1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xu hướng phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn TP hồ chí minh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

217 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 217
Dung lượng 2,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm về sự tồn tại lâu dài và khuyến khích phát triển KTTN đã được Đảng ta liên tục khẳng định trong các kỳ Đại hội VII, VIII, IX và được tiếp tục nhấn mạnh trong văn kiện Đại hội l

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

===============

NGUYỄN VĂN SÁNG

XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN

TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh Năm 2009

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

===============

NGUYỄN VĂN SÁNG

XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN

TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Mã số: 62.31.01.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 TS NGUYỄN VĂN CHIỂN

2 TS ĐINH SƠN HÙNG

TP Hồ Chí Minh Năm 2009

Trang 3

LờI CAM ĐOAN

Đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các số liệu sử dụng trong luận án là trung thực Kết luận và những phát hiện liên quan đến nội dung theo tên gọi luận án là của tôi và ch−a từng đ−ợc công bố ở bất kỳ công trình nào khác

Trang 4

ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam á

AFTA: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

NAFTA: Khu vực mậu dịch tự do Bắc mỹ

EU: Liên minh Châu Âu

APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á – Thái Bình Dương ODA: Viện trợ phát triển chính thức

NICs: Các nước công nghiệp mới

BOT: Xây dựng khai thác chuyển giao

BT: Xây dựng chuyển giao

Trang 5

Bảng 1.1: Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước giá thực tế, phân theo

thành phần kinh tế……….24 Bảng 1.2: GDP và cơ cấu GDP giá thực tế, phân theo khu vực kinh tế………….25 Bảng 1.3: Vốn đầu tư phát triển theo thành phần kinh tế ……….26 Bảng 1.4: Dự kiến vốn đầu tư toàn xã hội trong năm 2007……… 27 Bảng 2.1: Vị trí của TP Hồ Chí Minh so với cả nước………63 Bảng 2.2: thống kê số xí nghiệp và lao động ở Sài Gòn và vùng phụ cận

(số liệu năm 1975)……… 70 Bảng 2.3: Sản lượng công nghiệp chế biến của các cơ sở tư nhân Miền Nam… 70 Bảng 2.4: Cơ cấu tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trên địa bàn

TP Hồ Chí Minh giai đoạn 1976- 1986……….73 Bảng 2.5: đầu tư của khu vực dân doanh trên địa bàn TP Hồ Chí Minh giai đoạn

1991-2000……….75 Bảng 2.6: Tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng GDP bình quân trên địa bàn

TP Hồ Chí Minh giai đoạn 1991- 2000……… 78 Bảng 2.7: Tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng GDP và tốc độ tăng GDP bình quân

trên địa bàn TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2001-2005……… 79 Bảng 2.8 : Cơ cấu, tỷ lệ đóng góp và tốc độ tăng GDP năm 2006 phân theo

thành phần kinh tế trên địa bàn TP Hồ Chí Minh……… 79 Bảng 2.9: Tốc độ phát triển sản lượng công nghiệp khu vực ngoài quốc

Doanh……….81 Bảng 2.10: Tỷ trọng và tốc độ tăng sản lượng xây lắp phân theo TPKT…………82 Bảng 2.11: Giá trị và cơ cấu nông, lâm và thuỷ sản theo giá thực tế……… 83 Bảng 2.12: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ……….84

Trang 6

TP Hồ Chí Minh giai đoạn 1996 - tháng 6 đầu năm 2007……… 87 Bảng 2.15: Lao động trong các doanh nghiệp tại thời điểm 31/12 hàng năm

theo khu vực kinh tế và loại hình doanh nghiệp……… 89 Bảng 2.16: Cơ cấu thu ngân sách nhà nước trên địa bàn TP Hồ Chí Minh…… 90 Bảng 2.17: Biến động cơ cấu qui mô vốn các loại hình DN của KTTN

trên địa bàn TP Hồ Chí Minh qua số đăng ký hàng năm……… 95 Bảng 3.1: Các sản phẩm của ngành công nghiệp có lợi thế và lợi thế tương

đương của TP Hồ Chí Minh so với cả nước……… 112 Bảng 3.2: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế của TP Hồ Chí Minh

đến năm 2020……… 131 Bảng 3.3: tốc độ tăng GDP bình quân và cơ cấu GDP qua các giai đoạn trên

địa bàn TP HCM theo thành phần kinh tế……….132

Trang 7

Phần mở đầu……… 1

CHƯƠNG 1 Tổng quan về kinh tế tư nhân và xu hướng phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế……….8

1.1 Kinh tế tư nhân và tính tất yếu khách quan của sự tồn tại, phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN……… 8

1.1.1 Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân……… 8

1.1.1.1 Sở hữu tư nhân……… …… 8

1.1.1.2 Kinh tế tư nhân……… 11

1.1.2 Tính tất yếu khách quan và quan điểm của Đảng ta về sự tồn tại và phát triển kinh tế tư nhân……… 14

1.1.2.1 Tính tất yếu khách quan……….15

1.1.2.2 Quan diểm của Đảng ta về phát triển KTTN……… 16

1.1.3 Đặc điểm, bản chất, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN……… 18

1.1.3.1 Về đặc điểm của KTTN……… 18

1.1.3.2 Về bản chất của KTTN……… 21

1.1.3.3 Về vai trò của KTTN……… 23

1.1.4 Kinh tế tư nhân trong mối quan hệ với các thành phần kinh tế khác……….31

1.1.4.1 Mối quan hệ giữa kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước……… 31

1.1.4.2 Mối quan hệ giữa kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể…32 1.1.4.3 Mối quan hệ giữa kinh tế tư nhân với kinh tế tế có vốn đầu tư nước ngoài……… 33

1.2 Xu hướng phát triển kinh tế tư nhân dưới tác động hội nhập kinh tế quốc tế……….34

1.2.1 Hội nhập kinh tế quốc tế, tính tất yếu của quá trình toàn cầu

Trang 8

tác động của hội nhập kinh tế quốc tế……… 38

1.2.2.1 Những cơ hội……… 38

1.2.2.2.Những thách thức……… 40

1.2.3 Xu hướng phát triển KTTN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế………41

1.2.3.1 Những xu hướng phát triển KTTN……….41

1.2.3.2 Các nhân tố tác động đến xu hướng phát triển KTTN……… 46

1.3 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và bài học cho Việt Nam……… 48

1.3.1 Phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở một số nước trên thế giới……… 48

1.3.1.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản……… 48

1.3.1.2 Kinh nghiệm của Singapore……… 50

1.3.1.3 Kinh nghiệm của Philippin……… 52

1.3.1.4 Kinh nghiệm của Trung Quốc……….53

1.3.2 Bài học kinh nghiệm về phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cho Việt Nam……… 56

Kết Luận Chương 1……… 60

CHƯƠNG 2 Thực trạng xu hướng phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế………61

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội tác động đến phát triển KTTN trên địa bàn TPHồ Chí Minh……….61

2.1.1 Về đặc điểm tự nhiên……….61

2.1.2 Về đặc điểm kinh tế ……… 63

Trang 9

qua các thời kỳ……… 68

2.2.1 Giai đoạn trước năm 1975……… 68

2.2.2 Giai đoạn 1975 - 1986……… 71

2.2.3 Giai đoạn 1986 – 2000………74

2.2.4 Giai đoạn 2000 đến nay……….……… 76

2.3 Những đóng góp và khó khăn, hạn chế của kinh tế tư nhân trên địa bàn TP Hồ Chí Minh qua thực trạng xu hướng phát triển và những vấn đề đặt ra……… 78

2.3.1 Những đóng góp của KTTN đối với tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn TP Hồ Chí Minh trong phát triển và hội nhập……… 78

2.3.2 Những khó khăn, hạn chế của KTTN trên địa bàn TP Hồ Chí Minh trong phát triển và hội nhập……… 92

2.3.3 Những vấn đề đặt ra từ thực trạng xu hướng phát triển KTTN trên địa bàn TP Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế……… 99

Kết Luận Chương 2……….108

CHƯƠNG 3 Xu hướng và giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn TP Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế……… 109

3.1 Dự báo xu hướng phát triển của KTTN TP Hồ Chí Minh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế………109

3.1.1 Nội dung các xu hướng phát triển KTTN trên địa bàn TP HCM trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế………… 109

3.1.1.1 Xu hướng đầu tư……… 109

3.1.1.2 Xu hướng liên kết, hợp tác……….115

Trang 10

3.1.2 Những nhân tố tác động đến việc hình thành xu hướng

phát triển KTTN trên địa bàn TP HCM trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế……….120 3.1.3 Dự báo về hệ quả kinh tế - xã hội của sự hình thành các

xu hướng phát triển KTTN địa bàn TP HCM……….124

3.2 Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển KTTN trên địa bàn

TP HCM trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế……… 127

3.2.1 Quan điểm phát triển KTTN trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

trong quá trình hội nhập……….127 3.2.2 Mục tiêu phát triển KTTN trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

trong quá trình hội nhập……….130 3.2.3 Định hướng phát triển KTTN trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

trong quá trình hội nhập……… 132

3.3 Những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn

TP HCM trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế……… 135

3.3.1 Nhóm giải pháp về đổi mới nhận thức, hoàn thiện

môi trường pháp lý và nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với KTTN……….135 3.3.1.1 Đổi mới nhận thức hoàn thiện môi trường pháp lý

