Do siêu lợi nhuận và lợi dụng tự do hóa thương mại, chính sách mở cửa thu hútđầu tư của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, bọn tội phạm ma túy tiếnhành mở rộng phạm vi hoạt động sản xuất, buôn bán ma túy Việc Việt Nam ký kếtnhiều hiệp định tự do há thương mại, tham gia vào các diễn đàn kinh tế thế giới, mởrộng thương mai đầu tư, kinh doanh, buôn bán đã tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chứctội phạm ma túy hoạt động
Trang 2- Với diễn biến phức tạp của tệ nạn ma túy ở các nước nói chung, ở Việt Namnói riêng, hàng năm số người nghiện ma túy ở nước ta vẫn tăng bình quân 11%.
Trong 20 năm tr l i đây, s ng ở ạ ố ườ i nghi n ma túy tăng g p 4 l n Đó là ệ ấ ầ thông tin đ ượ c B Lao đ ng- Th ộ ộ ươ ng binh và xã h i ( B LĐ-TB&XH ) đ a ộ ộ ư
ra theo k t qu rà soát c a B Công an t i h i ngh bi u d ế ả ủ ộ ạ ộ ị ể ươ ng ng ườ i cai nghi n thành công do B LĐ-TB&XH t ch c sáng 14/11, t i Hà N i ệ ộ ổ ứ ạ ộ
Số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý đã tăng gần 4 lần trong 20 năm kể từnăm 1994 đến nay (năm 1994 là 55.445 người, trung bình mỗi năm tăng khoảng 7.000ngườiĐến tháng 9/2014, 142 Trung tâm cai nghiện ma túy cả nước đang quản lý và cainghiện cho khoảng 32.200 người, giảm 3.737 người người so với thời điểm cuối năm
2013 8 tháng đầu năm, các Trung tâm đã tiếp nhận cai nghiện cho 3.946 người, chủyếu là những người đã có quyết định trước khi Luật xử lý vi phạm hành chính có hiệulực; có 2.902 người được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng, tương đương với 3,5% sốngười nghiện ma túy có hồ sơ quản lý; trong đó, số cai tại gia đình 1.567 người (54%)
và số cai tại cộng đồng là 1.335 người (46%)
Bên cạnh việc đưa ra các giải pháp quyết liệt phòng chống ma túy, Nhà nước tacũng đồng thời quan tâm đến việc tổ chức cai nghiện, cắt cơn cho những người sa vàocon đường nghiện ngập, phục hồi sức khỏe, hành vi và nhân cách để tái hòa nhập cộngđồng
Công tác cai nghiện tuy đã đạt được một số kết quả bước đầu, nhưng về cơ bản tínhhiệu quả và tính bền vững chưa cao, tỷ lệ tái nghiện còn ở mức báo động, có nhữngnơi lên tới 80- 90% Trình độ văn hóa thấp, không có nghề nghiệp, không có việc làm
là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng nghiện ma túy trong thanhthiếu niên
“ Hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho người nghiện ma túy” là một trong
những biện pháp quan trọng có ý nghĩa nhằm giúp đối tượng trở về với cuộc sống bìnhthường, tái hòa nhập với cộng đồng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòngchống tệ nạn ma túy Chủ trương này thể hiện rõ trong các văn bản chỉ đạo của Đảng
và Chính phủ như Chỉ thị 33- CT/TƯ, Chỉ thị 52- CT/TƯ, Nghị quyết 06/CP củaChính phủ và gần đây nhất là Chỉ thị 21- CT/TƯ
Tuy nhiên, trên thực tế kết quả hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho ngườinghiện ma túy còn nhiều hạn chế Hằng năm, số đối tượng được đào tạo việc làm ởcộng đồng chỉ chiếm khoảng 10% số đối tượng được chữa trị phục hồi Nguyên nhâncủa tình trạng này ngoài những khó khăn khách quan của nền kinh tế thị trường còn donhận thức, trách nhiệm của chính quyền, đoàn thể các cấp chưa cao, đặc biệt là chínhquyền cấp xã, phường, cộng đồng khu phố, thôn xóm ít quan tâm Về phía bản thânđối tượng và gia đình họ còn ỷ lại xã hội, không nỗ lực tìm kiếm việc làm Mặt khác,Nhà nước ta cũng chưa có cơ chế chính sách phù hợp để khuyến khích, huy độngnhiều thành phần kinh tế- xã hội tham gia giải quyết việc làm cho đối tượng
Chính vì thế, hỗ trợ việc làm, dạy nghề, tổ chức lao động sản xuất, tạo việclàm, có thu nhập ổn định không những là một nội dung quan trọng của quy trình cainghiện, mà còn là yêu cầu thiết yếu, tạo điều kiện cho đối tượng tái hòa nhập cộngđồng, phòng chống tái nghiện có hiệu quả Điều đó đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết ở
Trang 3nước ta hiện nay là cần có sự nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống vấn đề hỗ trợviệc làm và đào tạo nghề cho những người cai nghiện và cả sau cai nghiện ma túy để
họ thực sự tái hòa nhập cộng đồng và có cuộc sống yên ổn, trở thành người có ích cho
xã hội
Để góp phần nâng cao hiệu quả các nghiên cứu trên, em chọn đề tài “ Chính sách hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề đối với người cai nghiện ma túy ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn cho môn học Chính sách xã hội
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Cùng với đề tài và nội dung nghiên cứu về “ Chính sách hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề đối với người cai nghiện ma túy ở Việt Nam hiện nay” ở Việt Nam
trong thời gian qua cũng có một số đề tài với góc độ tiếp cận và nội dung cụ thể khácnhau Có thể kể đến các nghiên cứu như:
- "Chiến lược việc làm và đào tạo nghề thời kỳ 2001 -2010" của Tiến sĩ NguyễnHữu Dũng, Tạp chí Lao động xã hội, 2001
- "Kế hoạch tổng thể cai nghiện phục hồi, giai đoạn 2001 - 2010", Ủy ban Quốcgia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm, Hà Nội, 2002
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố "Nghiên cứu các giải pháp nhằmnâng cao hiệu quả quản lý cai nghiện ma túy và sau cai" 02-X07 của Tiến sĩ NguyễnThành Công, Hà Nội, 2003
