Nghiên cứu về một số vấn đề quan trọng của Đại Việt trong thời kỳ lịch sử này gồm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo, giáo dục.... Riêng trong lĩnh vực giáo dục, khoa cử Nho h
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học Xã hội thuộc
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Duy Mền
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Ngọc Cơ
Phản biện 2: PGS.TS Phan Phương Thảo
Phản biện 3: PGS.TS Trần Minh Trưởng
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt
Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
Vào hồi……giờ…….phút, ngày ……tháng……năm
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XVII, XVIII là giai đoạn lịch sử “khá đặc biệt” trong lịch
sử quân chủ Việt Nam, trong đó nổi bật là tình trạng “cát cứ”: vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, chúa Nguyễn ở Đàng Trong Chính quyền ở Đàng Ngoài lại tồn tại theo định chế vừa có Vua lại vừa có Chúa, đặc điểm chính trị này đã tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong
đó có vấn đề giáo dục và khoa cử
Nghiên cứu về một số vấn đề quan trọng của Đại Việt trong thời kỳ lịch sử này gồm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo, giáo dục đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Riêng trong lĩnh vực giáo dục, khoa cử Nho học, đã có một số nội dung cơ bản được tìm hiểu
nhưng chỉ là một phần nội dung trong những công trình chuyên khảo khi
nghiên cứu về lịch sử hình thành, sự phát triển của chế độ giáo dục và khoa cử thời quân chủ nói chung, hoặc thuộc từng vùng cụ thể (Đàng Ngoài, Đàng Trong) Nhìn chung, những công trình nghiên cứu đó còn mang tính riêng lẻ, chưa đề cập một cách đầy đủ, tất cả các vấn đề của giáo dục và khoa cử Nho học của hai thế kỷ này Nhất là vấn đề giáo dục và khoa cử của chúa Nguyễn ở Đàng Trong lại chưa được giới nghiên cứu quan tâm nhiều, đây vẫn còn là một khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu
Nền giáo dục và khoa cử Nho học thế kỷ XVII, XVIII đã góp phần duy trì, phát huy truyền thống hiếu học ở cấp làng xã nhất là ở vùng Đàng Ngoài Khi triều Nguyễn đặt kinh đô ở Huế đã ảnh hưởng không nhỏ số lượng người đỗ ở khu vực này, nhưng ngược lại truyền thống giáo dục Nho học trong các gia đình, dòng họ lại vẫn rất phát triển, đó là
cơ sở để thấy được sự tiếp nối trong truyền thống hiếu học của dân tộc ta.Với mong muốn tìm hiểu một cách hệ thống, chi tiết hơn về tình hình
Trang 4giáo dục và khoa cử Đại Việt thế kỷ XVII, XVIII, thấy được nét chung, nét riêng của vấn đề này trong từng vùng không gian (Đàng Ngoài,
Đàng Trong), tôi chọn vấn đề “Giáo dục và khoa cử Nho học Đại Việt thế kỷ XVII -XVIII” làm đề tài luận án Tiến sĩ của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về giáo dục và khoa cử Nho học triều Lê Trịnh ở Đàng Ngoài, chúa Nguyễn ở Đàng Trong trong hai thế kỷ XVII và XVIII, luận án sẽ làm sáng rõ tình hình tổ chức giáo dục và khoa cử Nho học Đại Việt ở cả hai miền đất nước Qua đó, thấy được đóng góp của nền giáo dục và khoa cử Nho học đối với việc phát triển của quốc gia Đại Việt trong hai thế kỷ này
Đề tài đặt ra nhiệm vụ sưu tầm, hệ thống các tư liệu liên quan; kế thừa và phát huy kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trước Trên cơ sở đó, xác định những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu gồm: Phân tích khái quát bối cảnh chính trị - xã hội Đại Việt thế kỷ XVII, XVIII tác động đến chính sách giáo dục của Nhà nước Tìm hiểu về chính sách và làm rõ tình hình tổ chức giáo dục của thời kỳ này thông qua việc lựa chọn những sự kiện lịch sử tiêu biểu về trường lớp, chương trình học tập, chế độ khảo thí , qua đó làm rõ sự kế thừa, nét riêng biệt về giáo dục giữa vùng Đàng Ngoài và Đàng Trong Luận