đối với KTTN……….135 3.3.1.2 Điều chỉnh việc phân loại thành phần kinh tế gắn

với công tác thống kê……….137 3.3.1.3 Nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý Nhà nước đối

với KTTN ……… 138 3.3.2 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách hỗ trợ thúc đẩy KTTN

phát triển và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế……… 140 3.3.2.1 Tháo gỡ những khó khăn về đất đai và mặt bằng

sản xuất kinh doanh……… 140

Trang 11

dụng……… 144

3.3.2.3 Hoàn thiện chính sách thuế ……… 148

3.3.2.4 Đổi mới hoàn thiện chính sách hỗ trợ nâng cao năng lực khoa học - công nghệ……… 150

3.3.2.5 Đẩy mạnh chương trình hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực đối với KTTN……… 154

3.3.2.6 Tăng cường công tác hỗ trợ thông tin và xúc tiến thương mại……… 157

3.3.2.7 Thúc đẩy hỗ trợ KTTN hội nhập kinh tế quốc tế…… 159

3.3.3 Nhóm giải pháp về phát huy nội lực của KTTN trong tiến trình hội nhập……… 163

3.3.3.1 Xây dựng và điều chỉnh chiến lược kinh doanh phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế……….163

3.3.3.2 Đổi mới nâng cao trình độ thiết bị, công nghệ……… 164

3.3.3.3 Bồi dưỡng nâng cao trình độ nguồn nhân lực…………165

3.3.3.4 Xây dựng chiến lược về sở hữu công nghiệp………….165

3.3.3.5 Nghiên cứu lựa chọn mô hình tổ chức doanh nghiệp phù hợp……… 166

3.3.3.6 Tăng cường liên kết, hợp tác với các thành phần kinh tế khác………166

3.3.3.7 Chú trọng xây dựng văn hóa doanh nghiệp, doanh nhân……….167

Kết luận chương 3……… 168

KIếN NGHị 169

KếT LUậN 177 TàI LIệU THAM KHảO

PHụ LụC

Trang 12

PHầN Mở ĐầU

1 Lý do chọn đề tài

Một trong những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới hơn 20 năm qua ở nước ta là đã hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, với các khu vực kinh tế khác nhau ngày càng phát triển năng động Trong đó, khu vực mới nổi và năng động nhất là khu vực KTTN Sự ra đời và phát triển của KTTN

đã tạo nên luồng gió mới, góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội, hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Tuy nhiên, trên bước đường phát triển, KTTN cả nước nói chung và trên địa bàn TP HCM nói riêng phải đối mặt với nhiều khó khăn đặc biệt là dưới tác động của hội nhập kinh tế quốc tế Để KTTN TP HCM trở thành động lực tăng trưởng thực

sự cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế thành công, đòi hỏi phải có những dự báo khoa học về xu hướng phát triển KTTN trên các mặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, từ đó tìm ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trước những thách thức to lớn của quá trình hội nhập

Để góp phần làm sáng tỏ những đòi hỏi đó của thực tiễn, tác giả chọn đề

tài “Xu hướng phát triển KTTN trên địa bàn TP HCM trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” làm chủ đề nghiên cứu của luận án

2 Tính cấp thiết của đề tài

Đường lối đổi mới được Đảng ta khởi xướng kể từ Đại hội VI, với chủ trương thực hiện nhất quán phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, đã tạo nên sự chuyển biến cơ bản, toàn diện với những thành tựu to lớn Mô hình kinh tế mà Việt Nam lựa chọn là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Theo đó, nếu không có kinh tế nhà nước sẽ không có định hướng XHCN, nhưng nếu không có KTTN, cũng sẽ không có kinh tế thị trường Chính vì thế mà phát triển kinh tế nhiều thành phần nói chung và phát triển KTTN nói riêng là một trong những nội dung quan trọng của đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và nhà nước

Vai trò của khu vực KTTN ở Việt Nam đã thật sự được thừa nhận kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới, với chủ trương đó KTTN đã đóng góp ngày

Trang 13

càng nhiều vào kết quả phát triển chung của nền kinh tế Luật doanh nghiệp có hiệu lực từ năm 2000 đã tạo ra sự phát triển có tính nhảy vọt của KTTN, sau 5 năm thực hiện, số doanh nghiệp đăng ký mới đạt gần 110 nghìn, cao gấp hơn 2,4 lần so với thời kỳ 1991- 1999 Năm 2005 khu vực KTTN đã chiếm 38,5% GDP

Tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp khu vực KTTN luôn luôn cao hơn gấp rưỡi, gấp đôi tốc độ tăng chung của nền kinh tế cũng như cao hơn tốc

độ tăng của các khu vực khác Khu vực KTTN cũng chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động đang làm việc (88,8%) Khu vực KTTN cũng đã chiếm gần 1/3 tổng vốn đầu tư toàn xã hội Riêng trong năm 2006 khu vực KTTN đã chiếm hơn một nửa GDP của cả nước Trong hơn một thập kỷ qua, sự tăng trưởng của khu vực KTTN là một trong những nhân tố quan trọng đối với sự phát triển chung của kinh tế cả nước

Quan điểm về sự tồn tại lâu dài và khuyến khích phát triển KTTN đã

được Đảng ta liên tục khẳng định trong các kỳ Đại hội VII, VIII, IX và được tiếp tục nhấn mạnh trong văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng: “… xóa bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp của tư nhân phát triển không hạn chế về qui mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng của nền kinh

tế mà luật pháp không cấm… kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế…” Với sự khẳng định đó, Quan điểm phát triển KTTN của Đảng đã thật sự giải phóng tiềm năng, nguồn lực trong toàn xã hội, huy động rộng rãi các yếu tố sản xuất ở mỗi vùng, địa phương nhằm đẩy mạnh sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Là một bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, TP HCM có một vị trí đặc biệt quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đồng thời là địa phương có KTTN lớn nhất cả nước về số lượng doanh nghiệp cũng như qui mô

đầu tư KTTN trên địa bàn TP HCM có truyền thống năng động trong sản xuất

- kinh doanh, có những lợi thế nhất định trong việc tiếp cận và giao thương

Trang 14

quốc tế Trong những năm vừa qua, KTTN trên địa bàn TP HCM đã có những

đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung của thành phố, đóng góp khoảng 42% GDP của TP, giải quyết 80% tổng số lao động, góp phần đáng kể vào thu ngân sách trên địa bàn

Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp to lớn đó, KTTN TP HCM vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế, và bộc lộ những yếu kém đặc biệt là trước áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cụ thể là:

- Qui mô còn nhỏ bé, hiệu quả sản xuất và khả năng cạnh tranh còn thấp Môi trường kinh doanh còn nhiều bất cập, khả năng tiếp cận những nguồn lực để phát triển còn hạn chế

- Chưa đánh giá đúng những thách thức, cũng như chưa tận dụng tốt những thời cơ khi Việt Nam đã là thành viên của WTO

- Cơ cấu đầu tư trên các lĩnh vực ngành nghề chưa thật sự gắn kết với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Những vấn đề trên cần thiết phải có sự nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng, chỉ ra xu hướng phát triển của KTTN trên địa bàn TP HCM trong tiến trình hội nhập Trên cơ sở đó tìm ra phương hướng, giải pháp thích hợp và khả thi, kiến nghị những chính sách hỗ trợ phát triển để phát huy vai trò của KTTN

TP HCM, đồng thời thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế một cách hiệu quả theo những mục tiêu đã định

3 Tình hình nghiên cứu về đề tài

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố đề cập về

sự tồn tại khách quan, vai trò vị trí, những giải pháp để phát triển KTTN trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà

đề tài này tham khảo và kế thừa như :

- GS-TS Nguyễn Thanh Tuyền, PGS-TS Nguyễn Quốc Tế, TS Lương

Minh Cừ (đồng chủ biên), Sở hữu tư nhân và KTTN trong nền kinh tế thị

trường định hướng XHCN ở Việt Nam Trong tác phẩm này các tác giả đã phân

tích sâu sắc những luận cứ khoa học về sự tồn tại khách quan của sở hữu tư

Trang 15

nhân và KTTN cùng những giải pháp phát triển trong nền kinh tế thị trường

định hướng XHCN

- Đinh Thị Thơm (chủ biên), Kinh tế tư nhân Việt Nam sau hai thập kỷ

đổi mới thực trạng và những vấn đề Nội dung chủ yếu nhấn mạnh đến quá

trình tồn tại và phát triển KTTN ở Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới cùng với việc phân tích những thành tựu đạt được, những yếu kém cần khắc phục

