1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán việt nam

270 180 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 270
Dung lượng 822,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc xây dựng các chuẩn mực kiểm toán Việt nam được tiến hành từ năm 1997 đã đạt được những thành quả ban đầu nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của việc quản lý và phát triển hoạt động

Trang 1

VŨ HỮU ĐỨC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2002

Trang 2

Mở đầu………

Chương 1: Tổng quan về hoạt động kiểm toán độc lập và

chuẩn mực kiểm toán

1.1 Hoạt động kiểm toán độc lập và chuẩn mực kiểm toán ………

1.1.1 Hoạt động kiểm toán độc lập………

1.1.2 Chuẩn mực kiểm toán ………

1.2 Thực tiễn xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán tại các quốc gia

trên thế giới ………

1.2.1 Thực tiễn xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc gia tại

các nước có nền kinh tế thị trường phát triển………

1.2.2 Chuẩn mực kiểm toán quốc tế và sự lựa chọn phương thức hòa

hợp của các quốc gia………

1.3 Những bài học kinh nghiệm cho Việt nam……….……

Chương 2: Hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam và quá

trình xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt nam

2.1 Hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt nam và những đặc điểm của Việt

nam liên quan đến việc xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán …

2.1.1 Hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt nam………

2.1.2 Những đặc điểm của Việt nam liên quan đến việc xây dựng hệ

thống chuẩn mực kiểm toán ………

2.2 Quá trình xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt nam - Những

thành quả và tồn tại ………

2.2.1 Quá trình xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt nam……

2.2.2 Những thành quả đạt được và những tồn tại còn phải giải quyết

của quá trình xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt nam

Trang 3

Chương 3: Phương hướng và giải pháp xây dựng hệ thống

chuẩn mực kiểm toán Việt nam

3.1 Phương hướng xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt nam…

3.2 Các giải pháp xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt nam …

3.2.1 Các giải pháp trước mắt………

3.2.2 Các giải pháp dài hạn………

3.3 Kiến nghị cụ thể về các chuẩn mực kiểm toán cần được soạn thảo

và ban hành trong giai đoạn trước mắt ………

3.3.1 Kiến nghị về thứ tự ưu tiên soạn thảo và ban hành các chuẩn

mực

3.3.2 Kiến nghị về nội dung các chuẩn mực cần soạn thảo và ban hành

ngay ………

Kết luận ………

Danh mục công trình của tác giả

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 4

M Ở ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu của nền kinh tế thị trường là bảo đảm thông tin đáng tin cậy cho việc đưa ra các quyết định kinh tế Hoạt động kiểm toán độc lập được hình thành để đáp ứng nhu cầu kiểm tra và xác nhận về tính đáng tin cậy của các thông tin này, nhất là các thông tin tài chính Để khẳng định và nâng cao chất lượng của công tác kiểm toán, các chuẩn mực kiểm toán của các nước đã ra đời và phát triển trong nhiều năm qua

Hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam còn mới mẻ nhưng phát triển khá nhanh chóng Trong mười năm qua, các công ty kiểm toán Việt Nam đã đi vào hoạt động và đạt được một sự phát triển nhất định Việc xây dựng các chuẩn mực kiểm toán Việt nam được tiến hành từ năm 1997 đã đạt được những thành quả ban đầu nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của việc quản lý và phát triển hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt nam

Do đó, việc nghiên cứu đẩy mạnh tiến trình xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam là một vấn đề rất quan trọng và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay, nhằm:

- Góp phần nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán độc lập, thúc đẩy hoạt

động này trở thành công cụ phục vụ đắc lực cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường của Việt nam hiện nay và trong những năm sắp tới

- Phục vụ cho quá trình hội nhập của Việt nam với nền kinh tế thế giới thông qua việc tiêu chuẩn hóa thông tin tài chính, đáp ứng yêu cầu quản lý của Việt nam và phù hợp với thông lệ quốc tế

Mục đích nghiên cứu

Trang 5

Mục đích nghiên cứu của luận án là nhằm đề xuất phương hướng và giải pháp xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt nam trong những năm tới, dựa trên phân tích các cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng chuẩn mực kiểm toán trên thế giới cũng như đánh giá quá trình xây dựng chuẩn mực kiểm toán Việt nam trong những năm qua

Đối tượng nghiên cứu

Các loại hình kiểm toán khác nhau có những yêu cầu khác nhau về chuẩn mực của mình Để đáp ứng mục đích đã nêu trên, luận án chỉ giới hạn trong khuôn khổ xây dựng chuẩn mực kiểm toán cho hoạt động kiểm toán độc lập

Thuật ngữ chuẩn mực kiểm toán thường được dùng để nói về các chuẩn mực nghiệp vụ Tuy nhiên, một số trường hợp chúng còn được mở rộng ra bao hàm cả khái niệm về chuẩn mực đạo đức Để bảo đảm tính tập trung, luận án chỉ đề cập đến các chuẩn mực về nghiệp vụ

Luận án tập trung nghiên cứu và giải quyết những vấn đề chủ yếu sau đây:

- Các luận điểm cơ bản về sự cần thiết khách quan của hoạt động kiểm toán độc

lập và các chuẩn mực kiểm toán; thực tiễn hình thành hệ thống chuẩn mực kiểm toán tại một số quốc gia điển hình và vấn đề hòa hợp với các thông lệ quốc tế để rút ra những bài học cần thiết cho việc xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt nam

- Quá trình phát triển của hoạt động kiểm toán độc lập và sự hình thành chuẩn

mực kiểm toán tại Việt Nam để đánh giá những thành tựu đã đạt được và những tồn tại còn phải giải quyết, hệ quả và nguyên nhân của chúng

- Phương hướng và giải pháp xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt nam trong giai đoạn mới

Trang 6

Phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện trên cơ sở phân tích thực tiễn theo quan điểm lịch sử và toàn diện, gắn sự phát triển của chuẩn mực kiểm toán với những điều kiện kinh tế

- xã hội của từng quốc gia trong từng thời kỳ, đồng thời không tách rời xu thế chung của thế giới Để đánh giá thực trạng, luận án sử dụng một số công cụ phân tích định lượng như thống kê, so sánh

Những đóng góp của luận án

Những đóng góp chính của luận án bao gồm :

- Hệ thống hóa những lý luận về sự cần thiết của hoạt động kiểm toán độc lập

và các chuẩn mực kiểm toán, qua đó nêu bật bản chất của hoạt động kiểm toán độc lập hiện đại cũng như bản chất của chuẩn mực kiểm toán Phân tích mối quan hệ vừa phụ thuộc vừa độc lập tương đối giữa chuẩn mực kiểm toán với hệ thống kế toán

- Phân tích thực tiễn xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán tại một số quốc

gia để hệ thống hóa thành các mô hình thiết lập hệ thống và các phương hướng hòa hợp với chuẩn mực quốc tế, chứng minh sự phù hợp giữa đặc điểm quốc gia và hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc gia Vận dụng cụ thể vào các quốc gia chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Trên cơ sở các phân tích trên, nêu ra một số kinh nghiệm cho việc xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc gia của Việt Nam

- Phân tích và đánh giá những thành quả và tồn tại của hoạt động kiểm toán

độc lập tại Việt nam và quá trình xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt nam trong những năm qua

Trang 7

- Xác định phương hướng xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt nam

trong giai đoạn mới và đưa ra các giải pháp cụ thể cho việc chuyên nghiệp hóa quá trình xây dựng chuẩn mực kiểm toán Việt nam để đẩy nhanh tiến trình này

- Xác định các chuẩn mực cần xây dựng trong giai đoạn trước mắt, kiến nghị về

phương hướng soạn thảo trên cơ sở đối chiếu chuẩn mực quốc tế với các chuẩn mực tương đương của hệ thống chuẩn mực kiểm toán Hoa kỳ,Australia và Trung quốc

- Đưa ra các giải pháp lâu dài cho việc hoàn thiện môi trường của hoạt động

kiểm toán độc lập Việt nam

Bố cục của luận án

Luận án gồm 163 trang, 4 bảng biểu và 28 phụ lục Nội dung Luận án, ngoài phần mở đầu và kết luận, bao gồm ba chương:

Chương 1: Tổng quan về hoạt động kiểm toán độc lập và chuẩn mực kiểm

toán Chương 2: Hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt nam và quá trình xây dựng

hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Chương 3: Phương hướng và giải pháp xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm

toán Việt Nam trong điều kiện hiện nay

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VÀ

CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN

KIỂM TOÁN

1.1.1 HOẠT ĐỘNG KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP

1.1.1.1 Lược sử phát triển của hoạt động kiểm toán độc lập

Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động kiểm toán độc lập có thể chia thành hai giai đoạn chính:

- Giai đoạn hình thành : từ cuối thế kỷ 19 trở về trước

- Giai đoạn phát triển : từ đầu thế kỷ 20 đến nay

Giai đoạn hình thành

Kiểm tra và xác nhận về tính đúng đắn của thông tin là một nhu cầu từ xa xưa của loài người Trong những thời đại khác nhau, các hình thức và mức độ tinh vi của các hoạt động kiểm tra này sẽ khác nhau Ở một mức độ thô sơ nhất, người

ta đã ghi nhận sự có mặt của kiểm toán trong đời sống của người cổ đại :

