TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, một xu thế khách quan đã và đang diễn ra nhanh chóng, tác động vào hầu hết các quốc gia, mặc dù thời gian, quy mô và
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ T.P HỒ CHÍ MINH
- NGUYỄN HỒNG HẢI
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
CỦA VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾÁ
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số: 62.31.01.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học chính : PGS.TS ĐÀO DUY HUÂN Người hướng dẫn khoa học phụ : TS NGUYỄN VĂN CHIỂN
Thành phố Hồ Chí Minh 2009
Trang 2MỤC LỤC Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN……….I MỤC LỤC II
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 10
1.1 Tổng luận về xu hướng kinh tế đối ngoại trong hội nhập kinh tế quốc tế 10
1.1.1 Cơ sở khách quan của xu hướng phát triển kinh tế đối ngoại 10
1.1.2 Nội dung cơ bản của phát triển kinh tế đối ngoại trong hội nhập kinh tế quốc tế 26
1.1.3 Vai trò của kinh tế đối ngoại và tác động hội nhập kinh tế quốc tế đến phát triển kinh tế đối ngoại 32
1.1.4 Các nhân tố tác động đến xu hướng phát triển kinh tế đối ngoại 41
1.2 Xu hướng phát triển kinh tế đối ngoại của thế giới tác động đến xu hướng phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế 52
1.2.1 Xu hướng chung 52
1.2.2 Xu hướng phát triển ngoại thương 53
1.2.3 Xu hướng phát triển FDI và ODA 53
1.2.4 Xu hướng xuất khẩu lao động 54
1.2.5 Xu hướng phát triển dịch vụ tài chính - tiền tệ 55
Trang 31.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế đối ngoại ở một số nước trong hội nhập kinh tế quốc tế 55
1.3.1 Tổng quan phát triển kinh tế đối ngoại ở một số nước 55 1.3.2 Một số bài học kinh nghiệm chung có tác dụng gợi mở cho việc vận dụng đối với phát triển kinh tế đối ngoại ở Việt Nam 73
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI Ở
NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA 82 2.1 Khái quát quá trình phát triển kinh tế đối ngoại ở nước ta qua các giai đoạn 82
2.1.1 Giai đoạn trước 1986 82 2.1.2 Giai đoạn từ 1986 đến nay 86
2.2 Tác động của xu hướng phát triển kinh tế đối ngoại đối với tăng trưởng kinh tế - xã hội Việt Nam những năm qua 113
2.2.1 Tác động của phát triển kinh tế đối ngoại đối với tăng trưởng kinh tế 113 2.2.2 Tác động của phát triển kinh tế đối ngoại đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 115 2.2.3 Tác động của phát triển kinh tế đối ngoại đối với phân công lại lao động xã hội, giải quyết việc làm 117 2.2.4 Tác động của phát triển kinh tế đối ngoại đối với nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế 117 2.2.5 Tác động của phát triển kinh tế đối ngoại đối với củng cố Nhà nước xã hội chủ nghĩa 118
Trang 42.2.6 Tác động của phát triển kinh tế đối ngoại đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc 120
2.3 Đánh giá chung và những mâu thuẫn phát sinh cần giải quyết nhằm để phù hợp với hội nhập kinh tế quốc tế 122
2.3.1 Những kết quả đạt được phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế đối ngoại 122 2.3.2 Những mâu thuẫn phát sinh - chưa phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế đối ngoại trong hội nhập kinh tế quốc tế .132
CHƯƠNG 3: XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 VÀ CÁC QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO, MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN 137 3.1 Xu hứớng phát triển của nền kinh tế thế giới thời gian nửa đầu thế kỷ XXI 137 3.1.1 Xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế 137 3.1.2 Xu hướng nền kinh tế thế giới chuyển mạnh sang nền kinh tế có
cơ sở vật chất - kỹ thuật mới về chất – nền văn minh hậu công nghiệp 137 3.2 Xu hướng phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam đến 2020 …138
3.2.1 Xu hướng phát triển phải nằm trong xu hướng chung của thế giới, đồng thời phải thể hiện tính đặc thù của Việt Nam 138 3.2.2 Xu hướng phát triển ngoại thương sẽ có sự thay đổi cả về mặt hàng và thị trường 139 3.2.3 Xu hướng phát triển FDI và ODA sẽ tiếp tục đẩy mạnh năm sau cao hơn năm trước 140
Trang 53.2.4 Xu hướng phát triển sẽ đẩy mạnh xuất khẩu lao động ra thị
trường khu vực và thế giới với trình độ tay nghề ngày càng nâng cao 141
3.2.5 Xu hướng phát triển phải xúc tiến và đẩy mạnh đầu tư sản xuất kinh doanh ra thị trường các nước với các hình thức, bước đi phù hợp với thông lệ quốc tế 143
3.2.6 Xu hướng phát triển phải xúc tiến và đẩy mạnh dịch vụ tài chính – tiền tệ ra thị trường các nước với các hình thức phù hợp với thông lệ quốc tế 144
3.3 Các quan điểm chỉ đạo và mục tiêu phát triển kinh tế đối ngoại ở nước ta đến năm 2020 145
3.3.1 Các quan điểm chỉ đạo 145
3.3.2 Mục tiêu phát triển kinh tế đối ngoại đến năm 2020 146
3.4 Giải pháp phát triển kinh tế đối ngoại ở nước ta đến năm 2020 148
3.4.1 Nhóm giải pháp về nhận thức của cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý và toàn dân về phát triển kinh tế đối ngoại trong hội nhập kinh tế quốc tế 148
3.4.2 Nhóm giải pháp tận dụng cơ hội nảy sinh trong hội nhập kinh tế nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài 149
3.4.3 Nhóm giải pháp đẩy mạnh phát triển thương mại quốc tế, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm, cạnh tranh doanh nghiệp, cạnh tranh quốc gia 161
3.4.4 Nhóm giải pháp đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 169
3.4.5 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách của Nhà nước 174
Trang 6KẾT LUẬN CHUNG 190 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN I TÀI LIỆU THAM KHẢO II PHỤ LỤC 1 XIV PHỤ LỤC 2 XV PHỤ LỤC 3 XVI PHỤ LỤC 4 XVIII PHỤ LỤC 5 XIX PHỤ LỤC 6 XXII PHỤ LỤC 7 XVI PHỤ LỤC 8 XVII PHỤ LỤC 9 XXX PHỤ LỤC 10 XXXII
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
EU : Liên minh châu Aâu
WTO : Tổ chức Thương mại thế giới
TNC : Công ty Xuyên quốc gia
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FI I : Đầu tư gián tiếp nước ngoài
GATT : Hiệp định chung về Thuế quan và mậu dịch
WB : Ngân hàng Thế giới
IMF : Quỹ Tiền tệ quốc tế
BOT : Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao BTO : Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh
BT : Hợp đồng xây dựng - chuyển giao
ODA : Vốn hỗ trợ phát triển chính thức
GDP : Tổng sản phẩm trong nước
UNDP : Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á
APEC : Diễn đàn Hợp tác châu Á - Thái Bình Dương SEV : Hội đồng Tương trợ kinh tế châu Âu
NAFTA : Khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mỹ
Nxb : Nhà xuất bản
PGS TS : Phó giáo sư, tiến sĩ
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: trị giá ngoại thương của Trung Quốc 57
Bảng 1.2: trị giá ngoại thương của Hàn Quốc 66
Bảng 1.3: trị giá ngoại thương của Thái Lan 70
Bảng 2.1: trị giá xuất, nhập khẩu giai đoạn 1976 – 1985 85
Bảng 2.2: trị giá xuất, nhập khẩu giai đoạn 1986 – 1990 87
Bảng 2.3: trị giá xuất, nhập khẩu giai đoạn 1991 – 2007 88
Bảng 2.4: trị giá xuất khẩu hàng hóa phân theo khu vực kinh tế và phân theo nhóm hàng 92
Bảng 2.5: trị giá nhập khẩu hàng hóa phân theo khu vực kinh tế và phân theo nhóm hàng 97
Bảng 2.6: đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ 1988 - 2007 100
Bảng 2.7: kết quả cam kết và thực hiện ODA thời kỳ 1993 - 2007 104
Bảng 2.8: đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp phép từ 1989 - 2007 107
Bảng 2.9: đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp phép từ 1989 - 2007 phân theo ngành kinh tế 108
Trang 9MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, một xu thế khách quan đã và đang diễn ra nhanh chóng, tác động vào hầu hết các quốc gia, mặc dù thời gian, quy mô và cấp độ có khác nhau giữa các nước trên cả hai mặt cơ hội và thách thức.Trong bối cảnh đó buộc các nước trên thế giới đã phải tính đến sự điều chỉnh
cơ cấu kinh tế, trong đó có lĩnh vực kinh tế đối ngoại
Kinh tế đối ngoại ngày càng trở thành một bộ phận chủ yếu của nền kinh tế quốc dân Trong xu thế hội nhập, hầu như tất cả các lĩnh vực kinh tế của nền kinh tế quốc dân đều tham gia vào hoạt động kinh tế đối ngoại Nhận thức được điều đó, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương tập trung mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế đối ngoại Hoạt động kinh tế đối ngoại nước ta trong thời gian qua, nhất là từ khi có Luật Đầu tư nước ngoài, gia nhập ASEAN và ký Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ đến nay đã đạt những thành tựu quan trọng Nó đã góp phần tích cực vào thắng lợi sự nghiệp đổi mới, tăng cường thế và lực của Việt Nam ở trong nước và trên trường quốc tế, đẩy nhanh nhịp độ công nghiệp hóa, hiện đại hoá, tạo thêm nhiều việc làm mới, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội
Tuy nhiên, kinh tế đối ngoại của Việt Nam phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của mình, chưa khai thác tốt nhất các lợi thế của đất nước phục vụ cho phát triển kinh tế đối ngoại, hoạt động kinh tế đối ngoại thời gian qua cũng đang bộc lộ những mặt yếu kém, bất cập là cản trở đến sự phát triển kinh tế Đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề mới đòi hỏi cần có lời giải khoa học trên cả hai mặt lý luận và
Trang 10thực tiễn đối với nước ta hiện nay, nhất là khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), gia nhập các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế Để góp phần vào việc tìm ra lời giải đó, tác giả chọn:“xu hướng phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế” để làm
đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ kinh tế
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trên thế giới, nhiều nhà khoa học đã có các cuốn sách viết về toàn cầu
hóa kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế đối ngoại Một số cuốn sách đó đã được dịch ra tiếng Việt và lưu hành ở nước ta:
- Supachai Panicpakdi Mak L.Clifford:“Trung Quốc và WTO”, nhà xuất
bản Thế giới, Hà Nội, (2002) Cuốn sách này đã đề cập một số nội dung chủ yếu sau đây:
+ Quá trình hình thành và xu hướng phát triển của toàn cầu hoá kinh tế trong lịch sử
+ Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế - cơ hội và thách thức giữa các nước, nhất là giữa các nước đang phát triển
+ Giới thiệu quá trình hình thành WTO và đặc điểm của nó hiện nay
+ Bình luận về sự kiện Trung Quốc gia nhập WTO
- Michael Epiter:“Chiến lược cạnh tranh”, nhà xuất bản Khoa học kỹ
thuật, Hà Nội, (1996) Cuốn sách này tập trung trình bày và phân tích những nội dung liên quan đến chiến lược cạnh tranh trên thế giới như:
+ Các quan điểm khác nhau về khái niệm cạnh tranh, chiến lược cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh
+ Phân loại, mục tiêu, đối tượng và các thủ đoạn cạnh tranh trong nước và
Trang 11quốc tế, cạnh tranh trong quản lý vi mô, vĩ mô
+ Giới thiệu các tổ chức và cách xếp hạng cạnh tranh trên thế giới, nhất là tổ chức Diễn đàn kinh tế thế giới
- Bạch Thụ Cường:”Bàn về cạnh tranh toàn cầu”, sách dịch của nhà xuất
bản Thông tấn, Hà Nội, (2002) Cuốn sách đã tổng kết các lý luận cạnh tranh từ thời kỳ Adam Smith đến nay; đề cập cạnh tranh quốc tế trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế; trình bày chính sách cạnh tranh bao gồm: tiền đề, mục tiêu và biện pháp cạnh tranh, việc thực thi chính sách cạnh tranh và hiệu ứng của nó, quan hệ giữa chính sách cạnh tranh và các chính sách khác, các biện pháp trong chính sách thương mại có ảnh hưởng đến cạnh tranh, vấn đề quốc tế hóa chính sách cạnh tranh, những nghiên cứu của WTO về chính sách cạnh tranh, sức cạnh tranh
quốc tế và chính sách đối với sự cạnh tranh quốc tế…
Các cuốn sách nói trên đã cho ta một cách nhìn toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, sự kiện Trung Quốc gia nhập WTO và chiến lược cạnh tranh nói chung, nhưng dưới cái nhìn của các tác giả phương Tây Tuy nhiên các cuốn sách này và một số quyển sách khác được viết còn mang tính chung trên thế giới, chưa đề cập cụ thể tình hình Việt Nam Bởi vậy khi nghiên cứu cần đứng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn Việt Nam để có nhận thức mới, khoa học và toàn diện hơn
Trong nước, cũng đã có nhiều công trình, luận án và bài báo nghiên cứu
và được xuất bản như :
- “Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, luận
văn thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Phúc Hiền, năm 2002 Trong luận văn này tác giả đã:
Trang 12+ Bước đầu có đề cập đến khái niệm, nội dung và hình thức của hội nhập kinh tế quốc tế
+ Có khảo sát thực trạng của hội nhập kinh tế quốc tế thời gian qua nhưng không đứng trên góc độ kinh tế đối ngoại, mà dùng kinh tế đối ngoại để minh họa
+ Quan điểm và giải pháp đưa ra chủ yếu và trực tiếp gắn với chủ đề hội nhập kinh tế quốc tế
- “Kinh tế đối ngoại với tăng trưởng và phát triển kinh tế “, luận án phó tiến
sĩ của Trần Anh Phương, năm 1994 Trong luận án này tuy có đề cập đến vấn đề kinh tế đối ngoại, nhưng còn một số hạn chế:
+ Nghiên cứu kinh tế đối ngoại dưới góc độ chỉ tác động đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
+ Vấn đề bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế được đề cập còn hạn chế vì thực tiễn vấn đề này lúc đó đối với Việt Nam còn rất mới
- “Kinh tế đối ngoại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tác động của nó với củng cố quốc phòng nước ta hiện nay”, luận án tiến sĩ kinh tế của Lê
Nguyên Đương, năm 2002 Nội dung luận án này được nghiên cứu trên một góc độ mang tính đặc thù:
+ Nghiên cứu kinh tế đối ngoại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chứ chưa trực tiếp nghiên cứu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, nên vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế chưa sâu
+ Sự tác động của kinh tế đối ngoại chỉ đi sâu vào khía cạnh củng cố quốc phòng
+ Quan điểm và giải pháp đưa ra chưa toàn diện mà nặng khía cạnh củng cố quốc phòng
Trang 13- “Hoàn thiện chính sách và giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam”, luận án phó tiến sĩ của Hoàng Văn Huấn, năm 1995 Trong
luận án này về nội dung và đối tượng nghiên cứu trong giới hạn như sau:
+ Thời gian khảo sát nghiên cứu đánh giá chỉ đến năm 1995
+ Chỉ nghiên cứu một nội dung của kinh tế đối ngoại - vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
+ Chưa đề cập tác động của FDI đối với nâng cao năng lực ngoại thương, chưa đề cập đến việc đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài
+ Chỉ đi sâu vào việc hoàn thiện chính sách thu hút FDI, bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế chưa được đề cập nhiều
- “Lựa chọn đối tác đầu tư trong hoạt động kinh tế đối ngoại ở Việt Nam”,
luận án tiến sĩ kinh tế của Đặng Ngọc Bình, năm 2002 Trong nội dung của luận án có liên quan đến khía cạnh thu hút FDI, tuy nhiên do đối tượng nghiên cứu của luận án còn hẹp, nên chưa đề cập sâu đến vấn đề ngoại thương, việc triển khai FDI, việc thu hút và sử dụng ODA
- “Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ của nước ta trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế”, luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Thúy Anh, năm 2004 Trong
luận án tác giả đã trình bày các vấn đề như: bản chất của toàn cầu hóa kinh tế, sự tác động của toàn cầu hóa đối với vấn đề xây dựng nền kinh tế tự chủ, khảo sát và phân tích thực trạng tác động của toàn cầu hóa đối với việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ở nước ta trong thời gian qua, từ đó tác giả đã đưa ra và phân tích phương hướng xây dựng và phát triển nền kinh tế độc lập tự chủ ở Việt Nam thời gian tới
- “Kinh nghiệm hội nhập kinh tế quốc tế của một số nước trong khu vực và những bài học đối với Việt Nam”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của trường
Trang 14đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, chủ nhiệm đề tài là tiến sĩ Hoàng An Quốc, năm 2004 Trong đề tài này các tác giả chỉ tập trung nghiên cứu:
+ Tiến trình và chính sách hội nhập kinh tế quốc tế của một số nước và vùng lãnh thổ trong khu vực (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Nga, Trung Quốc)
+ Những bài học kinh nghiệm trong hội nhập kinh tế quốc tế của các nước trong khu vực
- “Thực trạng và định hướng phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại thành phố Hồ Chí Minh trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế”, đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh năm 2006, chủ nhiệm đề tài là PGS.TS Nguyễn Văn Trình Trong đề tài này các tác giả nghiên cứu trong giới hạn như sau:
+ Nghiên cứu chủ trương, chính sách và những chương trình hành động phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại của Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh
+ Tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động kinh tế đối ngoại của thành phố Hồ Chí Minh
+ Trên cơ sở đánh giá lợi thế và bất lợi thế của thành phố Hồ Chí Minh để
đưa ra các giải pháp và định hướng mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại thành
phố Hồ Chí Minh trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế
+ Phạm vi nghiên cứu hẹp - chỉ nghiên cứu đối với địa phương thành phố Hồ Chí Minh, chưa mang tính chung cả nước
