Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này là xây dựng mô hình nghiên cứu về phát hiện sai sót trên báo cáo tài chính để dự đoán khả năng sai sót trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp ngành nguyên vật liệu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dựa trên nghiên cứu của Dechow và các cộng sự (2012).
Trang 1CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
Đà Nẵng - 2018
Trang 2Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN
Người hướng dẫn KH: PGS.TS Đoàn Ngọc Phi Anh
Phản biện 1: PGS.TS Trần Đình Khôi Nguyên
Phản biện 2: TS Lê Đình Thăng
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Kế toán họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng vào ngày 18 tháng 8 năm 2018
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Báo cáo tài chính (BCTC) là một công cụ nhằm duy trì tính minh bạch trong các hoạt động kinh doanh, là một bộ phận bắt buộc phải công khai đối với công ty niêm yết và công ty đại chúng Một vấn đề tồn tại từ lâu trên thế giới cũng như Việt Nam đó là các BCTC công bố có những gian lận, sai sót, đây là vấn đề nghiêm trọng của xã hội và ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế Nhiều trường hợp gian lận BCTC đã làm suy yếu niềm tin vào các thị trường vốn của Việt Nam cũng như thế giới
Trong những năm gần đây, kinh tế Việt Nam được đánh giá là
có triển vọng tích cực, nhất là khi Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được ký kết Tuy nhiên, trong các điều kiện của CPTPP cũng nêu rõ, tham gia CPTPP đồng nghĩa với các doanh nghiệp trong nước chỉ được phép sử dụng nguyên liệu trong nước hoặc nhập khẩu từ các nước thuộc CPTPP để được hưởng thuế suất ưu đãi Trong khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay có quy mô nhỏ, vốn ít, nên việc đầu tư vào cung ứng nguyên vật liệu hiện tại chưa được quan tâm Bởi vậy, trong tương lai gần, ngành nguyên vật liệu là ngành có tiềm năng, cần được quan tâm đầu tư phát triển Để thu hút được nguồn đầu tư cho ngành này, tính minh bạch và trung thực của thông tin đóng vai trò quan trọng Tuy nhiên hiện nay, cơ chế phát hiện và xử lý sai sót Việt Nam hiện chưa được hoàn thiện Vì vậy, vấn đề gian lận BCTC ngành nguyên vật liệu cần được quan tâm hơn nữa
Trước những khó khăn, bất cập trên đề tài “Nghiên cứu nhận diện sai sót trên BCTC của các doanh nghiệp ngành nguyên vật liệu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” được lựa chọn để nghiên cứu
Trang 42 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này là xây dựng mô hình nghiên cứu về phát hiện sai sót trên BCTC để dự đoán khả năng sai sót trong BCTC của các doanh nghiệp ngành nguyên vật liệu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dựa trên nghiên cứu của Dechow và các cộng sự (2012) Từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao khả năng phát hiện sai sót trên BCTC cho các KTV và các nhà đầu tư đối với các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng
Luận văn nghiên cứu sai sót trong BCTC của các doanh nghiệp ngành nguyên vật liệu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Sai sót bao gồm gian lận và sai sót không cố ý Tuy nhiên, sai sót do gian lận là nội dung được nhấn mạnh trong luận văn vì các tài liệu đều tập trung đánh giá các thủ thuật gian lận và phương pháp phát hiện gian lận báo cáo tài chính
b Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung: Sai sót do gian lận BCTC
- Về mặt không gian: Phạm vi nghiên cứu là các doanh nghiệp ngành nguyên vật liệu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Về mặt thời gian: Nghiên cứu sai sót trong BCTC của các doanh nghiệp ngành nguyên vật liệu từ năm 2013 đến 2016
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp là các báo cáo tài chính của 73 doanh nghiệp ngành nguyên vật liệu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Phương pháp phân tích tương quan