" …ở Ai cập cổ đại, nhà nước kiểm tra việc ghi chép các biên lai thuế Ở Hy lạp xưa, người ta tiến hành điều tra trên sổ sách ghi chép của các viên chức nhà nước, và người La Mã đối chiếu giữa số tiền bỏ ra với các chứng từ thanh toán" [32, trang 9]

Tuy nhiên, kiểm toán hiểu như một hoạt động chuyên nghiệp chỉ xuất hiện trong khoảng hơn ba trăm năm nay Vào thời kỳ đó, cuộc cách mạng công nghiệp đã

Trang 9

làm gia tăng quy mô của các cơ sở sản xuất mà kết quả là sự tách rời giữa quyền sở hữu và chức năng quản lý Các chủ nhân buộc phải thuê người quản lý cho các cơ sở sản xuất ngày càng lớn của mình Do đó, xuất hiện nhu cầu cần phải có các kiểm toán viên để kiểm tra và phát hiện các gian lận của nhân viên Sang giữa thế kỷ 19, sự xuất hiện các công ty cổ phần tại Anh đã dẫn đến sự hình thành một đội ngũ các nhà quản lý chuyên nghiệp, thay mặt cho cổ đông quản lý những số vốn rất lớn Luật Công ty cổ phần năm 1844 được Quốc Hội Anh thông qua đã xác định trách nhiệm của người quản lý trong việc duy trì hệ thống sổ sách và báo cáo kế toán cũng như trách nhiệm của kiểm toán viên trong việc kiểm tra báo cáo tài chính của công ty [28, trang 105].

Trong giai đoạn này, các hình thức sơ khai của tổ chức nghề nghiệp đã xuất hiện Các hiệp hội kiểm toán viên đã lần lượt thành lập ở Anh vào cuối thế kỷ 19: Edinburgh (1853), Glasgow (1855) và Aberdeen (1867) Năm 1880, các hội này hợp nhất lại và hình thành Hiệp hội kế toán viên công chứng Anh và xứ Wales Xuất phát từ nước Anh, nghề nghiệp kiểm toán theo chân các nhà đầu tư Anh lan rộng ra các nước nói tiếng Anh như Hoa kỳ, Australia, Canada… Tại Australia, Luật công ty đầu tiên được thông qua tại bang Queensland năm 1863 và Hội nghề nghiệp được thành lập vào giữa thập niên 1880 Ở Hoa kỳ và Canada, trong thế kỷ 19 hoạt động kiểm toán cũng rất phát triển nhưng không dựa trên các đạo luật như tại Anh và Australia mà dựa trên sự chấp nhận của xã hội Các hội nghề nghiệp đầu tiên tại Canada và Mỹ hình thành vào những năm

1880

Trang 10

Giai đoạn phát triển

Thế kỷ 20 với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán tại nhiều quốc gia đã thúc đẩy sự phát triển vượt bậc của hoạt động kiểm toán độc lập Nước Anh, cái nôi của hoạt động kiểm toán, tiếp tục điều chỉnh Luật Công ty của mình trong đó vai trò, nghĩa vụ và quyền hạn của kiểm toán viên độc lập ngày càng được làm rõ Đặc biệt là từ năm 1985, trừ một ít trường hợp đặc biệt, tất cả mọi dạng công ty trách nhiệm hữu hạn và cổ phần đều bắt buộc phải được kiểm toán [44, trang 271]

Trong khi đó, Hoa kỳ phát triển hoạt động kiểm toán theo một hướng khá độc lập với nước Anh Cho đến tận đầu thập kỷ 1930, vấn đề lập báo cáo tài chính của các công ty nói chung không được quy định bởi pháp luật [43, trang 105] Năm 1933, Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua Luật Chứng khoán và một năm sau, tiếp tục thông qua Luật Giao dịch chứng khoán, xác định yêu cầu kiểm toán bắt buộc báo cáo tài chính của các công ty cổ phần có phát hành chứng khoán và ở một quy mô nhất định; đồng thời quy định trách nhiệm của kiểm toán viên độc lập trong các cuộc kiểm toán này

Trong thế kỷ 20, hoạt động kiểm toán cũng đã mở rộng và phát triển ở nhiều quốc gia khác trên thế giới với những mức độ khác nhau Tổ chức nghề nghiệp ở các nước này cũng đã hình thành như Nhật (1927), Đức (1931), Pháp (1936)…

Đặc điểm của sự phát triển hoạt động kiểm toán độc lập hiện đại

Sự phát triển vượt bậc của hoạt động kiểm toán độc lập trong thế kỷ 20 được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu Trong đó, có thể ghi nhận một số đặc điểm lớn như sau:

Trang 11

- Thứ nhất, người ta nhận thấy rằng hoạt động kiểm toán độc lập có sự thay đổi sâu sắc về mục đích khi bước sang thế kỷ 20 Nếu vào cuối thế kỷ 19, Dicksee L.R (1892) còn cho rằng kiểm toán để thỏa mãn ba mục tiêu: phát hiện gian lận, phát hiện các sai sót kỹ thuật và phát hiện sai sót trong việc áp dụng các nguyên tắc kế toán thì hai mươi năm sau, Montgomery H.R (1912) đã xác định sự thay đổi trong mục đích của kiểm toán, trong đó mục đích hàng đầu là xác định tình hình tài chính và kết quả hoạt động thực sự của một doanh nghiệp [32, trang 10,12]

- Thứ hai, hoạt động kiểm toán độc lập đã được quốc tế hóa Một nghiên cứu của J Klaassen và J Buisman, cho thấy quá trình này đã được thực hiện thông qua:

+ Sự phối hợp hài hòa các quy trình kiểm toán trên phạm vi toàn thế giới + Việc đào tạo kiểm toán viên mang tính chất quốc tế, kể cả về kế toán và kiểm toán

+ Sự quốc tế hóa các kỹ thuật kiểm toán trợ giúp cho các quy trình kiểm toán

+ Sự hình thành các chuẩn mực quốc tế về kiểm toán [43, trang 442] Từ những đặc điểm trên, có thể rút ra một số nhận xét về sự phát triển của hoạt động kiểm toán độc lập để làm cơ sở cho việc nghiên cứu về bản chất của hoạt động kiểm toán độc lập hiện đại, đó là:

- Quá trình phát triển của hoạt động kiểm toán độc lập cũng là quá trình chuyển đổi từ mối quan hệ chủ nhân - kiểm toán viên - người quản lý doanh nghiệp sang mối quan hệ xã hội - kiểm toán viên - người quản lý doanh nghiệp Bởi vì khi thị trường chứng khoán phát triển mạnh mẽ, kiểm toán độc

Trang 12

lập không còn phục vụ cho chủ nhân cụ thể của từng doanh nghiệp mà phục vụ cho hàng triệu các nhà đầu tư vào các công ty cổ phần Đến khi sự ổn định của thị trường chứng khoán ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế thì vai trò phục vụ xã hội của kiểm toán càng rõ rệt hơn bao giờ hết

- Quá trình trên cũng là quá trình chuyển đổi từ một môi trường kinh tế xã hội tương đối thuần nhất (trong phạm vi một quốc gia, mà chủ yếu là các nước Anglo-Saxon) sang môi trường kinh tế xã hội hết sức đa dạng của thế giới với nhiều mức độ phát triển và đặc điểm văn hóa khác biệt Điều này tất yếu sẽ hình thành sự chênh lệch giữa một bên là mức phát triển cao tại những quốc gia có hoạt động kiểm toán độc lập hàng trăm năm với mức phát triển ban đầu ở nhiều quốc gia mà kiểm toán chỉ được nhắc đến trong vòng một vài thập niên gần đây Chênh lệch này sẽ ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển các chuẩn mực quốc tế mà chúng tôi sẽ đề cập đến ở phần sau Từ những luận điểm trên, có thể nói sự phát triển của hoạt động kiểm toán độc lập là một quá trình tiến hóa, hiểu theo nghĩa phát triển từ thấp đến cao, để thích ứng với một môi trưòng kinh tế chuyển biến nhanh chóng của từng quốc gia cũng như của toàn thế giới trong hơn hai thế kỷ qua

1.1.1.2 Sự cần thiết khách quan của hoạt động kiểm toán độc lập

Trước sự phát triển của kiểm toán độc lập như một hoạt động quan trọng trong nền kinh tế thị trường, các nhà nghiên cứu về kiểm toán đặt câu hỏi và tìm cách lý giải về ý nghĩa thực sự của hoạt động này đối với xã hội Có nhiều quan điểm đứng ở những góc độ khác nhau nên khá tản mạn và trùng lắp Việc hệ thống hóa các quan điểm này đã được tiến hành bởi một số tác giả như Wallace (1980) [32, trang 39] và Campbell (1985) [28,trang 10-21] Các nghiên cứu trên đã tập

Trang 13

hợp khá đầy đủ và toàn diện các vấn đề liên quan đến sự cần thiết khách quan của hoạt động kiểm toán độc lập nhưng còn mang tính liệt kê (Campbell) hoặc thiên về chức năng của kiểm toán độc lập (Wallace)

Theo chúng tôi, để thấy rõ được bản chất của kiểm toán độc lập cần phân tích sự cần thiết của hoạt động này dưới ba góc độ:

- Lợi ích của người sử dụng thông tin - người sử dụng kết quả của kiểm toán

- Lợi ích của người quản lý doanh nghiệp - người chuẩn bị thông tin và là đối tượng của kiểm toán

