1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quản lý thuế doanh nghiệp ngoài quốc doanh huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị chi cục thuế

104 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 2,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đáp ứng được vấn đề này, luận văn về “Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế Huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị” sẽ giúp cho cơ qua

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN NGỌC QUANG

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, chính xác và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, các thông tin trích dẫn sử dụng trong luận văn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết hợp với kinh nghiệm trong quá trình công tác thực tiễn, với sự nỗ lực cố gắng của bản thân

Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy, cô giáo trường Đại học Kinh tế Huế đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ cho tôi Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS-TS Nguyễn Văn Toàn là người trực tiếp hướng dẫn khoa học và đã dày công giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Ban lãnh đạo; cán bộ Chi cục Thuế Huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị đã giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy,

cô giáo; đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

TÓM LƯỢC LUẬN VĂN

Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, mỗi một quốc gia đều nhận thức được tầm quan trọng của thuế đó là, Thuế không chỉ đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước mà còn là công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Cùng với sự phát triển đó, công tác quản lý thuế đối với lĩnh vực này đặt ra đòi hỏi bức thiết là làm sao quản lý chặt chẽ việc thực hiện nghĩa vụ của khu vực kinh tế này, đồng thời đảm bảo công bằng xã hội trong nghĩa vụ đóng góp với nguồn thu của ngân sách Để đáp ứng được vấn đề này, luận văn

về “Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế Huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị” sẽ giúp

cho cơ quan thuế có những căn cứ và định hướng trong công tác quản lý thuế đối với thành phần kinh tế hết sức nhạy cảm trong cơ chế thị trường như hiện nay ở nước ta

Luận văn đi sâu phân tích thực trạng công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh mà chủ yếu tập trung phân tích quy trình quản lý thuế đang áp dụng hiện tại mà chủ yếu là mô hình ”tự khai, tự nộp”, trong đó đi sâu phân tích từng công đoạn trong cả quá trình quản lý Từ đó, rút ra những ưu điểm, tồn tại và vướng mắc cần phải tháo gỡ để đáp ứng yêu cầu quản lý thuế trong giai đoạn mới

Thông qua đánh giá tồn tại, khó khăn Luận văn đã kiến nghị, đề xuất một số giải pháp vừa mang tính tổng thể, vĩ mô vừa kiến nghị một số giải pháp mang tính chất trước mắt và mang tính địa phương Luận văn có thể còn

có khiếm khuyết nên tác giả mong được góp ý hoàn thiện để áp dụng trong thời gian tới

Trang 5

SXKD: Sản xuất kinh doanh

TNDN: Thu nhập doanh nghiệp

TNCN: Thu nhập cá nhân

TTĐB: Tiêu thụ đặc biệt

TNHH: Trách nhiệm hữu hạn

UBND: Uỷ ban nhân dân

WTO: TR ƯỜTổ chức thương mại thế giới

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu của luận văn 5

PHẦN II - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6

CHƯƠNG I - TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ NÓI CHUNG VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH NÓI RIÊNG 6

1.1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.2 Bản chất, chức năng của thuế 7

1.1.3 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường 8

1.1.4 Hệ thống thuế 13

1.2 QUẢN LÝ THUẾ 13

1.2.1 Khái niệm quản lý thuế 13

1.2.2 Nội dung quản lý thuế 14

1.3 Quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 19

1.3.1 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 19

1.3.2 Các loại thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 21

1.3.4 Nội dung công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 27

1.4 Kinh nghiệm quản lý thuế đối với DNNQD ở nước ngoài và một số địa phương ở VN 32

1.4.1 Kinh nghiệm ở nước ngoài 32

1.4.2 Kinh nghiệm của một số địa phương ở Việt Nam về quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 36

1.4.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Chi cục thuế huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 39

I H ỌC

KINH

TẾ HU

Trang 7

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN VĨNH LINH,

TỈNH QUẢNG TRỊ 42

2.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 42

2.1.1 Đặc điểm cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Vĩnh Linh 42

2.1.2 Chi cục thuế huyện Vĩnh Linh 47

2.2 Thực trạng công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 53

2.2.1 Về công tác tuyên truyền và hỗ trợ đối tượng nộp thuế 53

2.2.2 Tình hình thực hiện nhiệm vụ thu thuế 55

2.2.3 Về công tác quản lý kê khai và kế toán thuế 58

2.2.5 Về công tác quản lý thu nợ và cưỡng chế nợ thuế 62

2.3 Đánh giá chung về công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị 63

2.3.1 Những kết quả đạt được 63

2.3.2 Tồn tại và nguyên nhân 67

CHƯƠNG III ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH CHI CỤC THUẾ HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ TRONG THỜI GIAN TỚI 75

3.1 Định hướng 75

3.1.1 Định hướng chung 75

3.1.2 Định hướng cụ thể 76

3.2 Một số giải pháp 77

3.2.1 Nhóm giải pháp chung 77

3.2.2 Nhóm giải pháp chuyên môn 79

3.2.3 Nhóm giải pháp điều kiện 855

PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 888 QUYẾT ĐỊNH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

BIÊN BẢN CỦA HỘI ĐỒNG

I H ỌC

KINH

TẾ HU

Trang 8

BẢN NHẬN XÉT PHẢN BIỆN 1

BẢN NHẬN XÉT PHẢN BIỆN 2

BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN

XÁC NHẬN HOÀN THIỆN LUẬN VĂN

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: GDP huyện Vĩnh Linh giai đoạn 2015-2017 43

Bảng 2.2: Tình hình dân số và lao động của huyện Vĩnh Linh giai đoạn 2015-2017 45

Bảng 2.3 Tình hình đội ngũ ở Chi cục thuế huyện Vĩnh Linh giai đoạn 2015 – 2017 51

Bảng 2.4 Tình hình tuyên truyền, hỗ trợ đối tƣợng nộp thuế giai đoạn 2015-2017 53

Bảng 2.5 Ý kiến của doanh nghiệp về nhóm các biện pháp hỗ trợ DN 55

Bảng 2.6 Kết quả thực hiện thu thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 56

Bảng 2.7 Chi tiết tình hình thu thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế huyện Vĩnh Linh từ năm 2015 - 2017 57

Bảng 2.8 Số lƣợng doanh nghiệp ngoài quốc doanh thuộc Chi cục Thuế huyện Vĩnh Linh quản lý từ năm 2015 đến năm 2017 58

Bảng 2.9 Tình hình DN khai thuế, nộp thuế so với DN quản lý giai đoạn 2015-2017 59

Bảng 2.10 Kết quả điều tra các DN trong thực hiện việc kê khai thuế 60

Bảng 2.11 Tình hình kiểm tra thuế tại trụ sở doanh nghiệp 61

Bảng 2.12 Tình hình nợ thuế của DN qua ba năm 2015-2017 62

I H ỌC

KINH

TẾ HU

Trang 10

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Hình 2.1 Mô hình tổ chức bộ máy của Chi cục Thuế Huyện Vĩnh Linh, tỉnh

Quảng Trị 48 Biểu đồ 2.1 Số lƣợng CB Chi cục thuế Huyện Vĩnh Linh

từ năm 2015-2017 52 Biểu đồ 2.2 Tình hình dự toán và thực hiện dự toán Chi cục thuế

Vĩnh Linh 56 Biểu đồ 2.3 Tình hình thu thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc

doanh tại Chi cục Thuế huyện Vĩnh Linh từ năm 2015 - 2017 57

Trang 11

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mỗi một quốc gia đều nhận thức được tầm quan trọng của thuế, thuế không chỉ là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước mà còn là công cụ quan trọng để điều tiết

vĩ mô nền kinh tế

Một trong những bước đột phá trong công tác quản lý thuế đó là Luật Quản lý Thuế được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực từ ngày 01/7/2007 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quản lý Thuế số 21/2012/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/7/2013 Đây là phương thức quản lý tiên tiến, hiện đại đang được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng Theo cơ chế quản lý thuế này đã tạo môi trường thuận lợi cho người nộp thuế tuân thủ pháp luật về thuế, tự giác nộp đúng, đủ, kịp thời vào ngân sách Nhà nước Công tác quản lý thuế đã thay đổi phương thức quản lý theo cơ chế người nộp thuế tự tính, tự khai, tự nộp thuế; Cơ quan thuế thực hiện quản lý thuế chủ yếu theo chức năng kết hợp một phần quản lý theo đối tượng từ đó có điều kiện tập trung nguồn lực phục vụ cho việc tư vấn hỗ trợ cho tổ chức, cá nhân nộp thuế, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh có vi phạm pháp luật thuế, tạo điều kiện cho cơ quan thuế tổ chức quản lý thuế hiệu quả

Nhờ hệ thống chính sách thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện, thực hiện chương trình cải cách và hiện đại hóa hệ thống thuế; trình độ nhận thức, tính tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế cũng như trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngủ công chức thuế được nâng lên, tổ chức bộ máy của cơ quan thuế các cấp ngày càng hoàn thiện, tinh gọn góp phần tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển

Do chính sách khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế của Nhà nước nên hàng năm sẽ có thêm hàng chục vạn doanh nghiệp và hộ kinh doanh ra đời Quy mô kinh doanh của doanh nghiệp ngày một lớn, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng phong phú, đa dạng Việc quản trị kinh doanh và các hoạt động thương mại

Trang 12

của doanh nghiệp ngày càng tiên tiến, điện tử hoá và tin học hoá Vì vậy nếu không hiện đại hoá công tác quản lý thuế thì không theo kịp và đáp ứng được sự phát triển nhanh chóng và hiện đại hoá doanh nghiệp

Mặt khác, xu thế hội nhập kinh tế trong khu vực và thế giới tiến tới toàn cầu hoá

là tất yếu khách quan Theo đó hội nhập quốc tế về thuế ngày càng rộng và sâu nhằm khuyến khích đầu tư, tự do hoá thương mại trên toàn thế giới Ngoài việc phải xây dựng hệ thống chính sách thuế tương thích, công tác quản lý thuế phải được cải cách

và hiện đại hoá theo các chuẩn mực quản lý thuế quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi

để thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, tạo môi trường thuận lợi đồng nhất về thuế để phát riển kinh tế - xã hội đất nước

Thực tế hiện nay, trình độ quản lý thuế ở nước ta nói chung, ở huyện Vĩnh Linh nói riêng còn thấp, có khoảng cách khá xa so với các nước trong khu vực và càng xa hơn so với các nước tiên tiến trên thế giới cả về cơ chế quản lý, công nghệ quản lý, tổ chức bộ máy và trình độ cán bộ quản lý

Mặt khác, với cơ chế thông thoáng trong thành lập các doanh nghiệp như hiện nay đã tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế nói chung và đặc biệt

là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng Từ đó thúc đẩy sự phát triển nhanh về

số lượng DN đăng ký thành lập, tuy nhiên trong thực tế việc phát triển nhanh với loại hình DN này đã làm phát sinh nhiều vấn đề đặt ra, trong đó có việc quản lý thu thuế đối với loại hình doanh nghiệp này đòi hỏi phải giải quyết

Để nhằm mục tiêu tăng thu cho ngân sách đồng thời đáp ứng được yêu cầu về công bằng trong nghĩa vụ thì việc xây dựng và hoàn thiện chính sách thuế nói chung

và công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp Ngoài quốc doanh nói riêng là một đòi hỏi bức thiết

Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi đã chọn đề tài:

“Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế Huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị” làm Luận văn Thạc sĩ

Trang 13

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng, luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

2.2 Mục tiêu cụ thể

Luận văn nhằm giải quyết những vấn đề cơ bản sau:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng

- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế Huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Không gian nghiên cứu: Chi cục Thuế Huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

Thời gian nghiên cứu: Công tác quản lý thuế trong phạm vi từ năm 2013 đến nay

mà trọng tâm nghiên cứu là số liệu từ năm 2015-2017 ở Chi cục Thuế Huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị Đề xuất một số giải pháp định hướng đến năm 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thu thập số liệu

Trang 14

Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2013 - 2017, trọng tâm tập trung để phân tích đánh giá chủ yếu trong 3 năm 2015 -2017

4.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp của luận văn được thu thập dựa trên kết quả điều tra tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn huyện, việc điều tra thông qua các phiếu điều tra gửi cho các doanh nghiệp

Mẫu điều tra được chọn ngẫu nhiên trong số các DN trên địa bàn toàn huyện

Số lượng mẫu phải đáp ứng tính đại diện cho từng loại hình DN, đối tượng trực tiếp trả lời là các DN trong địa bàn toàn huyện thuộc mọi loại hình DN

Mục đích của việc điều tra số liệu sơ cấp là để nắm bắt được những khó khăn, vướng mắc, những kiến nghị đề xuất của DN trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế Bảng hỏi được thiết kế bám sát theo các nội dung của quy trình quản lý thuế hiện tại

và theo đề cương nghiên cứu, bảng hỏi chủ yếu sử dụng các câu hỏi đóng, có đặt một

số câu hỏi mở phục vụ cho việc lấy ý kiến đề xuất của DN

Phiếu điều tra được gửi trực tiếp cho các DN theo địa bàn và số phiếu gửi có tỷ lệ tương ứng với số lượng DN của từng địa bàn Cụ thể, phiếu điều tra được gửi cho hơn

½ số DNNQD trên địa bàn toàn huyện với số phiếu phát ra là 122 phiếu, số phiếu thu

4.3 Một số chỉ tiêu chủ yếu phân tích đánh giá thực trạng quản lý thuế

Các chỉ tiêu sử dụng phân tích trong đề tài tập trung vào các nhóm:

* Công tác quản lý đối tượng nộp thuế: phân tích số lượng DN đăng ký vơi số lượng DN đang quản lý, số DN nộp tờ khai thuế/số DN quản lý

Trang 15

* Nhóm các biện pháp tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế: nội dung, biện pháp

* Nhóm các nội dung liên quan đến hoàn thuế: Số DN được hoàn, số thuế hoàn

* Nhóm các nội dung liên quan đến công tác thanh tra, kiểm tra thuế Số DN được kiểm tra, số thuế truy thu, phạt…

Các nhóm này sẽ thực hiện các phép thống kê mô tả, số tương đối, số tuyệt đối

các câu trả lời trong số liệu sơ cấp để đánh giá thực trạng một cách có căn cứ

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần chính của luận văn được chia làm 03 chương như sau:

Chương I: Tổng quan lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng

Chương II: Thực trạng công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

Chương III: Định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế Huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới

Trang 16

PHẦN II - NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I - TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ NÓI CHUNG VÀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH NÓI RIÊNG

1.1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ

1.1.1 Khái niệm

Từ trước đến nay, trên các sách báo kinh tế của thế giới vẫn chưa có sự thống nhất khái niệm về thuế Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế đưa ra mới nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế, do đó chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung nhất của phạm trù này

Chẳng hạn, theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản: “Để đạt được quyền lực công cộng đó, cần phải có những đóng góp của những người công dân của nhà nước, đó là thuế” [1]

Còn theo Benjamin Franklin, một trong những tác giả của bản tuyên ngôn độc lập nổi tiếng của nước Mỹ đã đưa ra một lời tuyên bố bất hủ trong lịch sử thuế khoá: “Trong cuộc sống không có gì tất yếu, ngoài cái chết và thuế” [1]

Sau này khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn Trong cuốn từ điển của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng:

“Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản” [1]

Một định nghĩa về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn

“Economics” của hai nhà kinh tế Mỹ K.P.Makkohhell và C.L.Bryu như sau: “Thuế

là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc là chuyển giao bằng hàng hoá, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó

họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hoá hoặc dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”[2] Gần đây trong một số công trình nghiên cứu về thuế các nhà kinh tế cho rằng, để vạch rõ bản chất của thuế thì trong định nghĩa đó phải nêu bật các khía

Trang 17

cạnh sau đây: nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân; những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định

Kết hợp những hạt nhân hợp lý của các quan niệm về thuế kể trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau:

Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà

nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.[1]

1.1.2 Bản chất, chức năng của thuế

1.1.2.1 Bản chất

Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn có của thuế Những thuộc tính đó có tính ổn định tương đối qua từng giai đoạn phát triển Nghiên cứu về thuế, người ta nhận thấy thuế có những đặc điểm riêng để phân biệt với các công cụ tài chính khác như sau: [2]

Thứ nhất: Thuế là một khoản chuyển giao thu nhập của các tầng lớp trong xã hội cho Nhà nước mang tính bắt buộc phi hình sự Tính bắt buộc phi hình sự là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế, nó phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của ngân sách nhà nước

Tính cưỡng bức, bắt buộc của việc chuyển giao thu nhập bắt nguồn từ những

lý do sau:

Hình thức chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế không gắn với lợi ích cụ thể của người nộp thuế, do đó không thể sử dụng phương pháp tự nguyện trong việc chuyển giao Để đảm bảo nhu cầu chi tiêu công cộng, nhà nước tất yếu phải sử dụng quyền lực chính trị để bắt buộc mọi đối tượng có thu nhập phải chuyển giao

Trong xã hội hiện đại, các thành viên cộng đồng có nhu cầu càng cao về hàng hoá công cộng Mà đại bộ phận hàng hoá công cộng do nhà nước sản xuất và cung cấp đều phải bỏ chi phí, các chi phí này được bù đắp từ nguồn thu nhập của những người thụ hưởng hàng hoá công cộng

Trang 18

Thứ hai: Thuế là một khoản đóng góp không mang tính chất hoàn trả trực tiếp Nghĩa là khoản đóng góp của công dân bằng hình thức thuế không đòi hỏi phải hoàn đúng số lượng và khoản thu mà nhà nước thu từ công dân đó, như là khoản vay mượn