- PGS-TS Trịnh Thị Hoa Mai , Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình

hội nhập Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã phân tích đánh giá vai trò

của khu vực KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN gắn với tiến trình hội nhập, đồng thời đề xuất những giải pháp phát triển KTTN Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế

- Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia - Viện thông tin khoa

học xã hội, Kinh tế tư nhân trong giai đoạn toàn cầu hóa hiện nay Trên cơ sở

phân tích những đặc điểm của toàn cầu hóa, các tác giả của cuốn sách đã chỉ ra những thay đổi trong nhận thức về KTTN và phát triển KTTN trong giai đoạn toàn cầu hóa

- TS Nguyễn Minh Phong (chủ biên), Phát triển Kinh tế tư nhân ở Hà

Nội Trong tác phẩm này các tác giả đã phân tích đặc điểm, thực trạng và

những vấn đề đặt ra trong phát triển KTTN ở Hà Nội, những quan điểm và giải pháp có tính đặc thù cho sự phát triển KTTN ở Hà Nội

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, chủ nhiệm: PGS-TS Hồ Trọng

Viện, Quản lý nhà nước đối với Kinh tế tư nhân trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

Công trình nghiên cứu này đề cập đến thực trạng quản lý nhà nước đối với KTTN trên địa bàn TP HCM, chỉ ra những bất cập và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với KTTN trên địa bàn TP HCM

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, chủ nhiệm: TS Nguyễn Minh

Tuấn, Vai trò, thực trạng và giải pháp phát triển Kinh tế tư nhân trên địa bàn

TP Hồ Chí Minh Trong công trình này các tác giả phân tích, đánh giá những

đóng góp của KTTN vào phát triển kinh tế – xã hội của TP HCM, những khó

Trang 16

khăn hạn chế trong quá trình phát triển đồng thời chỉ ra giải pháp nhằm thúc

đẩy sự phát triển KTTN trên địa bàn TP HCM

- Hội thảo khoa học, Các giải pháp khuyến khích và phát triển Kinh tế

tư nhân trên địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam UBND TP HCM - ĐHQG

TP HCM - Khoa kinh tế Các tác giả chủ yếu đề cập đến vị trí vai trò của KTTN đối với sự phát triển kinh tế trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, phân tích tính đặc thù của KTTN trên địa bàn này

UBND TP Hồ Chí Minh, Định hướng và mục tiêu qui hoạch phát triển

kinh tế- xã hội TP HCM đến năm 2020, TP HCM tháng 6/2006 Nội dung

đánh giá, phân tích một cách toàn diện quá trình phát triển kinh tế- xã hội TP HCM giai đoạn 1991- 2005; Nêu những định hướng, mục tiêu qui hoạch phát triển kinh tế- xã hội và đưa ra những chính sách, giải pháp phát triển TP HCM

đến năm 2020

Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn

diện về xu hướng phát triển Kinh tế tư nhân trên địa bàn TP HCM trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Nội dung nghiên cứu trong luận án là dự

báo xu hướng phát triển của KTTN trên một địa bàn cụ thể là TP HCM dưới tác động của hội nhập kinh tế quốc tế, nhằm làm rõ những tác động có tính

khách quan, đối với sự phát triển KTTN trên địa bàn TP HCM và tìm ra những giải pháp thúc đẩy phát triển KTTN hội nhập kinh tế quốc tế thành công

4 Mục tiêu của đề tài

- Xây dựng khung lý luận của đề tài, bao gồm làm rõ các vấn đề về KTTN ( khái niệm, đặc điểm, vai trò, bản chất ) và xu hướng phát triển KTTN

- Phân tích, đánh giá thực trạng xu hướng phát triển KTTN trên địa bàn

Trang 17

nền kinh tế thế giới, nhằm tạo điều kiện cho KTTN TP HCM hội nhập kinh tế quốc tế thành công

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Chủ đề “Kinh tế tư nhân trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế…” có một phạm vi rộng lớn, sâu sắc cả về mặt nhận thức lý luận lẫn phạm vi thực tiễn cần khảo sát, phân tích Tuy nhiên, do khả năng, điều kiện nghiên cứu có hạn, trong đề tài này, tác giả xin giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng khảo sát, phân tích là những doanh nghiệp khu vực tư nhân trong giai đoạn 1986 – 2007 đặc biệt là sau khi luật doanh nghiệp ra đời với loại hình tổ chức sản xuất - kinh doanh: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty

cổ phần, doanh nghiệp tư nhân hoạt động trên địa bàn TP HCM thuộc các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, đơn vị KTTN là các ngân hàng, công

ty tài chính, quĩ đầu tư hoạt động theo luật tín dụng, công ty bảo hiểm hoạt

động theo qui định riêng về bảo hiểm… Không đi sâu vào nghiên cứu hộ sản xuất kinh doanh cá thể

- Góc độ nghiên cứu, xem xét chú trọng về khả năng cạnh tranh, mức độ sẵn sàng hội nhập kinh tế quốc tế, những mô hình liên kết mới trong quá trình hội nhập, xu hướng vận động và phát triển trong hội nhập kinh tế quốc tế… nhằm tìm ra giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc

tế của KTTN trên địa bàn TP HCM

6 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài các phương pháp nghiên cứu phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin như duy vật biện chứng, trừu tượng hóa khoa học, phương pháp logic kết hợp với lịch sử bên cạnh đó các phương pháp dự báo, phương pháp so sánh đối chiếu cũng được tác giả sử dụng khi thực hiện đề tài

Đề tài chú trọng sử dụng phương pháp thống kê trên cơ sở mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu, từ đó đề ra các tiêu thức thống kê phù hợp, tiến hành phân tích số liệu thứ cấp và tổng hợp số liệu thống kê thông qua các bảng số

liệu

7 Những điểm mới về mặt khoa học của luận án

Trang 18

- Phân tích xu hướng phát triển KTTN nói chung và xu hướng phát triển KTTN trên địa bàn TP HCM nói riêng

- Dự báo xu hướng phát triển của KTTN trên địa bàn TP HCM gắn với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trên các mặt: xu hướng đầu tư, xu hướng liên kết sáp nhập, xu hướng mở rộng đầu tư và tìm kiếm thị trường quốc tế, vai trò mới của các hiệp hội ngành nghề, văn hóa doanh nghiệp, doanh nhân trong thời kỳ hội nhập…

- Dự báo những tác động về mặt kinh tế - xã hội từ những xu hướng phát triển KTTN trên địa bàn TP HCM

- Đưa ra những giải pháp thực hiện thành công hội nhập kinh tế quốc tế của KTTN trên địa bàn TP HCM, từ đó đề xuất những kiến nghị đối với chính phủ và chính quyền TP HCM

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kiến nghị, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội dung chính của đề tài được trình bày qua 3 chương:

Chương 1 Tổng quan về KTTN và xu hướng phát triển KTTN trong quá trình

hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 2 Thực trạng xu hướng phát triển KTTN trên địa bàn TP HCM trong

quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 3 Dự báo xu hướng và giải pháp chủ yếu phát triển KTTN trên địa

bàn TP HCM trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 19

CHƯƠNG 1 TổNG QUAN Về KINH Tế TƯ NHÂN

Và xu hướng phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình HộI NHậP KINH Tế QUốC Tế

1.1 Kinh tế tư nhân và tính tất yếu khách quan của sự tồn tại, phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN :

1.1.1 Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân:

1.1.1.1 Sở hữu tư nhân:

Sở hữu là một phạm trù kinh tế vừa có tính chất xuất phát điểm vừa cơ bản của kinh tế chính trị học Nếu chiếm hữu là hoạt động có tính tự nhiên của con người nhằm khai phá và chinh phục thiên nhiên để tạo ra của cải, thì sở hữu là hình thức xã hội của chiếm hữu “Sở hữu, hình thức chiếm hữu của cải vật chất do lịch sử qui định, trong đó thể hiện quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất xã hội ”.[10, Tr 507] có thể hiểu phạm trù sở hữu qua cách diễn đạt như sau:

Sở hữu là quan hệ giữa người và người trong việc chiếm hữu của cải, sự phát triển của các hình thức sở hữu là do sự phát triển của lực lượng sản xuất qui định Nội dung của sở hữu luôn được xét trên hai mối quan hệ: quan hệ

giữa chủ thể sở hữu với đối tượng sở hữu và quan hệ người với người trong quá trình sản xuất

Về mối quan hệ thứ nhất, chủ thể sở hữu chủ yếu tồn tại trên hai loại hình: một cá nhân (tư hữu) hoặc nhiều người (công hữu); còn đối tượng sở hữu bao gồm những sản phẩm vật chất, phi vật chất, tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng… trong đó sở hữu tư liệu sản xuất là có ý nghĩa hơn cả Mối quan hệ này