- Lợi ích chung của xã hội liên quan đến hoạt động kiểm toán

Cách phân tích này sẽ cho thấy về bản chất, kiểm toán độc lập là công cụ phục vụ cho ai trong nền kinh tế

Các luận điểm xét từ phía người sử dụng báo cáo tài chính

Một luận điểm xuất hiện khá sớm và được tham chiếu nhiều là một nghiên cứu của Hội kế toán Hoa kỳ (1973), theo đó kiểm toán xuất phát từ :

- Mâu thuẫn quyền lợi xuất phát từ sự khác biệt về mục đích giữa người sử dụng và người lập báo cáo tài chính, dẫn đến người sử dụng thường nghi ngờ rằng người lập báo cáo tài chính có thể không khách quan

- Tầm quan trọng của thông tin liên quan đến những quyết định mà người sử dụng sẽ đưa ra căn cứ trên báo cáo tài chính Quyết định càng quan trọng, người sử dụng càng đòi hỏi thông tin có độ tin cậy cao

- Sự phức tạp của quá trình hình thành thông tin có nghĩa là khi các hoạt động kinh tế và hệ thống kế toán ngày càng phức tạp, người sử dụng báo cáo tài chính càng khó tự mình xác định tính trung thực của báo cáo tài chính Điều

Trang 14

này dẫn đến nhu cầu cần phải có người đủ trình độ nghiệp vụ kiểm tra và báo cáo với người sử dụng báo cáo tài chính

- Sự hạn chế tiếp cận số liệu của đơn vị (do các giới hạn về mặt pháp lý, khoảng cách địa lý,…) dẫn đến người sử dụng không thể tự kiểm tra trực tiếp thông tin trên báo cáo tài chính

Tất cả những nhân tố trên dẫn đến sự tất yếu cần thiết có sự kiểm tra của một bên thứ ba độc lập và đủ trình độ chuyên môn nghiệp vụ để phục vụ cho người sử dụng báo cáo tài chính [28, trang 13-14]

Arens và Loebbeck (1997) tiếp tục phân tích bốn nhân tố trên và cho rằng chúng là nguyên nhân dẫn đến rủi ro thông tin Kiểm toán là một phương pháp hiệu quả để đối phó với rủi ro thông tin [26, trang 7-10]

Một luận điểm khác cũng xuất phát từ lợi ích người sử dụng thông tin do Mautz (1975), Anderson (1977), Stamp và Moonitz (1978), Shaw (1980) đưa ra, trong đó xác địnhø kiểm toán là phương thức mang đến sự tin cậy cho báo cáo tài chính Luận điểm này dựa trên giả thiết là báo cáo tài chính sẽ hữu ích hơn cho những nhóm người sử dụng khác nhau khi chúng được các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và báo cáo Sự hữu ích tăng thêm này xuất phát từ việc hạn chế bớt rủi ro là báo cáo tài chính có những gian lận trọng yếu [28, trang 10-11]

Có thể thấy rõ các luận điểm trên cùng nhấn mạnh đến vai trò nâng cao chất lượng thông tin của kiểm toán và đã xác định sự cần thiết khách quan của hoạt động kiểm toán đứng từ phía người sử dụng báo cáo tài chính Tuy nhiên, trên thực tế người ta lại không thành công lắm trong việc chứng minh một cách chặt chẽ mối quan hệ giữa báo cáo kiểm toán và các quyết định của người sử dụng bằng các phương pháp thực nghiệm Phụ lục 1 cho thấy một số nghiên cứu thực

Trang 15

nghiệm chứng minh được mối quan hệ giữa báo cáo kiểm toán với một vài nhóm người sử dụng báo cáo tài chính nhất định, nhưng nhiều trường hợp các kết quả còn mâu thuẫn nhau khiến cho khó đưa ra một khẳng định mối quan hệ tất yếu về mặt thực nghiệm

Các luận điểm đứng từ phía người quản lý

Một số nghiên cứu có xu hướng giải thích sự cần thiết khách quan của hoạt động kiểm toán từ lợi ích của chính người quản lý doanh nghiệp dựa trên lý thuyết ủy nhiệm Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory) được áp dụng trong nhiều lĩnh vực quản lý như kế toán quản trị, kiểm soát quản lý… Theo lý thuyết ủy nhiệm, người ủy nhiệm (thí dụ các cổ đông thông qua hội đồng quản trị) thuê người được ủy nhiệm (thí dụ các giám đốc) để thực hiện công việc thay cho mình (thí dụ điều hành hoạt động kinh doanh) Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng cả hai bên sẽ hành động mọät cách duy lý và cố gắng tối đa hóa lợi ích của mình Người được ủy nhiệm sẽ cân đối giữa thu nhập của mình và chi phí của mình (trí tuệ, sự nỗ lực, sức khoẻ ) trong việc hoàn thành các trách nhiệm được giao Vì vậy cần phải hình thành các cơ chế giám sát người được ủy nhiệm và có những khoản khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với người được ủy nhiệm (thí dụ được chia lợi nhuận) [37, 677-678]

Áp dụng lý thuyết ủy nhiệm vào lĩnh vực kiểm toán, Chow và Rice (1982) cho rằng chính người quản lý tự nguyện chấp nhận kiểm toán bởi vì họ cho rằng cuộc kiểm toán sẽ làm tăng độ tin cậy của thông tin, điều này sẽ làm cải thiện vị trí cũng như thu nhập của họ so với trường hợp báo cáo tài chính không được kiểm toán và sự trung thực của báo cáo luôn bị nghi ngờ Lợi ích này theo quan

Trang 16

điểm của các nhà quản lý vượt khỏi chi phí phải bỏ ra để trả cho kiểm toán [28, trang 16]

Một luận điểm khác nhấn mạnh đến lợi ích của người quản lý doanh nghiệp trong việc sử dụng kiểm toán độc lập do Wallace (1980) đưa ra, dựa trên quan điểm kiểm toán là một phương thức bảo hiểm cho người quản lý doanh nghiệp Quan điểm này xuất phát từ tình hình những vụ kiện ngày càng nhiều trong hoạt động của các công ty cổ phần Wallace chỉ ra bốn lý do khiến các nhà quản lý và những người hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực tài chính cần đến kiểm toán như một sự bảo hiểm:

- Chức năng kiểm toán được xã hội chấp nhận rộng rãi nên các nhà quản lý có thể chứng minh rằng mình đã thực hiện một sự thận trọng cần thiết khi sử dụng dịch vụ kiểm toán

- Các kiểm toán viên ngày càng trở nên những "chuyên gia tư vấn pháp lý tại chỗ" và hơn nữa lại cung cấp một sự bảo hiểm hữu hiệu hơn nhiều so với các công ty bảo hiểm (bởi vì trong mối quan hệ với người quản lý trước tòa, công

ty kiểm toán sẽ là một đồng phạm trong khi công ty bảo hiểm chỉ là một bên thứ ba)

- Khi xảy ra những vụ kiện, công ty bảo hiểm sẽ quyết định có thực hiện các hành động bảo vệ về mặt pháp lý (bào chữa, kháng án…) tùy theo cân nhắc giữa chi phí và lợi ích Trong khi đó, kiểm toán viên với người quản lý sẽ có lợi ích chung nên sẽ có những hành động thích hợp để đối phó với những ảnh hưởng của vụ kiện đến uy tín của cả hai bên

- Tòa án xem kiểm toán như một phương cách xã hội hóa rủi ro Bởi vì kiểm toán viên chịu trách nhiệm về những đổ vỡ tài chính của doanh nghiệp nhưng

Trang 17

họ lại chuyển rủi ro này cho khách hàng bằng mức phí cao, do đó cuối cùng sẽ chuyển rủi ro này cho xã hội Nói cách khác, cuối cùng thì xã hội sẽ gánh chịu các rủi ro của các nhà đầu tư [32, trang 40]

Các quan điểm trên đã nói lên sự cần thiết của hoạt động kiểm toán độc lập đứng từ phía lợi ích của chính người quản lý Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là vì sao kiểm toán vẫn cần phải là một yêu cầu bắt buộc trong luật pháp nhiều nước đối với một số loại hình doanh nghiệp, thay vì là sự tự nguyện của người quản lý

Các luận điểm xét từ góc độ lợi ích xã hội

Một số nghiên cứu đã chú ý đến vai trò của kiểm toán dưới góc độ lợi ích xã hội dựa trên lý luận về 'trách nhiệm báo cáo" (Accountability) Theo Shaw (1980) trách nhiệm báo cáo này bao gồm một nghĩa hẹp xét về phương diện pháp lý và một nghĩa rộng xét về phương diện xã hội Theo nghĩa hẹp, trách nhiệm báo cáo phát sinh từ nghĩa vụ của người quản lý đối với người chủ doanh nghiệp, theo đó người quản lý là người thay mặt người chủ để quản lý các tài sản, họ phải thông tin cho người quản lý về việc họ sử dụng tài sản có đúng với yêu cầu của người chủ không Theo nghĩa rộng, trách nhiệm báo cáo của người quản lý không chỉ đối với người chủ mà còn cả trước các bên khác trong xã hội có liên quan [28, trang 11-12]

