MỤC LỤC Trang 1.2.2 Điều chỉnh và sử dụng vốn ĐTTTNN phù hợp với ý đồ của nước 1.3 HIỆU QUẢ VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HIỆU QUẢ SỬ 1.3.2 Hoạt động “chuyển giá” và ảnh hưởng của nó đến hiệu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN THỊ LIÊN HOA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2000
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1.2.2 Điều chỉnh và sử dụng vốn ĐTTTNN phù hợp với ý đồ của nước
1.3 HIỆU QUẢ VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HIỆU QUẢ SỬ
1.3.2 Hoạt động “chuyển giá” và ảnh hưởng của nó đến hiệu quả sử
1.4 KINH NGHIỆM THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐTTTNN Ở MỘT
1.4.1 Kinh nghiệm thu hút ĐTNN của bốn con rồng Châu Á: Hàn
1.4.2 Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư nước ngoài của một số nước
DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
2.1 CÁC CHỦ TRƯƠNG VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ ĐTTTNN TẠI
2.1.1 Các chủ trương cơ bản của Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực
Trang 32.1.2 Cơ sở pháp lý và cơ chế quản lý của Việt Nam trong lĩnh vực
2.2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐTTTNN TẠI VIỆT NAM TỪ
2.3.1 Những kết quả do hoạt động ĐTTTNN mang lại tại Việt Nam 71
2.3.2 Những hiện tượng tiêu cực xảy ra ở khu vực có vốn ĐTTTNN tại
2.4 NHỮNG VƯỚNG MẮC VÀ NGUYÊN NHÂN GÂY CẢN NGẠI
TRONG VIỆC THU HÚT, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU
2.4.3 Cơ chế kiểm tra và giám sát tài chính đối với hoạt động của các
Trang 4CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU
3.1 HOÀN THIỆN VIỆC HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH THU HÚT
VỐN ĐTTTNN TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP NỀN KINH TẾ
3.1.2 Hoàn thiện quy hoạch phát triển vùng lãnh thổ và quy hoạch chi
3.1.3 Các biện pháp nhằm khuyến khích và mở rộng hình thức B.O.T.,
3.2 KIỆN TOÀN CƠ CHẾ QUẢN LÝ VÀ TỔ CHỨC TỐT CÔNG TÁC
3.2.1 Cải tiến và từng bước hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu
3.3 HOÀN THIỆN CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH, TẠO MÔI
TRƯỜNG THUẬN LỢI CHO THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN
3.3.1 Sử dụng thuế như một công cụ khuyến khích đầu tư trực tiếp
3.3.2 Hoàn thiện hệ thống Luật pháp, ban hành những Bộ Luật còn
3.3.4 Tạo điều kiện cho việc phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt
3.3.7 Huy động nguồn lực tài chính trong nước nhằm tạo thế đối ứng
3.4 XÁC LẬP CƠ CHẾ KIỂM TRA VÀ GIÁM SÁT TÀI CHÍNH ĐỐI
3.4.1 Xây dựng cơ chế kiểm tra và giám sát tài chính đối với các
Trang 53.4.2 Ban hành và hoàn thiện các phương pháp chống chuyển giá một
3.4.3 Kiểm soát các chính sách về định giá chuyển giao trong nội bộ
3.5 ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG ĐƯỢC NHU CẦU
3.5.2 Đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao
Trang 6MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đầu tư Quốc tế hiện nay đang là vấn đề nóng bỏng và được quan tâm
trên toàn thế giới, không chỉ ở những nước đang phát triển mà cả những nước
đã phát triển, không chỉ ở những nước nghèo và lạc hậu mà cả ở những nước
có tiềm lực kinh tế to lớn và nền kinh tế hiện đại Đầu tư quốc tế có vai trò to
lớn, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế và mang lại những tác động tích cực
đối với những nước tiếp nhận vốn đầu tư và nước xuất khẩu đầu tư Vai trò
đầu tư quốc tế đặc biệt có ý nghĩa sâu sắc đến sự phát triển kinh tế ở những
nước đang chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị
trường và các nước kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam Để đạt được
một sự phát triển nhất định cả về kinh tế, xã hội đòi hỏi các nước này thực thi
một chiến lược vốn hết sức nặng nề, triệt để khai thác các nguồn vốn đầu tư
một cách hợp lý và có hiệu quả trong đó nguồn vốn đầu tư quốc tế, đặc biệt là
vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài là một nhân tố cần thiết không thể thiếu
được
Xét về mặt bối cảnh lịch sử, trong giai đoạn hiện nay, các dòng chảy
(trào lưu) của vốn đầu tư quốc tế trên thị trường tài chính đã có những biến
đổi to lớn Nếu như trước đây, thị trường đầu tư quốc tế còn hạn chế thì ngày
nay, với làn sóng cải cách diễn ra ồ ạt ở tất cả các nước, đặc biệt là ở Nga,
Đông Âu, Trung Quốc và các nước đang phát triển khác, nhu cầu vốn đầu tư
tăng vọt lên, các Chính phủ của các nước cần vốn luôn luôn đưa ra những điều
kiện ưu đãi để thu hút vốn Mặt khác, cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ ở các
nước Châu Á những năm gần đây làm thay đổi xu hướng đầu tư trên thế giới
Do đó, vấn đề huy động vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cần phải được
xem xét trong một phạm vi rộng và bao quát để có thể tận dụng lợi thế so sánh
của nước ta, thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư quốc tế Đó là các lợi thế về
thị trường tiêu thụ rộng lớn, vị trí địa lý thuận lợi, lực lượng lao động trẻ, cần
cù, giá nhân công rẻ
Trang 7Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, ĐTTTNN mang lại
những hiệu quả kinh tế xã hội to lớn thực sự là một yếu tố cần thiết quan trọng
để đưa nước ta đi lên ngang tầm với sự phát triển của kinh tế thế giới
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, hoạt động ĐTTTNN vào Việt
Nam đang vấp phải hai vấn đề:
Thứ nhất: lượng vốn ĐTTTNN đang có dấu hiệu chựng lại, cả về quy
mô và số lượng các dự án ĐTTTNN
Thứ hai: hiệu quả sử dụng vốn ĐTTTNN chưa cao, mức thu vào Ngân
sách từ khu vực có vốn ĐTTTNN còn thấp, các doanh nghiệp có vốn ĐTTTNN kê khai lỗ ngày càng nhiều và hiện tượng “chuyển giá” đang có
nguy cơ tạo nên thế cạnh tranh không lành mạnh với các doanh nghiệp trong
nước
Do đó, trước mắt và về lâu dài, Việt Nam cần phải có những giải pháp
hữu hiệu nhằm thu hút hơn nữa nguồn vốn ĐTTTNN, đồng thời nâng cao hiệu
quả sử dụng nguồn vốn ĐTTTNN nhằm tạo nên một lực đẩy cho nền kinh tế
phát triển
Luận án : “Các giải pháp thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu
tư trực tiếp của nước ngoài tại Việt Nam” được hình thành xuất phát từ những
nguyên nhân trên
Vấn đề cơ bản mà luận án mong muốn giải quyết là đưa ra các định
hướng và các biện pháp cụ thể nhằm đẩy mạnh việc thu hút vốn ĐTTTNN,
đồng thời nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn ĐTTTNN trong điều kiện
nền kinh tế Việt Nam
Đề tài có liên quan đến rất nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như kinh
tế, tài chính, luật pháp, … và cả những vấn đề ở phạm vi quốc tế Tuy nhiên,
Luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu tập trung vào hoạt động ĐTTTNN và
nguồn vốn ĐTTTNN kèm theo những giải pháp tài chính ở tầm vĩ mô và vi mô
gắn liền với nó, những vấn đề khác chỉ được giải quyết khi có liên quan
Trang 84 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng xuyên suốt trong Luận án là
phương pháp duy vật biện chứng Luận án còn quán triệt và vận dụng các
nguyên tắc sau: nguyên tắc khách quan, nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc
thống nhất giữa lịch sử và logic, nguyên tắc đi từ trừu tượng đến cụ thể, phương
pháp diễn dịch-quy nạp, phương pháp phân tích-tổng hợp, phương pháp hệ
thống Luận án còn sử dụng các tài liệu, các công trình nghiên cứu trong và
ngoài nước về các vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Luận án đã trình bày và phân tích có hệ thống các vấn đề lý luận thuộc
phạm vi huy động vốn ĐTTTNN, tổng hợp một số kinh nghiệm của các nước
trên thế giới trong lĩnh vực này, trên cơ sở đó rút ra những bài học có thể áp
dụng vào hoàn cảnh của Việt Nam
Luận án cũng phân tích thực trạng huy động và hiệu quả sử dụng nguồn
vốn ĐTTTNN qua các giai đoạn khác nhau, phân tích những thành tựu và hạn
chế trong hoạt động ĐTTTNN tại Việt Nam
Trên cơ sở đó, luận án đưa ra những giải pháp có tính chất khả thi nhằm
tăng cường việc thu hút vốn và nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn ĐTTTNN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận án được trình bày theo kết cấu
sau:
Chương I: Những luận cứ khoa học về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương II: Thực trạng về huy động, quản lý và sử dụng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Chương III: Các giải pháp nhằm tăng cường thu hút và nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Trang 9CHƯƠNG 1
NHỮNG LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI
1.1 VỐN VÀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1.1 Đầu tư và các hình thức đầu tư Quốc tế tại Việt Nam
a/ Khái niệm về đầu tư
Đầu tư là một khái niệm được nhiều nhà kinh tế tiếp cận dưới nhiều hình thức khác nhau