được thể hiện thông qua quyền lực của chủ thể đối với đối tượng sở hữu và

được luật hóa thành quyền sở hữu ở đây chủ sở hữu thường phải có các quyền căn bản như: quyền sử dụng, quyền hưởng lợi, quyền định đoạt, quyền thừa

kế… những mối quan hệ này cũng chính là nội dung pháp lý của vấn đề sở

hữu

Trang 20

Về mối quan hệ thứ hai, đó là mối quan hệ giữa các giai cấp, các tập

đoàn người trong hệ thống sản xuất xã hội Mối quan hệ này khẳng định đối tượng sở hữu, đặc biệt là tư liệu sản xuất, thuộc về ai, từ mối quan hệ đó qui

định các hình thức phân phối và quản lý tài sản, sản phẩm, thu nhập, giá trị

giữa họ, mối quan hệ này được biểu hiện thành nội dung kinh tế của phạm trù

sở hữu

Phạm trù sở hữu khi được luật hóa thành quyền sở hữu và quyền sở hữu

được thực hiện thông qua một cơ chế nhất định nào đó thì được gọi là chế độ

sở hữu Vấn đề cơ bản nhất của chế độ kinh tế - xã hội cũng chính là chế độ sở

hữu Vì vậy một khi vấn đề sở hữu được giải quyết một cách đúng đắn mới có căn cứ để giải quyết các vấn đề lợi ích, pháp quyền và xã hội

Loại hình sở hữu là kiểu sở hữu đặc trưng, qui định bản chất của sở hữu, gắn với một phương thức sản xuất nhất định Khi khái quát toàn bộ lịch sử ra

đời và phát triển các phương thức sản xuất, các nhà kinh điển Mác- Lênin đã qui lại thành hai loại hình sở hữu cơ bản gắn với hai chế độ sở hữu: chế độ công hữu và chế độ tư hữu Trong mỗi loại hình sở hữu lại bao gồm nhiều hình thức sở hữu biểu hiện những hình thức, kiểu tổ chức sản xuất nhất định phản

ánh những trình độ sản xuất khác nhau do lực lượng sản xuất qui định

Lịch sử xã hội loài người đã chứng kiến sự thay thế các hình thái kinh tế

- xã hội khác nhau tương ứng với sự thay đổi các chế độ và hình thức sở hữu khác nhau và mỗi hình thái kinh tế - xã hội sẽ có một hình thức sở hữu đặc trưng giữ vị trí thống trị Cho đến nay chủ nghĩa Mác-lênin đã chứng minh xã hội loài người lần lượt trải qua năm hình thái kinh tế – xã hội khác nhau và có năm hình thức sở hữu đặc trưng cho năm hình thái kinh tế - xã hội đó là: sở hữu cộng sản nguyên thủy, sở hữu nô lệ, sở hữu phong kiến, sở hữu tư bản và

sở hữu cộng sản Lẽ dĩ nhiên xã hội loài người không chỉ có năm hình thức sở hữu, ví dụ sở hữu hỗn hợp tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế – xã hội khác nhau Từ đó có thể thấy rằng các hình thức sở hữu luôn vận động và phát triển, không cố định về số lượng

Trang 21

Trong những năm trước đổi mới chúng ta đã từng coi việc xác lập công hữu là mục tiêu, vì thế đã nôn nóng xóa bỏ tư hữu và phát triển chế độ công hữu để sớm có CNXH Những năm gần đây không ít người lại coi sở hữu là phương tiện Thực tiễn những năm đổi mới vừa qua đã cho thấy những quan niệm trên là sai lầm Quan điểm của Đảng ta hiện nay là “coi sở hữu vừa là mục tiêu vừa là phương tiện Bởi vì sở hữu nói riêng, quan hệ sản xuất nói chung không chỉ đơn giản như phương tiện thông thường có thể thay đổi tùy tiện phương tiện này bằng phương tiện khác, mà là một bộ phận cấu thành hữu cơ của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Chủ nghĩa xã hội có những đặc trưng riêng về sở hữu, những quan hệ sản xuất và phân phối nảy sinh từ chế độ

sở hữu đó ” [26, Tr 79] Trong xã hội ngày nay, phần lớn các quan điểm đều cho rằng: mặc dù rất phong phú, đa dạng, nhưng trên thực tế chỉ tồn tại ba hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân và sở hữu hỗn hợp ở nước ta, Văn kiện Đại hội X của Đảng xác định: “trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” [29, Tr 83]

Nhận thức được tính đa dạng, phong phú của sở hữu và tìm cách vận dụng chúng là đòn bẩy quan trọng để mở đường thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy kinh tế phát triển Bản chất của sở hữu trong CNXH là góp phần giải phóng mọi năng lực sản xuất, là phát triển lực lượng sản xuất và không ngừng nâng cao đời sống người dân Trong công cuộc đổi mới hiện nay, việc nhận thức sở hữu theo tư duy mới là vấn đề quan trọng để phát huy bản chất, vai trò động lực của sở hữu trong quá trình xây dựng CNXH [92, Tr 23]

Theo điều 211 Bộ luật dân sự nước cộng hòa XHCN Việt Nam (năm

2005) thì sở hữu tư nhân là sở hữu cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình

Sở hữu tư nhân bao gồm: sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân

Theo khái niệm trên thì sở hữu tư nhân được hiểu là: sở hữu các tư liệu tiêu dùng cá nhân thường được coi là sở hữu cá nhân và sở hữu tư liệu sản xuất

Trang 22

thường được hiểu là sở hữu tư nhân Khái niệm này mang tính khái quát cao đã khắc phục được tính cực đoan quan niệm truyền thống của CNXH cho rằng sở hữu tư nhân là gắn liền với sở hữu tư bản tư nhân Thực tế cho thấy: rất khó có thể phân biệt giữa sở hữu cá thể, tiểu chủ và sở hữu tư bản tư nhân, về lý luận chúng có cùng một nội dung sở hữu đó là sở hữu tư nhân

Theo quan niệm cũ, khái niệm sở hữu tư nhân thường khó chấp nhận hơn sở hữu cá nhân, điều này bắt nguồn từ hệ tư tưởng truyền thống Tuy nhiên các nhà kinh tế học thường cho rằng chính khái niệm sở hữu tư nhân mới là hiện thực, là vì nó có ảnh hưởng thực sự đến hoạt động sản xuất - kinh doanh nói chung Trong khi đó sở hữu cá nhân đặc trưng cho tiêu dùng cá nhân, là hình thức sở hữu đơn sơ chưa có tác dụng nhiều đến thúc đẩy sản xuất

Xét về nguồn gốc lịch sử, sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu lâu đời qua nhiều phương thức sản xuất Kể từ khi xuất hiện xã hội có giai cấp thì sở hữu tư nhân là động lực lớn lao để phát triển sản xuất Thực tiễn đã cho thấy trong một thời gian ngắn, cùng với sở hữu tư nhân và KTTN, loài người đã có những bước tiến to lớn về thành tựu kinh tế Cho đến ngày nay, những động lực do sở hữu tư nhân tạo ra vẫn còn phát huy mạnh mẽ vai trò của nó

Như vậy, sở hữu tư nhân là quan hệ sở hữu xác nhận quyền hợp pháp

của tư nhân trong việc chiếm hữu, quyết định cách thức tổ chức sản xuất- kinh doanh, chi phối và hưởng lợi từ kết quả của quá trình sản xuất-kinh doanh đó

Sở hữu tư nhân về quá trình sản xuất là cơ sở ra đời KTTN

1.1.1.2 Kinh tế tư nhân: Trên thực tế tùy thuộc vào cách tiếp cận mà có

những cách hiểu dẫn đến những khái niệm khác nhau về KTTN

ở các nền kinh tế thị trường phát triển, mọi hoạt động kinh tế nếu không thuộc khu vực công đều được coi là khu vực KTTN

ở Trung Quốc khu vực KTTN cùng lúc được hiểu là :

- Khu vực phi nhà nước: bao gồm tất cả các đối tượng không thuộc sở

hữu nhà nước, cả trong công nghiệp và nông nghiệp

- Khu vực phi nhà nước, phi nông nghiệp: gồm các đối tượng không

thuộc sở hữu nhà nước nhưng loại trừ lĩnh vực nông nghiệp

Trang 23

- Khu vực tư nhân: bao gồm các đối tượng không thuộc sở hữu nhà nước

nhưng loại trừ các doanh nghiệp tập thể

-Khu vực tư nhân trong nước: bao gồm các đối tượng không thuộc sở

hữu nhà nước nhưng loại trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Doanh nghiệp tư nhân: bao gồm các đối tượng không thuộc sở hữu nhà

đó doanh nghiệp tư nhân lại không được coi là một “loại hình sở hữu ”, mặc dù nhiều chỉ tiêu thống kê của khu vực này lớn hơn hộ cá thể rất nhiều [102, Tr18]

Theo Kornai Janos nhà kinh tế học người Hungary, tác giả của cuốn

sách Con đường dẫn tới nền kinh tế thị trường, thì khu vực KTTN là những gì

thuộc về: kinh tế hộ gia đình, xí nghiệp tư nhân chính thức, xí nghiệp tư nhân phi chính thức hoạt động như một đơn vị “kinh tế ẩn” và thậm chí bất kể sử dụng tài sản của tư nhân vào việc hữu ích nào [40, Tr 20]

