Trong số những sáng tác trên thì tác phẩm “Truyện Tây Bắc” xứng đáng là kiệt tác. Tác phẩm “Truyện Tây Bắc” là sự thành công đặc sắc ở mảng đề tài về miền núi Tây Bắc. Bằng tài năng nghệ thuật và vốn sống phong phú về Tây Bắc, ông đã thể hiện được một cách chân thật, sinh động những nỗi đau thương, khổ nhục của họ dưới ách áp bức nặng nề của kẻ thù thực dân phong kiến. Tập Truyện Tây Bắc gồm ba truyện: Mường Giơn, Cứu đất cứu mường, Vợ chồng A Phủ. Hình ảnh người lao động miền núi Tây Bắc nghèo khổ, mà nhất là người phụ nữ trong tập truyện này được Tô Hoài miêu tả với tất cả niềm cảm thông sâu sắc.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Cấu trúc đề tài
Chương 1: Tổng quan về tác giả Tô Hoài và đề tài miền núi
1.1 Tổng quan về tác giả Tô Hoài và đề tài miền núi
1.2 Đề tài miền núi trong văn học Việt Nam
1.3 Vị trí của văn xuôi về đề tài miền núi của Tô Hoài trong nền văn học Việt Nam hiện đại Chương 2: Vị trí của văn xuôi về đề tài miền núi của Tô Hoài trong nền văn học Việt Nam hiện đại
2.1 Khái niệm phong tục, tập quán
2.2 Phong tục lễ hội
2.3 Một số phong tục tập quán, tập tục khác
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện các yếu tố phong tục, tập quán của người miền núi qua tập “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài
3.1 Nghệ thuật thể hiện phong tục các lễ hội
3.2 Nghệ thuật thể hiện phong tục tập quán cứoi hỏi, hôn nhân 3.3 Nghệ thuật thể hiện phong tục tập quán, tập tục khác của ngừoi miền núi
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tô Hoài là cây bút văn xuôi sắc sảo, là nhà văn có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại Sáng tác của Tô Hoài rất đa dạng và phong phú với nhiều để tài như: vùng quê ngoại thành Hà Nội, miền núi Việt Bắc - Tây Bắc trong kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội, sáng tác cho thiếu nhi, chân dung và hồi ức Các sáng tác của Tô Hoài có ý nghĩa khẳng định sự nghiệp văn học của ông Bên cạnh đó còn có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của nền văn học Việt Nam
1.2 Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, viết về miền núi là đề tài mới của Tô Hoài Miền núi Việt Bắc- Tây Bắc trở thành nỗi ám ảnh trong chặng
đường sáng tác sau này của nhà văn Từ tập truyện “Núi cứu quốc” (1948) cho đến “Nhớ Mai Châu” (1989) là một quãng thời gian dài 40 năm viết về
đề tài miền núi trong đời văn của mình, là một thời gian đáng kể Từ các giải thưởng cao quý dành cho các tác phẩm viết về đề tài này, cộng với sự đón nhận nhiệt thành của bạn đọc và giới nghiên cứu, chúng ta có thể nói sáng tác
về đề tài miền núi là một ưu thế đặc biệt của Tô Hoài và nó góp phần to lớn trong việc khẳng định vị trí đặc biệt quan trọng của ông trong nền văn học Việt Nam hiện đại
1.3 Tác giả Tô Hoài có vị trí quan trọng nên được đưa vào giảng dạy ở
trong chương trình ngữ văn bậc phổ thông Trước cách mạng tiêu biểu với Dế
Mèn phiêu lưu kí Sau cách mạng có tác phẩm Vợ chồng A Phủ Tác phẩm
của Tô Hoài đạt được những thành tựu đáng kể về giá trị trị nội dung cũng như giá trị nghệ thuật Trong tương lai, tôi sẽ là một giáo viên dạy văn nên việc thực hiện đề tài này là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn và ý nghĩa khoa học Những nghiên cứu của đề tài sẽ giúp tôi học tập và giảng dạy tốt hơn về các tác phẩm của tác giả Tô Hoài
Trang 3Những lý do trên đây là động lực khiến chúng tôi muốn chọn đề tài
"
Phong tục tập quán của người miền núi qua tập “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài" làm đối tượng để nghiên cứu Từ đó, giúp tôi có cái nhìn toàn diện về những đóng góp của Tô Hoài đối với nền văn học Việt Nam hiện đại