- Báo cáo "Sơ kết 3 năm thực hiện quyết định 151 của Thủ tướng Chính phủ vềcai nghiện - phục hồi", Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hà Nội, 2004
- Báo cáo "Tổng kết công tác cai nghiện phục hồi, giai đoạn 2001 - 2005,phương hướng nhiệm vụ thời kỳ 2006 - 2010", Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS
và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm, Hà Nội, 2006
- Tài liệu "Giới thiệu và hướng dẫn áp dụng mô hình cai nghiện có hiệu quả",Cục Phòng chống tệ nạn xã hội, Hà Nội, 2007
Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng trên các tạp chí về vấn đề này với những cách tiếpcận khác nhau
3 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu không nhằm mục đích chỉ ra thực trạng, nguyên nhân, hậu quả tìnhhình nghiện ma túy ở Việt Nam, mà nhằm mục đích nghiên cứu sâu vào các chính sách
của Đảng và Nhà nước trong “ Hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho người nghiện
ma túy ở Việt Nam hiện nay” Sự cần thiết của việc cần phải xây dựng, hoàn thiện các
chính sách đối với nghiền cai nghiện ma túy, cùng với đó là sự quan tâm của toàn xãhội đối với những đối tượng này Nghiên cứu còn tìm hiểu về những vấn đề tồn tạitrong quá trình thực thi các chính sách hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho ngườinghiện ma túy trong thời gian qua
Ngoài ra, nghiên cứu còn nhằm mục đích trả lời cho các câu hỏi:
- Việc thực thi các chính sách hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho người nghiện
ma túy ở Việt Nam trong thời gian qua diễn ra như thế nào?
- Những thành tựu và hạn chế trong thực thi chính sách trên?
- Nguyên nhân và giải pháp cho nâng cao hiệu quả thực thi chính sách?
- Trong thời gian tới, có nâng cao được số việc làm cho đối tượng cai nghiện matúy không?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Trang 4a Đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài không phải là những mặt xấu, tác hại củanghiện ma túy, hay những người nghiện mà túy Mà đề tài tập trung đi sâu vào nghiêncứu các chính sách hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho người cai nghiện ở Việt Namhiện nay
Nghiên cứu các nhân tố tác động tới tạo việc làm cho người sau cai nghiện matúy, các cách thức tổ chức, quản lý trong đào tạo việc làm Các thành tựu chính sáchđạt được cùng với đó là chủ trương định hướng trong tương lai của chính sách
b Phạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu về vấn đề hỗ trợ tạo việc làm cho nhữngngười cai nghiện ma túy có hồ sơ quản lý cai nghiên trên phạm toàn quốc
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho nhữngngười nghiện ma túy từ năm 2001 đến nay Từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu số liệu tổng hợp của các cơ quan quản lý có liênquan về hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho người cai nghiện ma túy trên cả nước
5 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên các tài liệu nghiên cứu đã có, số liệu tổng hợp, thống kê và một số đềtài nghiên cứu khoa học, điều tra khảo sát của Cục phòng chống tệ nạn xã hội- Bộ Laođộng Thương binh và Xã hội, của Văn phòng Thường trực phòng chống ma túy- BộCông an, cũng như báo cáo thống kê của địa phương
Tiểu luận sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá, khái quát hóa các số liệu,thông tin và dữ liệu thu thập được
6 Ý nghĩa của đề tài.
a Ý nghĩa lý luận
Đề tài góp phần phân tích và làm rõ những vấn đề cơ bản về ma túy, sử dụng ma túy,cai nghiện ma túy, nguyên nhân và tác hại của sử dụng ma túy, tái nghiện, quản lý saucai nghiện, tái hòa nhập cộng đồng và hỗ trợ tạo việc làm cho những người sau cainghiện ma túy Hệ thống các giải pháp khả thi, hiệu quả cho người sau cai nghiệnnhằm nhân rộng các mô hình trong cả nước
PHẦN HAI : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.
Trang 5Chương 1: Cơ sở lý luận, và cơ sở pháp lý của “ Chính sách hỗ trợ việc làm
và đào tạo nghề cho người nghiện ma túy ở Việt Nam hiện nay”.
1.1 Tổng quan về địa bàn, vấn đề nghiên cứu.
1.1.1 Khái quát về đại bàn nghiên cứu.
- Để có thể thu được kết quả tốt nhất, cái nhìn đầy đủ và hoàn thiện nhất về kếtquả thực hiện chính sách, chúng ta không thể chỉ nhìn nhận, xem xét, đánh giá quátrình thực thi và hiệu quả chính sách chỉ trong một địa bàn cục bộ hay một thời giannhất định Hơn nữa, phạm vi đối tượng nghiện ma túy ở Việt Nam là rất rộng, trên tất
cả các địa phương trên cả nước Việc chọn địa bàn nghiên cứu là rất quan trọng, vì nếuchọn đúng, chính xác sẽ giúp đem lại cho nghiên cứu những kết quả khả quan, chínhxác, phản ánh đúng được thực trạng chinh sách Từ đó, có thể đưa ra những giải pháp,khuyến nghị đóng góp xây dựng chính sách
- Đối với đề tài nghiên cứu “ Chính sách hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho người nghiện ma túy ở Việt Nam hiện nay” địa bàn nghiên cứu cũng như phạm vi
nghiên cứu được mở rộng ra trên địa bàn toàn quốc Bởi chính sách hỗ trợ đưa ra làcủa Nhà nước, nên tất yếu, việc thực thi chính sách sẽ là bao trùm tất cả các tỉnh thành
Từ việc lựa chọn địa bàn nghiên cứu là phạm vi trên cả nước, ta còn có thể chọn đi sâuvào nghiên cứu cục bộ một vài tỉnh thành đi đầu trong thực thi chính sách, từ đó cónhững nhận định so sánh, rút ra bài học kinh nghiệm cho các địa phương khác thamkhảo trong quá trình thụ hưởng, thực thi chính sách
