1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các giải pháp tăng cường tín dụng, dài hạn của ngân hàng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở việt nam

194 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu và nhiệm vụ của luận án Mục tiêu nghiên cứu là những vấn đề về lý luận và thực tiễn của hoạt động tín dụng trung, dài hạn ngân hàng đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp

Trang 1

MAI THỊ TRÚC NGÂN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2003

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010 là “ Chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa theo định hướng XHCN, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”

Để thực hiện chiến lược này, mục tiêu kinh tế 5 năm 2001-2005 là: “tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế…”

Như vậy, ở nước ta hiện nay việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế để đạt được một mô hình hợp lý đảm bảo thúc đẩy kinh tế phát triển là một trong những vấn đề chủ yếu mà Đảng và Nhà nước rất quan tâm

Để thực hiện được nội dung này cần huy động nhiều nguồn lực mà quan trọng nhất là vốn Theo dự toán, nguồn vốn đầu tư phát triển cả nước trong 5 năm tới khoảng 900.000 tỷ đồng tương đương 60 tỷ USD, trong đó trên 70% là nguồn vốn trong nước Nhưng riêng nguồn trong nước thì vốn ngân sách chỉ đảm đương khoảng 25% còn lại là các nguồn vốn khác Trong các nguồn cung ứng vốn cho nền kinh tế thì hoạt động tín dụng ngân hàng là một kênh dẫn vốn hữu hiệu

Thời gian qua, tín dụng ngân hàng đã có những đóng góp tích cực để thúc đẩy nền kinh tế phát triển Nhưng cần nhận thấy rằng, các dự án chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải thực hiện trong thời gian dài nên vốn cung ứng của ngân hàng phải là vốn trung, dài hạn Mà thực trạng trong toàn ngành ngân

Trang 3

hàng hiện nay là quy mô tín dụng trung, dài hạn nhỏ bé và doanh số cho vay trung, dài hạn thấp Vì vậy, việc tìm các giảp pháp khả thi để tăng cường tín dụng trung, dài hạn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế là vấn đề cấp thiết hiện nay

Đề tài “Các giải pháp tăng cường tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam” được hình thành bắt nguồn từ những nhận thức trên

2 Mục tiêu và nhiệm vụ của luận án

Mục tiêu nghiên cứu là những vấn đề về lý luận và thực tiễn của hoạt động tín dụng trung, dài hạn ngân hàng đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước Trên cơ sở đó đưa ra những quan điểm, định hướng và giải pháp cơ bản để góp phần mở rộng và tăng cường hoạt động tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng

Để đạt được mục tiêu đó nhiệm vụ đặt ra là:

- Xác định nhu cầu chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế và vai trò của tín dụng trung, dài hạn trong việc chuyển dịch này

- Xác định sự cần thiết khách quan của việc nâng cao vai trò tín dụng trung, dài hạn để đáp ứng nguồn vốn cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Phân tích các tồn tại cơ bản trong hoạt động tín dụng trung, dài hạn của các NHTM

- Trên cơ sở các nghiên cứu trên, tìm các giải pháp tích cực góp phần khắc phục tồn tại để thúc đẩy tín dụng trung, dài hạn phát triển, nâng cao vai trò của nó đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa là mục tiêu chiến lược của Đảng và Nhà nước ta Để việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả cần đến nhiều nguồn lực mà vốn đầu tư là một trong những nguồn lực quan trọng Trong các nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế thì vốn tín dụng ngân hàng nhất là tín dụng trung, dài hạn góp phần đáng kể Qua phân tích các thành tựu cũng như các tồn tại trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho thấy hoạt động tín dụng trung, dài hạn có một ảnh hưởng nhất định Vì vậy, cần tìm hiểu thực trạng của hoạt động tín dụng trung, dài hạn và nghiên cứu tìm các giải pháp khắc phục các tồn tại để tín dụng trung, dài hạn có thể góp phần hữu hiệu vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đó là các đối tượng nghiên cứu của luận án

Nhưng vì đối tượng nghiên cứu rộng, nên trong phạm vi giới hạn luận án không nghiên cứu sâu sắc, toàn bộ các vấn đề trên mà chỉ tiếp cận hoạt động tín dụng trung, dài hạn theo hướng quan sát, phân tích tình hình thực tế qua các năm ở một số TCTD chủ yếu là các NHTM nhà nước

4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp luận chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu là phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với việc sử dụng phương pháp logic, lý thuyết hệ thống, thống kê, phương pháp diễn giải và quy nạp cũng như sự suy luận khoa học để giải quyết các vấn đề

Bên cạnh đó, cũng vận dụng kết quả nghiên cứu của các tài liệu, sách báo có liên quan để làm sáng tỏ thêm các quan điểm của luận án Trong quá

Trang 5

trình nghiên cứu luận án cũng đã sử dụng các số liệu, thông tin từ NHNN, các NHTM, Bộ Kế hoạch đầu tư, Tổng cục Thống kê, để làm cơ sở chứng minh cho các luận điểm

5 Những đóng góp của luận án

- Đưa ra cơ sở lý luận về tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng, lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và vai trò của tín dụng trung, dài hạn ngân hàng đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam

- Rút ra được những bài học kinh nghiệm trong hoạt động tín dụng trung, dài hạn đã ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam từ 1990 đến nay - Xây dựng định hướng và các giải pháp để tăng cường tín dụng trung, dài

Trang 6

CHƯƠNG 1

VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN ĐỐI VỚI

CÔNG NGHIỆP HÓA-HIỆN ĐẠI HÓA VÀ

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ

1.1 KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG TRUNG DÀI HẠN

1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của tín dụng trung, dài hạn

Trong các nguồn lực đảm bảo cho nền kinh tế phát triển thì vốn đóng vai trò quan trọng hàng đầu Nó là yếu tố cần thiết để cho một quốc gia tăng trưởng và đạt được những mục tiêu chiến lược kinh tế – xã hội

Trong nền kinh tế, vốn đáp ứng nhu cầu thường xuyên của quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Quan trọng hơn, phần lớn khối lượng vốn nhằm đầu

tư để mở rộng quy mô kinh doanh và hiện đại hóa công nghệ Đây là nhu cầu phát sinh do các doanh nghiệp luôn tìm cách phát triển sản xuất và đổi mới máy móc thiết bị Do vậy, có thể thấy nhu cầu vốn của các doanh nghiệp có thể chia làm hai loại là nhu cầu mang tính cố định và nhu cầu thời vụ Nhu cầu thời vụ thường dùng để bù đắp cho sự thiếu hụt tạm thời của tài sản lưu động, còn nhu cầu mang tính cố định thường để đáp ứng việc mua sắm, xây dựng tài sản cố

sản cố định nên thời gian thu hồi vốn qua khấu hao rất chậm vì vậy thời gian sử dụng và hoàn trả phải dài hạn

Ngoài ra, cần thấy rằng, đối với tài sản lưu động, nhu cầu vốn không hẳn là ngắn hạn vì theo thời gian sử dụng, có thể phân ra làm hai loại là tài sản lưu

Trang 7

động thường xuyên và tài sản lưu động theo thời vụ Tài sản lưu động thường xuyên không phải là các tài sản bất động tại doanh nghiệp Tính chất thường xuyên của nó thể hiện ở chỗ, nguồn vốn để đầu tư vào loại tài sản lưu động này phải luôn luôn được duy trì, do vậy phải là nguồn dài hạn Sơ đồ 1.1 sau đây sẽ minh họa rõ hơn việc sử dụng nguồn tài trợ cho các nhu cầu vốn của doanh nghiệp :

Sơ đồ 1.1: Nguồn tài trợ của doanh nghiệp

Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thế giới, các nước đều tranh thủ ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ để nâng cao sức cạnh tranh hầu chiếm lĩnh thị phần Cạnh đó, các nhu cầu mang tính xã hội, phúc lợi trong mỗi quốc gia cũng ngày càng tăng Đầu tư cho các nhu cầu này thường ít khi tính đến thu hồi đồng vốn trực tiếp mà thu lại ở một dạng khác khi công trình phát huy hiệu quả, đó là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân cư Đối với nhu cầu này, nguồn đầu tư phải là trung, dài hạn Vì thế, hiện nay, trong bất kỳ quốc gia nào cũng vậy, việc cung ứng vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế là một nhu cầu bức thiết

Nguồn vốn dài hạn

Tài sản lưu động thường xuyên

Tài sản cố định

Thời gian đầu tư

Trang 8

Đặc biệt, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, nhu cầu vốn trung, dài hạn để xây dựng cơ bản và cải tiến kỹ thuật là rất lớn Các doanh nghiệp Việt Nam rất cần vốn để đổi mới quy trình công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh trong hội nhập kinh tế thế giới Nhưng để đáp ứng nhu cầu này thì vốn tự có của các doanh nghiệp còn nhỏ bé vì chưa tích lũy được nhiều và tâm lý đầu tư trực tiếp của dân cư vào các doanh nghiệp còn rất hạn chế Vì vậy, các doanh nghiệp rất cần sự tài trợ vốn trung, dài hạn từ nền kinh tế