án còn phác họa diện mạo khoa cử Nho học của triều Lê -Trịnh và chúa Nguyễn qua việc tìm hiểu về thể lệ thi cử, quá trình tổ chức từng khoa thi cụ thể của hai chính quyền, từ đó góp phần làm rõ đặc điểm khoa cử Nho học của mỗi vùng miền Phân tích những thành tựu, hạn chế của giáo dục và khoa cử thời kỳ này, để qua đó thấy được vai trò của tầng lớp trí thức Nho học được tuyển chọn qua khoa cử đối với sự phát triển xã hội trên nhiều khía cạnh, nhất là trong lĩnh vực chính trị,
văn hóa
Trang 53 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là giáo dục và khoa cử Nho học, thực trạng
và đóng góp của nền giáo dục, khoa cử đối với xã hội Đại Việt trong hai thế kỷ XVII, XVIII
- Phạm vi nghiên cứu: Về không gian: đề tài lấy địa giới hành chính
khu vực gồm vùng Đàng Ngoài và Đàng Trong Đàng Ngoài được giới hạn từ Bắc sông Gianh trở ra (phía Bắc huyện Bố Trạch ngày nay), Đàng Trong được giới hạn từ vùng đất Nam Sông Gianh đến Hà Tiên thời chúa Nguyễn, tương ứng với các tỉnh từ Quảng Bình, Quảng Trị đến hết các tỉnh Nam Bộ ngày nay
Về thời gian: Đề tài có giới hạn nghiên cứu về mặt thời gian trong
hai thế kỷ XVII, XVIII Do đặc điểm chính trị vừa có triều Lê -Trịnh ở Đàng Ngoài, chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong cùng tồn tại, nên mỗi vùng có khung thời gian nghiên cứu khác nhau Ở Đàng Ngoài, đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu từ 1592 đến 1788, đây là mốc thời gian triều Lê - Trịnh trị vì ở Kinh đô Thăng Long Ở Đàng Trong, đề tài xác định từ đầu thế kỷ XVII (1600) đến năm 1777, gắn với vị chúa cuối cùng Nguyễn Phúc Thuần cai quản ở Phú Xuân, tồn tại với tư cách một vương triều độc lập, đối sánh với triều Lê -Trịnh, sau bị phong trào Tây
Sơn lật đổ
Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về tổ chức giáo dục và
khoa cử Nho học của cư dân người Việt đặt trong sự quản lý của triều
Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài, chúa Nguyễn ở Đàng Trong Luận án chủ yếu nghiên cứu về hoạt động dạy và học theo hệ thống trường lớp do Nhà nước mở, trường học của các danh sĩ, lớp học các tư gia Riêng việc học chữ Nho tại nhà chùa, việc học của cư dân người Khơme, người Chăm luận án chưa đề cập đến
Trang 64 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tác giả vận dụng xuyên suốt và kết hợp hai phương pháp chuyên ngành trong nghiên cứu sử học: phương pháp lịch sử và phương pháp logic để giải quyết thỏa đáng các vấn đề mà đề tài nghiên cứu đặt ra Ngoài ra, còn sử dụng phương pháp điền dã để thu thập tài liệu thực địa liên quan đến đến đề tài; phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh,…
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Đề tài đã bước đầu khai thác và hệ thống hóa tư liệu để có cái nhìn khái quát tình hình tổ chức giáo dục và khoa cử Nho học của quốc gia Đại Việt thế kỷ XVII, XVIII Cùng với những công trình nghiên cứu về
tổ chức trường lớp, sách học, thể văn trong thời kỳ này của các học giả trong và ngoài nước, kết quả nghiên cứu của luận án góp phần nhận diện
rõ hơn về chính sách của triều Lê -Trịnh, chúa Nguyễn đối với giáo dục; việc sử dụng người đỗ đạt của Nhà nước vào trong bộ máy chính quyền; truyền thống giáo dục, khoa bảng ở cấp làng xã Từ đó, tác giả chỉ ra sự
