1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sản xuất rau má theo quy trình VietGAP huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

114 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 3,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Một số giải pháp để phát triển sản xuất rau má theo quy trình VietGAP như: Hoàn thiện quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng; ứng dụng quy trình VietGAP vào sản xuất, hiệu quả hoạt động s

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-- -

NGUYỄN NGỌC TIẾN

PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT RAU MÁ THEO QUY TRÌNH VIETGAP TẠI HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-- -

NGUYỄN NGỌC TIẾN

PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT RAU MÁ THEO QUY TRÌNH

VIETGAP TẠI HUYỆN QUẢNG ĐIỀN,

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

MÃ SỐ: 60 34 04 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN TÀI PHÚC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ “PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT RAU MÁ THEO QUY TRÌNH VIETGAP TẠI HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ” này là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Tài Phúc Các dữ liệu, kết quả phân tích, nhận xét, đánh giá nêu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành đề tài Luận văn Thạc sĩ của mình một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên, ủng hộ của gia đình và quý đồng nghiệp cơ quan, bạn bè trong suốt thời gian học tập và thực hiện nghiên cứu

Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn trân trọng và chân thành nhất đến PGS.TS Nguyễn Tài Phúc, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất trong suốt quá trình thực hiện Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học và quý Thầy, Cô giáo trường Đại học Kinh tế Huế đã quan tâm, nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Xin chân thành cảm ơn Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Quảng Điền, các phòng ban cấp huyện, đặc biệt là phòng Nông nghiệp và PTNT, Văn phòng HĐND và UBND huyện, Chi cục Thống kê huyện Quảng Điền, Trạm Khuyến Nông-lâm-ngư, UBND xã Quảng Thọ, Quảng Phú, HTX NN Quảng Thọ 1, Quảng Thọ 2, Phú Thuận đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình thực tập, cung cấp tài liệu và các số liệu liên quan để thực hiện Luận văn Cảm ơn quý lãnh đạo, cán

bộ công chức của các cơ quan, đơn vị đã nhiệt tình giúp đỡ nhiệt tình, hỗ trợ, hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ những tình cảm, lời cám ơn sâu sắc đến gia đình, những người thân, bạn bè và lãnh đạo, cán bộ phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Quảng Điền nơi tôi công tác đã tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận văn này

Quảng Điền, tháng 0 2 năm 2019

Tác giả luận văn

Trang 5

TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

Họ và tên học viên: NGUYỄN NGỌC TIẾN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60340410

Niên khóa: 2017-2019

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN TÀI PHÚC

Tên đề tài: PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT RAU MÁ THEO QUY TRÌNH

VIETGAP TẠI HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

1 Mục đích và đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Mục đích: Nghiên cứu, đánh giá thực trạng về sản xuất rau má theo quy trình

VietGAP huyện Quảng Điền trong những năm qua; đề xuất những giải pháp để phát triển quy mô diện tích trồng rau má VietGAP

- Đối tượng nghiên cứu: Tình hình sản xuất rau má theo quy trình sản xuất VietGAP tại huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài thực hiện nghiên cứu tại vùng trồng rau má huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế Số liệu thứ cấp được thu thập 03 năm, từ năm 2015-2017, sơ cấp được thu thập trong năm 2018

2 Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng: Phương pháp điều tra, thu thập thông tin, số liệu; phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu

3 Các kết quả nghiên cứu chính và kết luận

- Luận văn nghiên cứu thực trạng trồng rau má theo quy trình VietGAP tại huyện Quảng Điền Đánh giá đúng thực trạng đầu tư và phát triển rau má theo quy trình VietGAP

- Nghiên cứu mối quan hệ tác động đến việc áp dụng quy trình VietGAP trong trồng rau má; từ đó đưa ra những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển

và mở rộng quy mô trồng rau má VietGAP của huyện

- Một số giải pháp để phát triển sản xuất rau má theo quy trình VietGAP như: Hoàn thiện quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng; ứng dụng quy trình VietGAP vào sản xuất, hiệu quả hoạt động sản xuất, tiêu thụ rau má, liên kết sản xuất, thu hút

các doanh nghiệp; giải quyết tốt khâu tiêu thụ sản phẩm

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM LƯỢC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ ix

MỞ ĐẦU 1

1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT RAU MÁ AN TOÀN THEO QUY TRÌNH VIETGAP 6

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất 12

1.1.3 Các chỉ tiêu đo lường phát triển sản xuất rau 14

1.2 Sản xuất rau má theo quy trình VietGAP 18

1.2.1 Quy trình kỹ thuật và điều kiện trồng rau má an toàn theo quy trình VietGAP 18

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả trồng rau má VietGAP 24

1.3 Cơ sở thực tiễn về phát triển rau theo quy trình VietGAP 30

1.3.1 Kinh nghiệm trồng rau VietGAP ở một số địa phương trong nước 30

1.3.2 Kinh nghiệm trồng rau VietGAP cho huyện Quảng Điền 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT RAU MÁ THEO QUY TRÌNH VIETGAP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN,TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 34

I H ỌC

KINH

TẾ HU

Trang 8

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên

Huế 34

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 34

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Quảng Điền 35

2.1.3 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Quảng Điền ảnh hưởng đến hoạt động trồng rau má 38

2.2 Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất rau má theo quy trình VietGAP trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 41

2.2.1 Phát triển về quy mô diện tích và hộ sản xuất rau má áp dụng quy trình VietGAP huyện Quảng Điền 41

2.2.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế trồng rau má VietGAP trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 47

2.3 Thực trạng tiêu thụ rau má an toàn VietGAP trên địa bàn huyện Quảng Điền 52

2.3.1 Các chủ thể tham gia vào hoạt động tiêu thụ rau má VietGAP 52

2.3.2 Hoạt động của các chủ thể trong chuỗi giá trị 56

2.4 Đánh giá của các hộ điều tra và phát triển sản xuất rau má VietGAP ở huyện Quảng Điền 60

2.4.1 Đặc điểm chung của nhóm hộ 60

2.4.2.Chi phí sản xuất của các hộ điều tra 69

2.4.3 Tình hình sản xuất và hiệu quả kinh tế của các hộ điều tra 71

2.5 Những vấn đề thách thức đặt ra 73

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT RAU MÁ AN TOÀN THEO QUY TRÌNH VIETGAP Ở HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 76 3.1 Quan điểm, mục tiêu phát triển rau má an toàn VietGAP của huyện Quảng Điền trong thời gian tới 76

3.1.1 Quan điểm phát triển rau má an toàn VietGAP của huyện Quảng Điền trong thời gian tới 76

3.1.2 Mục tiêu phát triển rau má an toàn VietGAP của huyện Quảng Điền trong thời gian tới 77

3.1.3 Định hướng phát triển sản xuất rau má an toàn theo quy trình VietGAP ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 78

I H ỌC

KINH

TẾ HU

Trang 9

3.2 Một số giải pháp phát triển sản xuất rau má an toàn theo quy trình VietGAP ở

huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 79

3.2.1 Đẩy mạnh ứng dụng quy trình sản xuất rau má an toàn VietGAP, tăng cường quảng bá, giới thiệu sản phẩm 79

3.2.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể trong chuỗi giá trị 80

3.2.3 Tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa nhà nông và nhà doanh nghiệp 81

3.2.4 Nâng cao vai trò của nhà nước trong việc liên kết, hỗ trợ doanh nghiệp, nông dân 81

3.2.5 Tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết các khâu trong chuỗi giá trị 82

3.2.6 Hoàn thành công tác quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, thích ứng với biến đổi khí hậu 83

3.2.7 Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, tổ chức đào tạo, tập huấn kỹ thuật, nâng cao kiến thức cho người nông dân 84

3.2.8 Ứng dụng công nghệ cao, xây dựng mô hình sản xuất thâm canh, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm 84

PHẦN III.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

I.Kết luận 85

II.Kiến nghị 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 92 QUYẾT ĐỊNH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

BIÊN BẢN CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 1+2

BẢN GIẢI TRÌNH

XÁC NHẬN HOÀN THIỆN LUẬN VĂN

I H ỌC

KINH

TẾ HU

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Lượng phân bón cho rau má (tính bình quân cho 500m2) 20

Bảng 2.1: Tình hình dân số huyện Quảng Điền giai đoạn 2015-2017 35

Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu kinh tế huyện Quảng Điền giai đoạn 2015-2017 36