ở Việt Nam cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về KTTN:

- Theo nghĩa rộng, khu vực KTTN là khu vực dân doanh bao gồm các doanh nghiệp của tư nhân trong nước, kể cả các hợp tác xã nông nghiệp, các doanh nghiệp phi nông nghiệp và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức liên doanh hay 100% vốn Cách hiểu trên sẽ đánh giá tương đối chính xác tiềm năng của khu vực KTTN, tuy nhiên thường gặp khó khăn trong

Trang 24

thống kê, khi không phân biệt được phần vốn góp của nhà nước trong các liên doanh cũng như các công ty cổ phần mà nhà nước góp vốn

- Theo nghĩa hẹp, khu vực KTTN là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, nhưng không bao gồm khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (số liệu thống kê thường theo cách phân loại này khi phân chia nền kinh tế thành ba khu vực: kinh tế quốc doanh, kinh tế ngoài quốc doanh và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài)

Ngoài ra còn có quan điểm cho rằng KTTN là kinh tế ngoài quốc doanh nhưng không bao gồm kinh tế tập thể…

- Theo quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về KTTN được thể hiện trong hội nghị lần thứ năm khóa IX tháng 03-2002 thì : “ kinh tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân…’’ [6, Tr 24] Tiếp tục thể hiện rõ nét quan điểm về KTTN, văn kiện Đại Hội X chỉ rõ: “nền kinh tế nước ta cùng lúc tồn tại nhiều hình thức sở hữu, trên cơ sở đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài’’ [29, Tr 83]

Từ những cách hiểu trên và sự tiếp cận quan điểm của Đảng về KTTN,

có thể đi đến một nhận thức về KTTN như sau: KTTN là thành phần kinh tế

dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân

Các loại hình kinh doanh của KTTN đều có điểm chung là dựa trên sở hữu tư nhân, nhưng có sự khác nhau về trình độ sản xuất kinh doanh Theo quan điểm hiện hành ở nước ta KTTN có hai loại hình sau:

- Một là, kinh tế cá thể, tiểu chủ: bao gồm những đơn vị kinh tế hoạt

động trên cơ sở tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, với qui mô nhỏ hơn các loại hình doanh nghiệp của tư nhân, chủ yếu sử dụng lao động trong gia đình, là

đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả

Trang 25

tài chính của mình [99, Tr 26] Kinh tế cá thể, tiểu chủ tồn tại độc lập dưới các hình thức: xưởng thợ gia đình, hộ kinh doanh thương mại, dịch vụ, hộ làm kinh

tế trang trại, hộ sản xuất nông nghiệp hoặc tham gia liên doanh, liên kết với các loại hình kinh tế khác

- Hai là, kinh tế tư bản tư nhân gồm những đơn vị kinh tế hoạt động trên

cơ sở tư hữu lớn về tư liệu sản xuất với qui mô lớn hơn cá thể, tiểu chủ, có thuê mướn lao động Kinh tế tư bản tư nhân tồn tại dưới các loại hình doanh nghiệp như: doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh Trên thực tế, việc phân định ranh giới giữa kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân ở nước ta hiện nay là không đơn giản, bởi sự vận động biến đổi và phát triển không ngừng của chúng Theo luật Doanh nghiệp Việt Nam ban hành năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 01-07-2006, các loại hình doanh nghiệp được phân biệt như sau:

- Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự

chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp

- Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp, trong đó thành viên

chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp

- Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia nhỏ

thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, cổ đông góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp

- Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên

hợp danh Ngoài hai thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn Thành viên hợp danh là cá nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình

về các nghĩa vụ của công ty Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty

1.1.2 Tính tất yếu khách quan và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về sự tồn tại và phát triển kinh tế tư nhân:

Trang 26

1.1.2.1 Tính tất yếu khách quan:

Sự tồn tại và phát triển KTTN ở nước ta hiện nay, là một tất yếu khách quan, phù hợp với qui luật xuất phát từ những luận cứ sau đây:

Một là: Do yêu cầu của qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính

chất và trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay trình độ lực lượng sản xuất còn lạc hậu, kém phát triển, không đồng đều giữa các ngành, các vùng và trong nội bộ từng vùng Vì vậy không thể có ngay từ đầu một kiểu quan hệ sản xuất thống trị, thuần nhất trên cơ sở công hữu Do đó, việc duy trì một hệ thống sở hữu đa dạng trong đó có sở hữu tư nhân để từ đó hình thành KTTN là một tất yếu, phù hợp với qui luật kinh tế khách quan, với trình độ lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay

Hai là: Đặc điểm cơ bản của thời kỳ quá độ là có sự đan xen và tồn tại

lâu dài giữa các hình thức kinh tế cũ, tư hữu, với các hình thức kinh tế mới, công hữu, trong đó KTTN là một bộ phận quan trọng, là một nhân tố không thể thiếu của nền kinh tế quá độ K.Marx đã chỉ rõ: “ không một chế độ nào, xã hội nào bị diệt vong khi tất cả những lực lượng sản xuất mà chế độ đó tạo

địa bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn còn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, tồn tại vật chất của những quan hệ đó còn chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ Cho nên nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ mà nó có thể giải quyết được’’ [51,Tr 638]

Ba là: thực tiễn xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng

XHCN cho thấy: kinh tế thị trường sẽ và chỉ phát triển lành mạnh trên cơ sở

đẩy mạnh phân công lao động xã hội, thừa nhận và tạo điều kiện môi trường phát triển KTTN, qua đó tạo ra khả năng to lớn trong việc huy động tiềm lực vật chất và tinh thần cho phát triển kinh tế Các thành phần kinh tế trong đó có KTTN sẽ cung cấp ngày càng nhiều các sản phẩm phong phú về chủng loại, đa dạng về mẫu mã, nâng cao về chất lượng, giá cả phù hợp với khả năng người tiêu dùng, tạo động lực cho các doanh nghiệp nâng cao trách nhiệm đối với sản phẩm của mình khi đáp ứng nhu cầu xã hội

Trang 27

Bốn là: trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường gắn với bối cảnh hội

nhập kinh tế quốc tế, KTTN là lực lượng quan trọng góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại Phát triển KTTN sẽ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, đồng thời khắc phục tình trạng độc quyền trong một số ngành lĩnh vực chỉ có kinh tế nhà nước tham gia, có lợi cho công cuộc đổi mới nền kinh tế

1.1.2.2 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về phát triển KTTN:

Việc hình thành và đổi mới tư duy về KTTN của Đảng ta trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN càng khẳng định tính tất yếu khách quan về sự tồn tại của khu vực này trong nền kinh tế

Lênin đã từng chỉ rõ trong chính sách kinh tế mới rằng, ở các nước quá

độ lên CNXH cần phải: phát triển kinh tế hàng hóa và xây dựng nền kinh tế

nhiều thành phần, bao gồm cả kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế XHCN Cũng theo Lênin, một cơ chế kết hợp sức mạnh kinh tế của CNTB với sức mạnh chính trị của nhà nước Xô Viết, hướng sự kết hợp vào những mục tiêu XHCN do nhà nước Xô Viết đề ra sẽ

có lợi cho công cuộc xây dựng CNXH

Do những nhận thức đơn giản về mô hình XHCN nên trước đổi mới

Đảng ta đã chủ trương xây dựng CNXH bằng những cải biến trong quan hệ sản xuất trên cơ sở: xóa bỏ tư hữu, thiết lập công hữu KTTN được xem là đối tượng cần phải cải tạo, xóa bỏ Đường lối kinh tế mang nặng tính chủ quan, nóng vội muốn xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần để có ngay CNXH một cách duy ý chí, không tôn trọng qui luật khách quan đã triệt tiêu động lực sản xuất Với môi trường như vậy, nên trước đổi mới, KTTN hầu như bị xóa

sổ, một bộ phận rất nhỏ hoạt động dưới hình thức “kinh tế ngầm’’ chờ cơ hội mới…

Với tư duy đổi mới, Đại hội lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đã xác

định, cải tạo XHCN là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá

độ với những hình thức và bước đi thích hợp

Trang 28

Đại hội VII của Đảng (tháng 06/1991) tiếp tục đường lối đổi mới đồng thời nhấn mạnh : “thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, không phận biệt đối xử, không tước đoạt tài sản hợp pháp, không gò ép tập thể hóa, không áp đặt hình thức kinh tế, khuyến khích các hoạt động có lợi cho quốc kế dân sinh…’’ [26, Tr 32]

Kế thừa tư tưởng của Đại hội VII, Văn kiện Đại hội lần thứ VIII (tháng 6/1996) tiếp tục khẳng định : “khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài, bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật…’’ [27, Tr 45]

Đại hội IX của Đảng (tháng 4/2001) Đại hội xác định nước ta có 6 thành phần kinh tế, Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 5 Khóa IX (tháng 03-2002) của Đảng chỉ rõ: “Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh

tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế’’ [6, Tr 26-27]

