Quỹ đất của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất là rất lớn nhưng việc quản lý và sử dụng nhìn chung còn chưa chặt chẽ, hiệu quả thấp, còn để xảy ra nhiều tiêu cực như: sử dụ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHAN THỊ NHÀN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ
VÀ SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÂN ĐỒN,
TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2014-2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHAN THỊ NHÀN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ
VÀ SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VÂN ĐỒN,
TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2014-2018
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 8.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Nhuận
Thái Nguyên - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, đầy đủ, rõ nguồn gốc và chưa được sử dụng để bảo vệ một học
vị nào Các thông tin, tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, trước phòng đào tạo và nhà trường về các thông tin, số liệu trong đề tài
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2019
Học viên
Phan Thị Nhàn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt
tình và sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân cũng như tập thể, tạo điều
kiện cho tôi hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa, đặc biệt tôi xin
gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Đức Nhuận, những người đã tận tình
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Cảm ơn các thầy cô của
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, phòng Đào tạo, khoa Quản lý tài
nguyên, những người đã truyền thụ cho tôi những kiến thức và phương pháp
nghiên cứu quý báu trong thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại trường
Và cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp, các bạn sinh viên…Những người luôn quan tâm, chia sẻ và tạo
mọi điều kiện giúp đỡ trong thời gian tôi học tập và nghiên cứu vừa qua
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2019
Tác giả
Phan Thị Nhàn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1 Về khoa học 3
3.2 Về thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.1 Đất đai đối với sự phát triển các ngành kinh tế 4
1.1.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc sử dụng đất 4
1.1.3 Các khái niệm liên quan đến quản lý, sử dụng đất của các tổ chức 5
1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài 7
1.2.1 Cơ sở pháp lý liên quan đến sử dụng đất của các tổ chức 7
1.2.2 Những quy định của Nhà nước trong công tác giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức 9
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 13
1.3.1 Tình hình quản lý, sử dụng đất của một số nước trên thế giới 13
1.3.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trong phạm vi cả nước 19
1.3.3 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 24
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu 30
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 30
Trang 62.1.3 Thời gian nghiên cứu 30
2.2 Nội dung nghiên cứu 30
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Vân Đồn, thực trạng quản lý và hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện Vân Đồn 30
2.2.2 Đánh giá tình hình quản lý đất đai của các tổ chức trên địa bàn huyện Vân Đồn 30
2.2.3 Đánh giá tình hình sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện Vân Đồn 31
2.2.4 Khó khăn, tồn tại và giải pháp để quản lý, sử dụng đất của các tổ chức đạt hiệu quả cao 31
2.3 Phương pháp nghiên cứu 31
2.3.1 Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu 31
2.3.2 Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập thông tin, tài liêu, số liệu 31
2.3.3 Phương pháp thống kê, so sánh 33
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu sử dụng phần mềm vi tính 33
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội, thực trạng quản lý và hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức trên đại bàn huyện Vân Đồn 34
3.1.1 Điều kiện tự nhiên- kinh tế xã hội của huyện Vân Đồn 34
3.1.2 Thực trạng quản lý đất của các tổ chức trên địa bàn huyện Vân Đồn 45
3.1.3 Hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện Vân Đồn 60
3.2 Đánh giá công tác quản lý đất đai trên địa bàn huyện Vân Đồn giai đoạn 2014-2018 67
3.3 Đánh giá chung tình hình sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện Vân Đồn giai đoạn 2014-2018 67
Trang 73.4 Khó khăn, tồn tại và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý,
sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh
Quảng Ninh 68
3.4.1.Những khó khăn, tồn tại trong công tác quản lý và sử dụng đất của các tổ chức 68
3.4.2 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các tổ chức 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
1 Kết luận 74
2 Kiến nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Diện tích, mật độ dân số theo đơn vị hành chính 43
Bảng 3.2 Diện tích các loại đất chính của huyện Vân Đồn 47
Bảng 3.3 Diện tích, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2018 48
Bảng 3.4 Diện tích, cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2018 49
Bảng 3.5 Bảng tổng hợp diện tích đất phân theo đơn vị hành chính 50
Bảng 3.6 Tổng hợp số tổ chức, khu đất, diện tích sử dụng đất của các tổ chức phân theo loại hình sử dụng trên địa bàn huyện Vân Đồn 52
Bảng 3.7 Tình hình giao đất, thuê đất của các tổ chức 54
Bảng 3.8 Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các tổ chức đến thời điểm điều tra đến 31/12/2018 56
Bảng 3.9 Hiện trạng sử dụng đất theo mục đích sử dụng của các tổ chức tính đến ngày 31/12/2017 60
Bảng 3.10 Diện tích đất của các tổ chức phân theo đơn vị hành chính 62
Bảng 3.11 Tình hình cho thuê, cho mượn, chuyển nhượng trái phép; diện tích đất được giao, được thuê của các tổ chức 63
Bảng 3.12 Tình hình tranh chấp và bị lấn chiếm diện tích của các tổ chức 64
Bảng 3.13 Tình hình đất chưa đưa vào sử dụng của các loại hình tổ chức 66
Bảng 3.14 Hiệu quả kinh tế của các tổ chức được giao đất, thuê đất 66
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Diện tích các nhóm đất sử dụng 19 Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 54
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là điều kiện chung đối với mọi quá trình sản xuất của các ngành kinh tế, là điều kiện cần thiết để con người tồn tại, phát triển và tái sản xuất qua các thế hệ Việc quản lý sử dụng đất sao cho hợp lí, hiệu quả và
để bảo vệ lâu bền nguồn tài nguyên này là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách của mỗi quốc gia
Theo số liệu thống kê, kiểm kê diện tích đất hàng năm của Bộ Tài nguyên