Từ trách nhiệm báo cáo hiểu theo nghĩa rộng này, kiểm toán hình thành như một nhu cầu giám sát Tricker (1980) phát triển tiếp quan điểm này khi cho rằng kiểm toán là một phần của hệ thống kiểm soát được hình thành trong xã hội hiện đại để kiểm soát hoạt động của các công ty [28, trang 13]

Trang 18

1.1.1.3 Bản chất của hoạt động kiểm toán độc lập

Việc phân tích các luận điểm trên cho thấy nếu chỉ dựa trên góc độ của một phía sẽ không thể giải thích đầy đủ sự cần thiết khách quan của hoạt động kiểm toán độc lập Trong xã hội hiện đại, sự tồn tại và phát triển của hoạt động kiểm toán độc lập gắn với lợi ích của tất cả các bên liên quan Tuy nhiên, để thấy được bản chất của kiểm toán độc lập theo chúng tôi cần nhìn vấn đề dưới quan điểm lịch sử

Nhìn từ góc độ lịch sử, hoạt động kiểm toán độc lập có sự thay đổi lớn về mục đích như đã trình bày trong phần 1.1.1.1 Sự thay đổi này đã ảnh hưởng sâu sắc đến bản chất của hoạt động kiểm toán độc lập hiện đại:

- Trong quá trình phát triển của mình, hoạt động kiểm toán độc lập từng là một phương thức giải quyết mâu thuẫn giữa người quản lý và người chủ trong quá trình phát triển các công ty cổ phần Nó được hình thành tự phát và đáp ứng được lợi ích cho cả hai bên, người quản lý và người chủ - tức người sử dụng thông tin Trong giai đoạn này các luận điểm đứng từ phía người sử dụng thông tin đã giải thích sự cần thiết khách quan của kiểm toán độc lập

- Tuy nhiên, khi thị trường chứng khoán phát triển trở thành một nguồn cung cấp vốn quan trọng của nền kinh tế, lợi ích không còn chỉ là vấn đề giữa hai nhân vật này Sự ổn định của thị trường chứng khoán có ý nghĩa quan trọng, nếu không nói là sống còn của nhiều nền kinh tế Bấy giờ, hoạt động kiểm toán độc lập không chỉ bảo đảm độ tin cậy của thông tin cho người sử dụng, mà còn trở thành một công cụ giám sát của xã hội đối với thông tin và trách nhiệm báo cáo của nhà quản lý Bằng chứng là nhà nước ngày càng quan tâm đến hoạt động kiểm toán độc lập, thí dụ Quốc hội Hoa kỳ bắt buộc phải can thiệp vào hoạt động này khi ban hành Luật chứng khoán 1933 và Luật giao

Trang 19

dịch chứng khoán (1934) sau những thiệt hại to lớn của cuộc khủng hoảng

1929 Các luận điểm đứng trên quan điểm xã hội để giải thích về sự cần thiết của hoạt động kiểm toán đã lý giải được hiện tượng này

- Cũng trong giai đoạn này, những nhà quản lý bắt đầu ý thức được lợi ích mà hoạt động kiểm toán độc lập mang như một phương thức tăng uy tín và cung cấp một dạng bảo hiểm cho công việc quản lý Các luận điểm đứng trên quan điểm người quản lý doanh nghiệp hình thành trên cơ sở đó và có ý nghĩa nhất định trong việc giải thích sự cần thiết của hoạt động kiểm toán Chúng tôi cho rằng chỉ có ý nghĩa nhất định vì như đã trình bày, kiểm toán vẫn là quy định bắt buộc của luật pháp đối với các công ty cổ phần do không phải người quản lý nào cũng ý thức đúng về vai trò của kiểm toán độc lập Một khía cạnh lịch sử cũng cần lưu ý là sự quốc tế hóa hoạt động kiểm toán độc lập cũng ảnh hưởng nhất định đến nhận thức về bản chất kiểm toán Các quốc gia đi sau trong phát triển thị trường chứng khoán cũng như hoạt động kiểm toán độc lập được kế thừa kinh nghiệm về phát triển các lĩnh vực này nên hoạt động kiểm toán độc lập dưới mắt họ mang ý nghĩa một phương thức kiểm soát của xã hội nhiều hơn Điều này được chứng minh bằng thực tiễn hình thành và phát triển hoạt động kiểm toán độc lập tại các nước mới chuyển sang nền kinh tế thị trường sẽ được trình bày sâu hơn ở phần cuối của chương này

Xuất phát từ những phân tích trên, theo chúng tôi cần hiểu bản chất của hoạt động kiểm toán độc lập hiện đại như sau:

Kiểm toán độc lập là một phương thức bảo đảm ở mức độ nhất định độ tin cậy của thông tin và giám sát hoạt động các doanh nghiệp để bảo vệ quyền lợi chung của xã hội và quyền lợi của các bên liên quan trong nền kinh tế thị trường mà thông tin là cơ sở để đưa ra quyết định kinh tế

Trang 20

1.1.2 CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN

1.1.2.1 Sự cần thiết khách quan của chuẩn mực kiểm toán

Chuẩn mực là thước đo được thừa nhận về chất lượng của một công việc Tuy nhiên, cho đến tận những năm 1970 tại nước Anh, nơi phát sinh hoạt động kiểm toán độc lập, người ta vẫn tranh luận về việc có cần ban hành các chuẩn mực kiểm toán hay không [34, trang 118]

Cuộc tranh luận này cuối cùng đã kết thúc với phần thắng thuộc về những người chủ trương ban hành chuẩn mực kiểm toán Có thể chia các luận điểm chứng minh sự cần thiết của chuẩn mực kiểm toán thành hai nhóm chính:

- Một là sự cần thiết khách quan của chuẩn mực bắt nguồn từ bản chất của hoạt động kiểm toán độc lập

- Hai là chuẩn mực kiểm toán xuất phát từ yêu cầu phát triển của chính nghề nghiệp kiểm toán

Việc phân tích dưới hai nhóm luận điểm trên sẽ cho thấy bản chất của các chuẩn mực kiểm toán

Các luận điểm dựa trên bản chất của hoạt động kiểm toán độc lập

Như đã trình bày ở phần trên, bản chất của kiểm toán độc lập là một phương thức bảo vệ quyền lợi chung của xã hội và quyền lợi các các bên thông qua việc giám sát và nâng cao độ tin cậy của thông tin Vì vậy, các chuẩn mực kiểm toán là điều kiện cần thiết để:

(i) Đạt được sự tin tưởng của xã hội vào ý kiến kiểm toán

Flint (1980) cho rằng các chuẩn mực kiểm toán là hết sức quan trọng để người sử dụng báo cáo tài chính tin tưởng vào ý kiến của kiểm toán viên Điều này

Trang 21

xuất phát từ trách nhiệm mà xã hội giao cho kiểm toán viên là giám sát việc báo cáo của công ty Và do đó, chức năng này sẽ mất đi nếu chất lượng kiểm toán không đạt được mức tiêu chuẩn mà xã hội yêu cầu [28, trang 23]

Campbell (1985) đã phân tích bản nghiên cứu của Hội kế toán Hoa kỳ (1973) để chứng minh sự cần thiết của các chuẩn mực kiểm toán cụ thể:

- Sự mâu thuẫn quyền lợi giữa người sử dụng thông tin và người cung cấp thông tin là cơ sở dẫn đến các chuẩn mực liên quan đến sự độc lập của kiểm toán viên để có thể bảo đảm các thông tin đã được kiểm toán là khách quan

- Tầm quan trọng của thông tin đối với người sử dụng là cơ sở để hình thành các chuẩn mực về tính thận trọng nghề nghiệp của kiểm toán viên cũng như những chuẩn mực cụ thể khác (thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp, lập kế hoạch chu đáo…)

- Tính phức tạp của thông tin và các quá trình xử lý kế toán là cơ sở của các chuẩn mực về trình độ nghiệp vụ và kinh nghiệm của kiểm toán viên

- Sự hạn chế tiếp cận số liệu của đơn vị dẫn đến yêu cầu kiểm toán viên phải có thể tiếp cận với các tài liệu, số liệu và hoạt động của đơn vị

Kết hợp bốn nguyên nhân trên dẫn đến các chuẩn mực kiểm toán về báo cáo [28, trang 23-24]

(ii) Người sử dụng thông tin hiểu về công việc kiểm toán

Gough (1978) khi tranh luận về sự cần thiết của chuẩn mực kiểm toán tại Anh, cho rằng "…dù rằng kiểm toán viên hiểu về công việc của mình, nhưng những người sử dụng công việc của họ thì không hiểu được." [34, trang 118] Tạp chí Accountant's Magazine (1980) cho rằng các chuẩn mực là cần thiết để giảm bớt

Trang 22

sự huyền bí bao quanh công việc kiểm toán và giúp người sử dụng hiểu được ý nghĩa của báo cáo kiểm toán [28, trang 26]

(iii) Xem xét trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên

Khi tòa án xem xét trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên trong những vụ kiện, họ thường dựa trên các chuẩn mực kiểm toán để làm cơ sở phán xét Đoạn giới thiệu của Chuẩn mực kiểm toán Anh nêu rõ:

"Các thành viên được khuyến cáo rằng toà án, khi xem xét công việc của một kiểm toán viên có đạt yêu cầu không, sẽ lưu tâm đến mọi thông báo hay ấn phẩm mà họ cho rằng thể hiện một thông lệ tốt Các chuẩn mực và hướng dẫn kiểm toán được xem là cơ sở đó." [24, trang 480]