2 Lịch sử vấn đề
Tô Hoài là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại Với hơn 60 năm viết mải miết không ngừng trên rất nhiều đề tài với nhiều thể loại Tô Hoài đã cho ra đời trên 170 đầu sách Những tác phẩm của
Tô Hoài đa số đều có giá trị to lớn và được rất nhiều bạn độc đón nhận Sáng tác của Tô Hoài sớm đợc đông đảo các nhà phê bình, nhiên cứu quan tâm Trong đó đề tài viết về miền núi của Tô Hoải được khà nhiều người nghiên cứu và được nhiều nhà phê bình văn học bàn tới
Về tập truyện ngắn "Núi cứu quốc" (1948)- Tập truyện viết về miền núi đầu tiên của Tô Hoài, nhà văn Nguyễn Đình Thi đã đưa ra nhận xét: “Tất cả diễn lên bằng lời văn sinh động, đẹp chắc mà ta đã quen đọc Tô Hoài từ lâu Nhiều hình ảnh đẹp như thơ, nhất khi nói về khung cảnh Việt Bắc” [2,tr.217] Đến năm 1953 tập "Truyện Tây Bắc" xuất bản đợc giới phê bình đánh giá cao Trong bài viết “Tô Hoài và Truyện Tây Bắc” Hoàng Trung Thông chú ý đến nghệ thuật viết truyện ngắn "Mờng Giơn" từ cách dẫn truyện đến bút pháp, ông chỉ ra: “Tô Hoài viết “Mờng Giơn” dưới con mắt của một nhà thơ Phong cảnh và con người đẹp đẽ của tây Bắc được ngòi bút của Tô Hoài vẽ nên với sức rung động thơ ”[2,tr228] Còn tác giả Huỳnh Lý nhận xét:“Khi miêu tả một cảnh đẹp, một cuộc vui, một không khí gia đình đầm ấm, không ngại nói nhiều, ông đa rất đúng lúc màu sắc, hình ảnh và nhạc điệu vào khiến cho đoạn văn vừa như một khúc nhạc, một bức tranh, một bài thơ.” [2,tr241] Đọc tác phẩm "Vợ chồng A Phủ", tác giả Nguyễn Văn Long thấy được:
“Nghệ thuật của Tô Hoài còn thành công của truyện trước hết ở nghệ thuật xây dựng nhân vật và Nghệ thuật truyện của Tô Hoài còn thành công ở chỗ
Trang 4tác giả đã nắm bắt đợc, lựa chọn đợc những chi tiết chân thực, sinh động mà
có sức khái quát cao.”[2,tr 256] Còn trong bài viết “Vợ chồng A Phủ” của Nguyễn Quang Trung có nhận xét: “Thật khiếm khuyết nếu bỏ qua những bức tranh phong tục và thiên nhiê phủ một chất thơ trong đoạn trích”.[2,275] Năm 1967 tiểu thuyết "Miền Tây" được xuất bản Giáo sư Hà Minh Đức trong bài viết “Tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài” đã nói đến nghệ thuật
dựng ngời dựng cảnh Giáo sư Phan Cự Đệ trong bài Tô Hoài với Miền Tây
cho rằng: “Miền Tây” phần nào thể hiện đợc đằc điểm phong cách Tô Hoài Bao giờ cũng cố gắng gắn liền chất hiện thực với màu sắc lãng mạn, trữ tình thơ mộng trong tác phẩm của mình” [2,tr341] Khái Vinh đọc "Miền Tây" nhận thấy rằng : “Đọc Miền Tây dường như người ta bị thiên nhiên thu hút hơn con ngời và khi tiếp xúc với đời sống nhân vật thì phong tục, tập quán lại đợc biểu hiện sinh động hơn là tâm trạng.” [2,tr360]
Năm 1971, Tô Hoài cho công bố tiểu thuyết "Hoàng Văn Thụ" Huyên Kiêu nhận xét: “Tôi nghĩ rằng, khiêm tốn và kín đáo Tô Hoài chỉ muốn thể hiện một cách viết chứ không muốn chứng minh rằng viết người thực việc thực cũng có thể trở thành một tiểu thuyết hấp dẫn.” [2,tr 361]
Năm 1984, tiểu thuyết "Họ Giàng ở Phìn Sa" đợc xuất bản nhưng ít có tiếng vang Số phận của tiểu thuyết "Nhớ Mai Châu" cũng vậy, ra đời trong sự thờ ơ của độc giả Mai Ngữ khẳng định: “Nhớ Mai Châu là một cuốn tiểu thuyết hay, suất sắc trong đó bộc lộ phong cách và tài năng nhà văn rất nhiều.” [2,tr.407] Vân Thanh tiếp tục khẳng định giá trị của "Nhớ Mai Châu" khi viết:
“Tô Hoài vẫn luôn luôn cố gắng tìm cho mình một cách viết sáng tạo, mới mẻ
về một vấn đề quen thuộc - miền núi, vùng quê của anh” [2,tr410].
