Đi sâu hơn để nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiệnhành về miễn TNHS có thể nhận thấy những vướng mắc, bất cập còn tồn đọngkhá nhiều trong cả việc hiểu lẫn áp dụng
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ THÙY LINH
MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH PHƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ THÙY LINH
MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ Luật học “Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước” là công trình nghiên
cứu của riêng tôi, hoàn toàn do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học củaPGS.TS Nguyễn Tất Viễn Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảmbảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Tác giả luận văn
Lê Thị Thùy Linh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM
HÌNH SỰ 9
1.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự 91.2 Đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự 111.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về miễn tráchnhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam từ sau cách mạng Tháng Tám năm
1945 đến nay 131.4 Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt, miễn trách nhiệmhình sự với các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự 191.5 Quy định của Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới về miễn trách nhiệm hình sự 22
CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC 26
2.1 Quy định về miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 2015 (sửađổi, bổ sung năm 2017) 262.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về miễn trách nhiệm hình sự trên địa bàn tỉnh Bình Phước 47
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC 62
3.1.Một số kiến nghị nhằm áp dụng đúng các quy định của Bộ luật hình sự vềmiễn trách nhiệm hình sự trên địa bàn tỉnh Bình Phước 62
KẾT LUẬN 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Thống kê tổng số vụ án, tổng số người bị khởi tố, truy tố, xét xử trênđịa bàn tỉnh Bình Phước 48Bảng 2.2 Số bị can, bị cáo được áp dụng miễn TNHS giai đoạn điều tra, truy tố,xét xử trên địa bàn tỉnh Bình Phước trong giai đoạn 05 năm (2014-2018) 49Bảng 2.3 Tình hình áp dụng Điều 29 BLHS, Điều 157 và Điều 155 BLTTHStrong giai đoạn 05 năm (2014-2018) 53Biểu đồ 2.1 Tổng số vụ án được các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bình Phước
áp dụng miễn trách nhiệm hình sự trong giai đoạn 05 năm (2014-2018) 51Biểu đồ 2.2 Tổng số bị can, bị cáo được các cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh BìnhPhước áp dụng miễn TNHS trong giai đoạn 05 năm (2014-2018) 52Biểu đồ 2.3 Tổng số vụ án và tổng số bị can, bị cáo được miễn TNHS trong giaiđoạn 05 năm (2014-2018) 53
Trang 74
Trang 81 Tính cấp thiết của đề tài
số 41/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội khóa XIVvề việc thihành BLHS năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã cụ thể hóa chính sách
hình sự nhân đạo: “xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích”… “thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ ngày 01/01/2018…”.
Trong Luật hình sự, miễn TNHS là một trong những chế định thể hiện tính
nhân đạo rõ nét, phản ánh sắc nét nguyên tắc xử lý “nghiêm trị nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục thuyết phục”, cũng như phản ánh yêu cầu “không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự, mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và giáo dục cải tạo người phạm tội”.
Đi sâu hơn để nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiệnhành về miễn TNHS có thể nhận thấy những vướng mắc, bất cập còn tồn đọngkhá nhiều trong cả việc hiểu lẫn áp dụng trên thực tiễn chế định này, nhất là saukhi BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực đã có nhiều thayđổi, dẫn đến các trường hợp nhầm lẫn với những quy định khác có tính chấttương đồng, không đảm bảo được tính chính xác khi áp dụng xử lý người phạmtội, đồng thời bên cạnh đó còn nhiều vấn đề chưa được các nhà làm luật nước ta
Trang 9quy định cụ thể Hiện nay trên địa bàn nhiều tỉnh thành cả nước nói chung vàtỉnh Bình Phước nói riêng, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn gặp nhiềuvướng mắc trong việc áp dụng quy định của BLHS về miễn TNHS.
Trong nghiên cứu về chế định miễn TNHS, đã có nhiều công trình đề cập từnhiều chiều cạnh khác nhau Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu tổngthể về áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự từ thực tiễn tỉnh Bình Phước
Từ các lý do nêu trên học viên đã chọn đề tài “Miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Phước” làm luận văn
cao học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Miễn TNHS là một chế định quan trọng, có liên quan chặt chẽ và mật thiếtvới các chế định khác trong pháp luật hình sự Việt Nam Ở nước ta hiện nay đã
có khá nhiều công trình nghiên cứu về chế định miễn TNHS
Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như: 1) Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần chung), Tập thể tác giả do TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2001 và 2003 (tái bản lần thứ nhất); 2) Trách nhiệm hình sự và hình phạt, Tập thể tác giả do PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội, 2001; 3) Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình
sự, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, 2005; 4) Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb.
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013;
Các công trình dưới góc độ tạp chí trong nước như: 1) Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học, số 4/1997; 2)
Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, Tạp chí Luật học, số 5/1997;3) Một số ý kiến về miễn trách nhiệm hình sự, Tạp chí Tòa án nhân dân, số2/1993; 4) Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt, Tạp chí Khoahọc pháp lý, số 2/2004;
Trang 10Tuy nhiên, từ đó đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đềmiễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam, nhất là sau khiBLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực, cũng như đánh giá đượcthực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bình Phước Vì vậy, việc lựa chọn đề tài đãnêu để nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bình Phước cótính thiết thực và góp phần hoàn thiện hơn hiệu quả áp dụng trong thực tế hiệnnay.