- Gần đây đã có một số bài viết về kinh tế đối ngoại với hội nhập kinh tế
quốc tế đã đăng trên các báo và tạp chí Tuy nhiên, các công trình khoa học đó chưa hệ thống, chưa tập trung vào nghiên cứu xu hướng phát triển kinh tế đối ngoại của nước ta trong hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 15Vấn đề xu hướng phát triển kinh tế đối ngoại là mảng đề tài rất rộng lớn, nhiều nội dung còn cần được tiếp tục nghiên cứu, nhất là trong bối cảnh mới: toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Trong luận án này, tác giả nghiên cứu trên
cơ sở kế thừa và phát triển, trình bày một cách có hệ thống toàn diện hơn Nét mới của đề tài là đặt nó trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhằm góp thêm
cơ sở khoa học cho việc thực hiện”chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” ở nước ta hiện nay
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Về mục đích:
Dưới giác độ lý luận kinh tế chính trị, làm rõ thêm lý luận về phát triển kinh tế đối ngoại ở nước ta trong hội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sở đó tiến hành phân tích, khái quát được những xu hướng phát triển kinh tế đối ngoại ở nước ta, từ đó đề ra các giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế đối ngoại trong thời gian tới
Về nhiệm vụ:
- Luận giải những vấn đề cơ bản về kinh tế đối ngoại trong hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng phát triển kinh tế đối ngoại của thế giới tác động đến phát triển kinh tế đối ngoại ở Việt Nam
- Khái quát kinh nghiệm phát triển kinh tế đối ngoại của một số nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
- Phân tích đánh giá thực trạng phát triển kinh tế đối ngoại ở nước ta trong thời gian qua - nhìn từ góc độ hội nhập kinh tế quốc tế
- Đưa ra dự báo về xu hướng, mục tiêu, đề xuất quan điểm và các giải
Trang 16pháp cơ bản tiếp tục phát triển kinh tế đối ngoại ở nước ta trong hội nhập kinh tế quốc tế
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Luận án lấy xu hướng phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong
hội nhập kinh tế quốc tế làm đối tượng nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu chủ yếu những năm đổi mới, nhất là từ 1991 đến năm 2007
- Phát triển kinh tế đối ngoại được tập trung nghiên cứu chủ yếu ở hai nội dung: ngoại thương và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Các nội dung
khác được đề cập ít hơn Tất cả nội dung phát triển kinh tế đối ngoại đều xem xét dưới giác độ kinh tế chính trị
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Luận án lấy các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương pháp luận chung được vận dụng thông qua phương pháp trừu tượng hoá khoa học, phân tích và tổng hợp, lịch sử và logic trong chương 1 của luận án
- Ngoài ra còn vận dụng một số phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh thông qua một hệ thống bảng, biểu số liệu để minh chứng cho những nhận xét đánh giá trong chương 2 của luận án
- Phương pháp dự báo, cấu trúc - hệ thống chủ yếu được sử dụng trong chương 3 của luận án Bằng cách đó đã tạo nên một tổng thể phương pháp phù hợp, cho phép tiếp cận nhanh và có hiệu quả đối tượng và mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra
6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Trang 17- Làm rõ thêm xu hướng phát triển kinh tế đối ngoại của thế giới đã và đang tác động đối với xu hướng phát triển kinh tế đối ngoại ở Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế
- Phân tích đánh giá khái quát dưới giác độ kinh tế chính trị về thực trạng phát triển kinh tế đối ngoại trong thời gian qua, từ đó rút ra các mâu thuẫn phát sinh cần phải giải quyết trong quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới
- Đưa ra những dự báo về xu hướng, mục tiêu, quan điểm và giải pháp cơ bản tiếp tục phát triển kinh tế đối ngoại của nước ta phù hợp hội nhập kinh tế quốc tế mà vẫn đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 TỔNG LUẬN VỀ XU HƯỚNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1.1 Cơ sở khách quan của xu hướng phát triển kinh tế đối ngoại
1.1.1.1 Khái niệm về kinh tế đối ngoại
Theo nghĩa rộng có thể dùng khái niệm thương mại quốc tế là toàn bộ hoạt động buôn bán giữa các quốc gia, kèm theo dịch vụ bảo hành, sửa chữa, lắp ráp máy móc, bảo hiểm, thanh toán quốc tế để chỉ toàn bộ hoạt động kinh tế đối ngoại Trong quan hệ kinh tế giữa các quốc gia, thương mại là hoạt động kinh tế
ra đời sớm nhất và hiện tại vẫn giữ vị trí trung tâm, hình thức kinh tế phổ biến trong quan hệ giữa các quốc gia hiện nay vẫn là buôn bán hàng hóa và dịch vụ v.v… Đã từ rất lâu, giữa các quốc gia đã từng xuất hiện sự trao đổi các hàng hóa với nhau và được gọi là ngoại thương Tuy vậy, quan niệm này còn phiến diện, bởi lẽ nó chỉ bó hẹp kinh tế đối ngoại vào một hình thức trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia Trên thực tế, kinh tế đối ngoại bao gồm nhiều hoạt động và nhiều mối quan hệ phức tạp, nhiều hình thức liên quan đến nhiều hoạt động khác nhau các hoạt động đó có những sắc thái riêng mà chỉ hoạt động ngoại thương không thể bao quát hết
Một số ý kiến khác lại đồng nhất kinh tế đối ngoại với kinh tế quốc tế Quan niệm này bắt nguồn từ sự xem xét một số điểm tương đồng giữa kinh tế đối ngoại và kinh tế quốc tế Nhận thức đó cho rằng, giữa kinh tế đối ngoại và kinh tế quốc tế có những dấu hiệu giống nhau về nội dung vật chất; thông tin chứa đựng trong mỗi khái niệm đều phản ánh quan hệ kinh tế giữa các quốc gia với nhau
Trang 19Do vậy, đó chỉ là những cách gọi khác nhau về một hoạt động kinh tế Quan niệm này có phần đúng, nếu xét về đối tượng vận động, về phương thức tiến hành và về hình thức biểu hiện của các mối quan hệ Song kinh tế đối ngoại và kinh tế quốc tế vẫn không hoàn toàn đồng nhất với nhau, giữa chúng còn có sự khác nhau Việc làm rõ phạm vi, ranh giới giữa kinh tế đối ngoại và kinh tế quốc tế có tầm quan trọng đặc biệt cả về lý luận và thực tiễn
Trước hết, kinh tế đối ngoại là quan hệ kinh tế mà chủ thể là một quốc gia nhất định với bên ngoài, với quốc gia khác và với các tổ chức kinh tế quốc tế khác Còn quan hệ kinh tế quốc tế là mối quan hệ lẫn nhau giữa từng nước hoặc nhiều nước với nhau, là tổng thể các mối quan hệ kinh tế của các nước Như vậy, kinh tế đối ngoại chỉ là một bộ phận của quan hệ kinh tế quốc tế Quan hệ kinh tế quốc tế là hệ thống của các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của các quốc gia Hai khái niệm đó là hai cấp độ quan hệ khác nhau Do vậy, việc đồng nhất hai khái niệm này là sự nhầm lẫn giữa bộ phận và toàn thể
Gần đây có khái niệm (tương đối phổ biến) cho rằng: kinh tế đối ngoại là tổng thể các quan hệ kinh tế, khoa học - công nghệ của một quốc gia nhất định với quốc gia khác và các tổ chức kinh tế quốc tế Có thể thấy đây là quan niệm dễ được chấp nhận hơn cả, bởi quan niệm này đã nói lên được cái chung nhất, đặc trưng cơ bản của kinh tế đối ngoại là quan hệ kinh tế của một quốc gia với bên ngoài, cho dù đối tác là ai Kinh tế đối ngoại không còn bị giới hạn trong hoạt động ngoại thương mà bao gồm tổng thể các hoạt động kinh tế của một quốc gia với các quốc gia khác và các chủ thể kinh tế còn lại trên thế giới Do vậy, đây là quan niệm ít gây tranh luận nhất Mặc dù vậy, quan niệm này vẫn chưa phản ánh và bao quát hết nội dung mà khái niệm kinh tế đối ngoại chứa đựng Do đó, cần phải có sự bổ sung về điều kiện, về hình thức của quan hệ kinh tế đối ngoại Thực tế cho thấy, kinh tế đối ngoại là một lĩnh vực phong phú và đa dạng, có kết
Trang 20cấu rộng và rất phức tạp Do vậy đã có nhiều quan niệm khác nhau về kinh tế đối ngoại Kế thừa và phát triển các quan niệm nêu trên, một khái niệm kinh tế đối
ngoại đầy đủ phải bao hàm được những đặc trưng cơ bản sau đây:
Một là, kinh tế đối ngoại là quan hệ kinh tế với bên ngoài Tự bản thân
tên gọi của nó đã khẳng định đó là tổng thể các quan hệ kinh tế, khoa học - công nghệ mà chủ thể là một quốc gia nhất định với các quốc gia khác và các tổ chức kinh tế quốc tế cho dù quan hệ đó tiến hành trong nước, hay ngoài lãnh thổ của mình Đặc trưng này cũng làm cho kinh tế đối ngoại trở thành thực thể kinh tế có
cơ cấu nhiều tầng nấc, nhiều cấp độ quan hệ: Chính phủ, các địa phương, thậm chí cá nhân với nhau nếu hội đủ điều kiện theo quy định của pháp luật từng quốc gia
Hai là, kinh tế đối ngoại là một lĩnh vực có nội dung rộng lớn, thể hiện
dưới nhiều hình thức hoạt động có liên quan chặt chẽ với nhau, tạo nên một tổng thể thống nhất để xác định vị trí của nền kinh tế của mỗi quốc gia trong hệ thống phân công lao động quốc tế