kế thừa, nét riêng biệt giữa giáo dục, khoa cử ở hai vùng này; khẳng định những đóng góp của giáo dục và khoa cử Nho học đối với sự phát triển văn hóa dân tộc
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ thực trạng, đóng góp của giáo dục, khoa cử của Đại Việt trong hai thế kỷ XVII, XVIII, góp phần hiểu biết sâu sắc hơn về giáo dục Nho học Việt Nam trong quá khứ Thấy được mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục đào tạo nhân tài với nhu cầu phát triển xã hội, giữa tổ chức khoa cử với chính sách trọng dụng nhân tài của Nhà nước Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, vai trò của giáo dục ngày càng được coi
Trang 7trọng, vấn đề nghiên cứu của luận án ít nhiều đưa ra một số bài học kinh nghiệm trong việc lựa chọn phương thức giáo dục phù hợp cùng chính sách đãi ngộ nhân tài
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tư liệu và tình hình nghiên cứu vấn đề Chương 2: Giáo dục Nho học
Chương 3: Khoa cử Nho học
Chương 4: Thành tựu, hạn chế của giáo dục và khoa cử Nho học
Chương 1: TỔNG QUAN TƯ LIỆU VÀ TÌNH HÌNH
NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1.1 Nguồn tư liệu
Để hoàn thành luận án, tác giả đã khai thác và tổng hợp tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau Đối với nguồn tư liệu trong nước, tác giả khai thác và sử dụng tối đa nguồn tư liệu gốc đương thời được biên soạn từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỉ XIX (do Nhà nước Lê -Trịnh, triều Nguyễn biên soạn), các tác phẩm do các sử gia tư nhân đương thời biên soạn, đây là nguồn tư liệu gốc quan trọng để thực hiện đề tài Ngoài ra, đề tài còn sử dụng tư liệu điền dã ở địa phương như văn bia, gia phả các dòng họ, hương ước các làng xã Đối với nguồn tư liệu nước ngoài, luận án chủ yếu sử dụng các bản ghi chép của Giáo sĩ, thương nhân người phương Tây, người Trung Hoa khi đến sinh sống, làm việc tại Đại Việt ở thế kỷ XVII, XVIII
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1 Nhóm công trình viết về giáo dục, khoa cử Nho học Việt Nam
Từ nửa đầu thế kỷ XX đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu
đã đi sâu tìm hiểu về chế độ giáo dục và khoa cử Nho học thời quân
Trang 8chủ, đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau: tổ chức trường lớp, tình hình thi cử, chương trình học, các loại sách học dùng trong nhà trường, thể văn dùng trong thi cử, truyền thống khoa bảng một số dòng họ trong làng xã Việt Nam Có thể kể đến các tác giả như: Trần Văn Giáp, Vũ Ngọc Khánh, Nguyễn Tiến Cường, Nguyễn Thế Long, Phan Ngọc Liên, Đinh Khắc Thuân, Bùi Xuân Đính, Vũ Duy Mền, Nguyễn Công Lý Từ những công trình của các tác giả trên đã cung cấp cho tác giả luận án cái nhìn đa chiều về các vấn đề liên quan đến giáo dục, khoa cử, giúp tác giả nhận thức được những điểm còn thiếu hoặc cần làm rõ hơn trong vấn đề nghiên cứu của luận án
1.2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về giáo dục và khoa cử Nho học Đại Việt thế kỷ XVII, XVIII
Cho đến nay, mặc dù chưa có một công trình nghiên cứu đầy đủ tất cả các nội dung của giáo dục và khoa cử Nho học Đại Việt thế kỷ XVII, XVIII nhưng từng khía cạnh cụ thể thuộc vấn đề này phần nào đã được nhiều tác giả quan tâm, thể hiện ở công trình chuyên khảo, bài tạp chí, luận án, luận văn, hội thảo khoa học Trong đó, một số nghiên cứu đã đưa
ra sự đánh giá về đóng góp của khoa cử thời kỳ này đối với sự phát triển