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích của đề tài
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về miễn TNHS và thực tiễn áp dụngchế định miễn TNHS trên địa bàn tỉnh Bình Phước, luận văn đề xuất một số kiếnnghị bảo đảm áp dụng đúng đắn các quy định về miễn TNHS
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
Làm rõ những vấn đề lý luận về miễn TNHS (sự cần thiết quy định chế địnhmiễn TNHS,khái niệm, đặc điểm, nội dung chế định miễn TNHS, phân biệtvới các chế định tha miễn khác);
Khái quát sự hình thành và phát triển của các quy định về miễn TNHS theoluật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay,so sánhquy định trong BLHS Việt Nam hiện hành với BLHS một số nước trên thế giới
về miễn TNHS;
Phân tích quy định BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009) và BLHS năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về miễn TNHS và đánh giá thực tiễn áp dụngtrên địa bàn tỉnh Bình Phước trong các năm 2014 – 2018;
Đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định về miễn TNHS
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 11Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Miễn TNHS theo luật hình sự Việt Nam
và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bình Phước
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn gồm:Phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, phân tích tài liệuthứ cấp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Nghiên cứu tổng hợp các cơ sở lý luận và thực tiễn về miễn TNHS, luận văn
là công trình nghiên cứu chuyên sâu về mặt lý luận và thực tiễn của chế địnhmiễn TNHS Chỉ ra những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật hình sự
Trang 12Việt Nam về miễn TNHS Từ đó, đề xuất hệ thống các giải pháp mang tính giátrị pháp lý và thực tiễn, góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả việc áp dụngchế định miễn TNHS trong thực tiễn đối với các cơ quan tư pháp.
Bên cạnh đó, luận văn còn góp phần bổ sung thêm nguồn tài liệu tham khảocho công tác học tập và nghiên cứu Mang đến một góc nhìn mới và đa dạng hơn
về chế định miễn TNHS
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về miễn trách nhiệm hình sự.
Chương 2: Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay
về miễn trách nhiệm hình sự
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định về miễn trách nhiệm hình sự trên địa
bàn tỉnh Bình Phước và một số kiến nghị
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự là một thuật ngữ của khoa học luật hình sự thể hiện hậuquả pháp lý của việc thực hiện tội phạm Theo Đại từ điển tiếng Việt, thuật ngữ
“trách nhiệm” được hiểu là “điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy vềmình” Từ đó có thể hiểu rộng hơn thuật ngữ “trách nhiệm” trong “trách nhiệmhình sự” là những hậu quả mà cá nhân phải chịu khi thực hiện những hành vi viphạm bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trước Nhà nước, xã hội hoặc cánhân khác
Từ trước đến nay, xung quanh vấn đề hiểu “trách nhiệm hình sự” là gì, vẫncòn nhiều luồng ý kiến khác nhau.Theo GS.TS Đỗ Ngọc Quang quan niệm
“trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình
sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức
độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện” 31,tr 14 Đối với tác giả TSKH Lê Cảm thì “trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định” 9,tr 122 Trong khi đó, PGS.TS Nguyễn Ngọc Hoà và TS Lê Thị Sơn thì cho rằng “trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu
sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích”21, tr 126;
Có nhiều quan điểm khác nhau về “trách nhiệm hình sự” dưới nhiều góc độnhìn nhận và phân tích Tuy nhiên, nhìn tổng thể, các quan điểm trên đều cóđiểm chung tương đồng mà tổng kết lại dưới góc độ khoa học luật hình sự Việt
Trang 14Nam có thể định nghĩa như sau: “Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của một hay nhiều người thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi do người đó thực hiện”.
Diễn giải sơ bộ có thể hiểu TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý baogồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu TNHS, chịu bị kếttội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp) và mang
án tích
Bắt đầu từ khi một người thực hiện tội phạm cũng là lúc mối quan hệ phápluật hình sự giữa Nhà nước và người đó được hình thành Tức là từ thời điểm đóngười phạm tội có nghĩa vụ phải chịu TNHS do Nhà nước áp dụng Tuy nhiêncần lưu ý rằng khi tội phạm không bị phát hiện, hết thời hiệu truy cứu TNHShoặc người phạm tội được miễn TNHS theo quy định của Luật hình sự thì nghĩa
vụ phải chịu TNHS của họ sẽ không được thực hiện trên thực tế
Bàn về TNHS không thể không nói tới miễn TNHS Miễn TNHS xuất hiệnkhi có TNHS, các vấn đề xung quanh miễn TNHS về cả khái niệm lẫn nội dungđều bắt nguồn từ TNHS Khái niệm miễn TNHS gắn liền và quan hệ chặt chẽvới khái niệm TNHS Theo như quan điểm khoa học của PTS Lê Thị Sơn đã
viết: “Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với người phạm tội thì miễn trách nhiệm hình sự, miễn hậu quả pháp lý của việc phạm tội cũng chỉ
có thể đặt ra đối với người phạm tội Chúng ta không thể áp dụng miễn trách nhiệm hình sự đối với người không có đủ dấu hiệu pháp lý của sự cấu thành tội phạm được quy định trong luật hình sự” Để đi tìm một khái niệm nhất quán và
chính xác nhất về TNHS không hề dễ thì ở đây miễn TNHS cũng gặp phảitrường hợp tương tự Hiện nay, trong khoa học luật hình sự tồn tại khá nhiềuquan điểm khác nhau, cụ thể như:
Trang 15“Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó”5, tr 7;
“Miễn trách nhiệm hình sự có nghĩa là miễn những hậu quả pháp lý đối với một tội phạm do pháp luật quy định” 43, tr 269;
“Miễn trách nhiệm hình sự có nghĩa là miễn những hậu quả pháp lý về các tội phạm đối với người thực hiện tội phạm khi có những điều kiện theo quy định của pháp luật”9, tr 109;
“Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà người đó đã phạm” 22, tr 166;
Dựa trên cơ sở thống nhất các quan điểm của nhiều tác giả khác nhau đồngthời phân tích dưới góc độ khoa học luật hình sự, có thể định nghĩa một cách
đơn giản và dễ hiểu nhất như sau: Miễn TNHS là một chế định nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng văn bản với nội dung hủy bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó, do các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng áp dụng khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện luật định.