Các luận điểm xuất phát từ yêu cầu phát triển nghề nghiệp kiểm toán

Chuẩn mực kiểm toán ra đời và phát triển còn xuất phát từ tự thân sự phát triển của nghề nghiệp kiểm toán Đứng dưới góc độ này, các nhà lý luận đã đưa ra các luận điểm sau:

(i) Chuẩn mực kiểm toán là cơ sở lý luận của hoạt động kiểm toán

Trong tác phẩm Triết lý kiểm toán (1961), Mautz và Sharaft đã đưa ra một mô hình tri thức kiểm toán Nền tảng của mô hình này là các triết lý cơ bản về kiểm toán, từ đó có thể rút ra những "tiên đề" kiểm toán, nghĩa là các giả thiết cơ bản nhất, thí dụ báo cáo tài chính thì có thể kiểm tra được Trên cơ sở các tiên đề này, Mautz và Shaft đưa ra các "khái niệm" kiểm toán, thí dụ độc lập, khách quan, đảm bảo trình độ nghiệp vụ… Những "khái niệm" này dẫn đến các "quy tắc" người kiểm toán viên phải tuân theo để thực hiện các khái niệm nói trên Cuối cùng, các "quy tắc" này sẽ được vận dụng vào từng tình huống cụ thể Mô

Trang 23

hình này cho thấy vai trò quan trọng của các khái niệm và quy tắc cơ bản - ngày nay được hiểu như các chuẩn mực kiểm toán - trong việc phát triển một hệ thống lý thuyết kiểm toán [28, trang 22-23]

(ii) Chuẩn mực kiểm toán cần thiết để chính các kiểm toán viên nâng cao chất lượng công việc

Campbell (1985) cho rằng mặc dù từng cá nhân kiểm toán viên chịu trách nhiệm cuối cùng về tiêu chuẩn công việc của mình, một hệ thống chuẩn mực nghề nghiệp được ban hành sẽ giúp cho cá nhân kiểm toán viên đánh giá được công việc của mình, hiểu được khuôn khổ mình phải tiến hành công việc theo yêu cầu của nghề nghiệp Thông qua sự thay đổi của chuẩn mực, các kiểm toán viên cũng ý thức được sự thay đổi yêu cầu của xã hội đối với nghề kiểm toán [28, trang 26-27]

(iii) Chuẩn mực kiểm toán là một nhân tố quan trọng trong việc thu hẹp các khoảng cách giữa mong đợi của ngưòi sử dụng và dịch vụ thực tế mà kiểm toán viên cung cấp

Khoảng cách giữa mong đợi của người sử dụng và dịch vụ thực tế mà kiểm toán viên cung cấp đã được đề cập từ những năm cuối thập kỷ 1930 sau vụ kiện liên quan đến Công ty McKesson & Robins (Hoa kỳ) Một nghiên cứu về vấn đề này đã phân tích khoảng cách này thành những hai phần:

- Sự kỳ vọng không hợp lý là khoảng cách giữa mong đợi của người sử dụng với những kết quả tốt nhất mà kiểm toán viên có thể mang lại (được gọi là các chuẩn mực hợp lý) Khoảng cách này xuất phát từ việc người sử dụng đặt quá nhiều kỳ vọng vào dịch vụ mà kiểm toán viên có thể mang lại

Trang 24

- Công việc chưa hoàn hảo là khoảng cách giữa những các chuẩn mực hợp lý với dịch vụ mà kiểm toán viên cung cấp trong thực tế Khoảng cách này lại có thể chia thành hai bộ phận:

+ Khoảng cách giữa các chuẩn mực hợp lý và các chuẩn mực hiện hành

do các chuẩn mực hiện hành vẫn chưa đưa ra được một mức chất lượng tốt nhất

+ Khoảng cách giữa các chuẩn mực hiện hành và dịch vụ thực tế mà kiểm toán viên cung cấp do các kiểm toán viên chưa hoàn thành trách nhiệm của mình trong việc thực hiện các chuẩn mực hiện hành [34, trang 131]

Việc thu hẹp khoảng cách là trách nhiệm của nghề nghiệp kiểm toán Trong những năm qua, nhiều nỗ lực đã tiến hành trên cả hai bộ phận của khoảng cách nói trên :

- Đối với khoảng cách không hợp lý do sự kỳ vọng của người sử dụng, các nghiên cứu về phía người sử dụng đã tiết lộ nhiều mong đợi vượt ngoài khả năng của kiểm toán viên [34, trang 131] Để thu hẹp khoảng cách này, các tổ chức nghề nghiệp đã đưa vào chuẩn mực nhiều nội dung giải thích rõ về mục đích của kiểm toán, những giới hạn tiềm tàng của kiểm toán cũng như sự phân định rõ trách nhiệm của người quản lý và trách nhiệm của kiểm toán viên đối với báo cáo tài chính Nội dung của báo cáo kiểm toán cũng được điều chỉnh để chỉ rõ phạm vi của một cuộc kiểm toán

- Đối với khoảng cách do công việc kiểm toán chưa hoàn hảo, các nghiên cứu nhấn mạnh đến việc phải nâng cao chất lượng công việc kiểm toán: Ngoài việc giám sát chất lượng đối với từng cuộc kiểm toán, một vấn đề quan trọng

Trang 25

là mở rộng hơn nữa phạm vi công việc kiểm toán để đáp ứng mong đợi của người sử dụng Để làm được điều này, các tổ chức nghề nghiệp cần nâng cấp các chuẩn mực hiện hành để vươn tới các chuẩn mực hợp lý

Trong những năm của thập niên 1980, các nỗ lực của tổ chức nghề nghiệp tập trung nhiều vào việc thu hẹp khoảng cách bất hợp lý liên quan đến sự kỳ vọng của xã hội Tuy nhiên, trong những năm gần đây, xu hướng chú ý vào khoảng cách do công việc chưa hoàn hảo tăng lên, thí dụ ban hành các chuẩn mực về trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận

1.1.2.2 Bản chất của chuẩn mực kiểm toán

Các quan điểm khác nhau liên quan đến ý nghĩa và sự cần thiết khách quan của chuẩn mực kiểm toán đã giúp một cái nhìn sâu sắc hơn về bản chất của các chuẩn mực kiểm toán Chuẩn mực kiểm toán là sự tiêu chuẩn hóa và khái quát hóa các quy trình kiểm toán để đáp ứng các yêu cầu của người sử dụng, của xã

hội và của chính bản thân nghề nghiệp kiểm toán

Tiêu chuẩn hóa trong trường hợp này, là quá trình đưa hoạt động kiểm toán vào

những nguyên tắc thống nhất được sự thừa nhận rộng rãi Xuất phát từ thực tiễn công tác kiểm toán, các kiểm toán viên hình thành các phương thức tiếp cận của riêng mình để làm cơ sở thiết kế các thủ tục kiểm toán cho mỗi trường hợp cụ thể Các công ty kiểm toán sẽ tập hợp các phương thức tiếp cận của các kiểm toán viên để hình thành một quy trình kiểm toán chuẩn cho công ty, làm cơ sở cho việc nâng cao chất lượng kiểm toán của công ty và đào tạo kiểm toán viên Các quy trình chuẩn này là căn cứ quan trọng để các tổ chức nghề nghiệp xây dựng và ban hành các chuẩn mực kiểm toán quốc gia, nhằm nâng cao hơn nữa

Trang 26

chất lượng công việc kiểm toán, đáp ứng lòng tin của người sử dụng và xã hội đối với công việc kiểm toán

Quá trình tiêu chuẩn hóa bao gồm cả quá trình tác động ngược lại khi các chuẩn mực kiểm toán được hình thành Khi một công ty kiểm toán xây dựng được quy trình chuẩn của mình, các kiểm toán viên có trách nhiệm điều chỉnh phương thức tiếp cận của mình phù hợp với những quy định trong quy trình chuẩn của công ty Các chuẩn mực kiểm toán quốc gia khi hình thành cũng tác động ngược lại quy trình kiểm toán chuẩn của các công ty kiểm toán theo hướng tương tự

Khái quát hóa trong trường hợp này, là quá trình nâng cao về mặt lý luận các thủ

tục, quy trình kiểm toán mang tính chất cụ thể Các hình thức sơ khai của chuẩn mực kiểm toán là các Thông báo về thủ tục kiểm toán, thí dụ Thông báo về thủ tục kiểm toán từ năm 1939 đến năm 1972 của Hiệp hội kế toán viên công chứng

Hoa kỳ Sự phát triển của việc nghiên cứu về hoạt động kiểm toán đã dẫn đến

việc nâng cao các thủ tục có tính chất thông lệ này thành các chuẩn mực

Quá trình khái quát hóa còn là quá trình thay đổi về bản chất của thủ tục: các chuẩn mực kiểm toán không còn đi vào cụ thể công việc phải làm mà nhấn mạnh đến chất lượng và mục đích phải đạt được Trong phần mở đầu của Các chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận phổ biến, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa kỳ khẳng định:

"Chuẩn mực kiểm toán khác với các thủ tục kiểm toán ở chỗ các thủ tục liên quan đến hoạt động được thực hiện, trong khi chuẩn mực liên quan đến thước đo chất lượng của việc hoàn thành các hoạt động đó và các mục đích phải đạt được khi sử dụng các thủ tục đó…" [25, trang 81]