Từ sự phân tích trên có thể hiểu khái niệm kinh tế đối ngoại của một quốc gia là một bộ phận của kinh tế quốc tế, là tổng thể các quan hệ kinh tế quốc tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của một quốc gia nhất định với các quốc gia khác còn lại hoặc với các tổ chức kinh tế quốc tế khác, được thực hiện dưới nhiều hình thức, hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế
1.1.1.2 Cơ sở khách quan của xu hướng phát triển kinh tế đối ngoại
° Sự phát triển của phân công lao động quốc tế
Phân công lao động xã hội là hiện tượng khách quan, phản ánh các bước tiến bộ trong lịch sử phát triển kinh tế - xã hội loài người Đó là sự chuyên môn hóa sản xuất thành những ngành, lĩnh vực khác nhau trong xã hội Phân công lao
Trang 21động xã hội là một quá trình diễn ra sự phân hóa và độc lập hóa lao động theo các loại hình hoạt động khác nhau, qua đó mà hình thành việc chuyên môn hóa và hợp tác giữa các bộ phận lao động trong phạm vi xã hội nhằm đạt đến sức sản xuất cao nhất trên cơ sở một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất Quá trình đó cũng đồng thời tạo ra cơ sở cho sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những chủ thể sản xuất trong những hình thức hợp tác lao động nhất định, làm cho mối liên hệ hợp tác giữa lao động và trao đổi càng chặt chẽ
Phân công lao động xã hội có thể diễn ra trong sự phân công chung theo ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và sự phân công đặc thù - sự phân công trong nội bộ từng ngành Ví dụ: ngành công nghiệp lại chia thành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến; ngành nông nghiệp lại chia thành ngành chăn nuôi, ngành trồng trọt v.v… ngoài ra còn có sự phân công theo vùng kinh tế lãnh thổ
Sự phát triển của phân công lao động xã hội gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất Mỗi một trình độ đạt được của lực lượng sản xuất, đặc biệt là của công cụ sản xuất đều thúc đẩy phân công lao động xã hội phát triển Khi phân công lao động đã đạt đến sự hoàn thiện nhất định thì sẽ trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất, vì sự chuyên môn hóa tạo điều kiện cho người lao động tích lũy kinh nghiệm, kỹ năng sản xuất, nâng cao tri thức, trình độ chuyên môn, khả năng quản lý, hoàn thiện và phát triển công cụ lao động Phân công lao động xã hội phát triển, làm cho sự chuyên môn hóa ngày càng sâu hơn giữa các ngành, các vùng của nền kinh tế, đồng thời ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến phân công lao động trong nội bộ đơn vị sản xuất, tạo điều kiện cải tiến kỹ thuật, áp dụng máy móc v.v… làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên Với
ý nghĩa đó, phân công lao động xã hội luôn được C.Mác xem như là một cơ sở, một tiền đề xuất phát để nghiên cứu sức sản xuất của lao động xã hội
Trang 22Trong tiến trình lịch sử, phân công lao động xã hội diễn ra như một quá trình thường xuyên từ tự phát đến tự giác, gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội Dưới chế độ Công xã nguyên thủy, sự phân công lao động hoàn toàn mang tính chất tự nhiên, tự phát, ngày nay phân công lao động vừa diễn ra một cách tự phát theo yêu cầu của quy luật thị trường, vừa diễn ra dưới sự chi phối của các hoạt động có ý thức của con người hoặc nhà nước nhằm sử dụng tốt hơn các nguồn lực vào phát triển kinh tế Thực tiễn lịch sử cho thấy: trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh nhiều đơn vị kinh tế có thể tồn tại hàng thế kỷ mà không hề thay đổi tính chất và phạm vi quan hệ vì do lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội còn chưa phát triển, năng suất lao động thấp, yêu cầu về nguyên liệu, vốn, thị trường… chưa nhiều nên yêu cầu về hợp tác và phát triển chưa lớn Bằng nội lực, các quốc gia có thể thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của mình Do vậy, kinh tế đối ngoại tuy đã hình thành nhưng chưa trở thành vấn đề sống còn, sự phụ thuộc giữa các quốc gia chưa nhiều Chẳng hạn trong thời kỳ công trường thủ công ở nước Anh tồn tại khoảng hơn 200 năm, tuy chủ nghĩa tư bản đã tạo ra được những điều kiện kinh tế, kỹ thuật để phát triển phân công lao động trong nước và mở rộng hơn nữa quan hệ kinh tế với các nước, nhưng phải đến giai đoạn đại công nghiệp cơ khí thì sự phân công lao động và hợp tác giữa các quốc gia mới diễn ra sâu sắc, mở đường cho ngoại thương phát triển Hình thức xuất khẩu tư bản (mà khái niệm thường dùng hiện nay là FDI và ODA) chỉ xuất hiện khi sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đạt đến giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền đã được V.I.Lênin phân tích trong tác phẩm “chủ nghĩa đế quốc - giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”
Ngày nay phân công lao động xã hội đã có sự phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Sự phân công lao động xã hội không chỉ diễn ra trong phạm vi từng quốc gia, mà đã mở rộng ra phạm vi quốc tế và trở thành phân công lao động
Trang 23quốc tế - sự phân công lao động giữa các nước trên thế giới và chuyên môn hóa sản xuất quốc tế Phân công lao động quốc tế xuất hiện như là hệ quả tất yếu của sự phân công lao động xã hội Nó diễn ra giữa các ngành sản xuất, giữa những người sản xuất của những nước khác nhau và thể hiện như là một hình thức đặc biệt của phân công lao động theo lãnh thổ Thật vậy, chuyên môn hóa thường gắn liền với quá trình hợp tác hóa nhằm phối hợp, trao đổi và cung cấp cho nhau những sản phẩm, chi tiết sản phẩm do quá trình chuyên môn hóa mang lại tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh hoặc để đáp ứng nhu cầu đa dạng của mỗi nước Đây là kết quả của một quá trình thống nhất: chuyên môn hóa dẫn đến hợp tác hóa và hợp tác hóa phải dựa trên cơ sở chuyên môn hóa; chuyên môn hóa càng sâu sắc thì hợp tác càng bền chặt Đó cũng là đặc trưng cơ bản của phân công lao động quốc tế hiện nay Có thể thấy rõ điều đó qua một số sản phẩm tiêu biểu trên thế giới như máy bay, ti vi, hàng điện tử…, mặc dù đăng ký sản xuất tại một nước nào đó, nhưng đều là kết quả hoạt động của hàng trăm, thậm chí hàng ngàn xí nghiệp đặt
ở nhiều nước khác nhau (ví dụ như máy bay Boeing đăng ký sản xuất tại Mỹ nhưng có sự tham gia của 650 công ty trên thế giới và đặt tại 30 nước khác nhau)
Tùy theo hình thức về việc chuyên môn hóa sản xuất quốc tế mà có các hình thức hợp tác quốc tế tương ứng Trong thời kỳ đầu, sự chuyên môn hóa còn chưa sâu và lấy chiều rộng làm chủ yếu, thì việc hợp tác hóa diễn ra phổ biến là trao đổi thương mại Ngày nay, việc chuyên môn hóa được phát triển theo chiều sâu, chặt chẽ và thường xuyên hơn, thì ngoài trao đổi thương mại còn diễn ra sự hợp tác trong lĩnh vực sản xuất, khoa học - công nghệ và dịch vụ giữa các quốc gia
Phân công lao động quốc tế ngày càng mở rộng thì nền kinh tế của các nước ngày càng liên hệ chặt chẽ với nhau Sự phát triển của hệ thống thông tin hiện đại, đặc biệt là thông tin điện tử và sự phát triển của giao thông vận tải đã
Trang 24tạo điều kiện thuận lợi cho phân công và hợp tác quốc tế, làm tăng thêm quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới và đời sống của các dân tộc Sản xuất của một nước, dù xét theo tổng sản phẩm từng ngành hoặc trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế đều phụ thuộc ngày càng chặt chẽ vào các hoạt động sản xuất của nước khác, bất kể nước đó là nước phát triển hay đang phát triển Chính sự phụ thuộc lẫn nhau đó mà trên thị trường thế giới đang diễn ra quá trình vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn giữa các nền kinh tế, vừa cạnh tranh với nhau gay gắt, vừa hợp tác với nhau ngày chặt chẽ Trên thế giới, các hàng rào thuế quan không bị dỡ bỏ hoàn toàn mà tiếp tục tồn tại song song với quá trình liên minh, liên kết ở các khu vực, xây dựng các khối thương mại khắp các châu lục Liên kết kinh tế quốc tế sẽ tạo
ra các điều kiện thuận lợi để sử dụng rộng rãi hơn thành tựu khoa học - công nghệ, tăng năng suất lao động, hình thành cơ cấu kinh tế mới có tính chất khu vực, làm cho hàng hóa lưu thông tự do, đầu tư tự do v.v… làm tăng sức mạnh kinh tế của từng nước và của cả cộng đồng Hệ quả tất yếu là quan hệ kinh tế giữa các quốc gia ngày càng tăng về số lượng và cường độ, sự giao lưu tư bản, sự trao đổi hàng hóa ngày càng phong phú Ngày nay, không một nước nào trên thế giới không có quan hệ kinh tế với nước ngoài thông qua hội nhập kinh tế với những hình thức và mức độ khác nhau