1.2 Đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự
Miễn TNHS có những đặc điểm sau: Thứ nhất, miễn TNHS là một trong
những biện pháp hữu hiệu của Nhà nước ta để phân hóa và thể hiện nguyên tắc
xử lý “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục,thuyết phục, cải tạo” Cũng như TNHS, miễn TNHS thể hiện sự phản ứng (lênán) đối với người có hành vi phạm tội từ phía Nhà nước và xã hội đồng thờiphản ánh chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội trong luật hình sựViệt Nam Chính sách phân hóa này cũng là một cách hiệu nghiệm của việc thực
Trang 16hiện tốt nguyên tắc không để lọt tội phạm và người phạm tội…việc quy định chếđịnh miễn TNHS, chứng tỏ rằng con đường cơ bản, hậu quả cơ bản của tội phạm
là TNHS, hình phạt và chấp hành hình phạt, còn tha miễn chỉ là trường hợp cábiệt, cụ thể, khi hoàn cảnh đòi hỏi
Thứ hai, miễn TNHS chỉ có thể được đặt ra đối với người mà hành vi của họ
thõa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trongphần tội phạm của BLHS, đồng thời họ có những căn cứ và những điều kiện doluật định để không phải gánh chịu hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạmđó
Thứ ba, miễn TNHS do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định phải
được thể hiện bằng văn bản tố tụng.Tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng hình
sự, cơ quan có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) áp dụngmiễn TNHS cho người phạm tội khi có đủ các căn cứ có tính chất bắt buộc hoặctùy nghi do pháp luật hình sự quy định
Thứ tư, đối tượng được áp dụng miễn TNHS theo quy định của pháp luật
đương nhiên chỉ có thể là cá nhân người phạm tội Và cụ thể hơn với mỗi giaiđoạn tố tụng người phạm tội có thể được miễn TNHS, mà tương ứng với từnggiai đoạn có thể là bị can, bị cáo hoặc người bị kết án
Thứ năm, người được miễn TNHS không phải chịu hậu quả pháp lý, cụ thể
như họ không phải chịu hình phạt, biện pháp cưỡng chế về hình sự khác vàkhông bị coi là có án tích Những người được miễn TNHS tức là đã bị truy cứuTNHS, bị tiến hành điều tra về hành vi phạm tội trên thực tế của mình Vì vậy,người được miễn TNHS vẫn có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp tác động
về mặt pháp lý thuộc các ngành luật khác như: Dân sự, hành chính,…vào thờiđiểm trước hoặc sau khi miễn TNHS
Trang 171.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam từ sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay.
1.3.1 Quy định pháp luật về miễn trách nhiệm hình sự từ năm 1945 đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất
Tháng Tám năm 1945, nhân dân Việt Nam đã đứng lên làm cuộc Cách mạngtháng Tám vĩ đại xóa bỏ chế độ thực dân – phong kiến, lập nên chính thể ViệtNam Dân chủ Cộng hòa Từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước phápđiển hóa lần thứ nhất cho thấy, Nhà nước ta đã đề cập đến vấn đề miễn TNHS ởcác mức độ và tên gọi khác nhau tại các văn bản pháp lý Ngày 03/09/1945 tạiphiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
“Trước ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ Tôi đề nghị Chính phủ phải tổ chức càng sớm càng hay cuộc tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” Người đã đề nghị sớm tổ chức tuyển cử và xây
dựng Hiến pháp Cũng trong thời gian đó, nhiều văn bản để xây dựng và củng cốchính quyền nhân dân được ban hành, có thể nhắc đến như: Sắc lệnh số 33C/SL
về thiết lập các Tòa án quân sự, có thẩm quyền “xử tất cả các người nào vi phạm vào một việc gì có phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” Để có cơ sở pháp lý cho việc xét xử, Chủ tịch Chính phủ lâm
thời đã ban hành Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 với nội dung là cho đến khiban hành được những bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, cácluật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếunhững luật lệ ấy không trái với những nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam vàchính thể cộng hòa Trong số luật lệ cũ, có những quy định liên quan đến miễnTNHS, miễn hình phạt, ân xá Tiếp đó, ngày 19/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm
Trang 18thời Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa đã ban hành sắc lệnh 33Đ về đại xá Sắc lệnh
số 52/SL ngày 20/10/1945 xá miễn cho một số tội phạm trước ngày 19/08/1945;Thông tư số 314-TTg ngày 09/11/1954 của Thủ tướng chính phủ về đại xá; Pháplệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967;…Đơn cử có thể nhắc
đến như tại Sắc lệnh số 52/SL ngày 20/10/1945 có quy định “những người vì chiến đấu cho nền độc lập của nước Việt Nam mà đã bị kết án trước ngày 19 tháng 8 dương lịch năm 1945 như là chính trị phạm hay thường phạm đều được
xá tội”(Điều thứ 2) hay“những khinh tội phạm trước ngày 19 tháng 8 năm 1945
mà Tòa án xử phạt tiền, hoặc tù treo, hoặc cả hai thứ hình phạt đó, đều được xá miễn” (Điều thứ 3).
Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988, trước khi có BLTTHS, Chủ tịchnước có 29 lần ra quyết định về đặc xá tha tù trước thời hạn cho những ngườiphạm tội hoặc đang bị tập trung giáo dục cải tạo đã ăn năn hối cải, có quá trìnhcải tạo tốt trong trại giam Vào đầu những năm 1970, trước những bất ổn về tìnhhình an ninh trật tự, Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của côngdân số 150-LCT ngày 21/10/1970 được ban hành nhằm bảo hộ tài sản riêng củacông dân, giữ gìn trật tự, trị an, đảm bảo điều kiện thuận lợi cho mọi người thamgia xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ cứu nước Đồng thời
đề cao đạo đức xã hội chủ nghĩa, chống những hành động xâm phạm tài sản
riêng của công dân.Tại Điều 2 của Pháp lệnh đã thể hiện rõ “Nguyên tắc trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân là: nghiêm trị bọn lưu manh chuyên nghiệp, bọn tái phạm, bọn phạm tội có tổ chức, bọn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, bọn gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của người
bị thiệt hại; xử nhẹ hoặc miễn hình phạt cho những kẻ tự thú, thật thà hối cải, tố giác đồng bọn hoặc tự nguyện bồi thường thiệt hại đã gây ra”.Đồng thời Điều
19 cũng nêu rõ những trường hợp xử nhẹ hoặc miễn hình phạt “Kẻ nào phạm
Trang 19những tội quy định ở Chương II mà tội phạm thuộc vào một hoặc nhiều trường hợp sau đây thì được xử nhẹ hoặc miễn hình phạt:
1 Tội phạm chưa bị phát giác mà kẻ phạm tội thành thật thú tội với cơ quan chuyên trách, khai rõ hành động của mình và của đồng bọn.
2 Kẻ phạm tội đã có những hành động ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm.
3 Trước khi bị xét xử, kẻ phạm tội tự nguyện bồi thường hoặc sửa chữa thiệt hại đã gây ra.
4 Phạm tội gây thiệt hại không lớn”.
Giai đoạn từ 1945 đến trước khi Bộ luật hình sự 1985 ra đời có thể thấy Nhànước ta không những chú trọng đến việc hoàn thiện pháp luật như một nútthen chốt quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước mà bêncạnh đó việc xây dựng song song giữa tính nghiêm minh của pháp luật nhưngvẫn đảm bảo tính nhân đạo đối với người phạm tội cũng được đặc biệt lưutâm Mặc dù miễn TNHS giai đoạn này chưa được gọi một cái tên cụ thể màtồn tại dưới nhiều tên gọi khác nhau nhưng nhìn chung các điều kiện áp dụngđược xác định tương tự như các điều kiện xử nhẹ hoặc miễn hình phạt
1.3.2 Quy định về miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm
1985 và Bộ luật hình sự năm 1999
Năm 1985, BLHS Việt Nam đầu tiên của nước ta ra đời với ý nghĩa là nguồnduy nhất trong đó quy định tội phạm và hình phạt được xây dựng trên cơ sởkinh tế xã hội của nền kinh tế bao cấp và trên cơ sở thực tiễn của tnh hình tộiphạm thời kì đó.Vấn đề miễn TNHS trong giai đoạn này được quy định rõ néthơn so
với các quy định pháp luật trước đây Cụ thể, những trường hợp được miễnTNHS được quy định tại BLHS năm 1985 bao gồm: Miễn TNHS do tự ý nửachừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 16); do sự chuyển biến của tình hình mà
Trang 20hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa,cho
Trang 21người phạm tội tự thú, thật thà khai báo, ăn năn hối cải (khoản 1 Điều 48); chongười chưa thành niên phạm tội (khoản 3 Điều 59); cho người phạm tộigián điệp (khoản 3 Điều 74); cho người phạm tội đưa hối lộ (khoản 5 Điều227) và cho người phạm tội không tố giác tội phạm (khoản 2 Điều 247).Tiếp đó tại Nghị quyết số 02-HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng thẩm phánTòa án nhân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình
sự cũng đã có những hướng dẫn chi tiết về vấn đề miễn TNHS trongtrường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Nghị quyết đã giải thích
rõ các điều kiện, nguyên nhân cơ bản cũng như việc xem xét tự ý nửa chừngchấm dứt việc phạm tội trong trường hợp phạm tội có tổ chức Tuy nhiên, doNghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 chỉ mới hướng dẫn về việc tự ý nửachừng chấm dứt việc phạm tội của người thực hành tội phạm, chưa có hướngdẫn về việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong các trường hợp cóđồng phạm nên Nghị quyết số
01-HĐTP ngày 19/04/1989 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối caohướng dẫn bổ sung một số quy định của Bộ luật hình sự được ban hành
đã hướng dẫn thêm trong các vụ án có đồng phạm, đưa ra các điều kiện cụ thể
để được miễn TNHS theo Điều 16 BLHS năm 1985 đối với người người xúi giục,người tổ chức, người giúp sức
Tại thời điểm này, tnh hình tội phạm dần phức tạp hơn, gây nhiều khó khăntrong công tác đảm bảo trật tự trị an cũng như phát giác tội phạm Trướcnhững diễn biến trên, nhằm thực hiện chính sách khuyến khích người phạm tội
ra tự thú và nâng cao hiệu quả công tác vận động người phạm tội ra tự thú, căn
cứ vào những quy định trong Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự, Bộ Nội vụ(nay là Bộ Công an), Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và
Bộ Tư pháp đã ban hành thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 02/06/1990hướng dẫn thi hành chính sách đối với người phạm tội ra tự thú theo nguyên
Trang 22tắc chung là những người đã thực hiện hành vi phạm tội, nhưng chưa bị pháthiện hoặc đã bị
Trang 23phát hiện, bị giam giữ, bị phạt tù nhưng trốn khỏi nơi giam giữ, trốn tránh thihành án hoặc đang bị truy nã mà ra tự thú được hưởng chính sách khoanhồng của Nhà nước.