1.1.2 Giới thiệu về hệ thống chính sách.
- Trước tình trạng tệ nạn ma túy đang diễn ra phức tạp và khó kiểm soát nhưhiện nay, cùng với mức độ tái nghiện của người sau cai nghiện có dấu hiệu tăng nhanh( có khu vực lên đến 90% tái nghiện), để ngăn chặn điều đó, Đảng và Nhà nước ta cầnphải có những bước đi, sự hành động thật quyết liệt, ngăn chặn sự gia tăng của tệ nạn
Từ đó, càn phải có một hệ thống chính sách hoàn thiện trong chính sách phòng chống
tệ nạn ma túy, ngăn chặn sự tái nghiện bền vững Cụ thể đối với sự ngăn chặn táinghiện, chúng ta cần quan tâm đến những đối tượng đã và đang cai nghiện Tạo mọiđiều kiện tốt nhất cho quá trình cai nghiện, cắt cơn và quá trình tái hòa nhập cuộc sốngcộng đồng cho những đối tượng sau cai nghiện Giúp đỡ những đối tượng này tái hòanhập cuộc sống, có cuộc sống ổn định, có thu nhập và tránh xa được sự lôi kéo của matúy
- Để đáp ứng và giải quyết được vấn đề đặt ra, Đảng và Nhà nước ta đã thật sự quan
tâm đến thực trạng nay “ Hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho người nghiện ma túy” là
một trong những chủ trương, giải pháp nhằm đẩy lùi tệ nạn ma túy, chủ trương này thể hiện
rõ trong các văn bản chỉ đạo của Đảng và Chính phủ Cụ thể như sau:
* Nghị quyết 06/CP của Chính phủ về tăng cường công tác chỉ đạo, phòng chống, kiểm soát ma túy đã nêu ở Mục 2 về tổ chức công tác phòng chống ma túy
- Mục 2 Điều 5- Tăng mức đầu tư từ ngân sách nhà nước, đồng thời tích cực
Trang 6tranh thủ các nguồn viện trợ quốc tế; huy động sự đóng góp của các tổ chức xã hội, cácdoanh nghiệp, doanh nhân và nhân dân, bảo đảm đủ kinh phí cho công tác tuyêntruyền, giáo dục, đấu tranh phòng, chống tội phạm và cai nghiện ma tuý Hoàn thiệnchế độ, chính sách hỗ trợ cho người nghiện trong quá trình cai nghiện và tạo việc làmcho những người đã hoàn thành cai nghiện; chế độ, chính sách đối với các cán bộ làmcông tác chuyên trách, trực tiếp, kiêm nhiệm và những người không hưởng lương từngân sách nhà nước tham gia công tác phòng, chống ma tuý
* Thông tư Liên tịch Số:121/2010/TTLT-BTC-BLĐTBXH, của Bộ Tài chính- Bộ LĐ TB&XH đã nêu rõ ràng cụ thể như sau:
Điều 2 Chế độ hỗ trợ đối với người sau cai nghiện ma tuý áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú
2 Hỗ trợ học nghề:
Người sau cai nghiện ma tuý nếu có nhu cầu học nghề được Chủ tịch Uỷ bannhân dân cấp xã xem xét hỗ trợ một lần kinh phí học nghề trình độ sơ cấp nghề:1.000.000 đồng/người/khóa học nghề
Căn cứ đơn đề nghị hỗ trợ kinh phí học nghề của người sau cai nghiện ma tuý
và biên lai thu học phí của cơ sở đào tạo nghề, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xemxét hỗ trợ kinh phí học nghề cho người sau cai nghiện ma tuý
3 Các mức hỗ trợ quy định tại Điều này là mức tối thiểu, tuỳ theo khả năng,điều kiện cụ thể, Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định mức hỗ trợ cao hơn đểtạo điều kiện cho người sau cai nghiện ma tuý có việc làm, thu nhập ổn định
Điều 4 Chế độ hỗ trợ đối với người sau cai nghiện ma tuý áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm
+ Trường hợp người sau cai nghiện ma tuý học nghề bên ngoài Trung tâm thìTrung tâm xét hỗ trợ kinh phí học nghề ngắn hạn cho người sau cai nghiện đóng họcphí phù hợp với từng nghề
Căn cứ trình độ và năng lực của người sau cai nghiện ma tuý; điều kiện về cơ
sở vật chất của Trung tâm và tình hình thực tế, Giám đốc Trung tâm quyết định hìnhthức học nghề cho phù hợp
Điều 5 Chế độ hỗ trợ tìm việc làm
Trang 71 Người sau cai nghiện ma tuý được Trung tâm giới thiệu việc làm tư vấn,giới thiệu việc làm miễn phí theo quy định tại Thông tư liên tịch số95/2007/TTLT/BTC-BLĐTBXH ngày 07/8/2007 của Bộ Tài chính - Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội hướng dẫn về phí giới thiệu việc làm.