và Môi trường tính đến ngày 31/12/2017 [1], tổng diện tích đất đã được Nhà nước giao, cho thuê và công nhận quyền sử dụng đất cho các đối tượng sử dụng
là 26.851.354 ha, chiếm 81,07% tổng diện tích tự nhiên cả nước Trong đó, tổ chức trong nước, nước ngoài, cá nhân nước ngoài sử dụng 10.601.347 ha chiếm 39,48 % tổng diện tích đã giao, cho thuê; cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo được giao 346.494 ha (chiếm 1,29% tổng diện tích đã giao, cho thuê) Như vậy, có thể thấy việc sử dụng đất của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất chiếm vị trí rất quan trọng, có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của nền kinh tế đồng thời phản ánh được tính hiệu quả của việc sử dụng đất
Quỹ đất của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất là rất lớn nhưng việc quản lý và sử dụng nhìn chung còn chưa chặt chẽ, hiệu quả thấp, còn để xảy ra nhiều tiêu cực như: sử dụng không đúng diện tích, không đúng mục đích, bị lấn chiếm, chuyển nhượng, cho thuê trái phép… Để từng bước khắc phục những tồn tại trên, đồng thời thực hiện Nghị quyết số 16/2007/NQ-
CP ngày 27/02/2007 của Chính phủ về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế
Trang 12giới, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg ngày 14 tháng 12 năm 2007 về việc kiểm kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất đến ngày 01 tháng 4 năm 2008 Đây là việc làm có ý nghĩa thiết thực trong việc tăng cường vai trò quản lý Nhà nước đối với nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng về đất đai nói chung
và diện tích đất đang giao cho các tổ chức quản lý sử dụng nói riêng
Huyện Vân Đồn là một huyện đảo miền núi nằm ở phía Đông và Đông Nam của tỉnh Quảng Ninh Vân Đồn là vùng đất có rất nhiều tiềm năng, có cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh và có vị trí chiến lược đối với tỉnh và khu vực,
đó là lợi thế về giao thông đường biển, hàng không và đường bộ Tỉnh Quảng Ninh cũng đã dành nguồn lực để đầu tư hoàn thiện hệ thống giao thông ở Vân Đồn và tích cực kêu gọi các dự án đầu tư lớn vào Vân Đồn Ngay từ năm
2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1296/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Quy hoạch xây dựng Khu Kinh tế Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Với quy mô diện tích khoảng 2.171 km2 trong đó diện tích đất tự nhiên 551 km2, diện tích vùng biển rộng 1.620 km2, đây là khu kinh tế tổng hợp được vận hành theo quy chế riêng nhằm phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh và vùng Duyên hải Bắc bộ Theo đó, Vân Đồn sẽ được xây dựng thành đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt và trở thành thành phố biển tiêu biểu với các ngành kinh tế mũi nhọn là du lịch biển đảo, du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí cao cấp, trung tâm thương mại, tài chính và là cửa ngõ giao thương
quốc tế Do vậy, việc thực hiện đề tài "Đánh giá thực trạng quản lý và sử
dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2014-2018" được đặt ra với mong muốn đưa ra những giải pháp
thiết thực và tích cực nhằm tăng cường vai trò nắm chắc, quản chặt quỹ đất của Nhà nước (đại diện chủ sở hữu đối với đất đai) nói chung và diện tích đất đang giao cho các cơ quan, đơn vị của nhà nước và các tổ chức quản lý sử
Trang 13dụng nói riêng và đặc biệt là diện tích đang giao cho các tổ chức kinh tế sử dụng trên địa bàn huyện Vân Đồn, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá được công tác quản lý của cơ quan có thẩm quyền đối với đất của tổ chức được giao, thuê trên địa bàn huyện Vân Đồn
- Đánh giá được hiện trạng sử dụng đất của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế và các tổ chức khác tại huyện Vân Đồn làm cơ sở đề xuất các giải pháp sử dụng đất hợp lý, hiệu quả quỹ đất của địa phương đã giao cho các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế và các tổ chức khác sử dụng
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các
tổ chức trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Đất đai đối với sự phát triển các ngành kinh tế
Trong số những điều kiện vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất và đời sống con người, đất với lớp phủ thổ nhưỡng, khoáng sản trong lòng đất, rừng và mặt nước chiếm vị trí đặc biệt Đất là điều kiện đầu tiên và là nền tảng tự nhiên của bất kỳ quá trình sản xuất nào
Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội như là một tư liệu sản xuất đặc biệt Tuy nhiên đối với mỗi ngành cụ thể trong nền kinh tế quốc dân, đất đai lại có những vị trí, vai trò khác nhau
1.1.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
1.1.2.1 Nhân tố điều kiện tự nhiên
- Điều kiện tự khí hậu: các yếu tố khí hậu ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện tự nhiên sinh hoạt của con người
- Điều kiện đất đai (địa hình và thổ nhưỡng)
Địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp, đặt ra yêu cầu xây dựng đồng ruộng để thủy lợi hóa và cơ giới hóa Đối với đất phi nông nghiệp, địa hình phức tạp sẽ ảnh hưởng tới giá trị công trình và gây khó khăn cho thi công, điều kiện thổ nhưỡng quyết định rất lớn đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Đặc thù của nhân tố điều kiện tự nhiên mang tính khu vực Vị trí địa lý của vùng với sự khác biệt về điều kiện tự ánh sáng, nhiệt độ nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác sẽ quyết định khả năng, công dụng và hiện quả sử dụng đất đai Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế nhằm đạt được hiệu ích cao nhất về xã hội, môi trường và kinh tế [17]
Trang 151.1.2.2 Nhân tố kinh tế - xã hội
Bao gồm các yếu tố như chế độ, dân số và lao động, thông tin và quản
lý, chính sách môi trường và chính sách đất đai, yêu cầu quốc phòng, sức sản xuất và trình độ phát triển của kinh tế hàng hóa, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuận vào sản xuất
1.1.3 Các khái niệm liên quan đến quản lý, sử dụng đất của các tổ chức
Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại Chương II, Điều 18 quy định: "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài"
Theo Luật Đất đai năm 2013, một số khái niệm liên quan đến các tổ chức quản lý, sử dụng đất được hiểu như sau:
- Nhà nước giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất đai bằng quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất
- Nhà nước cho thuê đất là việc Nhà nước trao QSDĐ bằng hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất
- Nhà nước công nhận QSDĐ đối với người đang sử dụng ổn định là việc Nhà nước cấp giấy chứng nhận QSDĐ lần đầu cho người đó
- Nhận chuyển QSDĐ là việc xác lập quyền sử dụng đất do được người khác chuyển QSDĐ theo quy định của pháp luật thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho QSDĐ hoặc góp vốn bằng QSDĐ mà hình thành pháp nhân mới
- Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai
Trang 16Người sử dụng đất quy định tại Luật Đất đai năm 2013 liên quan đến tổ chức như sau:
- Tổ chức trong nước gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị
xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức sự nghiệp công lập, và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự (sau đây gọi chung là tổ chức) được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận QSDĐ; tổ chức kinh tế nhận chuyển QSDĐ
- Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất
- Tổ chức nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật về đầu tư được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất
Theo Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, một số khái niệm liên quan đến các tổ chức quản lý, sử dụng đất được hiểu như sau:
- Sử dụng đất không đúng mục đích là hành vi sử dụng đất không đúng với mục đích sử dụng, loại đất ghi trong GCNQSDĐ hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất, quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất hoặc giấy tờ khác
Trang 17dụng đất do được Nhà nước tạm giao hoặc mượn đất nhưng hết thời hạn tạm giao, mượn đất mà không trả lại đất
1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài
1.2.1 Cơ sở pháp lý liên quan đến sử dụng đất của các tổ chức
Nhằm mục đích quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai một cách hợp
lý và bền vững, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã nghiên cứu và ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý đất đai;
mà bước đột phá đầu tiên là Luật Đất đai năm 1993, sửa đổi năm 1998, năm
2001 tiếp đến là Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 hiện hành Bên cạnh đó nhiều bộ luật liên quan khác cũng đã được ban hành như Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật Bảo vệ môi trường và các nghị định, thông
tư và văn bản hướng dẫn thi hành Luật
Sau đây là những cơ sở pháp lý liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất của các tổ chức được nghiên cứu để thực hiện đề tài:
- Luật Đất đai năm 2013;
- Luật bảo vệ và phát triển rừng;
- Luật Bảo vệ Môi trường 2014;
- Luận Dân sự 2015;
- Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính Phủ sửa đổi,
bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai;
- Nghi định 35/2017/NĐ-CP ngày 3/4/2017 Quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước trong khu kinh tế, khu công nghệ cao;
- Nghị định số 85/CP của Chính phủ ngày 17/12/1996 quy định việc thi hành pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất và Chỉ thị số 245/TTg ngày 22 tháng 4 năm 1996;
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai 2013;
- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất;
Trang 18- Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định
về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Nghị định 104/2014/NĐ- CP ngày 14/11/2014 của Chính Phủ quy định
về khung giá đất;
- Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính Phủ quy định
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
- Thông tư 02/2015/TT-BTNMT hướng dẫn Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ
- Thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
- Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính;
- Thông tư 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất;
- Thông tư 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/06/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất;
- Thông tư 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường Quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư hướng dẫn thi hành luật đất đai;
Trang 19- Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết phương pháp định giá đất; xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất;
- Thông tư số 89/2017/TT-BTC ngày 23/8/2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 35/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 của Chính Phủ quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thuê mặt nước trong khu kinh tế, khu công nghệ cao
- Thông tư 53/2017/TT-BTNMT về quy định ngưng hiệu lực thi hành Khoản 5 Điều 6 Thông tư 33/2017/TT-BTNMT
- Quyết định 2778/2014/QĐ-UBND ngày 24/11/2014 của UBND tỉnh Quảng Ninh quy định tiếp nhận, giải quyết thủ tục, thời gian các bước thực hiện thủ tục về đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Cộng đồng dân cư và cơ sở tôn giáo; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư; tổ chức, cá nhân nước ngoài; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
1.2.2 Những quy định của Nhà nước trong công tác giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức
* Căn cứ để giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất
1 Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
2 Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
* Giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác
Việc Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được thực hiện sau khi cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quyết định thu hồi đất theo quy định của Luật này và phải thực
Trang 20hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật đối với trường hợp phải giải phóng mặt bằng
* Giao đất không thu tiền sử dụng đất
Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:
1 Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối được giao đất nông nghiệp trong hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật này;
2 Người sử dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên, đất xây dựng trụ sở cơ quan, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sử dụng vào mục đích công cộng không nhằm mục đích kinh doanh; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa không thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 55 của Luật này;
3 Tổ chức sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính sử dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp;
4 Tổ chức sử dụng đất để xây dựng nhà ở phục vụ tái định cư theo dự án của Nhà nước;
5 Cộng đồng dân cư sử dụng đất nông nghiệp; cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi nông nghiệp quy định tại Điều 159 của Luật này
* Giao đất có thu tiền sử dụng đất
Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:
1 Hộ gia đình, cá nhân được giao đất ở;
2 Tổ chức kinh tế được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà
ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê;
3 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê;
4 Tổ chức kinh tế được giao đất thực hiện dự án đầu tư hạ tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng
Trang 21* Nhà nước cho thuê đất
1 Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm hoặc thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê trong các trường hợp sau đây:
a) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối;
b) Hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức được giao quy định tại Điều 129 của Luật này;
c) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thương mại, dịch vụ; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm; đất cơ
sở sản xuất phi nông nghiệp;
d) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để xây dựng công trình công cộng
có mục đích kinh doanh;
đ) Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh; đất để thực hiện dự án đầu tư nhà ở để cho thuê;
e) Tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng đất xây dựng công trình sự nghiệp;
g) Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao sử dụng đất để xây dựng trụ sở làm việc
2 Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm đối với đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối hoặc sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh
Nhìn chung, đối với các tổ chức thì Luật Đất đai 2013 cũng có những điểm thay đổi đáng chú ý, cụ thể như sau:
Trang 22Về giao đất, cho thuê đất: Luật Đất đai 2003 quy định các đơn vị vũ
trang nhân dân có sử dụng đất, các tổ chức, cơ quan sử dụng để xây dựng trụ
sở, công trình sự nghiệp thì được giao đất không thu tiền; Theo Luật Đất đai
2013, thì các tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, các đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối hoặc sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh phải chuyển sang thuê đất (điểm e khoản 1, khoản 2 Điều 56; khoản 2 Điều 60 Luật Đất đai 2013) Bên cạnh đó, chủ thể sử dụng đất là các tổ chức được giao đất không thu tiền sử dụng đất cũng được Luật Đất đai 2013 quy định, ngoài tổ chức sử dụng đất để xây dựng nhà ở phục vụ tái định cư theo dự án của Nhà nước thì chỉ còn bao gồm các tổ chức sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính
sử dụng đất để xây dựng công trình sự nghiệp
Về thời hạn sử dụng đất: Về cơ bản, thời hạn giao đất, cho thuê đất cho
các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế của Luật Đất đai 2003 với Luật Đất đai
2013 là giống nhau Tuy nhiên, theo Luật Đất đai 2013, đối với các đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối hoặc sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh phải chuyển sang thuê đất thì thời hạn sử dụng đất không quá 50 năm; với các tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, các công trình công cộng có mục đích kinh doanh thì thời hạn sử dụng đất không quá 70 năm (Điều 126 Luật Đất đai 2013)
Về đất nông nghiệp: Quy định đối với sử dụng đất nông nghiệp của tổ
chức của Luật Đất đai 2013 là đầy đủ và chi tiết hơn so với Luật Đất đai 2003 khi quy định phải rà soát hiện trạng sử dụng đất, lập phương án sử dụng đất trong đó phải xác định rõ diện tích, ranh giới sử dụng, diện tích từng loại đất được giữ lại sử dụng, thời hạn sử dụng đất, diện tích đất bàn giao cho địa phương Bên cạnh đó cũng nêu trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối
Trang 23với việc rà soát, phê duyệt phương án sử dụng đất; giao đất, cho thuê đất theo phương án sử dụng đất được phê duyệt; thu hồi diện tích đất không sử dụng,
sử dụng không đúng mục đích, giao khoán, cho thuê, cho mượn trái pháp luật,
bị lấn, bị chiếm… Ngoài ra, theo Luật Đất đai 2013, tổ chức kinh tế đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành phải chuyển sang thuê đất (khoản 3, Điều 133, Luật Đất đai 2013)
Về đất phi nông nghiệp: Luật Đất đai 2013 đã hoàn thiện hơn quy định
về chế độ sử dụng đất cho khu công nghiệp, khu công nghệ cao và khu kinh
tế Khi sử dụng đất thì phải đồng thời lập quy hoạch, xây dựng khu nhà ở, công trình công cộng nằm ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất phục vụ đời sống người lao động làm việc trong khu công nghiệp, khu chế xuất; quy hoạch, xây dựng khu nhà ở, công trình công cộng nằm ngoài khu công nghệ cao để phục vụ đời sống chuyên gia, người lao động làm việc trong khu công nghệ; việc lập khu kinh tế mới phải phù hợp với quy hoạch tổng thể hệ thống các khu kinh tế trong cả nước (Điều 149, Điều 150, Điều 151) Bên cạnh đó, Luật Đất đai 2013 cũng bổ sung quy định việc sử dụng đất cảng hàng không, sân bay dân dụng (Điều 156), đất xây dựng công trình ngầm (Điều 161)
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.3.1 Tình hình quản lý, sử dụng đất của một số nước trên thế giới
* Tại Liên bang Nga:
Sau khi Liên bang Xô Viết tan rã, năm 1991 Liên bang Nga tiến hành cuông cuộc cải tổ sở hữu đất đai, công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai song song với sở hữu Nhà nước Giai đoạn cải tổ đất hiện nay ở Liên bang Nga gắn liền với kế hoạch chuyển sang phương pháp quản lý đất đai bằng kinh tế Với tiêu chí quản chặt quỹ đất của Nhà nước, chính sách đất đai của liên bang Nga vẫn tồn tại việc giao đất không thu tiền sử dụng đất với thời
Trang 24hạn “ lâu dài ” cho các Tổ chức dùng để xây dựng trụ sở cơ quan, công trình
sự nghiệp, các công trình công cộng, phúc lợi xã hội,… (Điều 20, 21, chương 4, luật đất đai liên bang Nga năm 2011) tuy nhiên hình thức này hiện không được khuyến khích và gần như không tiếp tục thực hiện Nhà nước
mở rộng cho thuê đất như là một hình thức sử dụng đất đặc biệt đối với đất ở
đô thị
* Tại Hàn Quốc:
Hàn Quốc có diện tích đất 99.392 Km2 trong đó rừng chiếm 66%; đất nông nghiệp 21,4% ; 7% là các loại đất khác và đất ở đô thị chỉ chiếm 4,8% Quá trình đô thị hóa ở Hàn Quốc diễn ra manh mẽ trong các thập niêm 60 đến 90 của thế kỷ XX Quá trình này có đặc điểm nổi bật ở tốc độ cao và tập trung về không gian
Đô thị hóa tốc độ cao và sự tăng vọt dân số đô thị đã dẫn đến những vấn đề khó khăn trong quản lý và sử dụng đất đô thị ở Hàn Quốc như hoạt động đầu cơ đất đai trên phạm vi lớn, lợi nhuận từ gia tăng giá từ đất đai chỉ dồn vào một nhóm chủ đất giầu có, các mâu thuẫn xã hội chất chứa do đầu
cơ đất đai sẽ không chỉ gây cản trở cho phát triển kinh tế mà còn có nguy cơ phá vỡ cơ cấu chính trị xã hội của quốc gia Tuy nhiên Hàn Quốc đã vượt qua được các khó khăn này một cách khá thành công nhờ ban hành một loạt các giải pháp về chống đầu cơ đất đã được chính phủ ban hành gồm:
- Hợp nhất tất cả các hệ thống định giá đất của chính phủ lại thành một
hệ thống duy nhất, hệ thống này phản ánh đúng giá trị trên thị trường của lô đất và là cơ sở để tính thuế lô đất đó
- Thuế được đánh trên diện tích tổng hợp của tất cả các lô đất của chủ
sở hữu (dù chúng ở các vị trí khác nhau) Thuế này gọi là thuế nắm giữ đất tổng hợp nhằm nắm rõ sự thừa thãi quá mức của một chủ sở hữu hay nhu cầu giả về nắm giữ đất (đầu cơ đất) Trên cơ sở đó sẽ đánh thuế lũy kế tiến lên những diện tích đầu cơ và do đó khuyến khích họ bán đi các phần đất này làm tăng nguồn cung cấp trên thị trường đất đai