Qua những ý kiến phê bình trên của các nhà phê bình, nghiên cứu về các tác phẩm của Tô Hoài nói chung và các tác phẩm viết về đề tài miền núi nói riêng cho chúng ta thấy giá trị của những tác phẩm của tác giả Tô Hoài
Vì vậy, việc nghiên cứu về các đề tài của Tô Hoài cũng như cụ thể là đề tài
Trang 5miền núi là việc cần thiết để hiểu rõ về tác giả Tô Hoài Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi đề cập đến yếu tố phong tục tập quán của người miền núi
qua tập “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về
đề tài miển núi cũng như nghệ thuật viết truyện của tác giả Tô Hoài trong tập
“Truyện Tây Bắc”.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Phong tục tập quán của người miền
núi qua tập “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài
3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
Trọng tâm khảo sát và nghiên cứu của đề tài là tập “Truyện Tây Bắc”
gồm 3 tác phẩm: Cứu đất cứu mường, Mường Giơn và Vợ chồng A Phủ
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan về tác giả Tô Hoài và đề tài miền núi
- Nhiệm vụ trọng tâm là nghiên cứu về phong tục, tập quán của người
miền núi qua tập “Truyện Tây Bắc”.
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi phối hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát - thống kê
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
đề tài được triển khai gồm ba chương:
Chương 1 Tổng quan về tác giả Tô Hoài và đề tài miền núi
Chương 2 Vị trí của văn xuôi về đề tài miền núi của Tô Hoài trong
nền văn học Việt Nam hiện đại
Trang 6Chương 3 Nghệ thuật thể hiện các yếu tố phong tục, tập quán của người
miền núi qua tập “Truyện Tây Bắc” của Tô Hoài.
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÁC GIẢ TÔ HOÀI VÀ ĐỀ TÀI MIỀN NÚI
1.1 Tổng quan về tác giả Tô Hoài và đề tài miền núi
1.1.1 Cuộc đời tác giả Tô Hoài
Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen sinh ngày 07 – 9 - 1920 tại làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức - tỉnh Hà Đông (nay là phường Nghĩa Đô - quận
Cầu Giấy - Hà Nội) trong một gia đình thợ thủ công Ông còn có nhiều bút
danh khác như: Mai Trung, Duy Phương, Mắt Biển, Hồng Hoa, Vũ Đột Kích,
…Quê quán : xã Kim An - huyện Thanh Oai - tỉnh Hà Tây.Tuổi thanh niên,
Tô Hoài phải trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống như : dạy học tư, bán hàng, làm kế toán cho hiệu buôn, … Năm 1938, ông chịu ảnh hưởng của Mặt trận Bình dân và tham gia hoạt động trong tổ chức Hội ái hữu thợ dệt và Thanh niên dân chủ Hà Nội.Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội văn hóa cứu
quốc và bắt đầu viết bài cho báo Cứu quốc và Cờ giải phóng.Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài làm Chủ nhiệm báo “Cứu quốc” Ông là một trong số
những nhà văn đầu tiên Nam tiến và tham dự một số chiến dịch ở mặt trận phía Nam (Nha Trang, Tây Nguyên…) Năm 1946, ông được kết nạp vào Đảng.Năm 1950, ông về công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam Từ năm 1957 đến năm 1980, Tô Hoài đã kinh qua nhiều chức vụ khác nhau trong Hội Nhà văn như : Uûy viên Đảng Đoàn, Phó Tổng thư kí, Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, Giám đốc Nhà xuất bản Thiếu nhi
Đến với con đường nghệ thuật từ cuối những năm ba mươi cho đến nay, Tô Hoài đã sáng tác được một số lượng tác phẩm đồ sộ (hơn một trăm năm mươi đầu sách) ở nhiều thể loại khác nhau như : tiểu thuyết, truyện ngắn, kí, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác Với những đóng góp to lớn cho nền văn học nước nhà, vào năm 1996 ông được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh
Trang 81.1.2 Sự nghiệp sáng tác
Tô Hoài đến với nghề văn ở tuổi mười bảy, mười tám Những sáng tác đầu
tay của ông được đăng trên Hà Nội tân văn và Tiểu thuyết thứ bảy Tuy xuất
hiện ở giai đoạn cuối của thời kì 1930 - 1945 nhưng Tô Hoài đã sớm khẳng định được vị trí của mình trong đội ngũ nhà văn thời kì này bằng một loạt tác
phẩm độc đáo, đặc sắc như : Dế mèn phiêu lưu kí (1941), Quê người (1941),
O chuột (1942), Trăng thề (1943) Nhà nghèo (1944 ) Từ các tác phẩm này,
người đọc dễ nhận thấy sức sung mãn dồi dào trong lao động nghệ thuật của
ông Sau này, Tô Hoài đã bộc bạch chân thành qua Tự truyện về việc ông đến
với nghề văn, ông viết : “Tôi vào nghề văn có trong ngoài ba năm trước Cách mạng tháng Tám, 1945 mà tôi viết như chạy thi được năm truyện dài, truyện
vừa, ba tập truyện ngắn, còn truyện thiếu nhi như Dế mèn thì mấy chục
truyện, cái in, cái chưa in, vương vãi lung tung tôi không nhớ hết Cũng chẳng
có gì lạ Viết để kiếm miếng sống lúc ấy tất phải cuốc khỏe như vậy đấy” Tác phẩm của Tô Hoài trước cách mạng có thể phân thành hai loại chính là: truyện về loài vật và truyện về nông thôn trong cảnh đói nghèo
Truyện về loài vật qua những truyện về loài vật tiêu biểu như : O chuột,
Gã chuột bạch, Tuổi trẻ, Đôi ghi đá, Một cuộc bể dâu, Mụ ngan, Đực ,
người đọc nhận thấy, nhà văn thường viết về cái tốt đẹp, khẳng định cái thiện trong cuộc sống, bày tỏ mong muốn một cuộc sống hạnh phúc, bình yên trong
xã hội, một cuộc sống tốt đẹp mang tính không tưởng
Bên cạnh truyện viết về loài vật, mảng truyện viết về cảnh sống đói nghèo cũng được nhà văn đã miêu tả chân thật và sinh động Cuộc sống cùng quẫn
bế tắc của những kiếp người nghèo khổ, lang thang, phiêu bạt nơi đất khách quê người, những người thợ thủ công bị phá sản xuất hiện dần qua từng trang sách với tất cả niềm cảm thông chân thành của nhà văn Đó là thân phận của
bà lão Vối trong truyện Mẹ già buộc lòng nhẫn nhục sống nương nhờ vào con.
Chỉ vì một con lợn sổng chuồng mà bà bị chính con gái mình chửi rủa chì
Trang 9chiết đủ điều Với cách nghĩ của con gái bà thì bà chẳng khác gì người đi ở mướn, chị ta đã quát : “Thế tôi nuôi bà để làm gì mà bà lại không trông được con lợn?”, thậm chí, không cho bà ngủ ở nhà trên mà đuổi bà xuống bếp nằm ngủ ở đống rơm Sáng ngày hôm sau cả nhà ăn uống nhưng hình như họ đã quên là có bà hiện diện trong cuộc sống của gia đình mình Đó là số phận của
chị Hối trong truyện Ông cúm bà co, bị ốm nhưng không có thuốc men chữa
chạy, rồi bệnh nặng dần vì kém hiểu biết, mê tín, kết cục phải “ra đồng” bỏ lại mấy đứa con thơ dại Đó còn là tấn bi kịch của anh Gà Gáy trong truyện ngắn cùng tên Từ đâu lưu lạc tới không ai rõ, chịu khó làm ăn cho đến khi có một