Có thể nói, chính sách nhân đạo được xem như một nhân tố quan trọngtrong việc xây dựng BLHS năm 1985 cũng như tại nhiều Nghị quyết được banhành trong giai đoạn này trong việc quy định về việc xử lý người phạm tội.Trong khoảng 15 năm tồn tại, BLHS năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung 04lần vào các năm 1989, 1992 và 1997 Những thay đổi này xuất phát từ thựctiễn trong thời kì đổi mới BLHS năm 1999 được xây dựng trên cơ sở kế thừanhững nội dung hợp lý, tch cực của BLHS năm 1985 So với BLHS năm 1985,BLHS năm
1999 có những thay đổi cơ bản mang tính tương đối hoàn thiện thể hiện sựphát triển mới của Luật hình sự Việt Nam mà cụ thể nội dung chúng ta đangphân tch và tìm hiểu là vấn đề miễn TNHS
Tương tự như BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 cũng gồm các quy định vềmiễn TNHS chia làm hai nhóm thuộc Phần chung và Phần các tội phạm Baogồm các điều trong Phần chung như: Miễn TNHS do tự ý nửa chừng chấm dứtviệc phạm tội (Điều 19); do sự thay đổi của tình hình (khoản 1 Điều 25); do sự
ăn năn hối cải của người phạm tội (khoản 2 Điều 25); khi có quyết định đại xá(khoản 3 Điều 25); cho người chưa thành niên phạm tội (khoản 2 Điều 69) vàcác điều trong Phần các tội phạm như: Miễn TNHS cho người phạm tội giánđiệp (Điều 80); cho người phạm tội đưa hối lộ (đoạn 2 khoản 6 Điều 289); chongười phạm tội làm môi giới hối lộ (khoản 6 Điều 290) và cho người phạm tộikhông tố giác tội phạm (khoản 3 Điều 314) Bao gồm hai dạng TNHS có tính chấtbắt buộc và tùy nghi
So với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 có điểm khác biệt hơn về kỹ thuậtlập pháp khi tách vấn đề miễn TNHS thành một chương riêng quy định về thờihiệu truy cứu miễn TNHS, miễn TNHS, đồng thời còn quy định một điều luật
Trang 24riêng về miễn TNHS có tnh chất chung áp dụng cho mọi tội phạm tại Điều 25của chương này Nếu như trước đây vấn đề đại xá chỉ được nêu trong Hiếnpháp và các sắc lệnh, thông tư thì tại khoản 3 Điều 25 BLHS năm 1999, lần đầutiên cụm từ “Đại xá” được nhắc đến trong BLHS với “tư cách” là một căn
BLHS năm 1999 ra đời bên cạnh việc được kế thừa những nội dung tích cực,hợp lí của BLHS năm 1985, đãhoàn thiện thêm một bước các quy định thuộcPhần chung để đảm bảo tính khoa học và thực tiễn, thay đổi kết cấu cácchương tội phạm theo hướng vừa phù hợp với diễn biến mới của tình hình tộiphạm Việt Nam và vừa phù hợp với xu hướng chung của thế giới, phân hóaTNHS ở mức độ cao hơn để nâng cao hiệu quả của Luật hình sự trong thực tiễn
Ngày 27/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua BLHSnăm 2015, đánh dấu một bước tiến quan trọng, tạo cơ sở pháp lý vững chắccho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả, góp phần bảo vệ chủquyền, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyềncông dân, lợi ích của Nhà nước và tổ chức, bảo vệ và thúc đẩy kinh tế thị
Trang 25trường xã hội chủ nghĩa phát triển đúng hướng BLHS năm 2015 có hiệu lực thihành từ ngày
01 tháng 07 năm 2016
Trang 26Tuy nhiên, do BLHS năm 2015 có nhiều thiếu sót, cần có thời gian sữa chữa,
bổ sung nên đã lùi hiệu lực thi hành theo Nghị quyết số 144/2016/QH13, ngày
29 tháng 6 năm 2016 của Quốc hội khóa XIII Ngày 20/06/2017, Quốc hội khóaXIVđã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015 Căn
cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017 thì BLHS năm 2015 (baogồm cả phần sửa đổi, bổ sung năm 2017 – gọi tắt là BLHS năm 2015), có hiệulực thi hành kể từ ngày 01/01/2018
BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về miễn TNHS gồm 3 quyđịnh tại Phần chung và 05 quy định tại phần các tội phạm với những đổi mới về
cả nội dung lẫn hình thức
1.4 Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự với các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
1.4.1 Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt
Miễn TNHS và miễn hình phạt là hai trong nhiều chế định quan trọng củaluật hình sự ở nước ta đã được ghi nhận từ rất sớm, xuyên suốt lịch sử lập pháphình sự Việt Nam bằng các thuật ngữ khác nhau từ Quốc triều hình luật (Bộ luậtHông Đức) đến Hoàng Việt luật lệ Về điểm giống nhau giữa miễn TNHS và miễnhình phạt, có thể nhận thấy:
Miễn TNHS và miễn hình phạt đều là hai chế định thể hiện chính sách khoanhồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta Đồng thời đều phản ánh chính sáchphân hóa tội phạm và người phạm tội cũng như các nguyên tắc nghiêm trịkết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục và cải tạo.Miễn TNHS và miễn hình phạt chỉ áp dụng đối với người bị coi là có lỗitrong việc thực hiện chính tội phạm đó Tức là áp dụng đối với người có hành vinguy hiểm cho xã hội được Luật hình sự quy định
Cuối cùng, việc áp dụng miễn TNHS và miễn hình phạt tức là Nhà nướckhông cách ly họ khỏi đời sống xã hội Tạo điều kiện để họ có cơ hội sửa chữa
Trang 27sai phạm cũng như hướng thiện trở thành con người có ích cho xã hội Bên cạnh