Nó sẽ được hoàn trả lại cho người nộp thuế thông qua cơ chế đầu tư của NSNN

Thứ ba: Các khoản chuyển giao thu nhập dưới hình thức thuế chỉ được giới hạn trong phạm vi biên giới quốc gia với quyền lực pháp lý của Nhà nước đối với con người và tài sản

Tóm lại, những thuộc tính cơ bản trên đây của thuế đã phản ánh bản chất và nội dung bên trong của thuế Từ những thuộc tính đó, giúp chúng ta phân biệt thuế với các hình thức động viên khác của NSNN trên nhiều phương diện khác nhau

1.1.2.2 Chức năng của thuế

Chức năng của một sự vật hay đối tượng nào đó là sự thể hiện công dụng vốn

có của nó Đối với một phạm trù kinh tế, chức năng phản ánh bản chất sự tác động vốn có của nó, là phương thức đặc biệt biểu hiện những thuộc tính vốn có của phạm trù Cũng như bản chất, chức năng cũng có tính ổn định tương đối của nó trong suốt thời gian tồn tại của sự vật hay đối tượng

Thuế không những là một phạm trù kinh tế mà còn là phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính vốn có của các quan hệ tài chính Tuy nhiên, thuế cũng

có những đặc trưng, hình thức vận động và các chức năng riêng của mình bắt nguồn

từ tổng thể các mối quan hệ tài chính

Mặc dù chưa có sự thống nhất trong việc đưa ra số lượng các chức năng của thuế, nhưng thông qua quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế, chúng ta thấy thuế luôn thực hiện hai chức năng: chức năng huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước và chức năng điều chỉnh

1.1.3 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường đã tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, kích thích năng suất, nâng cao chất lượng và hiệu quả, thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất Tuy nhiên, bên cạnh đó, cơ chế thị trường cũng mang trong mình nhiều khuyết tật khó tránh khỏi như: Tính tự phát vốn có của thị trường thường xuyên gây cho xã hội lãng phí không nhỏ về tài nguyên, lao động, tiền vốn dẫn đến độc quyền, thủ tiêu cạnh tranh giảm hiệu quả chung của nền kinh tế Đặc

Trang 19

biệt cơ chế phân phối qua thị trường thường khoét sâu ngăn cách giữa người giàu và người nghèo, làm này sinh các hiện tượng tiêu cực về mặt xã hội Tạo nên sự bất ổn

về kinh tế và xã hội

Nhận thức rõ những mặt ưu, nhược điểm đó, ngày nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận tính cần thiết khách quan sự can thiệp của nhà nước vào quá trình kinh tế xã hội để phát huy những mặt tích cực và hạn chế tối đa những khuyết tật của cơ chế thị trường Một trong những công cụ quan trọng mà nhà nước

sử dụng để can thiệp đó là thuế

Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội

Ngày nay ở tất cả các Quốc gia, Chính phủ đều thực hiện hành vi đánh thuế Việc đánh thuế của Nhà nước nhằm hai mục tiêu chính:

- Động viên một phần nguồn tài chính của quốc gia để nuôi sống bộ máy của mình

- Dùng thuế để thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của mình đối với đất nước Thực hiện hai mục tiêu đó cũng chính là thể hiện vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường

1.1.3.1 Thuế là công cụ chủ yếu tạo lập nguồn thu cho ngân sách nhà nước

Từ xưa đến nay, có thể nói vai trò đích thực của thuế là tạo lập nguồn thu cho ngân sách Nhà nước nhằm để nuôi bộ máy cai trị và trang trải các chi phí thực hiện các chức năng của Nhà nước

Nhà nước trước hết dùng sức mạnh quyền lực của mình để bắt buộc mọi thể nhân và pháp nhân trích một phần thu nhập của mình do hoạt động kinh tế mang lại góp vào quỹ chung gọi là ngân sách nhà nước để tiêu dùng Để việc đóng góp đó đảm bảo công bằng, tránh sự tuỳ tiện, Nhà nước quy định sự đóng góp đó theo những luật lệ nhất định gọi là các Luật thuế

Với xu hướng chi tiêu công cộng càng ngày mang tính quy luật, có thể nói ngày nay ở tất cả các quốc gia, thuế đã trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước

Hệ thống thuế của Việt Nam vẫn đang chiếm tỷ trọng khá lớn trong GDP và quy mô thu ngân sách nhà nước vẫn chiếm gần 25 GDP Mặc dù thu nhiều, nhưng

Trang 20

chi luôn vượt quá nguồn thu ngân sách với mức gần 29 GDP (năm 2016), sau khi giảm từ mức đỉnh điểm là 40 GDP (năm 2009)

Việt Nam đang gặp khó khăn trong việc giải quyết bài toán cân bằng ngân sách khi các nhiệm vụ chi ngày càng tăng Trong bối cảnh Việt Nam phải tuân thủ các điều khoản của Hiệp định thương mại tự do FTA về gỡ bỏ các hàng rào thuế quan làm nguồn thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm đi cộng với giá dầu thô thấp trong những năm gần đây khiến gia tăng áp lực về ngân sách

Năm 2017, Bộ Tài chính cân nhắc việc tăng thuế suất giá trị gia tăng nhằm bù đắp cho ngân sách nhà nước Nhiều chuyên gia cho rằng, động thái này làm tỷ trọng thuế gián thu tăng lên và đi ngược với xu hướng công bằng của hệ thống thuế

Để giảm bội chi ngân sách nhà nước có hai biện pháp là tăng thu và giảm chi Trước mắt Chính phủ cần thực hiện các biện pháp quyết liệt để thắt chặt chi thường xuyên như các chính sách tinh giảm biên chế, sắp xếp lại bộ máy, hạn chế chi tiêu cho các tổ chức đoàn thể và thoái vốn khỏi các doanh nghiệp Nhà nước

Trong quá trình cơ cấu lại nguồn thu ngân sách, tỷ trọng thuế trực thu đang giảm rất nhanh, nhất là từ sau năm 2011 Cụ thể, tỷ trọng này đã giảm xuống mức

35 trong tổng thu thuế, trong khi tỷ trọng thuế gián thu đã tăng lên mức gần 65 tổng thu thuế

Thuế tiêu dùng dù được coi là trung tính và hiệu quả về việc hành thu, song lại được xem có tác động không tốt đến công bằng trong chi tiêu Cùng với đó, tỷ trọng thuế gián thu còn có thể tiếp tục tăng trong thời gian tới nếu dự thảo Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2017 được thông qua

Theo các chuyên gia, thuế gián thu mang tính luỹ thoái, còn thuế trực thu mang tính luỹ tiến Với sự thay đổi về tỷ trọng thuế gián thu như trên, nhiều ý kiến quan ngại rằng người có thu nhập thấp đang phải trả thuế suất trên thu nhập cao hơn người có thu nhập cao

Trong một thập kỷ qua, Việt Nam giành rất nhiều nguồn lực cho ngành thuế, đặc biệt là đầu tư hệ thống thông tin Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan đã có hệ thống thông tin hiện đại và cung cấp các phần mềm để khai thuế, hoàn thuế và đóng thuế qua internet

Trang 21

Từ năm 2007 đến nay, hàng năm, tổng chi của Bộ Tài chính chiếm khoảng 2 tổng thu ngân sách nhà nước và khoảng 2,4 tổng thu thuế Con số này bằng với con số của Uganda (năm 2014), cao gần gấp đôi của Bangladesh (1,3 năm 2013)

và vượt xa con số trung bình của các nước OECD (khoảng 1 ) /

Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng để đảm bảo thuế trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước không có nghĩa là động viên nguồn tài chính và NSNN với bất cứ giá nào Trong một quốc gia mức động viên về thuế luôn bị ràng buộc rất nhiều yếu tố kinh tế - xã hội, trước hết là yếu tố tăng trưởng kinh tế mà chỉ tiêu biểu hiện của nó là thu nhập quốc dân bình quân đầu người

1.1.3.2 Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, thuế là một công cụ quản lý sắc bén và hữu hiệu trong tay nhà nước, thông qua thuế, nhà nước có thể thực hiện việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý đối với tất cả các thành phần kinh tế, các hoạt động sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động về đời sống xã hội khác

Thông qua việc xây dựng đúng đắn cơ cấu và mối quan hệ giữa các loại thuế,

xử lý đồng bộ các chính sách thuế (bằng việc xác định hợp lý đối tượng nộp thuế, đối tượng tính thuế, thuế suất, thuế biểu, chế độ miễn giảm ) Nhà nước có thể điều chỉnh toàn bộ nền kinh tế theo hướng khuyến khích những hoạt động sản xuất kinh doanh cần thiết, có hiệu quả Đồng thời hạn chế, thu hẹp những ngành nghề, những mặt hàng cần hạn chế sản xuất, hạn chế tiêu dùng Thuế còn tạo điều kiện khuyến khích đầu tư hướng dẫn cạnh tranh lành mạnh, mở rộng giao lưu hàng hoá, bảo vệ tài nguyên và môi trường

Tăng trưởng kinh tế cao và bền vững là điều mong đợi của mọi quốc gia, là

cố gắng nỗ lực của mọi Chính phủ, song trong đời sống kinh tế thị trường mọi cố gắng đó không phải bao giờ đều đưa đến những ổn định lâu dài Mỗi nền kinh tế thị trường đều phải trải qua các chu kỳ, đó là chu kỳ dao động lên xuống của tổng sản phẩm xã hội và tương ứng với nó là các dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp

và tỷ lệ lạm phát Duy trì sự ổn định nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn việc làm, lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững là hướng phấn đấu nỗ lực của mọi Chính phủ Để thực hiện điều đó, mọi Chính phủ đều sử dụng đến quyền lực về tài chính và tiền tệ của mình Trong quyền lực về tài

Trang 22

chính có quyền lực đánh thuế của Chính phủ Thuế với đặc điểm có quan hệ chặt chẽ đến thu nhập, tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư trong nền kinh tế cho nên được sử dụng như là một trong những công cụ chính để góp phần tạo nên sự ổn định của nền kinh tế Một hệ thống chính sách thuế có cơ cấu đúng đắn, phù hợp với mức động viên vừa phải có thể kích thích các yếu tố tăng trưởng kinh tế Khi nền kinh

tế đang trong cơn suy thoái, Chính phủ có thể cắt giảm các thứ thuế để kích thích đầu tư, tạo thêm nhiều công ăn, việc làm và thúc đẩy sự tăng lên của cầu tiêu dùng Ngược lại, khi nền kinh tế tăng trưởng cao đưa đến một nền kinh tế nóng, lạm phát

có nguy cơ bùng nổ, Nhà nước có thể tăng thuế để hạn chế phía cầu và phía cung Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng công cụ thuế là một trong những công

cụ rất nhạy cảm đối với nền kinh tế Vì vậy trong cả hai tình huống của nền kinh tế không phải bao giờ sử dụng công cụ thuế đều thành công Do đó, để đưa nền kinh tế

ổn định tương đối, cùng với thuế phải sử dụng kết hợp đồng bộ với các công cụ khác một cách nhịp nhàng

1.1.3.3 Thuế góp phần bảo đảm bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân, các tầng lớp dân cư, điều hoà thu nhập và thực hiện công bằng xã hội

Nhà nước dùng sức mạnh quyền lực của mình để bắt buộc mọi thể nhân trích một phần thu nhập của mình do hoạt động kinh tế mang lại để góp vào ngân sách Nhà nước Nhưng để đảm bảo công bằng và tránh tuỳ tiện trong việc đóng góp đó, nhà nước phải quy định theo những luật lệ nhất định gọi là các luật thuế và theo nguyên tắc mọi thành viên trong xã hội đều phải bình đẳng trước pháp luật

Hệ thống thuế phải được áp dụng thống nhất giữa các ngành nghề, các thành phần kinh tế và các tầng lớp dân cư để đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội

Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhau giữa những đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có những điều kiện hoạt động giống nhau và có thu nhập giống nhau, bảo đảm sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi công dân, không có đặc quyền, đặc lợi bất hợp lý cho bất kỳ đối tượng nào

Công bằng xã hội không có nghĩa là bình quân chủ nghĩa, đòi hỏi mọi người trong xã hội chỉ có thể có thu nhập bằng nhau Chính sách thuế còn có vai trò điều hoà thu nhập, người có thu nhập cao phải đóng góp thuế cao hơn người có thu nhập

Trang 23

thấp, thường thông qua thuế suất luỹ tiến từng phần Đồng thời chính sách thuế cũng đảm bảo cho người làm ăn hiệu quả cao có thu nhập cao, thậm chí rất cao so với người làm ăn lười biếng, kém hiệu quả Khuyến khích đầu tư, cải tiến kỹ thuật, cải tiến quản lý, đầu tư chất xám, làm ăn giỏi để có thu nhập cao một cách chính đáng Đây cũng chính là thể hiện sự công bằng xã hội

Trong các chính sách thuế đều quy định rõ nghĩa vụ khai báo, chế độ lưu giữ

sổ sách kế toán, hoá đơn chứng từ, các quy định về thủ tục thu nộp thuế và đi kèm với nó là các chế độ thưởng phạt nghiêm minh theo đúng luật, đây cũng là những yếu tố quan trọng để chính sách thuế đảm bảo bình đẳng và công bằng xã hội

1.1.4 Hệ thống thuế

Cơ sở nộp thuế đều bắt nguồn từ thu nhập, song do yêu cầu của quá trình tái sản xuất, thu nhập vận động qua một chu trình kinh tế và thay đổi hình thái biểu hiện của nó

Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập luân chuyển trong một vòng khép kín: người lao động nhận được tiền công, dùng tiền công này để mua hàng hoá, dịch vụ của các công ty, đến lượt các công ty lại dùng số tiền thu được để trả lãi cho vốn đầu tư, tiền thuê đất đai, tiền công và những thành phần này chi tiêu dưới nhiều dạng để mua hàng hoá, dịch vụ

Chính sự biến đổi đa dạng này đã tạo ra khả năng đánh thuế của Chính phủ trên sự luân chuyển của dòng thu nhập khép kín Trong dòng luân chuyển đó nảy sinh các cơ sở khác nhau, do đó xuất hiện các hình thức thuế khác nhau

Hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau mà giữa chúng có

mối quan hệ mật thiết với nhau và việc xây dựng các loại thuế, phương pháp thu nộp thuế được thực hiện theo những nguyên tắc nhất định.[1]

1.2 QUẢN LÝ THUẾ

1.2.1 Khái niệm quản lý thuế

Quản lý thuế là một quá trình tổ chức, quản lý và kiểm tra việc thực hiện những quy định của pháp luật về thuế nhằm huy động đầy đủ những khoản tiền thuế vào ngân sách nhà nước theo luật định.[4]

Dưới góc độ chính trị: quản lý được hiểu là hành chính, là cai trị; nhưng dưới góc độ xã hội: quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy Dù dưới góc độ nào đi

Trang 24

chăng nữa, quản lý vẫn phải dựa những cơ sở, nguyên tắc đã được định sẵn và nhằm đạt được hiệu quả của việc quản lý, tức là mục đích của quản lý

Quản lý thuế là hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan thuế Nhà nước các cấp trên cơ sở của luật và để thi hành luật nhằm thực hiện chức năng tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động thu thuế của Nhà nước Nói cách khác, quản lý thuế chính là quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hành pháp - được thực hiện bởi ít nhất một bên có thẩm quyền hành chính Nhà nước trong quan hệ chấp hành, điều hành.Quản lý thuế là hoạt động đảm bảo thực thi chính sách thuế trong thực tế, trong đó vai trò của cơ quan thuế rất quan trọng khi tác động lên ĐTNT để đảm bảo tính hiệu lực – đáp ứng mục đích thu cho NSNN Quản lý thuế chủ yếu được thực hiện bởi hệ thống cơ quan thuế Nhà nước: Tổng Cục thuế ở Trung ương, Cục thuế, Chi cục thuế ở các địa phương

1.2.2 Nội dung quản lý thuế

1.2.2.1 Lập kế hoạch thu thuế

Lập kế hoạch thu thuế phục vụ hoạch định chính sách và công tác quản lý là một trong những công cụ quan trọng được nhiều nước trên thế giới áp dụng Đối với Việt Nam, các nhà hoạch định chính sách và thực hiện công tác quản lý thuế cũng

đã ứng dụng các phương pháp lập kế hoạch thu thuế để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định

Kế hoạch thu thuế là số lượng thuế các loại phải thu trong kỳ kế hoạch mà các đơn vị thu thuế phải thực hiện Lập kế hoạch thu thuế thực chất là việc xây dựng chương trình huy động các nguồn thu vào NSNN nhằm đạt được mục tiêu hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị thu thuế

* Mục đích của kế hoạch thuế

Thứ nhất, kế hoạch thuế là căn cứ để cân đối NSNN trong kỳ kế hoạch Bởi vì thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN nhưng phải thông qua hệ thống các bộ máy thực hiện như ngành thuế, ngành kho bạc, hoạt động thanh tra, hệ thống chính quyền các cấp…Do đó phải có kế hoạch thuế được duyệt làm mục tiêu phấn đấu và

cơ sở pháp lý mang tính pháp lệnh của Nhà nước giao cho các cấp các ngành thực hiện Kế hoạch thuế là thước đo đánh giá kết quả hoạt động của ngành thuế và các ngành liên quan Vì vậy công tác quản lý kế hoạch thuế phải đảm bảo theo nguyên

Trang 25

tắc tập trung dân chủ Kế hoạch thuế trước hết phải đảm bảo động viên được số vốn cần thiết để thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội do đó kế hoạch thuế phải đảm bảo sự lãnh đạo tập trung thống nhất để nhất quán về mục tiêu động viên và định hướng động viên, đảm bảo tính hợp lý và công bằng trong toàn quốc