Trang 5hồi quy được sử dụng để xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến sai sót BCTC ở các doanh nghiệp ngành nguyên vật liệu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm các nội dung chính sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nhận diện sai sót và các
mô hình nhận diện trên BCTC
- Chương 2: Thiết kế nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu
- Chương 4: Kết luận và hàm ý chính sách
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trang 6CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHẬN DIỆN SAI SÓT VÀ
CÁC MÔ HÌNH NHẬN DIỆN TRÊN BCTC
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SAI SÓT TRONG BCTC CỦA DOANH NGHIỆP
Các sai sót trong BCTC có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn Luận văn chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu các sai sót cố ý trong báo cáo tài chính hay nói cách khác là nghiên cứu các gian lận trong BCTC của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm sai sót và gian lận
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (ISA 240): Sai sót trong báo cáo tài chính có thể phát sinh từ gian lận hoặc nhầm lẫn Để phân biệt giữa gian lận và nhầm lẫn, cần phải xem xét xem hành vi dẫn đến sai sót trong báo cáo tài chính là cố ý hay không cố
ý Như vậy nhầm lẫn là sai sót không cố ý và gian lận là sai sót cố ý Tuy nhiên, gian lận là nội dung được nhấn mạnh trong luận văn vì các tài liệu đều tập trung đánh giá các thủ thuật gian lận và phương pháp phát hiện gian lận báo cáo tài chính
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (ISA 240) : Nhầm lẫn là những lỗi không cố ý xảy ra, có ảnh hưởng đến BCTC Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 240 (ISA 240): Gian lận
là “hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Ban quản trị, ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp cho mình”
Có hai loại gian lận mà KTV cần quan tâm là lập BCTC gian lận và hành vi biển thủ, tham ô tài sản Có ba yếu tố đưa đến gian lận, đó là: Động cơ hoặc áp lực phải thực hiện hành vi gian lận, một
cơ hội rõ ràng để thực hiện điều đó và việc hợp lý hóa hành vi gian
Trang 7lận Nếu cả ba yếu tố của tam giác gian lận xuất hiện, thì khả năng xuất hiện gian lận rất cao
Nhìn chung có khá nhiều những định nghĩa khác nhau về gian lận, tuy nhiên nhìn chung gian lận là hành vi bất hợp pháp nhằm lừa gạt một cá nhân, tổ chức để đạt được một lợi ích nào đó
1.1.2 Phân loại hành vi gian lận trên BCTC
a Quan điểm về phân loại gian lận trong BCTC theo VSA và ISA
Theo VSA 240 và ISA 240, hành vi gian lận được chia thành hai loại: Lập BCTC gian lận (Fraudulent financial reporting), biển thủ tài sản (missappropriation of assets) Dựa trên những biểu hiện của hai loại gian lận này mà VSA và ISA nhận định đứng trên quan điểm của KTV nếu xét trên góc độ chủ thể thực hiện thì gian lận cũng được phân thành hai loại: Gian lận do nhà quản lý (management fraud) và gian lận do nhân viên (employee fraud)
b Quan điểm về phân loại gian lận trong BCTC theo ACFE
Theo ACFE - tổ chức chuyên nghiên cứu về gian lận của Mỹ thì gian lận được chia làm ba loại cơ bản như sau:
Trang 8Tình hình tài chính hay mức sinh lời không ổn định của doanh nghiệp vẫn luôn là nguyên nhân phổ biến nhất khiến doanh nghiệp phải thực hiện các thao túng trên báo cáo tài chính
b Áp lực cao đối với ban giám đốc nhằm đáp ứng các yêu cầu hoặc kỳ vọng của các bên thứ ba
Thông thường nếu công ty muốn nhận được vốn đầu tư từ các bên thứ ba thì nhất thiết công ty đó phải có báo cáo tài chính hợp lý
và thể hiện sức khỏe tài chính tốt của công ty Chính vì lý do trên mà ban giám đốc dù muốn hay không muốn vẫn luôn có xu hướng tiến hành thao túng báo cáo tài chính để nhận được sự ủng hộ từ các bên thứ ba
c Các thông tin cho thấy tình hình tài chính cá nhân của ban giám đốc hoặc hội đồng quản trị bị ảnh hưởng bởi kết quả hoạt động của doanh nghiệp