2 Hỗ trợ tìm việc làm 1.000.000 đồng/người đối với người sau cai nghiện matuý áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú và người sau cai nghiện matuý sau khi chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tạiTrung tâm trở về địa phương đã có nhiều tiến bộ, cam kết không tái phạm, chưa cóviệc làm; bản thân, gia đình thuộc diện hộ nghèo, gia đình chính sách theo Pháp lệnh
ưu đãi người có công với cách mạng
Căn cứ đơn đề nghị hỗ trợ kinh phí tìm việc làm của người sau cai nghiện matuý, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đối tượng cư trú xem xét, trợ cấp để tự tạoviệc làm, ổn định đời sống
* Thông tư Liên tịch Số:/2014/TTLT-BTC-BLĐTBXH của Bộ Tài
chính-Bộ LĐ TB&XH
Điều 5 Các khoản chi phí cho học viên trong thời gian chấp hành quyết định
xử lý hành chính tại Trung tâm
5 Chi học nghề:
a) Học viên chưa có nghề hoặc có nghề nhưng không phù hợp, có nhu cầu họcnghề trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng được hỗ trợ một lần chi phí họcnghề Căn cứ trình độ và năng lực của học viên; điều kiện về cơ sở vật chất của Trungtâm và tình hình thực tế, Giám đốc Trung tâm quyết định hình thức học nghề cho phùhợp Mức hỗ trợ cụ thể tùy theo từng đối tượng, từng nghề, thời gian học nghề thực tế
và hình thức học nghề nhưng tối đa không vượt quá mức quy định tại Quyết định số1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạonghề cho lao động nông thôn và các văn bản hướng dẫn thực hiện Quyết định số1956/QĐ-TTg; không hỗ trợ tiền học nghề cho học viên bị áp dụng biện pháp đưa vàoTrung tâm từ lần thứ hai trở đi
b) Hình thức học nghề:
- Trường hợp học viên học nghề do Trung tâm trực tiếp tổ chức thì Trung tâmđược chi các nội dung: Khai giảng, bế giảng, cấp chứng chỉ nghề; mua tài liệu, giáotrình học nghề; thù lao giáo viên dạy lý thuyết và giáo viên hướng dẫn thực hành nghề;
hỗ trợ nguyên, nhiên, vật liệu học nghề; chỉnh sửa, biên soạn lại chương trình, giáotrình (nếu có); chi phí điện, nước, phục vụ lớp học; sửa chữa tài sản, thiết bị dạy nghề;chi thuê thiết bị dạy nghề (nếu có); chi cho công tác quản lý lớp học không quá 5%tổng kinh phí cho lớp đào tạo
- Trường hợp học viên học nghề theo hình thức liên kết đào tạo giữa Trung tâmvới cơ sở dạy nghề, Trung tâm thanh toán theo hợp đồng đào tạo
- Trường hợp học viên học nghề tại cơ sở dạy nghề bên ngoài Trung tâm, thìTrung tâm xét hỗ trợ kinh phí học nghề ngắn hạn cho học viên đóng học phí phù hợpvới từng nghề
1.1.3 Vị rí, vai trò, ý nghĩa của chính sách.
- Từ sự quan tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước đối với chính sách, có thể
Trang 8nhận thấy rằng việc ổn định cuộc sống cho những đối tượng cai nghiện và sau cainghiện ma túy là vô cùng quan trọng N có vị trí chiến lược trong công cuộc phòngchống và đẩy lùi tệ nạn xã hội, tệ nạn ma túy Chúng ta không chỉ quan tâm đến vấn đềkiểm soát, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về buôn bán sử sụng chất gây nghiện,
mà còn quan tâm đến vấn đề hỗ trợ người cai nghiện Đây là việc làm có tính chiếnlược, mang ý nghĩa sâu sắc và có tính bền vững lâu dài Tránh được sự gia tăng hay táinghiện trở lại
- Hệ thống chính sách trên đã phản ánh rõ sự quan tâm, đề cao vấn đề chínhsách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề chính sách Góp phần đem lạihiểu quả cao trong công tác phòng chống ma túy Đẩy lùi sự lây lan mạnh mẽ của tệnạn Đẩm bảo an toàn và an sinh xã hội
- Nó mà mục tiêu quan trọng hàng đầu trong cuộc chiến phòng chống và đẩylùi tệ nạn ma túy Nó góp phần đưa những người nghiện ma túy trở lại gần gũi vớicuộc sống hằng ngày, tái hòa nhập với xã hội mà kh
ông bị bất cứ một rào cản nào Đúng như câu tục ngữ “ Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại” để thấy rằng, cả xã hội xã không bao giờ quay lưng, hay khước
từ những ai muốn làm lại cuộc đời
1.2 Định hướng nghiên cứu.
1.2 1 Khái niệm
*Ma tuý
Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên (morphin ); bán tổng hợp (heroinđược bán tổng hợp từ morphin) hay tổng hợp (amphetamine) có tác dụng lên thần kinhtrung ương gây cảm giác như giảm đau, hưng phấn hay cảm thấy dễ chịu mà khidùng nhiều lần thì sẽ phải sử dụng lại nó nếu không sẽ rất khó chịu.Theo cách hiểuthông thường trong xã hội Việt Nam hiện nay: trong xã hội, ma túy thường được hiểu
đó là heroin, bạch phiến Một người bị nghiện ma túy sẽ bị mọi người hiểu là nghiệnheroin hay ngược lại mà không có sự phân biệt về chất người đó lệ thuộc
Tuy nhiên ở Việt Nam không có một sự nhất quán chung trong việc sử dụng danh xưng này cho các chất thuộc loại này "Ma túy" được sử dụng rộng rãi như một thuật ngữ mang màu sắc tiêu cực để chỉ từ những chất có khả năng gây nghiện và tàn phá cơ thể người dùng cao (Heroine, Chrystal Meth ) cho đến những chất có thể dùngtrong y tế với liều lượng nhỏ (như cần sa, chất được sử dụng rộng rãi ở Hà Lan, một phần Hoa Kỳ) khiến dư luận tại Việt Nam thiếu khách quan và khoa học khi nói đến vấn đề sử dụng các chất này (người dân thường chỉ quan tâm đến tác hại mà công dụng dược liệu ít được để ý)
*Nghiện ma túy
Khi dùng ma túy lần đầu, người ta thấy có cảm giác lâng lâng, dễ chịu và thèmmuốn dùng lại Ma túy vào cơ thể vài lần sẽ tác động đến cơ quan cảm thụ, gây trạngthái quen thuốc, nếu không dùng tiếp sẽ rất khó chịu, đau đớn, vật vã…, thèm muốnđược dùng lại và trở nên nghiện ma túy Do đó, nghiện ma túy, nếu hiểu theo nghĩarộng thì đó là tình trạng một bộ phận trong xã hội gồm những người có thói quen dùngcác chất ma túy Còn theo nghĩa hẹp thì nghiện ma túy là sự lệ thuộc của con người cụthể đối với các chất ma túy, làm cho con người ta không thể quên và từ bỏ được matúy.Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về "nghiện ma túy", nhưng chưa có mộtkhái niệm đầy đủ và thống nhất Tuy nhiên, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO),
Trang 9"nghiện ma túy là trạng thái nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính có hại cho cá nhân và xãhội do dùng lặp lại một chất ma túy tự nhiên hay tổng hợp" [67].