Có hai nguồn chủ yếu để tài trợ vốn trung, dài hạn cho các doanh nghiệp, đó là : Các doanh nghiệp vay trung, dài hạn của các định chế tài chính hoặc phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu ra thị trường Nhưng đa số các doanh nghiệp khi cần vốn trung, dài hạn thường chọn cách vay của các TCTD hơn là phát hành chứng khoán Sự lựa chọn này có những lý do chính đáng của nó, đó là :

- So với việc phát hành thêm cổ phiếu hoặc trái phiếu, thì khi vay trung, dài hạn các doanh nghiệp có thể thương lượng các điều kiện thích hợp trực tiếp với TCTD như về thời gian ân hạn, về định kỳ hạn nợ theo một sự phân chia hợp lý và ổn định để họ có thể chủ động tìm các khoản trả nợ dễ dàng hơn

- Khi vay trung, dài hạn, doanh nghiệp có thể điều chỉnh kỳ hạn nợ, nghĩa là có thể trả nợ trước hạn khi họ không cần sử dụng vốn đó nữa Như vậy, thời hạn của các khoản vay trung, dài hạn sẽ linh hoạt hơn thời hạn của các trái phiếu và doanh nghiệp sẽ có lợi hơn vì tránh được rủi ro trong những thời kỳ lãi suất tăng cao Đó là một ưu thế của tín dụng ngân hàng so với việc phát hành chứng khoán

- Khi phát hành chứng khoán, doanh nghiệp phải tốn kém nhiều chi phí như chi phí đăng ký, lệ phí bảo hiểm, chi phí phát hành chứng khoán ra thị

Trang 9

trường Đó là những khoản tiền mà doanh nghiệp không phải bỏ ra nếu vay trung, dài hạn ở các TCTD

- Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp không muốn phát hành chứng khoán vì ngại phải công bố thông tin về mình hoặc đang ở trong điều kiện không có lợi cho việc phát hành

- Việc phát hành chứng khoán phải có những diều kiện thích hợp và phải có uy tín đối với dân chúng Do vậy, không phải doanh nghiệp nào cũng thực hiện được

- Riêng đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, hoạt động của thị trường chứng khoán ở trình độ thấp, do vậy doanh nghiệp khó tìm được vốn trên thị trường này

Qua phân tích trên cho thấy, đối với các doanh nghiệp, tín dụng trung, dài hạn của các TCTD vẫn là kênh dẫn vốn tiện lợi và hữu hiệu

1.1.1.1 Khái niệm tín dụng trung, dài hạn

Tín dụng là một trong những chức năng hoạt động của hầu hết các định chế tài chính Riêng đối với các ngân hàng thương mại, tín dụng là một chức năng cơ bản Thật vậy, nhìn vào báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại ta thấy rõ khoản sử dụng vốn lớn nhất và mang lại thu nhập cao nhất cho ngân hàng chính là tín dụng Do vậy, sự phát triển, sự thành công của một ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào hoạt động tín dụng

Trong nền kinh tế, thuật ngữ tín dụng chứa đựng nhiều nội dung khác nhau Ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy từng trường hợp mà tín dụng được hiểu theo từng nghĩa cụ thể:

Trang 10

- Trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể dư thừa sang chủ thể thiếu hụt thì tín dụng được xem là sự chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay

-Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả giữa hai chủ thể

-Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền mà các định chế tài chính tài trợ cho khách hàng

Trong một ngân hàng thì tín dụng được hiểu như sau:

Tín dụng là một quan hệ giao dịch về tài sản giữa hai chủ thể trong đó một bên là người cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) chuyển giao một lượng giá trị (tiền hoặc hàng hóa) cho người đi vay ( cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác) sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận đồng thời bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện vốn gốc kèm theo một khoản lợi tức khi đến hạn thanh toán

Sự hoàn trả trong tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tín dụng đặt trên cơ sở lòng tin của người cho vay đối với người đi vay Điều này đã được kiểm nghiệm từ xa xưa vì không phải ngẫu nhiên mà từ “credo” có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm lại được dùng để chỉ hoạt động tín dụng từ khi nó xuất hiện K Marx đã nói về đặc trưng này như sau : “Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay người sở hữu trong một thời gian và chẳng qua chỉ tạm thời chuyển từ tay người sở hữu sang tay nhà tư bản hoạt động Cho nên tiền không phải đã được bỏ ra để thanh toán, cũng không phải bị đem bán đi mà chỉ đem cho vay, tiền chỉ được đem nhượng lại với điều kiện là nó sẽ quay trở về điểm xuất phát sau một kỳ hạn nhất định [4, tr16] Ngoài việc hoàn trả đúng thời hạn, tài sản khi quay về phải lớn hơn vì có kèm theo phần lãi K.Marx nhận định vấn đề này như sau “ Đem tiền cho vay với tư cách là một vật có đặc tính là sẽ quay trở về

Trang 11

điểm xuất phát của nó mà vẫn giữ được nguyên vẹn giá trị của nó và đồng thời lại lớn lên thêm trong quá trình vận động” [4, tr 28] Trong thực tế, đặc trưng này thường bị vi phạm gây không ít khó khăn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng

Theo quy định hiện hành của NHNN Việt Nam (điều 8, quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN) thì tín dụng trung, dài hạn là các khoản cho vay có thời hạn vay trên 12 tháng Trong đó :

- Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng

- Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên, thời hạn tối đa có thể lên đến 30 năm, một số trường hợp cá biệt có thể

lên đến 40 năm [40]

1.1.1.2 Đặc trưng của tín dụng trung, dài hạn

So với tín dụng ngắn hạn, có thể thấy tín dụng trung, dài hạn có các đặc trưng sau:

Một là : Thời hạn cho vay dài Đối với các khoản cho vay ngắn hạn thời

hạn từ lúc cho vay đến khi thu hồi vốn chỉ diễn ra cao nhất là 12 tháng Trái lại đối với các khoản cấp tín dụng trung, dài hạn thời hạn từ khi cho vay đến lúc hoàn trả toàn bộ món nợ dài gấp nhiều lần (có thể đến 30, 40 năm)

Hai là : Rủi ro trong cho vay trung, dài hạn cao hơn cho vay ngắn hạn Có

thể thấy rủi ro này xuất phát từ các nguyên nhân sau :

- Vì thời hạn cho vay dài nên dù có thẩm định kỹ dự án vay cũng không thể dự đoán trong tương lai dài thật chính xác được Trong thời gian hoạt động sau khi vay nợ, doanh nghiệp có thể gặp những biến cố khách quan, hoặc những

Trang 12

bất trắc chủ quan mà dù tài giỏi đến đâu ngân hàng cũng không thể luờng được Các sự cố này khiến ngân hàng phải gánh chịu rủi ro tín dụng vì khách hàng không có nguồn đểå hoàn trả vốn vay “Rủøi ro tín dụng được định nghĩa là nguy

cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không hoàn trả được toàn bộ” [8, tr 194]

- Rủi ro còn có thể xảy ra do đảm bảo trong cho vay trung, dài hạn thường là tài sản gắn liền với vốn vay mà các tài sản này có tính thị trường thấp

- Lượng tiền giải ngân của các hợp đồng tín dụng trung, dài hạn thường rất lớn so với tín dụng ngắn hạn Chính vì vậy, nếu bất trắc xảy ra thì rủi ro các NHTM phải gánh chịu là nghiêm trọng Do vậy, chính loại cho vay trung, dài hạn đã thúc đẩy các ngân hàng liên kết lại với nhau dưới hình thức cho vay hợp vốn để cùng chia sẻ các rủi ro

Một loại rủi ro nữa xuất hiện ở loại tín dụng trung, dài hạn là rủi ro lãi suất Vì đặc trưng của NHTM là nguồn vốn hoạt động chủ yếu là vốn ngắn hạn

Do vậy, muốn tăng cường hoạt động cho vay trung, dài hạn, thường các NHTM lấy nguồn từ một phần vốn ngắn hạn Do vậy, khi lãi suất thị trường biến động rủi ro sẽ xảy ra với ngân hàng vì : “Rủi ro lãi suất gắn liền với cấu trúc thời hạn khác nhau giữa tài sản và nợ (huy động vốn và cho vay ) và sự biến động của lãi suất thị trường” [8, tr166] Nếu lãi suất thị trường tăng, hệ số chênh lệch lãi sẽ giảm gây khó khăn cho hoạt động ngân hàng

Từ các đặc trưng trên đây đòi hỏi trong cho vay trung, dài hạn phải :Tập trung quản trị rủi ro tín dụng trong toàn bộ quy trình cho vay và việc sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn phải phù hợp với năng lực quản trị rủi ro lãi suất

Trang 13

1.1.1.3 Đối tượng của tín dụng trung dài hạn:

• Trong lĩnh vực công nghiệp, giao thông vận tải:

- Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, máy móc thiết bị nhằm mở rộng, cải tạo, đổi mới kỹ thuật , ứng dụng khoa học công nghệ mới Tín dụng trung hạn còn nhằm đầu tư xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh

- Tín dụng dài hạn được cấp cho các nhu cầu xây dựng cơ bản, xây dựng

cơ sở hạ tầng như đường bộ, đường sắt, đường thủy, bến bãi, cầu phà, xây dựng mới cơ sở vật chất cho các ngành kinh tế mũi nhọn

- Tín dụng dài hạn còn được cấp cho các nhu cầu xây dựng mua sắm tài sản cố định cho các doanh nghiệp như xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc hiện đại, các công nghệ tiên tiến, thiết bị phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các doanh nghiệp mới

• Đối với lĩnh vực nông nghiệp, xây dựng nông thôn :

- Trong lĩnh vực nông nghiệp, hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm nhiều ngành nghề nên đối tượng cho vay rất đa dạng, phong phú Tín dụng trung hạn có thể đầu tư cho các đối tượng như : Trồng mới cây lưu gốc; cải tạo diện tích canh tác; xây dựng chuồng trại gia súc; chi phí sửa chữa lớn tàu thuyền, đóng mới phương tiện khai thác đánh bắt loại nhỏ; xây dựng sân phơi, lò sấy .- Tín dụng dài hạn chủ yếu cho vay để: Trồng mới cây công nghiệp, lâm nghiệp; mua sắm máy móc thiết bị để sản xuất, chế biến nông lâm thủy hải sản; đóng mới các phương tiện đánh bắt, vận tải thủy bộ loại vừa và lớn; xây dựng nhà xưởng chế biến nông, lâm, thuỷ, hải sản; xây dựng mới đồng ruộng, đầm hồ nuôi trồng thủy, hải sản

Ngoài ra, khi cho vay trung, dài hạn cần lưu ý trong xu hướng khuyến khích phát triển nông nghiệp, hiện nay nhiều hộ canh tác thêm trên đất không

Trang 14

thuộc quyền sử dụng của mình như các trang trại đi lên từ một hộ sản xuất lớn

Vì vậy chi phí thuê và cải tạo đất cũng là một đối tượng vay cần được xem xét

Ngoài nhu cầu vốn trung, dài hạn của các doanh nghiệp, còn có nhu cầu của cá nhân và hộ gia đình Trước kia, hầu hết các ngân hàng đều không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ cho rằng, các khoản cho vay tiêu dùng nói chung có quy mô rất nhỏ so với rủi ro vỡ nợ cao và sẽ làm cho mức sinh lời thấp Nhưng rồi sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay đã buộc ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng trung thành tiềm năng Sau chiến tranh thế giới lần II, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình tín dụng có mức tăng trưởng nhanh nhất Riêng ở Việt Nam, trong những năm gần đây, các NHTM đã cho vay tiêu dùng với thời hạn từ 3 đến 5 năm để dân cư mua sắm các tiện nghi sinh hoạt, phương tiện đi lại, giải quyết các nhu cầu về giáo dục, y tế Riêng cho vay để mua nhà cửa có thể từ 7 đến 10 năm

1.1.2 Sự phát triển của tín dụng trung, dài hạn trong hoạt động ngân hàng 1.1.2.1 Hoạt động tín dụng ngân hàng thời kỳ trước Thế chiến thứ I

Nghề ngân hàng xuấát hiện rất sớm ở Châu Âu Từ thời kỳ cổ đại Hy Lạp, vào thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ V trước công nguyên đã có những thương nhân làm nghề ngân hàng Ở nước Ý, thời cổ La Mã đã có hoạt động ngân hàng, rồi dần dần phát triển sang các nước khác ở Châu Âu Nghiệp vụ ngân hàng lúc đó gồm có nhận tiền gửi, làm trung gian thanh toán, thực hiện hối đoái và cho vay Như vậy, nghiệp vụ tín dụng đã xuất hiện trên trái đất này từ thời cổ đại xa xưa

Các ngân hàng TBCN đã xuất hiện đầu tiên ở Anh vào cuối thế kỷ XVII và phổ biến ở các nước Châu Âu trong thế kỷ XVIII

Trang 15

Các dịch vụ của NHTM trong thời kỳ này bao gồm việc trao đổi tiền tệ, huy động tiền gửi, chiết khấu thương phiếu, cho vay thương mại, cung cấp các tài khoản giao dịch, tài trợ Chính phủ

Trong các dịch vụ này, thì chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại là các nghiệp vụ truyền thống

Chiết khấu thương phiếu là một trong những kỹ thuật cấp tín dụng lâu đời nhất của các NHTM Cơ sở của nó bắt nguồn từ tín dụng thương mại Trong quá trình mua bán, các doanh nghiệp sản xuất đã cho người mua vay nợ bằng cách bán chịu hàng hóa ( nhận tiền bán ở một thời điểm trong tương lai) Chứng từ của việc mua bán chịu này là các kỳ phiếu thương mại (thương phiếu) Khi chưa đến hạn thanh toán, nếu doanh nghiệp cần tiền cho chu kỳ sản xuất tiếp theo sẽ mang các thương phiếu đến NHTM xin chiết khấu Thực tế của hoạt động chiết khấu thương phiếu là NHTM cho vay ngắn hạn đối với các doanh nghiệp cần bán các khoản nợ để lấy tiền mặt

Khi hoạt động công nghiệp và thương mại phát triển, nghiệp vụ chiết khấu không đáp ứng đủ nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp Vì trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp tất yếu nảy sinh những khoản vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng, đồng thời lại có nhiều nhà sản xuất cần vốn bổ sung cho quá trình sản xuất kế tiếp hoặc cần thêm vốn để mở rộng quy mô kinh doanh mà tín dụng thương mại giữa các nhà sản xuất không thể thoả mãn hết được Do vậy, bên cạnh hoạt động chiết khấu thương phiếu, các ngân hàng phải cung cấp thêm dịch vụ cho vay trực tiếp các doanh nghiệp Trong thời kỳ trước Thế chiến thứ nhất, các khoản cho vay này là ngắn hạn để các doanh nghiệp bổ sung tài sản lưu động, dự trữ nguyên vật liệu, hàng tồn kho

Sở dĩ các khoản vay này ngắn hạn là vì :

Trang 16

Một mặt, các doanh nghiệp còn sản xuất với quy mô nhỏ, riêng lẻ, do vậy vốn tự có của mỗi xí nghiệp thường là đủ giải quyết phần lớn nhu cầu tài sản cố định Do vậy, họ chủ yếu vay ngắn hạn để bù đắp sự thiếu hụt tạm thời của tài sản lưu động và chưa có nhu cầu vay vốn dài hạn

Mặt khác, đối với các NHTM, trong thời kỳ này cũng hoạt động riêng lẻ với số vốn nhỏ cho nên họ đã áp dụng chiến lược quản trị thanh khoản theo thuyết cho vay thương mại Theo đó, “ yêu cầu quản trị thanh khoản của ngân hàng thương mại là hạn chế cho vay, hướng đầu tư chủ yếu vào các khoản cho vay thương mại ngắn hạn” [8, tr 82] Như vậy hoạt động tín dụng của NHTM trước Thế chiến thứ nhất chủ yếu là cho vay ngắn hạn

1.1.2.2 Hoạt động tín dụng trong thời kỳ sau Thế chiến thứ I đến trước Thế chiến thứ II

Sau Thế chiến thứ I, các doanh nghiệp đã bắt đầu tập trung thành các tập đoàn sản xuất lớn, nhiều ngành công nghiệp mới ra đời nhất là các ngành công nghiệp quân sự hùng mạnh sản xuất vũ khí phục vụ cho việc trang bị phòng thủ giữa các cường quốc Các tập đoàn sản xuất này cần những khối lượng vốn khổng lồ cho việc mở rộng quy mô sản xuất, trang bị máy móc hiện đại Số vốn này đầu tư phần lớn cho tài sản cố định nên thời hạn sử dụng tín dụng phải kéo dài Hơn nữa, trong giai đoạn này, ngân hàng thường phải cấp các khoản tín dụng tài trợ cho Chính phủ để bù đắp các khoản bội chi ngân sách sau chiến tranh và trong khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 Các khoản tài trợ này thường có thời hạn trên 1 năm

Mặt khác, trong giai đoạn này, các NHTM cũng đã tập trung thành các ngân hàng lớn, có nguồn vốn hoạt động dồi dào nên có khả năng cấp các khoản vay với thời hạn dài hơn Tuy vậy, các khoản tín dụng trong giai đoạn này cũng

Trang 17

chỉ là các khoản vay trung hạn vì thường có thời hạn vay dưới 5 năm Như vậy, từ sau Thế chiến thứ nhất đã xuất hiện loại hình tín dụng trung hạn

1.1.2.3 Hoạt động tín dụng thời kỳ sau Thế chiến thứ II đến nay

Sau Thế chiến thứ II, các quốc gia tham chiến đều có nhu cầu tái thiết đất nước rất lớn nên lượng tài trợ của ngân hàng cho Chính phủ ngày càng tăng với thời hạn càng dài Các ngành công nghiệp mới phát triển dẫn đến vốn đầu

tư của các tập đoàn sản xuất ngày một gia tăng Cuộc chiến tranh lạnh kéo dài giữa hai khối Nato và Vacsava đã ngốn khối lượng vốn khổng lồ vào các ngành công nghiệp quân sự