Trang 27

1.1.2.3 Hệ thống chuẩn mực kiểm toán

Hệ thống chuẩn mực kiểm toán, hiểu theo một nghĩa rộng, bao gồm hai phần:

- Phần cơ chế bao gồm các quy định pháp luật liên quan, tổ chức lập quy có thẩm quyền cũng như quy trình soạn thảo và ban hành chuẩn mực

- Phần nội dung là chính bản thân các chuẩn mực và các hướng dẫn hoặc giải thích đi kèm

Nghiên cứu về hệ thống chuẩn mực kiểm toán, theo chúng tôi cần quan tâm đến cả hai phần này để có thể nhận dạng các đặc điểm của các hệ thống chuẩn mực kiểm toán

Cơ chế của hệ thống chuẩn mực kiểm toán

- Các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập có thể nằm trong các đạo luật chung (Luật thương mại, Luật Chứng khoán…) hoặc nằm trong một đạo luật riêng về kế toán hoặc kiểm toán

- Tổ chức lập quy có thẩm quyền là tổ chức soạn thảo và ban hành các chuẩn mực kiểm toán được xã hội thừa nhận Tổ chức này có thể là một hay nhiều tổ chức nghề nghiệp, một cơ quan nhà nước hoặc một ủy ban độc lập Mỗi dạng tổ chức lập quy khác nhau sẽ dẫn đến đối tượng và phạm vi chi phối cũng như tính chất cưỡng chế của các chuẩn mực sẽ khác nhau

- Quy trình ban hành chuẩn mực là các bước chuẩn bị, soạn thảo, lấy ý kiến và phát hành chuẩn mực

Các nội dung nói trên phụ thuộc nhiều vào đặc điểm môi trường kinh doanh, pháp lý và văn hóa của các quốc gia

Trang 28

Nội dung hệ thống chuẩn mực kiểm toán

Phần nội dung của hệ thống chuẩn mực kiểm toán chính là các chuẩn mực kiểm toán được ban hành Hiểu theo nghĩa hẹp, chuẩn mực kiểm toán được đề cập đến như các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công việc kiểm toán [28, trang 21], các chuẩn mực được thiết lập để cung cấp độ tin cậy về tính độc lập, khách quan và các kỹ năng nghề nghiệp của kiểm toán viên [44, trang 26]

Tuy nhiên, trong thực tế, chuẩn mực kiểm toán thường được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm tất cả các quy định mang tính nguyên tắc, các quy định mang tính chất giải thích và các hướng dẫn mang tính chất tham khảo Tùy theo khả năng và quan điểm của các tổ chức lập quy mà chuẩn mực có thể được xếp thành các bộ phận khác nhau và có mức độ chi tiết khác nhau

Các chuẩn mực kiểm toán cụ thể của một hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc gia phụ thuộc vào yêu cầu của xã hội và khả năng đáp ứng của nghề nghiệp Một nhân tố khác cũng hết sức quan trọng là ảnh hưởng của sự hòa hợp quốc tế về kiểm toán, trong đó có vai trò của chuẩn mực kiểm toán quốc tế

1.1.2.4 Quan hệ giữa chuẩn mực kiểm toán và hệ thống kế toán

Hoạt động kiểm toán độc lập có mối quan hệ chặt chẽ với hệ thống kế toán đang chi phối việc lập và trình bày báo cáo tài chính Quan hệ này thể hiện chủ yếu qua những điểm sau:

- Hệ thống kế toán quy định những tiêu chuẩn của báo cáo tài chính và từ đó chi phối mục tiêu của kiểm toán Thí dụ, khi hệ thống kế toán xác định tiêu chuẩn của báo cáo tài chính là trình bày trung thực và hợp lý thì mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính được xác định là diễn đạt ý kiến về sự trung thực và hợp lý của các báo cáo tài chính

Trang 29

- Hệ thống kế toán quy định phương pháp ghi nhận, xử lý các nghiệp vụ cụ thể

do đó sẽ ảnh hưởng đến những thủ tục kiểm toán mà kiểm toán viên cần thực hiện

- Ngược lại, quá trình phát triển của hoạt động kiểm toán độc lập cũng ảnh hưởng lớn đến hệ thống kế toán nhiều quốc gia Thí dụ trong lịch sử phát triển của hệ thống kế toán Hoa kỳ, người ta ghi nhận có hơn 30 năm (1939-1973) công tác lập quy về kế toán chịu sự chi phối của Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa kỳ [31, trang 150]

Mối quan hệ vừa nêu đã dẫn đến ảnh hưởng sâu đậm của hệ thống kế toán đến hệ thống chuẩn mực kiểm toán của các quốc gia, bao gồm nội dung của nhiều chuẩn mực kiểm toán cụ thể như : mục tiêu và phạm vi kiểm toán, kiểm toán năm đầu tiên và số dư đầu kỳ, xem xét giả thiết doanh nghiệp đang hoạt động, xem xét các sự kiện sau ngày kết thúc niên độ…

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng có một bộ phận không nhỏ các chuẩn mực kiểm toán phát triển tương đối độc lập với hệ thống kế toán, thí dụ các chuẩn mực liên quan đến trách nhiệm của kiểm toán viên, đến việc lập kế hoạch kiểm toán, xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ hay sử dụng công việc của người khác…Điều này xuất phát từ hai lý do:

- Một là sự khác biệt giữa công việc kiểm toán và công việc kế toán Để đưa

ra ý kiến về sự trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính, kiểm toán viên không làm lại công tác kế toán mà có những kỹ thuật và quy trình riêng của mình Các chuẩn mực kiểm toán liên quan đến khía cạnh này phát triển gần như hoàn toàn độc lập với hệ thống kế toán

Trang 30

- Hai là sự khái quát hóa của chuẩn mực kiểm toán Như đã trình bày trong phần bản chất của chuẩn mực kiểm toán, các chuẩn mực kiểm toán là sự khái quát hóa của các thủ tục kiểm toán trong đó người ta không đi vào các thủ tục cụ thể mà đề cập đến mục đích và chất lượng của các thủ tục Chính vì vậy, trong nhiều trường hợp những thay đổi cụ thể trong hệ thống kế toán ít ảnh hưởng đến các chuẩn mực kiểm toán Một bằng chứng cho sự độc lập tương đối này là "sự phát triển tương đối đều đặn và ổn định của các chuẩn mực kiểm toán đối lập với những biến động và xáo trộn trong sự phát triển của các chuẩn mực kế toán" [31, trang 150]

Mối quan hệ vừa phụ thuộc vừa độc lập tương đối giữa chuẩn mực kiểm toán với hệ thống kế toán cho thấy việc xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc gia cần đặt trong một hệ thống kế toán phù hợp, nhưng trong chừng mực vẫn có những lĩnh vực phát triển độc lập

1.2 THỰC TIỄN XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KIỂM

TOÁN TẠI CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

Những hình thức sơ khai của chuẩn mực là những ấn phẩm nghiên cứu có tính chất tham khảo của tổ chức nghề nghiệp Thí dụ, từ năm 1917, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa kỳ theo yêu cầu của Hội đồng Thương mại Liên bang Hoa kỳ đã soạn thảo "Bản ghi nhớ về kiểm toán bảng cân đối kế toán", sau đó được bổ sung, chỉnh lý nhiều lần trong các năm 1918, 1929 và 1936 Từ năm 1939, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa kỳ ban hành các Thông báo về thủ tục kiểm toán, tiền thân của chuẩn mực kiểm toán sau này để hướng dẫn các kiểm toán viên trong việc thực hiện các xét đoán của mình trong quá trình áp dụng các thủ tục kiểm toán Những hình thức tương tự được hình thành tại Anh

Trang 31

(English Institute's "U" series) từ năm 1961, tại Scotland (Scosttish Institute's

"Series 3") từ năm 1971

Những chuẩn mực chính thức đầu tiên ra đời từ năm 1948 (Hoa kỳ), 1950 (Nhật),

1951 (Australia), 1964 (Đức), 1971 (Pháp), 1980 (Anh)… Hệ thống chuẩn mực kiểm toán của mỗi quốc gia có nhiều khác biệt về nội dung, kết cấu, tổ chức lập quy, quá trình xây dựng và tính chất cưỡng chế Những khác biệt này xuất phát từ các đặc điểm và yêu cầu riêng của mỗi quốc gia về mặt kinh doanh, pháp lý và nghề nghiệp

1.2.1 THỰC TIỄN XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KIỂM

TOÁN QUỐC GIA TẠI CÁC NƯỚC CÓ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG PHÁT TRIỂN

1.2.1.1 Các mô hình xây dựng chuẩn mực kiểm toán quốc gia tại các

nước có nền kinh tế thị trường phát triển

Mỗi quốc gia có một cơ chế khác nhau để xây dựng chuẩn mực kiểm toán quốc gia, bao gồm việc phối hợp giữa các quy định pháp lý, tổ chức lập quy và quy trình ban hành chuẩn mực Quá trình phát triển chuẩn mực kiểm toán ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển theo chúng tôi có một số mô hình chủ yếu như sau:

Mô hình tự kiểm soát Đặc điểm của mô hình này là quá trình thiết lập chuẩn

mực hoàn toàn do tổ chức nghề nghiệp đảm nhận, không có sự tham gia của các bên khác trong xã hội cũng như sự hậu thuẫn của một đạo luật nào Sự cưỡng chế tuân thủ chuẩn mực được mang lại bằng sự thừa nhận rộng rãi của xã hội

Trang 32

Điển hình cho mô hình này là Hoa kỳ Hoạt động kiểm toán độc lập tại Hoa kỳ chịu sự chi phối chủ yếu của Luật chứng khoán 1933 và Luật giao dịch chứng khoán 1934, mà cơ quan nhà nước có chức năng quản lý là Ủy ban giao dịch chứng khoán (SEC) Theo đó, các công ty cổ phần có niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc có quy mô nhất định phải phát hành báo cáo tài chính có kiểm toán

Tổ chức ban hành các chuẩn mực kiểm toán tại Hoa kỳ là Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa kỳ (AICPA) thành lập từ năm 1887 Đây là một tổ chức tự nguyện, các kế toán viên công chứng hành nghề tại Hoa kỳ không bắt buộc là thành viên của AICPA Mặc dù vậy, các chuẩn mực kiểm toán do AICPA chi phối được các kiểm toán viên hành nghề tại Hoa kỳ vì các chuẩn mực này thường được các tòa án dùng để xem xét mức độ hoàn thành công việc của kiểm toán viên [28, trang 27]

Mô hình ủy ban độc lập là một dạng điều chỉnh của mô hình tự kiểm soát

Trong mô hình này tổ chức nghề nghiệp vẫn giữ vai trò chủ yếu trong việc hình thành chuẩn mực, nhưng sự hình thành một ủy ban độc lập có thêm những thành phần khác trong xã hội (các đối tượng sử dụng thông tin, các cơ quan nhà nước, các nhà nghiên cứu…) nhằm tăng cường sự thừa nhận của xã hội Sự cưỡng chế tuân thủ chuẩn mực của mô hình này cũng được mang lại bằng sự thừa nhận rộng rãi của xã hội

Điển hình cho mô hình này là Hội đồng thực hành kiểm toán (APB) của nước Anh Việc soạn thảo và ban hành chuẩn mực kiểm toán do APB thực hiện APB được thành lập năm 1991 là một cơ cấu tương đối độc lập với các tổ chức nghề

Trang 33

nghiệp, bao gồm một nửa thành viên là các kiểm toán viên, một nửa còn lại là từ các doanh nghiệp, trường học và viện nghiên cứu, các cơ quan nhà nước… APB được tài trợ bởi Ủy ban tư vấn của các tổ chức kế toán (viết tắt CCAB) Ủy ban tư vấn của các tổ chức kế toán được thành lập năm 1970 do sáu tổ chức nghề nghiệp hoạt động trong Vương quốc Anh, bao gồm Hiệp hội kế toán viên công chứng England và Wales (ICAEW), Hiệp hội kế toán viên công chứng Scotland (ICAS), Hiệp hội kế toán viên công chứng Ireland (ICAI), Hiệp hội kế toán viên công chứng (ACCA), Hiệp hội kế toán viên quản trị (CIMA) và Hiệp hội chuyên viên kế toán và tài chính công (CIPFA) Các chuẩn mực của APB ban hành mặc dù không có tính pháp lý nhưng do được thùa nhận rộng rãi nên chúng cũng là cơ sở để tòa án xem xét về trách nhiệm của kiểm toán viên [24, trang 480]

Mô hình tổ chức nghề nghiệp do luật định Đặc điểm của mô hình này là việc

thiết lập các chuẩn mực được giao cho tổ chức nghề nghiệp thành lập theo luật định Các tổ chức nghề nghiệp hình thành trên cơ sở tự nguyện có vai trò thấp hơn hoặc không có vai trò trong việc thiết lập chuẩn mực Các chuẩn mực kiểm toán tại các quốc gia này có tính chất cưỡng chế vì mọi cá nhân hành nghề đều buộc phải là thành viên của tổ chức nghề nghiệp theo luật định

Đại diện cho mô hình này là Đức Hoạt động kiểm toán độc lập tại Đức chịu sự chi phối của nhiều đạo luật: ngoài các đạo luật chung như Luật công ty cổ phần

1965 quy định đối tượng kiểm toán bắt buộc là các công ty cổ phần có quy mô trung bình trở lên, còn là Luật quy định về nghề nghiệp kiểm toán 1961, quy định về tổ chức nghề nghiệp kiểm toán tại Đức và các tiêu chuẩn của kiểm toán viên

Trang 34

Tại Đức tồn tại song song hai tổ chức nghề nghiệp, cả hai đều đưa ra chuẩn mực kiểm toán với tính chất khác nhau

- Tổ chức giữ vai trò lập quy theo pháp luật là Đoàn kiểm toán viên (WPK) WPK được thành lập năm 1961 theo Luật quy định về nghề nghiệp kiểm toán (WPO) với tư cách là một hội đoàn liên bang dưới sự bảo trợ của Bộ kinh tế liên bang WPK có thành viên là các Wirtchaftsprüfer (viết tắt WP) và các vereidigte Buchprüfer (viết tắt vB)

WP và vB là hai cấp kiểm toán viên, trong đó vB là cấp thấp hơn, muốn trở thành WP phải thỏa mãn một số điều kiện khá khắt khe Chỉ các WP mới được kiểm toán cho các công ty cổ phần quy mô lớn Tất cả các WP và vB bắt buộc phải là thành viên của WPK theo WPO Theo WPO 1961 (điều 57), WPK có trách nhiệm "quy định các nguyên tắc chung liên quan đến các vấn đề thuộc về hoạt động nghề nghiệp của các WP"

- Hiệp hội kế toán viên công chứng Đức (IdW) là tổ chức tư nhân tự nguyện được thành lập từ năm 1931, vai trò chủ yếu là đưa ra các hướng dẫn và tham gia ý kiến trong các quá trình đưa ra quy định

Mô hình nhà nước-hội đồng tư vấn Trong mô hình này, nhà nước là người ban

hành chuẩn mực với sự trợ giúp của một Hội đồng tư vấn Do được nhà nước ban hành nên tính cưỡng chế của chuẩn mực là đương nhiên Tuy nhiên, sự có mặt của hội đồng tư vấn làm cho quá trình hình thành chuẩn mực mềm dẻo hơn và tăng cường tính chất được chấp nhận rộng rãi (bên cạnh việc phải chấp nhận theo yêu cầu luật định)

Một thí dụ cho mô hình này là Nhật Hoạt động kiểm toán độc lập tại Nhật bị chi phối chủ yếu bởi Luật Chứng khoán và Giao dịch chứng khoán Luật này yêu

Trang 35

cầu kiểm toán độc lập phải được thực hiện với các công ty cổ phần Bên cạnh đó là Luật kế toán viên công chứng quy định về tiêu chuẩn của của kiểm toán viên Chức năng ban hành các chuẩn mực kế toán và kiểm toán thuộc về Bộ tài chính,

do Hội đồng nghị sự kế toán doanh nghiệp (viết tắt BADC) là tư vấn BADC gồm 40 thành viên được bổ nhiệm, bao gồm đại diện của các trường đại học, Hiệp hội kế toán viên công chứng Nhật, các doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính Các chuẩn mực do BADC soạn thảo sẽ do Bộ tài chính phê chuẩn và ban hành, mang tính chất bắt buộc đối với mọi kiểm toán viên và công ty kiểm toán

Tổ chức nghề nghiệp tại Nhật là Hiệp hội kế toán viên công chứng Nhật (JICPA) được thành lập năm 1949 theo Luật Kế toán viên công chứng 1948 JICPA có quy mô nhỏ vào khoảng 11.000 thành viên và không có chức năng lập quy JICPA chỉ phát hành các hướng dẫn về thực hành kiểm toán

1.2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành các mô hình xây

dựng chuẩn mực kiểm toán quốc gia

Sự hình thành các mô hình trên phản ảnh đặc điểm của các quốc gia trong việc tìm kiếm một phương thức thích hợp cho việc thiết lập hệ thống chuẩn mực kiểm toán của quốc gia mình Theo chúng tôi có những nhân tố sau ảnh hưởng đến sự hình thành mô hình thiết lập hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc gia:

Sự phát triển của hoạt động kiểm toán độc lập

Các mô hình tự kiểm soát và ủy ban độc lập chủ yếu phát triển tại các quốc gia Anglo-Saxon Thí dụ Canada có mô hình tự kiểm soát tương tự Hoa kỳ, còn Australia sử dụng mô hình ủy ban độc lập giống nước Anh Các quốc gia Anglo-

Trang 36

Saxon có hoạt động kiểm toán độc lập phát triển mạnh và từ rất sớm xuất phát từ một nền kinh tế dựa trên sự tài trợ của thị trường chứng khoán Điều này thể hiện qua quy mô của thị trường chứng khoán tại các quốc gia này và vị trí của nó trong nền kinh tế (Phụ lục 2)

Sự ra đời sớm và phát triển mạnh của hoạt động kiểm toán độc lập dẫn đến sự hình thành các tổ chức nghề nghiệp hùng mạnh và có bề dày lịch sử làm gia tăng đáng kể tiếng nói của các tổ chức nghề nghiệp này trong việc ban hành chuẩn mực