Tác dụng tích cực của phân công lao động quốc tế đối với phát triển nền kinh tế thế giới thể hiện: một là, có thể mở rộng quy mô sản xuất, gia tăng sản lượng; hai là, có thể đẩy nhanh tốc độ đổi mới sản xuất, gia tăng chủng loại sản phẩm, tiêu chuẩn hóa sản phẩm - tạo điều kiện mở rộng quan hệ thương mại quốc tế ngày càng mở rộng hơn
Thực tế cho thấy rằng phân công lao động quốc tế có vai trò và tác động
to lớn, tạo cơ sở cho sự hình thành thị trường thế giới và nảy sinh xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa về kinh tế Phân công lao động quốc tế có tác dụng to lớn ở
Trang 25tất cả các mặt khác nhau của nền kinh tế Trong phạm vi từng đơn vị sản xuất, làm cho phân công lao động nội bộ ngày càng đi vào chiều sâu Trong phạm vi từng quốc gia, phân công lao động quốc tế tạo điều kiện cho mỗi nước sử dụng tốt hơn những nhân tố bên ngoài, làm năng động và phát huy cao nhất những nhân tố bên trong Nó giúp các quốc gia phát huy các lợi thế và hạn chế được các khó khăn trong phát triển kinh tế, gạt bỏ những trở ngại ngăn cản buôn bán và đầu tư Thông qua phân công lao động quốc tế, từng quốc gia có điều kiện tập trung năng lực sản xuất vào những ngành, những lĩnh vực có lợi thế, hình thành cơ cấu kinh tế năng động cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân Phân công lao động quốc tế có mối quan hệ chặt chẽ với phân công lao động trong nước
Phân công lao động quốc tế chỉ có thể hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển của sản xuất và phân công lao động trong nước Sự mở rộng của phân công lao động trong nội bộ từng nước sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi để thúc đẩy mở rộng hơn nữa quan hệ kinh tế với các nước khác Đến lượt nó, khi phân công lao động quốc tế đã hình thành và phát triển thì sự phát triển bên trong mỗi nước lại chịu sự tác động của chính những quan hệ đó Do vậy, chiến lược kinh kế đối ngoại của mọi quốc gia đều mang mẫu số chung khi tham gia vào phân công lao động quốc tế - phân công lao động trong nước không ngừng mở rộng, phát triển hình thành nhiều ngành nghề mới, phù hợp với xu hướng phát triển của phân công lao động và hợp tác quốc tế
Tóm lại, khi trình độ của lực lượng sản xuất phát triển vượt ra ngoài biên giới mỗi quốc gia tất yếu đòi hỏi phải xóa bỏ tình trạng “bế quan tỏa cảng”, buộc mỗi nước phải không ngừng mở rộng quan hệ kinh tế với các nước không chỉ trong khu vực mà ra toàn thế giới thông qua các hiệp định song phương hoặc đa phương được ký kết Nói cách khác, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất càng cao, phân công lao động càng sâu thì yêu cầu hợp tác với bên ngoài và theo
Trang 26đó hoạt động kinh tế đối ngoại là một xu hướng có tính quy luật, trở nên bức thiết và ngày càng có nhiều nước tham gia
° Hình thành thị trường thế giới thống nhất
Thị trường thế giới là lĩnh vực trao đổi hàng hóa giữa các nước trên thế giới, là tổng hòa của lưu thông hàng hóa giữa các nước liên quan có phân công quốc tế Thị trường thế giới và phân công quốc tế có liên quan mật thiết với nhau, là điều kiện của nhau Sự phát triển ở một trình độ nhất định của phân công quốc tế là cơ sở để hình thành thị trường thế giới Sự xuất hiện của thị trường thế giới lại là trung gian không thể thiếu để thực hiện và phát triển phân c6ng quốc tế Cùng với sự phát triển của phân công quốc tế và thương mại quốc tế, thị trường thế giới đã được hình thành và phát triển
Theo đà phát triển của lực lượng sản xuất, nhu cầu của con người ngày càng nâng cao, sản phẩm trong xã hội dư thừa ngày càng nhiều, con người bắt đầu tiến hành trao đổi sản phẩm với nhau, làm cho kinh tế hàng hóa ra đời và ngày càng phát triển, thị trường ngày càng mở rộng Sự ra đời của các quốc gia độc lập đã làm hình thành các thị trường dân tộc thống nhất Mỗi quốc gia đều có sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, về trình độ phát triển sản xuất, nên nhu cầu của thị trường một quốc gia không được thỏa mãn bởi sản xuất trong nước đó Từ đó đã buộc các quốc gia phải có mối quan hệ với nhau, quan hệ kinh tế quốc tế bắt đầu hình thành
Lúc đầu mối quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia chủ yếu dựa trên sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, sau này do tác động của quá trình phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động đã dẫn đến chênh lệch về trình độ kỹ thuật, công nghệ, quản lý từ đó làm cho giá thành sản phẩm ở các nước chênh lệch nhau, làm xuất hiện những lợi thế mới cho từng quốc gia và họ đã tận dụng những lợi thế của mình để đẩy mạnh việc sản xuất, mua bán, trao đổi sản phẩm
Trang 27và dịch vụ trên thị trường quốc tế Như vậy khi hình thành thị trường thế giới thì
nó đã phát huy được những thế mạnh về điều kiện tự nhiên và trình độ kỹ thuật, công nghệ của từng nước góp phần nâng cao năng suất lao động, tạo sự gắn kết ngày càng chặt chẽ quan hệ thương mại giữa các nước
Từ thị trường hóa nền kinh tế thế giới và sự tất yếu phải chuyển sang mô hình kinh tế thị trường mở cửa trong tất cả các nền kinh tế quốc gia Từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, thị trường thế giới phát triển nhanh chóng biểu hiện:
- Tổng mức lưu chuyển hàng hóa thế giới ngày càng gia tăng nhanh
- Mức độ liên kết thị trường thế giới cũng liên tục phát triển
- Cơ cấu thị trường thế giới và hệ thống các chi nhánh phát triển phong phú hơn nhiều so với trước đây thông qua vai trò của các công ty xuyên quốc gia
- Hình thái và phạm vi thị trường thế giới đang chuyển từ lục địa, ra hải phận và không phận
Trong bối cảnh đóđòi hỏi các nước phải sớm điều chỉnh cho thích hợp để chủ động hội nhập
° Lợi thế so sánh trong phát triển kinh tế của các nước
Vấn đề vận dụng lợi thế trong các hoạt động trao đổi đã được con người khai thác tương đối sớm Khoảng thế kỷ thứ II trước Công nguyên, người Trung Hoa, người Aán Độ đã thường mang tơ lụa, vải vóc và các sản phẩm độc đáo của mình đến các vùng Trung Á, Tiểu Á và nhiều nước châu Âu khác đổi lấy vàng, bạc và những hàng hóa mà xứ mình không có, hình thành nên con đường “tơ lụa” nổi tiếng trong lịch sử Tuy nhiên, vấn đề này còn mang tính tự phát và kinh nghiệm, chưa trở thành hệ tư tưởng - lý thuyết về lợi thế - làm cơ sở cho sự phát triển các hình thức thương mại như ngày nay
Trang 28Theo cách hiểu chung nhất, lợi thế là sự ưu việt hơn, là sự thuận lợi hơn, là
cách tốt hơn trong các điều kiện sản xuất, trong từng lĩnh vực hoạt động, mà đơn
vị này, địa phương này hay quốc gia này có được so với đơn vị khác, địa phương khác, quốc gia khác
Trên lĩnh vực kinh tế, lợi thế liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, luôn biến động và mang tính chất lịch sử Lợi thế có thể được xem xét từ góc độ tuyệt đối hoặc tương đối, từ đó có khái niệm lợi thế tuyệt đối và lợi thế tương đối
Trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, lý thuyết về lợi thế ngày càng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện, đặt cơ sở cho việc lựa chọn chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại nói chung và ngoại thương nói riêng của mỗi quốc gia Quá trình đó gắn liền với việc các quốc gia sử dụng lợi thế so sánh từ không tự giác đến tự giác dựa trên các lý thuyết sau đây:
Nếu trường phái Trọng Thương khai thác trong thương mại quốc tế dựa trên nguyên tắc: “lợi cho nước này ắt sẽ gây thiệt hại cho bên kia”, vì họ dựa trên sự trao đổi không ngang giá, thì Adam Smith lại cho rằng các bên tham gia thương mại đều có lợi Trong nhiều tác phẩm của mình, đặc biệt là trong cuốn
“Nghiên cứu bản chất và nguyên nhân giầu có của các dân tộc” xuất bản năm
1776, ông phát hiện ra rằng lợi ích mà thương mại mang lại cho các quốc gia bắt nguồn từ phân công lao động hay chuyên môn hóa sản xuất Theo ông mỗi quốc gia cần chuyên môn hóa vào những ngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối và quan niệm tiêu chuẩn quyết định cho sự lựa chọn ngành cần chuyên môn hóa trong phân công lao động và hợp tác quốc tế là những điều kiện về tự nhiên, địa lý, khí hậu mà chỉ nước đó có lợi thế và ông gọi đó là lợi thế tuyệt đối Theo lý thuyết này, quốc gia nào có nhiều nguồn lực và được tận dụng một cách hiệu quả nhất thì tổng sản phẩm của quốc gia tăng lên, và thông qua thương mại quốc tế sẽ có lợi hơn so với các quốc gia khác có ít hoặc không có các nguồn lực, nhất là các
Trang 29nguồn lực gắn với điều kiện tự nhiên Trong học thuyết của Adam Smith có hạn chế cơ bản là không giải thích được hiện tượng những nước không có lợi thế tuyệt đối nào cả thì họ làm sao có thể tham gia vào phân công lao động quốc tế và thương mại quốc tế ?