Kế hoạch thuế là kế hoạch động viên một bộ phận GDP cho Nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích kinh tế của các tổ chức kinh tế, các tầng lớp cư dân trong xã hội nên không thể áp đặt số thu, mà số thu phải phù hợp với khả năng kinh tế, khả năng đóng góp của nhân dân Do đó kế hoạch thuế phải thực hiện dân chủ để các chỉ tiêu

kế hoạch có cơ sở thực hiện

Thứ hai, kế hoạch thuế là căn cứ để triển khai các hoạt động để thu thuế vào NSNN Trên cơ sở kế hoạch thuế đã được xây dựng, các đơn vị thu thuế phối hợp các hoạt động và nỗ lực giữa các bộ phận với nhau để hoàn thành mục tiêu thu NSNN

*Yêu cầu của kế hoạch thuế

Lập kế hoạch thuế là khâu đầu tiên của quá trình quản lý thuế, do đó nếu lập

kế hoạch thu thuế không tốt sẽ dẫn đến kết quả không thực hiện được hoặc thực hiện kế hoạch thu thuế với hiệu quả không cao Vì vậy, yêu cầu cơ bản nhất của kế hoạch thuế là phải dự báo chính xác số thu của các loại thuế trên từng địa bàn quản

lý Nếu có sai sót từ khâu lập kế hoạch thuế thì dù có cố gắng trong khâu tổ chức thực hiện, kiểm tra, điều chỉnh thì vẫn cứ sai lệch trong một loạt các khâu tiếp sau trong quá trình quản lý thuế

Ở tầm vĩ mô, dự báo thu một cách chính xác đảm bảo cho ngân sách Nhà nước

có được tác động kinh tế một cách có kế hoạch Việc bội thu hoặc bội chi ngân sách ngoài dự kiến do dự báo thu không chính xác có thể gây ra các tác động kinh tế vĩ mô không lường trước Thí dụ, bội thu ngân sách có kế hoạch là phương tiện để kiềm chế sức ép lạm phát đối với nền kinh tế, nhưng nếu bội thu theo kế hoạch đó lại xuất phát

từ việc đánh giá quá cao về nguồn thu và do đó, kết quả thực tế là bội chi thì tác động tiếp theo sẽ là thúc đẩy hơn nữa lạm phát Một sự bội chi ngoài dự kiến như vậy còn

có thể gây nên các vấn đề về dòng luân chuyển tiền tệ cho Nhà nước [23]

Mặt khác, kế hoạch thuế là phương tiện để triển khai thực hiện các hoạt động thu thuế nên cho dù có sự nỗ lực giữa các bộ phận đi nữa thì nếu kế hoạch được lập không tốt sẽ dẫn đến không hoàn thành mục tiêu thu NSNN

Trang 26

* Căn cứ và phương pháp lập kế hoạch thuế:

-Căn cứ để lập kế hoạch thu thuế là xác định đối tượng nộp thuế và xác định căn cứ để tính thuế

Đối tượng nộp thuế là các pháp nhân và thể nhân có nghĩa vụ phải nộp thuế cho Nhà nước theo các điều kiện được dự liệu trong các luật thuế Việc xác định ĐTNT được thực hiện một cách khá dễ dàng nhờ hệ thống thông tin quản lý ĐTNT của ngành thuế

Đối tượng tính thuế là căn cứ quan trọng nhất để tính thuế, phản ánh nội dung kinh tế - xã hội, nguồn gốc của bộ phận của cải được tập trung vào quỹ NSNN, thể hiện tính chất độc lập của một thứ thuế trong hệ thống thuế Do đó, các đạo luật thuế quy định đối tượng tính thuế của mỗi thứ thuế có tính độc lập Chẳng hạn, đối tượng tính thuế GTGT là giá tính thuế, đối tượng tính thuế của thuế TNDN là thu nhập chịu thuế v.v…

Việc xác định đối tượng tính thuế có vai trò ảnh hưởng rất lớn tới mức độ chính xác của kế hoạch thuế Bởi vì đối tượng tính thuế của các loại thuế thường có diện chịu thuế rộng và luôn biến động Do đó, để đảm bảo kế hoạch thuế đạt mức

độ chính xác cao thì cần phải xác định chính xác các yếu tố của đối tượng tính thuế Thuế suất là yếu tố quan trọng nhất của một sắc thuế, là linh hồn của một sắc thuế Thuế suất do các Luật thuế quy định

Xác định đối tượng nộp thuế và xác định căn cứ để tính thuế là những căn cứ

để xác định các chỉ tiêu của kế hoạch thuế cho từng loại thuế Chính vì vậy, khi các căn cứ để lập kế hoạch thuế không được xác định chính xác dẫn đến việc lập kế hoạch cho từng loại thuế không chính xác Đặc biệt việc xác định đối tượng tính thuế trên thực tế hết sức khó khăn do hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu chuyên ngành còn chưa được xây dựng đầy đủ và đồng bộ Mặt khác, mức độ chính xác trong việc lập kế hoạch thuế lại phụ thuộc yếu tố này Do đó, để kế hoạch thu thuế lập ra đạt hiệu quả cao nhất cần thiết phải đảm bảo có đầy đủ thông tin và phương pháp xác định đối tượng tính thuế

1.2.2.2 Tổ chức thực hiện việc thu thuế

Tổ chức thực hiện thu thuế là khâu đóng vai trò quyết định hiệu quả công tác quản lý thuế Đây là khâu giải quyết nhiều vấn đề phức tạp trong quá trình tổ chức

Trang 27

động viên giữa Nhà nước với các đối tượng nộp thuế khi thực hiện nghĩa vụ đóng góp Trong khâu tổ chức thực hiện kế hoạch cần xuất phát từ điều kiện thực tiễn để xây dựng kế hoạch quý, tháng Trên cơ sở xác định mục tiêu phải thực hiện hàng tháng tiến hành tổ chức thực hiện các nghiệp vụ quản lý thuế để theo dõi, đôn đốc các đối tượng nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ đóng góp đúng thời hạn

Yêu cầu của công tác tổ chức thực hiện thu thuế là phải đảm bảo thu đúng, thu

đủ, kịp thời các khoản thuế vào NSNN và với chi phí hợp lý

Để đáp ứng yêu cầu của công tác tổ chức thực hiện thu thuế thì phải đảm bảo các yếu tố sau:

*Về tổ chức bộ máy thu thuế: Việc tổ chức hệ thống bộ máy ngành thuế quyết

định phần lớn hiệu quả của Luật thuế Thông thường, việc tổ chức hệ thống bộ máy ngành thuế được tổ chức theo từng cấp địa phương và vùng lãnh thổ và quy trình thực hiện đóng vai trò quan trọng nhất trong việc triển khai các hoạt động thu thuế

Ở các nước trên thế giới thường có những mô hình tổ chức bộ máy ngành thuế như sau:

-Mô hình tổ chức theo các sắc thuế: Phòng Thuế GTGT, phòng thuế thu nhập

cá nhân, phòng thuế TTĐB…

-Mô hình tổ chức theo các đối tượng nộp thuế: Phòng quản lý các doanh nghiệp nhà nước, phòng quản lý doanh nghiệp ngoài quốc doanh, phòng quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…

-Mô hình tổ chức theo địa phương, vùng lãnh thổ và kết hợp cả hai mô hình trên

-Kết hợp cả ba mô hình trên

* Biên chế lao động: Tuỳ theo nhu cầu về nhân lực mà mô hình tổ chức áp

dụng để có thể định biên và bố trí lao động hợp lý cho từng bộ phận cả về phương diện số lượng và chất lượng

* Xây dựng, lựa chọn quy trình thu thuế: Có hai cách xây dựng quy trình thu

thuế đó là:

-Cơ quan thuế tính thuế và ra thông báo Theo cách này, các đối tượng nộp thuế nộp các bản khai thuế, cơ quan thuế tiến hành tính toán số thuế theo số liệu kê khai và ra thông báo cho đối tượng nộp thuế thực hiện

Trang 28

-Đối tượng nộp thuế tự kê khai, tính toán và nộp thuế Theo cách này đối tượng nộp thuế phải tự kê khai, tính toán số thuế phải nộp trong kỳ của mình và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kê khai, tính toán số thuế phải nộp đối với Nhà nước

*Cơ sở vật chất phục vụ công tác thu thuế: Đây là yếu tố không thể thiếu để

hỗ trợ tốt cho công tác thu thuế cũng như các lĩnh vực khác Tuỳ theo mô hình tổ chức bộ máy thu thuế, định biên để bố trí cơ sở vật chất hợp lý như: trụ sở văn phòng, xe máy, hệ thống máy vi tính, văn phòng phẩm… cho các bộ phận thu thuế đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phục vụ công tác thu thuế trên từng địa bàn

*Kết quả tổ chức thực hiện việc thu thuế: là số thuế thực thu của từng loại thuế

cho Nhà nước, của từng đơn vị thu trong kỳ thu thuế Đây là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng của khâu lập kế hoạch và đánh giá hiệu quả của công tác quản lý thuế Đồng thời phản ánh thực tế của khả năng kinh tế, khả năng dân cư Trong cơ chế kinh tế thị trường sự vận động của kinh tế khá phức tạp

và đa dạng do đó yêu cầu đặt ra cho khâu này là cần hết sức nhạy bén áp dụng các biện pháp hữu hiệu để xử lý các tình huống đúng các quy định của luật thuế và phù hợp với điều kiện kinh tế thực tế phát sinh