xã hội như: Một số nét về khoa cử và thể lệ bổ dụng quan lại thời Lê Trung hưng (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 12/2006) của Nguyễn Đức Nhuệ; Phương thức tuyển dụng quan lại cho bộ máy chính quyền nhà nước ở thế kỷ XVII -XVIII” (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6,
2006, tr.9 - tr.18; số 7, 2006, tr.3 - tr.8) của Trần Thị Vinh Tác giả
Nguyễn Kim Sơn trong công trình: “Nho học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX (Mấy khuynh hướng và vấn đề)” (Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2018), trên cơ sở khảo sát về tình hình giáo dục, khoa cử và toàn bộ các trước tác của nhà Nho nửa cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX, tác giả cho biết đặc điểm Nho học thời kỳ này có
Trang 9“những biểu hiện không hoàn toàn giống với tình hình chung của các giai đoạn trước”, khi “Nho học nở rộ nhiều thành tựu, là thời kỳ Nho học có những biểu hiện mới trong cả hứng thú học thuật lẫn nội dung các trước tác của Nho sĩ” Riêng về giáo dục, khoa cử ở Đàng Trong,
chú ý là bài “Thi Hương thời các chúa Nguyễn” (Tạp chí Hán Nôm, số
2/2013, tr.49 -tr.59) của Nguyễn Thúy Nga Tác giả đã khảo cứu khá đầy đủ về các khoa thi thời chúa Nguyễn theo tiến trình lịch sử, thống kê được 12 Nho sĩ xuất thân theo lối cử nghiệp, song tác giả lại chưa có sự so sánh với chế độ khoa cử ở Đàng Ngoài
1.3 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Tìm hiểu các vấn đề liên quan đến giáo dục, khoa cử thế kỷ XVII, XVIII cũng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nước ngoài
Trong đó đáng chú ý là các bài viết đăng trong tập san: Những người bạn cố đô Huế được viết bằng tiếng Pháp “Bulletin des Amis du Vieux Hué” (viết tắt BAVH), xuất bản và lưu hành tại Việt Nam và Pháp từ
năm 1941 đến 1944, gồm 121 số và 1 tập danh mục
1.4 Những nội dung luận án kế thừa
Kết quả nghiên cứu của các công trình kể trên là những đóng góp có giá trị đối với việc tìm hiểu về giáo dục và khoa cử Nho học nói chung,
tổ chức giáo dục, khoa cử ở thế kỷ XVII, XVIII nói riêng Một số nội dung được chúng tôi kế thừa: lịch sử hình thành và phát triển của giáo dục, khoa cử từ thời Bắc thuộc đến đầu thế kỷ XX; Những phân tích, đánh giá về đặc điểm, thực trạng của giáo dục, khoa cử trong thời kỳ này; Vai trò của giáo dục, khoa cử đối với sự phát triển mọi mặt đời sống xã hội, nhất là trong lĩnh vực văn hóa
1.5 Những nội dung luận án cần giải quyết
Căn cứ vào mục đích, yêu cầu của luận án, trên cơ sở kế thừa thành tựu, quan điểm nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước,
Trang 10những vấn đề còn chưa được nghiên cứu hệ thống về tổ chức giáo dục
và khoa cử của triều Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài, chúa Nguyễn ở Đàng Trong, chúng tôi đặt ra những vấn đề cần giải quyết trong luận án gồm: bối cảnh lịch sử tác động đến chính sách giáo dục, khoa cử; mục đích của giáo dục; tình hình tổ chức giáo dục và khoa cử gồm hệ thống trường lớp, chế độ học quan, học sinh, thể lệ thi cử của mỗi khoa thi Thành tựu, hạn chế của nền giáo dục và khoa cử Nho học, trong đó tập trung làm rõ số người đỗ Tiến sĩ, Hương cống và chế độ bổ dụng của Nhà nước dành cho họ; làm rõ sự tiếp nối, phát huy truyền thống hiếu học, đỗ đạt ở cấp làng xã
Chương 2: GIÁO DỤC NHO HỌC 2.1 Mục đích của giáo dục Nho học
Đến thế kỷ XVII, XVIII nền giáo dục Nho học về cơ bản vẫn nhằm
vào ba mục đích: Học để làm người; học để làm quan nhằm thực hiện
mục tiêu “Tu -Tề - Trị - Bình” (Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ);
học để lưu danh muôn đời gồm: lập đức, lập công, lập ngôn.