Trang 25- Ba giải pháp mới có tên gọi là giải pháp “Gong-kae-nyom” bao gồm: + Giới hạn về việc nắm giữ đất dân cư ở đô thị: đây là biện pháp bổ sung cho hệ thống đánhthuế tổng hợp nhằm mục đích cơ bản là ép buộc chủ đất bán số đất thừa ra Theo đạo luật thì không có hộ gia đình hay công ty nào được sở hữu đất dân cư vượt quá 200 py-ôm (660m2 ) Phần sở hữu vượt quá giới hạn này được đề nghị bán đi Nếu chủ đất không chịu bán thì phần đất dư sẽ bị đánh thuế “ nắm giữ đất đai quá mức” với mức chịu thuế cao khoảng 7 – 11 % trong giá trị thị trường của diện tích đất thừa đó Số thuế này sẽ được thu hàng năm cho đến khi chủ đất bán đi phần đất thừa đó
do tập đoàn nhà nước đại diện cho chính quyền trung ương hay địa phương được giảm 50%
+ Thuế lợi nhuận từ giá trị đất (thuế lợi nhuận từ đất đai thừa ngoài tiêu chuẩn) Đấy là giải pháp gián tiếp cản trở các chủ đất nắm giữ đất với mục đích đầu cơ Mặc dù có những tranh cãi về thuế này đánh trên các lợi nhuận chưa được thu vào, do đó vi phạm nguyên tắc đánh thuế 2 lần, tức đánh lên lợi nhuận thu được từ việc bán đất nhưng đây là biện pháp cứng rắng của chính quyền nằm đánh vào việc tập trung tài sản quá mức vào một nhóm những người giàu có do đầu cơ đất đai buộc họ bán ra, điều tiết lại nguồn cung cấp
để giảm giá đất đai, thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển
Trang 26vệ, bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, khu vực bờ sông, đất ngấp nước, sông hồ, suối, đường giao thông, các tòa nhà công cộng Tư nhân chủ yếu nắm giữ quyền sở hữu đất cho sản xuất, đặc biệt là đất nông nghiệp
- Quyền và nghĩa vụ của việc sử dụng đất
Nhà nước quy định đất phải sử dụng đúng mục đích, đặc biệt là đất nông nghiệp Đất nông nghiệp chỉ có thể được sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp sau khi được phòng đăng ký đất đai địa phương thông qua
Trang 27Các chủ sở hữu có quyền sử dụng tài sản của mình theo cách mình muốn, tuy nhiên phải phù hợp với pháp luật và các quy định của nhà nước, không gây tổn hại hoặc ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên khác Công dân Hungary có thể được góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thành lập doanh nghiệp
- Công dân Hungary có thể được góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thành lập doanh nghiệp
- Các phương thức bán đất, cho thuê đất
+ Phương thức bán đất của nhà nước: thực hiện theo phương thức bán đấu giá công khai, mọi đối tượng đều có quyền tham gia đấu giá hoặc thông qua mua cổ phiếu
+ Phương thức cho thuê đất: thực hiện theo giá thị trường Đối tượng cho thuê là các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa, các cá nhân, tổ chức trong nước, cá nhân và tổ chức nước ngoài
Nhìn chung, việc quản lý, sử dụng đất nói chung và đất của các tổ chức kinh tế nói riêng ở các nước phát triển dựa trên cơ chế thị trường nhưng có
sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, nhà nước chủ yếu thực hiện trao quyền sử dụng đất, quyền sở hữu đất thông qua bán đấu giá đất và cho thuê đất theo giá thị trường Nhờ có giá đất sát giá thị trường nhà nước mới có kết quả tính toán tài chính đúng liên quan đến đất đai và qua đó dùng công cụ tài chính (đánh thuế) để điều khiển sự vận động lưu thông đất đai theo kế hoạch
vĩ mô của mình, người sử dụng đất có cơ sở để tính toán những bài toán kinh
tế của mình trên giá cả đất đai sát với giá thị trường Nhờ đó đất đai được vận động, tự động phân phối vào các quy trình khai thác hợp lý, có hiệu quả,
sự vận động này là sự vận động tự giác điều tiết qua cơ chế thị trường nhưng
có sự điều khiển quản lý vĩ mô của nhà nước
Trang 28* Pháp:
Các chính sách quản lý đất đai ở Cộng hoà Pháp được xây dựng trên một
số nguyên tắc chỉ đạo quy hoạch không gian, bao gồm cả chỉ đạo quản lý sử dụng đất đai và hình thành các công cụ quản lý đất đai
Ở Pháp, chính sách quản lý sử dụng đất canh tác rất chặt chẽ để đảm bảo sản xuất nông nghiệp bền vững và tuân thủ việc phân vùng sản xuất Sử dụng đất nông nghiệp, luật pháp quy định một số điểm cơ bản sau:
Việc chuyển đất canh tác sang mục đích khác, kể cả việc làm nhà ở cũng phải xin phép chính quyền cấp xã quyết định Nghiêm cấm việc xây dựng nhà trên đất canh tác để bán cho người khác
Thực hiện chính sách miễn giảm thuế, được hưởng quy chế ưu tiên đối với một số đất đai chuyên dùng để gieo hạt, đất đã trồng hoặc trồng lại rừng, đất mới dành cho ươm cây trồng
Khuyến khích việc tích tụ đất nông nghiệp bằng cách tạo điều kiện thuận lợi để các chủ đất có nhiều mảnh đất ở các vùng khác nhau có thể đàm phán với nhau nhằm tiến hành chuyển đổi ruộng đất, tạo điều kiện tập trung các thửa đất nhỏ thành các thửa đất lớn
Việc mua bán đất đai không thể tự thực hiện giữa người bán và người mua, muốn bán đất phải xin phép cơ quan giám sát việc mua bán Việc bán đất nông nghiệp phải nộp thuế đất và thuế trước bạ Đất này được ưu tiên bán cho những người láng giềng để tạo ra các thửa đất có diện tích lớn hơn
Ở Pháp có cơ quan giám sát việc mua bán đất để kiểm soát hoạt động mua bán, chuyển nhượng đất đai Cơ quan giám sát đồng thời làm nhiệm vụ môi giới và trực tiếp tham gia quá trình mua bán đất Văn tự chuyển đổi chủ
sở hữu đất đai có Toà án Hành chính xác nhận trước và sau khi chuyển đổi Đối với đất đô thị mới, khi chia cho người dân thì phải nộp 30% chi phí cho các công trình xây dựng hạ tầng, phần còn lại là 70% do kinh phí địa phương chi trả
Trang 29Ngày nay, đất đai ở Pháp ngày càng có nhiều luật chi phối theo các quy định của các cơ quan hữu quan như quản lý đất đai, môi trường, quản lý đô thị, quy hoạch vùng lãnh thổ và đầu tư phát triển
1.3.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trong phạm vi cả nước
Theo Quyết định số 3873/QĐ-BTNMT ngày 25/12/2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt và công bố kết quả thống kê đất đai năm
2017 [1], tính đến 31/12/2017 như sau:
Theo nhóm đất sử dụng, tổng diện tích tự nhiên của cả nước là
33.123.568 ha, trong đó 31.018.263 ha đã được sử dụng vào các mục đích nông nghiệp, phi nông nghiệp, chiếm 93,64% tổng diện tích tự nhiên; trong đó: nhóm đất nông nghiệp 27.268.589 ha, chiếm 82,32% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 87,91% tổng diện tích đất đã sử dụng; nhóm đất phi nông nghiệp 3.749.674 ha, chiếm 11,32% tổng diện tích tự nhiên và chiếm 12,09 % tổng diện tích đất đã sử dụng; còn 2.105.305 ha đất chưa được sử dụng vào các mục đích, chiếm 6,36% tổng diện tích tự nhiên cả nước
Trang 30với biến đổi khí hậu đặc biệt là sau đợt hạn hán ở Miền Trung, Tây Nguyên
và hạn hán xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long