*Người nghiện ma túy
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa: người nghiện ma túy là người sử
dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần dưới các hình thức khác nhaunhư hút, hít, tiêm chích và bị lệ thuộc vào các chất này Từ khái niệm nghiện ma túy cóthể rút ra cách hiểu về người nghiện ma túy như sau: người nghiện ma túy là người bị
lệ thuộc đối với các chất ma túy và không thể quên hay từ bỏ được ma túy Nếu ngừng
sử dụng thì người nghiện sẽ xuất hiện hội chứng cai
*Cai nghiện ma túy
Đó là biện pháp giúp người nghiện ma túy thông qua chữa trị để từ bỏ ma túy,
phục hồi sức khỏe tinh thần và tái hòa nhập cộng đồng Thực chất "cai nghiện ma túy"
là quá trình giải quyết sự rối loạn ba yếu tố của người nghiện (trạng thái sinh lý, tâm lý, nhận thức và hành vi).Liên hợp quốc đưa ra định nghĩa: cai nghiện là một biện pháp tổng hợp gồm các tácđộng về y học, pháp luật, giáo dục học, đạo đức… nhằm điều trị giúp người nghiện matúy cắt các hội chứng cai nghiện, phục hồi sức khỏe và tái hòa nhập xã hội
*Tái nghiện ma túy
Quá trình nghiện ma túy đã tạo cho người nghiện luôn có phản xạ nhạy cảmvới ma túy, nên dù đã cắt cơn nhưng có thể sau 4 - 5 năm, hễ cứ nhìn thấy ma túy, ngửihơi ma túy, tiếp xúc với người nghiện, thậm chí nói đến tên loại ma túy quen dùng, làcơn thèm khát ma túy lại bùng lên dữ dội, khó có thể kiềm hãm được Vì vậy, khi rakhỏi các trung tâm cai nghiện, người cai trở lại sống với gia đình và cộng đồng, chịu
sự ảnh hưởng trực tiếp của môi trường xã hội còn chưa trong sạch ma túy dẫn đến khảnăng tái sử dụng ma túy là rất cao
* Hỗ trợ việc làm.
Hỗ trợ việc làm hoạt động mà các cơ quan, các tổ chức, doanh nghiệp, các nhântạo ra thêm nhiều việc làm, phù hợp, ổn định, có thu nhập, đáp ứng được nhu cầu việclàm của xã hội
Trong trường hợp này, hỗ trợ việc làm cho người cai nghiện là việc tạo mọi điềukiện để những người sau cai nghiện có được những việc làm phù hợp với bản thân.Người sau cau nghiện được ưu tiên các lại nghề có thu nhập ổn định, phù hợp với nhucầu, khả năng, và chuyên môn của họ Đảm bảo cho họ có được nghề nghiệp trongmôi trường lành mạnh, tránh xa được sự lôi kéo, dẫn đến tái nghiện
Đào tạo nghề cho người cai nghiện ma túy được tiến hành song song với quátrình cai nghiện của đối tượng này Một mặt giúp họ cắt được cơn nghiên, một mặtgiúp đỡ họ thay đổi về mặt nhận thức, nhận ra được tác hại mà ma túy mang lại Cùngvới đó, là hướng dẫn đào tạo họ có được những kỹ năng thuần thục về một công việc,
để sau khi cai nghiện, hòa nhập lại vói cuộc sống, họ có thể bằng nghề đã được đàotạo, có thể kiếm sống, không lông bông, tránh được sự xa ngã trở lại, thực hiện đúngtrách nhiệm và nghĩa vụ công dân vốn có của mình
Trang 101.2 2 Nội dung, lĩnh vực thuộc đề tài nghiên cứu
1.2.2.1 Quan điểm của Đảng về hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho ngườinghiện ma túy
Hiện nay, tất cả các quốc gia trên thế giới đề đề ra chính sách việc làm và coi đó là mộtchính sách quốc kế dân sinh
Nhận thức sâu sắc được những khó khăn phức tạp về giải quyết việc làm trong quátrình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, sắp xếp lại doanh nghiệp nhànước, cải cách nền hành chính quốc gia đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế vận hành theo
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta đã có quan điêm
và giải pháp cụ thể cho vấn đề việc làm người lao động
Đại hội VIII khẳng định: “ Đảm bảo công ăn việc làm cho dân là mục tiêu hàng đầu,không để thất nghiệp là căn bệnh kinh niên Nhà nước chú trọng đầu tư tạo việc làmđồng thời tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế và người lao động tạo thêm chỗ làmviệc và tư làm; khuyến khích các tỏ chức và cá nhân cùng Nhà nước tổ chức tốt dịch
vụ giới thiệu việc làm, đào tạo nghề nghiệp”