Học thuyết về lợi thế so sánh do Robert Torrens đưa ra đầu tiên trong
“Bàn về thương mại lương thực đối ngoại” năm 1815 Sau đó David Ricardo đúc kết sưu tầm hoàn mỹ của trường phái kinh tế cổ điển Anh đã nhấn mạnh và phát triển một cách đầy đủ học thuyết này trong “Kinh tế học chính trị và nguyên lý thuế” của ông xuất bản năm 1817 Học thuyết về lợi thế so sánh của D Ricardo đã có tiến hơn một bước so với A Smith, đã giải đáp được những vấn đề khó trả lời của A Smith Theo D Ricardo thì những nước không có lợi thế tuyệt đối so với nước khác vẫn có thể và có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế Bởi vì, mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng nhất định và một số mặt hàng khác lại ở vào thế kém lợi thế so sánh Khi tham gia thương mại quốc tế, quốc gia có hiệu quả thấp ở tất cả các mặt hàng này sẽ chuyên môn hóa sản xuất các mặt hàng khác có lợi cao hơn và sau đó xuất khẩu hàng hóa mà việc sản xuất có bất lợi ít nhất (đó là hàng hóa có lợi thế so sánh) và nhập khẩu những hàng hóa mà việc sản xuất có bất lợi lớn nhất (hàng hóa không có lợi thế so sánh) Theo ông, chuyên môn hóa sản xuất quốc tế không nhất thiết đòi hỏi phải có lợi thế tuyệt đối, mà chỉ đòi hỏi đạt được lợi thế tương đối mà thôi Do vậy, một quốc gia không nên sản xuất tất cả các sản phẩm, mà chỉ nên tập trung vào sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm mà họ làm ra với chi phí tương đối thấp hơn và nhập khẩu những sản phẩm có chi phí tương đối cao hơn so với sản phẩm cùng loại của nước khác Lý thuyết này giúp cho các nước khi xác định phát triển một loại hàng hóa nào đó đều phải tính toán hiệu quả, phải so sánh với chi phí sản xuất của sản phẩm khác Tuy vậy, do dựa trên hàng
Trang 30loạt các giả thiết đơn giản hóa (không tính chi phí vận tải, bảo hiểm hàng hóa, hàng rào thuế quan…), nên lý thuyết của David Ricardo nếu xem xét trong trạng thái động sẽ không giải thích được nguồn gốc phát sinh lợi thế so sánh của một nước đối với một loại sản phẩm nào đó Nói cách khác, lý thuyết này chỉ đưa ra
cơ sở và nguyên tắc của sự trao đổi và phân công lao động quốc tế, mà chưa chỉ
ra được trên thực tế cơ chế hoạt động của nguyên lý “lợi thế so sánh” như thế nào Chính vì vậy, nó không giải thích triệt để được nguyên nhân sâu xa của quá trình thương mại quốc tế
Các Mác, tuy không xây dựng học thuyết riêng về lợi thế so sánh, nhưng trong bộ “Tư bản”, ông đã đưa ra nguyên lý về mối quan hệ giữa tiền công dân tộc và tiền công quốc tế, giữa năng suất lao động dân tộc với năng suất lao động quốc tế Nguyên lý đó đã giải thích tổng quát, chính xác cơ chế xuất hiện lợi thế khi tham gia phân công lao động và trao đổi quốc tế Ông cho rằng: những tư bản đầu tư vào ngoại thương có khả năng đem lại một tỷ suất lợi nhuận cao hơn, vì hàng hóa trong nước được sản xuất với tiền công thấp, có điều kiện thuận lợi hơn
so với nước khác, nhưng sẽ bán được hàng hóa của mình cho nước khác cao hơn giá trị của chúng
Khác với D.Ricardo, G.Haberler giải thích lợi thế so sánh bằng lý thuyết chi phí cơ hội Chi phí cơ hội của một hàng hóa là số lượng hàng hóa khác phải cắt giảm để nhường lại đủ các nguồn lực cho việc sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa đó Như vậy, quốc gia nào có chi phí cơ hội của một loại hàng hóa nào đó thấp, thì quốc gia đó có lợi thế so sánh trong việc sản xuất hàng hóa ấy Điều đó cũng có nghĩa là các nước sẽ có lợi khi chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà họ làm ra với chi phí cơ hội (chi phí so sánh) thấp hơn so với các nước khác Tuy vậy, lý thuyết này vẫn không giải thích được nguồn gốc lợi
Trang 31thế so sánh do đâu mà có, vì sao các nước khác nhau lại có chi phí cơ hội như nhau
Hai nhà kinh tế Thụy Điển là Hecksher và Ohlin đã phát triển lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo lên một bước bằng việc mở rộng mô hình thương mại Hai ông đã giải thích hiện tượng thương mại quốc tế là do trong nền kinh tế mở cửa, mỗi nước đều hướng đến chuyên môn hóa các ngành sản xuất cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nước đó thuận lợi nhất Nói cách khác, theo lý thuyết của hai ông (hay còn gọi lý thuyết H - O), một nước có lợi thế so sánh hơn trong việc xuất khẩu một số sản phẩm của mình là do việc sản xuất ra những sản phẩm đó đã sử dụng được nhiều yếu tố sản xuất (vốn, lao động, tài nguyên, đất đai v.v…) mà họ được ưu đãi hơn so với nước khác Chính sự ưu đãi về các lợi thế tự nhiên của các yếu tố sản xuất đã khiến một số nước có chi phí cơ hội thấp hơn (so với việc sản xuất các sản phẩm hàng hóa khác) khi sản xuất những sản phẩm đó Mỗi nước sẽ chuyên môn hóa trong những ngành sản xuất cho phép sử dụng các yếu tố với chi phí rẻ hơn, chất lượng tốt hơn so với các nước khác và nhập khẩu những hàng hóa mà việc sản xuất ra chúng đòi hỏi nhiều yếu tố đắt tiền đối với họ Như vậy, lý thuyết H - O đã xác định được nguồn gốc của lợi thế
so sánh chính là sự ưu đãi về các yếu tố sản xuất mà kinh tế học phát triển hiện nay vẫn gọi là các nguồn lực sản xuất Đó cũng chính là lý thuyết hiện đại về thương mại quốc tế
Từ những lý thuyết đã phân tích ở trên, có thể thấy:“lợi thế so sánh” tồn tại một cách khách quan và là một trong những cơ sở quy định xu hướng chuyên môn hóa của sản xuất, chi phối quá trình phát triển kinh tế đối ngoại của mỗi nước Các nước tham gia kinh tế đối ngoại có nhiều nguồn lực khác nhau, nhưng để đạt được hiệu quả thì tất yếu phải dựa vào lợi thế, phải khai thác các lợi thế của bên ngoài vào phục vụ cho sự phát triển kinh tế trong nước Kinh tế đối ngoại
Trang 32thành công hay không, phụ thuộc một phần rất quan trọng vào vấn đề biết lợi dụng phép lợi thế này Bởi vậy, khi bàn về khả năng tham gia vào phân công lao động và hợp tác quốc tế nhất thiết phải tính đến bối cảnh quốc tế, bối cảnh trong nước và những khả năng mà một nước có thể tranh thủ để tham gia vào phân công lao động quốc tế một cách có hiệu quả Trong sự phân công lao động quốc tế hiện nay, mỗi nước dù phát triển hay chưa phát triển, khi tham gia, đều phải tính toán kỹ ít nhất là các yếu tố như vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ và thị trường, đó là những nhân tố quan trọng để tìm ra lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế Nếu không đánh giá đúng những nhân tố này, không gắn chặt sự phát triển kinh tế trong nước với phân công lao động quốc tế, thì một nước dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú đến đâu, kể cả nước đó là một cường quốc, cũng sẽ mất lợi thế so sánh và sớm muộn sẽ bị bỏ rơi lại phía sau trong tiến trình phát triển của kinh tế thế giới và cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại Đó cũng là bài học nhiều nước xã hội chủ nghĩa khi nhận thức được phải trả giá quá đắt
Qua trên cho thấy lợi thế so sánh và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội có quan hệ hữu cơ với nhau Định hướng phát triển kinh tế - xã hội một cách khoa học sẽ giúp phát huy tốt lợi thế so sánh Lợi thế so sánh được xác định rõ sẽ làm cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tăng thêm sức sống, năng lực nội sinh được phát huy, khả năng hiện thực hóa các mục tiêu của chiến lược trở nên cao hơn Nhìn lại lịch sử phát triển của các nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh
ở châu Á cho thấy, một nguyên nhân rất quan trọng giúp các nước này thành đạt là do họ đã khai thác được lợi thế so sánh của mình và sử dụng chúng một cách hiệu quả trong khi tham gia phân công và hợp tác lao động quốc tế Nhờ đó đã làm năng động hơn các nhân tố bên trong và phát huy cao nhất những nhân tố bên ngoài, đẩy nhanh tốc độ phát triển