Bảng 2.3: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Quảng Điền 37

Bảng 2.4 Biến động diện tích rau má qua các năm 40

Bảng 2.5 Biến động sản lượng rau má qua các năm 41

Bảng 2.6 Biến động số hộ trồng rau má qua các năm 41

Bảng 2.7: Tình hình và kết quả rau má VietGAP huyện Quảng Điền 47

Bảng 2.8: Tình hình và kết quả rau má thông thường huyện Quảng Điền 45

Bảng 2.9 So sánh giá trị sản xuất của cây lúa và rau má an toàn trong năm 2017 50

Bảng 2.10 Số lượng cá nhân, tổ chức tham gia thu mua rau má 52

Bảng 2.11: Đặc điểm chung của nhóm hộ điều tra 60

Bảng 2.12: Đặc điểm về điều kiện tổ chức sản xuất 62

Bảng 2.13 Về tiêu thụ sản phẩm cho người sản xuất 63

Bảng 2.14 Về tham gia để chứng nhận quy trình VietGAP 65

Bảng 2.15 Về áp dụng sản xuất rau má theo quy trình VietGAP 67

Bảng 2.16: Cơ cấu chi phí trồng rau giữa 2 hình thức trồng (bình quân 1.000m2) 69 Bảng 2.17: TRHiệu quả kinh tế vụ sản xuất năm 2018 phân theo hình thức trồng 71 ƯỜ

I H ỌC

KINH

TẾ HU

Trang 11

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ

Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 34

Sơ đồ 1: Sơ đồ chuỗi giá trị rau má an toàn tại huyện Quảng Điền 53

Sơ đồ 2: Hoạt động sản xuất và mối quan hệ trực tiếp với hoạt động khác 56

Trang 12

MỞ ĐẦU

1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Ngày nay, khi nền kinh tế ngày một phát triển, đời sống xã hội ngày càng được nâng cao thì nhu cầu về thực phẩm an toàn càng tăng lên về số lượng và chất lượng để bảo vệ sức khỏe cho con người và môi trường Trong xã hội hiện đại, ngoài nhu cầu lớn về mặt kinh tế, thu nhập, thì sức khỏe luôn là ưu tiên hàng đầu,

và bao giờ người ta cũng nghĩ đến thực phẩm an toàn, trong đó có rau an toàn, rau

má an toàn Rau má là loại thực phẩm ngoài việc sử dụng trong bữa ăn hàng ngày của con người như nấu chín hoặc ăn sống, nó còn được sử dụng làm nước giải khát như làm sinh tố, trà rau má khô, túi lọc, cao rau má, rau má đóng chai Rau má không những mang lại những dưỡng chất thiết yếu cho con người, mà còn là một mặt hàng có giá trị kinh tế lớn Rau má an toàn là cây trồng mang lại hiệu quả kinh

tế cao, góp phần nâng cao đời sống, tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, cải tạo môi trường sinh thái, bảo vệ sức khỏe con người, ngoài ra nó còn góp phần làm tăng giá trị sản xuất trong phát triển kinh tế của địa phương

Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, là khu vực có khí hậu giao thoa giữa hai miền nên có thể trồng rau má quanh năm, mang lại giá trị và hiệu quả kinh tế cao Huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế là một địa phương có mô hình sản rau má an toàn duy nhất của Thừa Thiên Huế và khá lớn so với cả nước, với diện tích sản xuất 56 ha, sản lượng bình quân hàng năm đạt trên 2.904 tấn/năm, giá trị sản xuất đạt trên 300 triệu/ha Trong 56 ha rau má, hiện nay đã được cấp chứng nhận rau an toàn VietGAP 40 ha Quảng Điền được biết đến là một địa phương có kinh nghiệm trồng rau má nhiều năm nay và thuận lợi

là đất đai có địa hình cao ráo, xung quanh có con sông Bồ chảy qua, hàng năm có lượng phù sa bồi đắp lớn, đất tơi xốp, nguồn nước dồi dào rất thuận lợi cho mô hình trồng rau má Diện tích trồng rau má của huyện Quảng Điền chủ yếu tập trung tại các cánh đồng lớn và có một số diện tích nhỏ lẻ trong trong vườn nhà, đây là một diện tích tương đối lớn, là điều kiện thuận lợi để triển khai mô hình trồng rau má an toàn phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân trong và ngoài tỉnh Ngoài ra, rau má

Trang 13

an toàn tại huyện Quảng Điền ngoài việc nấu chín, rau còn có thể ăn sống hoặc xay làm sinh tố giải khát, nên cần phải sản xuất theo quy trình VietGAP nhằm đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm là rất cần thiết, tránh được tình trạng ngộ độc thức ăn thường hay xảy ra ở nhiều địa phương trong cả nước

Tuy nhiên, bên cạnh những hiệu quả kinh tế đạt được thì đến nay, ở đây vẫn còn nhiều hộ nông dân trồng trọt tự túc, hoạt động dựa trên kinh nghiệm của mình, nhiều trường hợp người dân đôi lúc còn lúng túng trong việc xử lý các tình huống rau bị hư hại, bị sâu ăn lá không thể tự tìm ra nguyên nhân và mỗi hộ gia đình lại tự tìm cho mình một cách giải quyết khác nhau Nhận thức, ý thức của người dân về sản xuất rau an toàn, thực phẩm rau sạch vẫn còn nhiều hạn chế, sản xuất vốn kỹ thuật còn thấp, kiến thức về sử dụng thuốc và phân bón chưa đúng quy trình và hiệu quả, rác thải bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng còn chưa được thu gom tập trung Sản xuất rau má an toàn tại huyện chưa thực sự phát triển mạnh, thu nhập của người sản xuất rau an toàn vẫn chưa cao bởi quá trình tiêu thụ rau an toàn còn gặp phải một số khó khăn, trở ngại vì thị trường tiêu thụ còn khó khăn, người tiêu dùng chưa thực sự tin tưởng sản phẩm rau má là rau an toàn và một số lượng lớn khách hàng chưa biết đến sản phẩm này Quá trình tiêu thụ sản phẩm rau má an toàn còn mang tính tự phát, chưa có hệ thống đồng bộ, chưa xây dựng được chuỗi giá trị nên người dân sản xuất rau má an toàn ra chưa tìm được nơi tiêu thụ thật ổn định,

mà chủ yếu thông qua thương lái, thông qua HTX hoặc mang ra chợ bán như rau thường, đặc biệt là một số chính sách ưu tiên, tìm kiếm thị trường cho người sản xuất rau má an toàn chưa có cho dù đã có sự quan tâm của các cấp chính quyền Mặc dù đã có dện tích đã được cấp chứng nhận VietGAP là khá lớn (40/56 ha), nhưng sản phẩm bán trên thị trường giữa rau má an toàn trồng theo quy trình VietGAP và rau má thông thường vẫn còn gần như ngang nhau, chỉ có cao hơn 200đ/kg rau, và người tiêu dùng chưa phân biệt được, chỉ có tin tưởng vào người bán hàng, nguyên nhân là chưa có nhiều doanh nghiệp tham gia hợp đồng cam kết sản xuất và thu mua sản phẩm, chưa có bao bì mẫu mã đầy đủ, nên không truy xuất nguồn gốc được, vẫn còn tình trạng mua bán tự do, mạnh ai nấy bán

Trang 14

Từ thực trạng cấp bách đó của rau má an toàn, bản thân chọn đề tài để làm

luận văn thạc sĩ là“Phát triển sản xuất rau má theo quy trình VietGAP tại huyện

Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” nhằm góp phần vào sự phát triển chung của

huyện nhà, đặc biệt là đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và giải quyết đầu ra cho sản phẩm, từng bước xây dựng thương hiệu rau má Quảng Điền, tiếp tục

mở rộng quy mô sản xuất, từ đó nâng cao thu nhập của người nông dân, góp phần xây dựng huyện Quảng Điền sớm trở thành huyện nông thôn mới

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu, đánh giá thực trạng về sản xuất rau má theo quy trình VietGAP gắn với thực hiện chuỗi giá trị nghề trồng rau má an toàn VietGAP huyện Quảng Điền trong những năm qua; đề xuất những giải pháp để phát triển rau má VietGAP nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trồng rau má của địa phương trong những năm đến

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề lý luận và thực tiễn về quy trình sản xuất VietGAP, thực hiện chuỗi giá trị gắn với tiêu thụ sản phẩm rau má an toàn VietGAP tại huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 15

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Phương pháp thu thập số liệu

Những thông tin phục vụ cho việc nghiên cứu được thu thập từ nguồn tài liệu thứ cấp và sơ cấp

- Thông tin, số liệu thứ cấp: Tài liệu về đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế

- xã hội, tình hình trồng rau má, đặc biệt là trồng rau má theo quy trình VietGAP trong các năm trở lại đây của huyện Quảng Điền được tổng hợp thông qua tài liệu

từ các văn bản, báo cáo của Huyện ủy, UBND huyện, phòng Nông nghiệp và PTNT, Trạm Khuyến Nông lâm ngư, UBND xã Quảng Thọ, xã Quảng Phú, HTX

NN Quảng Thọ 1, Quảng Thọ 2, HTX NN Phú Thuận,…

- Thông tin, số liệu sơ cấp: Trước khi thu thập số liệu sơ cấp, tôi thu thập ý

kiến của các chuyên gia là nhà lãnh đạo, quản lý tại địa phương, cán bộ phòng Nông nghiệp và PTNT, các kỹ sư, cán bộ phụ trách lĩnh vực trồng trọt ở các HTX, trao đổi và tham khảo kinh nghiệm với các hộ trồng rau má điển hình ở địa phương để làm cơ sở cho việc tiến hành điều tra Thông tin sơ cấp được thu thập thông qua:

Điều tra chọn mẫu, phỏng vấn trực tiếp dùng bảng hỏi Theo đó, người phỏng vấn sẽ nêu câu hỏi đã được chuẩn bị và ghi chép câu trả lời

+ Về địa bàn chọn mẫu:

Quảng Điền chỉ có 02 xã Quảng Thọ, Quảng Phú có diện tích trồng rau má lớn, nên chọn 02 xã Quảng Thọ, Quảng Phú để tiến hành điều tra chọn mẫu

+ Kích thước mẫu điều tra: 80 hộ

+ Phương pháp chọn mẫu: phương pháp ngẫu nhiên không lặp Tiến hành chọn ngẫu nhiên 80 hộ để tiến hành điều tra, thu thập số liệu; trong đó Quảng Thọ

70 mẫu, Quảng Phú 10 mẫu

4.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích

4.2.1 Phương pháp hạch toán kinh tế

Trong quá trình thực hiện luận văn, phương pháp hạch toán kinh tế được sử dụng để tính toán các chỉ tiêu kết quả và hiệu quả kinh tế trồng rau má theo quy trình VietGAP, thông thường của các hộ, sử dụng phần mềm máy tính Microsoft Excel

Trang 16

4.2.2 Phương pháp phân tổ thống kê

Sử dụng phương pháp này để hệ thống hóa và phân tích các số liệu đã được điều tra, qua đó nhận biết tính quy luật của quá trình sản xuất và hiệu quả kinh tế trồng rau má theo quy trình VietGAP của các hộ Từ phương pháp này có thể tìm hiểu mối liên hệ lẫn nhau của các nhân tố riêng biệt như: quy mô diện tích cho từng

hộ, quy trình sản xuất, chủng loại phân, thuốc, thu hoạch, các chủ thể theo chuỗi giá trị, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm rau má an toàn,… qua đó chúng ta có thể đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sản xuất và hiệu quả kinh tế trồng rau má của các hộ

4.2.4 Phương pháp so sánh

Sản xuất và hiệu quả kinh tế của việc trồng rau má được tính toán, lượng hóa thông qua hệ thống các chỉ tiêu khác nhau như: ứng dụng quy trình VietGAP hoặc trồng thông thường, quy mô cho từng hộ, năng suất, tổng giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị gia tăng, thu nhập, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả … Hệ thống các chỉ tiêu

đó phản ánh mức độ đạt được của từng hình thức Chính vì vậy, khi đánh giá mức độ sản xuất và hiệu quả kinh tế, cần so sánh mức độ đạt được của từng chỉ tiêu khác nhau

từ đó rút ra các nhận xét và đưa ra những kết luận cần thiết phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài

5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất rau má an toàn theo quy trình VietGAP

Chương 2: Thực trạng phát triển sản xuất rau má theo quy trình VietGAP trên địa bàn huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

Chương 3: Giải pháp phát triển sản xuất rau má an toàn theo quy trình VietGAP ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 17

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN

XUẤT RAU MÁ AN TOÀN THEO QUY TRÌNH VIETGAP

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất

1.1.1 Khái niệm

* Về sản xuất

Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?, sản xuất cho ai?, giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm?

Sản xuất là một quá trình, là sự kết hợp của các loại nguyên liệu đầu vào vật chất và phi vật chất (kế hoạch, bí quyết…) khác nhau để nhằm tạo ra thứ gì đó cho tiêu dùng (sản phẩm) Đó là hoạt động tạo ra sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ, có giá trị sử dụng và mang lại ích lợi cho người sử dụng

Khái niệm sản xuất trong tài khoản Quốc gia Liên Hiệp Quốc khi xây dựng phương pháp thống kê tài khoản quốc gia đã đưa ra định nghĩa sau về sản xuất: Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế (một chủ thể kinh tế có quyền sở hữu tích sản, phát sinh tiêu sản và thực hiện các hoạt động, các giao dịch kinh tế với những thực thể kinh tế khác) để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ thành sản phẩm là vật chất và dịch vụ khác Tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng

có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền.[20]

* Về sản xuất nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản

Trang 18

Sản xuất nông nghiệp là việc chúng ta có vốn ban đầu là đất, là nước, là giống cây trồng, vật nuôi ta sẽ tự sản xuất nông sản trên chính những gì mình có

Sản xuất nông nghiệp không chỉ là làm ra lương thực, thực phẩm mà nó còn bao gồm cả khâu sơ chế và chế biến sản phẩm để có thể đưa ra tiêu thụ bên ngoài thị trường

Trong sản xuất nông nghiệp thì ta có thể chia thành các loại sản phẩm như: Sản xuất lương thực: lúa, gạo

Sản xuất hoa màu: các loại rau, củ, quả

Sản xuất các loại hạt: lạc, đỗ, điều, tiêu, cà phê,…

Sản xuất thịt, trứng từ vật nuôi: gà, vịt, lợn, trâu bò, cá, tôm,…

Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:

- Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai

- Nông nghiệp chuyên sâu: là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán ra trên thị trường hay xuất khẩu Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự

cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi [21]

* Về trồng trọt

Theo Luật trồng trọt, trồng trọt là ngành kinh tế - kỹ thuật trong nông nghiệp

có liên quan đến việc gieo trồng cây nông nghiệp, cây cảnh và nấm ăn để phục vụ

Trang 19

mục đích của con người Hoạt động trồng trọt bao gồm hoạt động về giống cây trồng; phân bón; canh tác; thu hoạch, sơ chế, bảo quản, chế biến, thương mại và quản lý chất lượng sản phẩm cây trồng

Canh tác là quá trình con người sử dụng tài nguyên thiên nhiên, trang thiết

bị, vật tư nông nghiệp và áp dụng quy trình sản xuất để tạo ra các sản phẩm cây trồng khác nhau Giống cây trồng là một quần thể cây trồng có thể phân biệt được với quần thể cây trồng khác thông qua sự biểu hiện của ít nhất là một đặc tính và di truyền được cho đời sau; đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống; có giá trị canh tác, giá trị sử dụng; bao gồm giống cây nông nghiệp, giống cây dược liệu, giống cây cảnh và giống nấm ăn Sản phẩm cây trồng là bộ phận thu hoạch của cây nông nghiệp, cây cảnh và nấm ăn Cây hằng năm là loại cây được gieo trồng, cho thu hoạch và kết thúc chu kỳ sản xuất trong thời gian không quá 01 năm, kể cả cây hằng năm lưu gốc [11]

* Nguyên tắc hoạt động trồng trọt

- Phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn với định hướng thị trường, phù hợp với chiến lược phát triển trồng trọt, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và các nguồn tài nguyên khác; tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hợp tác, liên kết sản xuất, xây dựng vùng sản xuất hàng hóa tập trung, sản xuất có hợp đồng, sản xuất được chứng nhận chất lượng; bảo đảm an ninh lương thực; bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của tổ chức, cá nhân

- Sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, bền vững tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng; sử dụng an toàn và hiệu quả các loại vật tư nông nghiệp

- Tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng môi trường đất, nước, quy trình sản xuất; bảo đảm an toàn thực phẩm, an toàn sinh học, an toàn dịch bệnh và bảo vệ môi trường

- Phát huy lợi thế vùng, gắn với bảo tồn giống cây trồng đặc sản, giống cây trồng bản địa; bảo vệ hệ thống canh tác bền vững, di sản, cảnh quan, văn hóa trong nông nghiệp gắn với phát triển du lịch sinh thái và xây dựng nông thôn mới

Trang 20

- Chủ động dự báo, phòng, chống thiên tai và sinh vật gây hại cây trồng; thích ứng với biến đổi khí hậu

- Đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; tuân thủ điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên [11]

* Về hiệu quả sản xuất

Trong doanh nghiệp hoặc nền sản xuất xã hội nói chung, người ta hay nhắc đến

“sản xuất có hiệu quả”, “sản xuất không hiệu quả” hay “sản xuất kém hiệu quả” Vậy hiệu quả kinh tế là gì? Xuất phát từ các góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế học đã đưa ra rất nhiều quan điểm về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp , có thể khái quát như sau:

- Hiệu quả theo quan điểm của Mác, đó là việc “tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động sống và lao động vật hoá giữa các ngành” và đó cũng chính là quy luật “tiết kiệm và tăng năng suất lao động “ hay tăng hiệu quả "Mác cũng cho rằng

“nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở hết thảy mọi xã hội"

- Vận dụng quan điểm của Mác, các nhà kinh tế học Xô Viết cho rằng “hiệu quả là sự tăng trưởng kinh tế thông qua nhịp điệu tăng tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân với tốc độ cao nhằm đáp ứng yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội ” [15]

- Theo quan điểm của các nhà kinh tế học thị trường, đứng đầu là Paul A Samuelson và Wiliam D Nordhalls cho rằng, một nền kinh tế có hiệu quả, một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì các điểm lựa chọn đều nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó và “ hiệu quả có ý nghĩa là không lãng phí ” Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội “hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác Mọi nền kinh

tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó ”

- Khi bàn về khái niệm hiệu quả, các tác giả Đỗ Kim Chung, Phạm Vân Đình, Trần Văn Đức, Quyền Đình Hà thống nhất là cần phân biệt rõ ba khái niệm cơ bản về hiệu quả: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế

Trang 21

+ Hiệu quả kỹ thuật: Là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên chi phí đầu vào Hiệu quả kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng nguồn nhân lực cụ thể, nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm

+ Hiệu quả phân bổ các nguồn lực: Là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố sản phẩm

và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm

về đầu vào hay nguồn lực

+ Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp

- Một số quan điểm khác lại cho rằng, hiệu quả được hiểu là mối quan hệ tương quan so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Kết quả sản xuất ở đây được hiểu là giá trị sản phẩm đầu ra, còn lượng chi phí bỏ ra là giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối quan hệ so sánh này được xem xét về cả hai mặt (so sánh tuyệt đối

và so sánh tương đối) Như vậy, một hoạt động sản xuất nào đó đạt được hiệu quả cao chính là đã đạt được mối quan hệ tương quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra

kỹ thuật, tức là hiệu quả kinh tế của phần đầu tư thêm

- Theo ý kiến của một số nhà kinh tế khác thì những quan điểm nêu trên chưa toàn diện, vì mới nhìn thấy ở những góc độ và khía cạnh trực tiếp Vì vậy, khi xem xét hiệu quả kinh tế phải đặt trong tổng thể kinh tế - xã hội, nghĩa là phải quan tâm tới các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội như nâng cao mức sống, cải thiện môi trường…

Như vậy, hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh và trình độ của mọi hình thái kinh tế -

xã hội ở các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh

Trang 22

doanh cũng khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và mục đích yêu cầu của từng đơn vị sản xuất Tuy nhiên, mọi quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh đều thể hiện một điểm chung nhất Đó là tiết kiệm nguồn lực để sản xuất ra khối lượng sản phẩm tối đa Vì vậy có thể hiểu hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh một cách bao quát như sau:

Hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và tiết kiệm chi phí các nguồn lực đó trong quá trình sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh

* Khái niệm về rau má

Rau má còn có tên khác là tích huyết thảo, tên khoa học là Centella asiatica (L.), thuộc họ hoa tán (Apiaceae/Umbeliferae) Rau má hoang dại là loại rau ăn lá

bản địa, nên được gọi là rau tạp tàng trong dân gian Bộ phận sử dụng là cả cây,

lá, thân, rễ Rau má có thể ăn sống, muối dưa, luộc chín, nấu canh, xay lá làm nước giải khát, làm trà Rau má có tác dụng chống nhiễm trùng, giải độc, giải nhiệt và lợi tiểu, cầm máu (khi chảy máu chân răng, thổ huyết và chảy máu cam)

và đã được Cục vệ sinh an toàn thực phẩm chứng nhận là thực phẩm chức năng

Rau má là cây thân thảo sống đa niên, mọc bò lan, phân nhánh nhiều trên mặt đất Rễ mọc từ các mấu (các mắt đốt) của thân Lá có cuống dài hình thận hoặc gần tròn, mép lá tai bèo Vì lá tròn như gò má con người nên dân gian thường gọi là rau

má Trong tự nhiên, rau má thường mọc ở những nơi đất ẩm, mát, có thể thu hái quanh năm, lá là bộ phận được sử dụng nhiều nhất

Rau má có khả năng thích nghi rộng, có thể chống chịu tốt với các điều kiện bất lợi, sinh trưởng nhanh Nhiệt độ thích hợp cho rau má từ 18-30oC, ưa mát mẻ và

ẩm độ đất cao (70 - 80%), cường độ ánh sáng mạnh trong suốt thời kỳ sinh trưởng Rau má có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau nhưng do rễ rau má là rễ chùm ăn cạn (0-20 cm) nên các loại đất thịt nhẹ, cát pha, phù sa ven sông giữ nước tốt, giàu mùn, tơi xốp là thích hợp nhất để trồng rau má [20]

Trang 23

* Khái niệm về VietGAP

VietGAP (Vietnamese Good Agricultural Practices) là Quy trình thực hành

sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành;

VietGAP là những nguyên tắc, trình tự, thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản

xuất, thu hoạch, xử lý sau thu hoạch nhằm đảm bảo an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm

Mục tiêu của VietGAP

Ngăn ngừa có tính hệ thống đối với việc mất an toàn thực phẩm trong suốt quá trình từ sản xuất đến thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch nhằm giảm thiểu các mối nguy trong thực hành nông nghiệp tốt VietGAP bao gồm an toàn thực phẩm, giữ gìn môi trường, sức khỏe an toàn và phúc lợi xã hội cho người lao động

Vì sao phải tiến hành VietGAP?

- Rau, quả mất an toàn vệ sinh thực phẩm gây ngộ độc cho người tiêu dùng, cản trở xuất khẩu

- Yêu cầu của thị trường thế giới, là chìa khóa để hội nhập WTO

- Chứng chỉ GAP là lợi thế so sánh về sản xuất rau quả của Việt Nam

Rau an toàn VietGAP là những sản phẩm rau tươi bao gồm tất cả các loại rau

ăn củ, thân, lá, hoa, quả có chất lượng đúng với đặc tính giống của chúng, hàm lượng các chất hóa độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, an toàn cho người tiêu dùng và môi trường thì được coi là đảm bảo

an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là rau an toàn

Rau an toàn VietGAP phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

An toàn về chất lượng: Khi sản phẩm rau không chứa các dư lượng dưới đây vượt ngưỡng cho phép: Thuốc bảo vệ thực vật; Hàm lượng nitrat; Kim loại nặng và

vi sinh vật gây hại

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất

 Những nhân tố thuộc về môi trường vĩ mô

- Những yếu tố thuộc về tiến bộ khoa học kỹ thuật: Các hoạt động sản xuất kinh doanh phải đi theo trào lưu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế Do đó

Trang 24

sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật có thể tạo ra nhiều thuận lợi cho quá trình thực hiện và vận hành dự án đầu tư nhưng cũng có thể gây ra những rủi ro cho dự án đầu

tư chẳng hạn như: nếu đối thủ của doanh nghiệp tiếp cận với tiến bộ khoa học kỹ thuật trước thì họ có khả năng cạnh tranh về giá cả và chất lượng sản phẩm từ đó đưa đến những rủi ro cho dự án đầu tư về mặt giá cả hàng hoá, tiêu thụ sản phẩm

- Những yếu tố kinh tế: Những nhân tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư bao gồm: khả năng tăng trưởng GDP-GNP trong khu vực thực hiện dự

án đầu tư; tình trạng lạm phát; tiền lương bình quân; tỷ giá hối đoái; những lợi thế

so sánh của khu vực so với những nơi khác Sự thay đổi của một trong những nhân

tố này dù ít hay nhiều cũng tác động đến dự án Do đó, trước lúc đầu tư chủ đầu tư phải đánh giá một cách tỷ mỉ những yếu tố này để đảm bảo chức năng sinh lời và bảo toàn vốn của dự án