Về phía các định chế tài chính, thì từ sau Thế chiến thứ II các định chế tài chính liên kết dẫn đến sự ra đời của các tổ chức quốc tế hùng mạnh như WB, Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Châu Âu, ADB, Ngân hàng Phát triển liên Mỹ

Các tổ chức tài chính quốc tế này có đủ khả năng để giải quyết các nhu cầu trên, do vậy, khối lượng vốn ngân hàng cung ứng cho các doanh nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn hoạt động “ Phân tích tình hình tài chính ở một số xí nghiệp lớn Tây Âu trong những năm 1950 – 1960 cho thấy vốn vay ngân hàng đã chiếm đến 66% trong tổng số tư bản sử dụng, con số này

ở Pháp là 55% và ở Đức là 46%” [39,tr 44] Song song với khối lượng tín dụng gia tăng, thời hạn sử dụng vốn ngày càng kéo dài, hoạt động tín dụng dài hạn hình thành

Hoạt động tín dụng dài hạn càng phát triển khi tỷ trọng vốn vay dài hạn trong tổng vốn hoạt động của các tập đoàn sản xuất ngày càng tăng “Ở Pháp, trong giai đoạn từ 1949 đến 1955, vốn tín dụng dài hạn của các ngân hàng chiếm 21% tổng doanh số cho vay, nhưng trong giai đoạn 1958–1962 đã tăng

Trang 18

lên 36,5% Ởû Mỹ trong giai đoạn 1953–1963 tín dụng dài hạn tăng mỗi năm khoản 10,7 tỷ USD, chiếm 49,7% trong tổng doanh số cho vay.” [39, tr 45]

Như vậy, đến sau Thế chiến thứ nhất các NHTM mới bắt đầu cho vay trung hạn và sau Thế chiến thứ hai, hoạt động tín dụng dài hạn mới ra đời và

phát triển đến nay

Ngày nay tín dụng trung, dài hạn là một trong những hoạt động chủ yếu của các NHTM trên toàn thế giới nhằm cung ứng vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội của tất cả các quốc gia

1.1.3 Các nguồn vốn hình thành để cho vay trung, dài hạn

Vốn để cho vay trung, dài hạn ở các NHTM xuất phát từ nhiều nguồn Nhưng các nguồn này đều hạn hẹp, vì vậy mà khả năng mở rộng doanh số cho vay trung, dài hạn khó thực hiện tốt Hiện nay, các NHTM cho vay trung, dài hạn từ các nguồn vốn chủ yếu sau:

1.1.3.1 Nguồn vốn hình thành từ vốn tự có

Vốn tự có là một trong những nguồn cơ bản để NHTM cho vay trung, dài hạn Vốn tự có gồm gía trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ khác của tổ chức tín dụng Nhưng nhìn chung, hiện nay ở các NHTM dù vốn tự có là nguồn ổn định nhất để cho vay trung, dài hạn, nhưng lại nhỏ bé, không đáng kể (chỉ chiếm khoảng trên dưới 4% so với tài sản có)

1.1.3.2 Nguồn vốn huy động

Đối với những hoạt động kinh doanh truyền thống của ngân hàng nhất là hoạt động tín dụng thì vốn huy động là nguồn chủ yếu Hiện nay, ở các NHTM vốn huy động để cho vay trung, dài hạn bao gồm :

Trang 19

- Tiền gửi trung, dài hạn của các thành phần kinh tế và dân cư Nguồn này hiện chiếm tỷ trọng thấp trong tổng vốn huy động vì các tổ chức kinh tế thường chỉ gửi loại tiền gửi thanh toán hoặc định kỳ ngắn hạn, còn dân cư do yếu tố tâm lý ảnh hưởng cũng không thích gửi tiền dài hạn

- Phát hành các giấy tờ có giá trung, dài hạn : Bên cạnh tiền gửi, để huy động vốn trung, dài hạn các NHTM còn có nghiệp vụ phát hành các giấy tờ có giá trung, dài hạn như trái phiếu, kỳ phiếu Nhưng nguồn này hiện cũng hạn chế

vì ngân hàng không huy động thường xuyên mà chỉ theo từng đợt phát hành

- Dùng một phần nguồn vốn ngắn hạn ổn định để cho vay trung, dài hạn: Hiện nay để tăng thêm nguồn vốn cho vay trung, dài hạn , NHNN đã cho phép các NHTM sử dụng một tỷ lệ nhất định của nguồn huy động ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn Tuy nhiên, việc sử dụng này cần cân nhắc, tính toán cẩn thận vì nó tiềm ẩn hai rủi ro lớn mà ngân hàng có thể vấp phải là rủi ro về lãi suất và rủi ro về tính thanh khoản

1.1.3.3 Nguồn vốn vay dài hạn từ các định chế tài chính khác và Chính phủ

Để có nguồn vốn cho vay trung, dài hạn các NHTM còn có thể đi vay ở các định chế tài chính khác trong nước như NHNN, các NHTM khác, tổ chức tín dụng khác Thông thường NHNN chỉ cho các NHTM vay ngắn hạn (vay nóng ) để thực hiện chức năng thanh toán Nhưng trong một số trường hợp, các NHTM có thể vay dài hạn ở NHNN Khi cần vốn để thực hiện tài trợ các dự án lớn mang tính quốc gia, các NHTM có thể vay dài hạn của Chính phủ

1.1.3.4 Nguồn vốn nước ngoài

Các NHTM Việt Nam có thể tận dụng vốn nước ngoài để làm nguồn vốn cho vay trung, dài hạn trong nước dưới các hình thức sau

• Vay vốn từ các định chế tài chính nước ngoài :

Trang 20

NHTM Việt Nam sẽ vay vốn từ các định chế tài chính nước ngoài bằng hai cách

- Vay dài hạn các ngân hàng nước ngoài :

Hiện nay, với khoa học công nghệ phát triển cùng với việc mở rộng ngoại giao, các NHTM Việt Nam đặt quan hệ đại lý và quan hệ thanh toán rộng rãi với nhiều ngân hàng trên thế giới Từ đó, các NHTM Việt Nam có thể vay vốn trung, dài hạn của ngân hàng các nước để cho vay lại trong nước Các khoản vay này có thể vay trực tiếp hoặc qua sự bảo lãnh của NHNN Các khoản tín dụng này có mức lãi suất cố định hoặc thả nổi và thời hạn thường là thỏa thuận (thường là trung, dài hạn ) Nếu là lãi suất thả nổi thì thời hạn điều chỉnh thường là 3 hoặc 6 tháng một lần Mức lãi suất áp dụng đối với các khoản vay này là mức lãi suất trên thị trường tài chính quốc tế như NIBOR, LIBOR hoặc SIBOR Nhưng muốn thực hiện tốt nghiệp vụ này, các NHTM phải đảm bảo thanh toán nợ vay đúng hợp đồng tín dụng đã ký kết

- Vay vốn các ngân hàng nước ngoài dưới hình thức tín dụng xuất khẩu của các nước OECD :

Loại tín dụng này mang ý nghĩa như sau : Để đảm bảo cho các doanh nghiệp trong nước mình xuất khẩu được hàng hóa, các nước OECD sẽ cho doanh nghiệp nhập khẩu ở các nước khác (thường là nước đang phát triển ) vay vốn để mua hàng hóa của doanh nghiệp nước mình Loại tín dụng này tiến hành bằng cách ngân hàng nước xuất khẩu cho vay và được các định chế tài chính chuyên biệt của Nhà nước nước xuất khẩu bảo lãnh như ở Mỹ là Eximbank, ở Pháp là Quỹ bảo lãnh tín dụng Tín dụng xuất khẩu có 2 phương thức cho vay :

- Cho các doanh nghiệp nhập khẩu vay trực tiếp như Eximbank của Mỹ đã bảo lãnh cho hãng Hàng không Việt Nam vay700 triệu USD để mua 4 máy bay của Mỹ

Trang 21

- Hoặc cho các ngân hàng Việt Nam vay theo hạn mức tín dụng và ngân hàng sẽ cho các doanh nghiệp nhập khẩu vay lại Trong trường hợp này, vốn tín dụng xuất khẩu của các nước OECD trở thành nguồn vốn cho vay trung, dài hạn của các NHTM

Tiếc rằng ở Việt Nam hiện nay, ngoại trừ NHĐT&PT đã có triển khai thí điểm bằng cách ký hạn mức tín dụng với NHTM nước ngoài (ngân hàng phục vụ đơn vị xuất khẩu ) theo kiểu song phương, còn thì phương thức vay vốn này chưa được khai thác rộng ở các NHTM khác

• Tài trợ của các tổ chức quốc tế :

Các tổ chức quốc tế, các định chế tài chính quốc tếá sẽ tài trợ các chương trình lớn thông qua việc ký Hiệp định tài trợ với các NHTM nhà nước để các ngân hàng cho đơn vị đầu tư vay lại Như Hiệp định dự án Tài chính nông thôn của WB tài trợ cho NHNo với tổng số vốn 200 triệu USD, hiệp định Dự án phát triển ngành nông nghiệp của ADB ký với NHNo với tổng số vốn 90 triệu USD Hiệp định giữa Hiệp hội phát triển Công nghiệp của Đức ký với NHCT để tài trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo công ăn việc làm