1.2.2.3 Công tác thanh tra, kiểm tra thuế và xử lý vi phạm

Đối tượng của kiểm tra, thanh tra thuế là các tổ chức kinh tế và các cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước và chính bản thân các đơn vị thuộc ngành thuế Mục đích của thanh tra thuế là nhằm phát hiện để từ đó có biện pháp xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật thuế nhằm hạn chế mức thấp nhất tình trạng thất thu về thuế cho Nhà nước, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế cho các ĐTNT và cho người thi hành công vụ trong ngành thuế; phát hiện các nội dung không phù hợp trong các văn bản pháp luật về thuế với thực tiễn nhằm kiến nghị các cơ quan chức năng sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống thuế

Yêu cầu của công tác kiểm ta, thanh tra là phải đảm bảo tính khách quan, trung thực, chính xác, rõ ràng trong việc xem xét và đưa ra các kết luận sau kiểm tra, thanh tra; Kiểm tra, thanh tra thuế phải dựa vào các văn bản pháp quy của Nhà nước để tiến hành

Trang 29

1.3 Quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

1.3.1 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh

1.3.1.1 Khái niệm

Doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng cấu thành nền kinh tế, có mối quan

hệ chặt chẽ với các bộ phận khác Sự phát triển của doanh nghiệp gắn liền với sự phát triển của các phương thức sản xuất Do đó, hiểu về doanh nghiệp một cách sâu sắc là cơ sở để nghiên cứu cấu trúc vốn một cách toàn diện hơn

Theo định nghĩa của Viện Thống kê và Nghiên cứu kinh tế, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất của cải và dịch vụ để bán Theo Luật Công ty Việt Nam ban hành năm 1999, doanh nghiệp là các đơn vị kinh doanh được thành lập với mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh,

đó là việc thực hiện một hay một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hay thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời Luật Doanh nghiệp Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2014 đã đưa ra

khái niệm về doanh nghiệp “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ

sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [21] Khái niệm doanh nghiệp theo đó được hiểu theo nghĩa khá rộng

rãi, đầy đủ và chặt chẽ

Như vậy, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhân hoặc không, thực hiện các hoạt động kinh doanh theo qui định của pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu nhất định

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có thể được hiểu là cơ sở sản xuất kinh doanh đôc lập đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành và không nằm trong khu vực Nhà nước DNNQD là toàn bộ các đơn vị sản xuất kinh doanh của tư nhân đứng ra thành lập, đầu tư kinh doanh và tổ chức quản lý DNNQD là một bộ phận của nền kinh tế, lấy sở hữu tư nhân làm nền tảng, được tồn tại lâu dài, được bình đẳng trước pháp luật chủ động trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật Xuất phát từ hình thức sở hữu của DNNQD nhà nước không cấp vốn vào hoạt động mà vốn hoạt động của DN NQD là vốn do tư nhân bỏ ra hay vốn hay một nhóm các thành viên là các tổ chức, cá nhân góp lại DN NQD phải tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của doanh nghiệp

Trang 30

1.3.1.2 Vai trò của các DN NQD trong nền kinh tế

Với sự phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, phạm vi hoạt động rộng khắp ở tất cả các vùng, miền trong cả nước, tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, đặc biệt là khu vực sản xuất chế biến, bán lẻ và dịch vụ, doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã góp phần ngày càng lớn vào quá trình tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội

Về kim ngạch xuất khẩu: khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã có những đóng góp tích cực vào việc tăng kim ngạch xuất khẩu, nhất là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản, thuỷ sản, hàng may mặc, đồ da, đồ gỗ,… Một số sản phẩm xuất khẩu của nước ta hiện nay chủ yếu do khu vực kinh tế tư nhân sản xuất như: hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông sản, thuỷ sản, hàng may mặc, đồ da, đồ gỗ,…

Số doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể mới thành lập cùng với các doanh nghiệp mở rộng quy mô và địa bàn kinh doanh trong các năm qua đã tạo thêm hơn 2 triệu chỗ làm việc mới, thu hút nhiều lao động địa phương,đồng thời tiếp nhận phần lớn số lao động dư thừa do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước hay cải cách hành chính với thu nhập bình quân hàng tháng của người lao động cũng tăng nhanh

1.3.1.3 Đặc điểm của DNNQD ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế

Chính sách đổi mới do Đảng cộng sản Việt nam đề ra đã thu được những thành công rất to lớn, khẳng định tính đúng đắn trong việc đổi mới công tác lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước ta Đặc biệt trong điều kiện Đảng cầm quyền đòi hỏi phải có một Nhà nước được tổ chức khoa học có đủ năng lực quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, nhất là năng lực tổ chức quản lý kinh tế, mà một trong những công cụ hữu hiệu và sắc bén đó là thuế Hiệu quả quản lý nhà nước về thu ngân sách thể hiện qua việc tập trung nguồn lực vật chất, quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế giúp cho Nhà nước quản lý và kiểm soát có hiệu quả các hoạt động kinh

tế và xã hội, thực hiện được các mục tiêu đã đề ra

Thực tiễn cho thấy các doanh nghiệp nói chung là đối tượng thực hiện tương đối tốt nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước như thực hiện tốt chế độ hạch toán kế toán, đăng ký kê khai, chấp hành khá tốt pháp luật về thuế Bên cạnh mặt tích cực đó vẫn còn nhiều tồn tại cần phải khắc phục để nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế

và quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp

Trang 31

Các doanh nghiệp đều là đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước Vì vậy họ đều tính toán khi nộp thuế bởi nó liên quan đến lợi ích của doanh nghiệp Nếu không phải nộp thuế hoặc nộp thuế ít thì tỷ lệ để lại được dùng vào mở rộng sản xuất kinh doanh, lợi nhuận để lại nhiều hơn Cho nên còn một số doanh nghiệp tìm cách nộp thuế càng ít càng tốt Vì vậy những vi phạm về thuế vẫn cứ tiếp diễn dưới các hình thức như: tìm kẻ hở, lách luật để tránh thuế, tăng chi phí để giảm thu nhập chịu thuế thậm chí có một số doanh nghiệp còn trốn thuế như hạch toán sai chi phí, doanh thu vì vậy đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa sự quản lý của

cơ quan thuế

Ngoài ra, các doanh nghiệp vẫn còn một số vi phạm về việc đăng ký, kê khai, quyết toán thuế, dây dưa nộp thuế, nợ đọng thuế gây khó khăn phức tạp trong quá trình quản lý thu thuế và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế Những tồn tại trên xuất phát từ một số nguyên nhân như: cơ chế chính sách thuế vẫn còn nhiều hạn chế chưa quy định chi tiết, cụ thể; giữa các luật có khi không đồng bộ gây khó khăn cho công tác thực hiện Công tác quản lý thuế vẫn còn nhiều mặt yếu kém, đội ngũ cán bộ thuế vẫn có những cán bộ chưa thực sự nắm chắc chuyên môn nghiệp vụ còn thụ động, thiếu kiên quyết, lúng túng, chưa có biện pháp cứng rắn trong quá trình xử lý các trường hợp vi phạm Mặt khác, nhiều doanh nghiệp chưa thực sự am hiểu chính sách thuế, thậm chí còn một số doanh nghiệp không tuân thủ các quy định về pháp luật thuế để trốn thuế, gian lận thuế Qua sự phân tích trên cho thấy việc tăng cường công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp là rất cần thiết đòi hỏi phải có nhiều giải pháp đồng bộ mới có thể nâng cao hiệu quả của công tác này, góp phần chống thất thu, tăng thu ngân sách, hạn chế sự vi phạm của các doanh nghiệp, đồng thời giúp Nhà nước quản lý và điều tiết các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung đúng định hướng xã hội chủ nghĩa

1.3.2 Các loại thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

1.3.2.1 Thuế Giá trị gia tăng (GTGT)

Thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu tính trên phần giá trị tăng thêm của tất cả hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông cho tới tiêu dùng

Trang 32

Thuế là một thực thể pháp lý nhân định nhưng sự ra đời và tồn tại của nó không chỉ phụ thuộc vào ý chí con người mà còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh

tế - xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định

Thuế giá trị gia tăng có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế giá trị gia tăng - vào năm 1954 Thuế giá trị gia tăng theo tiếng Pháp gọi là: Taxe Sur La Valeur Ajou tée (viết tắc là TVA), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắc là VAT), dịch ra tiếng Việt là thuế giá trị gia tăng Khai sinh

từ nước Pháp, thuế giá trị gia tăng đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Ngày nay, các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, châu Phi, châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia Châu á trong đó có Việt Nam đã chính thức áp dụng thuế giá trị gia tăng Các quốc gia khác cũng đang trong thời ký nghiên cứu loại thuế này Tính đến nay đã có khoảng 130 quốc gia áp dụng thuế giá trị gia tăng