Trang 33Ngày nay, chiến lược phát triển kinh tế khép kín theo kiểu “tự cung, tự cấp” đã hoàn toàn không còn sức thuyết phục và không một nước nào tiếp tục thực hiện nữa Hiện tại, các nước trên thế giới thường lựa chọn chiến lược “thay thế nhập khẩu”, hoặc chiến lược “hướng về xuất khẩu”, hoặc chiến lược hỗn hợp gồm những nhân tố chủ yếu của cả hai loại chiến lược nói trên Mặc dù các nước đang phát triển có những sự lựa chọn khác nhau về chiến lược, nhưng qua thực tiễn cho thấy đã nổi lên một nét chung, đáng chú ý là: các nước ngày càng coi trọng việc lựa chọn lợi thế so sánh và sử dụng chúng một cách tích cực trong sự phân công và hợp tác quốc tế
Như vậy trong kinh tế đối ngoại, sự lựa chọn các sản phẩm xuất khẩu phù hợp với các lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất sẵn co,ù tận dụng được những thế mạnh ở những lĩnh vực nhất định của quốc gia để sản xuất mang lại hiệu quả cao nhất sẽ là điều kiện cần thiết để các nước, nhất là các nước đang phát triển có thể nhanh chóng hội nhập vào sự phân công và hợp tác quốc tế, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của từng nước và của nền kinh tế thế giới
Như vậy, muốn tham gia vào phân công lao động và hợp tác quốc tế, muốn thu hút vốn đầu tư, nhập công nghệ mới, xuất khẩu được sản phẩm của mình làm ra tất yếu phải nghiên cứu, sử dụng lợi thế so sánh Lý thuyết lợi thế so sánh có nhiều và đã được thực tiễn kiểm nghiệm Song cho đến nay, ở nước ta, chưa có một công trình nào nghiên cứu tính toán đầy đủ lợi thế cạnh tranh của các ngành sản xuất kinh doanh Do vậy, trong thời gian qua, nước ta chưa phát huy đầy đủ lợi thế so sánh của mình, đồng thời cũng chưa tranh thủ được nhiều lợi thế của thế giới Điều đó thể hiện khá rõ khi ta mở rộng sản xuất những mặt hàng trên thế giới đang thừa, hoặc không còn phù hợp như: đường, sắt thép, xi măng v.v… vì thế chúng ta cần tiến hành phân tích kỹ và vận dụng một cách sáng tạo lý thuyết lợi thế so sánh vào điều kiện cụ thể của nước ta trong quá trình đổi
Trang 34mới chính sách kinh tế đối ngoại, coi đây là một căn cứ quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu xuất - nhập khẩu (hàng hóa và dịch vụ), trong việc lựa chọn các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài, bảo đảm cho nước ta tham gia kinh tế đối ngoại một cách chủ động và hiệu quả
Tóm lại: tham gia phân công lao động và hợp tác quốc tế đang là xu thế chung của thời đại Ngày nay, không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển một cách bình thường nếu không có quan hệ kinh tế với các quốc gia khác Cần ý thức rằng, mỗi quốc gia đều có những thuận lợi và khó khăn khi phát triển kinh tế đối ngoại Song mấu chốt của vấn đề là trên cơ sở phân tích chính xác những lợi thế của quốc gia mình để đưa ra phương án lựa chọn những lĩnh vực kinh tế đối
ngoại mà quốc gia mình tham gia có hiệu quả
1.1.2 Nội dung cơ bản của phát triển kinh tế đối ngoại trong hội nhập kinh tế quốc tế
Kinh tế đối ngoại có nội dung rất đa dạng và phong phú, nó bao gồm các hoạt động chính sau đây:
Thứ nhất: ngoại thương (thương mại quốc tế)
Đây là hình thức xuất hiện sớm nhất, lâu đời nhất, phổ biến và hiệu quả nhất Ngoại thương là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia thông qua xuất nhập khẩu Nội dung của ngoại thương bao gồm: xuất và nhập khẩu hàng hóa với các quốc gia trên thế giới (gồm cả hàng hóa hữu hình và vô hình), thuê nước ngoài gia công tái xuất khẩu, trong đó xuất khẩu là hướng ưu tiên
Đối với các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, ngoại thương có tác dụng to lớn: góp phần làm tăng của cải và sức mạnh tổng hợp, tăng tích lũy của mỗi nước nhờ sử dụng có hiệu quả lợi thế so sánh giữa các quốc gia trong trao đổi quốc tế; là một động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, điều tiết thừa, thiếu của mỗi nước, nâng cao trình độ công nghệ và cơ cấu ngành nghề trong
Trang 35nước; tạo nhiều việc làm, nâng cao đời sống của người lao động, nhất là ở ngành xuất khẩu
Trong ngoại thương thì phương tiện thanh toán rất quan trọng, trong một nước sự trao đổi hàng hóa giữa các cá nhân, giữa các cá nhân và doanh nghiệp sản xuất, giữa các doanh nghiệp với nhau… đều thông qua hệ thống tài chính của nước mình và đồng tiền (nội tệ) làm phương tiện thanh toán không gây ra khó khăn cho việc trao đổi hàng hóa Nhưng khi trao đổi hàng hóa mang tính quốc tế thì phương tiện thanh toán lại là ngoại tệ, lúc này nhu cầu là đổi ngoại tệ ra nội tệ và ngược lại đã phát sinh Chính sự phát triển của ngoại thương cũng đã làm hình
thành thị trường ngoại hối Thị trường ngoại hối là thị trường tiền tệ quốc tế,
trong đó một đồng tiền quốc gia này có thể đổi lấy đồng tiền quốc gia khác Mức giá, tại đó hai đồng tiền chuyển đổi được cho nhau gọi là tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái trong từng thời kỳ thì luôn thay đổi, có những lúc cần thiết thì ngân hàng Trung ương phải can thiệp vào tỷ giá hối đoái để ổn định kinh tế và có lợi cho xuất khẩu Thị trường ngoại hối có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy thương mại quốc tế và nền kinh tế thế giới phát triển, thể hiện bản chất của ngoại hối
Trước tiên, ngoại hối là phương tiện mua quốc tế, có thể làm cho lưu thông tiền tệ
giữa các quốc gia trở nên khả thi Cùng với sự phát triển không ngừng của thương mại quốc tế và nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, ngoại hối đã trở thành phương tiện mua quốc tế và được các nước chấp nhận Nếu một nước nắm giữ một lượng lớn ngoại hối thì đồng nghĩa với việc họ đã nắm chắc một số lượng lớn sức mua quốc tế, tức là có thể vận dụng số ngoại hối mà họ nắm giữ để mua vào các loại hàng hóa mà họ cần từ thị trường quốc tế, từ đó chuyển đổi từ sức mua của một nước thành sức mua của nước khác, khiến cho việc chuyển đổi sức mua tiền tệ giữa các nước khác nhau trở nên khả thi, biến thành hiện thực Với vai trò trên, ngoại hối đã mở rộng phạm vi lưu thông hàng hóa giữa các nước trên thế giới
Trang 36Tiếp đó, ngoại hối là công cụ thanh toán quốc tế, có thể tránh sử dụng vàng trong
khi quyết toán quốc tế, tiết kiệm chi phí sản xuất Với vai trò công cụ thanh toán chủ yếu trong thanh toán quốc tế, ngoại hối khiến cho hai bên trong quan hệ thương mại quốc tế có thể mua bán các đồng tiền khác nhau Với vai trò này, ngoại hối đã không chỉ bù đắp những khuyết điểm khi vàng làm công cụ thanh toán là số lượng có hạn, chi phí khai thác và vận chuyển lớn v.v… tíết kiệm được chi phí sản xuất, mà còn rút ngắn được thời gian thanh toán, thúc đẩy sự phát
triển của thương mại quốc tế Tiếp đó, ngoại hối là tài sản dự trữ quốc tế, có thể
bù đắp sự thiếu hụt của cán cân thanh toán quốc tế, hầu hết các nước trên thế giới ngày nay coi ngoại hối là một tài sản dự trữ quan trọng, dùng để điều tiết sự thiếu hụt tạm thời của cán cân thanh toán quốc tế Vì vậy, sự gia tăng thu nhập và dự trữ ngoại hối có tác dụng quan trọng đối với việc nâng cao sức mua của đồng nội tệ, ổn định tỷ giá hối đoái, tăng cường thực lực kinh tế và địa vị của một nước trên trường quốc tế, nâng cao uy tín thanh toán quốc tế v.v… cuối cùng, ngoại hối
là công cụ điều tiết việc thừa thiếu vốn giữa các nước trên thế giới, có thể thúc đẩy
quốc tế hóa tín dụng tiền tệ Do nền kinh tế các nước trên thế giới phát triển không cân bằng, đã nảy sinh nhu cầu khách quan phải điều tiết thừa thiếu vốn Việc thực hiện sự dịch chuyển vốn giữa các nước bắt buộc phải dựa vào công cụ thanh toán này để tiến hành Thông qua các ngân hàng có nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối và qua sự liên kết nghiệp vụ giữa ngân hàng các nước, khiến cho tín dụng ngân hàng trong nước được mở rộng thành tín dụng ngân hàng quốc tế, từ đó thúc đẩy việc quốc tế hóa tín dụng tiền tệ, thuận lợi cho việcï điều chỉnh sự thừa thiếu vốn giữa các nước