1.1.4 Các hình thức cho vay trung, dài hạn

Có nhiều tiêu thức để phân loại cho vay trung, dài hạn :

1.1.4.1 Phân loại theo kỳ hạn nợ :

Nếu phân theo kỳ hạn nợ ta có 2 hình thức cho vay trung, dài hạn, đó là cho vay kỳ hạn và tín dụng tuần hoàn:

• Cho vay kỳ hạn:

Cho vay kỳ hạn thường tài trợ cho các mục đích chung của doanh nghiệp như mua sắm các bất động sản phục vụ sản xuất kinh doanh, các thiết bị sản xuất, vốn để doanh nghiệp liên doanh

Trong hình thức vay này, tiền vay được cam kết trả theo kỳ hạn, định kỳ thường là mỗi năm Tiền trả trong mỗi định kỳ thường là bằng nhau Như cũng

Trang 22

có khi tiền trả từng kỳ khác nhau (tăng dần hoặc giảm dần) tùy sự cam kết giữa doanh nghiệp và ngân hàng

• Tín dụng tuần hoàn

Tín dụng tuần hoàn là một hình thức cho vay, trong đó ngân hàng cam kết chính thức dành cho khách hàng một hạn mức tín dụng trong một thời hạn nhất định Như vậy, trong nghiệp vụ này, ngân hàng sẽ xác định một hạn mức tín dụng tối đa mà người đi vay có thể sử dụng bất cứ lúc nào Doanh nghiệp có thể rút tiền vay khi cần, miễn số dư nợ không vượt quá hạn mức cho phép Cam kết của ngân hàng về hạn mức tín dụng có thể dài từ 1 đến 3 năm thậm chí 5 năm, song thời hạn của khế ước nợ thường ngắn khoảng 90 ngày và nếu khách hàng thực hiện tốt các điều khoản của hợp đồng tín dụng thì khế ước sẽ được tái tục Như vậy, có thể hiểu tín dụng tuần hoàn là một hình thức cho vay trung, dài hạn trên cơ sở kết hợp nhiều khoản vay ngắn hạn liên tục

Thực tế phương thức này thường được áp dụng với các đơn vị mới thành lập chưa thể tính toán nhu cầu vốn cần thiết chính xác, vì vậy nếu vay theo kỳ hạn xác định thì dễ để vốn lãng phí nếu chưa cần đến Khi đơn vị đã hoạt động vào nề nếp thì có thể chuyển từ tín dụng tuần hoàn sang tín dụng trung, dài hạn theo kỳ hạn nếu người vay thấy cần thiết Với tín dụng tuần hoàn, ngân hàng sẽ xác định hạn mức tín dụng tối đa nhưng chỉ tính lãi trên số dư nợ thực tế sử

dụng

1.1.4.2 Phân chia theo loại hình vốn mà ngân hàng cấp cho khách hàng

Nếu phân theo loại hình vốn mà ngân hàng cấp cho khách hàng ta có hai loại cho vay trung, dài hạn Đó là cho vay trung, dài hạn bằng tiền và cho vay trung, dài hạn bằng tài sản

• Cho vay trung, dài hạn bằng tiền

Trang 23

Hình thức này áp dụng trong trường hợp bên vay cần vốn để mua sắm tài sản cố định, máy móc thiết bị để cải tiến, đổi mới công nghệ; thực hiện các dự án sản xuất sản phẩm mới Cho vay bằng tiền thường thể hiện dưới các phương thức trả góp hoặc cho vay kỳ hạn

Đây là cách tài trợ được bên vay ưa thích vì lẽ kỳ hạn có thể được điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu kinh doanh của mình Mặt khác bên vay vốn có thể kiểm soát toàn bộ hoạt động của mình và có thể trả nợ sớm hơn khi có đủ nguồn hoặc khi không cần sử dụng vốn đó nữa

Tuy nhiên, phương thức này cũng có những hạn chế nhất định Đối với ngân hàng, thời hạn vay càng dài thì mức độ rủi ro càng cao, nên cho vay trung, dài hạn đương nhiên kém an toàn hơn các khoản vay ngắn hạn Do vậy không phải ai cũng được vay, bởi ngân hàng sẽ không dám mạo hiểm bỏ vốn trong một thời gian dài vào một đối tượng mà mình không dám chắc có thu hồi được nợ hay không Vậy nên, các khách hàng vay trung, dài hạn phải được ngân hàng tin tưởng Lòng tin ấy dựa trên quan hệ quá khứ tốt đẹp (khách hàng luôn luôn hoàn trả nợ đúng hạn) và việc kinh doanh có hiệu quả của khách hàng

Mặt khác, lòng tin còn được củng cố thêm bằng các đảm bảo đối vật (tài sản thế chấp, cầm cố) và vốn tự có của bên vay Như vậy, đối với các đơn vị mới thành lập, vốn đầu tư ban đầu chưa dồi dào lại chưa tạo được uy tín trên thương trường thì việc vay vốn trung, dài hạn của ngân hàng để phát triển sản xuất quả thực là khó khăn

• Cho vay bằng tài sản (cho thuê tài chính)

Hình thức cho vay này xuất hiện ở nước ta từ năm 1994 và được điều chỉnh bằng nghị định 64/CP ra đời vào ngày 9/10/1995 Sau khi Luật các Tổ chức Tín dụng có hiệu lực (01/10/1998), để cụ thể hoá quy định của Luật và cũng để tạo điều kiện cho hoạt động CTTC phát triển, Chính phủ đã có nghị

Trang 24

định 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 và NHNN đã có thông tư NHNN hướng dẫn việc thực hiện nghị định 16/CP

08/2001/TT-Cho thuê được hiểu là một giao dịch hợp đồng giữa hai chủ thể : Bên chủ sở hữu tài sản và bên sử dụng tài sản Trong đó bên chủ sở hữu tài sản tức là bên cho thuê sẽ chuyển giao tài sản cho bên đi thuê sử dụng trong một thời gian nhất định và bên sử dụng tài sản phải thanh toán tiền thuê cho bên chủ sở hữu tài sản Theo điều 1 của nghị định 16/CP thì “ Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận” [40]

Như vậy cho thuê tài chính dựa trên cơ sở một hợp đồng trong đó người chủ tài sản (người cho thuê) cho phép người đi thuê chiếm hữu và sử dụng tài sản đó cho những mục đích nhất định trong một khoảng thời gian xác định tương đối dài (ít nhất phải bằng 60% thời gian khấu hao tài sản đó) Người đi thuê có trách nhiệm thanh toán tiền thuê theo định kỳ và không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn Trong suốt thời gian thuê, quyền sở hữu vẫn thuộc bên chủ tài sản Khi kết thúc hợp đồng, quyền sở hữu tài sản được chuyển giao cho bên thuê hoặc người đi thuê mua lại tài sản hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trước trong hợp đồng

Phương thức tài trợ này đã khắc phục những hạn chế của phương thức cho vay trung, dài hạn bằng tiền Đối với người cho thuê, đây là phương thức cho vay ít rủi ro bởi xét về mặt pháp lý họ vẫn nắm giữ quyền sở hữu tài sản nên có

Trang 25

thể kiểm tra, kiểm soát tài sản, nếu có biểu hiện vi phạm gây tác hại xấu, chủ tài sản có quyền chấm dứt hợp đồng và thu hồi tài sản

Mặt khác, cho vay bằng tài sản là điều kiện giúp người đi thuê sử dụng vốn đúng mục đích Trong phương thức cho vay bằng tiền, ngân hàng làm sao dám chắc 100% doanh nghiệp sẽ sử dụng vốn cho sản xuất đúng như cam kết trong hợp đồng? Mà sử dụng vốn vay đúng mục đích là một nguyên tắc quan trọng của tín dụng để tạo khả năng hoàn trả, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng

Đối với các đơn vị không đủ điều kiện vay vốn bằng tiền thì đây là hình thức tài trợ hữu hiệu Bên thuê không cần phải bỏ ra một số tiền lớn để mua sắm mà vẫn có tài sản để sử dụng và cũng không cần phải có tài sản để đảm bảo nợ vay vì đây là phương thức tài trợ xem như bên cho thuê đưa vốn góp 100%

1.2 VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG TRUNG, DÀI HẠN ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP HÓA-HIỆN ĐẠI HÓA VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VIỆT NAM

1.2.1 Những yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam trong thời đại mới

Công nghiệp hóa là quá trình xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho phù hợp với đặc điểm và điều kiện lịch sử của mỗi nước và đặc điểm thời đại Khái niệm công nghiệp hóa đã xuất hiện từ thế kỷ XVIII Các nước tư bản đã tiến hành công nghiệp hóa TBCN để xây dựng cơ sở vật chất cho nền đại công nghiệp TBCN thoát thai từ xã hội phong kiến