Ở nước ta, tại kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khoá 9, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật thuế giá trị gia tăng và có hiệu lực thi hành kề từ ngày 01-01-1999

Theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng là một loại

thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh

trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sách Nhà

nước theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ

Tóm lại, những thuộc tính cơ bản trên đây của thuế đã phản ánh bản chất và nội dung bên trong của thuế Từ những thuộc tính đó giúp ta phân biệt thuế với các hình thức động viên khác của NSNN trên nhiều phương diện khác nhau

Là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong

quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng, thuế GTGT là loại thuế gián thu

- Đối tượng nộp thuế GTGT là các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT hoặc nhập khẩu hàng hoá thuộc diện chịu thuế GTGT

- Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất Giá tính thuế GTGT được quy định cụ thể tại Điều 7 Luật thuế GTGT áp dụng cho từng loại hàng hoá, dịch vụ

Ví dụ: Giá tính thuế đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT, đối với hàng hoá nhập khẩu giá tính thuế là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu v.v

Trang 33

Luật thuế GTGT của Việt Nam hiện nay quy định các mức thuế suất là: 0 ,

5 , 10 áp dụng cho các nhóm hàng hoá dịch vụ

-Phương pháp tính thuế GTGT: Gồm có 02 phương pháp tính thuế; phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng +Phương pháp khấu trừ thuế:

Số thuế phải nộp = thuế GTGT đầu ra - thuế GTGT đầu vào

Trong đó: Thuế GTGT đầu ra bằng giá tính thuế hàng hoá dịch vụ bán ra nhân (x) thuế suất; Thuế GTGT đầu vào = Tổng số thuế GTGT đã thanh toán được ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT hàng hoá nhập khẩu

+ Phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT: Theo phương pháp này, số thuế GTGT mà đối tượng nộp thuế phải nộp = GTGT của hàng hoá, dịch vụ nhân (x) với thuế suất [10]

1.3.3.2 Thuế thu nhập doanh nghiệp

Là loại thuế điều chỉnh quan hệ thu nộp thuế TNDN phát sinh giữa nhà nước

và các tổ chức kinh doanh có lợi nhuận từ các hợp đồng kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam

Căn cứ theo Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp hiện hành thì Thuế TNDN được quy định như sau:

- Đối tượng nộp thuế TNDN: Là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế (sau đây gọi là doanh nghiệp), bao gồm:

* Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh

nghiệp, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật chứng khoán, Luật dầu khí, Luật thương mại và các văn bản pháp luật khác dưới các hình thức: Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp

tư nhân; Doanh nghiệp Nhà nước; Văn phòng Luật sư, Văn phòng công chứng tư;

Các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; Các bên trong hợp đồng phân chia sản

phẩm dầu khí, xí nghiệp liên doanh dầu khí, Công ty điều hành chung

* Các đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanh hàng

hoá, dịch vụ có thu nhập trong tất cả các lĩnh vực;

Trang 34

Các khoản lỗ được kết chuyển theo quy định

* Các tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã;

* Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (gọi

là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú tại Việt Nam

* Doanh nghiệp nước ngoài, tổ chức nước ngoài sản xuất kinh doanh tại Việt

Nam không theo Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp hoặc có thu nhập phát sinh tại

Việt Nam nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính

-Căn cứ tính thuế TNDN là thu nhập tính thuế và thuế suất:

Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước theo quy định

Thu nhập tính thuế được xác định theo công thức sau:

Thu nhập chịu thuế được tính như sau:

Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và thu nhập khác

Thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế xác định như sau:

= Doanh thu - Chi phí được trừ +

Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ bằng doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ trừ chi phí được trừ của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đó Doanh nghiệp có nhiều hoạt động kinh doanh áp dụng nhiều mức thuế suất khác nhau thì doanh nghiệp phải tính riêng thu nhập của từng hoạt động nhân với thuế suất tương ứng

Thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản phải hạch toán riêng để

kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, không được bù trừ với thu nhập hoặc lỗ từ các hoạt động sản xuất kinh doanh khác

Trang 35

Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác tại Việt Nam từ 32 đến 50% phù hợp với từng dự án, từng cơ sở kinh doanh

-Miễn, giảm thuế TNDN: Luật thuế TNDN có các quy định về miễn thuế, giảm thuế TNDN áp dụng cho các đối tượng đầu tư sản xuất, kinh doanh thuộc ngành nghề, lĩnh vực ưu đãi đầu tư [15]

1.3.3.3 Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Theo luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành thì luật thuế này chỉ điều chỉnh quan hệ thu nộp thuế phát sinh từ hoạt động xuất, nhập khẩu hàng mậu dịch qua biên giới Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu

- Đối tượng nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là các tổ chức và cá nhân có hàng hoá được phép xuất, nhập khẩu thuộc diện chịu thuế

- Căn cứ tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bao gồm: Số lượng từng mặt hàng ghi trong tờ khai hàng xuất khẩu, nhập khẩu, giá tính thuế và thuế suất

Trong đó: Giá tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được áp dụng cụ thể đối với từng trường hợp Giá tính thuế đối với hàng xuất khẩu là giá bán cho khách hàng tại cửa khẩu không bao gồm chi phí vận chuyển và phí bảo hiểm theo hợp đồng bán hàng; Giá tính thuế đối với hàng nhập khẩu là giá mua của khách hàng tại cửa khẩu nhập bao gồm chi phí vận tải và chi phí bảo hiểm theo hợp đồng mua hàng (giá CIF)

-Thuế suất: Biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập nhập khẩu bao gồm các thuế suất

tỷ lệ áp dụng cho từng mặt hàng xuất nhập khẩu

-Miễn, giảm thuế, hoàn lại thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu:

+Hàng xuất khẩu, nhập khẩu được miễn thuế trong một số trường hợp như hàng viện trợ không hoàn lại, hàng tạm nhập, tái xuất

+Chế độ giảm thuế được áp dụng trong một số trường hợp thiệt hại hàng hoá trong quá trình vận chuyển, bốc xếp bị hư hỏng, mất mát

+Hoàn lại thuế xuất khẩu, nhập khẩu trong từng trường hợp hàng đã nộp thuế nhưng thực tế không xuất, không nhập vào Việt Nam [14]

1.3.3.4 Thuế tiêu thụ đặc biệt

Thuế TTĐB là một loại thuế gián thu thông qua chế độ thu thuế TTĐB, nhà

Trang 36

nước động viên một bộ phận thu nhập của người tiêu dùng vào ngân sách nhà nước, đồng thời nhà nước thực hiện hướng dẫn và điều tiết tiêu dùng của xã hội

- Đối tượng nộp thuế: bao gồm các tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hoá và kinh doanh dịch vụ thuộc diện chịu thuế TTĐB

- Căn cứ tính thuế TTĐB là giá tính thuế của hàng hoá dịch vụ chịu thuế và thuế suất Giá tính thuế đối với hàng hoá sản xuất trong nước là giá do cơ sở sản xuất bán ra tại nơi sản xuất chưa có thuế TTĐB, đối với hàng hoá nhập khẩu là giá tính thuế nhập khẩu cộng (+) thuế nhập khẩu

- Thuế suất: Biểu thuế tiêu thụ đặc biệt gồm các thuế suất tỷ lệ quy định áp dụng có tính chất phân biệt giữa các nhóm hàng hoá, dịch vụ và giữa các hàng hoá, dịch vụ trong cùng một nhóm nhằm thực hiện chính sách điều tiết sản xuất và tiêu dùng của nhà nước

- Miễn, giảm thuế TTĐB: Thuế TTĐB là thuế gián thu có tác dụng lớn trong việc điều tiết tiêu dùng của xã hội Do đó luật thuế TTĐB chỉ quy định giảm thuế trong một số trường hợp như; cơ sở sản xuất mặt hàng thuộc diện chịu thuế TTĐB gặp khó khăn do thiên tai, địch hoạ, tai nạn bất ngờ [13]

1.3.3.5 Thuế tài nguyên

Là loại thuế điều chỉnh quan hệ thu nộp thuế tài nguyên với các tổ chức và cá nhân khai thác tài nguyên thuộc chủ quyền của Việt Nam

-Đối tượng nộp thuế tài nguyên bao gồm mọi tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế, không phân biệt ngành nghề, hình thức khai thác có địa điểm cố định hay lưu động có khai thác tài nguyên thiên nhiên thuộc chủ quyền của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác, giá tính thuế và thuế suất

- Sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác là số lượng, trọng lượng hay khối lượng của tài nguyên khai thác thực tế trong kỳ nộp thuế, không phụ thuộc vào mục đích khai thác tài nguyên

+ Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên tại nơi khai thác tài nguyên

+ Biểu thuế tài nguyên gồm các thuế suất tỷ lệ áp dụng theo nhóm và loại tài nguyên