Tại Hội nghị Trung ương VIII ( khóa VIII ), Đảng ta nhấn mạnh việc tiếp tụctriển khai các giải pháp đồng bộ về giải quyết việc làm và chi ra các biện pháp khả thi
để thu hút lao động và tạo việc làm Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng tiếp tụckhẳng định: “ Bằng nhiều giải pháp, tạo ra nhiều việc làm mới, tăng quỹ thời gian laođộng được sử dụng, nhất là trong nông nghiệp và nông thôn Các thành phần kinh tế
mở mang các ngành nghề, các cơ sở sản xuất, dịch vụ có khả năng sử dụng nhiều laođộng”
Quan điểm này được nhấn mạnh tại Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, đó là: “ Giảiquyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và pháttriển phải tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế tạo việc làm và phát triển thị trường lao động”
1.2.2.2 Văn bản pháp quy về chính sách tạo việc làm cho người sau cai nghiện.Đối tượng tệ nạn xã hội( người nghiện ma túy) là loại đối tượng đặc biệt Nhà nước đãban hành một hệ thống chế độ, chính sách liên quan đến dạy nghề, tạo việc làm chođối tượng này Nghị quyết 06/CP ngày 29 tháng 1 năm 1993 và Nghị quyết số 20/ CPngày 13 tháng 4 năm 1996 của Chính phủ ban hành Quy chế về Cơ sở chữa bệnh,Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính số 44/2002/PL-UBTVQH, 6 Nghị định và 1Quyết định ( Nghị định số 43/2005/NĐ- CP Nghị quyết số 25/2002/QĐ- TTg) và 18Thông tư của các Bộ, Liên bộ đều xác nhận rõ trách nhiệm của chính quyền các cấp,các Bộ, ngành có liên quan, hướng dẫn và đào tạo điều kiện thuận lợi triển khai thựchiện công tác cai nghiện, chữa trị, phục hồi và thực hiện các biện pháp dạy nghề, tạoviệc làm cho người nghiện ma túy
Trong các văn bản chính sách, pháp luật của Nhà nước đã ban hành về công táccai nghiện phục hồi đều quy định nghiệm vụ dạy nghề, tỏ chức lao động cho ngườinghện ở Trung tâm cai nghiện hay cai nghện tại gia đình cà cộng đồng; khuyến khíchcác tổ chức, cá nhân đầu tư vào công tác dạy nghề, tạo việc làm cho đối tượng Luậtphòng chống ma túy ( 12/2000) quy định “ Người đã cai nghiện ma túy được chínhquyền cơ sở, gai đình và các tổ chức tiếp nhận, tạo điều kiện học nghề, tạo việc làm,vay vốn, tham gia các hoạt động xã hội để hoàn nhập cộng đồng” ( Điều 33)
Một số văn bản liên quan đến thực hiện Nghị quyết 16/2013/QH11:
+ Nghị định số 146/2004/NĐ- CP, ngày 19/07/2004 về “ Quy định thủ tục, thẩmquyền quyết định đưa vào cơ sở quản lý, dạy ghề và giải quyết việc làm đối với ngườisau cai nghiện ma túy
Trang 11+ Tờ trình số 146/2004/NĐ- CP ngày 3/7/2007 và Tờ trình 33/TTr-CP ngày9/5/2007, trình Quốc hội cho phép được áp dụng một số chế độ ưu đãi về thuế thunhập doanh nghiệp cho các cơ sở và doanh nghiệp sử dụng lao động là người sau cainghiện trong thời gian thực hiện Nghị quyết 16/2003/QH11 của Quốc hội.
+ Quyết định 212/2006/QĐ-TTg ngày 20/9/2006: Tín dụng đới với các sở sởxản suất, kinh doanh và sử dụng lao động người sau cai nghiên ma túy
+ Thông tư số 05/2007/TT-BTC ngày 18/1/2007: Hướng dẫn một số nội dungQuyết định số 212/2006/QĐ-TTg ngày 20/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về tíndụng đối với các cơ sở sản xuất, kịn doanh dịch vị và doanh nghiệp sử dụng người saucai nghiện ma túy
Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 212/2006/QĐ-TTg ngày 20tháng 9 năm 2006 về tín dụng đối với các doanh nghiệp sử dụng lao động là người saucai nghiện và sau đó ngày 19 tháng 1 năm 2007 Bộ Tài chính ban hành thông tư số05/2007/TT-BTC về hướng dẫn một số nội dung của Quyết định trên
Nhìn chung, chế độ, chính sách dạy nghề, tạo việc làm cho đối tượng nghiện ma túytương đối đầy đủ về mặt chủ trương và biện pháp tổ chức thực hiện Tuy nhiên, đểchính sách về vấn đề việc làm đối với tệ nạn xã hội thực sự phát huy hiệu quả về cảmặt kinh tế và xã hội, Nhà nước cần đưa ra những giải pháp cụ thẻ hơn, thưc tiễn hơnnhằm huy động nhiều thành phần kinh tế tích cự tham gia trong giải quyết vấn đề