Qua việc xem xét, đánh các yếu tố trên, ta mới sơ bộ nhận định được hiệu quả kinh tế của dự án cũng như các yếu tố rủi ro có thể xảy ra để đưa ra biện pháp phòng ngừa

- Những yếu tố thuộc về chính sách của nhà nước: Chiến lược đầu tư có sự chi phối từ các yếu tố về chính trị và chính sách của Nhà nước Bởi vậy, trong suốt quá trình hoạt động đầu tư đều phải bám sát theo những chủ trương và sự hướng dẫn của Nhà nước: cần chú trọng đến các mối quan hệ quốc tế đặc biệt là các nhân

tố hội nhập ASEAN và bình thường hoá quan hệ Việt Mỹ, các chủ trương chính sách của nhà Nước về thực hiện công cuộc đổi mới và mở cửa xem đó là những nhân tố quyết định đến chiến lược đầu tư dài hạn của chủ đầu tư

- Những nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên: Trong qúa trình xây dựng và triển khai các dự án đầu tư không thể không chú trọng đến các điều kiện tự nhiên nơi mà các dự án đi vào hoạt động bởi vì trên thực tế, các dự án đầu tư tại đây đều chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên Nếu các điều kiện tự nhiên ở tại dự án không thuận lợi sẽ ảnh hưởng đến tiến độ thi công của dự án điều đó có thể gây rủi

ro cho khả năng thu hồi vốn Ngược lại, nếu các điều kiện thuận lợi thì khả năng thu hồi vốn đầu tư là rất lớn

Trang 25

- Những nhân tố thuộc về văn hoá - xã hội: Khía cạnh văn hoá xã hội từ lâu

đã có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến công cuộc đầu tư: chẳng hạn như khi

dự án được triển khai và đi vào hoạt động thì nó phải được xem xét là có phù hợp với phong tục tập quán văn hoá nơi đó hay không, các điều lệ và quy định xã hội có chấp nhận nó hay không Đây là một yếu tố khá quan trọng, ảnh hưởng nhiều và lâu dài đối với dự án Do đó cần phân tích một cách kĩ lưỡng trước khi đầu tư để tối ưu hoá hiệu quả đầu tư

 Các yếu tố thuộc về môi trường vi mô

- Khả năng tài chính: đây là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu

tư Năng lực tài chính mạnh ảnh hưởng đến vốn, nguyên vật liệu, máy móc…cấp cho dự án và do đó ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng của dự án Năng lực tài chính của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế khác

- Năng lực tổ chức: có thể coi đây là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng nhiều nhất đến hiệu quả đầu tư Nếu năng lực tổ chức tốt sẽ nâng cao chất lượng dự

án, tiết kiệm chi phí và từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư

- Chất lượng nhân lực: mọi sự thành công của dự án đầu tư đều được quyết định bởi con người Do đó chất lượng của lao động cả về trí tuệ và thể chất có ảnh hưởng rất quan trọng đến kết quả hoạt động kinh doanh nói chung và kết quả hoạt động sản xuất nói riêng

- Trình độ khoa học, công nghệ: máy móc thi công hiện đại có ảnh hưởng lớn đến tiến độ và chất lượng của dự án, do đó ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất Ngoài

ra nó cũng ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp trong việc thu hút vốn đầu tư sản xuất và đấu thầu để có các dự án

1.1.3 Các chỉ tiêu đo lường phát triển sản xuất rau

1.1.3.1 Xác định các chỉ tiêu phát triển về quy mô, kết quả sản xuất

Theo quan điểm hệ thống, hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ đơn vị kinh tế nào đều là một quá trình tái sản xuất thống nhất có đầu ra là kết quả kinh tế

và đầu vào là chi phí đầu tư phát triển sản xuất (bao gồm cả chi phí cơ hội) Các chỉ

Trang 26

tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh được xác lập trên cơ sở so sánh giữa các yếu tố đầu ra với đầu vào Vì vậy, cần thiết phải xác định và lựa chọn những chỉ tiêu nào thể hiện kết quả kinh tế và chi phí đầu tư phát triển sản xuất

+ Giá trị tăng thêm

Đối với doanh nghiệp thương mại:

+ Sản lượng hàng hoá tiêu thụ trong kỳ

Chi phí sử dụng nguồn lực: Là toàn bộ các chi phí ban đầu làm điều kiện cần thiết cho sản xuất kinh doanh, được gọi là nguồn lực chủ yếu của doanh nghiệp Nó được thể hiện ở các chỉ tiêu sau:

+ Vốn đầu tư

+ Vốn sản xuất kinh doanh

+ Giá trị TSCĐ bình quân

+ Giá trị tài sản lưu động

+ Diện tích đất kinh doanh

+ Số lượng máy móc, thiết bị, phương tiện truyền dẫn và các tài sản chủ yếu khác

Trang 27

sản xuất kinh doanh, được gọi là chi phí sản xuất hàng năm Nó thường biểu hiện bằng các chỉ tiêu sau:

+ Diện tích đất gieo trồng (tính cả năm, hoặc theo vụ gieo trồng),

+ Tổng số thời gian làm việc của máy móc thiết bị hay phương tiện vận tải (tính theo ngày, ca hay giờ máy)

+ Tổng số thời gian làm việc của người lao động (tính theo ngày hay giờ làm việc)

1.1.3.2 Các chỉ tiêu về hiệu quả phát triển sản xuất

Hiệu quả sản xuất kinh doanh được đo lường bằng chỉ tiêu số tương đối cường độ, nghĩa là biểu thị quan hệ so sánh giữa lượng kết quả kinh tế thu được (Q: đầu ra) và lượng chi phí đầu tư (C: đầu vào) Ngoài ra, hiệu quả kinh tế cũng đo lường bằng số tuyệt đối, biểu thị sự chênh lệch tuyệt đối giữa kết quả thu được với toàn bộ chi phí đã bỏ ra Mối quan hệ này được xác lập theo các công thức sau:

Trong đó: H là hiệu quả kinh tế

Q là kết quả kinh tế thu được

C là giá trị đầu tư (chi phí)

H biểu thị mỗi đơn vị đầu vào có khả năng tạo ra nhiều đơn vị đầu ra H còn được dùng để xác định ảnh hưởng của hiệu quả sử dụng nguồn lực hay chi phí thường xuyên đến kết quả kinh tế

Trang 28

Hay: H = Q – C

Trong cách tính này, H thể hiện phần lợi nhuận (thu nhập thực tế) mà đơn

vị sản xuất kinh doanh thu lại được sau khi đã trừ toàn bộ chi phí

+ Dạng nghịch:

Q

C

E

Trong đó: E là hiệu quả kinh tế

Q là kết quả kinh tế thu được

C là giá trị đầu tư (chi phí)

E cho biết để có một đơn vị đầu ra cần bao nhiêu đơn vị đầu vào E được dùng làm cơ sở để xác định qui mô tiết kiệm hay lãng phí nguồn lực và chi phí thường xuyên

- Xác định theo nguyên lý cận biên

Theo nguyên lý cận biên, người ta chỉ quan tâm đến hiệu quả của phần mở rộng sản xuất hay đầu tư tăng thêm trong từng thời kỳ Bởi vậy, bên cạnh việc tính toán hiệu quả kinh tế toàn phần còn tính theo nguyên lý cận biên, có thể tính cả dạng tuyệt đối và tương đối Cụ thể:

Trong đó: Q là lượng kết quả tăng (giảm) thêm

C là lượng đầu tư tăng (giảm) thêm

Hb cho biết khi tăng thêm một đơn vị đầu vào có thể nhận thêm được bao nhiêu đơn vị đầu ra

Hay H = Q - C

Trong cách tính này H thể hiện phần kết quả dôi ra mà đơn vị thu lại sau khi

đã trừ chi phí tăng thêm

Trang 29

Trong đó: Q là lượng kết quả tăng (giảm)thêm

C là lượng đầu tư tăng (giảm) thêm

Eb cho biết để tăng thêm một đơn vị đầu ra cần bổ sung bao nhiêu đơn vị đầu vào

Trong đó: %Q là % lượng kết quả tăng (giảm)thêm

%C là % lượng đầu tư tăng (giảm) thêm

Hb cho biết để tăng thêm một % đơn vị đầu ra cần bổ sung bao nhiêu % đơn vị đầu vào

Các công thức tính toán trên đây có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá và phân tích hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh Các công thức tính theo nguyên lý cận biên là cơ sở để ra các quyết định đầu tư các yếu tố đầu vào như thế nào có hiệu quả cao, nhất là đầu tư tiến bộ khoa học kỹ thuật