Trang 37

- Miễn, giảm thuế tài nguyên: được áp dụng đối với các trường hợp nhằm khuyến khích đầu tư, khuyến khích sản xuất hoặc để thực hiện một số chính sách kinh tế - xã hội của nhà nước [21]

1.3.3.6 Thuế môn bài

Là khoản thu của NSNN áp dụng đối với tất cả các pháp nhân và thể nhân kinh doanh Thuế môn bài mang tính chất là lệ phí kinh doanh, thông qua chế độ thu thuế môn bài nhà nước thực hiện kiểm kê, kiểm soát các hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế Mức thuế môn bài được áp dụng cho hai nhóm đối tượng là tổ chức và hộ cá thể kinh doanh

1.3.4 Nội dung công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

1.3.4.1 Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế

Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế là một nội dung quan trọng, là khâu đột phá của toàn bộ lộ trình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế trong giai đoạn hiện nay Công tác này có tầm quan trọng đặc biệt, không những nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm và tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của ngành, mà còn tạo mối quan hệ gắn kết giữa cơ quan thuế và người nộp thuế

Một trong những tiêu chí để đánh giá hoạt động của cơ quan thuế tốt là tính hiệu quả mang lại và được thể hiện rõ nét nhất chính là tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế,

tự nguyện cao trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước của người nộp thuế Tạo lập được mối quan hệ bình đẳng, thân thiện giữa cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế theo hướng người nộp thuế là người được phục vụ, là “khách hàng” của

cơ quan thuế và cơ quan thuế là người phục vụ đáng tin cậy nhất của người nộp thuế

Cơ quan thuế và người nộp thuế là bạn đồng hành trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước

Thời gian qua, công tác tuyên truyền - hỗ trợ người nộp thuế của Chi cục Thuế huyện Vĩnh Linh đã mang lại những kết quả nhất định như thông qua nhiều hình thức: triển khai trực tiếp, gửi văn bản thông tin đến người nộp thuế, thông tin qua Đài phát thanh truyền hình, tuyên truyền tại cơ quan thuế…, góp phần vào việc hoàn thành nhiệm vụ của ngành Từ đó đã làm cho các tổ chức, cá nhân hiểu biết hơn về các chính sách thuế để tự giác đi vào thực hiện, số lượng người nộp thuế

Trang 38

chấp hành tốt pháp luật đạt tỷ lệ ngày càng cao Về công tác hỗ trợ người nộp thuế, Chi cục thuế đã tiếp nhận và giải đáp, hướng dẫn kịp thời các vướng mắc cho các tổ chức, cá nhân nộp thuế thông qua việc trả lời bằng điện thoại, bằng văn bản hoặc trực tiếp tại cơ quan thuế; tổ chức các cuộc đối thoại để giải đáp các vướng mắc và tiếp thu các ý kiến đề xuất, kiến nghị của người nộp thuế về chính sách nhằm nghiên cứu, đề nghị về trên hoàn thiện chính sách, chế độ thuế, tôn vinh kịp thời các doanh nghiệp, hộ kinh doanh thực hiện tốt nghĩa vụ thuế

Có thể khẳng định, việc tăng cường công tác tuyên truyền chính sách pháp luật thuế cũng như làm tốt công tác hỗ trợ người nộp thuế đã góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế; từng bước giảm dần các sai sót và

vi phạm trong quá trình thực hiện chính sách thuế của người nộp thuế; quan hệ giữa

cơ quan thuế, công chức thuế và người nộp thuế ngày càng thân thiện và là người bạn đồng hành trong việc thực thi các chính sách, pháp luật thuế Bên cạnh đó, sự chuyển biến tích cực trong công tác tuyên truyền - hỗ trợ người nộp thuế đã góp phần quan trọng vào việc triển khai thực hiện và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu

ngân sách nhà nước theo Nghị Quyết Hội đồng nhân dân huyện giao

1.3.4.2 Tổ chức bộ máy quản lý thuế

Tổ chức bộ máy quản lý thuế Là một khâu quan trọng trong công tác quản lý thuế bao gồm việc xác định tổ chức, cơ cấu bộ máy và phân bổ nguồn nhân lực một cách hợp lý, nhằm xây dựng hệ thống quản lý thuế khoa học, phù hợp, đảm bảo tính thống nhất, thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các chức năng quản lý thuế nhằm thực thi chính sách, pháp luật thuế một cách nghiêm minh, bảo đảm thu đúng, đủ, kịp thời tiền thuế vào ngân sách Nhà nước

+ Vai trò của tổ chức bộ máy quản lý thuế

Con người luôn là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại trong mọi lĩnh vực quản lý thuế Trong bộ máy quản lý thuế, đội ngũ công chức thuế là quan trọng, góp phần vào việc xây dựng hệ thống chính sách thuế phù hợp, khoa học, minh bạch

và đề xuất áp dụng các quy trình quản lý thuế Bộ máy quản lý thuế được tổ chức hợp

lý, thực hiện đầy đủ chức năng quản lý thuế thì sẽ phát huy được hiệu lực của toàn hệ thống thuế và hiệu quả quản lý sẽ cao, ngược lại một cơ cấu tổ chức không phù hợp thì sẽ kìm hãm, làm suy yếu tổ chức và hạn chế tác dụng của bộ máy

Trang 39

Bộ máy quản lý thuế được cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập, quy định chi tiết chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của công chức thuế khi thi hành công vụ Cơ cấu tổ chức bộ máy gọn nhẹ theo hướng cải cách hành chính, linh hoạt, tập trung nguồn lực chủ yếu cho bộ phận thanh kiểm tra thuế (30 / số cán bộ hiện

có của đơn vị) và quản lý nợ thuế (8 / số cán bộ hiện có của đơn vị), cán bộ thuế được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ căn bản, hàng năm tổ chức các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý thuế, cán bộ thuế phải chấp hành tốt 10 Điều kỷ luật của ngành thuế, nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học để xứng tầm đáp ứng với nhu cầu hội nhập của đất nước và xứng đáng với câu tuyên ngôn ngành thuế “ Minh bạch, chuyên nghiệp, liêm chính, đổi mới”

1.3.4.3 Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế

+ Đăng ký nộp thuế

Đối với cơ sở mới thành lập, thời gian đăng ký nộp thuế chậm nhất là 10 ngày

kể từ ngày cấp Giấy phép đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và cấp con dấu; trường hợp cơ sở chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng có hoạt động kinh doanh, cơ sở phải đăng ký nộp thuế trước khi kinh doanh

Các cơ sở đã đăng ký nộp thuế nếu có thay đổi ngành nghề kinh doanh, chuyển trụ sở kinh doanh sang các địa điểm khác, sáp nhập, giải thể, phá sản, hợp nhất, chia, tách hay thành lập các Công ty, nhà máy, xí nghiệp, chi nhánh, cửa hàng mới phải đăng ký bổ sung với cơ quan thuế chậm nhất là 5 ngày trước khi có sự thay đổi đó

Cấp mã số thuế cho đối tượng nộp thuế: Các cơ sở kinh doanh đã thực hiện đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế, cơ quan thuế có trách nhiệm cấp mã số thuế và giấy chứng nhận đăng ký thuế cho cơ sở kinh doanh

+ Kê khai thuế, tính thuế

Người nộp thuế tự tính số tiền thuế phải nộp vào Ngân sách Nhà nước, trừ trường hợp:

* Người nộp thuế vi phạm pháp luật về thuế thuộc diện bị ấn định thuế (không kê khai và nộp hồ sơ khai thuế; có kê khai nhưng số liệu không đầy đủ, trung thực );

* Cá nhân, hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán thuế;

Trang 40

* Hộ gia đình, cá nhân nộp thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp Đây

là nhóm người nộp thuế có điều kiện tự khai thuế nhưng được cơ quan thuế hỗ trợ

do cơ quan thuế lưu giữ đủ cơ sở dữ liệu thông tin về căn cứ tính thuế tại cơ quan thuế, đồng thời giảm chi phí tuân thủ cho người nộp thuế và chi phí quản lý cho cơ quan thuế Hàng năm, đến kỳ nộp thuế cơ quan thuế sẽ tính thuế và ra thông báo nộp thuế cho người nộp thuế biết và thực hiện

Người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế theo mẫu do Bộ Tài chính quy định và nộp đủ các loại chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế Đây là nội dung rất quan trọng do:

* Tờ khai thuế là một chứng từ trong hồ sơ thuế, là căn cứ pháp lý, thể hiện hành vi tính toán số thuế phải nộp của chủ thể có nghĩa vụ thuế

* Tờ khai thuế cung cấp những dữ liệu, thông tin cần thiết cho cơ quan thuế thực thi nhiệm vụ quản lý thuế

Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm nộp số thuế còn thiếu vào NSNN sau 10 ngày kể từ ngày nộp báo cáo quyết toán thuế, nếu nộp thừa được trừ vào số phải nộp của kỳ tiếp sau, hoặc được hoàn thuế nếu cơ sở thuộc trường hợp và đối tượng được hoàn thuế

Ngày đăng: 15/12/2019, 11:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w