Đối với đất phi nông nghiệp đặt biệt là đất ở và đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp biến động tăng, chủ yếu do xây dựng các công trình công cộng, hình thành các cơ sở sản xuất kinh doanh, khu dân cư trong đô thị, các tuyến dân cư nông thôn do nhu cầu tăng dân số
Đất chưa sử dụng tiếp tục được đưa vào sử dụng cho mục đích nông nghiệp, trồng rừng, khoanh nuôi rừng với quy mô khác nhau, đất chưa sử dụng là đất bãi bồi ven biển, đã được khai thác để đưa vào sử dụng, trong những năm tới những vùng đất bãi bồi ven biển cũng phải được quy hoạch, trồng rừng lấn biển, góp phần phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm, thu nhập cho nông dân và cải thiện môi trường sinh thái ở các địa phương
Dự án tổng thể đo đạc, đăng ký cấp giấy chứng nhận, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý đất đai được các địa phương tích cực thực hiện
Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập, hạn chế như công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh vẫn còn những hạn chế, chưa phát huy được tiềm năng đất đai, hiệu quả sử dụng đất chưa cao; tình trạng giao đất, cho thuê đất nhưng chưa đưa vào sử dụng quá thời hạn quy định còn nhiều và phổ biến
ở nhiều địa phương, ở mọi loại đối tượng sử dụng đất; công tác lập, cập nhật, chỉnh lý bổ sung hồ sơ địa chính, biến động đất đai, kiểm tra, phát hiện, xử lý những vi phạm về đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai chưa kịp thời; diện tích đất trồng lúa nước còn manh mún, chậm hình thành các mô hình phát triển vùng chuyên canh, các cánh đồng mẫu lớn
Trang 31* Tình hình sử dụng đất của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Theo các loại đối tượng sử dụng, quản lý, diện tích đất đã được giao cho các loại đối tượng sử dụng là 26.818.605 ha, chiếm 80,97% tổng diện tích tự nhiên Trong đó, hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng 15.890.492 ha, chiếm 47,97% tổng diện tích tự nhiên, bằng 59,25% diện tích đất của các đối tượng
sử dụng; các tổ chức trong nước đang sử dụng 10.532.516 ha, chiếm 31,80% tổng diện tích tự nhiên và bằng 39,27% diện tích đất đã giao cho các đối tượng sử dụng; tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài sử dụng 46.667 ha, chiếm 0,17% diện tích đất đã giao cho các đối tượng sử dụng; cộng đồng dân
cư và cơ sở tôn giáo đang sử dụng là 348.930 ha, chiếm 1,30% diện tích đất
đã giao cho các đối tượng sử dụng Diện tích đất giao cho các đối tượng để quản lý là 6.304.963 ha, chiếm 19,03% tổng diện tích tự nhiên của cả nước (trong đó: Ủy ban nhân dân cấp xã đang quản lý 4.950.754 ha; tổ chức phát triển quỹ đất đang quản lý 6.285 ha; cộng đồng dân cư và tổ chức khác được giao quản lý 1.347.924 ha)
Nhìn chung, việc áp dụng quy định về các điều kiện để được giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013 đã bước đầu sàng lọc được các nhà đầu tư kém năng lực; hạn chế đáng kể việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất tràn lan, sử dụng kém hiệu quả và để hoang hóa so với trước đây [2]
* Tình hình xử lý sai phạm trong công tác quản lý, sử dụng đất của các
tổ chức trên phạm vi cả nước
Trong những năm qua công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai; đã kịp thời ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết nhằm tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo của công dân; Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức nhiều hội
Trang 32nghị, có nhiều văn bản chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung
và khiếu nại, tố cáo đông người nói riêng; các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương đã có nhiều cố gắng và tích cực phối hợp giải quyết khiếu nại,
tố cáo của công dân Từ sự tập trung, cố gắng đó, tình hình khiếu nại, tố cáo trong quản lý, sử dụng đất đai đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhiều "điểm nóng", nhiều vụ việc phức tạp, tồn đọng, kéo dài đã được giải quyết, góp phần phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước Từ năm
2012 đến năm 2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiếp 2.672 lượt công dân và nhận được 20.813 đơn khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai của 10.162
vụ việc, còn lại là đơn trùng và không đủ điều kiện xử lý (trung bình mỗi năm khoảng 3.500 đơn, giảm nhiều so với trước đây1 ) Kết quả xử lý, phân loại đơn cho thấy, nội dung đơn tập trung vào khiếu nại hành chính về đất đai như bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, cấp và thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cưỡng chế thu hồi đất (chiếm khoảng 70% tổng số đơn), còn lại là đòi đất cũ (chiếm khoảng 7%), tranh chấp đất đai (chiếm khoảng 12%), tố cáo sai phạm về đất đai (chiếm 11%) Trong 10.162 vụ việc, chỉ có 338 vụ việc (chiếm 3,3%) thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Tài nguyên và Môi trường,
có 8.580 vụ việc (chiếm 84%) thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương, còn lại là thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan khác Đối với 338 vụ việc thuộc thẩm quyền, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã giải quyết được 324
vụ việc, trong đó đã công nhận 265 vụ việc do địa phương giải quyết đúng pháp luật, 59 vụ việc sửa, hủy hoặc yêu cầu địa phương giải quyết lại Trong
03 năm (2014 - 2016), toàn ngành tài nguyên và môi trường đã tiến hành 6.028 cuộc thanh tra, kiểm tra (trong đó 3.388 cuộc thanh tra và 2.640 cuộc kiểm tra) đối với 4.061 tổ chức và 580 cá nhân2 Kết quả, đã xử 1 Trước năm
2012 mỗi năm Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận được từ 6.000 đến 10.000 lượt đơn 2Thanh tra trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp 133 cuộc,
Trang 33thanh tra, kiểm tra chuyên đề lĩnh vực đất đai 3.689 cuộc; thanh tra, kiểm tra kết hợp nhiều lĩnh vực 1.328 cuộc; kiểm tra việc thực hiện kết luận sau thanh tra 878 cuộc 7 phạt vi phạm hành chính 541 tổ chức, cá nhân sử dụng đất với tổng số tiền 21.657 triệu đồng; truy thu, thu hồi nộp ngân sách 1.005,485 triệu đồng của 55 tổ chức; kiến nghị thu hồi 16.755 ha đất của 250 tổ chức; thu hồi
228 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với 18 tổ chức Qua thanh tra, kiểm tra tại cơ quan quản
lý nhà nước cho thấy công tác lập, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn các tỉnh cơ bản đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật Tuy nhiên, tại các địa phương được thanh tra, kiểm tra vẫn còn tình trạng lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất chưa sát với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, việc thực hiện không đạt chỉ tiêu hoặc thực hiện quá chỉ tiêu quy hoạch,
kế hoạch phê duyệt; thực hiện giao đất, cho thuê đất, xác định nghĩa vụ tài chính về đất, thực hiện thủ tục hành chính chưa đúng quy định Đối với các
tổ chức, cá nhân sử dụng đất các vi phạm chủ yếu là sử dụng đất không đúng mục đích, không sử dụng đất hoặc tiến độ thực hiện dự án chậm so với tiến độ ghi trong dự án được duyệt, chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính, lấn, chiếm đất đai [2]
* Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức
Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo đẩy mạnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (giấy chứng nhận), tập trung xây dựng hệ thống thông tin đất đai, cơ sở dữ liệu đất đai và đã được các địa phương quan tâm tổ chức thực hiện Đến nay, trên địa bàn cả nước đã cơ bản hoàn thành việc cấp Giấy chứng nhận lần đầu cho hầu hết các đối tượng đang sử dụng đất dựa trên các loại bản đồ khác nhau (bản
đồ địa hình, bình đồ ảnh, sơ đồ, bản trích đo địa chính, bản 3 đồ địa chính ) đạt tỷ lệ 96,9% diện tích cần cấp; trong đó đất sản xuất nông nghiệp đạt 92,9%, đất lâm nghiệp đạt 98,2%, đất nuôi trồng thuỷ sản đạt 86,1%, đất ở
Trang 34nông thôn đạt 96,1%, đất ở đô thị đạt 98,3%, đất chuyên dùng đạt 86,9%, cơ
sở tôn giáo đạt 83,6%
Đặc biệt, trong 6 tháng đầu năm 2018, Tổng cục đã tổng hợp các trường hợp còn tồn đọng chưa được cấp GCN lần đầu và phân tích nguyên nhân vướng mắc để đề xuất các giải pháp thực hiện hoàn thành công tác cấp GCN lần đầu trên phạm vi cả nước Trong đó, việc tồn đọng chủ yếu do, người dân chưa kê khai đăng ký chiếm 34,1%; do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho từ ngày 1/1/2008 trở về sau, đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất chiếm 10,7%; phải thực hiện nghĩa vụ tài chính nhưng không nộp
và không có nhu cầu ghi nợ chiếm 5,4%; hồ sơ chưa hoàn thành thủ tục chia thừa kế chiếm 5,2%; đất lấn chiếm giao trái thẩm quyền không phù hợp quy hoạch chiếm 3,6%; chưa hoàn thành thủ tục báo cáo rà soát hiện trạng sử dụng đất chiếm 0,98%; còn lại là các trường hợp như: đất công ích nằm trong cùng thửa đất, sử dụng đất có nguồn gốc vi phạm pháp luật, tranh chấp đất đai, vướng trong xác định hạn mức đất ở
Kết quả này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai, bảo đảm điều kiện pháp lý cho người sử dụng đất thực hiện các quyền, nghĩa vụ hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật đất đai Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai cấp tỉnh gắn với xây dựng Văn phòng đăng ký đất đai một cấp Hiện đã có 132/713 đơn
vị cấp huyện xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu địa chính (chiếm 18,5% trên tổng số huyện), đây là nền tảng quan trọng để xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai thống nhất, phục vụ đa mục tiêu và vận hành Chính phủ điện tử [2]
1.3.3 Tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Theo Báo cáo số 7711/BC-TBMT ngày 20/12/2018 về kết quả công tác quản lý nhà nước về Tài nguyên và Môi trường năm 2018 và phương hướng nhiệm vụ năm 2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường [25], tình hình quản lý, sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh như sau:
Trang 35a) Tình hình giao đất, cho thuê đất, gia hạn sử dụng đất, thu hồi đất
Các thủ tục hành chính về giao đất, cho thuê đất được giải quyết kịp thời qua Trung tâm Hành chính công tỉnh, đúng thời gian giải quyết; Sở đã phối hợp với các địa phương tham mưu kịp thời Ủy ban nhân dân tỉnh danh mục dự án thu hồi đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ và danh mục các dự án nhà nước thu hồi đất trình Hội đồng Nhân dân tỉnh thông qua để đảm bảo giải quyết các thủ tục cho các dự án đầu tư
Năm 2018, đã trình thuê đất cho 160 tổ chức với diện tích 1.566,38 ha, giao đất cho 60 tổ chức với diện tích 384,61 ha, thu hồi đất của 48 tổ chức với diện tích 2908,11 ha (trong đó thu hồi do vi phạm pháp luật đất đai 08 dự án với diện tích là 86,99 ha), gia hạn cho 35 tổ chức với diện tích 790,08 ha Toàn tỉnh có 2.928 tổ chức sử dụng đất đang sử dụng diện tích đất là 296.330 ha chiếm 47,96% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, tỷ lệ sử dụng đúng mục đích được giao, thuê là 94,8% Trường hợp tổ chức sử dụng đất để cho thuê trái phép, cho mượn hoặc chuyển nhượng trái pháp luật chiếm tỷ lệ 2,9%
b) Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức
Đầu năm 2013, Quảng Ninh là một trong 22 tỉnh có tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) thấp của cả nước Trước tình hình đó, ngày 16-1-2013, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã họp bàn và thống nhất ban hành Chỉ thị số 15-CT/TU về tăng cường lãnh đạo công tác cấp GCNQSDĐ, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Sau hơn 1 năm thực hiện Chỉ thị, công tác này có chuyển biến rõ rệt, trong đó nhiều địa phương đạt kết quả cao như Đầm Hà, Hải Hà, Bình Liêu, Hạ Long, Đông Triều
Theo số liệu thống kê từ Sở Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), đến ngày 31-12-2013 tỉnh đã hoàn thành việc cấp GCNQSDĐ đối với trên 95% diện tích đủ điều kiện cấp Cụ thể: Về đất ở đô thị, toàn tỉnh đã cấp được 185.455 giấy với diện tích 5.342,79ha, đạt 91,11% diện tích cần cấp, đạt
Trang 3695,05% diện tích đủ điều kiện cấp; đất ở nông thôn, đã cấp được 119.667 giấy với diện tích 3.657,6ha, đạt 91,85% diện tích cần cấp, đạt 97,92% diện tích đủ điều kiện cấp; đất chuyên dùng đã cấp được 5.784 giấy với diện tích 20.013ha, đạt 86,36% diện tích cần cấp, đạt 96,17% diện tích đủ điều kiện cấp; đất sản xuất nông nghiệp, đã cấp được 106.350 giấy với diện tích 42.391,62ha, đạt 93,68% diện tích cần cấp, đạt 96,8% diện tích đủ điều kiện cấp; đất lâm nghiệp, đã cấp được 38.622 giấy với diện tích 304.004,04ha, bằng 91,56% diện tích cần cấp, đạt 96,16% diện tích đủ điều kiện cấp Cùng với đó, tỉnh cũng đã tập trung tháo gỡ nhiều vướng mắc về cơ chế chính sách,
vì vậy đã giải quyết được nhiều hồ sơ tồn đọng trong nhiều năm qua
Quảng Ninh có diện tích đất lâm nghiệp khá lớn, chiếm khoảng 60% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Tuy nhiên, công tác quản lý, cấp GCNQSDĐ đối với loại đất này gặp nhiều khó khăn, vướng mắc cần được tháo gỡ Trước những khó khăn, vướng mắc trên, UBND tỉnh giao cho Sở TN&MT, Sở NN&PTNT rà soát và kiên quyết xử lý, thu hồi diện tích đất rừng mà các doanh nghiệp đã được giao nhận nhưng sử dụng không hiệu quả, giao cho các
hộ dân có nhu cầu thật sự để sản xuất, phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng
từ đất rừng Đồng thời, Sở Tài nguyên và Môi trường đã làm việc với các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng, đề nghị các đơn vị này rà soát diện tích đất đang quản lý sử dụng Qua đó, lập hồ sơ điều chỉnh ranh giới giao đất và GCNQSDĐ đã cấp theo đúng diện tích thực tế đang quản lý Bởi diện tích đất lâm nghiệp của tổ chức chưa được cấp GCNQSDĐ là 86.554,16ha, tập trung chủ yếu là đất của 11 đơn vị đang sử dụng đất là các ban quản lý rừng, các công ty lâm nghiệp, các tổ chức được giao quản lý đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng Sở Tài nguyên và Môi trường đã báo cáo UBND tỉnh có văn bản chỉ đạo tháo gỡ vướng mắc về giao đất giao rừng theo Thông tư 07/2011 của liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Bộ Tài nguyên và Môi trường Hiện nay, Sở Tài nguyên và Môi trường đang đôn đốc đơn vị tư vấn đẩy