Sau khi Cánh mạng tháng 10 Nga thắng lợi, Liên Xô là nước đầu tiên đã tiến hành công nghiệp hóa XHCN vào năm 1928 Sau Liên Xô, hàng loạt các nước có nền kinh tế phát triển chưa cao, khi quá độ lên CNXH đều phải trải qua quá trình công nghiệp hóa XHCN Các nước có nền sản xuất nhỏ, tiến thẳng lên

Trang 26

CNXH không qua giai đoạn phát triển TBCN lại càng cần tiến hành công nghiệp hóa Đây là một quy luật tất yếu khách quan đối với tất cả các nước quá độ lên CNXH Công nghiệp hóa XHCN gồm 2 nội dung:

- Công nghiệp hóa XHCN là quá trình xây dựng cơ sở vật chất của CNXH, trên cơ sở áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật

- Công nghiệp hóa XHCN là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân để tạo lập cơ cấu kinh tế mới hiện đại gắn với phân công và hợp tác quốc tế Nước ta đi lên CNXH từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu nên từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960) Đảng ta đã xem công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ

Ngày nay, trong thời đại mà khoa học kỹ thuật đã phát triển vượt bậc, nền kinh tế tri thức đang dần trở thành lực lượng sản xuất khắp các nước trên thế giới nên trong sự nghiệp công nghiệp hóa ta có nhiều thuận lợi Ta không rập khuôn mô hình công nghiệp hóa của các nước đi trước mà phải biết vận dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các thành tựu các nước đi trước để thực hiện chiến lược đi tắt, đón đầu Có như thế ta mới không tụt hậu Do vậy từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII nội dung công nghiệp hóa của Việt Nam đã được gắn liền với hiện đại hóa

Để thực hiện chiến lược đi tắt, đón đầu, nền kinh tế Việt Nam phải phát triển với mô hình hai tốc độ, hai bước đi: một bước để thực hiện bước đi cơ bản của công nghiệp hóa (cơ giới hóa nông nghiệp, phát triển các ngành công nghiệp truyền thống .), một bước đồng thời để phát triển nhanh những ngành công nghiệp dựa vào tri thức và công nghệ cao nhất là công nghệ thông tin

Thực chất, trong những năm qua, nội dung công nghiệp hóa của ta chủ yếu thiên về hướng nội, tập trung nhiều vào việc tạo dựng nền tảng vật chất cho nền công nghiệp và tạo lập cơ cấu kinh tế mới Nhưng hiện nay trong xu thế

Trang 27

toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thế giới, công nghiệp hóa cần chuyển theo hướng đối ngoại để tập trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lợi thế so sánh trong khu vực và trên thế giới Có như vậy, ta mới tập trung nguồn lực đầu tư cho các ngành, các nghề có lợi thế so sánh cao để nâng sức cạnh tranh, hội nhập có hiệu quả với kinh tế thế giới

1.2.2 Nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn hiện nay

1.2.2.1 Khái quát về chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế là tổng thể những mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng của mỗi bộ phận và quan hệ tương tác giữa tất cả các bộ phận đó trong quá trình phát triển sản xuất xã hội

Cơ cấu kinh tế còn được hiểu là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu về chất và lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế trong một hệ thống sản xuất xã hội với những điều kiện kinh tế – chính trị – xã hội nhất định vào một khoảng thời gian nhất định Do vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chính là quá trình thay đổi các quan hệ tỷ lệ về lượng và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế Đó là quá trình điều chỉnh và hoàn thiện quan hệ sản xuất cho phù hợp với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất , tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Cơ cấu kinh tế của các nước thường được chuyển đổi theo 2 con đường :

- Thứ nhất là chuyển đổi tự phát dưới tác động của các quy luật kinh tế thị trường để dần dần hình thành một mô hình cơ cấu kinh tế hợp lý Cách chuyển đổi này thường mất nhiều thời gian và trước khi đạt được mô hình kinh tế ưu việt, có thể nền kinh tế phải chịu những tổn thất do sự cạnh tranh tiêu diệt lẫn nhau

Trang 28

- Thứ hai là chuyển đổi một cách tự giác, có kế hoạch dưới sự chỉ đạo, điều hành của Nhà nước nhằm dạt những mục tiêu kinh tế xã hội đã được vạch

ra

1.2.2.2 Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước ta hiện nay

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định đường lối kinh tế của ta hiện nay là: “ Đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp .phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế thế giới để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững .”[13 ,tr 24]

Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2001-2005 nêu : “Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế ” [13, tr 261]

Để đạt được mục tiêu trên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:

Một là, chuyển dịch cơ cấu cơ cấu kinh tế nhằm tạo điều kiện khai thác

tối đa những ưu thế và thuận lợi của đất nước như tài nguyên, thiên nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân lực

Hai là, chuyển dịch cơ cấu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành

kinh tế phát triển hợp lý, hài hòa, tập trung cho các ngành có lợi thế cạnh tranh

Ba là, tạo điều kiện cho các yếu tố của nền kinh tế phát triển để tạo khả

năng phát triển thuận lợi cho cả tổng thể

Bốn là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế để tạo tích lũy nhiều nhất cho nền

kinh tế quốc dân

Trang 29

Năm là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo điều kiện để kết hợp kinh tế trong

nước với kinh tế thế giới, thể hiện qua việc trao đổi trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, bảo đảm ta tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến để nâng cao sức cạnh tranh trong hội nhập kinh tế thế giới

Để thực hiện nội dung trên, chuyển dịch cơ cấu phải đảm bảo mô hình cơ cấu giữa các ngành kinh tế, giữa các thành phần kinh tế, giữa các vùng kinh tế Ngoài ra cần lưu ý đến cơ cấu đầu tư, cơ cấu lao động và cơ cấu sản phẩm Đó là các bộ phận cơ bản hợp thành cơ cấu kinh tế Các bộ phận này liên quan chặt chẽ với nhau, trong đó cơ cấu ngành có vai trò quyết định, cơ cấu thành phần kinh tế là những lực lượng quan trọng để thực hiện cơ cấu ngành và cơ cấu vùng lãnh thổ đảm bảo phân bố không gian hợp lý cho cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế phát triển

• Về cơ cấu ngành

Cơ cấu ngành phải chuyển dịch theo hướng tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần, công nghiệp và xây dựng tăng nhanh, tỷ trọng thương mại dịch vụ ổn định và tăng dần Theo tổng cục thống kê , trong 10 năm thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội, cơ cấu kinh tế ngành trong GPD đã có những chuyển biến tích cực có thể thấy qua biểu đồ 1.1.sau :

Năm 1990

38.7%

22.7%

38.6%

Trang 30

BIỂU ĐỒ 1.1: CƠ CẤU GDP THEO NGÀNH KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Nguồn : Niên giám thống kê Việt Nam 2002

- Nội dung chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp

Đẩy nhanh công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn

Đưa nhanh tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp Tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ trong nông nghiệp, nhất là công nghệ sinh học kết hợp với công nghệ thông tin Tăng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn

Phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn Trên cơ sở đó chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các ngành nghề khác ngay trên địa bàn nông thôn

Phát triển nhanh các ngành công nghiệp có khả năng phát huy lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường trong nước và xuất khẩu Xây dựng chọn lọc các cơ sở công nghiệp nặng Phát triển mạnh các ngành công nghiệp công nghệ cao

.Phát triển các cơ sở công nghiệp quốc phòng cần thiết, kết hợp công nghiệp quốc phòng với công nghiệp dân dụng Phát triển rộng khắp các cơ sở

Trang 31

sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa với ngành nghề đa dạng Tăng cường công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm , bảo hộ sở hữu công nghiệp

Phát triển mạnh thương mại, nâng cao năng lực và chất lượng hoạt động để mở rộng thị trường trong nước và hội nhập quốc tế có hiệu quả

Nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ truyền thống Phát triển và hiện đại hóa các ngành dịch vụ có nhiểu triển vọng như du lịch, bưu chính viễn thông

Mở rộng các dịch vụ tài chính – tiền tệ Phát triển mạnh các dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ tư vấn, dịch vụ đời sống, đáp ứng nhu cầu đa dạng trong sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội

• Về cơ cấu thành phần kinh tế:

Muốn nền kinh tế thị trường ở nước ta phát triển không thể chỉ dựa vào lực lượng kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể mà phải bằng sức mạnh tổng hợp của nhiều thành phần kinh tế Chuyển dịch thành phần kinh tế bao gồm những nội dung sau:

-Tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả khu vực kinh tế nhà nước để thực hiện tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế

- Phát triển kinh tế tập thể với các hình thức hợp tác đa dạng

- Tạo điều kiện cho kinh tế cá thể và tiểu chủ phát triển

- Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển không hạn chế về quy mô trong những ngành nghề, lĩnh vực mà pháp luật không cấm

- Kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư nhân trong và ngoài nước được khuyến khích phát triển đa dạng

Trang 32

- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam được khuyến khích phát triển, hướng mạnh vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ xuất khẩu, hàng hóa và dịch vụ có công nghệ cao, các ngành xây dựng kết cấu hạ tầng