1.2 Sản xuất rau má theo quy trình VietGAP

1.2.1 Quy trình kỹ thuật và điều kiện trồng rau má an toàn theo quy trình VietGAP

Quy định về sản xuất và chế biến rau an toàn theo quy trình VietGAP: Theo Quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN ngày 28/01/2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về ban hành quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả

tươi, an toàn, điều kiện sản xuất và chế biến đó là:

a Đất đai

Đất trồng rau má tốt nhất là đất phù sa giàu mùn, tơi xốp, giữ nước giữ phân tốt; hoặc đất cát pha Đất không bị ô nhiễm, đảm bảo tiêu chuẩn quy định chung khi sản xuất rau an toàn

Trang 30

b Nguồn nước

- Nước không ô nhiễm kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh

- Sử dụng nước tưới là nước sạch: Giếng khơi, giếng khoan Ngoài ra có thể tưới nước từ sông ngòi không ô nhiễm

- Nguồn nước tưới phải được giám sát hàng năm (đảm bảo tiêu chuẩn nước tưới cho rau an toàn - TCVN6773: 2000-)

c Giống

- Sử dụng giống rau má bản địa, có 2 loại: rau má xanh có thân lá màu xanh

và rau má tía (thân lá tía) Rau má tía ăn thơm ngon, đắng hơn rau má xanh Chọn 3 tốt (ruộng tốt, đám tốt, cây tốt), không bị sâu bệnh

- Cây đã bò trên luống hoặc mọc thành bụi, có nhiều dây là tốt nhất Lượng giống 20-25kg/sào

- Thời gian từ trồng đến thu lứa chính đầu tiên từ 2,5- 3 tháng (trước đó

có thể thu tỉa để cho rau phát triển đều trên đồng ruộng), sau đó cứ 25-30 ngày thu đợt tiếp theo

e Làm đất

Đất được cày bừa kỹ, bằng phẳng, sạch cỏ, phân thành những luống hoặc băng rộng 3- 4 m, cao 5-10 cm để thoát nước Nếu ruộng cao thoát nước tốt, không cần lên làm băng vì để rau má bò dày đều trên ruộng có tác dụng giữ ẩm và chống

Trang 31

- Phân bón trộn đều trong đất trên luống, lấp một lớp đất rồi trồng với khoảng cách (10cm x 10cm ) hoặc rạch các rãnh ngang trên luống, rãnh cách rãnh 10 cm, lấp một lớp đất mỏng

- Trồng cây trên rãnh, cây cách cây 10 cm, lấp đất, ấn chặt gốc, tưới nước giữ

ẩm, phủ luống bằng rơm để giữ ẩm và chống mưa to, cỏ dại

g Bón phân và chăm sóc

Yêu cầu về phân bón: - Toàn bộ phân chuồng phải ủ hoai mục và phân hữu

cơ sinh học được dùng để bón lót, tuyệt đối không được dùng phân tươi, phân chưa hoai mục

- Chế độ bón phân cho rau má là cây rau cần rễ phát triển nhiều, bò nhanh nên phải bón thêm lân và tro bếp để cây sinh trưởng nhanh và tăng chất lượng cho rau

Lượng phân bón: Lượng phân bón cho 500m2 rau má an toàn

Bảng 1.1: Lượng phân bón cho rau má (tính bình quân cho 500m 2 )

Loại phân

Tổng lượng phân bón (kg/sào)

Lượng phân bón lót (%)

Lượng phân bón thúc (%) Đợt 1 Đợt 2

Chăm sóc và bón phân ruộng rau trồng mới

- Bón lót: Toàn bộ phân chuồng hoai mục, phân lân super hoặc lân hữu cơ vi sinh, toàn bộ vôi bón lúc làm đất (vôi bón trước khi cày ải, cách thời gian trồng 7- 10 ngày)

- Bón thúc lần 1: Sau trồng 15 ngày khi rau má ra lá mới rộ, bón 40% NPK

- Bón thúc lần 2: Trước khi thu hoạch 20 ngày bón 60% NPK

Tưới nước đủ ẩm và xới xáo làm cỏ để cỏ dại không tranh chấp dinh dưỡng với cây trồng Phun thêm phân bón lá Vườn sinh thái, Antonnic hay humat, thời gian khoảng 10 ngày/lần để làm tăng năng suất lên 20- 30% mà vẫn đảm bảo chất lượng

Trang 32

Chăm sóc và bón phân ruộng rau đã thu hoạch

- Sau mỗi đợt thu hoạch, bón thúc phân hỗn hợp NPK 12kg/sào; phân hữu cơ

vi sinh 50kg/sào; bón cả 02 loại sau thu hoạch 5-6 ngày Tiếp tục phun phân bón lá như Vườn sinh thái, Atonnic hay Humat, thời gian khoảng 10 ngày/1 lần Có thể sử dụng các sản phẩm sinh học và có nguồn gốc sinh học như Trichomix, Biogro, Men

vi sinh EM 2 để cải tạo đất và tăng khả năng chống chịu của cây trồng

h Sâu bệnh

* Sâu hại: Chủ yếu là Sâu xanh ăn lá

- Đặc tính: Trưởng thành là loại bướm cánh hình tam giác có vết trắng ở giữa, mép cánh có màu đen Sâu non màu xanh nhạt, trên lưng có 2 sọc trắng chạy dọc cơ thể Sâu non thường cuốn một hoặc nhiều lá non lại với nhau Mật độ cao sâu ăn trụi lá

- Thời gian phá hại: lúc thời tiết ẩm ướt, nắng mưa xen kẽ

- Phòng ngừa: Cày ải, phơi đất để diệt sâu non và nhộng; vệ sinh đồng ruộng;

sử dụng thuốc theo hướng dẫn, khi mật độ sâu hại cao

* Bệnh hại: Chủ yếu là bệnh đốm lá

- Triệu chứng: Đốm bệnh đặc trưng trên lá có màu nâu và dạng tròn, tâm đốm bệnh màu nhạt, kích thước nhỏ hoặc lớn có viền màu nâu đậm Đường kính của các vết bệnh này có thể lan rộng và nối lại với nhau, khi gặp ẩm ướt lá bị thối

- Thời gian gây hại: bệnh phát triển trong điều kiện trời ấm và độ ẩm không khí cao

- Phòng ngừa: Vệ sinh đồng ruộng thông thoáng; sử dụng thuốc trừ bệnh

Trang 33

+ Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm đối tượng sâu bệnh hại

để phòng trừ kịp thời

+ Áp dụng biện pháp phòng trừ thủ công, đặc biệt là biện pháp bắt sâu, bắt bướm và diệt ổ trứng sâu vào thời điểm thích hợp, tiêu hủy các cây, bộ phận của cây bị bệnh

+ Sử dụng thuốc trừ sâu bệnh nguồn gốc sinh học, biện pháp phòng trừ sinh học, nhất là các loại rau ngắn ngày Bảo vệ, nhân nuôi và phát triển thiên địch trong các vùng trồng rau

+ Hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ sâu bệnh cho rau Trường hợp cần thiết phải sử dụng thuồc hóa học tuân thủ nguyên tắt 4 đúng:

Đúng chủng loại: chỉ sử dụng các loại thuốc thuộc Danh mục BVTV được phép sử dụng trên rau ở Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành

Đúng liều lượng: sử dụng đúng nồng độ và liều lượng hướng dẫn trên bao bì cho từng loại thuốc và từng thời gian sinh trưởng của cây trồng

Đúng cách: áp dụng biện pháp phun xịt, tung vãi hoặc bón vào đất theo đúng hướng dẫn của từng loại thuốc để đảm bảo hiệu quả, an toàn cho người

và môi trường

Đúng thời gian: sử dụng thuốc đúng thời điểm theo hướng dẫn để phát huy hiệu lực của thuốc và tuân thủ thời gian cách ly được quy định cho từng loại thuốc, từng loại rau

i Thu hoạch

Thời điểm thu hoạch: Thời gian từ trồng đến thu lứa chính đầu tiên từ 2,5- 3

tháng (trước đó có thể thu tỉa để cho rau phát triển đều trên đồng ruộng), sau đó cứ 25- 30 ngày thu đợt tiếp theo

Yêu cầu chất lượng: Thu rau đúng độ chín (đảm bảo năng suất, chất lượng),

loại bỏ lá già, héo, bị sâu bệnh Cắt rau má vào buổi chiều mát, rau khi thu hoạch không được tiếp xúc với đất để tránh nhiễm bẩn và vi sinh vật bám vào, rửa kỹ bằng nước sạch, sau đó cho sục zon, để ráo nước, rồi cho vào bao, túi sạch trước khi đem tiêu thụ tại các siêu thị, cửa hàng hay chợ Trên bao bì phải có phiếu bảo hành,