Theo “The New Palgrave Dictionary of Money và Finance” do Peter Newman, Murray Milgate, John Eatwell biên soạn thì: “Đầu tư là một sự hình thành vốn thụ đắc hay tạo ra các nguồn tài nguyên sẽ được dùng trong sản xuất Trong các nền kinh tế tư bản, người ta thường quan tâm vào việc đầu tư kinh doanh vốn hữu hình (hiện vật) như nhà xưởng, thiết bị, kho hàng Nhưng đầu tư cũng do các Chính phủ, các định chế phi lợi nhuận và các hộ gia đình thực hiện, bao gồm sự thụ đắc về nhân lực, vốn vô hình cũng như hữu hình Trên nguyên tắc, đầu tư cũng bao gồm sự cải thiện đất đai hay phát triển tài nguyên thiên nhiên, và sự đo lường kết quả sản xuất một cách đúng đắn sẽ tính gồm cả sản lượng phi thương mại cũng như hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra để bán.” (Robert
M Coen and Robert Eisner, the New palgrave Dictionary of Money and Fianance, edited by Peter Newman, Murrrat Milgate, John Eatwell, the Mac Millan Press Limited, 1992, p 508] [28]
Như vậy, đầu tư theo định nghĩa trên là một khái niệm rất rộng, từ việc mua sắm tài sản, xây dựng công trình đến các chi phí nghiên cứu và phát triển, cho dù nó được tiến hành bởi doanh nghiệp, Nhà nước, các tổ chức phi lợi nhuận hoặc các cá nhân
Theo tác giả Trần Ngọc Thơ trong “Tài chính doanh nghiệp” do tập thể tác giả khoa Tài chính doanh nghiệp Trường đại học Tài chính-Kế toán thì:
“Đầu tư chính là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở thời điểm hiện tại để đổi lấy (khả năng không chắc chắn) giá trị trong tương lai.” [trang 137, Chương 7, tác giả Trần Ngọc Thơ, Tài chính Doanh nghiệp, Khoa Tài chính doanh nghiệp trường Đại học Tài chính-Kế toán TP HCM, 1996)
Khái niệm đầu tư này đề cập đến ba yếu tố là yếu tố thời gian, yếu tố rủi
ro và yếu tố lợi nhuận và đầu tư ở đây được đề cập trên một bình diện rất rộng, bao gồm cả đầu tư tài chính và đầu tư thực “Giá trị” trong khái niệm này có thể
Trang 10hiểu là những giá trị có thể định lượng được (vốn, tài sản ,…) và cả những giá trị không thể định lượng (con người, hiệu quả xã hội,…)
Theo Từ điển Quản lý Tài chính Ngân hàng (do Nhà xuất bản ngoại văn Viện tiền tệ tín dụng ấn hành) thì tùy theo quan điểm, có 3 khái niệm chính về đầu tư:
hoạt động của xí nghiệp trong nhiều chu kỳ kinh doanh nối tiếp Đây là vấn đề tích luỹ các yếu tố vật lý chủ yếu về sản xuất hay thương mại
rút ra tiền lãi trong nhiều thời kỳ nối tiếp Khái niệm này, ngoài việc tạo ra các tài sản có, còn bao gồm các chi tiêu không tham gia vào trực tiếp vào hoạt động của xí nghiệp như nghiên cứu, đào tạo nhân viên…
một khoản chi vào một trong các khoản mục của bảng cân đối kế toán
Theo các tác giả của Từ điển Quản lý Tài chính Ngân hàng thì khái niệm đầu tư không thể tách khỏi khái niệm thời gian, rõ ràng là thời gian càng dài thì việc bỏ vốn ra đầu tư càng gặp nhiều rủi ro [25]
Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về đầu tư nhưng đa số các tác giả đều gặp nhau ở một điểm chung: hoạt động đầu tư được hiểu ở một nghĩa rộng bao gồm cả những giá trị (hữu hình và vô hình) và những giá trị về mặt xã hội, được thực hiện bởi những nhà đầu tư mang tính chất kinh tế và phi kinh tế Theo ý kiến của riêng tôi, khái niệm về đầu tư phải đi sâu vào khía cạnh kinh tế tài chính, phải nêu được mục đích của nhà đầu tư và phải tính đến yếu tố thời gian, một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến kết quả đầu tư Do đó, xét về mặt kinh tế, có thể đưa ra một khái niệm về đầu tư như sau: “Đầu tư là mọi hoạt động bỏ vốn ở hiện tại nhằm mục đích sinh lợi ở tương lai”
Hoạt động bỏ vốn có thể thực hiện trong một thời gian ngắn (đầu tư ngắn hạn) và cũng có thể được thực hiện trong một trong một thời gian dài (đầu tư dài hạn) Các hoạt động đầu tư ngắn hạn không tác động nhiều đến quá trình hoạt động của doanh nghiệp, ngược lại những hoạt động đầu tư dài hạn ảnh hưởng lớn đến sự thay đổi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và thay đổi cơ cấu của nền kinh tế nói chung
Trang 11Vốn đầu tư bỏ vào kinh doanh được xem xét dưới nhiều dạng như:
xưởng,…
phát minh, nhãn hiệu, biểu tượng, uy tín hàng hóa
quý,…Điểm cần lưu ý ở đây là khi nhà ĐTNN mua cổ phiếu của công
ty để tham gia trực tiếp vào quá trình điều hành và quản lý sản xuất của công ty thì có thể được xem là một hình thức ĐTTTNN Trường hợp này khác biệt với trường hợp các công ty chuyên kinh doanh chứng khoán lại là dạng đầu tư gián tiếp
Mục đích của nhà đầu tư là hiệu quả đầu tư Hiệu quả đầu tư được nghiên cứu dưới hai giác độ:
Hiệu quả kinh tế tài chính hay khả năng sinh lợi của hoạt động đầu tư mang lại
Hiệu quả về mặt xã hội như các tác động đến điều kiện xã hội: cung cấp việc làm, cải thiện đời sống xã hội,…
Hiệu quả đầu tư là mục đích mà bất kỳ nhà đầu tư nào cũng kỳ vọng Tuy nhiên hiệu quả đầu tư cao hay thấp tùy thuộc vào kết quả của quá trình đầu tư mang lại Do đó, một nhà đầu tư có thể gặp phải những rủi ro phát sinh khiến cho hiệu quả đầu tư bị giảm thấp so với mục đích đặt ra ban đầu Vì vậy, có thể nói, rủi ro là một trong những yếu tố cơ bản của hoạt động đầu tư
b/ Các hình thức đầu tư
Dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau, đầu tư tồn tại dưới rất nhiều hình thức Trong phạm vi của Luận án, tôi tập trung nghiên cứu các hình thức đầu tư sau:
Việc phân định đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa người chủ sở hữu vốn và người quản lý sử dụng vốn đầu tư hay nói một cách cụ thể hơn là căn cứ vào mức độ tham gia quản lý của chủ đầu tư vào đối tượng mà họ bỏ vốn
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn trực tiếp tham gia trực tiếp vào việc quản lý và sử dụng vốn Đầu tư trực tiếp bao gồm:
Trang 12• Đầu tư phát triển: việc đầu tư bao gồm các hoạt động phát triển nhằm
tạo ra những năng lực mới để từ đó thu lại được một kết quả phát triển nhất định như đầu tư chiều sâu, đầu tư chiều rộng Trong hình thức đầu
tư này, đầu tư phát triển sản xuất (tạo ra năng lực sản xuất mới) chiếm
một vai trò quan trọng
hiểu một cách tương đối, không tạo ra năng lực sản xuất mới Ví dụ hành động đầu tư mua lại cổ phiếu ở công ty khác để có thể chi phối
việc lãnh đạo ở công ty đó
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà trong đó người bỏ vốn và người sử dụng vốn là những chủ thể khác nhau Nói cách khác, người bỏ vốn không trực tiếp làm công việc quản lý và sử dụng vốn
Đầu tư trong nước là những hoạt động đầu tư hạn chế trong phạm vi một quốc gia Hoạt động đầu tư trong nước chủ yếu được thực hiện bởi các nhà đầu
tư trong nước và do đó nó thường giới hạn trong hoạt động của các nhà đầu tư nội địa
Đầu tư quốc tế hay ĐTNN là những hoạt động đầu tư vượt quá phạm vi một quốc gia Do đó, nó được thực hiện bởi các nhà đầu tư từ nhiều nước khác nhau trên thế giới
c/ Đầu tư trực tiếp của nước ngoài và vai trò của ĐTTTNN
Theo Edward M Graham [28]: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi công dân của một nước (nước đầu tư) thụ đắc quyền kiểm soát các hoạt động kinh tế ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư)” Điều lưu ý ở đây là không cần phải có đầu tư theo nghĩa kinh tế mới được xem là đầu tư Nếu một hoạt động đầu tư được tài trợ bằng cách phát hành nợ ở nước tiếp nhận đầu tư, lượng tài sản quốc gia tăng lên do nhà ĐTNN nắm giữ sẽ được bù trừ lại bằng một sự gia tăng tương ứng trong nợ của nhà ĐTNN đối với nước chủ nhà (tiếp nhận đầu tư), vì vậy không có chuyển giao ròng từ nước đầu tư đến nước tiếp nhận đầu tư
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài cũng có thể được định nghĩa là hình thức đầu tư quốc tế mà người chủ sở hữu vốn sẽ trực tiếp quản lý điều hành sử dụng vốn đầu tư đã bỏ ra
Khác với loại hình đầu tư gián tiếp nước ngoài (chủ yếu là ODA-nguồn tài trợ chính thức), ĐTTTNN có những đặc trưng sau:
Trang 13ĐTTTNN không chỉ đưa vốn vào nước tiếp nhận đầu tư mà bên cạnh đó còn có cả kỹ thuật, công nghệ, bí quyết công nghệ, năng lực marketing, kinh nghiệm quản lý,…
Việc tiếp nhận ĐTTTNN không làm gia tăng nợ cho nước tiếp nhận đầu
tư mà còn tạo điều kiện để phát huy tiềm năng kinh tế
Chủ thể của ĐTTTNN chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia, chiếm 90% khối lượng ĐTTTNN trên toàn thế giới, phần còn lại của ĐTTTNN thuộc về các Nhà nước và các tổ chức quốc tế khác
Các công ty nắm quyền kiểm soát hoạt động ở nhiều quốc gia được biết đến dưới các tên khác nhau như” Công ty đa quốc gia” (Multi National Corporation – MNC), “Công ty xuyên quốc gia” (Transnational Corporation) và gần đây là “Công ty toàn cầu” Mặc dù có nhiều tác giả đã cố gắng phân biệt giữa các thuật ngữ này nhưng trên thực tế chúng có chung một tính chất là những Công ty thực hiện hoạt động kinh doanh trên thị trường từ hai quốc gia trở lên
Nhóm chuyên viên do Tổng thư ký Liên hiệp quốc chỉ định đã đưa ra một định nghĩa, theo đó, Công ty đa quốc gia là công ty có sở hữu hay kiểm soát khả năng sản xuất hoặc dịch vụ ở bên ngoài biên giới của một nước mà công ty đó có trụ sở chính Tuy nhiên, báo cáo của nhóm chuyên gia này cũng lưu ý: từ
“Xuyên quốc gia” có thể diễn đạt rõ hơn hàm ý hoạt động của một công ty vượt qua biên giới quốc gia của nước đó sang các nước khác
Nói chung, trong các tài liệu và văn bản đề cập đến hoạt động của loại công ty này, cả hai thuật ngữ “Công ty đa quốc gia” (MNC) và “Công ty xuyên quốc gia” đều được sử dụng [26]
Các đặc trưng cơ bản của các MNC là:
Các MNC là sản phẩm của sự liên minh giữa những nhà tư bản có thế lực nhất trên thế giới