• Về cơ cấu vùng lãnh thổ

Cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế chỉ có thể được chuyển dịch trên một lãnh thổ nhất định Vì vậy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ sẽ đảm bảo sự hình thành và phát triển của các ngành kinh tế Cơ cấu lãnh thổ có tính trì trệ hơn so với ngành và thành phần kinh tế vì nó chịu sự tác động của nhiều nhân tố Do đó, những sai lầm trong bố trí cơ cấu lãnh thổ sẽ ảnh hưởng lâu dài đến phát triển kinh tế Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ cần chú ý giải quyết các vấn đề cơ bản sau:

Chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ theo hướng phát triển toàn diện và tập trung có trọng điểm, phát triển tổng hợp đi đôi với phát triển chuyên môn hóa Các vùng , khu vực đều phát huy lợi thế để phát triển, tạo nên thế mạnh của mình theo cơ cấu kinh tế mở gắn với nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước Tiếp tục thúc đẩy các vùng kinh tế trọng điểm phát huy vai trò đầu tàu tăng trưởng nhanh, đồng thời đầu tư thích đáng và tạo điều kiện cho những vùng khó khăn Thống nhất quy hoạch trong cả nước, giữa các vùng, các tỉnh, thành phố tạo sự liên kết trực tiếp về sản xuất, thương mại, đầu tư, trợ giúp kỹ thuật và nguồn nhân lực Coi trọng chiến lược phát triển các vùng biên giới

• Về cơ cấu đầu tư

Cơ cấu đầu tư phải hợp lý, tránh tình trạng đầu tư tràn lan Cơ cấu đầu tư cần chuyển đổi theo hướng :

Phù hợp với sự chuyển đổi của cơ cấu ngành và cơ cấu vùng kinh tế

Trang 33

Tập trung đầu tư cho các ngành sản xuất có lợi thế cạnh tranh, các ngành kinh tế mũi nhọn, các ngành nghề truyền thống sản xuất các mặt hàng xuất khẩu có ưu thế

Ưu tiên đầu tư cho các vùng kinh tế trọng điểm, các vùng xung yếu, vùng biên giới, cửa khẩu phù hợp với chiến lược quốc phòng và an ninh quốc gia

• Về cơ cấu lao động

Để có một cơ cấu kinh tế hợp lý , cơ cấu lao động ở Việt Nam phải chuyển dịch theo hướng :

Tỷ trọng và số tuyệt đối lao động nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng và số tuyệt đối lao động công nghiệp ngày một tăng lên

Tỷ trọng lao động trí tuệ ngày một tăng và chiếm ưu thế so với lao động giản đơn trong tổng lao động xã hội

Tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất phi vật chất (dịch vụ) tăng nhanh hơn tốc độ tăng lao động trong các ngành sản xuất vật chất

Phân công lại lao động xã hội phải được triển khai trên cả hai địa bàn : tại chỗ và nơi khác Cần ưu tiên cho địa bàn tại chỗ nhất là trong khu vực nông nghiệp , giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp để tăng lao động cho các ngành công nghiệp và dịch vụ nông thôn Nếu cần chuyển sang địa bàn khác (ra thành phố, đi vùng kinh tế mới, xuất khẩu lao động) phải có sự chuẩn bị chu đáo

• Về cơ cấu sản phẩm :

Tập trung phát triển các mặt hàng có lợi thế, các mặt hàng sản xuất chủ yếu hướng ra xuất khẩu để tăng khả năng cạnh tranh

Phát triển sản xuất các sản phẩm thay thế nhập khẩu như giấy, thép xi măng, phân bón

Trong nông nghiệp, tập trung phát triển các sản phẩm đã qua chế biến để giảm tình trạng xuất khẩu thô, giá trị thấp

Trang 34

Hình thành các vùng nguyên liệu tập trung gắn liền với các nhà máy chế biến như : mía đường, bông, dứa, nguyên liệu giấy

1.2.2.3 Tiền đề và các công cụ để thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế

Để thực hiện nội dung của chuyển đổi cơ cấu kinh tế như đã nêu trên cần có các tiền đề và các công cụ để thúc đẩy quá trình chuyển dịch nhanh và đúng hướng

• Các tiền đề tạo điều kiện cho chuyển đổi cơ cấu kinh tế

Để tạo điều kiện cho cơ cấu kinh tế chuyển dịch cần phải có các tiền đề Đó là một số nguồn lực cơ bản như :

Nguồn vốn : Đây là nguồn lực quan trọng nhất đảm bảo cơ cấu kinh tế

chuyển dịch nhanh Nguồn vốn gồm vốn trong nước do tích lũy từ nội bộ nền kinh tế quốc dân và vốn huy động bên ngoài từ nhiều nguồn khác nhau Ở nước

ta hiện nay, nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp nên cần khai thác và tận dụng vốn từ bên ngoài Nhưng bên cạnh việc tạo nguồn vốn cần phải quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả

Nguồn nhân lực : Nguồn nhân lực của ta rất dồi dào, có nhiệt tình lao

động nhưng trình độ chuyên môn và kỹ thuật còn thấp Do vậy, cần quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ, kỹ thuật, cán bộ quản lý và công nhân lành nghề Bên cạnh việc đào tạo, phải bố trí, sử dụng tốt nguồn nhân lực đúng năng lực, sở trường

Tiềm lực khoa học, công nghệ : Khoa học, công nghệ có vai trò quyết định

lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế của một quốc gia Nước ta đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu nên tiềm lực về khoa học công nghệ còn yếu kém Do vậy, cần xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ đáp ứng quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước Trước mắt cần đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo đi đôi với nghiên cứu, tìm tòi tiếp thu các thành tựu khoa học thế

Trang 35

giới phục vụ cho việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Cạnh đó cần quan tâm xây dựng các chính sách tạo động lực cho khoa học, công nghệ phát triển và đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học, công nghệ

• Các công cụ để thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế

Ngoài việc phải có các nguồn lực để làm tiền đề thì Nhà nước cần phải sử dụng hệ thống các công cụ để tác động làm cho cơ cấu kinh tế chuyển đổi đúng hướng, đạt được các mục tiêu chiến lược đã đề ra Hệ thống này gồm một số công cụ cơ bản như kế hoạch, các chính sách vĩ mô, pháp luật

Kế hoạch :Kế hoạch là một trong những công cụ được Nhà nước sử dụng

để quản lý nền kinh tế, nhưng ở một số nước phát triển không còn sử dụng công cụ nầy.“ Ở nước ta, do vai trò của Nhà nước còn lớn, việc vận dụng công cụ kế hoạch còn cần thiết, và nếu vận dụng thích hợp, có thể có ích” [9, tr 245} Công tác kế hoạch ở nước ta đã đổi mới, chuyển từ tập trung, bao cấp sang định hướng trên cơ sở các cân đối lớn, các mục tiêu kinh tế vĩ mô Nhà nước đề ra một số chỉ tiêu quan trọng nhằm cơ cấu lại nền kinh tế và sử dụng kế hoạch để hướng các cơ quan, đơn vị vào việc thực hiện các mục tiêu đó

Các chính sách vĩ mô: bao gồm các chính sách về tài chính – tiền tệ,

chính sách tài khóa (ngân sách, thuế), chính sách thương mại, chính sách kinh tế đối ngoại, chính sách tiền lương và thu nhập

Trong các chính sách trên, thì “ngày nay, ý kiến thống nhất chung là chính sách tiền tệ đóng vai trò quan trọng nhất trong ổn định kinh tế vĩ mô” [9,

tr 250} Để đảm bảo cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh và đúng hướng thì chính sách tiền tệ - tài chính của ta thời gian tới cần tập trung :

Xây dựng và phát triển thị trường tài chính – tín dụng, tạo điều kiện cho thị trường này hoạt động theo các nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh

Trang 36

Xây dựng và phát triển thị trường vốn trung, dài hạn bằng cách tăng cường hoạt động của các định chế tài chính, TCTD chuyên kinh doanh vốn dài hạn

Hệ thống pháp luật : Pháp luật là công cụ đắc lực để Nhà nước quản lý

nền kinh tế Trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nhà nước sẽ sử dụng pháp luật để điều chỉnh hoạt động của các thành phần kinh tế đi đúng hướng mà mục tiêu và kế hoạch đã đề ra Để đạt được kết quả này, pháp luật phải được thường xuyên sửa đổi bổ sung cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế

Qua các phân tích trên cho thấy, trong quá trình sử dụng các nguồn lực và các công cụ để chuyển đổi cơ cấu kinh tế thì nguồn vốn nhất là vốn trung, dài hạn đóng vai trò quan trọng vì nó là tiền đề thúc đẩy cơ cấu kinh tế chuyển đổi nhanh và đúng hướng

Những nội dung trên đã chứng tỏ : Ở nước ta hiện nay việc chuyển dịch

cơ cấu kinh tế được thực hiện theo con đường tự giác Trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, Đảng đã vạch ra các đường lối chủ trương để chuyển đổi cơ cấu kinh tế và Nhà nước đã cụ thể hoá các chủ trương này thành hệ thống các kế hoạch, mục tiêu, các chính sách vĩ mô Đó chính là những công cụ để điều chỉnh nền kinh tế nhằm đạt được mô hình cơ cấu kinh tế hợp lý