2.2 Giáo dục Nho học Đàng Ngoài
2.2.1 Chính sách giáo dục Nho học của chính quyền Lê -Trịnh
Xuất phát từ bối cảnh chính trị xã hội Đàng Ngoài vừa có triều đình vua Lê, vừa có vương phủ họ Trịnh cùng tồn tại, đặt ra cho triều đình Lê-Trịnh thực thi nhiều chính sách quan trọng trong tổ chức giáo dục như mở mang, sửa chữa trường lớp, xếp đặt chế độ Học quan, tuyển chọn học trò, chương trình giảng tập, khảo thí, thực thi các chế
độ đãi ngộ dành cho trường học, người học
2.2.2 Tổ chức giáo dục Nho học
Về hệ thống trường học: Hệ thống trường lớp ở Đàng Ngoài khá
đa dạng về loại hình Về trường công, Quốc Tử Giám vẫn là trường học, trung tâm giáo dục Nho học lớn nhất, có quy mô, kiến trúc ngày
Trang 11càng khang trang, mở rộng Trường do các viên Tế tửu, Tư nghiệp, Giáo thụ, Học chính, Giám bạ, Điển bạ, Điển nghĩa, Tri Giám sự quản
lý và giảng dạy Học sinh Quốc Tử Giám gọi là Giám sinh, gồm 4 hạng: Ân giám, Ấm giám, Cử giám, Cống sinh, có độ tuổi theo học từ
15 tuổi trở lên, thời gian học chủ yếu từ 3 đến 5 năm Các trường quan
phương: Sùng Văn quán và Tú Lâm cục tiếp tục được duy trì, đều do hai chức Tư huấn và Điển nghĩa quản lý, giảng dạy
Trường công ở địa phương có trường cấp Phủ (gọi là Hương học), cấp huyện, lần lượt do các chức Giáo thụ, Huấn đạo đứng đầu
Trường tư ở Đàng Ngoài rất phát triển, nhất là trường tư của các danh sĩ mở ở Kinh đô, vùng Tứ trấn và xứ Thanh Hoa, Nghệ An, nhiều trường học nổi tiếng, quy mô lớn có công đào tạo nhiều học trò đỗ đạt như Vũ Công Đạo, Vũ Thạnh, Trần Ân Triêm, Ở cấp làng xã, giáo dục thời kỳ này đã phát triển sâu rộng, khi không chỉ có các lớp học thầy đồ tiếp tục phát triển, mà từ thế kỷ XVIII xuất hiện loại hình trường dân lập ở Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hà Tây, do nhân dân tự nguyện góp tiền của, đất đai để xây dựng
Về chương trình học tập: trường học vẫn lấy các bộ sách của Trung Hoa: Tứ Thư, Ngũ Kinh; các bộ Bắc sử để dạy học; ngoài ra còn dùng các bản chú giải (chú giải thêm về các bộ Tứ thư, Ngũ kinh) do
người Việt Nam biên soạn để dạy học Nhà nước vẫn duy trì học quy nghiêm ngặt như các triều đại trước khi yêu cầu Học quan trong các trường học giữ đúng thời khắc, thậm chí năm 1779 chúa Trịnh Sâm ra bản “học quy” và “sổ học tịch” để theo dõi việc học của học trò Triều đình cũng quy định lệ khảo thí đối với học trò theo tháng (vào hai ngày Sóc - ngày 1, Vọng -ngày 15), theo quý (bốn tháng trọng của năm: Trọng xuân -tháng 2; trọng hạ -5; trọng thu -9; trọng đông -11)
để phân hạng và bổ dụng chức quan
Trang 12Ngoài việc cấp ruộng công cho trường học để lấy kinh phí hoạt động, triều Lê -Trịnh thực hiện nhiều chế độ đãi ngộ cả về vật chất và tinh thần dành cho học sinh và Học quan, trong đó với chức năng là cơ quan giáo dục cao cấp của Nhà nước nên Học quan, Giám sinh trường Quốc Tử Giám nhận được nhiều ưu ái hơn, nhất là chế độ bổ dụng chức quan, cấp lương cho học trò