Các MNC là nước công ty có tầm cỡ quốc tế, có chi nhánh hoặc hệ thống chi nhánh ở nước ngoài với mục đích nâng cao tỷ suất lợi nhuận thông qua việc bành trướng thế lực quốc tế
Các MNC phải hình thành từ Công ty quốc gia, mang quốc tịch của một nước và tư bản sở hữu của công ty mẹ thuộc về các nhà tư bản của nước đó Tư bản đó được xuất khẩu ra nước ngoài để đầu tư thiết lập và mở rộng các cơ sở sản xuất gọi là chi nhánh hoặc công ty con Số tư bản đầu
tư vào chi nhánh có thể hoàn toàn là của tập đoàn tư bản chính quốc của
Trang 14công ty mẹ, nhưng cũng có thể thuộc sở hữu một phần của các nhà tư bản bản xứ (trường hợp công ty liên doanh, góp vốn cổ phần,…)
Một MNC thường có cơ cấu tổ chức gồm hai bộ phần cơ bản là công ty mẹ và một hoặc nhiều công ty con (subsidiary) hoặc chi nhánh (afficiate)
ở nước ngoài Với cơ cấu tổ chức này, cho dù những công ty con có tồn tại dưới hình thức khác thì quyền kiểm soát chủ yếu vẫn thuộc những nhà
tư bản ở chính quốc hay công ty mẹ [26]
Đầu tư trực tiếp nước ngoài thực chất là một hình thức hoạt động chủ yếu của các MNC và là một bộ phận không thể tách rời trong chiến lược kinh tế toàn cầu của các MNC
Các chuyên gia nghiên cứu về MNC cho rằng: “MNC là chủ thể chính của ĐTTTNN trong thời đại ngày nay” Thông qua ĐTTTNN, các MNC tạo nên những ảnh hưởng to lớn đối với các nước xuất khẩu đầu tư, tiếp nhận đầu tư và đặc biệt là đối với các nước chậm và đang phát triển
Đối với nước xuất khẩu đầu tư (chính quốc của các MNC), ĐTTTNN có vai trò to lớn trong việc góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Khi nền kinh tế trong nước đã phát triển ở mức độ cao, các thị phần đầu tư trở nên bão hòa, các hoạt động đầu tư do ảnh hưởng của sự cạnh tranh đầu tư gay gắt mang lại một tỷ suất lợi nhuận trên vốn ngày càng thấp đi Điều này thôi thúc các nhà đầu tư chuyển hướng sang các nước khác để gia tăng hiệu quả do đồng vốn mang lại Hoạt động xuất khẩu đầu tư xây dựng nên một thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá rẻ khi nguồn nguyên liệu trong nước có hạn
Mặt khác, nhờ đầu tư mà các nước đẩy mạnh xuất khẩu, bành trướng sức mạnh về kinh tế của mình, từ đó nâng cao uy tín chính trị trên bình diện quốc tế Thông qua hình thức viện trợ và cho vay, các nước tư bản giàu có sử dụng các điều kiện về chính trị và kinh tế trói buộc các nước đang phát triển vào quỹ đạo điều khiển của họ
Đối với nước tiếp nhận đầu tư, ĐTTTNN có vai trò quan trọng cả với những nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Canada và cả những nước chậm và đang phát triển
Đối với các nước đã có nền kinh tế phát triển, ĐTTTNN tạo nên các tác động nhằm góp phần giải quyết những vấn đề khó khăn về kinh tế, xã hội ở trong nước như lạm phát, thất nghiệp
Trang 15Các hoạt động kinh tế do ĐTTTNN mang lại thu hút thêm lực lượng lao động tại chỗ mang lại công ăn việc làm cho một số người lao động, đồng thời tạo thêm một nguồn cung vốn mới cho sản xuất
Các nguồn vốn ĐTTTNN bơm vào nền kinh tế góp phần giải quyết các khó khăn về tình trạng mất cân đối thu chi ngân sách do nó mang lại một nguồn thu đáng kể từ ngoài nước
Dòng vốn ĐTTTNN cũng có thể cứu những doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản và mặt khác tạo ra sự cạnh tranh cần thiết để phát triển sản xuất hàng hóa và thương mại dịch vụ Hoạt động ĐTTTNN tại nước tiếp nhận đầu tư cũng cung cấp những khả năng để các nhà đầu tư trong nước học hỏi thêm cách thức quản lý mới có hiệu quả hơn
Đối với các nước chậm và đang phát triển, ĐTTTNN có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế và tăng thu nhập quốc dân
Ở các nước kinh tế kém phát triển và đang phát triển, do nhu cầu chi ngân sách vượt quá xa so với các nguồn thu ngân sách dẫn đến tình trạng thâm hụt ngân sách, các khoản nợ quốc tế do ảnh hưởng của tình trạng kinh tế chậm phát triển ngày càng tăng, đồng thời tích luỹ nội bộ do nền kinh tế mang lại quá thấp
Vì vậy, để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế trong nước, điều tiên quyết là phải có vốn, trong khi nguồn vốn trong nước còn có hạn thì vốn đầu tư quốc tế, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài là một đáp số cho bài toán tìm vốn ở các nước này Môït tác động khác của ĐTTTNN vào các nước chậm phát triển và đang phát triển là góp phần giải quyết công ăn việc làm, đẩy lùi nạn thất nghiệp, nâng cao đời sống của nhân dân trong nước Đặc biệt, ĐTTTNN thông qua việc tiếp nhận kỹ thuật và trình độ quản lý tiên tiến của các nước xuất khẩu đầu tư (phần lớn là các nước có nền kinh tế phát triển) sẽ giúp các nước đang phát triển đuổi kịp trình độ phát triển kỹ thuật cao của thế giới Các hình thức chuyển giao công nghệ sẽ đưa các quy trình công nghệ tiên tiến vào các nước đang phát triển, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước
Bên cạnh những tác động tích cực của ĐTTTNN mà các MNC đưa vào các nước tiếp nhận đầu tư, hoạt động của các MNC thông qua ĐTTTNN cũng mang lại một số những tiêu cực nhất định
Các MNC bằng con đường ĐTTTNN làm gia tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế các nước tiếp nhận đầu tư vào vốn, kỹ thuật và mạng lưới tiêu thụ hàng hóa của các MNC Mặt khác, các MNC với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận đã thực hiện nhiều hoạt động tiêu cực, đặc biệt là lợi dụng chính sách định giá
Trang 16chuyển giao để thực hiện việc “chuyển giá” gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nước tiếp nhận đầu tư (Vấn đề này sẽ được làm rõ hơn ở phần 1.3.2, chương I) ĐTTTNN cũng tạo ra một tình trạng phân phối thu nhập không đều ở các nước tiếp nhận đầu tư và có xu hướng đẩy các công ty trong nước của các nước tiếp nhận đầu tư đi tới phá sản để giành lấy vị trí độc quyền, chi phối thị trường nước chủ nhà Trong một số trường hợp, các MNC thông qua ĐTTTNN cũng xuất khẩu ô nhiễm môi trường sang các nước tiếp nhận đầu tư, những nơi mà luật pháp và những biện pháp bảo vệ môi trường còn lỏng lẻo và ít hữu hiệu Một tác động tiêu cực khác của ĐTTTNN là các MNC, với sức mạnh về kinh tế của mình sẽ tạo nên những ảnh hưởng nhất định đến việc can thiệp vào tình hình chính trị của nước tiếp nhận đầu tư
Những tác động tích cực và tiêu cực do sự hoạt động của các MNC thông qua ĐTTTNN tại các nước tiếp nhận đầu tư lại không hoàn toàn đồng nhất trong mọi không gian và thời gian mà tuỳ thuộc một phần rất lớn vào tính năng động chủ quan của các nước này Nếu có đường lối chiến lược, sách lược kinh tế đúng đắn thì các nước tiếp nhận đầu tư vẫn có thể hạn chế được những mặt tiêu cực, tranh thủ được những mặt tích cực trong hoạt động ĐTTTNN của các MNC
d/ Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Tương tự như đối với các nước tiếp nhận đầu tư khác, ĐTTTNN thâm nhập vào Việt Nam dưới các hình thức sau:
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là một văn bản được ký kết giữa bên Việt Nam và bên nước ngoài để cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở Việt Nam trên cơ sở quy định trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập một xí nghiệp liên doanh hoặc bất kỳ một pháp nhân mới nào
Đặc điểm của hình thức đầu tư này là:
Các bên Việt Nam và nước ngoài cùng nhau hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký giữa các bên về việc phân định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên
Thời hạn của hợp đồng hợp tác kinh doanh do hai bên thoả thuận phù hợp với tính chất hoạt động kinh doanh và sự cần thiết để hoàn thành mục tiêu
Trang 17Không thành lập một pháp nhân mới, tức là không cho ra đời công ty hay
xí nghiệp mới
Vấn đề vốn kinh doanh có thể được đề cập hoặc không nhất thiết được đề cập trong văn bản hợp đồng hợp tác kinh doanh
Được thành lập giữa một bên là Việt Nam và bên kia là các bên nước ngoài tham gia đầu tư liên doanh (có thể có hai hoặc nhiều bên tham gia liên doanh) Đặc điểm của hình thức liên doanh là:
Cho ra đời một công ty hoặc một xí nghiệp mới, với tư cách pháp nhân Việt Nam và được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn Các công ty hoặc xí nghiệp liên doanh hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính Vốn pháp định do các bên đóng góp tối thiểu bằng 30% tổng số vốn đầu tư Trong quá trình hoạt động, đơn vị liên doanh không được giảm vốn pháp định Việc tăng vốn pháp định do các bên liên doanh thoả thuận và đăng ký tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vốn pháp định có thể góp trọn một lần khi thành lập liên doanh hoặc từng phần trong một thời gian hợp lý do hai bên thoả thuận
Cơ quan lãnh đạo cao nhất của liên doanh là Hội đồng quản trị, có thẩm quyền quyết định các vấn đề quan trọng Tổng Giám đốc và các Phó Tổng Giám đốc chịu trách nhiệm quản lý và điều hành công việc hàng ngày của liên doanh Nếu Tổng giám đốc là người nước ngoài thì Phó Tổng Giám đốc thứ nhất phải là công dân Việt Nam và sinh sống tại Việt Nam
Một đơn vị liên doanh có thể tham gia vốn để thành lập một liên doanh khác với nước ngoài, trong liên doanh mới này phải có trực tiếp tham gia