Ngược lại, mô hình tổ chức nghề nghiệp theo luật định và mô hình nhà nước-hội đồng tư vấn thường đi liền với các quốc gia không phải Anglo-Saxon như Đức, Pháp, Nhật… Các quốc gia này có nguồn tài trợ chủ yếu cho các doanh nghiệp không phải từ thị trường chứng khoán đúng nghĩa:

- Nguồn cung cấp tài chính chủ yếu cho các doanh nghiệp Đức là Ngân hàng Các ngân hàng Đức cung cấp vốn cho các doanh nghiệp không chỉ bằng con đường tín dụng mà còn thông qua việc mua cổ phần của doanh nghiệp Kết quả của điều này là trong ban kiểm soát của các công ty cổ phần lớn của Đức thường có ít nhất đại diện của một ngân hàng Mặt khác, thị trường vốn của Đức không phát triển mạnh tương xứng với nền kinh tế của nước này, tổng vốn của Thị trường chứng khoán Đức năm

1993 chỉ chiếm 27% GDP ( so với 61% ở Hoa kỳ, 62% ở Nhật và 143% ở Anh) [35, trang 488] Năm 1998, số liệu này có tăng lên nhưng vẫn còn kém xa so với các quốc gia Anglo-Saxon (Phụ lục 2)

- Việc phát triển các công ty cổ phần công cộng của Pháp mới diễn ra mạnh mẽ trong những năm gần đây Trước đây các doanh nghiệp Pháp chủ yếu là các doanh nghiệp được kiểm soát chặt chẽ bởi các chủ sở hữu,

Trang 37

thường là trong phạm vi gia đình Sau Thế chiến thứ hai, chính phủ Pháp nhận thấy sự cần thiết của các doanh nghiệp có quy mô lớn nên tiến hành công hữu hóa và đầu tư trực tiếp mạnh mẽ Cho đến những năm 1986-

1987 một trào lưu ngược lại đã diễn ra và quá trình tư hữu hóa được đẩy mạnh, hình thành mọät số các doanh nghiệp có cổ phần rất lớn như Banque National de Paris, Elf-Aquitaine, Rhône-Poulenc…Tuy nhiên, thị trường chứng khoán của Pháp còn khá nhỏ, chỉ tương đương với nước Đức (Phụ lục 2)

- Các công ty Nhật thường dựa nhiều vào nợ hơn là vốn chủ sở hữu và Ngân hàng là nguồn cung cấp chủ yếu [43, trang 293] Đặc điểm của việc sử dụng vốn ngân hàng tại Nhật là quan hệ chặt chẽ giữa công ty và một ngân hàng chủ yếu chứ không sử dụng đồng thời nhiều ngân hàng như các công ty Anh hoặc Hoa kỳ [45, trang 555] Thị trường chứng khoán Tokyo (TSE) là thị trường chứng khoán đứng thứ hai trên thế giới năm 1996 tính theo tổng giá trị thị trường [45, trang 554] nhưng là một thị trường chứng khoán có mức lưu chuyển khá thấp (năm 1993, tỷ lệ giá trị chứng khoán lưu chuyển trên tổng giá chứng khoán trên thị trường của TSE là 21%, trong khi chỉ tiêu đó của Thị trường chứng khoán Luân Đôn, Paris và New York lần lượt là 60%, 56% và 45%) Điều này xuất phát từ mục đích giữ chứng khoán của các nhà đầu tư Nhật hướng về mục tiêu dài hạn hơn là để mang lại thu nhập tài chính Sapsford (1994) đã ước tính rằng "khoảng 60% -70% cổ phần tại Nhật nằm trong tay các nhà đầu tư dài hạn với mục tiêu chiến lược" [35, trang 558] Như vậy, các nhà cung cấp tài chính cho các công ty chủ yếu là ngân hàng và các nhà đầu tư dài hạn

Trang 38

Bởi vì người sử dụng thông tin tài chính là Ngân hàng, nhà nước hay các nhà đầu

tư dài hạn là những người có nhiều khả năng kiểm soát được báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, nên yêu cầu phát triển kiểm toán độc lập không xuất phát từ phía những người sử dụng khác (như các cổ đông bình thường) mà lại gắn với yêu cầu về mặt quản lý xã hội nhiều hơn Thị trường chứng khoán phát triển kém hơn cũng dẫn đến sự phát triển chậm và yếu hơn của hoạt động kiểm toán độc lập, tương ứng với một vai trò hạn chế của tổ chức nghề nghiệp Chuẩn mực kiểm toán do đó chịu sự chi phối của nhà nước lớn hơn là của tổ chức nghề nghiệp

Sự phát triển của tổ chức nghề nghiệp

Các tổ chức nghề nghiệp phát triển mạnh làm tăng tiếng nói của họ trong việc hình thành các chuẩn mực kiểm toán quốc gia Hoa kỳ, Anh và Australia đều là các quốc gia có tổ chức nghề nghiệp ra đời sớm và hết sức phát triển, ngược lại với Đức, Pháp và Nhật (Phụ lục 3) Sự phát triển của tổ chức nghề nghiệp xuất phát từ nhiều nhân tố:

- Sự phát triển của chính hoạt động kiểm toán độc lập

- Đặc điểm của nền văn hóa Một số nghiên cứu cho rằng một số quốc gia có xu hướng hình thành các tổ chức nghề nghiệp cao hơn các quốc gia khác (Phụ lục 4)

Xu hướng thu hẹp sự khác biệt giữa các quốc gia trên thế giới về những vấn đề kế toán và kiểm toán

Các điều kiện kinh tế xã hội đã làm các quốc gia thay đổi dần quan điểm của mình theo hướng thu hẹp khoảng cách Cụ thể:

Trang 39

- Sự phát triển của thị trường chứng khoán tại các quốc gia không phải Anglo-Saxon Sự toàn cầu cầu hóa thị trường vốn thế giới làm cho thị trường chứng khoán của các quốc gia này phát triển, tăng nhu cầu kiểm toán về phía người sử dụng báo cáo tài chính, tăng vai trò tổ chức nghề nghiệp

- Nhu cầu quản lý xã hội đối với hoạt động kiểm toán độc lập tăng lên tại các quốc gia Anglo-Saxon khi người ta càng ngày càng ý thức được ảnh hưởng của chúng đến sự ổn định của nền kinh tế Một thí dụ rất rõ là Anh và Australia từng sử dụng mô hình tự kiểm soát nhưng sau đó đã chuyển sang mô hình ủy ban độc lập vào năm 1981 (Australia) và 1991 (Anh)

PHƯƠNG THỨC HÒA HỢP CỦA CÁC QUỐC GIA

1.2.2.1 Chuẩn mực kiểm toán quốc tếá

Nguyên nhân hình thành chuẩn mực kiểm toán quốc tế

Quá trình toàn cầu hóa các hoạt động thương mại và đầu tư đã dẫn đến nhu cầu phải có một tiêu chuẩn thống nhất về công việc kiểm toán:

- Thứ nhất, đó là yêu cầu từ người sử dụng kết quả kiểm toán, trong trường hợp này là các nhà đầu tư quốc tế Các nhà đầu tư trên thị trường vốn quốc tế phải dựa trên các thông tin của các doanh nghiệp hoạt động tại nhiều nước khác nhau trên thế giới Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp này được lập dựa trên các chuẩn mực và quy định của nước sở tại Điều này ảnh hưởng đến khả năng so sánh được giữa các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp hoạt động tại những quốc gia khác nhau Để khắc phục tình trạng này, vấn đề không chỉ là chất lượng của thông tin trên báo cáo mà còn là chất lượng của

Trang 40

kiểm toán khi kiểm tra và xác nhận về các thông tin đó Vì vậy, các nhà đầu

tư trên thị trường vốn quốc tế rất quan tâm đến báo cáo kiểm toán và chất lượng công việc kiểm toán để có thể đánh giá độ tin cậy của báo cáo tài chính và các thông tin khai báo liên quan Điều này dẫn đến yêu cầu hình thành một tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng của công việc kiểm toán cũng như việc trình bày báo cáo kiểm toán

- Thứ hai, đó là yêu cầu từ phía các công ty đa quốc gia Các công ty đa quốc gia giữ một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới Hoạt động của các công ty này tại nhiều quốc gia khác nhau cần được kiểm toán theo một tiêu chuẩn quốc tế để thuận tiện cho việc lập báo cáo tài chính hợp nhất của các công ty này và giúp cho các nhà quản lý ở trung tâm có thể yên tâm về độ tin cậy của các thông tin từ các công ty con hoặc chi nhánh

Quá trình đi tìm một tiêu chuẩn thống nhất về chất lượng công việc kiểm toán đã diễn ra bằng nhiều con đường khác nhau:

- Yêu cầu kiểm toán viên của công ty mẹ phải có hành động thích hợp khi một kiểm toán viên khác kiểm toán tại chi nhánh hoặc công ty con (thí dụ : Thông báo về chuẩn mực kiểm toán số 1 do Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa kỳ ban hành năm 1972)

- Hình thành các chuẩn mực có tính chất khu vực (thí dụ Liên đoàn các chuyên viên kế toán châu Âu - viết tắt UEC thành lập năm 1951, thiết lập Ủy ban chuẩn mực kiểm toán năm 1976 và đã ban hành được 20 Thông báo về kiểm toán)

Ngày đăng: 13/12/2019, 22:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w