Đại hội X của Đảng (tháng 4/2006) tiếp tục nhấn mạnh : “kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng là một trong những động lực của nền kinh tế’’ và

“xóa bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp của tư nhân, phát triển không hạn chế qui mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh quan trọng của nền kinh tế mà luật pháp không cấm’’ [29, Tr 53]

Như vậy, cho đến nay, về mặt quan điểm, Đảng ta đã khẳng định sự có mặt của KTTN không chỉ là sự tồn tại tất yếu trong phát triển nền kinh tế thị trường, mà còn là sự cần thiết để huy động mọi nguồn lực cho phát triển, phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Xuất phát từ quan điểm trên, các cơ chế chính sách của nhà nước đối với phát triển KTTN trong những năm qua đã có sự chuyển hướng rõ rệt KTTN

Trang 29

hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân, chủ yếu hoạt động thông qua luật doanh nghiệp tư nhân (1990), luật công ty (1990), luật khuyến khích đầu tư trong nước sửa đổi (1998), luật doanh nghiệp (2000) thay thế luật doanh nghiệp tư nhân và luật công ty, và luật doanh nghiệp (2005) ban hành ngày 29-11-2005 có hiệu lực từ 01-07-

2006 thay thế luật doanh nghiệp (2000)

1.1.3 Đặc điểm, bản chất, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh

tế thị trường định hướng XHCN:

1.1.3.1 Về đặc điểm của KTTN:

So với khu vực KTTN ở các nền kinh tế thị trường trên thế giới, đặc biệt

là các nước phát triển, KTTN ở Việt Nam được xem là khu vực kinh tế mới phục hồi sau một thời gian dài có những thăng trầm theo dòng chảy của lịch

sử Vì lẽ đó, KTTN ở nước ta bên cạnh những đặc điểm chung như mọi khu vực tư nhân trên thế giới, còn có những đặc điểm riêng có của nền kinh tế

“chuyển đổi’’ Nhìn chung KTTN ở nước ta có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất: qui mô và hình thức sở hữu rất đa dạng, qui mô nhỏ và “siêu

nhỏ’’ thì có sở hữu trong các hộ sản xuất - kinh doanh cá thể, các cơ sở sản xuất nhỏ có tính gia đình; qui mô lớn có sở hữu tư bản tư nhân trong các công

ty TNHH, công ty cổ phần với hàng ngàn công nhân Về hình thức sở hữu, nếu không kể đến đất đai, vì thuộc sở hữu toàn dân, thì hình thức sở hữu bao gồm:

sở hữu tư nhân một chủ (doanh nghiệp tư nhân) và sở hữu hỗn hợp (công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh) Với qui mô và hình thức sở hữu đa dạng, KTTN có khả năng đa dạng hóa chủ đầu tư, đồng thời thực hiện một cách linh hoạt sự chuyển hóa về qui mô, hình thức sở hữu và tổ chức kinh doanh [46,Tr 106]

Thứ hai: bộ máy và đội ngũ quản lý gọn nhẹ, hiệu quả và rất năng động,

hoạt động của bộ máy gắn chặt với những biến động cung - cầu trên thị trường, trước áp lực của cạnh tranh họ buộc phải tính toán, tìm cách sử dụng một cách hiệu quả các yếu tố đầu vào

Trang 30

Một doanh nghiệp tư nhân và một doanh nghiệp nhà nước cùng sản xuất hàng thủy sản Tại doanh nghiệp tư nhân giám đốc cho biết tỷ suất lợi nhuận trên vốn từ 15-20% và đang chuẩn bị mở rộng qui mô sản xuất ở doanh nghiệp nhà nước, với số vốn gấp ba, bốn lần nhưng lợi nhuận chỉ đạt được 1%, đồng thời xin thu hẹp sản xuất vì không có thị trường và chi phí tăng cao Tại doanh nghiệp tư nhân, cả hai vợ chồng đều xắn tay áo làm việc như công nhân Trong khi đó ở doanh nghiệp nhà nước không khí sản xuất diễn ra rất bình lặng, các cán bộ tiếp chúng tôi tại văn phòng và ngồi xe hơi đi tham quan [Theo báo Tuổi trẻ ngày 07/11/2005 (phỏng vấn TS Đặng Văn Thanh- Phó chủ nhiệm UB KT- NS Quốc hội)]

Thứ ba: sử dụng lao động và công nghệ, rất linh hoạt và hiệu quả, khả năng toàn dụng lao động rất cao, đặc biệt là các hộ kinh doanh cá thể Số liệu

thống kê cho thấy, nếu cùng qui mô, doanh thu và số sản phẩm thì ở doanh nghiệp nhà nước số lượng sử dụng lao động cao gấp hai đến ba lần doanh nghiệp của tư nhân Điều này một mặt phản ánh hiệu quả sử dụng lao động của KTTN là hơn hẳn, mặt khác nó còn cho thấy ở khu vực tư nhân sẽ không tồn tại hiện tượng thất nghiệp trá hình Về trình độ công nghệ, nhìn chung còn lạc hậu, công cụ thủ công còn phổ biến, nhất là hộ sản xuất cá thể trong nông nghiệp, tuy nhiên việc sử dụng cũng rất linh hoạt trên cơ sở kết hợp công nghệ truyền thống và hiện đại

Thứ tư: lĩnh vực đầu tư thường tập trung vào khu vực thương mại, dịch

vụ phần lớn tập trung vào thương mại, nhà hàng, khách sạn, môi giới bất động

sản, dịch vụ vận tải… qui mô vốn đầu tư nhỏ, mang tính ngắn hạn, thời gian gần đây KTTN đã mở rộng sang đầu tư ở lĩnh vực sản xuất nhưng đa phần là

đầu tư ngắn hạn Phương châm kinh doanh: “vốn ít, vòng quay nhanh, lợi nhuận nhiều, giải thể nhanh’’ là khá phổ biến ở khu vực này Có nhiều nguyên nhân để các nhà đầu tư tư nhân thực hiện phương châm trên: họ chưa thật sự tin tưởng vào môi trường thể chế, chính sách; quản lý nhà nước đối với KTTN còn nhiều phân biệt đối xử; môi trường tâm lý xã hội chưa thật sự thuận lợi để thuê mướn lao động mở rộng qui mô

Trang 31

Thứ năm: Mục đích kinh doanh là rõ ràng, các nhà doanh nghiệp tư nhân

hoạt động với tôn chỉ bất biến: tối đa hóa lợi nhuận Với mục đích đó họ sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm, rủi ro, qua đó hình thành một động lực kinh doanh vô cùng lớn Tuy nhiên mục tiêu lợi nhuận tối đa nếu được thực hiện bằng mọi giá, đôi khi vi phạm những lợi ích của cộng đồng, điều này làm cho KTTN phải đối mặt với những chỉ trích, tạo nên môi trường xã hội không thuận lợi cho phát triển Số liệu thống kê cho thấy một số đơn vị KTTN không chấp hành luật pháp của nhà nước như không ký hợp đồng lao động, không nộp bảo hiểm xã hội, thành lập “Công ty ma’’ để mua bán hóa đơn, trốn thuế, gian lận thương mại và gây không ít khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước

Tại TP HCM, 24 đoàn thanh tra việc hành nghề y dược tư nhân trên địa bàn quận, huyện, kết quả cho thấy : trong 931 cơ sở hành nghề y dược tư nhân

có đến 154 sơ sở sai phạm, phần lớn sai phạm là hành nghề không phép, không

đúng qui định, quảng cáo quá chức năng, bán thuốc quá hạn dùng, thuốc không có đăng ký, không có người đủ chuyên môn khi cơ sở hoạt động, kể cả

y, nha và dược [Theo báo Tuổi Trẻ ngày 14-04-2006]

Cũng vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận, một số chủ cơ sở KTTN trước

đây là cán bộ công chức nhà nước, có mối thân quen với công chức nhà nước

đương quyền tìm cách lách qua kẽ hở của luật pháp và có những hoạt động vi phạm pháp luật Xa hơn nữa, sự liên kết giữa các doanh nghiệp tư nhân với các quan chức nhà nước thành một sự liên kết giữa quyền lực kinh tế và chính trị, như một vài tác giả gọi đó là “chủ nghĩa tư bản thân hữu’’ Trong sự liên kết này, nhiều hợp đồng béo bở được các quan chức tìm cách chuyển cho các doanh nghiệp tư nhân quen biết Đến lượt mình, các doanh nghiệp này lại “biết

điều’’ và cung phụng chu đáo cho các quan chức So với các doanh nghiệp của nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân có thể làm điều này một cách dễ dàng và

“hợp pháp’’ hơn [83,Tr 34] Tuy nhiên đó chỉ là một bộ phận doanh nghiệp không đại diện cho KTTN nói chung