Trang 37nhanh tiến độ đo vẽ hiện trạng quản lý sử dụng đất, cắm mốc ranh giới đối với các tổ chức này để phục vụ công tác giao đất và cấp GCNQSDĐ Nhờ những giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong đất lâm nghiệp, đến hết 30-9 tỷ
lệ cấp giấy đất lâm nghiệp đã đạt 87,49%, hoàn thành tiến độ theo chỉ đạo của UBND tỉnh
Theo số liệu thống kê từ Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Quảng Ninh, tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2017, tỉnh Quảng Ninh đã có 1.951 tổ chức được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đạt 87 % số tổ chức cần cấp giấy, số lượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp là 2.556 giấy và diện tích đã cấp là 102.325 ha, đạt 85,02% diện tích cần cấp giấy Riêng năm
2018, số hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là 326 hồ sơ tương ứng với 2030 giấy chứng nhận cấp cho các tổ chức
c) Công tác thanh tra, kiểm tra
Công tác tiếp công dân; tiếp nhận, xử lý đơn khiếu nại tố cáo được quan tâm thực hiện thường xuyên, qua công tác tiếp công dân tích cực phổ biến pháp luật để người dân hiểu cơ chế chính sách qua đó, người dân rút đơn khiếu nại Trong năm 2018, Sở đã tiếp 05 lượt công dân với tổng số 41 người; tiếp nhận và xử lý 195 đơn khiếu nại, tố cáo chủ yếu về lĩnh vực đất đai Trong đó, đã hướng dẫn chuyển đơn 110 trường hợp, giải quyết xong 63 đơn, vận động rút đơn khiếu nại 09 trường hợp, số đơn còn lại đang trong giai đoạn giải quyết
Công tác thanh tra, kiểm tra: Trên cơ sở Kế hoạch thanh tra, kiểm tra của Tỉnh và thực hiện chủ đề công tác năm 2018, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành thanh tra, kiểm tra trên 100 doanh nghiệp về việc chấp hành pháp luật, đất đai, môi trường, khoáng sản và đã ban hành 56 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền trên 5,06 tỷ đồng Ngoài ra tổ chức thanh tra hành chính về công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với Ủy ban nhân dân huyện Bình Liêu
Trang 38d) Sử dụng vào mục đích khác
Toàn tỉnh có 50 tổ chức sử dụng vào mục đích khác với diện tích 30,05
ha, trong đó số tổ chức sử dụng vào mục đích làm nhà ở là 31 tổ chức với diện tích 10,62 ha, số tổ chức sử dụng vào mục đích kinh doanh phi nông nghiệp là 19 tổ chức với diện tích 19,43 ha; phần lớn diện tích sử dụng vào mục đích khác tập trung ở các tổ chức kinh tế với 25 tổ chức sử dụng làm nhà
ở và 13 tổ chức sử dụng làm đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp và Uỷ ban nhân dân cấp xã với 8 tổ chức sử dụng làm nhà ở với diện tích 5,45 ha ở Hoành Bồ, Uông Bí, Cẩm Phả, Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà
e) Tình hình tranh chấp, lấn chiếm
Diện tích đất đang tranh chấp, bị lấn, bị chiếm chủ yếu xảy ra trong các loại hình tổ chức như tổ chức kinh tế, quốc phòng an ninh, nông lâm trường Nguyên nhân chủ yếu do một số tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sau khi bàn giao đất ngoài thực địa không tổ chức ngay việc xây dựng hàng rào dẫn đến quản lý ranh giới đất gặp khó khăn do đó dễ xẩy ra tình trạng bị lấn, bị chiếm
Mặt khác đối với các tổ chức là các Công ty lâm nghiệp được giao, thuê đất lâm nghiệp, các đơn vị quốc phòng được giao đất làm thao trường, bãi tập
có diện tích lớn và địa hình phức tạp, nhiều diện tích chưa được sử dụng còn
để hoang hoá dẫn đến tình trạng bị lấn, chiếm Một số hộ dân sử dụng đất ở gần với đất của các lâm trường ý thức chấp hành pháp luật đất đai kém nên th ường có hịên tượng vi phạm pháp luật đất đai
Một số tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng đã có tình trạng lấn, chiếm đất của các lâm trường bên cạnh do đó diện tích khi triển kiểm kê đợt này đã tăng có tổ chức tăng gấp 2 đến 3 lần diện tích được giao, thuê
Trang 39f) Tình hình đất chưa đưa vào sử dụng của các tổ chức
Diện tích đất chưa sử dụng của các tổ chức có 299.719,49 ha, chiếm 3,83% diện tích đất của các tổ chức đang quản lý, sử dụng, phần lớn là diện tích đất đã giao nhưng chưa đưa vào sử dụng hoặc đã sử dụng nhưng hiện còn để hoang hoá
Diện tích đất chưa sử dụng tập trung chủ yếu ở nông, lâm trường (51,36%),
tổ chức sự nghiệp công (40,15%), các tổ chức kinh tế (6,88%), ủy ban nhân dân cấp xã (0,87%) Nguyên nhân là do một số tổ chức thiếu năng lực về tài chính nên khi được giao đất, thuê đất đã không thực hiện đúng tiến độ của dự án hoặc không thực hiện
Thời gian gần đây, mô hình thủ tục hành chính công (TTHCC) của tỉnh Quảng Ninh thu hút nhiều đơn vị trong cả nước tới tham quan, học tập kinh nghiệm Đây được xem là tín hiệu tích cực trong việc xây dựng một nền hành chính minh bạch, hiệu quả
Kể từ khi được Chính phủ đồng ý cho thí điểm thành lập trung tâm hành chính công tỉnh và tỉnh Quảng Ninh đã chủ động đưa vào hoạt động 14 trung tâm hành chính công cấp huyện đến nay đã cơ bản đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng hành chính phục vụ người dân và doanh nghiệp
Quảng Ninh đã thực hiện nghiêm túc việc công khai, minh bạch của cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh Trong đó chú trọng công khai các thủ tục hành chính công, các dự án, quy hoạch; đổi mới quy trình, thủ tục giao dịch trong giải quyết công việc với công dân và doanh nghiệp
Trang 40Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài lựa chọn và chia thành 3 nhóm đơn vị, tổ chức gồm: Nhóm các cơ quan hành chính nhà nước; Nhóm Tổ chức kinh tế và Nhóm các tổ chức khác
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Vân Đồn - tỉnh Quảng Ninh
- Thời gian: Thống kê, đánh giá tình hình sử dụng đất của các tổ chức sử dụng đất từ năm 2014 đến 2018
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01 năm 2018 - tháng
12 năm 2018
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Vân Đồn, thực trạng quản lý và hiện trạng sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện Vân Đồn
- Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
- Điều kiện kinh tế - xã hội
- Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và cảnh quan môi trường ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của các tổ chức trên địa bàn huyện Vân Đồn - tỉnh Quảng Ninh thông qua việc đánh giá thuận lợi, khó khăn
- Thực trạng quản lý Nhà nước về đất đai
- Hiện trang sử dụng đất của các tổ chức ở huyện Vân Đồn
2.2.2 Đánh giá tình hình quản lý đất đai của các tổ chức trên địa bàn huyện Vân Đồn
- Kết quả đạt được