2.3 Giáo dục Nho học Đàng Trong
2.3.1 Chúa Nguyễn đối với giáo dục Nho học
Cùng với quá trình củng cố chính quyền, mở rộng phạm vi lãnh thổ xuống phía Nam, xác lập quyền cai trị ở các vùng đất mới, các chúa Nguyễn từng bước chú trọng đến Nho giáo Không chỉ trọng dụng các sĩ phu người Bắc đi theo Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa vào trong chính quyền của mình, về sau các chúa Nguyễn cho xây dựng Văn Miếu Phú Xuân, Văn Miếu Trấn Biên để thờ Khổng Tử; rộng tay đón các hiền sĩ bốn phương về hội tụ gồm cả Nho sĩ người Việt, người Hoa như Chu Thuấn Thủy, Thiền sư Thích Đại Sán Như vậy, các chúa Nguyễn đã có ý thức phải có đội ngũ văn quan tuyển chọn từ giáo dục, khoa cử Tuy nhiên, do điều kiện còn khó khăn, lại vướng cuộc chiến tranh với họ Trịnh (1627 -1672) nên
tổ chức giáo dục, khoa cử trong thế kỷ XVII của chúa Nguyễn chưa
tổ chức chặt chẽ
2.3.2 Tổ chức giáo dục Nho học
Về trường học: Qua ghi chép của Lê Quý Đôn, tại thủ phủ Phú
Xuân, từ nửa sau thế kỷ XVIII, chúa Nguyễn đã cho xây dựng một ngôi trường có tên Học Cung để dạy bảo học trò, số lượng “khoảng vài trăm người”, cho thấy các chúa Nguyễn đã thực sự quan tâm đến giáo dục Nho học Ở địa phương, chúa Nguyễn chưa mở được trường công nhưng rất khuyến khích việc học trong nhân dân, để nhân dân tự lập
Trang 13trường học với hai loại hình: trường của Nho sĩ và lớp học thầy đồ, thời kỳ này có một số trường tư nổi tiếng như trường học của Vũ Xuân Nùng, Võ Trường Toản, Đặng Đức Thuật
Mặc dù vẫn lấy học thuyết Khổng Tử, lấy sách Ngũ Kinh, Tứ Thư
để dạy học trò nhưng trong phương pháp giảng dạy đã có sự cởi mở
và phóng khoáng hơn khi đề cao vấn đề học gắn với thực tiễn Nguyễn
Cư Trinh cho rằng: cái đạt được của người học không phải là biết nhiều về lý thuyết mà phải “Ngôn hành hợp nhất”, đưa kiến thức được học đi vào cuộc sống thực tiễn
Tiểu kết chương 2: Trên cơ sở kế thừa truyền thống Nho học được
xác lập từ thời Lê sơ, triều Lê -Trịnh đã phát triển giáo dục Nho học ở Đàng Ngoài lên tầm cao mới Hệ thống trường lớp được khuyến khích phát triển, phong phú về loại hình, phân bố ở nhiều địa phương, thu hút nhiều học trò theo học
Đàng Trong, tuy chưa xây dựng trường học ở cấp phủ, huyện nhưng các chúa Nguyễn lại rất khuyến khích việc học trong nhân dân,
để nhân dân tự lập trường học với hai loại hình là trường của các Nho
sĩ và lớp học thầy đồ Chính các lớp học này đã cung cấp đội ngũ Nho sinh tham gia vào các kì thi của chính quyền chúa Nguyễn
Chương 3: KHOA CỬ NHO HỌC 3.1 Khoa cử Nho học ở Đàng Ngoài
3.1.1 Khảo hạch
Đây là kì thi nhằm kiểm tra trình độ học vấn của Nho sinh có thông hiểu nội dung của Ngũ Kinh, Tứ Thư, có biết làm thể văn Tứ trường để đảm bảo đủ điều kiện dự thi Hương hay không, gồm hai
phép thi: Tứ trường và sảo thông Trong đó phép thi tứ trường được
thực hiện đến năm 1721, thí sinh phải trải qua hai cấp khảo hạch từ