Thứ hai: hợp tác về sản xuất và khoa học - kỹ thuật
Hợp tác trong lĩnh vực sản xuất trên cơ sở chuyên môn hóa và hợp tác với các quốc gia, các tổ chức kinh tế quốc tế Nó được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau:
Trang 37- Nhận gia công: là hình thức nhận nguyên vật liệu của nước ngoài về trong nước tiến hành sản xuất tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của đối tác, với hình thức này giúp tận dụng được nguồn lao động trong nước, tạo nhiều việc làm, tận dụng hết công suất của máy móc thiét bị hiện có, góp phần mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài, ổn định tình hình kinh tế - xã hội trong nước
- Xây dựng xí nghiệp chung với sự hùn vốn và công nghệ từ nước ngoài: đó là kiểu tổ chức xí nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ và tổ chức tài chính - tín dụng… về mặt pháp lý, những xí nghiệp này thường được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần
- Hợp tác sản xuất quốc tế trên cơ sở chuyên môn hóa: chuyên môn hóa bao gồm những ngành chuyên môn hóa khác nhau và chuyên môn hóa trong cùng một ngành Hình thức này làm cho cơ cấu ngành của các nước tham gia đan kết vào nhau, phụ thuộc lẫn nhau
Hợp tác về khoa học - kỹ thuật được thực hiện dưới nhiều hình thức như trao đổi tài liệu kỹ thuật và thiết kế, mua bán giấy phép, trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ, phối hợp nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công nhân… đối với các nước lạc hậu về kỹ thuật, vốn đầu tư cho nghiên cứu khoa học - kỹ thuật còn ít, phương tiện vật chất còn thiếu thốn thì việc tham gia hợp tác khoa học - kỹ thuật với nước ngoài rất quan trọng - điều kiện thiết yếu để rút ngắn nhanh khoảng cách với các nước tiên tiến
Thứ ba: đầu tư quốc tế
Đầu tư quốc tế là quá trình trong đó hai hay nhiều bên (có quốc tịch khác nhau) cùng góp vốn để xây dựng và triển khai một dự án đầu tư quốc tế, nhằm
mục đích sinh lợi
Đầu tư quốc tế có tác động hai mặt đối với các nước nhận đầu tư Một mặt làm tăng thêm nguồn vốn, tăng công nghệ mới, nâng cao trình độ quản lý tiên
Trang 38tiến, tạo thêm việc làm, đào tạo tay nghề, khai thác tài nguyên, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, tiếp cận kinh tế thị trường hiện đại trên thế giới Mặt khác, đối với các nước kém phát triển, đầu tư quốc tế cũng có khả năng làm tăng sự phân hóa giữa các giai tầng trong xã hội, giữa các vùng lãnh thổ, làm cạn kiệt tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường sinh thái, tăng tính lệ thuộc vào bên ngoài - những điều bất lợi này cần được tính đến và cân nhắc kỹ trong quá trình xây dựng, thẩm định, ký kết và thực thi dự án nhận đầu tư
Đầu tư quốc tế bao gồm: đầu tư trực tiếp (FDI), đầu tư gián tiếp (FII) Đầu tư trực tiếp (Lênin gọi là xuất khẩu tư bản hoạt động) là hình thức đầu tư mà quyền sở hữu và quyền sử dụng, quản lý vốn của người đầu tư thống nhất với nhau, tức là người có vốn đầu tư trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, quản lý và điều hành dự án đầu tư, chịu trách nhiệm về kết quả, rủi ro trong kinh doanh và thu lợi nhuận Đầu tư trực tiếp có những hình thức như: xây dựng xí nghiệp mới; mua hoặc liên kết với xí nghiệp nước ngoài; hợp tác kinh doanh trên
cơ sở hợp đồng; hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT); hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO); hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT)
Đầu tư gián tiếp (Lênin gọi là xuất khẩu tư bản cho vay) là hình thức đầu
tư mà quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng vốn đầu tư, tức là người có vốn không trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, điều hành dự án mà thu lợi dựa trên hình thức lợi tức (nếu là vốn cho vay) hoặc cổ tức (nếu là vốn cổ phần) Đầu tư gián tiếp với các hình thức như: viện trợ có hoàn lại; viện trợ không hoàn lại; mua các chứng khoán Trong các nguồn vốn đầu tư gián tiếp thì nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có vai trò rất quan trọng vì nó có tỷ trọng lớn và thường đi kèm với điều kiện ưu đãi
Thứ bốn: xuất khẩu lao động
Trang 39Là đưa người lao động từ trong nước sang các nước có nhu cầu sử dụng về
lao động Có nhiều hình thức xuất khẩu lao động: xuất khẩu lao động theo các Hiệp định được ký kết giữa Chính phủ các nước; doanh nghiệp nước xuất khẩu lao động nhận thầu các công trình ở nước ngoài và đưa lao động trong nước ra nước ngoài để thực hiện công trình đó; người lao động thực hiện công việc theo Hợp đồng cung ứng lao động giữa các tổ chức cung ứng lao động (ở nước xuất khẩu lao động) với các chủ sử dụng lao động (ở nước ngoài); lao động tự do di chuyển tự phát
Thứ năm: các hình thức dịch vụ thu ngoại tệ
Hình thức này bao gồm các hoạt động như du lịch quốc tế, giao thông vận tải quốc tế, dịch vụ tài chính chuyển tiền, đổi tiền…
Du lịch quốc tế là một ngành kinh doanh tổng hợp bao gồm các hoạt động tổ chức, hướng dẫn du lịch… nhằm đáp ứng các nhu cầu đi lại, ăn uống, nghỉ ngơi, lưu trú, tham quan… của du khách
Vận tải quốc tế sử dụng các phương thức như đường biển, đường sắt, đường bộ, đường hàng không… sự phát triển của vận tải quốc tế có tác dụng tăng nguồn thu ngoại tệ thông qua vận tải và tiết kiệm chi ngoại tệ do phải thuê vận chuyển khi nhập khẩu hàng hóa
Ngoài những lĩnh vực trên còn có các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ khác như dịch vụ thu bảo hiểm, dịch vụ thông tin bưu điện, dịch vụ kiều hối, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tư vấn
Nhìn chung các hình thức trên ở nước ta mới đang ở giai đoạn hình thành và phát triển bước đầu Chúng được liên kết chặt chẽ với nhau và không ngừng mở rộng theo đà phát triển của quốc gia trong sự phân công lao động quốc tế và
hoạt động kinh tế đối ngoại
Trang 401.1.3 VAI TRÒ CỦA KINH TẾ ĐỐI NGOẠI VÀ TÁC ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
1.1.3.1 Vai trò của kinh tế đối ngoại
° Cầu nối liền giữa sản xuất và lưu thông trong nước với sản xuất, lưu thông khu vực và thế giới
Trong thời đại ngày nay, kinh tế đối ngoại ngày càng trở nên quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Nó đóng vai trò là cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, là đòn bẩy thúc đẩy nền kinh tế trong nước tham gia và trao đổi thương mại quốc tế, là phương thức để lựa chọn tối ưu sự phân công lao động quốc tế trên cơ sở khai thác và phát huy triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước với lợi thế so sánh của các nước
° Thu hút các nguồn lực, kinh nghiệm xây dựng và quản lý nền kinh tế hiện đại rất cần cho các nước đang phát triển đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thông qua kinh tế đối ngoại, mỗi nước có thể thu hút được các nguồn lực khác nhau từ bên ngoài như vốn đầu tư, trình độ khoa học kỹ thuật - công nghệ hiện đại, phương thức quản lý tiên tiến của thế giới, để tạo nhiều việc làm, sử dụng hợp lý tài nguyên nước mình, vì thế không một dân tộc nào không phát triển kinh tế đối ngoại Nói cách khác không một nước nào, nhất là các nước đang phát triển đều phải vận dụng lý thuyết về “cái vòng luẩn quẩn” và “cú huých từ bên ngoài”
Trên thế giới, phần lớn là các nước thuộc nhóm nước đang phát triển tiến hành quá trình công nghiệp hóa đang gặp nhiều khó khăn về vốn Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tranh thủ được nhiều lợi thế để phát triển, mặc dù cũng phải đương đầu với nhiều thách thức Thực tế thời gian qua cho thấy: những nước áp dụng chiến lược công nghiệp hóa “thay thế nhập khẩu” đều không thành công