Trang 34

nhãn mác (theo quy định về rau an toàn), có địa chỉ nơi sản xuất nhằm truy nguyên nguồn gốc sản xuất rau, bảo đảm quyền lợi cho người tiêu dùng

j Ghi chép dữ liệu

Người sản xuất phải ghi chép dữ liệu về từng công đoạn sản xuất và thời tiết khí hậu để dễ dàng kiểm tra và giải quyết khi có sự cố, bao gồm:

+ Lượng phân bón, loại phân bón, số lần bón

+ Loại sâu bệnh hại, thời gian gây hại và mức độ gây hại

+ Loại thuốc sử dụng và số lần sử dụng, thời gian cách ly

k Công bố tiêu chuẩn rau an toàn (RAT) theo quy trình VietGAP

Trước khi tiến hành sản xuất, Tổ chức sản xuất RAT phải công bố tiêu chuẩn chất lượng VietGAP cho rau má theo quy định tại Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN ngày 15/10/008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về ban hành quy định quản lý sản xuất, kinh doanh rau, quả và chè an toàn và công bố tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa ban hành kèm theo Quyết định số 03/2006/QĐ-BKH ngày 10/01/2006 của Bộ khoa học và Công nghệ

l Sản phẩm RAT trước khi lưu thông

Các sản phẩm RAT theo quy trình VietGAP trước khi lưu thông trên thị trường phải đảm bảo các điều kiện sau:

- Có giấy chứng nhận RAT theo quy trình VietGAP do Công ty cổ phẩn chứng nhận và giám định VINACERT (hoặc công ty có đủ điều kiện) chứng nhận cấp

- Có bao gói thích hợp để đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, trường hợp không thể bao gói kín phải dùng dây buộc hoặc phải dùng dụng cụ chuyên dùng để thuận lợi cho khâu vận chuyển, bảo quản và tiêu thụ

- Có nhãn hàng hóa gắn liền với bao gói, dây buộc hoặc gắn trực tiếp và từng sản phẩm (củ, quả); việc ghi nhãn hàng hóa RAT phải thực hiện theo Nghị định 47/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa

m Tổ chức sản xuất, kiểm tra và giám sát RAT

+ Khuyến khích tổ chức RAT theo các hình thức phù hợp với quy mô sản xuất như: tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp

Trang 35

+ Tổ chức sản xuất RAT phải đăng ký và chấp hành nghiêm túc các quy định

về điều kiện sản xuất RAT, chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý chuyên ngành theo quy định, chịu trách nhiệm trước pháp luật và người tiêu dùng về chất lượng, tính an toàn của sản phẩm do mình sản xuất và cung ứng

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả trồng rau má VietGAP

Từ quy trình kỹ thuật ở trên, chúng ta có thể phân tích rõ hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất rau má theo quy trình VietGAP ở Quảng Điền, chúng tôi chia thành các nhóm nhân tố sau:

1.2.2.1 Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên

Trong các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên, thông thường nhân tố đầu tiên mà người ta phải kể đến đó là điều kiện đất đai, bao gồm chất đất và vùng đất phải có vị trí thuận lợi, đảm bảo đúng quy định, cần có địa hình phải cao để không bị ngập lụt, chất đất phải màu mỡ, tơi xốp, không bị nhiễm kim loại nặng, xa khu nghĩa trang, nghĩa địa và phải có vùng tập trung để sản xuất với quy mô lớn, có sự hỗ trợ và giám sát lẫn nhau của người dân trong quá trình sản xuất rau má đảm bảo quy trình VietGAP

Ngoài đất đai, khí hậu thời tiết là yếu tố cũng rất quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng rau và thời vụ sản xuất; nếu trong năm thời tiết ổn định, ít mưa lũ thì sản xuất được nhiều vụ hơn và chất lượng rau cũng sẽ tốt hơn

Yếu tố nhiệt độ đến quá trình sinh trưởng và phát triển của rau má Nhiệt độ phù hợp nhất là từ 20 độ C đến 30 độ C, với ở mức nhiệt này thì cây rau phát triển tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân Còn ngược lại nếu nhiệt độ thấp hơn hoặc cao hơn cây rau má sẽ chậm phát triển

Chính những điều kiện này ảnh hưởng đến năng suất chất lượng của cây vải, đồng thời đó là những nhân tố cơ bản để dẫn đến quyết định đưa ra định hướng sản xuất, hướng đầu tư thâm canh, lịch trình chăm sóc và thu hoạch…

1.2.2.2 Nhóm nhân tố về biện pháp kỹ thuật

Trong thời gian hiện nay, các nhân tố thuộc về điều kiện kỹ thuật có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển của cây rau má, trước hết là vấn đề thủy

Trang 36

lợi để đảm bảo đủ nước tưới cho cây rau má Gắn với quá trình tự động hóa, cần phải đầu tư hệ thống điện đến vùng sản xuất để tổ chức tưới phun tự động cho cây rau má đảm bảo đủ lượng nước, qua đó tiết kiệm được lượng nước tưới và thời gian

bỏ công sức ra tưới trong ngày

Sự phát triển của quy trình công nghệ bảo quản và chế biến rau má đang tạo

ra những điều kiện, nhất là để vận chuyển sản phẩm đi tiêu thụ tại những thị trường

xa xôi Công nghệ chế biến trà rau má cũng mở rộng thị trường nông sản vùng chuyên canh nhờ sự tác động của quá trình đó đã đa dạng hoá sản phẩm đến người tiêu dùng

1.2.2.3 Nhóm nhân tố tổ chức sản xuất

Đây là nhân tố quyết định đến quy trình sản xuất rau má an toàn theo quy trình VietGAP, nhóm nhân tố này gồm nhiều vấn đề nhưng có thể chia ra như sau:

Thứ nhất, trình độ, năng lực của người sản xuất: Nó có tác động trực tiếp đến

hiệu quả sản xuất và áp dụng quy trình VietGAP Năng lực của người sản xuất được thể hiện qua: Trình độ khoa học kỹ thuật và tổ chức quản lý, khả năng ứng xử trước những biến động của trị trường, khả năng vốn và trình độ trang bị cơ sở vật chất

Thứ hai, quy mô sản xuất: Quy mô càng hợp lý thì sản xuất càng có hiệu

quả, mọi công việc như tổ chức chăm sóc, thu hoạch, chi phí…cũng được tiết kiệm, còn nếu quy mô sản xuất không hợp lý thì sản xuất sẽ kém hiệu quả

Thứ ba, tổ chức công đoạn thu hoạch và sau thu hoạch như: Sản phẩm thu

hoạch phải được đúng nới quy định, không được tiếp xúc với đất, tổ chức công tác bảo quản, chế biến, tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm, đây là vấn đề có tính quyết định đến tính bền vững của sản xuất rau má hàng hoá

1.2.2.4 Thị trường tiêu thụ và chuỗi giá trị trong phát triển sản xuất rau

Thị trường tiêu thụ là nhân tố quan trọng, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả và

mở rộng quy mô sản xuất Đầu tư sản xuất phụ thuộc rất lớn vào thị trường đầu

ra, có thị trường tiêu thụ đảm bảo, giá cả ổn định thì người nông dân mới mạnh dạn đầu tư

- Với hơn 90 triệu dân, Việt Nam là một thị trường tiêu thụ hàng hóa rau má

Trang 37

không nhỏ, nhất là cải thiện được số lượng và chất lượng trong bữa ăn hàng ngày Kinh tế Việt Nam trong những năm qua có sự phát triển đáng kể, thu nhập và mức sống của người dân ngày càng cao, khách du lịch đến Việt Nam ngày càng nhiều;

do đó, rau ăn lá, đặc biệt là rau má vừa ăn lá, vừa làm sinh tố giải khát, vừa chế biến

ra trà rau má là thực phẩm chức năng, nếu sản phẩm sản xuất theo quy trình an toàn VietGAP, đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm thì quy mô diện tích sẽ ngày càng phát triển mạnh Ngoài ra, với mức sống của người dân tại các thành phố ngày càng tăng, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm rau an toàn cũng ngày càng tăng Do vậy, thị trường tiêu thụ nội địa là một thị trường tiềm năng lớn

Như vậy, nhóm các nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội nêu trên có liên quan mật thiết và tác động qua lại với nhau, làm biến đổi lẫn nhau và cùng ảnh hưởng đến sản xuất vải Do vậy việc phân tích, đánh giá đúng sự ảnh hưởng của chúng là rất cần thiết để đề ra những giải pháp hữu hiệu nhằm phát triển sản xuất rau má ở Quảng Điền