Bằng con đường này, trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thời gian qua ta có nnhững thuận lợi nhất định, nhưng cạnh đó khó khăn cũng không ít :

Thuận lợi :

- Chuyển đổi cơ cấu kinh tế là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm

Do vậy, đường lối chỉ đạo của Đảng về vấn đề này luôn sâu sát trong từng giai đoạn phát triển của đất nước Trên cơ sở này, các cơ chế, chính sách và pháp luật cũng được ban hành để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, kinh tế

Trang 37

- Trong 15 năm đổi mới, kinh tế nước ta đã liên tục tăng trưởng, tạo tích lũy từ nội bộ nền kinh tế Cạnh đó, sự ổn định về chính trị đã nâng cao uy tín nước ta trên trường thế giới, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài ngày càng nhiều hơn

- Đất nước còn nhiều tiềm năng lớn về tài nguyên, thiên nhiên Nguồn nhân lực của ta dồi dào, trong lao động nhân dân ta thông minh, cần cù, sáng tạo

- Sự hợp tác, liên kết quốc tế tạo điều kiện để ta có thể tranh thủ tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới

Khó khăn :

- Mặc dù cơ cấu kinh tế của ta chuyển đổi theo con đường tự giác dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước nhưng do yếu tố kinh tế thị trường tự do cạnh tranh tác động nên không tránh khỏi sự chệch hướng trong quá trình thực hiện ở một số nơi, số lúc mà ta chưa kịp thời kiểm tra, chỉnh đốn

- Cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập nhưng Nhà nước chưa kịp thời điều chỉnh cho thích ứng với sự phát triển không ngừng của đất nước

- Nguồn vốn đầu tư tuy có tăng và đã được huy động từ nhiều nguồn khác nhau nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu vốn phát triển toàn xã hội như các mục tiêu đã đề ra Việc sử dụng vốn còn nhiều lãng phí, chưa mang lại hiệu quả

Từ những thuận lợi và khó khăn đó cho thấy : Trong thời gian tới để cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế tiến hành đúng theo các mục tiêu đã đề ra ta cần tổ chức tốt việc triển khai các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Trong quá trình thực hiện, phải thường xuyên kiểm tra, uốn nắn các lệch lạc, sửa đổi các quy định lỗi thời Song song đó, quan trọng nhất là tìm các giải pháp khả thi để tăng vốn đầu tư nhất là vốn trung, dài hạn – nguồn lực quan trọng nhất trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 38

1.2.3 Vai trò của tín dụng trung, dài hạn đối với quá trình công nghiệp hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam

hóa-1.2.3.1 Vốn tín dụng ngân hàng chiếm tỷ lệ quan trọng trong tổng nguồn vốn phát triển kinh tế

Trong những năm qua, để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển toàn xã hội, ta đã huy động vốn từ rất nhiều nguồn trong và ngoài nước Trong các nguồn huy động thì tín dụng ngân hàng là một kênh dẫn vốn chiếm tỷ lệ quan trọng Thật vậy, nếu phân tích cơ cấu nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế trong các năm qua sẽ thấy : Trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội thì vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng khoảng 24 –25% Vốn đầu tư của ngân sách chiếm 22 – 23% Vốn tự có của doanh nghiệp, dân cư khoảng 17 – 18% Như vậy, 35% nhu cầu vốn còn lại của nền kinh tế sẽ dựa vào nguồn nào để cung ứng ? Nếu không phải là từ các định chế tài chính và TCTD ? Các số liệu tuyệt đối sau đây sẽ cho thấy rõ hơn điều này Trong 5 năm 1996–2000, trong khi vốn đầu tư phát triển của ngân sách Nhà nước rót cho nền kinh tế khoảng 100.000 tỷ đồng, vốn ODA giải ngân trong cùng thời gian khoảng 6,1 tỷ USD ( 90.000 tỷ đồng) thì hệ thống ngân hàng đã cấp cho nền kinh tế lượng tín dụng tương đương 250.000 tỷ đồng trong đó tín dụng trung, dài hạn chiếm khoảng 35% Như vậy, vốn tín dụng ngân hàng đã chiếm một tỷ lệ quan trọng trong tổng nguồn vốn phát triển kinh tế

Ở các nước trên thế giới việc cung ứng vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế thường do các định chế tài chính phi ngân hàng đảm nhiệm Nhưng ở Việt Nam các tổ chức này chưa phát triển, hoặc hoạt động chưa có hiệu quả (như thị trường chứng khoán) Trong một số năm gần đây, thực hiện chính sách kích cầu, Chính phủ đã tăng cường việc phát hành công trái Nhưng vốn huy động này thường được sử dụng để xây dựng cơ sở hạ tầng chứ ít đầu tư cho sản xuất kinh

Trang 39

doanh Vì vậy, khi có nhu cầu mở rộng sản xuất , cải tiến kỷ thuật, chuyển đổi

cơ cấu sản phẩm , ngoài vốn tự có nhỏ bé của mình, các doanh nghiệp và hộ kinh doanh thường chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ của các TCTD

Trước đây, trong hệ thống ngân hàng, nghiệp vụ tín dụng trung, dài hạn được thực hiện chủ yếu ở NHĐT&PT với tính cách là một ngân hàng chuyên doanh, nhưng nguồn vốn để đầu tư cho nghiệp vụ này phần lớn là của ngân sách Hiện nay, theo quy định của Luật các TCTD thì tất cả các NHTM đều có chức năng cho vay trung, dài hạn chứ ta không có loại hình ngân hàng Phát triển chuyên huy động vốn dài hạn qua thị trường tài chính và cho vay dài hạn như một số nước trên thế giới

Bằng việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, tín dụng ngân hàng nhất là tín dụng trung, dài hạn đã thể hiện vai trò của mình đối với sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua các mặt sau:

1.2.3.2 Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy sự ra đời của các ngành sản xuất mới, các vùng kinh tế trọng điểm

Để thực hiện chiến lược đi tắt, đón đầu của nội dung công nghiệp hiện đại hóa trong thời đại ngày nay, Việt Nam cần tập trung phát triển các ngành sản xuất mới, các ngành công nghiệp cao, công nghiệp mũi nhọn mà ưu tiên hàng đầu là công nghệ thông tin Đây là ngành công nghiệp chỉ mới xuất hiện ở nước ta hơn một thập kỷ qua nhưng tiềm năng phát triển rất khả quan Trong nước hiện có hơn 200.000 nhà khoa học đang hoạt động trong lĩnh vực này và có nhiều người được đánh gía xuất sắc về chuyên môn Cạnh đó, những ngành sản xuất mới khác như khai thác và chế biến dầu khí, hàng không, công nghệ sinh học, vật liệu mới cũng cần đầu tư phát triển Nhưng vì là những ngành công nghiệp mới nên trong đầu tư xây dựng đòi hỏi vốn rất lớn Ngoài vốn tự có

Trang 40

hóa-của các doanh nghiệp ra, thì vốn tín dụng ngân hàng, nhất là vốn trung, dài hạn sẽ góp phần cùng ngân sách đầu tư cho các ngành công nghiệp mũi nhọn hình thành và phát triển Thời gian qua tín dụng trung, dài hạn của ngân hàng đã đầu

tư cho các công ty tin học như công viên phần mềm Quang Trung, các nhà máy hóa dầu Long Thành, Cát Lái, Dung Quất, cho Hàng không Việt Nam vay vốn trang bị máy bay mới

Cạnh đấy, tín dụng ngân hàng còn đầu tư xây dựng các khu kinh tế trọng điểm Hàng loạt các khu công nghiệp như Sóng Thần (Bình Dương), Tân Bình

TP HCM, Dung Quất (Quảng Ngãi), các khu chế xuất Tân Thuận, Linh Trung

ra đời và phát triển trong đó có phần vốn trung, dài hạn của ngân hàng đầu tư không ít Đấy là những đóng góp của tín dụng ngân hàng trong việc chuyển đổi

cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa

1.2.3.3 Tín dụng trung, dài hạn góp phần hiện đại hóa công nghệ sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế

Trong xu thế toàn cầu hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải nhằm nâng cao sức cạnh tranh, tăng cường cho các ngành xuất khẩu có lợi thế so sánh, tạo điều kiện hội nhập tốt nhất Trong 15 năm đổi mới, chúng ta đã tham gia nhiều định chế kinh tế – tài chính trong khu vực và trên thế giới Quá trình hội nhập vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với ta, vì khi tham gia vào các hiệp định kinh tế thương mại của khu vực và quốc tế, nước ta phải xóa dần hàng rào thuế quan và phải hoàn toàn bình đẳng với các doanh nghiệp nước ngoài Tất cả sự cạnh tranh chỉ còn là chất lượng và giá thành Nếu không cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm đi đôi với hạ giá thành thì doanh nghiệp Việt Nam sẽ bị đánh bật ngay cả trên thị trường nội địa Trước mắt, ta sẽ phải thực hiện các cam kết về tự do hoá thương mại vào năm 2006 với các nước trong AFTA và

Ngày đăng: 13/12/2019, 23:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w