“gia đình nho nhỏ, đề huề sống yên vui” Thế nhưng, vì cơn ghen vô cớ của anh khiến người vợ bỏ đi biệt tích Đứa con, niềm an ủi duy nhất đối với anh ngã bệnh, hết tiền chạy chữa, trong lúc khốn cùng đành liều đi ăn trộm để rồi
bị bắt, cùng lúc đó đứa con cũng chết Từ đó “Gà Gáy sống còm cõi một
mình” Cay đắng hơn là số phận của bé Gái trong cảnh Nhà nghèo Nó sinh ra
trong gia đình nghèo khổ, túng thiếu và nhiều lần chứng kiến cảnh cha mẹ cãi nhau Nó bị rắn cắn chết trong khi cùng với cha mẹ cố tìm miếng ăn cho gia đình, “người nó có bao nhiêu xương sườn, giơ hết ra cả” Cảnh đó thật xót xa, thê thảm
Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài có sự chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng và sáng tác Tâm trạng trăn trở, phân vân định hướng không dừng lại quá lâu ở Tô Hoài Ông đã nhanh chóng chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống và sáng tạo thành công nhiều tác phẩm có giá trị ở các thể loại loại khác nhau Trong đó, các tác phẩm tiêu biểu của ông giai đoạn này gồm Miền Tây (tác phẩm đạt giải thưởng Bông sen vàng của Hội Nhà văn Á Phi vào năm 1970), Một số kinh nghiệm viết văn của tôi, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, Họ Giàng ở Phìn Sa, Nhớ Mai Châu, Mười Năm, Nhật kí vùng cao, Lên Sùng
Đô, Tôi thăm Campuchia, Thành phố Lênin, Hoa hồng vàng song cửa
Trang 10Trong sự nghiệp văn chương của mình, nhà văn Tơ Hồi từng được nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (đợt 1 -1996) cho các tác phẩm: Xĩm giếng, Nhà nghèo, O chuột, Dế mèn phiêu lưu
ký, Núi Cứu quốc, Truyện Tây Bắc, Mười năm, Xuống làng, Vỡ tỉnh, Tào lường, Họ Giàng ở Phìn Sa, Miền Tây, Vợ chồng A Phủ, Tuổi trẻ Hồng Văn Thụ Điều đáng nĩi, một số tác phẩm về đề tài thiếu nhi của ơng đã được dịch
ra nhiều ngơn ngữ và độc giả trẻ nhiều nước trên thế giới yêu mến
Truyện dài Dế Mèn phiêu lưu kí được ơng viết xong vào tháng 12 năm
1941 tại Nghĩa Đơ, ngoại ơ Hà Nội khi đĩ Đây là tác phẩm rất nổi tiếng của ơng dành cho thiếu nhi
Tác phẩm gần đây nhất của ơng là Ba người khác Sách được viết xong
năm 1992 nhưng đến 2006 mới được phép in, nội dung viết về thời kỳ cải cách ruơng đất miền bắc Việt Nam đã gây tiếng vang lớn và cĩ thể so sánh
với Dế Mèn phiêu lưu ký, "đã mở ra diện mạo mới cho văn chương Việt Nam"
trong nền văn học hiện thực
Trong số những sáng tác trên thì tác phẩm “Truyện Tây Bắc” xứng đáng
là kiệt tác Tác phẩm “Truyện Tây Bắc” là sự thành cơng đặc sắc ở mảng đề tài về miền núi Tây Bắc Bằng tài năng nghệ thuật và vốn sống phong phú về Tây Bắc, ơng đã thể hiện được một cách chân thật, sinh động những nỗi đau thương, khổ nhục của họ dưới ách áp bức nặng nề của kẻ thù thực dân phong
kiến Tập Truyện Tây Bắc gồm ba truyện: Mường Giơn, Cứu đất cứu mường,
Vợ chồng A Phủ Hình ảnh người lao động miền núi Tây Bắc nghèo khổ, mà
nhất là người phụ nữ trong tập truyện này được Tơ Hồi miêu tả với tất cả niềm cảm thơng sâu sắc Cảnh đời của Mị, một cơ dâu gạt nợ chết dần, chết mịn trong địa ngục trần gian của nhà thống lí Pá Tra, hay thân phận của cơ Aûng, từ cơ gái cĩ vẻ đẹp nổi tiếng ở Mường Cơi bị xem như mĩn đồ chơi qua tay nhiều quan châu, quan lang, chúa đất cho đến khi tàn tạ trở thành bà lão Ảng ăn mày , đã để lại cho người đọc biết bao điều suy nghĩ về cuộc