Phần lớn các khoản thu nhập của Ban giám đốc và Hội đồng quản trị (như tiền thưởng, quyền mua chứng khoán và các thỏa thuận thanh toán theo mức lợi nhuận) là chưa chắc chắn và phụ thuộc vào việc đạt được các mục tiêu về giá chứng khoán, kết quả kinh doanh, tình hình tài chính hoặc luồng tiền Các khoản thu nhập này phụ thuộc vào việc đạt được các mục tiêu chỉ liên quan đến một số tài khoản cụ thể hoặc các hoạt động được lựa chọn của đơn vị, mặc dù nếu xét trên phương diện tổng thể thì các tài khoản hoặc hoạt động này có thể không trọng yếu đối với đơn vị
1.1.4 Các phương thức thực hiện gian lận phổ biến trên BCTC
a Các phương thức gian lận phổ biến liên quan đến khoản mục doanh thu
- Khai khống doanh thu
- Thời điểm ghi nhận doanh thu
Trang 9b Các phương thức gian lận liên quan đến khoản mục chi phí
- Thời gian phân bổ chi phí
- Ghi nhận chi phí không đúng kỳ
- Công bố thông tin không đầy đủ và chính xác
c Xác định giá tài sản
Vì những mục đích nào đó như liên quan đến nhu cầu vay vốn
ở ngân hàng, đặc biệt là yêu cầu cho vay dựa trên cơ sở tài sản Sự gian lận này thường tập trung vào khoản mục công nợ (các khoản phải thu) và hàng tồn kho
1.1.5 Tổng quan về trách nhiệm của Kiểm toán viên đối với gian lận và nhầm lẫn
a Trách nhiệm của Kiểm toán viên đối với gian lận và nhầm lẫn theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế
Theo ISA số 240, trách nhiệm ngăn ngừa và phát hiện gian lận trước hết thuộc về Ban quản trị và Ban giám đốc của đơn vị khách hàng được kiểm toán KTV chỉ phải quan tâm đến những gian lận dẫn đến sai sót trọng yếu trong BCTC Để đạt sự hợp lý này đòi hỏi KTV phải luôn duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt quá trình kiểm toán, phải sử dụng xét đoán chuyên môn để đánh giá xem bằng chứng kiểm toán đã đầy đủ, phù hợp với mục đích kiểm toán chưa
b Các thủ tục phát hiện gian lận được quy định trong các chuẩn mực quốc tế có liên quan
Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
- Thu thập, tổng hợp thông tin về doanh nghiệp khách hàng kiểm toán
- Xác định và đánh giá các yếu tố dẫn đến rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận
Giai đoạn thực hiện kiểm toán
Theo ISA 500, KTV phải thu thập đầy đủ các bằng chứng
Trang 10kiểm toán thích hợp làm cơ sở cho việc ra ý kiến đối với BCTC của doanh nghiệp được kiểm toán Sau khi đã thu thập bằng chứng kiểm toán, KTV phải đánh giá xem liệu những bằng chứng này đã thích hợp và đáng tin cậy chưa
Giai đoạn hoàn thành kiểm toán
KTV sẽ tổng hợp lại những vấn đề về phát hiện rủi ro có gian lận trong quá trình chuẩn bị kiểm toán, đối chiếu lại với những bằng chứng đã thu thập được trong quá trình kiểm toán Ngoài ra, KTV cần xem xét lại những vấn đề đã được phát hiện trong giai đoạn thực hiện kiểm toán mà ở bước chuẩn bị kiểm toán chưa phát hiện ra
1.2 CÁC LÝ THUYẾT NỀN TẢNG GIẢI THÍCH CHO HÀNH
VI GIAN LẬN TRÊN BCTC
1.2.1 Lý thuyết giải thích hành vi gian lận
Hành vi gian lận có thể được giải thích bởi lý thuyết ủy nhiệm của Jensen - Meckling (1976) và lý thuyết các đối tượng có liên quan của Freeman (1984)
a Lý thuyết ủy nhiệm của Jensen và Meckling (1976)
Lý thuyết ủy nhiệm đề cập đến mối quan hệ giữa một bên là người sở hữu vốn của doanh nghiệp và một bên khác là người điều hành - người đại diện thực hiện các quyết định của doanh nghiệp Theo Jensen và Meckling (1976) chính sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền điều hành doanh nghiệp đã làm nảy sinh những nguy
cơ khiến cho hiệu quả hoạt động không ở mức tối ưu, gây thiệt hại cho các nhà đầu tư
b Lý thuyết các đối tượng có liên quan của Freeman (1984)
Theo Freeman (1984) các đối tượng có liên quan là “bất kỳ nhóm hoặc cá nhân nào có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi việc
Trang 11đạt mục tiêu của tổ chức” Lý thuyết này cho thấy rằng góp phần vào
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp không chỉ thông qua mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người điều hành, mà còn mối quan hệ giữa chính doanh nghiệp với các nhóm đối tượng khác nhau bao gồm nhân viên, nhà cung cấp, khách hàng, cơ quan chính phủ, các nhóm chính trị, các hiệp hội thương mại và tổ chức công đoàn