Chuỗi giá trị là một khái niệm từ quản lý kinh doanh đã được Micheal Porter

mô tả và phổ cập lần đầu tiên vào năm 1985 trong một cuốn sách về phân tích lợi thế cạnh tranh của ông: “ Chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt đông của một công ty hoạt động trong một ngành cụ thể Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của một công ty hoạt động một ngành nghề cụ thể Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản xuất thu được một số giá trị nào đó Chuỗi các hoạt động mang lại sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của các hoạt động cộng lại

Tiếp đó, nhà nghiên cứu Kaplins Rapheal đã đưa ra khái niệm về chuỗi giá trị trong phân tích toàn cầu hóa: “Chuỗi giá trị là cả loạt những hoạt động cần thiết

để biến một sản phẩm hoặc một dịch vụ từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau (bao gồm một kết hợp giữa sự biến đổi vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đến khi phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng và vứt bổ sau khi đã sử dụng” Và một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong chuỗi hoạt động để tạo ra tối đa giá trị cho chuỗi

Trang 38

Như vậy, ta có thể giải thích định nghĩa về chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp hoặc nghĩa rộng Trong nghĩa hẹp, một chuỗi giá trị bao gồm một loạt các hoạt động thực hiện trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Tất cả các hoạt động

từ thiết kế, quá trình mang vật tư đầu vào, sản xuất, phân phối, marketing bán hàng, thực hiện các dịch vụ hậu mãi đã tạo thành một chuỗi kết nối người sản xuất với người tiêu dùng Hơn nữa, mỗi hoạt động lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối

cùng Ví dụ như mô hình trồng hoa ở Đà Lạt bao gồm bảy hoạt động: cung cấp các

yếu tố đầu vào của quá tr nh sản xuất sản xuất sản ph m thu hoạch và đóng gói

v n chuyển đến th trường tiêu th ; phân phối bán l và d ch v hách hàng Đối

với việc cung cấp các yếu tố đầu vào, đây là hoạt động đầu tiên của chuỗi cũng là tiền

đề để tạo ra các sản phẩm hoa chất lượng cao cho xuất khẩu Nó bao gồm việc quản lý hiệu quả các yếu tố: quỹ đất, nhà vườn, nguồn nước, giống, phân bón, chuyển giao kỹ thuật, nhân công và nguồn vốn Các công ty có thể đứng ra đảm nhiệm việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho các nhà sản xuất nhằm tối ưu hóa quá trình sản xuất, giảm các chi phí đầu vào nhằm tạo ra lợi thế về chi phí thấp trong cạnh tranh Đối với người trồng hoa, bao gồm người trồng hoa có quy mô lớn, có khả năng về nguồn vốn, kỹ thuật như các công ty trồng hoa tại Đà Lạt, Đơn Dương và Đức Trọng Xây dựng chuỗi giá trị đối với hoa Đà Lạt nhằm xuất khẩu trước hết cần ưu tiên tập trung cho nhóm này Đối với người trồng hoa có quy mô nhỏ ở các hộ gia đình, họ cần được gắn kết chặt chẽ trong các Hợp tác xã hay Hiệp hội với sự hỗ trợ về kỹ thuật, nhân công, tiêu thụ sản phẩm cũng như áp dụng đồng bộ các tiêu chuẩn sản xuất theo chuẩn mực quốc tế Đối với khâu thu hoạch, phân loại và đóng gói cần sử dụng lao động có tay nghề nhằm đảm bảo đạt được chất lượng hoa cao, đồng đều và hạn chế tối đa tỷ lệ hao hụt, thất thoát làm tăng chi phí Bao bì sản phẩm cần được quan tâm

vì chúng không những bảo vệ được sản phẩm mà còn góp phần tạo ra sự khác biệt

và phân biệt của khách hàng Để sản phẩm có giá trị cao, tạo sự nhận biết trong tâm trí người tiêu dùng, các nhà sản xuất cần đầu tư thích đáng cho hoạt động xây dựng

và phát triển thương hiệu Chỉ khi có một thương hiệu, sản phẩm mới có thể đứng vững trên thị trường và tạo ra được giá trị gia tăng lớn cho các nhà sản xuất Đối với

Trang 39

khâu vận chuyển, phân phối, bán hàng, dịch vụ khách hàng, đây là các hoạt động đầu

ra nhưng lại quyết định các yếu tố đầu vào của chuỗi giá trị Toàn bộ chuỗi giá trị phụ thuộc vào khâu vận chuyển, phân phối, bán hàng Chỉ có bán được hàng mới tạo ra động lực kích thích các nhà sản xuất Để gia tăng giá trị cho sản phẩm, nhà sản xuất cần tìm kiếm và ký kết các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm với hệ thống phân phối và bán hàng tại châu u, Mỹ, Nhật Bản, là những quốc gia và khu vực nhập khẩu và tiêu thụ hoa lớn nhất thế giới cũng là lực lượng chi phối thị trường hoa thế giới Các nhà sản xuất hoa Đà Lạt, đứng đầu là Hiệp hội hoa, Trung tâm xúc tiến Đầu tư –Thương mại –Du lịch tỉnh Lâm Đồng cần nghiên cứu và xúc tiến hợp tác tiêu thụ với các nhà nhập khẩu hoa, các trung tâm đầu giá và hệ thống siệu thị nhằm đưa hoa Đà Lạt ra thị trường quốc tế

Tuy nhiên thì trong thực tế, các chuỗi giá trị thường phức tạp hơn nhiều so với chuỗi giá trị trên Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng là một phức hợp những hoạt động do nhiều người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ) để biến một nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên kết vơi các doanh nghiệp khác trong kinh doanh, lắp ráp, chế biến,… Các tiếp cận theo nghĩa rông không xem xét đến các hoạt động do một doanh nghiệp duy nhất tiến hành, mà nó xem xét cả các mối liên kết ngược xuôi cho đến khi nguyên liệu thô được sản xuất và kết với với người tiêu dùng cuối cùng

Đối với Việt Nam, trong những năm trở lại đây, Chính phủ, các Bộ ngành luôn quan tâm đến tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị nhằm khắc phục được tình trạng “được mùa mất giá”, ứ đọng sản phẩm hàng hóa, người dân sản xuất sản phẩm ra không tiêu thụ được phải tiêu hủy Vì vậy, để khắc phục tình trạng trên,

tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, Nghị định quy định

Hợp tác, liên kết gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp là việc thỏa thuận,

tự nguyện cùng đầu tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của các bên tham gia liên kết để nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp

Trang 40

Liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp là hình thức liên kết trong sản xuất nông nghiệp theo chuỗi từ cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, sản xuất, sơ chế hoặc chế biến gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung: Là vùng sản xuất tập trung một hay một nhóm sản phẩm nông nghiệp cùng loại có quy mô phù hợp với từng loại hình sản xuất và điều kiện của mỗi địa phương, tuân thủ các quy định của Nhà nước về an toàn thực phẩm, an toàn dịch bệnh, bảo vệ môi trường, có liên kết gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

Về các hình thức liên kết: Liên kết từ cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, tổ chức sản xuất, thu hoạch, sơ chế hoặc chế biến gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; liên kết cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; liên kết tổ chức sản xuất, thu hoạch gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; liên kết cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, tổ chức sản xuất, thu hoạch gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; liên kết tổ chức sản xuất, thu hoạch, sơ chế hoặc chế biến gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; liên kết cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, sơ chế hoặc chế biến gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; liên kết sơ chế hoặc chế biến gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp [12]

Tóm lại, việc sản xuất ra một sản phẩm nông nghiệp nói chung và sản phẩm rau má theo quy trình VietGAP là một quá trình, đòi hỏi phải có nhiều thời gian; quá trình sản xuất phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, ngoài yếu tố khách quan

nó mang tính rủi ro khá cao là điều kiện thời tiết, khí hậu, thiên tai, đất đai, địa hình, thì yếu tố chủ quan cũng rất quan trọng quyết định đến sản lượng và chất lượng của sản phẩm như yếu tố con người, lao động, bởi vì chính con người, người lao động trực tiếp áp dụng các quy trình kỹ thuật và những yêu cầu về sản phẩm đạt chất lượng VietGAP và họ cũng là những người mà thông qua quá trình lưu thông trên thị trường để đến với người tiêu dùng Ngoài ra còn có môi trường xung quanh tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh như môi trường

vĩ mô, vi mô, các chủ trương, chính sách tác động của Nhà nước, Tuy nhiên,

để sản phẩm đạt chất lượng theo đúng yêu cầu, 100% người dân phải tuyệt đối

Ngày đăng: 15/12/2019, 11:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm