NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC .... CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HOC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN HỮU TRÁNG
HÀ NỘI – 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Trước hết tôi gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân đã động viên tôi rất nhiều, quý thầy cô và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn của khóa học Và đặc biệt em xin trân thành cảm ơn thầy PGS.TS Trần Hữu Tráng là người hướng dẫn đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn vừa qua.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây.
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2019
Tác giả
Tăng Vương Trọng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY
TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 8
1.1 Những vấn đề lý luận về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 8 1.2 Quy định của BLHS2015 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong sự so sánh với BLHS 1999 19
Chương 2 ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI
CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TẠI CÁC TÒA ÁN QUÂN SỰ VIỆT NAM 28
2.1 Định tội danh tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong quá trình xét xử tại các Tòa án Quân sự 28 2.2 Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong quá trình xét xử tại Tòa án Quân sự 45
2.3 Nguyên nhân của hạn chế, bất cập 54
Chương 3 CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG QUÂN ĐỘI 57
3.1 Yêu cầu hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 57 3.2 Các giải pháp bảo đảm áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về định tội danh và quyết định hình phạt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 60
KẾT LUẬN 67 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây tình hình tội phạm xâm phạm đến tínhmạng, sức khỏe con người trong cả nước đã và đang diễn biến hết sức phứctạp, luôn chiếm tỷ lệ cao so với tổng số án thụ lý, xét xử và ngày càng có xuhướng gia tăng Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác để lạihậu quả đặc biệt nghiêm trọng Người bị hại phải gánh chịu những hậu quả vềsức khỏe, tinh thần, tổn thương cơ thể, trí tuệ Hậu quả xảy ra mà người bịhại có thể làm gánh nặng cho xã hội, gia đình
Tuy đã có nhiều văn bản hướng dẫn giải quyết một số vướng mắc trongquá trình áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội này như: phạm tội
có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm, gây cố tật nhẹ cho nạn nhân,phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người, phạmtội đối với người khác không có khả năng tự vệ… Tuy nhiên, do nhiều nguyênnhân khác nhau như việc chưa nắm rõ, chắc các dấu hiệu pháp lý; việc áp dụngkhông thống nhất các quy định của pháp luật, của các cơ quan tiến hành tốtụng, đặc biệt chưa có hướng dẫn ADPL nên việc định tội danh giữa hai tộinày còn nhiều nhầm lẫn hoặc gây nên tranh luận, khiếu kiện kéo dài
Để nhận thức đúng, áp dụng thống nhất quy định của BLHS Việt Nam
và áp dụng đúng những quy định mới của BLHS về tội CYGTT hoặc gây tổnhại cho sức khỏe của người khác phù hợp với thực tiễn thì việc làm sáng tỏnhững vấn đề lý luận, nghiên cứu thực tiễn ADPL về tội tội CYGTT hoặc gâytổn hại cho sức khỏe của người khác là rất quan trọng Qua đó chỉ ra nhữngvấn đề bất cập, những hạn chế thiếu sót trong định tội danh và quyết địnhhình phạt đối với tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khácnhằm góp phần nâng cao chất lượng xét xử của các Tòa án quân sự Từ những
vấn đề nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho
Trang 6sức khỏe của người khác từ thực tiễn các Tòa án Quân sự ở Việt Nam” làm
luận văn Thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu Tội CYGTT hoặcgây tổn hại cho sức khỏe của người khác dưới góc độ Luật hình sự được công
bố, có thể kể đến một số công trình như sau (tác giả chia thành ba nhóm):
Thứ nhất, hệ thống các giáo trình, sách tham khảo liên quan đến vấn
đề tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như:
- Bình luận khoa học BLHS năm 2015, nhà xuất bản Lao Động, Hà Nộitháng 6-2016;
- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm) (2016), trường
Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội;
- GS.TS Võ Khánh Vinh, Bình luận khoa học BLHS (phần các tội phạm) (2013), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.
Thứ hai, hệ thống các Luận văn Thạc sĩ, Luận án Tiến sĩ Luật Học:
Công trình: “Đặc điểm tội phạm học của tội phạm CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở Việt Nam hiện nay và các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa”, của Nguyễn Hữu Cầu, Luận án tiến sĩ Luật học,
Học viện Cảnh sát Nhân dân, Hà Nội, 2002;
Luận văn (2014) “Các tội CYGTT hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong luật hình sự Việt Nam” của tác giả Lê Đình Tĩnh, Luận văn thạc sĩ
luật học, khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội;
Luận văn “Tội CYGTT hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong luật hình sự Việt Nam” của
Đặng Thị Hương Dung, Luận văn Thạc sĩ;
Luận văn “Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh”, của
Đinh Thị Hoài Thu, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội
Trang 7Nguyễn Thị Minh Nguyệt, “Đấu tranh phòng, chống tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”
Luận văn Thạc sĩ, Khoa luật đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2002;
Lê Đình Tĩnh, “Các tội CYGTT hoặc gây tổn hại đến sức khỏe người của người khác trong luật hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Khoa luật Đại
học Quốc gia Hà Nội, năm 2014
Thứ ba, hệ thống các bài viết, đề tài khoa học:
Bài viết “Một số vấn đề về tình tiết: CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng” của Đinh Văn
Quế, đăng trên Tại chí Tòa án nhân dân kỳ I tháng 9/2010 (số 17);
Bài viết “N phạm tội CYGTT do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”, Tạp chí TAND, số 3, năm 2011” của tác giả An Văn Khoái đăng trên
Tạp chí TAND, số 3, năm 2011;
Bàn về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm
2017 / Nguyễn Văn Hùng, Tòa án nhân dân Số 1/2018, tr 19 – 26;
Thứ tư, các công trình nghiên cứu liên quan:
Luật thi hành án hình sự, GS.TS Võ Khánh Vinh, TS Cao Thị Oanh
nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội năm 2013;
Giáo trình Tội phạm học Chủ biên PGS.TS Lê Thị Sơn, Nhà xuất bản
Công an nhân dân, Hà Nội 2012;
Lý luận chung về định tội danh GS TS Võ Khánh Vinh, Nhà xuất bản
Khoa học xã hội, Hà Nội 2013;
Phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người trong Bộ luật Hình sự năm 2015, Đinh Văn Quế, Kiểm sát Số 7/2018, tr 50 –
Trang 8tổn hại cho sức khỏe của người khác đã được các nhà khoa học quan tâmnghiên cứu khá sớm và sâu sắc, ở nhiều mức độ khác nhau; Đa số các côngtrình đã đánh giá những kết quả đạt được, đồng thời chỉ ra những hạn chế, bấtcập trong các quy định pháp luật cũng như trong ADPL vào xét xử các tộiCYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên nhiều địa bànkhác nhau; hầu hết các công trình nghiên cứu đã nêu ra những quan điểm, ýkiến về các giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật hinh sự
về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Tuy nhiên,chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu thực tiễn định tội danh, quyết địnhhình phạt Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trongquá trình xét xử tại các Tòa án Quân sự Việc nghiên cứu đề tài này có ýnghĩa quan trọng trong nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự và trong công tácđấu tranh phòng chống tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác tại các đơn vị quân đội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là từ việc phân tích để làm rõcác vấn đề lý luận về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác trong việc định tội danh và quyết định hình phạt, tổng kết thực tiễn địnhtội danh và quyết định hình phạt đối với tội phạm này từ thực tiễn xét xử tạicác Tòa án Quân sự, đánh giá thực tiễn ADPL trong quá trình xét xử tại cáctòa án quân sự, luận văn hướng đến mục đích nhằm đề xuất yêu cầu và nhữnggiải pháp hoàn thiện quy định của BLHSvề tội phạm này và nâng cao chấtlượng, hiệu quả của công tác xét xử
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụnghiên cứu cụ thể như sau:
Trang 9Thứ ba, nghiên cứu, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định của BLHS
về tội phạm này và các giải pháp bảo đảm định tội danh và quyết định hìnhphạt đúng đối với Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: những vấn đề lý luận và quy địnhcủa Luật hình sự Việt Nam về Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác qua các giai đoạn, thực tiễn áp dụng quy định của BLHS năm
1999 và BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 về “Tội CYGTT hoặcgây tổn hại cho sức khỏe của người khác” trong thực tiễn xét xử của các tòa
Về thời gian: Luận văn sử dụng dữ liệu nghiên cứu được thu thập quathực tiễn xét xử tại các Tòa án Quân sự từ năm 2014 đến năm 2018 Các dữliệu nghiên cứu được dùng trong luận văn là các số liệu của các Tòa án Quân
sự trong thời gian 05 năm, từ năm 2014 đến năm 2018 Luận văn sử dụng Bộluật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 và Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổsung năm 2017 để nghiên cứu và và đánh giá thực tiễn xét xử các vụ án trongkhoảng thời gian này
Trang 105.2 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng linh hoạt cácphương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây: phương pháp so sánh, phươngpháp tiếp cận hệ thống, phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp sốliệu dựa trên những bản án, quyết định, số liệu thống kê, báo cáo tổng kếtcủa Tòa án quân sự trung ương và các tòa án quân sự quân khu, các thôngbáo kiểm tra án để phân tích các tri thức khoa học luật hình sự và luậnchứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ các vấn đề lý luậncủa Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo pháp luậthình sự Việt Nam Qua đó góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác đấutranh phòng chống tội phạm, đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ
kỷ luật, kỷ cương trong môi trường quân đội
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn cung cấp những thông tin về nghiêncứu thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với Tội CYGTT hoặcgây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong quá trình xét xử tại các Tòa án
Trang 117 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm ba chương với tên gọi như sau:
Chương 1 Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hình sự việt nam
về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác
Chương 2 Định tội danh và quyết định hình phạt tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại các tòa án quân
sự việt nam
Chương 3 Các yêu cầu và giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật
hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác trong quân đội
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN
HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 1.1 Những vấn đề lý luận về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1.1.1 Khái niệm về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1.1.1.1 Khái niệm về tội phạm
Điều 8 BLHS năm 2015 sửa đổi 2017 quy định về tội phạm như sau:Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS,
do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách
cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ
Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốcphòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạmnhững lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy địnhcủa Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [3, tr.19-20]
Tội phạm hiểu theo nghĩa khái quát nhất là hiện tượng xã hội tiêu cực,trái pháp luật hình sự, mang tính giai cấp và thay đổi theo quá trình của lịchsử; được thể hiện ở một tổng hợp các tội phạm cụ thể đã xảy ra trong xã hội
và trong khoảng thời gian nhất định [23, tr.91] Hành vi gây nguy hiểm cho
xã hội do người có năng lực hành vi dân sự gây ra, hành vi đó phải có lỗi vàphải chịu hình phạt Khi xuất hiện tội phạm cũng là xuất hiện và ra đời củaNhà nước, và pháp luật, khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng Để bảo
vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, Nhà nước đã quy định các hành vi gâynguy hiểm cho xã hội là tội phạm và áp dụng TNHS đối với người nào thựchiện các hành vi đó nên tội phạm mang bản chất là một hiện tượng pháp lý
Trang 13Tội phạm cũng là hiện tượng tiêu cực mang thuộc tính xã hội, lịch sử và pháp
lý, tội phạm luôn chứa đựng trong mình đặc tính chống lại Nhà nước, chốnglại xã hội, đi ngược với lợi ích chung của cộng đồng, trật tự xã hội, xâm phạmđến quyền, tự do và các lợi ích hợp pháp của con người
1.1.1.2 Khái niệm về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác
Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể hiểu
là hành vi làm cho người khác bị thương, xâm phạm tới quyền được bảo hộ vềsức khỏe của con người, khiến người khác có những thương tích nhất địnhnhư: Vết bỏng, vết rách trên da thịt, tổn thương hoặc mất đi một số bộ phậntrên cơ thể [19, tr.79]
Trong tình hình kinh tế xã hội của đất nước ta hiện nay, với sự hòanhập của nền kinh tế thị trường thì sự gia tăng tội phạm nói chung, trong đó
có tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khácngày càng diễnbiến phức tạp và có chiều hướng gia tăng.Điều đó đặt ra cho các nhà lập phápphải có các quy định chặt chẽ hơn, sắc bén hơn về phòng chống loại tội phạmnày Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quyđịnh tại điều 134 BLHS 2015, được chia thành 6 khoản Trong đó khoản 1quy định cấu thành cơ bản đối với tội danh này, các khoản 2, 3, 4, 5, 6 quyđịnh cấu thành tăng nặng cho người mà thực hiện hành vi Mức cao nhất củatội này được quy định tại khoản 5 điều 134 BLHS 2015 là tù chung thân
1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
1.1.2.1 Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ củangười khác đó là những chủ thể có quyền được tôn trọng và bảo vệ về tínhmạng, sức khỏe – những người đang sống, đang tồn tại với tư các là thực thểcủa xã hội [8; tr.410] Điều 134 BLHS là tội ghép: Tội CYGTT và tội cố ý
Trang 14gây tổn hại cho sức khoẻ người khác Việc quy định điều luật này trongBLHS nhằm mục đích bảo vệ sức khoẻ cho mọi công dân Như vậy, khách thểtrực tiếp của tội phạm này là xâm phạm đến sức khoẻ của người khác Ngườikhác ở đây được hiểu là một con người cụ thể đang sống, đang tồn tại theoquy luật của tự nhiên Nếu một người tự gây thương tích hoặc gây tổn hại chosức khoẻ cho chính mình thì không được coi là tội phạm, trừ trường hợpngười đó tự gây thương tích cho chính mình để thực hiện một tội phạm khác
Ví dụ: Tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ cho chính mình đểtrốn tránh nghĩa vụ quân sự thì vi phạm vào điểm a khoản 2 Điều 332 BLHS.Tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố
ý làm cho người khác bị thương hoặc tổn hại đến sức khỏe một cách trái phápluật Tội phạm xâm phạm đến quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người
Khách thể của tội CYGTT hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khácchính là quyền được bảo vệ sức khỏe và tôn trọng quyền của con người màđược luật pháp bảo hộ Tội CYGTT hoặc gây tổn hại sức khỏe của ngườikhác thì khách thể trực tiếp chính là sức khỏe của con người Vì chủ thể củahầu hết mọi quan hệ xã hội là con người, khi quyền được tôn trọng và bảo vệsức khỏe của con người bị xâm phạm nó làm phá vỡ sự ổn định của các quan
hệ xã hội đó
1.1.2.2 Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
là những hành vi có tính chất gây tổn hại cho sức khỏe của con người Nhữnghành vi đó có thể là hành động hoặc không có thể là không hành động [8;tr.410]
Mặt khách quan của tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ ngườikhác bao gồm các dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài gồm: Hành vi nguy hiểmcho xã hội; hậu quả nguy hiểm; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậuquả; phương pháp, phương tiện, công cụ, thủ đoạn để thực hiện hành vi nguyhiểm; thời gian, không gian, địa điểm xảy ra hành vi nguy hiểm
Trang 15Hành vi khách quan của tội phạm thể hiện có các đặc tính sau: tínhnguy hiểm cho xã hội; tính trái pháp luật hình sự; có sự kiểm soát của ý thức
và phải có sự điều khiển của ý chí
Hành vi khách quan của tội phạm có thể thực hiện bằng hành độnghoặc không hành động, bằng hành động tức là người phạm tội thực hiện cáchành vi tác động vào cơ thể người khác làm cho người đó bị thương hoặc bịtổn hại sức khỏe bằng các công cụ, phương tiện như: Đâm, chém, bắn, đốtcháy, đầu độc… hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội như: Đấm, đá,cắn hoặc có thể thông qua súc vật như: Thả chó cắn, trâu húc, ngựa đá hay
có thể thông qua người khác như: Nắm chân người khác quăng để gây thươngtích cho người thứ 3, hay ôm người này ném vào người khác Bằng khônghành động như Y tá cố tình không tiêm cho bệnh nhân
Hậu quả của tội CYGTT là thương tích, là tổn thương để lại trên cơ thể
con người Ví dụ: Giập gan, gẫy chân, vỡ đầu Tội cố ý gây tổn hại cho sức
khoẻ người khác phải có hậu quả xảy ra là làm tổn hại các chức năng, bộ phận
trên cơ thể con người Ví dụ: làm rối loạn hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, tiêu
hoá Nạn nhân bị thương tích hoặc bị tổn hại đến sức khoẻ ở mức đáng kể,nếu thương tích không đáng kể thì chưa phải là tội phạm Theo Điều 134BLHS thì lấy tỷ lệ thương tật của nạn nhân làm căn cứ để xác định TNHS vàđịnh khung hình phạt đối với người phạm tội, người bị thương tích hoặc bịtổn hại đến sức khỏe phải có tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên thì người phạmtội mới bị truy cứu TNHS hoặc gây thương tích dưới 11% nhưng thuộc cáctrường hợp: Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại chonhiều người Căn cứ để xác định tỉ lệ thương tật là kết luận của Hội đồnggiám định y khoa, trong trường hợp ở nơi nào không tổ chức được Hội đồnggiám định y khoa thì có thể căn cứ vào Thông tư 20/2014/TT-BYT ngày 12tháng 6 năm 2014 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng tronggiám định pháp y, giám định pháp y tâm thần
Trang 16Cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người là trường hợp ngườiphạm tội cố ý với việc gây thương tích nhưng vô ý với hậu quả chết người.Cũng coi là cố ý gây thương tích dẫn đến chết người trong trường hợp nạnnhân là người cao tuổi, sức yếu hoặc người bị bệnh nặng chỉ cần tác độngkhông mạnh cũng đã làm cho nạn nhân bị chết, nhưng vì người phạm tộikhông biết tình trạng bệnh tật của nạn nhân Nhưng nếu người phạm tội biết
rõ tình trạng bệnh tật, sức khỏe của nạn nhân mà vẫn cố ý gây thương tíchnhằm để nạn nhân chết thì nên định tội giết người Không được coi là cố ýgây thương tích dẫn đến chết người trong trường hợp nạn nhân bị thương nhẹ,nhưng vì lý do khác mà nạn nhân chết
Xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả thương tích thì đây
là dấu hiệu bắt buộc của CTTP Hành vi trái pháp luật phải là nguyên nhângây ra hậu quả thương tích hoặc tổn hại sức khoẻ, tức là có mối quan hệ nhânquả giữa hành vi và hậu quả Để xem xét mối quan hệ nhân quả ta phải dựavào những căn cứ sau: Hành vi gây thương tích (được coi là nguyên nhân)phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội; hành vi gây thương tích phải xảy ratrước hậu quả gây thương tích về mặt thời gian; hậu quả nguy hiểm phải dochính hành vi nguy hiểm gây thương tích gây ra chứ không phải là hành vinào khác; hành vi gây thương tích đó làm phát sinh hậu quả là nguyên nhântrực tiếp, hậu quả xảy ra đúng là sự hiện thực hoá khả năng thực tế phát sinh
hậu quả của hành vi trái pháp luật Ví dụ: do mâu thuẫn cá nhân A đã cầm dao
chém đứt tay của B, mọi người vội vàng đưa B đưa đi cấp cứu thì bị tai nạnlàm B bị gẫy chân, giám định tổng tỷ lệ thương tích B mất 40% sức khoẻ.Nếu xác định A cầm dao chém B gây tỷ lệ thương tích là 40% là không cóquan hệ nhân quả Vì hành vi của A dùng dao chém B làm đứt bàn tay B,Aphải chịu TNHS về thương tích không phải chịu TNHS về thương tích B bịgẫy chân do không có quan hệ nhân quả
Trang 17Những dấu hiệu khác như: Phương pháp, phương tiện, công cụ phạmtội, thời gian, không gian, địa điểm, hoàn cảnh v.v Có ý nghĩa quan trọngtrong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội là cơ
sở để định khung hình phạt và quyết định hình phạt
1.1.2.3 Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm theo quy định của BLHS 2015 bao gồm cả cánhân và pháp nhân thương mại Căn cứ Điều 76 BLHS thì Pháp nhân thươngmại không phải chịu TNHS về tội CYGTT hoặc gây tổn hại đến sức khỏe củangười khác Do vậy chủ thể tội CYGT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác là cá nhân
Cá nhân là chủ thể của tội phạm là người có năng lực chịu TNHS và đạt
độ tuổi theo quy định, Điều 12 của BLHS 2015 quy định về tuổi chịuTNHS:
“1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170,
171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299,
303 và 304 của Bộ luật này”
Như vậy, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS quy định từkhoản 1 đến khoản 6 Điều 134 BLHS
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS quy định tạikhoản 3, 4, 5 Điều 134 BLHS năm 2015 (Vì các khoản 1, 2, 6 Điều 134BLHS thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng)
Năng lực TNHS là điều kiện cần thiết để có thể xác định con người cólỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Chỉ người có năng lựcTNHS mới có thể là chủ thể của tội phạm [8.Tr122] Người có năng lựcTNHS trong tội CYGTT hoặc gây tổn hại đến sức khỏe người khác là người
Trang 18khi thực hiện hành vi gây thương tích họ nhận thức được tính chất nguy hiểm
về sức khỏe cho người khác của hành vi của mình và có khả năng điều khiểnđược hành vi ấy
1.1.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ngườikhác bao gồm lỗi, động cơ, mục đích phạm tội
Lỗi trong hành vi phạm tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khoẻngười khác được thực hiện do cố ý, lỗi cố ý này có thể trực tiếp hoặc giántiếp Tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình nhất định hoặc cóthể gây ra thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của người khác nhưng mongmuốn hoặc có ý thức để mặc,chấp nhận hậu quả đó xẩy ra.[13;414] Lỗi cố ýgián tiếp là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là cóthể gây hậu quả thương tích cho người khác, tuy không mong muốn nhưngvẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xẩy ra
Động cơ, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội CYGTThoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác Tuy nhiên, động cơ, mục đích cóthể làm thay đổi tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và cũng làmột trong các căn cứ xem xét phân biệt tội danh với tội danh khác
1.1.3 Phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích
1.1.3.1 Phân biệt trường hợp giết người (tội phạm hoàn thành) với Cố
ý gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người
Giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cáchtrái pháp luật; giữa hành vi phạm tội và hậu quả chết người có mối quan hệnhân quả; hành vi phạm tội là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả chếtngười
Cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người là trường hợp ngườiphạm tội cố ý với việc gây thương tích nhưng vô ý với hậu quả chết người.Hậu quả chết người xẩy đến là do nguyên nhân khác như: không cấp cứu kịp,
do bị đánh nhưng lại đập đầu xuống đất
Trang 19Hai trường hợp trên giống nhau chủ thể đều từ 14 tuổi trở lên có nănglực trách nhiệm hình sự, cùng có hành vi xâm phạm thân thể người khác nhưbắn, chém, đấm, đá… để lại hậu quả chết người Vì để lại hậu quả chếtngười nên người ta hay căn cứ vào hậu quả để định tội là giết người nên rất
dễ nhầm lẫn Tuy nhiên, phân tch kỹ các yếu tố cấu thành tội phạm, hai tộitrên khác nhau ở điểm sau:
Xét mặt chủ quan, với tội giết người người phạm tội cố ý tước đoạttnh mạng của người khác một cách trái pháp luật, người phạm tội thấytrước hậu quả chết người sẽ hoặc có thể xảy ra và mong muốn hoặc để mặc
hậu quả xẩy ra Trong tội “Cố ý gây thương tch” dẫn đến hậu quả chết người
phạm tội chỉ cố ý gây thương tích nhưng hậu quả chết người đã xẩy ra.Người phạm tội cố ý với việc gây thương tích và vô ý với hậu quả chếtngười Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi chưa bao giờ người phạmtội phạm tội nhận thức rằng hành vi sẽ dấn đến hậu quả chết người hoặc có
có ý thức để mặc hậu quả chết người xẩy ra Hậu quả chết người xảy ra làngoài ý muốn chủ quan của người phạm tội, đồng thời đây là tình tiết địnhkhung tăng nặng trong tội Cố ý gây thương tích
Mục đích người phạm tội trong tội giết người là tước đoạt đi tínhmạng của người khác Mục đích người phạm tội trong tội cố ý gây thươngtích là gây thương tích, tổn hại đến sức khỏe của người khác
Về mặt khách quan của hai tội tương tự nhau hành vi nhưng lại khácnhau về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả chết người Hậu quảchết người của tội giết người là do chính hành vi của người phạm tội trựctiếp gây nên, ngoài ra không còn nguyên nhân nào khác (quan hệ nhân quảtrực tếp) Hậu quả chết người của tội cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quảchết người không chỉ do hành vi của người phạm tội gây nên, hành vi củangười phạm tội không phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến chết người
Trang 20mà nạn nhân chết còn do những nguyên nhân khác Ví dụ: A dùng dao gọthoa quả
Trang 21đâm vào đùi B không may trúng động mạnh đùi, B được đưa đi cấp cứunhưng do nhà xa bệnh viện nên khi đến bệnh viện đã bị chết do mất máu Ađâm vào đùi B mất máu là nguyên nhân trực tiếp gây lên hậu quả chếtngười Do vậy A phạm tội cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả chếtngười
1.1.3.2 Phân biệt giết người chưa đạt với cố ý gây thương tích
Giết người chưa đạt là trường hợp người phạm tội mong muốn giếtngười nhưng hậu quả chết người chưa xảy ra do nguyên nhân ngoài ý muốnchủ quan của người phạm tội Giết người chưa đạt thuộc trường hợp tộiphạm chưa hoàn thành, nhưng tội phạm chưa hoàn thành không phải có mỗitrường hợp tội phạm chưa đạt mà bao gồm cả việc chuẩn bị phạm tội Chuẩn
bị phạm tội giết người và giết người chưa đạt là hành vi phạm tội chưahoàn thành ở các mức độ khác nhau Một bên ở gian đoạn chuẩn bị điềukiện cần thiết thực hiện tội phạm Một bên đã có hành vi xâm phạm thân thểngười bị tấn công Giết người chưa đạt xảy ra với lỗi cố ý trực tếp vì ý thứcchủ quan của người phạm tội là mong muốn hậu quả chết người xảy ra; Cố ýgây thương tch là hành vi cố ý làm người khác bị thương hoặc gây tổn hạiđến sức khỏe một cách trái pháp luật
Hai trường hợp trên dễ nhầm lẫn vì giống nhau về mặt khách quan,đều có hành vi xâm phạm thân thể người khác như bắn, chém, đấm,đá….và chỉ để lại hậu quả gây thương tích, không có hậu quả chết người
Vì để lại hậu quả thương tch nên nhiều ngươì đã vội vàng căn cứ vào tỷ lệthương tích để định tội Cố ý gây thương tích hoặc chưa chết người thì khôngphải tội giết người dẫn đến định tội danh sai
Hai trường hợp trên khác nhau ở khách thể, chủ thể và chủ quan của tội
Trang 22phạm
Xét về khách thể, khách thể bị xâm phạm của tội giết người là tínhmạng con người, còn khách thể bị xâm phạm của tội cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người là sức khỏe của con người
Trang 23Xét về chủ thể, chủ thể của tội giết người là người từ đủ 14 tuổi trởlên và có năng lực trách nhiệm hình sự Còn người từ đủ 14 tuổi trở lên đếndưới
16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự theo Khoản 3, 4,5 tội cố ý gây thươngtch Yếu tố chủ thể này cho thấy cùng là hành vi tấn công thân thểngười khác, nếu xác định đó là giết người thì chủ thể phải chịu trách nhiệmhình sự, nếu xác định đó là cố ý gây thương tích thuộc Khoản 1, 2 Điều 134thì chủ thể từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình
sự Do vậy, thực tiễn cùng hành vi xâm phạm thân thể người khác nếu đánhgiá là tội giết người thì chủ thể phải chịu TNHS, nếu đánh giá là cố ý gâythương tích thì có thể chủ thể không phải chịu TNHS
Xét mặt chủ quan, mặc dù hai tội trên giống nhau lỗi cố ý trực tiếpnhưng khác nhau ý thức chủ quan của người phạm tội Nếu người phạmtội có ý thức tước đoạt tnh mạng nạn nhân nhưng vì những lý do kháchquan mà nạn nhân không chết thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệmhình sự về tội giết người (chưa đạt)
Ví dụ: Sáng 18/5/2015, Nguyễn Vỹ Hùng chuẩn bị 1 đôi găng tay cao
su và một con dao Thái Lan bỏ vào túi quần rồi trèo qua lan can vào phòngcủa chị Phan Thị Tâm để trộm cắp tài sản Trong lúc Hùng lục lọi tìm tài sảnthị chị Tâm bất ngờ đi vào Sợ bị phát hiện nên Hùng nấp sau cánh cửaphòng Lợi dụng lúc sơ hở, Hùng dùng tay bịt miệng chị Tâm rồi kéo vàophòng ngủ Trong lúc hai bên giằng co, Hùng rút dao thủ sẵn trong người rađâm chị Tâm 2 nhát vào vùng mặt Chị Tâm cố vùng bỏ chạy kêu cứu thì bịHùng đuổi theo và đâm liên tiếp cho đến khi nạn nhân ngã gục rồi kéo vàophòng ngủ Lúc bấy giờ, hàng xóm nghe tiếng kêu cứu chạy đến xem thìHùng vứt dao, găng tay rồi bỏ trốn Hậu quả, chị Tâm bị đâm 12 nhát,thương tch 35%
Trang 24Mặc dù chị Tâm chỉ bị thương tích 35% nhưng bị cáo phạm tội Giếtngười chứ không phải tội cố ý gây thương tch bởi vì ý thức chủ quan của bị
Trang 25cáo là mong muốn chị Tâm chết che dấu hành vi trộm cắp Trước khi phạmtội, bị cáo đã có ý thức chuẩn bị con dao Thái Lan với ý định nếu hành vitrộm cắp của mình bị phát hiện thì sẽ đánh lại chủ tài sản Khi chị Tâm pháthiện, bị cáo đã đâm 02 nhát vào mặt, bị đâm chị Tâm kêu cứu và vùng dạy bỏchạy Đến đậy, bị cáo hoàn toàn có cơ hội bỏ chạy, nhưng khôngnhững không chạy mà bị cáo còn hành vi hung hãn, quyết liệt hơn đuổi theođâm nhiều nhát vào người nạn nhân cho đến khi nạn nhân gục ngã thể hiện ýthức chủ quan là mong muốn nạn nhân chết đến cùng để che dấu hành vitrộm cắp (lỗi cố ý trực tiếp) Tuy nhiên nạn nhân không chết do nguyên nhânkhách quan ngoài ý muốn của bị cáo Do vậy, bị cáo phạm tội Giết người(chưa đạt).
Tóm lại, cơ sở phân biệt lỗi tội Giết người và tội Cố ý gây thươngdựa vào ý thức chủ quan của người phạm tội Xét về ý chí, người phạm tội
có thấy trước hậu quả chết người xảy ra hay không? Xét về lý chí ngườiphạm tội mong muốn hay chấp nhận hậu quả này? Nếu người phạmtội không thấy trước hậu quả chết người thì đó là hành vi cố ý gây thươngtích Nếu người phạm tội có thể thấy trước hậu quả chết ngườinhưngkhông mong muốn hậu quả chết người xẩy ra (có ý thức bỏ mặc hậu quả)thì hậu quả đến đâu người phạm tội chịu trách nhiệm đến đó Tuy nhiên,thực tế để xác định ý thức chủ quan của người phạm tội là điều khôngthật dễ dàng, bởi ý thức chủ quan là thái độ tâm lý bên trong người phạmtội, muốn nhận định yếu tố này không có cách nào khác là đánh giá, đốichiếu, phân tích các tình tiết khách quan một cách toàn diện và biện chứng.Các tình tết đó bao gồm: Thời điểm, hoàn cảnh không gian phạm tội, hungkhí tấn công, vị trí tấn công, cường độ tấn công, thái độ lời nói của bị cáotrước, trong và sau khi tấn công, kết luận giám định pháp y
Trang 261.2 Quy định của BLHS2015 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong sự so sánh với BLHS 1999
Quốc hội khoá 13 với 500 đại biểu đã biểu quyết thông qua B LH S
2 01 5 ngày 27/11/2015 với 84,01% đại biểu tán thành Và theo quy địnhtại Điều 426 B LH S 2 01 5 , ngày 01/7/2016 BLHS sẽ có hiệu lực thi hànhngay Nhưng ngày 27/6/ 2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp với Trưởngđoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành về tiến trình triển khai B LH S
2 0 1 5 Do B LH S 2 01 5 có khoảng 90 lỗi kỹ thuật, Ủy ban Thường vụ Quốchội đã gửi phiếu biểu quyết đến các đại biểu để hoãn thi hành đạo luật này
Ngày 20/6/2017, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015, BLHS cóhiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.So sánh Điều 134 của BLHS 2015 vớiĐiều 104 BLHS năm 1999 chúng ta thấy có rất nhiều những điểm sửa đổi, bổsung như sau:
1.2.1 Kết cấu của Điều 134 BLHS 2015
Điều 134 BLHS 2015 quy định:
“1 Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
6 Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02
năm.”
Trang 27Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 quy định 6 khung hình phạt, tăng về sốlượng 2 khung hình phạt so với Bộ luật hình sự 1999, mức hình phạt thấp nhất
Trang 28và cao nhất không có gì thay đổi Tại Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 quy định
04 khung hình phạt, khung cơ bản (khoản 1) là phạt cải tạo không giam giữđến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, khoản 2 là phạt tù từhai năm đến bảy năm, khoản 3 là phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm,khoản 4 là phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.Đối với Điều
134 Bộ luật hình sự 2015 quy định 06 khung hình phạt, khung cơ bản là(khoản 1) so với quy định của BLHS 1999 thì không thay đổi: Phạt cải tạokhông giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, khoản
2 là phạt tù từ 02 năm đến 06 năm (mức hình phạt cao nhất của khung nhẹhơn quy định cũ 01 năm tù), khoản 3 là phạt tù từ 05 năm đến 10 năm(mức hình phạt cao nhất của khung nhẹ hơn quy định cũ 05 năm tù),khoản 4 là phạt tù từ 07 năm đến 14 năm (mức hình phạt khởi điểm củakhung hình phạt này thấp hơn quy định cũ 03 năm, mức hình phạt caonhất của khung thấp hơn quy định cũ 06 năm tù và không có hình phạtchung thân, khoản 5 là phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân,khoản 6 là quy định đối với người chuẩn bị phạm tội này, với khung hìnhphạt là cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02năm
1.2.2 Thay đổi về nội dung của từng khoản trong điều luật
So với quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 thì khoản 1Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 bổ sung, sửa đổi những nội dung chính như
sau: Khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 và khoản 1 Điều 134 Bộ luật
hình sự năm 2015 đều lấy các tình tiết tăng nặng ở khoản 1 làm tình tiết địnhkhung tăng nặng ở khoản 2 đối với trường hợp bị hại tỷ lệ thương tích, tổnhại sức khỏe từ 11% đến 30% Nhưng khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự mới
Trang 29đã thay đổi cách quy định này theo hướng lọc bỏ tình tiết định khung cơ bảnkhông cần thiết, phân loại các tình tiết định khung tăng nặng với mức độnguy hiểm, nguy hại khác nhau để giữ một số tình tiết ở khoản 1 và chuyểnmột số tình tiết sang khoản 2 theo cấp độ nguy hiểm, nguy hại tương ứng vàđưa một
Trang 30trong những tình tiết định khung cơ bản ở khoản 1 làm cơ sở để áp dụngtình tết định khung tăng nặng tại các khoản sau của điều luật mới trongtrường hợp tỷ lệ thương tích, tổn hại sức khỏe của bị hại từ 11% đến 30%.
Thay đổi cụm từ “tỷ lệ thương tật” thành cụm từ “tỷ lệ tổn thương
cơ thể” Theo tác giả thì cụm từ “tỷ lệ tổn thương cơ thể” là phù hợp với quy định chuyên ngành của “Thông tư liên tịch số 28/2013/TTLT-BYT- BLĐTBXH ngày 27 tháng 9 năm 2013 của Bộ Y tế và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích, Thông tư số
20/2014/TT-BYT ngày 12 tháng 6 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế về ban hành Bản tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tch” Nếu theo Thông tư cũ (Thông tư liên bộ số 12-TTLB ngày 26 tháng 7 năm 1995 của liên Bộ Y tế – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội qui định về tiêu chuẩn thương tật và tiêu chuẩn bệnh tật) thì xác định cụm từ này là “thương tật”thì hợp lý Theo tác giả câu từ mà Bộ luật hình sự 2015 dùng là hoàn
toàn chính xác, có cập nhập theo văn bản mới của Bộ y tế, đây là sự thayđổi có ý nghĩa chuẩn xác của thuật ngữ pháp lý
Sửa đổi, bổ sung thêm tình tiết định khung cơ bản quy định tại điểm akhoản 1 Theo quy định ở Bộ luật 1999 thì chỉ xác định 02 tình tết là: Tình
tết “dùng hung khí nguy hiểm” và tình tiết “dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người” nhưng đối với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 được chia thành 04 tình tết tương ứng với người phạm tội dùng “vũ khí”,“vật liệu nổ”, “hung khí nguy hiểm” và “thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người”.
Đối với tình tiết “dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người” của quy định của BLHS 1999 với tình tết “dùng thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người” của quy định mới BLHS 2015 bổ sung từ “có khả
Trang 31năng” vào tình tiết này sẽ giải quyết dứt điểm vướng mắc trong thực tiễn trước đây là người phạm tội “dùng thủ đoạn” trong thực tế các vụ án
thì sau
Trang 32khi tội phạm hoàn thành thì “chưa xảy ra hậu quả gây nguy hại cho nhiều người” Vấn đề này dẫn đến thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật, đặc
biệt là trong hoạt động tố tụng;
BLHS 2015 bỏ tình tết định khung cơ bản “Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 Trong khi
đó điểm b khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 bổ sung tình
tết “Dùng a – xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm” Đối với điểm này
trước khi bị sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì điểm b khoản 1 Điều 134 bộ luật
hình sự 2015 quy định là “Dùng a-xít sunfuric (H 2 SO 4 ) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tch hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”;
Bỏ tình tiết “Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 BLHS
2015 quy định tình tết “Phạm tội 02 lần trở lên” và tại điểm d và “Phạm tội đối với 02 người trở lên” tại điểm đ khoản 1 Điều 134 và các tình tiết này
cũng bị bỏ ở lần sửa đổi, bổ sung năm 2017, được chuyển sang quy định tạikhoản 2 của Điều 134 Bộ luật hình sự mới
Sửa đổi các tình tết “đối với trẻ em”, “phụ nữ đang có thai” thành các tình tết “đối với người dưới 16 tuổi”, “phụ nữ mà biết là có thai”; Bổ sung tình tết “người chữa bệnh cho mình” vào điểm d khoản 1 Điều 104 BLHS 1999 Quy định cũ xác định các đối tượng: “Ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo, người nuôi dưỡng”; Đối với điểm d khoản 1 Điều 134 BLHS 2015 bổ sung thêm đối tượng “người chữa bệnh cho mình”; Bổ sung tình tết “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 134 BLHS 2015.
Sửa đổi điểm g khoản 1 Điều 104 BLHS 1999 theo hướng thêm và sửađổi một số trường hợp liên quan đến đối tượng gây thương tch đangtrong thời gian bị cơ quan thẩm quyền quản lý, giáo dục Bổ sung các
trường hợp “đang chấp hành án phạt tù”, sửa đổi trường hợp “hoặc đang bị
Trang 33áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục” thành: “đang chấp hành biện pháp tư
Trang 34pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” Sửa đổi điểm h
khoản 1
Điều 104 BLHS 1999 theo hướng bổ sung theo hướng thuật ngữ pháp lý cho
hoàn chỉnh Thêm nội dung “thuê” hoặc “được thuê” gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác vào tình tiết này để phù hợp với quy định của điều
luật là “gây thương tích” hoặc “gây tổn hại cho sức khỏe” của người khác.
Bỏ tình tiết “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm i khoản 1 Điều
104 BLHS 1999, bổ sung điểm i khoản 1 Điều 134 BLHS 2015 là “Có tính chất côn đồ” Đối với tình tiết tái phạm nguy hiểm được chuyển sang khoản 2 Điều 134 BLHS 2015, tách tình tiết “Có tính chất côn đồ hoặc tái pháp nguy hiểm” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 104 BLHS 1999 thành 02 tình tết “Có tính chất côn đồ” và “ Tái phạm nguy hiểm” Sửa nội dung của điểm k
khoản 1 Điều 104 BLHS 1999 theo hướng xác định đối tượng bị gây thươngtch, bị gây tổn hại sức khỏe Đối với quy định cũ thì xác định là tình tiết tăng
nặng do mục đích của người phạm tội “để cản trở người thi hành công vụ” Trong thực tiễn xét xử thì rất nhiều trường hợp chứng minh mục đích “để cản trở” này không rõ ràng, rất khó đủ căn cứ chứng minh, đa
phần phụ thuộc vào lời khai của người phạm tội Để khắc phục các vướngmắc trên, điểm k khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự mới đã xác định tình tết
tăng nặng định khung này là: “đối với người đang thi hành công vụ” Trong trường hợp phải chứng minh khi người phạm tội có mục đích “để cản trở người thi hành công vụ” hoặc “hoạt động công vụ” đó có liên quan đến người phạm tội hoặc trường hợp người bị hại “chưa” hoặc “đã” thi hành
công vụ thì không thuộc diện điều chỉnh của quy định này mà nó thuộc
Trang 35diện điều chỉnh của vế sau thuộc điểm k là “hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân”.
So với khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự cũ thì khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự mới có những thay đổi như sau:
Trang 36Các quy định tại khoản 2 Điều 134 BLHS 2015 được chia thành 05 tìnhtết định khung tăng nặng Nội dung tình tiết định khung tăng nặng quyđịnh tại điểm a khoản 2 Điều 134 BLHS 2015 là việc sử dụng nguyên ý thứ
nhất của khoản 2 Điều 104 BLHS 1999 (trường hợp thương tích, tổn hại sức khỏe từ 31% đến 60%); tình tiết định khung tăng nặng tại các điểm b, c
khoản 2
Điều 134 BLHS 2015 là việc pháp điển hóa hướng dẫn tại tểu mục 3.2, mục
3 của Nghị quyết số 01/2006/NQ – HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 về tình
tết “phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người”; điểm d “Tái phạm nguy hiểm” là tình tiết tăng nặng chuyển từ điểm i khoản 1
Điều 104 BLHS 1999 sang; điểm đ là tình tết tăng nặng giống ý thứ 2 củaquy định tại khoản 2 Điều 104 BLHS 1999
Như vậy, việc quy định thêm các tình tiết tăng nặng tại điểm b, c, dkhoản 2 Điều 134 BLHS 2015 là những nội dung quan trong mới trong cácquy định so với khoản 2 Điều 104 BLHS 1999 Nhưng về bản chất thì cácđiểm b, c, d khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự mới quy định lại nội dung của
các điểm c, i khoản 1 Điều 104 BLHS 1999 So với khoản 3 Điều 104 BLHS
1999 thì khoản 3 Điều 134 BLHS 2015 có nhưng nội dung thay đổi cơ bản sau đây:
Khoản 3 Điều 134 BLHS 2015 có 4 tình tiết định khung tăng nặng Ởkhoản 3 Điều 104 BLHS 1999 quy định 02 điều kiện để xác định tình tiết địnhkhung tăng nặng đó là: Tỷ lệ thương tật của bị hại từ 61 % trở lên hoặc gâychết người; tỷ lệ thương tật của người bị hại từ 31% đến 60% nhưngthuộc một trong các tình tiết định khung quy định tại khoản 1 của điều luật.Khoản 3
Điều 134 BLHS 2015 giữ một phần nội dung của 02 điều kiện trên, tách nó ra
thành điểm a là “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
Trang 37khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này” và điểm c là “Gây thương tch hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của từ 11%
Trang 38đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm
từ điểm a đến điểm k khoản 1 điều này”; còn nội dung “gây chết người”
đã chuyển sang tình tết định khung tăng nặng tại khoản 4 Điều 134 BLHS2015; và bổ sung thêm hai tình tết định khung tăng nặng mới tại điểm b vàđiểm d Trong đó, một phần nội dung của 02 tình tết mới tại các điểm b, dkhoản 3
Điều 134 là việc nhà làm luật pháp điển hóa hướng dẫn tại tiểu 3.2, mục 2của Nghị quyết số 01/2006/NQ – HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 về
tình tết “phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người”.
So với khoản 4 Điều 104 BLHS 1999 thì khoản 4 Điều 134 BLHS 2015 có những thay đổi cơ bản sau:Khoản 4 Điều 134 BLHS 2015 có 05 tình tiết định khung tăng nặng (khoản 4 Điều 104 Bộ luật hình sự cũ không thiết kế theo kiểu này) Khoản 4 Điều 104 BLHS 1999 quy định hai điều kiện tăng nặng
định khung là: Phạm tội dẫn đến chết nhiều người và trường hợp đặc biệtnghiêm trọng khác Đối chiếu các tình tiết tăng nặng quy định từ điểm a đếnđiểm đ khoản 4 Điều 134 BLHS 2015 thì thấy:
Hậu quả chết người là tình tiết định khung tăng nặng theo điểm a khoản
4 Điều 134 Bộ luật hình sự mới, với khung hình phạt từ 07 năm đến 14 năm.Theo Điều 104 Bộ luật hình sự cũ thì hậu quả chết người là điều kiện để khởi
tố, truy tố, xét xử người phạm tội theo khoản 3, với khung hình phạt từ
05 năm đến 15 năm
Khoản 4 Điều 134 BLHS 2015 bổ sung mới các tình tiết định khung tạicác điểm b, c để xử lý những trường hợp gây thương tích, gây tổn hạisức khỏe của người khác mà hậu quả để lại vượt quá mức độ được quyđịnh tại các tình tiết tăng nặng theo khoản 3 Điều 134 BLHS 2015
Trang 39Theo đó nếu gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 01 người
với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, mà kèm theo hậu quả là “Làm biến dạng vùng mặt của người khác” thì sẽ bị khởi tố, truy tố, xét xử theo điểm b
khoản 4 Điều 134; nếu gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 01
Trang 40người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, và thuộc một trong các tìnhtiết tăng nặng định khung quy định tại khoản 1 Điều 134 thì sẽ bị khởi tố,truy tố, xét xử theo điểm d khoản 4 Điều 134; Nếu gây thương tích hoặc gâytổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người
từ 61% trở lên thì sẽ bị khởi tố, truy tố, xét xử theo điểm c khoản 4 Đều 134;nếu gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà
tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 30% đến 60%, nhưng thuộc mộttrong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 134 thì sẽ bị khởi tố, truy
tố, xét xử theo điểm đ khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự mới
Khoản 6 Điều 134 BLHS 2015 quy định mới, bổ sung về nội dung:
“Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoạc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tch hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm” Đây là
quy định mới, tến bộ để định tội cố ý gây thương tích trong trường hợpchuẩn bị phạm tội, nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tộiphạm
Tiểu kết chương 1
Tội cố ý gây thương thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của ngườikhác là hành vi trái pháp luật của ngươi có năng lực TNHS cố ý tác động lênthân thể của người một cách trực tiếp hoặc gián tiếp khác gây thươngtch theo luật định
Tội cố ý gây thương tch hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác làhành vi trái pháp luật của người có năng lực TNHS cố ý tác động lên thân thểcủa người một cách trực tiếp hoặc gián tiếp khác gây thương tch theo luậtđịnh Trên cơ sở nghiên cứu về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của