đó miễn TNHS và miễn hình phạt cũng có những điểm khác biệt như:
Thứ nhất, về căn cứ pháp lý miễn TNHS có năm căn cứ chung (Điều 16,
Điều 29, khoản 2 Điều 91 BLHS năm 2015) và năm căn cứ riêng (Điều 110,Điều 247, Điều 364, Điều 365, Điều 390 BLHS năm 2015) Miễn hình phạt có haicăn cứ chung quy định tại Điều 59 và Điều 88 cùng một căn cứ riêng quyđịnh tại Điều 390 BLHS năm 2015
Thứ hai, so về chủ thể áp dụng thì miễn TNHS có phần rộng hơn so với miễn
hình phạt Đối với miễn TNHS, tùy thuộc vào từng giai đoạn tố tụng cụ thể, các
cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án có thẩm quyền áp dụng miễn TNHScho người phạm tội khi đáp ứng các điều kiện do luật định Riêng miễn hìnhphạt thì chỉ do Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền áp dụng ở giai đoạn xét xử
Thứ ba, từ chủ thể áp dụng có thể suy ra đối tượng bị áp dụng của
miễn TNHS rộng hơn so với miễn hình phạt Nếu miễn TNHS có thể là bị can, bịcáo hoặc người bị kết án thì chỉ có người bị kết án là đối tượng duy nhất củamiễn hình phạt Tức là người phạm tội có thể được miễn TNHS ở mỗi giai đoạnkhác nhau của quá trình tố tụng nếu đáp ứng đủ các yêu cầu do luật định, cònriêng miễn hình phạt chỉ được áp dụng khi người phạm tội đã bị kết án bằngmột bản án có hiệu lực pháp luật
Thứ tư, các điều kiện đặt ra của miễn TNHS được quy định rõ ràng và chặt
chẽ hơn so với miễn hình phạt Người được miễn TNHS đương nhiên khôngphải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội do mình thực hiện,nhưng trên thực tế họ vẫn phải chịu biện pháp tác động từ các ngành luậttương ứng Tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng Thẩmphán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định
của BLHS: “Khi đã miễn trách nhiệm hình sự thì Tòa án không được quyết định
Trang 28bất kỳ loại hình phạt nào nhưng vẫn có thể quyết định việc bồi thường cho người bị hại và giải
Trang 29quyết tang vật” Ngược lại, đối với trường hợp miễn hình phạt, tuy đương
nhiên
được xóa án tích nhưng người phạm tội vẫn phải chịu các biện pháp tưpháp
được quy định luật hình sự (các Điều 46-49 BLHS năm 2015)
1.4.2 Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự và các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
Loại trừ TNHS trong luật hình sự có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xácđịnh ranh giới giữa hành vi bị coi là tội phạm và hành vi không phải tội phạm,bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật trong mỗi trường hợptương ứng, cũng như phát huy tinh thần chủ động đấu tranh phòng chống tộiphạm
Có thể nói miễn TNHS và loại trừ TNHS là một trong những chế định thểhiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạmtội nhưng vẫn mang tnh giáo dục, răn đe đối với họ
Các trường hợp miễn TNHS so với các tình tiết loại trừ TNHS có bản chất
pháp lý khác nhau Trên thực tế, nhiều quan điểm cho rằng “Suy cho cùng miễn trách nhiệm hình sự cũng là không truy cứu trách nhiệm hình sự (căn cứ vào hậu quả - nếu người phạm tội không bị áp dụng biện pháp xử lí nào)” (5, tr 7).
Từ sự giống nhau về hậu quả pháp lý cuối cùng là đều không phải chịu TNHS
mà dẫn đến quan điểm hiểu sai khi cho rằng các trường hợp miễn TNHS tức làloại trừ TNHS
Miễn TNHS là không buộc người phạm tội phải chịu TNHS về hành vi tráipháp luật do mình gây ra Tức hành vi được nói đến ở đây đã thõa mãn các dấuhiệu pháp lý của một cấu thành tội phạm tương ứng được pháp luật hình sựquy định phải chịu TNHS nhưng do có những điều kiện nhất định và xét thấykhông cần thiết phải truy cứu TNHS nên họ được miễn TNHS Ngược lại các tìnhtiết loại trừ TNHS là trường hợp người có hành vi gây thiệt hại cho xã hội khi
Trang 30có một trong các tình tiết được loại trừ TNHS quy định trong luật hình sự thìkhông
Trang 31phải chịu TNHS do động cơ của hành vi đã làm mất tính tội phạm của hành vi,
nước quy định về trường hợp miễn TNHS như nước ta nhưng riêng về bản chấtpháp lý có sự khác biệt so với các nhà làm luật Việt Nam
Chính từ sự giống nhau nhưng khác bản chất pháp lý là lý do nên tm hiểu và
đi sâu vào phân tích chế định miễn TNHS của nhiều quốc gia trên thế giới trongtương quan so sánh với pháp luật Việt Nam
Trong hệ thống pháp luật của Cộng hòa Lat-vi-a (là nước Cộng hòa thuộcLiên xô cũ, tách khỏi Liên xô từ năm 1991), khái niệm và đối tượng áp dụngmiễn TNHS của nước này được các nhà lập pháp áp dụng đối với người đãthành niên và đối với người chưa thành niên phạm tội khi đáp ứng những điềukiện nhất định Trong quá trình sữa chữa bổ sung Luật hình sự, các nhà làmluật
nước này đã bổ sung quy định về TNHS của người chưa thành niên và phân loại
cụ thể hơn những nguyên tắc khi áp dụng TNHS đối với người chưa thành niên,
và chú ý đến trường hợp miễn TNHS đối với đối tượng này cũng như khuyếnkhích áp dụng các biện pháp giáo dục, cải tạo đối với họ nhằm thực thi cácnguyên tắc của trách nhiệm hình sự Chẳng hạn như: Giảm bớt các danh mụchình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên; xây dựng các chế định riêng