Thứ sáu: do tính chất của sở hữu, nên phương thức huy động vốn của

KTTN cũng rất linh hoạt (ít ràng buộc bởi thủ tục), nguồn vốn huy động đa

Trang 32

dạng (người thân, bạn bè…) khả năng chịu trách nhiệm vô hạn đối với vốn vay của doanh nghiệp tư nhân tạo cơ sở cho họ có những cam kết sâu rộng hơn so với các hình thức sở hữu khác Điều này phản ánh khả năng huy động vốn là rất hiệu quả Mặt khác, do quan hệ sở hữu có tính thừa kế qua nhiều thế hệ theo kiểu “cha truyền con nối”, nên khả năng tích lũy để mở rộng qui mô sản

xuất ở KTTN là không có giới hạn

1.1.3.2 Về bản chất của KTTN:

Cùng với những đặc điểm vốn có của mình, bản chất của KTTN luôn có tính hai mặt: tích cực và tiêu cực Trên bình diện chung tính hai mặt của KTTN gắn bó chặt chẽ với những ưu điểm và khuyết tật của nền kinh tế thị trường

Về mặt tích cực:

- KTTN vận dụng và khai thác triệt để các tác dụng của qui luật thị trường, qua đó tạo nên sự năng động, sáng tạo trong sản xuất và linh hoạt trong nắm bắt nhu cầu thị trường để đáp ứng, cũng như chuyển hướng kinh doanh bảo đảm tính hiệu quả cao

- Các nguồn lực được sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả, góp phần tạo nên sức cạnh tranh cho nền kinh tế

- KTTN luôn là động lực của nền kinh tế thị trường, mà lực lượng sản xuất lại chỉ có thể phát triển khi động lực kinh tế được khai thác một cách triệt

để KTTN và kinh tế nhà nước cùng song song tồn tại trong nền kinh tế thị trường, tuy nhiên KTTN lại tỏ ra năng động hơn, có sức sống hơn và phát triển mạnh mẽ hơn là do KTTN có sự tương thích rất cao với kinh tế thị trường, đặc biệt là tính chất mở cửa thị trường ngày càng tăng, sự hợp tác và cạnh tranh quốc tế đòi hỏi các chủ thể kinh tế phải rất linh hoạt và tự chủ trong hoạt động kinh doanh, điều này vốn là nhược điểm của kinh tế nhà nước

- KTTN đóng góp vào phát triển năng lực con người và các quyền tự do cá nhân KTTN có cội nguồn từ cá nhân, vì vậy phát triển KTTN phải dựa trên nền tảng phát triển các giá trị cá nhân, năng lực cá nhân và phát triển con người Sự phát triển xã hội gắn liền với sự phát triển ngày càng phong phú các

Trang 33

quyền cá nhân Sự phát triển của các quyền cá nhân đến lượt nó sẽ thúc

đẩy KTTN phát triển mạnh mẽ

Về mặt tiêu cực:

- KTTN gắn với lợi ích và động lực cá nhân, điều này thường dẫn dắt nhà đầu tư dễ chạy theo lợi ích trước mắt, lợi ích cá nhân mà quên đi lợi ích lâu dài và lợi ích cộng đồng Trong quá trình chạy theo lợi ích cá nhân, nếu xuất hiện xung đột với lợi cộng đồng thì thông thường cách giải quyết của nhà đầu tư tư nhân là: lợi ích cộng đồng sẽ nhường bước cho lợi ích cá nhân

- Khi mà luật pháp hiện hành còn nhiều bất cập, bộ máy quản lý kinh tế của nhà nước còn thiếu những kinh nghiệm trong điều tiết kinh tế thị trường, nền kinh tế còn đang trong quá trình chuyển đổi , sẽ là môi trường cho sự phát sinh và tồn tại các tiêu cực của không ít các đơn vị KTTN như dây dưa nộp thuế, trốn thuế, thành lập “công ty ma” để mua bán hóa đơn, gian lận thương mại…

- Tính tự phát, đầu tư ồ ạt theo phong trào, hoạt động thương mại theo kiểu tranh mua, tranh bán, đầu cơ tăng giá… vẫn còn diễn ra khá phổ biến trong các hoạt động sản xuất-kinh doanh của khu vực KTTN, từ đó làm cho quan hệ cung - cầu mất cân đối tác động tiêu cực đến nền kinh tế và gây không

ít khó khăn cho công tác bình ổn thị trường của các cơ quan quản lý nhà nước

Tuy nhiên cũng cần nhận thức rõ là: KTTN trong nền kinh tế trị trường

định hướng XHCN không hoàn toàn giống với bản chất của KTTN trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản Dưới chế độ tư bản, KTTN chịu sự tác động mạnh

mẽ của qui luật giá trị thặng dư - qui luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản - và ảnh hưởng bởi bản chất của nhà nước tư bản ở nước ta, KTTN là một

bộ phận của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hình thành và phát triển

do chủ trương của Đảng, chịu sự quản lý của nhà nước XHCN Đặc biệt đối với một bộ phận chủ doanh nghiệp của tư nhân là Đảng viên, văn kiện Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Đảng viên làm KTTN phải gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành Điều lệ Đảng và qui định của Ban chấp hành Trung ương’’ [26, Tr 362] Bất kỳ xã hội nào muốn phát

Trang 34

triển cũng cần tạo ra nhiều sản phẩm thặng dư, tuy nhiên bóc lột không phải ở chỗ sản xuất ra giá trị thặng dư mà là phân phối giá trị thặng dư như thế nào KTTN trong nền kinh tế trị trường định hướng XHCN chịu sự điều chỉnh pháp luật của nhà nước XHCN trong phân phối, khác về bản chất với kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa

Mỗi một phương thức sản xuất nhất định có qui luật phân phối của cải thích ứng với nó Quan hệ sản xuất như thế nào thì quan hệ phân phối như thế

ấy Cơ sở của quan hệ phân phối là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, sự biến

đổi lịch sử của quan hệ sở hữu kéo theo sự biến đổi quan hệ phân phối C Mác viết: “Quan hệ phân phối nhất định chỉ là biểu hiện của một quan hệ sản xuất lịch sử nhất định” [51, Tr 640] KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hoạt động trong điều kiện qui luật giá trị thăng dư không còn là qui luật kinh tế tuyệt đối, sở hữu tư nhân không còn là loại hình sở hữu thống trị, quan

hệ phân phối theo giá trị sức lao động chỉ là một trong những hình thức phân phối đa dạng trong nền kinh tế bên cạnh những hình thức phân phối khác Mặt khác phân phối có tác động rất lớn đối với sản xuất nên nhà nước XHCN sử dụng phân phối như là một công cụ để xây dựng chế độ mới, để phát triển kinh

tế theo định hướng XHCN, trong đó KTTN là một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế và chịu sự chi phối bởi tính định hướng XHCN trong phân phối

1.1.3.3 Về vai trò của KTTN:

Sự phát triển của KTTN ở nước ta trong thời gian qua đã khơi dậy một

bộ phận tiềm năng của đất nước góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm vốn đầu tư, kinh nghiệm và khả năng kinh doanh, nguồn lực con người, thông tin…

Có thể nói không có kinh tế nhà nước (mà bộ phận quan trọng là doanh nghiệp nhà nước), thì không thể thực hiện được định hướng XHCN cho nền kinh tế, nhưng không có KTTN thì không thể có kinh tế thị trường, KTTN là nhân tố sống động cho sự tồn tại kinh tế thị trường Vai trò đó của KTTN được thể hiện trên các mặt sau :

Trang 35

Thứ nhất : Đóng góp vào thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu

nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trong GDP, xu hướng chung là tỷ trọng kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, giảm trong khi KTTN và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng lên

Tỷ trọng KTTN trong GDP trước năm 1990 gần như chưa có gì, đến năm 2000 đã đạt 7,4%, năm 2005 đạt 8,91% và năm 2006 ước tính là 9,85% Trong khi đó tỷ trọng kinh tế nhà nước giảm từ 40,2% năm 1995 xuống còn 38,42% năm 2005 và năm 2006 là 38,10%; kinh tế tập thể giảm tương ứng từ 10,1% xuống còn 6,0%

Bảng 1.1 Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế, phân theo thành phần kinh tế

Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước năm 2006 theo giá thực tế, Phân khu vực kinh tế

KT tập thể 6,00%

KT nhà nước 38,10%

KT cỏ thể 29,15%

KT tư nhõn 9,85%

KT đầu tư NN 16,90%

Nguồn: Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê năm 2006

Trang 36

Đặc điểm nổi bật của KTTN là hoạt động gắn chặt với thị trường, nắm bắt và đáp ứng nhanh nhạy nhu cầu của thị trường, do vậy, họ luôn tìm kiếm, phát hiện, các ngành lĩnh vực, mặt hàng mới đang cần đầu tư sản xuất, từ đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý hơn

Bảng 1.2 GDP và cơ cấu GDP theo giá thực tế, phân theo khu vực kinh tế:

Chia ra GDP Nụng, lõm, thủy

sản

Cụng nghiệp và xõy dựng Dịch Vụ Năm

Nguồn: Tổng cục thống kê , Niên giám thống kê 2006

Bảng trên cho thấy tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong cơ cấu chung giảm dần từ 24,53% năm 2000 xuống còn 20,40% năm 2006 Qua các năm tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm dần, mặc dù số lượng tuyệt đối trong ngành này không ngừng tăng lên Trong khi đó tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng lại tăng đều qua các năm, từ 36,73% năm 2000 lên đến 41,52% năm

2006 Điều đó cho thấy cơ cấu ngành kinh tế nước ta đang chuyển dần theo hướng công nghiệp hóa Sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế như trên, trước hết

là kết quả của chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong

Trang 37

chóng, từ 22,9% năm 2000, đến năm 2005 tăng lên 32,1% và năm 2006 chiếm

đến 33,6%

Vốn đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân đã đóng vai trò quan trọng,

thậm chí là nguồn vốn đầu tư chủ yếu đối với phát triển kinh tế ở một số địa

phương Ví dụ, đầu tư của các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN năm 2002

trên địa bàn TP HCM đã chiếm 38% tổng số vốn đầu tư toàn thành phố, cao

hơn tỷ trọng vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước và ngân sách nhà nước gộp

lại (36,5%) Điều đáng nói là, trong khi FDI thường đến với các địa phương có

điều kiện thuận lợi và lợi thế cạnh tranh tốt hơn, thì đầu tư tư nhân trong nước

xuất hiện ở tất cả các vùng với nhiều hoàn cảnh khác nhau, kể cả những vùng

nghèo với điều kiện kinh tế- xã hội còn khó khăn Vốn đăng ký của các doanh

nghiệp ở hầu hết các tỉnh trong thời kỳ 2000- 2005 đều cao hơn số vốn đăng

ký thời kỳ 1991-1999, Nhiều tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng cao về vốn đăng ký,

như các tỉnh Quảng Ninh, Vĩnh Phúc và Hưng Yên đạt tốc độ tăng 20 lần

Ngay cả ở các địa phương tập trung vốn đầu tư nước ngoài thì vốn đầu tư của

tư nhân trong nước cũng lớn hơn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Thực tế nói trên cho thấy đối với hầu hết các tỉnh, thì thu hút đầu tư tư

nhân trong nước là việc dễ làm và khả thi hơn so với thu hút đầu tư trực tiếp

nước ngoài Vốn đầu tư của KTTN có xu hướng tăng nhanh trong thời gian

qua, đặc biệt là khi luật doanh nghiệp 2005 ban hành và có hiệu lực vào

1/7/2006 với nhiều ưu điểm

Bảng: 1.3 Vốn đầu tư phát triển theo thành phần kinh tế

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Tổng số (tỷ đồng) 151.183,0 170.496,0 199.104,5 231.616,2 275.000,0 335.500,0 398.900,0

Trang 38

Nguồn: Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê 2006

Dự báo của Bộ Kế hoạch – Đầu tư, khu vực KTTN sẽ dẫn đầu về vốn

đầu tư phát triển trong năm 2007 Dự kiến trong năm 2007, tổng vốn huy động

Nguồn: Bộ Kế hoạch - Đầu tư

Theo Bộ trưởng Kế hoạch- Đầu tư Võ Hồng Phúc, mức đầu tư trong thời

gian tới sẽ khoảng trên 40% GDP, tổng đầu tư toàn xã hội 5 năm tới khoảng

130- 140 tỷ USD Trong đó, 35% vốn nước ngoài, 65% trong nước, đặc biệt

khu vực tư nhân có tỷ lệ cao hơn nhiều so với hiện nay, phải chiếm 53-54%

[78] Vì vậy các chính sách của Nhà nước phải hướng vào KTTN, Nhà nước

chỉ hướng vào đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ tăng trưởng mà tư nhân không

muốn hoặc khó thực hiện Các dự án mà nhà đầu tư có thể tham gia, có sinh lợi

thì nên mở rộng cho tư nhân

Thứ ba: Đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước

Theo số liệu của Tổng cục thuế, khu vực KTTN đã nộp vào ngân sách

nhà nước: năm 2000 là 11.300 tỷ đồng, chiếm 16,1% tổng thu ngân sách; năm

2001 là 13.075 tỷ đồng chiếm 18,8% tổng thu ngân sách [7, Tr 34] Mặc dù

đóng góp vào ngân sách của các loại hình KTTN còn nhỏ, nhưng có xu hướng

tăng lên: năm 2001 là 18,8%; năm 2002 là 19,7% (tỷ lệ tương ứng của các

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 15,2% và 16% ; doanh nghiệp nhà

nước là 21,6% và 23,4%) Đồng thời các doanh nghiệp của tư nhân đóng góp

vào nguồn thu ngân sách địa phương ngày càng nhiều như: đóng góp của

doanh nghiệp tư nhân ở TP HCM là 15%, Tiền Giang 24%, Đồng Tháp 16%,

Trang 39

Gia Lai 22%, Ninh Bình 19%, Thái Nguyên 17%, Quảng Nam 22%, Bình

Thứ tư: Góp phần xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản

xuất, thúc đẩy dân chủ hóa đời sống kinh tế

Sự phát triển của KTTN làm cho sở hữu của nền kinh tế nước ta đa dạng hơn Nếu trước đây về mặt pháp lý chỉ có sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, hiện nay quan hệ sở hữu được thừa nhận một cách đa dạng hơn: trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu

và nhiều thành phần kinh tế [29, Tr 83 ]

Sự đa dạng hóa về sở hữu kéo theo sự biến đổi về quan hệ phân phối và quản lý làm cho quan hệ sản xuất trở nên linh hoạt phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vốn còn thấp và phát triển không đồng đều giữa các vùng, ngành trong cả nước Nhờ vậy tạo khả năng huy động rộng rãi tiềm năng, nguồn lực, động lực trong toàn xã hội để đẩy mạnh phát triển sản xuất, tạo nhiều của cải cho đất nước

Sự xuất hiện ngày càng nhiều các đơn vị kinh tế thuộc khu vực tư nhân trong các lĩnh vực và ngành sản xuất kinh doanh, còn có ý nghĩa tạo nên môi trường cạnh tranh lành mạnh với doanh nghiệp nhà nước, đẩy lùi tình trạng độc quyền qua đó góp phần gia tăng tính hiệu quả của nền kinh tế

Thông qua việc phát triển các loại hình sản xuất kinh doanh của KTTN,

mà quyền làm chủ về kinh tế của người dân được phát huy Mọi công dân có quyền tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh với quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo hộ; có quyền bình đẳng trong đầu tư, kinh doanh, tiếp cận các cơ hội, nguồn lực kinh doanh, thông tin và nhận thông tin [29, Tr 87] Quá trình dân chủ hóa đời sống kinh tế ngày càng mở

Trang 40

rộng, đặt ra yêu cầu phải đổi mới về tổ chức quản lý của nhà nước đối với khu vực KTTN sao cho phù hợp với tiến trình dân chủ, cũng như góp phần thúc

đẩy, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần trong toàn xã hội

Thứ năm: Giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động và đào tạo

nguồn nhân lực mới cho thị trường lao động

Đối với những nước đang phát triển như nước ta, một trong những đặc

điểm chung và lớn nhất là có số lao động đông, số lao động thiếu việc làm nhiều, trong khi qui mô nền kinh tế còn nhỏ Do đó vấn đề giải quyết việc làm

và sử dụng hết số lượng lao động có tầm quan trọng hàng đầu để tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội do thất nghiệp và thiếu việc làm gây ra

Số liệu thống kê cho thấy những năm vừa qua khu vực KTTN có khả năng thu hút lao động nhiều nhất Lao động trong khu vực KTTN là 21.017 ngàn người, chiếm 56,3% lao động có việc làm thường xuyên trong tổng lao

động xã hội vào năm 2000 Trong bốn năm từ 1997- 2000 khu vực KTTN thu hút thêm 997.000 lao động, gấp 6,6 lần so với khu vực kinh tế nhà nước và từ năm 2000 đến năm 2003, khu vực KTTN đã tạo gần hai triệu chỗ làm việc mới cho người lao động, với trình độ kỹ năng lao động, tay nghề ngày một cao hơn [9, Tr 8 ]

Năm 2006 so với năm 2000, tổng số lao động đang làm việc của cả nước tăng 5.826,5 ngàn người, thì khu vực nhà nước chỉ tăng 508,8 ngàn, chiếm 8,7%; khu vực ngoài nhà nước đã tăng 4.844,1 ngàn, chiếm tới 83,1%; khu vực

có vốn đầu tư nước ngoài đã tăng 473,6 ngàn, chiếm 8,1% Trong tổng số người làm việc, khu vực nhà nước có 4.009,8 ngàn người, chiếm 9,2%; khu vực ngoài nhà nước có 38.725,9 ngàn người, chiếm 89,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có 700,4 ngàn, chiếm 1,6%.[79, Tr 33] Số liệu trên chứng tỏ khu vực ngoài nhà nước trở thành khu vực chủ yếu thu hút số lao động của cả nước,

đồng thời cũng là khu vực chủ yếu giải quyết việc làm cho số lao động tăng thêm

Thứ sáu: Góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế

Ngày đăng: 13/12/2019, 22:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w