1.2.2 Lý thuyết nghiên cứu hành vi gian lận
a Lý thuyết về phân loại xã hội của Edwin H Sutherland (1883- 1950)
Edwin H Sutherland là một trong những nhà tội phạm học, xã hội học nổi tiếng của Mỹ trong thế kỷ XX Ông cũng chính là cha đẻ của thuật ngữ “white-collar”, một thuật ngữ khá thông dụng ngày nay khi muốn ám chỉ đến những hành vi gian lận được thực hiện bởi những nhà quản lý có vị trí cao trong doanh nghiệp Edwin H Sutherland được coi là ông tổ trong việc nghiên cứu về gian lận của nhà quản lý, không chỉ bởi vì ông là người tiên phong mà còn bởi vì những công trình nghiên cứu vô cùng sâu sắc của ông về lĩnh vực này
b Lý thuyết về tam giác gian lận của Donald R Cressey (1919- 1987)
Lý thuyết này do Donald R Cressey - nhà nghiên cứu về tội phạm vào những năm 40 của thế kỷ 20 Theo Cressey gian lận thường phát sinh khi hội tụ ba điều kiện: Áp lực/động cơ, cơ hội, thái độ/cá tính
c Lý thuyết về bàn cân gian lận của D W Steven Albrecht
Albrecht là nhà tội phạm học làm việc tại trường đại học Brigham Young Ông cùng các cộng sự đã thiết lập các biến số liên quan đến gian lận và xây dựng danh sách 50 dấu hiệu báo động đỏ (red flags) về gian lận Dựa vào kết quả này, Albrecht đã xây dựng
mô hình nổi tiếng-mô hình bàn cân gian lận gồm ba nhân tố: Hoàn
Trang 12cảnh tạo ra áp lực, nắm bắt cơ hội và tính trung thực cá nhân
1.3 CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SAI SÓT TRÊN BCTC 1.3.1 Mô hình P – score
Mô hình P-score được Igor Pustylnick (2011) phát triển bổ sung dựa trên công thức mô hình Z-score Mô hình P-score có công thức tính tương tự như Z-score nhưng thay vì sử dụng thu nhập thuần
và vốn lưu động, Igor Pustylnick (2011) đã sử dụng doanh thu và vốn chủ sở hữu Từ những kết quả nghiên cứu thực tế vào năm 1998
là hơn 50% các trường hợp gian lận dựa trên thời điểm ghi nhận doanh thu và gian lận tài sản, Igor Pustylnick (2011) đã linh động thay đổi những chỉ số trong mô hình Zscore để tăng hiệu quả phát hiện gian lận thông tin trên BCTC
MISSTATEMENT = -7,893 + 0,790 RSST + 2,518 CHREC + 1,191 CHINV + 1,979 SOFTASSETS + 0,171 CHCASHSALES – 0,932 CHROA + 0,129 ISSUE + ε
Kết quả thực nghiệm cho thấy công cụ F-score đã phân loại các doanh nghiệp có sai sót và không sai sót với tỷ lệ chính xác hơn 60% Có thể nói rằng, mô hình F-score là một công cụ khá hữu ích trong việc dự báo rủi ro thông tin trên BCTC có sai sót
Trang 13CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 2.1 MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
2.1.1 Mô hình nghiên cứu
Như đã giới thiệu sơ lược về nghiên cứu này ở Chương 1 bài luận văn sẽ chỉ đi sâu vào tìm hiểu và phân tích mô hình như sau:
MISSTATEMENT = -7,893 + 0,790 RSST + 2,518 CHREC + 1,191 CHINV + 1,979 SOFTASSETS + 0,171 CHCASHSALES – 0,932 CHROA + 0,129 ISSUE + ε
2.1.2 Giả thuyết nghiên cứu
a Các khoản kế toán dồn tích và khả năng có gian lận trên BCTC
Theo kết quả nghiên cứu của Benish (1997) đã chứng minh rằng tổng các khoản kế toán dồn tích chia cho tổng tài sản là hữu ích trong việc xác định các doanh nghiệp có hành vi vi phạm GAAP và đặc biệt là cho các doanh nghiệp đang tích cực sử dụng các khoản trích trước để điều chỉnh lợi nhuận Tương tự như Benish (1997), nghiên cứu của Francis và Krishnan (1999) đã chỉ ra rằng việc phân tích các phương pháp dồn tích sẽ giúp cung cấp cái nhìn toàn diện, sâu sắc về hành vi hợp lý hóa BCTC của các nhà quản trị Điều này cho thấy rằng các khoản kế toán dồn tích thật sự có mối liên hệ với hành vi sai sót trên BCTC
H1: Các khoản kế toán dồn tích tăng thì làm tăng khả năng BCTC có sai sót
b Thay đổi khoản phải thu trên trung bình tổng tài sản và thay đổi hàng tồn kho trên trung bình tổng tài sản và khả năng có gian lận trên BCTC
Ngoài việc sử dụng biến RSST - acc để đo lường chất lượng các khoản kế toán dồn tích, Dechow và các cộng sự (2012) còn dựa