ít nhất của hai thành viên thuộc liên doanh cũ, trong Hội đồng quản trị và một trong hai thành viên đó phải là người có quốc tịch Việt Nam
Thời gian hoạt động của liên doanh không quá 50 năm, trường hợp đặc biệt không quá 70 năm
Các bên tham gia liên doanh phân chia lợi nhuận và rủi ro theo tỷ lệ đóng góp vốn
Trang 18Là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam Như vậy, các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài và do tổ chức, cá nhân đó thành lập, tự quản lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh
Đặc điểm của các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là:
Được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và là một pháp nhân Việt Nam do Pháp luật nước Cộng hòa XHCN Việt Nam chi phối và điều chỉnh
Thời hạn hoạt động của các doanh nghiệp này không quá 50 năm
hợp đồng xây chuyển giao-vận hành (BTO), Hợp đồng xây chuyển giao (BT) Hợp đồng xây dựng-vận hành-Chuyển giao (BOT) là một loại hình đầu tư được Nhà nước sử dụng để khuyến khích xây dựng các công tình hạ tầng như: cầu, đường, bến cảng, công trình cung cấp năng lượng,… trong khi Nhà nước có khó khăn về nguồn tài chính
dựng-Trong hình thức BOT, nhà đầu tư tự bỏ vốn, kỹ thuật để xây dựng công trình, tự khai thác kinh doanh (vận hành) công trình trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý, sau đó sẽ chuyển giao cho Nhà nước
Chính phủ đã ban hành nghị định 87 CP ngày 23/11/1993 và Thông tư 333 VB/LXT ngày 28/02/1994 quy định chi tiết về việc thực hiện hình thức BOT tại Việt Nam
Đặc trưng cơ bản của BOT là:
Hình thức này là sự cam kết giữa Nhà nước với chủ đầu tư chứ không phải giữa các doanh nghiệp với nhau
Việc thu hồi vốn được bảo đảm và có tính ổn định cao
Các dự án BOT được hưởng mức thuế lợi tức (thuế thu nhập công ty) và thuế chuyển lợi nhuận ở mức ưu đãi nhất Thuế suất thuế thu nhập công ty được ấn định ở mức thấp nhất (10%) và có thể được miễn trong 4 năm đầu và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo, thuế chuyển lợi nhuận là 5%, miễn thuế xuất nhập khẩu đối với các thiết bị máy móc, phụ tùng nguyên vật liệu nhập khẩu vào Việt Nam để sử dụng cho việc khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, vận hành và bảo dưỡng
Các dự án BOT được ưu tiên sử dụng đất đai, đường sá và các công trình
Trang 19với các diện tích đất sử dụng Các công ty đầu tư vào dự án BOT có quyền thế chấp các tài sản, bất động sản và quyền sử dụng đất để đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ vay tại ngân hàng
Các dự án BOT có thể được thực hiện theo nhiều phương thức (tùy theo tính chất của từng dự án) như: đấu thầu, chọn thầu, đàm phán trực tiếp Bên cạnh các hình thức ĐTTTNN nêu trên, lượng vốn ĐTTTNN vào Việt Nam còn tập trung vào các KCN, KCX thông qua nhiều hoạt động khác nhau
Hoạt động của các khu chế xuất được quy định trong “Quy chế về Khu chế xuất “ban hành kèm theo Nghị định 322 HĐBT ngày 18/10/1991 và thông tư
1126 HTĐT-PC ngày 20/08/1992 của ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư
Đặc trưng của hình thức khu chế xuất là:
Khu chế xuất là một hình thức khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất xuất khẩu, bao gồm một hoặc nhiều doanh nghiệp có ranh giới địa lý xác định
Quan hệ trao đổi hàng hóa giữa các doanh nghiệp trong thị trường Việt Nam với các doanh nghiệp trong Khu chế xuất được coi là quan hệ xuất nhập khẩu
Khu chế xuất được thể hiện trong Luật ĐTNN không phải là khu hành chính kinh tế mà chỉ là khu sản xuất, không có cấp quản lý chính quyền hay luật pháp riêng,… mặc dù khu chế xuất có một số đặc thù về cơ chế quản lý nhưng vẫn nằm trong tổng thể của chính sách đầu tư
Các doanh nghiệp hoạt động trong Khu chế xuất được miễn thuế xuất khẩu đối với hàng hóa từ khu chế xuất xuất khẩu ra nước ngoài và thuế nhập khẩu đối với hàng hóa từ nước ngoài nhập khẩu vào Khu chế xuất Các doanh nghiệp trong Khu chế xuất được hưởng mức thuế ưu đãi quy định trong Luật ĐTNN tại Việt Nam
Một vấn đề cũng cần được lưu ý ở đây là ĐTTTNN vào Việt Nam dưới hình thức các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài về thực chất là sự hình thành của loại hình công ty TNHH với số vốn được quy định rõ khi thành lập và khi so sánh giữa hình thức doanh nghiệp liên doanh với doanh nghiệp 100% vốn sở hữu từ các MNC ở nước ngoài, hình thức liên doanh có nhiều lợi thế nổi bật so với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Đó là:
to lớn cho các MNC nếu họ tìm được một đối tác thích hợp tại nước tiếp nhận đầu tư do các đối tác địa phương nắm vững những tập tục,
Trang 20truyền thống văn hóa, cách thức làm việc và môi trường chính trị của quốc gia đó Một MNC nếu lập một chi nhánh với sở hữu 100% vốn nước ngoài phải mất nhiều năm mới có được những kiến thức như vậy
triển kinh tế có xu hướng đòi hỏi các MNC chia xẻ sở hữu vốn với các đối tác địa phương để có thể dần dần học hỏi kinh nghiệm quản lý và chuyển giao kỹ thuật công nghệ Các MNC thông qua liên doanh cũng có thể chia xẻ bớt những rủi ro trong kinh doanh tại một môi trường đầu tư mới
các đối tác địa phương có thể sẽ giúp ích rất nhiều cho việc phổ biến và quảng cáo cho hình ảnh của MNC trước công chúng Ngoài ra, đối tác địa phương còn có những mối quan hệ và uy tín để giúp cho liên doanh tiếp cận với thị trường vốn tại nước chủ nhà
Mặc dù hình thức doanh nghiệp liên doanh có nhiều lợi thế như trên nhưng trong nhiều trường hợp, các MNC vẫn thích lập các chi nhánh với 100% sở hữu vốn của họ ở nước ngoài hơn vì họ lo ngại sự can thiệp của đối tác địa phương ở một số lĩnh vực khi đưa ra các quyết định quan trọng Những vấn đề có thể nảy sinh mâu thuẫn nhất giữa các bên đối tác tham gia đầu tư là:
những rủi ro của liên doanh còn lớn hơn so với việc lập các công ty con 100% vốn từ các MNC
quan điểm khác nhau về vấn đề góp vốn, yêu cầu phân chia lợi nhuận, tốc độ tăng đầu tư từ số thu nhập giữ lại, định giá đối với sản phẩm mua hay bán cho các công ty có liên quan…
nghiệp liên doanh Một MNC có thể sử dụng vốn có lãi suất thấp hay huy động ở một nước khác để tài trợ cho hoạt động liên doanh nhưng không thể biện minh cho vấn đề này ở các doanh nghiệp liên doanh Từ những ưu thế và bất lợi nêu trên, việc lựa chọn hình thức đầu tư nào hoàn toàn phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh và phương hướng đầu tư tương lai; các MNC có thể lựa chọn một trong những hình thức đầu tư nêu trên sao cho hoạt động đầu tư mang lại hiệu quả cao nhất Về phía nước tiếp nhận đầu tư, căn
Trang 21cứ vào chiến lược phát triển kinh tế của mình có thể tác động để điều chỉnh kết cấu tỷ lệ các hình thức đầu tư thông qua các biện pháp vĩ mô trong các chính sách đầu tư hợp lý
1.1.2 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
a/ Nguồn vốn đầu tư quốc tế
Nguồn vốn đầu tư quốc tế là nguồn vốn đầu tư do các chủ đầu tư bên ngoài đưa vào Việt Nam bao gồm:
hỗ trợ trực tiếp của Chính phủ Việt Nam (nguồn vốn ODA) Nguồn vốn này được huy động vào Việt Nam dưới hai dạng: một là dưới dạng viện trợ hặc giúp đỡ không hoàn lại, hai là dưới dạng vay theo Hiệp định với lãi suất ưu đãi Nguồn vốn này được tập trung vào cơ cấu kế hoạch đầu tư Nhà nước
tệ Quốc tế IMF…) Nguồn vốn này có thể do Nhà nước, các cơ quan Trung ương hoặc doanh nghiệp vay trực tiếp nước ngoài nhưng phải được bảo đảm sử dụng có hiệu quả, phải hoàn trả nợ gốc và lãi khi đáo hạn
doanh Đây là nguồn vốn đầu tư trực tiếp chủ yếu vào Việt Nam và các chủ đầu tư hoàn toàn chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn
nghiệp 100% vốn nước ngoài
nước ngoài khác có các dự án, công trình được phép xây dựng trên đất Việt Nam Nguồn vốn này chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực phi sản xuất và phục vụ trực tiếp cho nhu cầu của các chủ đầu tư sử dụng
Nguồn vốn đầu tư quốc tế với một tiềm năng to lớn đang là một nguồn vốn có sức hấp dẫn và cần được quan tâm đúng mức
b/ Nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam
Nguồn vốn ĐTTTNN đưa vào Việt Nam chủ yếu được thực hiện thông qua các hình thức ĐTTTNN và có thể biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau như tiền tệ các loại, tài sản hữu hình (như thiết bị máy móc) và vô hình (như chuyển
Trang 22giao công nghệ, bí quyết công nghệ, bằng phát minh, nhãn hiệu, biểu tượng, uy tín hàng hóa, ) các phương tiện đặc biệt khác như cổ phiếu, hối phiếu, vàng bạc, đá quý,
Như vậy, vốn ĐTTTNN bao gồm một phạm vi rộng với nhiều loại nguồn lực tài chính và phi tài chính khác nhau Để thống nhất trong quá trình đánh giá, phân tích và sử dụng, người ta thường quy đổi các nguồn lực này về đơn vị tiền tệ quy ước chung Do đó, khi nói đến vốn đầu tư có thể hình dung đó là những nguồn lực tài chính và phi tài chính đã được quy đổi về đơn vị đo lường tiền tệ phục vụ cho quá trình xây dựng, vận hành và phát triển doanh nghiệp