Trang 32biệt cho việc áp dụng các hình phạt đó cũng như các tình huống dẫn đếntội phạm và việc áp dụng hình phạt,…
Trang 33Cũng giống với pháp luật của Cộng hòa Lat-vi- a, BLHS Việt Nam ngoài quyđịnh các trường hợp miễn TNHS cho người phạm tội nói chung, có một chươngriêng quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhằm mục đích giáodục, giúp đỡ họ sữa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân cóích cho xã hội Đảm bảo nguyên tắc BLHS đã quy định rằngkhi xét xử, Tòa án chỉ
áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việcmiễn TNHS và các biện pháp khác không đảm bảo được tính hiệu quả giáodục, phòng ngừa
BLHS Liên Bang Nga năm 1996, sửa đổi năm 2010 bằng Luật Liên bang số
147 ngày 01/07/2010 quy định tại Chương 11 của phần chung BLHS bao gồmbốn điều luật tương ứng với bốn trường hợp miễn TNHS, ngoài ra còn có haitrường hợp miễn TNHS khác và quy định nhiều trường hợp khác tại phần tộiphạm
Bốn trường hợp miễn TNHS bao gồm: 1) Miễn TNHS do người phạm tội ănnăn hối cải (Điều 75); 2) Miễn TNHS do người phạm tội đã hòa giải với người
bị hại (Điều 76); 3) Miễn TNHS do sự thay đổi của tình hình (Điều 77) và tại Điều
78 là miễn TNHS do đã hết thời hiệu truy cứu TNHS Hai trường hợp khác
được quy định là miễn TNHS do đại xá (Điều 85) và miễn TNHS cho ngườichưa thành niên (Điều 91) Ngoài ra các trường hợp được quy định tại phần cáctội phạm như: Miễn TNHS cho người bắt cóc người (Điều 127); cho người đưahối lộ (Điều 286); cho người tổ chức đơn vị vũ trang bất hợp pháp (Điều 205);cho người trốn khỏi nhà tù hoặc nơi tạm giam (Điều 307);…
Có thể thấy các quy định tại phần chung của BLHS Nga có những điểmtương đồng với các trường hợp miễn TNHS trong BLHS Việt Nam Riêng phầncác tội phạm do tình hình đặc trưng của mỗi nước mà pháp luật Nga quy địnhkhác biệt và khá nhiều hơn so với các quy định tại phần tội phạm của luậthình sự Việt Nam
Trang 34Tại BLHS của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào năm 1999 được quyđịnh tại Chương IV – Miễn trừ trách nhiệm hình sự Bao gồm các trường hợp cụthể sau:
“ 1) Người chưa đủ 15 tuổi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 17) nhưng Tòa án phải áp dụng biện pháp giáo dục, cải tạo quy định tại Điều 48 BLHS;
2) Người bị mất trí, không nhận thức được hậu quả của hành vi do mình gây ra thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Trong trường hợp tội phạm nghiêm trọng thì sự đe dọa, uy hiếp chỉ là tnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Điều 19);
3) Người thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp phòng vệ chính đáng, thì
không bị coi là phạm tội và không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 20);
4)Người thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp tình thế cấp thiết thì không bị coi là phạm tội và không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 21)”
Xem xét quy định miễn TNHS tại BLHS của nhiều nước trên thế giới có thểthấy mặc dù tại các chương đều quy định là miễn TNHS nhưng lại nội dung lại
đề cập đến các trường hợp người phạm tội không phải chịu TNHS Điều nàykhác so với BLHS Việt Nam khi quy định rõ từng chương cụ thể về vấn đề miễnTNHS và các trường hợp loại trừ TNHS
Kết luận Chương 1
Miễn TNHS là một trong những chế định quan trọng của pháp luật hình sựViệt Nam, thể hiện rõ nét nhất tính nhân đạo trong áp dụng pháp luật khi xử lýngười phạm tội mà Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng hướng đến Đảm bảo
sự kết hợp hài hòa giữa giữa xử lý và không xử lý hình sự người phạm tội,hướng đến mục đích hạn chế sử dụng các biện pháp trừng trị về mặt hình sựnhưng vẫn đảm bảo việc giáo dục và cải tạo người phạm tội Có thể nói miễn
Trang 35TNHS xuất hiện từ rất sớm dưới dạng nhiều thuật ngữ khác nhau trải dọc theochiều dài lịch
Trang 36sử của pháp luật nước ta Tại BLHS năm 2015 hiện nay, chế định miễn TNHS
đã được quy định tương đối đầy đủ, rõ ràng và phù hợp với chính sách khoanhồng, nhân đạo mà Đảng và Nhà nước ta đề ra
Xét về cả nỗi dung lẫn hình thức, việc quy định chế định miễn TNHS ở mỗinước đều mang đặc thù riêng theo từng đặc trưng của mỗi quốc gia Nhưngnhìn chung, ở hệ thống pháp luật của bất kỳ đất nước nào cũng đều hướng đếnmột tinh thần chung đấy chính là tnh thần nhân đạo và chế định miễn TNHS làmột trong những chế định thể hiện rõ nhất tinh thần ấy mà mỗi quốc gia trênthế giới đều hướng đến khi xây dựng pháp luật
Trang 37Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC 2.1 Quy định về miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
2.1.1 Quy định của phần chung về miễn trách nhiệm hình sự