1.2.3 Một số mô hình hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề trên thế giới hiện nay.
* Ở một số nước phương Tây
Hiện nay, đại bộ phận các nước phương Tây đã dáp dụng phương thức dùngmethadon thay thế cho ma túy Xuất phát từ quan điểm lấy độc trị độc nên đại bộ phậnngười nghiện ở nước này đều được pháp sử dụng methdon thay cho thuốc phiện và matúy Vì vậy, đại bộ phận những nước này hầu như không có cơ sở cau nghiện tập trung
mà chỉ có cơ sở ý tế chuyên cũng cấp và theo dõi các bện nhân sử dụng thuốc thay thế
Sở dĩ Methadon được dùng thay thế là do tính ưu việt của nó: có tác dụng dược lýgiống Mooc phin nên hoàn toàn thay thế được mooc phin Thể dạng tồn tại dưới dạnguống nên ko phải tiêm chính, tránh được lây nhiễm HIV, cộng với tác dụng dược lý làchuyển hóa chậm nên 1 ngày chỉ dùng 1 lần, thích hợp cho bệnh nhân điều trị ngoạitrú Khi dùng Methadon sẽ giảm các cơn đói ma túy nên thu hẹp được phạm vi phạmtội, khiến người bện vừa điều trị mà vẫn hoạt động nghề nghiệp để hòa nhập cộngđồng
Nhờ ưu việt như vậy nên trong các năm gần đây, methadone đã được sử dụngkhá rộng rãi: ở Mỹ sử dụng từ năm 1964 ( hàng năm > 70.000 người được điều trị ); ở
Úc sử dụng từ năm 1969 ( đến năm 1993 đã điều trị 13.000 người); ở Thụy Sĩ có 8.000
cơ sở điều trị bằng methadone; Tây Ban Nha có 5000 cơ sở; Đức có 4000 cơ sở, Mặc
dù điều trị bằng methadone có nhieuf ưu điểm, song ở Việt Nam mới chỉ áp dụng thíđiểm ở Hải Phòng, Quảng Ninh và một sối địa phương Đây là một thứ thuốc thay thếrất đắt so với mặt bằng thu nhập của đại bộ phận thu nhập ở Việt Nam, đặc biệt là vớicác cơ sở chữa bệnh của Việt Nam nói chúng hiện đang sử dụng bằng ngân sách củaNhà nước thì rất khó có điều kiện tài chính để thực thi phương pháp này
* Cai nghiện và quản lý cai nghiện ở Trung Quốc
Trang 12Tháng 12- 1995, Hội đồng Nhà nước Trung Quốc đã ban hành Pháp lệnh cainghiện ma túy cưỡng bức Bộ luật quan trọng này đóng vai trò đáng kể trong việc cấm
sử dụng ma túy và cai nghiện cho nhưng người nghiện, bảo vệ sức khỏe người dân vàhạn chế sử dụng ma túy Nhiều cơ quan cấp phường, xã và các tổ chức xã hội cũngđược sử dụng đẻ giúp đỡ người nghiện, người sau cai nghiện tìm kiếm việc làm hòanhập cộng đồng phòng chống tái nghiện ma túy Tổng cục phòng chống ma thúy thuộc
Bộ Công an được Nhà nước giao quản lý thống nhất công tác cai nghiện trong toànquốc Tổng cục này từ năm 1999 đã quản lý 700 trung tâm cai nghiên cững bức quy
mô lớn hơn 120.000 giường bệnh và hàng vạn Trung tâm cai nghiện cộng đồng tới tậnlàng, xã, thông, xóm, bản
Tại các trung tâm cai nghiện, người nghiện ma túy được rèn luyện như cácchiến sẽ nghĩa vụ quân sự, huấn luyện điều lệnh, kỷ luật, luyện tập TDTT, Việc họcvăn hóa, ngoại ngữ và dạy nghề co người nghiện được tổ chức như các nhà trường
Người nghiện ma túy được chữa bệnh theo quy định điều trị, chữa trị bằng cácbài thuốc đông y cai nghiện nổi tiếng
Chương trình cai nghiện ma túy tại cộng đồng và tại gia đình được tiến hànhtheo quy trình cai nghiện của ủy ban quốc gia phòng chống ma túy đã ban hành thốngnhất trên toàn quốc Đồn trưởng các Đồn Công an, trưởng trạm y tế cơ sở và các đoànthể được giao nhiệm vụ cấp ủy đảng và chính quyền cơ sỏ tổ chức cai nghiện, quản lýsau cai nghiện theo các quy trình chặt chẽ mà Tổng cục phòng chống ma túy, Bộ Công
an đã ban hành và hỗ trợ tư vấn tạo việc làm, giải quyết công việc cho người sau cainghiện tái hòa nhập tại cộng đồng Chính vì phân định chức năng quản lý nhà nước rõràng có người chịu trách nhiệm chính trong công tác chống ma túy, huy động được sứcmạnh tổng hợp của toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc, kếthợp chặt chẽ giữa hoặt động đấu tranh giảm cung giảm cầu, giữa yếu tố quản lý, kỷluật, rèn luyện, chữa trị, giáo dục, lao động, hỡ trợ việc làm và quản lý sau cai nghiện,nên tỉ lệ tái nghiện ở Trung Quốc hiện nay được đánh giá và loại thấp nhất thế giới
* Bài học có thể vận dụng cho Việt Nam
- Nhà nước cần có quy định về cấm phân biệt đối xử với người sau cai nghiện
ma túy, tạo cơ hội để họ dễ dàng hơn trong quá trình tìm kiếm việc làm
- Cần phải xã hội hóa công tác cai nghiện, phục hồi và giải quyết việc làm, triểnkhai nhất quán và đồng bộ các giải pháp để đạt được hiệu quả cao và bền vững trongcông tác này
- Cân đối cơ cáu trình độ đào tạo, ngành nghề chuyên môn trong trung tâm cainghiện và các cơ sở dạy nghề để phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội, hoàn cảnh củatừng địa phương
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến “ Chính sách hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề cho người nghiện ma túy ở Việt Nam hiện nay”.
* Vai trò của Nhà nước và các cấp chính quyền về hỗ trợ tạo việc làm cho ngườisau cai nghiện
Trang 13Nhà nước là cơ quan quyền lực tối cao, có vai trò đầu não trong tổ chức cáchoạt động liên quan đến công tác phòng chống ma túy, cụ thể trong hỗ trợ tạo việc làmcho đối tượng sau cai nghiện ma túy, biểu hiện ở một số công việc cụ thể như:
- Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý điềuchỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến hỗ trợ tạo việc làm cho đối tượng sau cainghiện ma túy
- Nhà nước thiết lập và chỉ đạo các cơ quan chức năng, nhất là hệ thống cơ quan
về phòng chống ma túy từ trung ương đến địa phương, cơ sở nâng cao hiệu lực quản
lý, điều hành các hoạt động quản lý sau cai, hỗ trợ tạo việc làm cho đối tượng sau cainghiện ma túy
- Nhà nước thiết lập và tăng cường hợp tác với các nước, các tổ chức trong khuvực và toàn cầu nhằm thực hiện pháp luật quốc tế, góp phần kiểm soát và phòng chống
ma túy trong nước hiệu quả
- Nhà nước tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức xã hội và các cấp tăng cườngphối hợp đầu tư cho chính sách được hiệu quả
- Nhà nước cũng cấp kinh phí và kêu gọi nguồn kinh phí tài trợ để duy trìnhchính sách Muốn chính sách mang lại hệu quả thì ngoài đường lối, chủ trương đúngđắn thì tiềm lực kinh tế cũng đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần đem lại hiểuquả chính sách
- Nhà nước là một nhân tố có ảnh hưởng vô cùng lớn đến chính sách: bạn hànhchính sách, chỉ đạo thực thi, cung cấp nhân lực vật lực
* Nhân tố ảnh hưởng từ phía người nghiện ma túy
Người sau cai nghiện muốn có việc làm trước hết phải có ý chí, nghị lực đoạntuyệt với ma túy, xây dựng lại bản thân Phải có mong muốn tìm việc làm để đảm bảocuộc sống Nếu người cai nghiện, đối tượng thụ hưởng chính sách tích cực hưởng ứng,đóng góp xây dựng chính sách, chính sách sẽ ang lại hiệu quả cao Và ngược lại, chínhsách sẽ thất bại nếu người nghiện a túy tỏ ra đối phó, không hợp tác
Người nghiện ma túy phải đảm bảo cả về chuyên môn, sức khỏe và tinh thần để
có thể đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng
* Nhân tố ảnh hưởng từ phía gia đình người nghiện ma túy
Gia đình người nghiện ma túy chính là nguồn động viên an ủi lớn nhất giúpngười bênh vượt qua được khó khăn, mặc cảm Qua nghiên cứu cho thấy, đối với cácđối tượng sau cai nghiện có gia đình yên ấm, được gia đình chăm sóc tận tình, độngviên giúp đỡ, ủng hộ khuyến khích họ tìm được việc làm thì hiệu quả chống lại táinghiện là rất cao
* Nhân tố thị trường- nhà tuyển dụng lao động
Chính sách sẽ thực sự có hiệu quả nếu như nhu cầu việc làm của thị trường tăngcao, có nhiều cơ hội làm Các ngành nghề đào tạo cho người nghiện ma túy phù hợpvới yêu cầu của xã hội sẽ giúp cho những người nghiện ma túy dễ dàng tìm được côngviệc đúng khả năng và chuyên môn
Trang 14* Kinh phí và sự quan tâm đầu tư của toàn xã hội.
Điều kiện kinh tế là một trong những nhân tố góp phần vào thành công lớn củachính sách Chính sách sẽ không thể được duy trì nếu không có nguồn kinh phí thựchiện Chúng ta không chỉ dừng lại ở việc sử dụng nguồn tiền của Nhà nước cho chínhchính, mà nên kêu gọi sự quan tâm đầu tư của toàn xã hội Nên kêu gọi tư nhân hóacác trung tâm cai nghiện Tạo mọi điều kiện kêu gọi các tổ chức xã hội, doah nghiệp,
tư nhân và phi chính phủ cùng quan tâm đến vấn đề chính sách, đem ại hiệu quả thật
sự ổn định và bền vững trong giải quyết vấn đề
Chương 2: Cơ sở thực tiễn và việc thực hiện “ Chính sách hỗ trợ việc làm
và đào tạo nghề cho người nghiện ma túy”.
2.1 Thực trạng việc làm và hỗ trợ việc làm sau cai nghiện ở nước ta hiện nay.
Nhìn chung việc làm của các đối tượng là không thuận lợi Các đối tượng ởthành phố có việc làm ổn định hơn các đối tượng ở nông thôn Tuy nhiên, đối tượng cóviệc làm ổn định thì luôn ở một tỉ lệ thấp Hầu hết các nghề, việc làm mà các đối tượng
đi làm đều là các công việc làm thuê Một số là chủ sở hữu một phần công cụ, phươngtiện sản xuất Khu vực làm việc chủ yếu ở các cơ sở xản suất tư nhân
Điểm tích cực trong quá trình những đối tượng sau nghiện tham gia lao động,tìm việc làm là không bị sự kỳ thị từ cộng đồng Nên bản thân họ cảm thấy yên tâmhơn Điều này giúp mang lại không chỉ niềm vui cho người sau nghiện mà còn gópphần mang lại hiệu quả cho chính sách
2.2 Thực trạng hỗ trợ tổ chức đào tạo dạy văn hóa- dạy nghề.
* Nhiệm vụ dạy văn hóa
Thực tế cho thấy vấn đề này luôn được sự quan tâm ngay từ ngày đầu tập trung ngườinghiện, nhưng mới chỉ giành cho những người mù chữ hoặc mới biết chữ Hầu hết cáctrung tâm trong cả nước đều cố gắng đạt kết quả tốt trong hoặt động xóa mù, xóa tái
mù và bước đầu phổ cập tiểu học cho học viên
* Công tác dạy nghề
Tất cả các trung tâm đều rất quan tâm tổ chức dạy nghề cho người cai nghiệnngay khi họ mới tập trung Ban lãnh đạo các trung tâm rất năng động, sáng tạo, tìmmọi cách mọi biện pháp, nguồn có thể để tổ chức các lớp hướng dẫn nghề nghiệp chonhững người nghiện vốn là những người lười biếng, ăn bám gia đình, không nghềnghiệp chuyên môn, hoặc chỉ là lao động phổ thông Sự hình thành các lớp dạy nghềrát đa dạng, đủ loại hình thức: cắt tóc, sửa xe máy, chế tác đồ gỗ đồ kim loại, hàn, điệnlạnh, sản xuất mấy tre đan, dệt, thêu, Tuy nhiên, những gì gọi là dạy nghề tại cáctrung tâm cai nghiện đến nay chỉ là giải pháp tình thế, phần lớn không đáp ứng đượcyêu cầu tối thiểu của việc việc dạy nghề theo tinh thần của Đề án hậu cai: tạo dựng chongười sau cai nghiện một nghề kỹ thuật để tự kiếm sống trong quá trình tái hòa nhậpcộng đồng, mà bước đi đầu là việc kiếm sống trong “ môi trường tương đối sạch”
+ Không có trung tâm nào có cơ sở dạy nghề đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu củangành dạy nghề Cụ thể là các lớp chuyên ngành không đủ hoặc không có giáo viên