Vốn nói chung và vốn ĐTTTNN có hai đặc điểm cơ bản: thứ nhất vốn có giá trị về mặt thời gian, khi sử dụng vốn phải tốn chi phí sử dụng vốn, vốn đầu tư bỏ ra ở hiện tại nhưng khả năng thu hồi vốn lại xảy ra trong tương lai, do đó nhà đầu tư có thể gặp phải những rủi ro hoặc không thể tái tạo vốn Mặc khác, khi sử dụng vốn, kể cả nguồn vốn chủ sở hữu hoặc nguồn vốn vay, doanh nghiệp phải chịu những khoản chi phí như lợi tức trả cho cổ đông hoặc lãi vay ngân hàng,… được gọi là chi phí sử dụng vốn Chi phí sử dụng vốn bình quân các nguồn vốn được sử dụng như một chỉ tiêu để đánh giá và lựa chọn nguồn tài trọ cho doanh nghiệp Chi phí sử dụng vốn càng cao dẫn đến thu nhập ròng của dự án khi quy về hiện giá càng giảm đi Chi phí sử dụng vốn được sử dụng làm cơ sở để xác định mức lãi suất chiết khấu trong phương pháp tính NPV, IRR, APV,
Bản thân vốn ĐTTTNN là một hàng hóa đặc biệt trên thị trường quốc tế
do đó nó chịu ảnh hưởng của các quy luật của nền kinh tế thị trường như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh,… Lượng cung của vốn ĐTTTNN có giới hạn và các nhà đầu tư thường cân nhắc rất kỹ càng để lựa chọn địa điểm đầu tư, trong khi đó nhu cầu về vốn ĐTTTNN ở các quốc gia trên thế giới vô cùng to lớn, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia trong cuộc chạy đua thu hút vốn ĐTTTNN Chính phủ các quốc gia đều cố gắng xây dựng một môi trường hấp dẫn và lôi cuốn các nhà đầu tư quốc tế và Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Để thắng được trong cạnh tranh các chính sách thu hút vốn ĐTTTNN của Chính phủ Việt Nam cần tạo nên một lợi thế khi so sánh với các quốc gia khác trên thế giới
Trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN, số vốn đầu tư thường rất lớn, mặt khác quá trình đầu tư có rất nhiều rủi ro nên khi thành lập doanh nghiệp mới cũng như khi mở rộng sản xuất kinh doanh, số vốn đầu tư này thường được huy động từ nhiều nguồn khác nhau để phân tán nguồn vốn và phân tán rủi ro cho các chủ thể khác nhau Chính sự phân tán về nguồn vốn này tạo nên sự đa dạng,
Trang 23các doanh nghiệp có vốn ĐTTTNN trước hết chính là nguồn lực của các bên đối tác đầu tư, sau đó là nguồn lực tài chính của xã hội do Chính phủ, cá nhân, các
cơ sở sản xuất kinh doanh khác, các tổ chức ngân hàng, tài chính, tích luỹ trong quá trình vận hành nền sản xuất xã hội
Như vậy, vốn đầu tư của các doanh nghiệp có vốn ĐTTNNN là các nguồn lực tài chính và phi tài chính của các chủ thể đầu tư và huy động từ các nguồn lực khác được đưa vào sử dụng trong quá trình triển khai vận hành và phát triển doanh nghiệp nhằm tạo ra năng lực sản xuất kinh doanh mới, duy trì và mở rộng tiềm lực sản xuất kinh doanh sẵn có
Nguồn vốn ĐTNN khi đầu tư vào Việt Nam của các MNC được hình thành từ hai nguồn: nguồn vốn thuộc sở hữu của một MNC nào đó và nguồn tài trợ từ bên ngoài
Đối với loại hình doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì việc sử dụng một tỷ lệ nợ trên vốn như thế nào hoàn toàn nằm trong chiến lược quản trị tài chính của các công ty mẹ miễn là đạt mức tối thiểu về tỷ lệ vốn pháp định trên tổng vốn đầu tư do Luật ĐTNN quy định (30%)
Vấn đề đặt ra ở đây là trong các doanh nghiệp liên doanh, các MNC khi tham gia góp vốn bằng nguồn vốn vay thì chi phí sử dụng vốn vay đó sẽ không được tính trừ vào thu nhập chịu thuế thu nhập của liên doanh Vì vậy các nhà ĐTNN sẽ phải cân nhắc hơn khi sử dụng nguồn tài trợ này
Khi sử dụng nguồn vốn tài trợ bên ngoài bắt buộc phải tốn kém những khoản chi phí sử dụng vốn vay Do mức độ bỏ vốn trong hai hình thức liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài khác nhau, dẫn đến những tác động khác nhau khi lựa chọn một cấu trúc nguồn vốn đầu tư hợp lý vào một quốc gia nào đó Có thể làm rõ hơn nhận định trên qua một ví dụ sau: các số liệu trong ví dụ này được giả định là như nhau trong trường hợp doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Trang 24Bảng 1-1: So sánh các doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
ngoài
Trong đó
- Vốn MNC vay nước ngoài để góp
11 Phân phối lãi
12 Bù đắp chi phí sử dụng vốn vay
của MNC khi góp vốn pháp định
(10%)
15 Tỷ lệ P/vốn chủ sở hữu của
MNC
Qua ví dụ trên có thể nhận thấy:
Khi một MNC đầu tư vào Việt Nam dưới hình thức liên doanh, với số vốn chủ sở hữu ban đầu là 100 trên 210 vốn góp thì tỷ suất lợi nhuận đạt được là
Trang 25vốn nước ngoài thì công ty có thể sử dụng 200 đơn vị vốn vay từ nước ngoài và đưa vào Việt Nam dưới dạng góp vốn, lợi tức ròng sẽ được phân phối toàn bộ cho MNC đó và sau khi bù đắp cho khoản chi phí sử dụng vốn vay từ nước ngoài sử dụng khi góp vốn pháp định 20, tỷ suất lợi nhuận đạt được là 25,83% trên vốn góp Tuy nhiên, khi nghiên cứu về tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu thì nếu MNC đầu tư vào Việt Nam dưới hình thức liên doanh thì chỉ đạt được tỷ suất lợi nhuận là 57,25% trên vốn chủ sở hữu; trong khi đó nếu MNC đó đầu tư dưới hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì tỷ suất lợi nhuận đạt đến 77,5% trên vốn chủ sở hữu Phân tích trên cho thấy, đối với các MNC có “vốn mỏng” thì hình thức công ty 100% vốn nước ngoài có vẻ như là một hình thức ĐTTTNN thích hợp, tuy nhiên, nếu hoạt động kinh doanh thua lỗ thì sẽ khuếch đại thêm khoản rủi ro của MNC Do đó, việc lựa chọn các hình thức đầu tư trực tiếp sẽ dẫn đến những tác động khác nhau trong hiệu quả tài chính mà hoạt động đầu tư đó mang lại
1.2 NGUYÊN LÝ CƠ BẢN VỀ THU HÚT VỐN ĐTTTNN
1.2.1 Cải thiện môi trường đầu tư
ĐTTTNN thực hiện tại một quốc gia cao hay thấp phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, bao gồm những nhân tố thuộc về nước xuất khẩu đầu tư và những nhân tố thuộc về nước tiếp nhận đầu tư
Những nhân tố thuộc về nước xuất khẩu đầu tư xuất phát từ những động
cơ của MNC khi đầu tư vào các nước khác Đó là tìm kiếm và khai thác nguyên liệu thô, tìm kiếm và xâm nhập thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tranh thủ chính sách khuyến khích đầu tư của nước chủ nhà [26]
Dưới giác độ là nước tiếp nhận đầu tư thì ĐTTTNN chịu tác động chủ yếu bởi môi trường đầu tư Môi trường đầu tư càng thuận lợi càng thu hút nhiều nhà ĐTNN, ngược lại môi trường đầu tư không thuận lợi sẽ hạn chế ĐTTTNN vào nước tiếp nhận đầu tư Môi trường đầu tư bao gồm:
Môi trường tự nhiên như vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên,… là những nhân tố khách quan tác động đến ĐTTTNN Nước tiếp nhận đầu tư có vị trí địa lý thuận tiện, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú là một đặc điểm đầu tiên mà các nhà ĐTNN quan tâm Đại đa số các MNC đặt trụ sở chính tại những nước đã có nền kinh tế phát triển cao, do đó các nguồn tài nguyên tại chính quốc hầu như đã được khai thác cạn kiệt Mặt khác, nếu mua nguyên vật liệu ở các nước khác đưa về chính quốc để sản xuất thì hiệu quả kinh tế sẽ kém hơn nhiều là đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Tiêu chuẩn hàng đầu mà họ lựa chọn khi tìm
Trang 26kiếm địa điểm đầu tư là những quốc gia có nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng, vị trí đầu tư thuận lợi cho việc kinh doanh thương mại quốc tế
Môi trường xã hội như: môi trường pháp lý, môi trường kinh tế, môi trường tài chính, môi trường lao động,… Khi thực hiện ĐTTTNN ra nước ngoài, để đảm bảo an toàn và hiệu quả của việc đầu tư, các nhà ĐTTTNN phải nắm vững hệ thống luật pháp và những quy định dưới Luật của nước tiếp nhận đầu tư Hệ thống luật pháp càng rõ ràng, chi tiết càng tạo điều kiện cho nhà đầu tư dễ dàng và thuận tiện hơn khi đầu tư vào quốc gia đó Ngược lại, một hệ thống luật pháp rối rắm, phức tạp và mơ hồ dễ làm nản lòng các nhà đầu tư có thiện chí nhất
Môi trường lao động bao gồm: lực lượng lao động, trình độ lao động, tổ chức quản lý lao động, các nước tiếp nhận đầu tư với lực lượng lao động dồi dào và nguồn lao động rẻ là một trong những nhân tố chủ yếu thu hút ĐTTTNN Tuy nhiên, nếu một quốc gia có lực lượng lao động dồi dào lại kết hợp với một trình độ lao động và kỹ năng nghề nghiệp cao, đội ngũ cán bộ quản lý có hiệu quả thì chắc chắn sẽ tác động mạnh mẽ đến việc quyết định đầu tư của các nhà ĐTTTNN vào quốc gia đó
Môi trường kinh tế bao gồm các định hướng phát triển kinh tế của một quốc gia, hệ thống các lĩnh vực kinh tế, các công trình kiến trúc hạ tầng như hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc, bưu chính-viễn thông, … Các quốc gia với đường lối kinh tế mở và các chính sách kinh tế thông thoáng sẽ tạo điều kiện thu hút ĐTTTNN hơn là những quốc gia có chính sách kinh tế đóng cửa Hệ thống giao thông vận tải và các phương tiện thông tin cũng là một yếu tố mà các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm khi xem xét đầu tư vào một quốc gia nào đó, mặc dù nó không phải là yếu tố duy nhất
Môi trường tài chính bao gồm: hệ thống thuế, các chính sách về tỷ giá hối đoái, cơ chế quản lý tài chính-tiền tệ, cơ chế kiểm tra và giám sát tài chính, hoạt động của hệ thống Ngân hàng và thị trường vốn,…
Trong hệ thống môi trường đầu tư thì có thể nói môi trường tài chính có mối quan hệ mật thiết đến hiệu quả đầu tư, do đó nó là một trong những nhân tố quyết định đến việc thu hút và nâng cao hiệu quả hoạt động của ĐTTTNN tại một quốc gia
Hệ thống thuế, các chính sách về tỷ giá hối đoái, cơ chế quản lý tài chính tiền tệ sẽ tác động trực tiếp đến hiệu quả tài chính của hoạt động ĐTTTNN thông qua chỉ tiêu lợi nhuận, một chỉ tiêu mà bất kỳ nhà đầu tư nào cũng quan
Trang 27sách tài chính ở các quốc gia dự định đầu tư để tìm kiếm địa điểm đầu tư nào mang lại lợi nhuận cao nhất Hoạt động của thị trường vốn và hệ thống ngân hàng phần nào cũng tạo sự thuận lợi hoặc hạn chế hoạt động ĐTTTNN
Mặt khác, đứng về phía nước tiếp nhận đầu tư, cơ chế kiểm tra giám sát tài chính lại có ý nghĩa quyết định đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn ĐTTTNN vào quốc gia đó Cơ chế kiểm tra giám sát hoạt động ĐTTTNN của các MNC tại một quốc gia trong một thời gian ngắn có thể hạn chế những tiêu cực từ những thủ thuật kinh doanh không lành mạnh của các nhà đầu tư nước ngoài tại quốc gia đó
Khi phân tích về môi trường đầu tư, có thể thấy được tính chất dài hạn và ngắn hạn của nó sẽ chi phối quyết định của nhà đầu tư Nếu lợi thế về môi trường đầu tư của một quốc gia ở hiện tại là mức lương thấp thì sự bất lợi của môi trường khi xét ở giác độ dài hạn là trình độ lao động thấp, không hiệu quả Hoặc nếu các chính sách ưu đãi về thuế tạo nên những điểm hấp dẫn nhà đầu tư
ở ngắn hạn thì về dài hạn, hệ thống luật pháp hoàn chỉnh rõ ràng mới là nhân tố tích cực để thu hút ĐTTTNN Các nhà đầu tư có tầm nhìn chiến lược ít quan tâm đến những ưu đãi về thuế hơn là quan tâm đến hệ thống luật pháp của nước chủ nhà (Một cuộc điều tra khảo sát trong các doanh nghiệp có vốn ĐTTTNN tại
TP Hồ Chí Minh theo phương pháp phát phiếu thăm dò cho thấy: chỉ 42% các doanh nghiệp có vốn ĐTTTNN quan tâm đến sự ưu đãi hay miễn giảm thuế nhưng đến 83% các doanh nghiệp lại quan tâm đến các vấn đề các bộ luật và văn bản dưới luật cần phải rõ ràng và hoàn thiện hơn
Khi xem xét hệ thống các môi trường đầu tư ảnh hưởng đến ĐTTTNN tại các nước tiếp nhận đầu tư, có thể rút ra nhận xét: việc xây dựng và cải thiện môi trường đầu tư sao cho thông thoáng và lành mạnh sẽ có tác dụng mạnh mẽ đối với việc thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ĐTTTNN
1.2.2 Điều chỉnh và sử dụng vốn ĐTTTNN phù hợp với ý đồ của nước chủ
nhà
Do đặc tính là một hàng hóa đặc biệt trên thị trường quốc tế, nên cùng với quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, nguồn vốn đầu tư có thể di chuyển một cách dễ dàng từ khu vực này sang khu vực khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác Quá trình dịch chuyển của vốn đầu tư quốc tế mang tính tự phát và bị chi phối bởi mục đích tối đa hóa lợi nhuận của nhà đầu tư Trong khi đó, để nguồn vốn ĐTTTNN thực sự mang lại hiệu quả cho việc phát triển kinh tế đất nước, các quốc gia tiếp nhận đầu tư cần có những “van” để điều chỉnh luồng vốn này theo ý đồ của mình Các van điều chỉnh mà Chính phủ các quốc gia có thể
Trang 28sử dụng như: các chính sách thu hút và quy hoạch đầu tư, các chính sách tài chính như thuế, tỷ giả,… Các van này được sử dụng tùy thuộc vào ý đồ phát triển kinh tế của quốc gia trong từng thời kỳ, ví dụ để đẩy mạnh phát triển một ngành kinh tế nào đó, Chính phủ của nước tiếp nhận đầu tư có thể có những chính sách
ưu đãi hoặc những miễn giảm về thuế, ưu đãi về tín dụng,.v.v Nếu thu hút vốn ĐTTTNN là một bài toán khó trong điều kiện cạnh tranh quốc tế hiện nay thì sử dụng các van điều chỉnh như thế nào để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn phù hợp với yêu cầu phát triển của quốc gia lại là một nghệ thuật của Chính phủ các nước tiếp nhận đầu tư
1.3 HIỆU QUẢ VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐTTTNN
1.3.1 Hiệu quả sử dụng vốn ĐTTTNN
a/ Hiệu quả sử dụng vốn ĐTNN và tầm quan trọng của nó trong việc thu hút các nhà đầu tư quốc tế
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư bao gồm các tác động do việc sử dụng vốn đầu tư mang lại
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư biểu hiện ở những hiệu quả về mặt kinh tế
do quá trình sử dụng vốn đầu tư mang lại (được lượng hoá thông qua các chỉ tiêu kinh tế, tài chính) và những hiệu quả về mặt xã hội (có thể lượng hoá được và cũng có thể không lượng hoá được)
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư ở đây bao gồm những tác động mang lại cho nước nhận đầu tư và cả những tác động mang lại cho các nhà đầu tư nước ngoài
Đối với các nhà ĐTNN và nước xuất khẩu đầu tư thì hiệu quả sử dụng vốn đầu tư là mối quan tâm hàng đầu của họ vì mục đích của đầu tư là sinh lợi
Do đó nhà đầu tư tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Ngược lại ở những thị trường đầu tư vốn, thị phần nào mang lại lợi nhuận cao nhất sẽ là nơi hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Vì vậy, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư càng cao thì càng tạo nên lực thu hút các nhà đầu tư
Đối với nước tiếp nhận đầu tư, việc thu hút vốn đầu tư có một vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế Tuy nhiên, chỉ thu hút và tập trung vốn đầu tư chưa đủ mà còn phải tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhằm mang lại những kết quả khả quan cho sự phát triển của đất nước
Việc thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phải là hai mặt của một quá trình thực hiện song song nhằm thoả mãn cả nhà ĐTNN và nước tiếp
Trang 29b/ Hiệu quả kinh tế-tài chính của một dự án ĐTTTNN xét trên giác độ nhà đầu tư
Để đánh giá hiệu quả kinh tế-tài chính của một dự án đầu tư, chủ đầu tư sử dụng các chỉ tiêu phân tích giản đơn và các chỉ tiêu phân tích tài chính theo hiện giá Các chỉ tiêu tài chính giản đơn của một dự án bao gồm:
Lợi nhuận ròng của một dự án đầu tư: Các chủ đầu tư dùng chỉ tiêu này
để đánh giá hiệu quả của những hoạt động đầu tư ngắn hạn, trong điều kiện môi trường kinh doanh và đồng tiền thanh toán ổn định Với những hoạt động đầu tư dài hạn và trong điều kiện nền kinh tế có lạm phát, đồng tiền mất giá nhanh, sức mua đồng tiền giảm, chỉ tiêu lợi nhuận ròng mất dần đi tính chính xác khi đánh giá hiệu quả đầu tư
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư: Là tổng số giữa tổng lợi nhuận của
một năm hoạt động tiêu biểu với tổng chi phí đầu tư của dự án Nhược điểm của chỉ tiêu này là đánh giá hiệu quả đầu tư không chính xác do rất khó để xác định một năm có lợi nhuận điển hình đại diện cho các năm hoạt động của quá trình đầu tư Mặt khác, chỉ tiêu này không tính đến tuổi thọ của dự án và không xem xét đến dòng lưu lượng tiền tệ thu được từ dự án đầu tư
Chỉ tiêu hệ số bình quân hiệu quả sử dụng vốn đầu tư: Là hệ số giữa
lợi nhuận ròng bình quân thu được hàng năm với số vốn đầu tư bình quân hàng năm Nhược điểm của chỉ tiêu này là chưa tính đến số lợi nhuận ròng thu được ở những thời điểm khác nhau trong tương lai
Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn hay thời gian thu hồi lại vốn đầu tư và các
khoản chi phí vay vốn đầu tư đã bỏ ra
Chỉ tiêu điểm hoà vốn: Là điểm mà tại đó doanh thu bằng với chi phí bỏ
ra Mục đích của việc phân tích điểm hoà vốn là để hoạch định lợi nhuận thu được trên cơ sở thiết lập mối quan hệ giữa chi phí và thu nhập
Các chỉ tiêu tài chính giản đơn nêu trên cùng chung một nhược điểm là bỏ qua yếu tố thời gian, một yếu tố tác động rất lớn đến hiệu quả đầu tư Do đó, hiện nay trong đánh giá hiệu quả kinh tế-tài chính của một dự án đầu tư, các nhà đầu tư thường sử dụng các chỉ tiêu tài chính theo phương pháp hiện giá Đó là:
Phương pháp hiện giá thuần (Net Present Value – NPV) là giá trị
của lưu lượng tiền tệ trong tương lai quy về hiện tại bù đắp cho khoản vốn đầu tư đã bỏ ra cho dự án
NPV được xác định theo công thức:
Trang 30n n
r
CF r
CF r
CF I NPV
) 1 (
) 1 ( ) 1
2 1
+ + + +
+ + +
CFI
NPV
khi NPV > 0, điều này đồng nghĩa với việc dự án sẽ có thu nhập lớn hơn chi phí nên sẽ mang lại hiệu quả kinh tế
Phương pháp tỷ suất doanh lợi nội bộ hay tỷ suất thu hồi vốn nội tại (Internal Rate of Return – IRR): IRR là mức lãi suất mà tại đó
NPV = 0 IRR là giới hạn tối đa của chi phí sử dụng vốn (r) Nếu IRR =
r thì dự án xem như chỉ đạt mức hoà vốn và nếu IRR < r thì dự án bị thua lỗ, không mang lại hiệu quả kinh tế
Phương pháp chỉ số sinh lời (the Profitability Index – PI): chỉ số
sinh lời PI được xác định như sau:
1 +
=
I
NPV
NPV > 0 và dự án sẽ đạt hiệu quả về mặt kinh tế-tài chính
Khi nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá dựa trên căn bản phương pháp hiện giá, chúng ta nhận thấy các chỉ tiêu trên đều dựa trên căn bản phương pháp NPV Tuy nhiên, khi áp dụng phương pháp NPV để đánh giá hiệu quả của các dự án ĐTTTNN, phương pháp NPV bộc lộ một số nhược điểm làm hạn chế độ chính xác của nó Cụ thể khi sử dụng phương pháp NPV thường gặp phải những khó khăn sau
Về lưu lượng tiền tệ
CF được xem xét từ hai góc độ khác nhau: từ góc độ nhà đầu tư và từ nước tiếp nhận đầu tư Dòng lưu lượng tiền tệ xét từ góc độ trong nước so với nước ngoài tồn tại những vấn đề sau:
Vốn bị phong toả (hay vốn không chuyển về nước được): Nếu vốn
không chuyển về nước được có thể sử dụng lại trong một dự án của nhà đầu tư ở nước ngoài, do đó chi phí xây dựng dự án của nhà đầu tư nước ngoài có thể thấp hơn chi phí xây dựng dự án tại địa phương Từ giác độ của nhà đầu tư, sẽ hình thành một khoản lợi nhuận bằng chênh lệch giữa hiện giá từ khoản thu nhập từ vốn tái sử dụng với mệnh giá của nó
Trang 31Ảnh hưởng trên doanh số của các bộ phận khác: Các công ty con
thường được thiết lập tại các nước mà trước đó các công ty mẹ đã có mua bán Nếu công ty mẹ có xuất khẩu đến nước sẽ thiết lập công ty con thì có
thể sẽ làm giảm doanh số của công ty con hoặc ngược lại Do đó khi tính
CF, phải trừ đi bất cứ nguồn thu nhập nào mà công ty đa quốc gia đã có thể kiếm được từ những hoạt động khác làm ảnh hưởng đến doanh số
Những hạn chế trong việc chuyển thu nhập từ các dự án đầu tư ở nước ngoài về nước: Khi có hạn chế đối với việc chuyển thu nhập về nước, có
thể hình thành nên các khoản thu nhập có thể chuyển một cách công khai hợp pháp hoặc có thể chuyển một cách không hợp pháp
Các thuế suất khác nhau: Chính sách thuế quốc tế là một vấn đề cực kỳ
phức tạp, mỗi quốc gia có một biểu thuế suất khác nhau Tuy nhiên, vấn đề cần quan tâm là tổng số thuế phải nộp chứ không phải Chính phủ nào sẽ thu thuế, hình thức thu thuế… điều này có nghĩa là khi chúng ta tính toán dự án đầu tư nước ngoài, từ giác độ của nhà đầu tư, sẽ sử dụng mức thuế cao nhất trong hai mức thuế ở nước nhà đầu tư và nước thực hiện dự án đầu tư Vì vậy tiền thuế phải nộp thực tế sẽ ít hơn số được tính khi tính
CF
Lãi suất chiết khấu (chi phí sử dụng vốn bình quân của dự án): Các dự
án đầu tư nước ngoài thường được hưởng một số trợ giúp và ưu đãi như thuê đất với giá rẻ, lãi suất vay ưu đãi, … Tiền thuê đất đã tính trong chi phí của dự án khi tính NPV nhưng những khoản vay ưu đãi là một vấn đề rất quan trọng đối với công ty Khoản vay ưu đãi này sẽ dành cho công ty chứ không phải trực tiếp cho các cổ đông và việc tài trợ ưu đãi sẽ làm chi phí sử dụng vốn bình quân của các dự án đầu tư nước ngoài khác với chi phí sử dụng vốn bình quân của các dự án đầu tư trong nước
Từ những nhược điểm nêu trên, Robert M Coen và Robert Eisner đã nêu lên một phương pháp mới sử dụng khi đánh giá các dự án đầu tư nước ngoài là phương pháp APV Phương pháp APV được xác định như sau:
+
++
++
−
−+
i n
i n
i i i
)DR(
RF)
DR(
TD)
DR(
LRCL
S)DR(
tBCr
)DR(
t
DA)
DR(
)t)(
LSCFS(AF
SKSAPV
1 1
1 0 0 1
0
1 1
0 0 0 0
11
11
11
1
với:
S 0 : Hối suất tại thời điểm 0
Trang 32S i : Hối suất tại thời điểm i (i = 1,…, n)
K 0 : Vốn đầu tư của dự án tính bằng ngoại tệ
AF 0 : Vốn bị hạn chế (phong tỏa) do dự án tái sử dụng
CF i : Lưu lượng tiền tệ có thể chuyển hợp pháp về nước (bằng ngoại tệ)
LS i : Lợi nhuận từ doanh số bị mất đi (do thay thế bằng dự án mới) tính
bằng tiền nội địa
t : Thuế suất cao hơn trong hai mức thuế doanh nghiệp ở nước ngoài
và ở trong nước
n : Tuổi thọ của dự án
DA i : Chiết khấu khấu hao (bằng nội tệ)
BC 0 : Đóng góp của dự án vào khả năng vay mượn (tính bằng nội tệ)
LR i : Các khoản chi trả vay lãi (tính bằng ngoại tệ)
CL 0 : Mệnh giá của khoản vay ưu đãi (tính bằng ngoại tệ)
TD i : Khoản tiết kiệm được từ thuế do việc trì hoãn chuyển thu nhập về
nước, đánh giá chuyển nhượng nội bộ từ các công ty con
RF i : Thu nhập dự kiến chuyển về nước bằng đường bất hợp pháp
DR e : Suất chiết khấu cho CF, giả định tài trợ toàn bộ bằng vốn cổ phần
thường
DR a : Suất chiết khấu cho khấu hao
DR b : Suất chiết khấu cho tiền tiết kiệm từ thuế trên việc khấu trừ lãi từ
đóng góp vào khả năng vay mượn
DR c : Suất chiết khấu cho tiết kiệm nhờ lãi suất ưu đãi
DR d : Suất chiết khấu tiền thuế tiết kiệm nhờ chuyển nhượng nội bộ
DR f : Suất chiết khấu cho CF của dự án chuyển về nước bất hợp pháp
r g : Lãi suất thị trường trong nước của nhà đầu tư
Với những chỉ tiêu cụ thể như sau:
địa ở thời điểm 0
tái sử dụng được chuyển đổi ra nội tệ
Trang 33AF0: Mệnh giá của vốn bị phong tỏa – Thu nhập từ vốn này quy về hiện giá trong cách sử dụng hợp lý nhất
∑
−
− n
1
i
i e
i i i
) DR 1 (
) t 1 )(
LS CF
S
hợp pháp trên doanh số từ dự án mới chuyển đổi ra tiền bả xứ theo hối suất tại thời điểm i
nếu thu nhập này tính bằng ngoại tệ phải chuyển đổi ra nội tệ
LSi * Si
Các nguồn lưu lượng tiền tệ trên được di chuyển phần thuế suất thực tế => nhân với (1-t) với giả thiết thuế suất áp dụng cho thu nhập mất
đi từ doanh số bằng thuế suất đánh trên thu nhập mới
cả rủi ro do quốc gia (bao gồm rủi ro chính trị) không thể tránh được và khả năng rủi ro do hối suất
tDA
Khấu hao là một chi phí được miễn thuế khi ấn định thuế cho doanh nghiệp đối với các dự án đặt ở nước ngoài cũng như trong nước
nội địa nên không quy đổi sang ngoại tệ Nếu mức thuế suất t > thuế suất trong nước => số tiền miễn thuế khấu hao sẽ được trừ vào phần
tính bằng ngoại tệ => phải được chuyển đổi sang ngoại tệ với hối suất
tBCr
1
0
1Khi nợ được dùng để tài trợ một dự án trong nước hay nước ngoài, khoản tiền chi trả lãi được miễn thuế
như là lợi nhuận Lợi nhuận hàng năm lại bằng với số tiền trả lãi tiết kiệm từ việc miễn thuế với lãi suất là lãi vay thị trường trong nước
Trang 34S
1 0 0
LRCL
1 0
1sẽ là hiện giá của khoản lợi nhuận của một khoản vay ưu đãi
Tổng giá trị trên phải được chuyển đổi sang nội tệ ở thời điểm 0 [28] và [30]
Khi xem xét phương pháp APV, có thể nhận thấy, đây là một phương pháp cực kỳ phức tạp nhưng hiệu quả mang lại rất to lớn Nó có thể giúp cho nhà đầu tư nước ngoài và Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư đánh giá một cách chính xác hiệu quả kinh tế tài chính của một dự án đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên APV vẫn còn hạn chế ở chổ là các dữ liệu trong tính toán đều là những con số giả định ví dụ tỷ lệ lạm phát của một nền kinh tế hoặc tỷ giá tiền tệ của các nước là những con số dự tính, do đó diễn biến của nó trong tương lai có thể không đúng với ước tính trong hiện tại Điều này, ít nhiều cũng ảnh hưởng đến độ chính xác của phương pháp APV Mặc khác do phương pháp tính rất phức tạp nên nếu áp dụng tại Việt Nam trong điều kiện hiện nay thì rõ ràng rất khó khăn và có nhiều chỉ tiêu chưa cần thiết Do đó, có thể đơn giản bớt phương pháp trên để mang tính khả thi hơn trong điều kiện kinh tế Việt Nam Vấn đề này tôi sẽ trình bày chi tiết và cụ thể trong chương 3 của luận án
c/ Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài xét trên giác độ nước tiếp nhận đầu tư
Một dự án ĐTTTNN được thực hiện ở một địa phương, một vùng lãnh thổ của một quốc gia nào đó nhằm khai thác những lợi thế so sánh của nước tiếp nhận đầu tư để mang lại lợi nhuận cho các chủ đầu tư của nó Tuy nhiên, môït hoạt động đầu tư không những chỉ đảm bảo lợi ích kinh tế cho các chủ đầu tư mà còn phải thể hiện lợi ích kinh tế xã hội cho nước tiếp nhận đầu tư do đã khai thác tài nguyên, lao động, tận dụng các đăng ký về khí hậu, vị trí của nước chủ nhà Nếu lợi nhuận là động lực thúc đẩy sự thu hút vốn của các chủ đầu tư thì lợi ích kinh tế xã hội của các dự án đầu tư lại là căn cứ chủ yếu mà các nước tiếp nhận đầu tư quan tâm Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ĐTTTNN, nước chủ nhà tiếp nhận ĐTTTNN thường sử dụng các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế ở tầm
Trang 35vĩ mô và xem xét những hiệu quả xã hội mà các dự án đầu tư mang lại cho quốc gia đó
Những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế ở tầm vĩ mô bao gồm:
Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của vốn đầu tư: Thông qua chỉ tiêu này để xác định giá trị sản lượng mà một đơn vị đầu tư (đồng VND hay USD) của hoạt động đầu tư mang lại cho nền kinh tế Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế được
địnhcốtưđầuvốnTổng
gộpLãi
ándự củanăm hàngthuDoanh
động)lưu
vốncả (kểtưđầuvốnTổng
theo ngành) thì có nghĩa là vốn đầu tư của dự án vào ngành đó kém hiệu quả kinh tế
Chỉ tiêu thu lợi bằng ngoại tệ: Chỉ tiêu này nói lên mức độ tác động của hoạt động đầu tư đến sản phẩm hàng hoá xuất khẩu hoặc thay thế hàng nhập khẩu nhằm thu lại hoặc tiết kiệm ngoại tệ cho đất nước Chỉ tiêu thu lợi bằng ngoại tệ được xác định qua chỉ số:
Số ngoại tệ thu được hoặc tiết kiệm hàng năm bao gồm:
Mức tiết kiệm
Chi phí ngoại tệ để
Chi phí sản xuất khối lượng sản phẩm thay thế nhập khẩu
Với:
Chi phí ngoại tệ
để nhập khẩu
thu ngoại tệ do xuất
chi phí sản xuất khối lượng sản phẩm xuất khẩu
Trang 36Chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu trên vốn đầu tư (Ic) (được xác định theo từng ngành)
tưđầuvốnsốTổng
tưđầuđộnghoạt củauxuất khẩngạch
kimTổng
đóng góp của hoạt động đầu tư vào ngân sách Nhà nước: Được xác định thông qua các chỉ số tuyệt đối và tương đối
Chỉ số tuyệt đối: là số tiền (tiền Việt Nam hay ngoại tệ) mà Nhà nước thu được từ các hoạt động đầu tư thông qua các loại thuế và các khoản thu khác như tiền cho thuê mặt đất, mặt nước, mặt biển, tiền dịch vụ và các khoản lệ phí khác
Chỉ số tương đối: được xác định bằng tỷ số giữa chỉ số tuyệt đối về mức đóng góp vào ngân sách với tổng số vốn đầu tư Chỉ số này càng lớn thì lợi ích kinh tế-xã hội của hoạt động đầu tư càng cao
Chỉ tiêu giá trị gia tăng của thu nhập quốc dân: Chỉ tiêu giá trị gia tăng của thu nhập quốc dân do hoạt động đầu tư mang lại được xác định như
sau:
Giá trị gia tăng
của thu nhập
quốc dân
lương công
Ngoài ra, cũng có thể sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ giá trị gia tăng của thu nhập quốc dân trên tổng vốn đầu tư để đánh giá hiệu quả kinh tế do hoạt động đầu tư mang lại
Bên cạnh những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế ở tầm vĩ mô, hiệu quả sử dụng vốn ĐTTTNN tại các nước tiếp nhận đầu tư còn được đánh giá qua những hiệu quả về mặt xã hội mà các dự án ĐTNN mang lại
Hiệu quả về mặt xã hội thể hiện trước hết ở chỉ tiêu mức độ thu hút lao động của hoạt động đầu tư (hay số lượng việc làm tạo ra cho người lao động) và chỉ tiêu vốn đầu tư trên một đầu người:
việclàmngườiSố
tưđầuvốnsố
Tổngđộng
laoNgườitư
đầu
Hiệu quả về mặt xã hội còn được biểu hiện thông qua các hiện tượng kinh tế xã hội lành mạnh mà hoạt động ĐTTTNN mang lại cho nền kinh tế, cụ thể như:
Trang 37• Thúc đẩy sự phát triển của kinh tế địa phương: Hoạt động đầu tư
góp phần biến những vùng đất nghèo, dân cư thưa thớt thành những vùng kinh tế trù phú, dân cư đông đúc lên, thực hiện chiến lược phân bổ lại lao động trong cả nước và chính sách thành thị hóa nông thôn Lợi ích kinh tế-xã hội do hoạt động đầu tư mang lại là góp phần phát triển kết cấu hạ tầng, thông tin liên lạc của địa phương
• Thúc đẩy phát triển kinh tế ngành và liên ngành (tạo ảnh hưởng dây chuyền thúc đẩy sự phát triển các ngành nghề khác có liên quan): Hoạt động đầu tư chẳng những mang lại lợi ích cho các chủ
đầu tư mà còn tạo điều kiện thúc đẩy đến sự phát triển của các ngành khác Chẳng hạn đầu tư vào hoạt động thăm dò, khai thác dầu thô sẽ kéo theo sự hình thành và phát triển của hoạt động chế biến dầu thô thành dầu tinh, sản xuất dầu nhờn, khí đồng hành Bên cạnh khía cạnh tích cực trên, cũng có một số hoạt động đầu tư gây ảnh hưởng đến các ngành khác hoặc gây ô nhiễm môi trường
• Những ảnh hưởng về mặt xã hội khác: Như ảnh hưởng đến môi trường, môi sinh, xử lý chất thải, tiếng ồn, mỹ quan trong khu vực, sức khoẻ người dân hoặc những đóng góp vào sự nghiệp nâng cao dân trí [4]
Bên cạnh việc tập trung thu hút nguồn vốn ĐTTTNN, Chính phủ của các nước tiếp nhận đầu tư trong đó có Việt Nam luôn quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư mang lại cho quốc gia Tuy nhiên, do mục đích của các chủ đầu
tư nước ngoài là nhằm vào lợi nhuận nên họ có thể tìm mọi biện pháp nhằm đạt được mục đích trên, bất chấp quyền lợi của nước chủ nhà Một trong những thủ thuật tinh vi mà các nhà đầu tư áp dụng tại các nước tiếp nhận đầu tư là lợi dụng chính sách định giá chuyển giao nội bộ (Transfer Pricing) để giảm thiểu số thuế phải nộp Chính phủ Việt Nam đã dùng thuật ngữ “chuyển giá” để mô tả hành
vi này của các nhà ĐTTTNN
1.3.2 Hoạt động “chuyển giá” và ảnh hưởng của nó đến hiệu quả sử
dụng vốn ĐTTTNN
Thuật ngữ “chuyển giá” bắt nguồn từ hoạt động định giá chuyển giao nội bộ trong các công ty đa quốc gia Các MNC theo đuổi các chiến lược kinh doanh rất đa dạng Hai trong số các chiến lược này, là chiến lược toàn cầu hóa (the global strategy) và chiến lược xuyên quốc gia (the transnational strategy) Các MNC triển khai những hoạt động sản xuất của chúng tại các quốc gia khác nhau trên khắp thế giới Do đó, một sản phẩm có thể được thiết kế, vẽ mẫu tại một
Trang 38nước, một số bộ phận cấu thành của nó được sản xuất ở nước thứ hai, các bộ phận cấu thành khác được sản xuất ở nước thứ ba, tất cả sẽ được lắp ráp ở nước thứ tư và các sản phẩm hoàn chỉnh sẽ được bán rộng rãi khắp toàn cầu
Trong bất kỳ một MNC nào, thông thường cũng có một số lượng các hoạt động chuyển giao hàng hóa dịch vụ giữa công ty mẹ và công ty con ở nước ngoài và giữa các công ty con ở nước ngoài với nhau Giá mà các hàng hoá và dịch vụ được chuyển giao giữa các thực thể trong nội bộ MNC được gọi là giá chuyển giao
Các nghiệp vụ chuyển giao trong nội bộ MNC có nội dung rất phong phú và đa dạng Đó là các nghiệp vụ có liên quan đến:
Khi thực hiện chính sách định giá chuyển giao, các MNC có thể đạt được những lợi ích to lớn:
Công ty có thể giảm nghĩa vụ nộp thuế của mình bằng cách sử dụng giá chuyển giao để chuyển thu nhập từ một nước có thuế suất cao sang một nước có thuế suất thấp
Công ty có thể sử dụng giá chuyển giao để chuyển vốn và các quỹ ra khỏi một nước khi có sự giảm giá tiền tệ quan trọng xảy ra Bằng cách đó, công ty sẽ giảm được rủi ro về tỷ giá hối đoái
Công ty có thể sử dụng giá chuyển giao để chuyển tiền từ công ty con về công ty mẹ hoặc là một nơi “trú ẩn an toàn về thuế” khi việc chuyển giao tài chính qua hình thức chia lợi tức cổ phần bị thu hẹp hay nới lỏng do chính sách của chính phủ nước tiếp nhận đầu tư
Công ty có thể sử dụng giá chuyển giao để giảm thuế nhập khẩu mà công ty phải trả khi biểu thuế quan áp dụng cách đánh thuế trên phần trăm giá trị của hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu (ad valorem) Trong trường hợp này, công ty có khuynh hướng định ra một giá chuyển giao thấp đối với hàng hoá và dịch vụ nhập vào một nước, bởi vì sự giảm giá của các hàng hoá và dịch vụ sẽ làm giảm thuế nhập khẩu đối với
Trang 39Nếu các cơ quan thuế ở các nước đều xem xét hoạt động của các MNC trên thế giới thông qua việc tiếp cận với khái niệm “định giá chuyển giao” thì ở nước ta, trong vài năm gần đây, thông qua một số hiện tượng và kết quả kinh doanh không bình thường của các công ty con (của các MNC) tại Việt Nam, cơ quan thuế thường liên kết với các hoạt động này với một khái niệm được gọi là
“chuyển giá”
Thực chất của chuyển giá là một hoạt động chủ quan của các MNC nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp thông qua việc xác định giá trị các nghiệp vụ chuyển giao trong nội bộ MNC không đúng với giá thị trường
Các nghiệp vụ chuyển giao này có thể thực hiện dưới hai hình thức:
(Related Parties)
Về thực chất, hai khái niệm “định giá chuyển giao” và “chuyển giá” là không đồng nhất với nhau, mặc dù, xét về một khía cạnh nào đó, chúng có những nội dung giống nhau “Định giá chuyển giao” là một khái niệm hàm ý thực hiện một hành vi với các khía cạnh mang tính khách quan của một chính sách định giá chuyển giao của các MNC thực hiện đối với nước tiếp nhận đầu tư và với chính quốc “Chuyển giá”, theo quan điểm của Nhà nước Việt Nam lại là một thủ thuật nhằm xác định giá trị của các nghiệp vụ chuyển giao không đúng (cao hơn hoặc thấp hơn) giá thị trường để đạt được mục đích giảm thiểu số thuế mà các MNC phải nộp
Nhìn bên ngoài, hiện tượng chuyển giá ở Việt Nam được nhận dạng dưới những dấu hiệu như:
vốn cao hơn giá trị thực chất (hoặc nói chính xác hơn là cao hơn giá thị trường), định giá vật liệu, chi phí khấu hao và các khoản chi phí khác cao hơn giá thị trường
việc giảm giá bán sản phẩm tiêu thụ cho công ty mẹ ở chính quốc, hoặc thậm chí, giảm giá tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nội địa để nâng cao uy tín sản phẩm và quảng cáo cho nhãn hiệu thương mại của công ty mẹ
Hoạt động “chuyển giá” được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm
vì nó không chỉ mang lại hậu quả tiêu cực đối với các nước tiếp nhận ĐTTTNN
Trang 40mà còn gây ra những ảnh hưởng không thuận lợi đối với chính quốc của các MNC
1.4 KINH NGHIỆM THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐTTTNN Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á
ĐTTTNN tại Việt Nam còn là một vấn đề mới mẻ và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của quá trình thị trường hóa nền kinh tế Để thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn ĐTTTNN vào Việt Nam và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đó, chúng ta cần thiết phải học hỏi kinh nghiêm của các nước đi trước, đặc biệt là các nước Châu Á với tình hình kinh tế có những điểm tương đồng với nền kinh tế nước ta Tuy nhiên, khi học hỏi những chính sách kêu gọi ĐTTTNN ở những nước này cũng cần phải lưu ý chọn lọc những biện pháp thích ứng và tạo sự phát triển vững chắc, tránh đi vào vết xe đổ của hiện tượng “tăng trưởng nóng” hoặc phát triển “kinh tế thiếu nền móng”
1.4.1 Kinh nghiệm thu hút ĐTNN của bốn con rồng Châu Á: Hàn Quốc,
Đài Loan, Singapore, Hongkong (NICs)
Nghiên cứu lịch sử, chúng ta thấy giai đoạn đầu tiên đặc điểm kinh tế xã hội nước ta có những điểm giống với các nước NICs
Những năm 1950-1960, nền kinh tế các nước NICs rất lạc hậu, phát triển mất cân đối hoặc bị kiệt quệ trong chiến tranh (như Hàn Quốc), đặc biệt lại nghèo về tại nguyên, đất hẹp, người đông, lợi thế hầu như chỉ dựa vào biển và lực lượng lao động đông và rẻ tiền, thu nhập bình quân đầu người rất thấp Ngày nay cả bốn nước đều trở thành các nước công nghiệp mới với tốc độ phát triển kinh tế cao, thu nhập bình quân đầu người tăng gấp nhiều lần (xấp xỉ 60 lần)
Một trong những nguyên nhân dẫn đến thành công là do mỗi nước, tùy vào đặc điểm phát triển kinh tế của mình mà có chính sách thu hút vốn đầu tư quốc tế riêng
a/ Hàn Quốc
Chính sách thu hút đầu tư quốc tế tập trung vào những mặt sau:
- Chế độ tự phê chuẩn, cho phép đầu tư nước ngoài trong 10 ngày tự động phê chuẩn các dự án có mức đầu tư dưới 1 triệu USD, không