2.1.1.1 Miễn trách nhiệm hình sự cho người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Điều 16 BLHS năm 2015 quy định về miễn TNHS đối với người tự ý nửachừng chấm dứt việc phạm tội Với quy định trên, tự ý nửa chừng chấm dứtviệc phạm tội một mặt thể hiện tnh nhân đạo của luật hình sự, nó cho mộtngười đã có ý định phạm tội, đã có hành vi chuẩn bị hoặc bắt tay vào việc thựchiện tội phạm, nhưng đã tự nguyện nửa chừng chấm dứt việc phạm tộiđược hưởng lượng khoan hồng, không phải chịu TNHS Mặt khác, tự ý nửachừng chấm dứt việc phạm tội cũng là một trong những biện pháp góp phầnngăn chặn những hậu quả nguy hiểm cho xã hội Nó cho phép một người có ýđịnh phạm tội, đã chuẩn bị hoặc bắt tay vào việc thực hiện tội phạm, vẫn cókhả năng lựa chọn cách xử sự của mình: Một là tiếp tục thực hiện tội phạmđến cùng thì có thể sẽ phải chịu TNHS; hai là tự mình chấm dứt việc phạmtội thì sẽ được hưởng lượng khoan hồng, không phải chịu TNHS Trong nhiềutrường hợp một người có hành vi nguy hiểm cho xã hội đã lựa chọn cách xử sựthứ hai và điều đó rõ ràng đã góp phần hạn chế bớt những thiệt hại nguyhiểm có thể xảy ra cho xã hội
Cần phân biệt rõ với giai đoạn phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 15 BLHSnăm 2015, tức nếu một người đã thực hiện được hết những hành vi mà người
đó cho là cần thiết để thực hiện tội phạm nhưng chưa hoàn thành do nhữngnguyên
Trang 38nhân khách quan ngoài ý muốn của người đó thì dù sau đó người ấy không tếp tục thực hiện tội phạm cũng không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội vì hành vi đó đã ở giai đoạn phạm tội chưa đạt Ví dụ: A định giết B đã chĩa súng vào B bóp cò nhưng đạn không nổ Sau đó mặc dù súngcòn đạn nhưng A đã tự mình từ bỏ ý định, không tiếp tục thực hiện hành vi giết
B nữa Đối với trường hợp khi một người đã thực hiện được hết những hành vi mà
người đó cho là cần thiết để thực hiện tội phạm, để gây ra hậu quả nguyhiểm cho xã hội nhưng giữa hành vi mà người đó thực hiện với hậu quảnguy hiểm cho xã hội do hành vi đó gây ra còn có một khoảng thời gian nhấtđịnh Trong khoảng thời gian này người đó lại có hành động tích cực để ngănchặn hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra và hậu quả đó đã được ngăn ngừa,tội phạm đã không hoàn thành được, thì cần phải coi người đó là tự ý nửachừng chấm dứt việc phạm tội, vì hành vi mà người đó thực hiện thỏa mãn điềukiện của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Điều kiện đó là: Trước khichấm dứt việc phạm tội hành vi mà người đó thực hiện chưa thỏa mãn đượctất cả các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể và sự chấm dứt việcphạm tội khiến cho tội phạm không thực hiện được đến cùng là do người đó tựnguyện quyết định tuy không có gì ngăn cản
Cần lưu ý trường hợp người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội vẫnphải chịu TNHS nếu hành vi thực tế của họ đủ yếu tố cấu thành tội phạm khác
Ví dụ: Một người mua lựu đạn để giết người, mặc dù họ tự ý nửa chừng chấmdứt việc giết người vẫn phải chịu TNHS về hành vi mua bán trái phép vũ khíquân dụng (Điều 304 BLHS năm 2015)
Các quy định của pháp luật về miễn TNHS chỉ mới quy định việc áp dụngbiện pháp này đối với người thực hành chưa có hướng dẫn tự ý nửa chừngchấm dứt việc phạm tội đối với các trường hợp có đồng phạm Theo đó,ngày
Trang 3919/04/1989, Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân
Trang 40dân tối cao hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của BLHS đãhướng dẫn một số vấn đề như
sau:
Trong các vụ án có đồng phạm, nếu người xúi giục hoặc người tổ chức hayngười giúp sức tuy tự ý nửa chừng từ bỏ ý định phạm tội, nhưng không ápdụng những biện pháp cần thiết để ngăn chặn kẻ thực hành thực hiện tộiphạm, thì tội phạm vẫn có thể được thực hiện
Đối với người xúi giục, người tổ chức thì phải thuyết phục, khuyên bảo, đedọa để người thực hành không thực hiện tội phạm hoặc phải báo cho cơquan Nhà nước có thẩm quyền, báo cho người sẽ là nạn nhân biết về tội phạmđang được chuẩn bị thực hiện để cơ quan Nhà nước hoặc người sẽ là nạn nhân
có biện pháp ngăn chặn tội phạm
Đối với người giúp sức phải chấm dứt việc tạo những điều kiện tinh thần,vật chất cho việc thực hiện tội phạm (như không cung cấp phương tện, công
cụ phạm tội; không chỉ điểm, dẫn đường cho kẻ thực hành…) Nếu sự giúp sứccủa người giúp sức đang được những người đồng phạm khác sử dụng đểthực hiện tội phạm, thì người giúp sức cũng phải có những hành động tích cựcnhư đã nêu ở trên đối với người xúi giục, người tổ chức để ngăn chặn việc thựchiện tội phạm Tuy nhiên, nếu những việc họ đã làm không ngăn chặn đượcviệc thực hiện tội phạm, hậu quả của tội phạm vẫn xảy ra, thì họ có thể vẫnphải chịu TNHS Họ chỉ có thể được miễn TNHS nếu trước khi hành vi phạm tội
bị phát giác mà họ đã tự thú, khai rõ sự việc góp phần có hiệu quả vào việcphát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả củatội phạm
Tóm lại, khi đề cập đến điều kiện của sự tự ý nửa chừng chấm dứt việcphạm tội, cần phải chú ý một số điểm sau: