1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp bắt người trong điều tra vụ án hình sự về tội phạm ma túy từ thực tiễn huyện vân đồn, tỉnh quảng ninh

163 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 2,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khoa học luật tố tụng hình sự có nhiều quan niệm khác nhau về các biện pháp ngăn chặn như: “những biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được áp dụn

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

–––––––––

ĐOÀN VĂN LONG

BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

VỀ TỘI PHẠM MA TÚY TỪ THỰC TIỄN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH

QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Hà Nội, 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

–––––––––

ĐOÀN VĂN LONG

BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

VỀ TỘI PHẠM MA TÚY TỪ THỰC TIỄN HUYỆN VÂN ĐỒN TỈNH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “Biện pháp bắt người trong điều tra vụ án

hình sự về tội phạm ma túy từ thực tiễn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh”

là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫntrong Luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luậnkhoa học của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nàokhác

Tác giả luận văn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn thạc sỹ, tác giả đã nhận được

sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các thày, cô giáo, các nhà khoa học, các

cơ quan, tổ chức, cá nhân Đề tài nghiên cứu cũng được hoàn thành dựa trên

sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các công trình nghiên cứu có liên quancủa các tác giả Đặc biệt đề tài còn nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuậnlợi từ gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thày TS Nguyễn TrungThành, người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã dành nhiều thời gian, côngsức hướng dẫn tác giả trong quá trình thực hiện luận văn

Tác giả xin được trân trọng cảm ơn các nhà khoa học, các thày, cô giáo,các bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ tác giả hoàn thiện công trìnhnghiên cứu

Tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng đề tài không tránh khỏi những thiếusót, tác giả kính mong các quý thày, cô, các nhà khoa học những người quantâm đến đề tài đóng góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Đoàn Văn Long

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 7

1.1 Bắt người trong tố tụng hình sự 71.2 Phân biệt bắt người với các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự khác 24

Chương 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI VÀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NÀY TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ TỘI PHẠM MA TÚY TẠI HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH 29

2.1 Thực trạng quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp bắt người 292.2 Thực trạng áp dụng các biện pháp bắt người trong điều tra các vụ

án hình sự về tội phạm ma túy tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 46

Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ TỘI PHẠM MA TÚY

55

3.1 Yêu cầu đối với việc áp dụng các biện pháp bắt người 553.2 Các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp bắt người 61

KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS

: Bộ luật tố tụng hình sự TAND :

Toà án nhân dân TANDTC : Toà án

nhân dân tối cao TANDCC : Toà án

nhân dân cấp cao XHCN : Xã hội

Trang 7

Hiến pháp năm 2013 quy định: “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của

Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam, giữ người do luật định” [26,

tr.19]

Quy định này của Hiến pháp năm 2013 đảm bảo người dân không bị bắt,giam, giữ một cách tùy tiện, vô cớ Vì thế, khi áp dụng biện pháp bắt người đòihỏi phải hết sức thận trọng, phải có căn cứ, đúng đối tượng và đúng thẩm quyền

do luật định Có như vậy, mới phát huy được tác dụng của biện pháp bắt ngườitrong tố tụng hình sự Nếu bắt người không đúng không chỉ ảnh hưởng đếnquyền con người, quyền công dân mà còn tạo dư luận xã hội không tốt và có thểdẫn đến những hậu quả tiêu cực như để lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội,gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án hình sự

Để cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS)năm 2015 đã quy định chặt chẽ, cụ thể các biện pháp bắt người, bao gồm: bắtngười bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả tang; bắt ngườiđang bị truy nã; bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người bị yêu cầu dẫn độ.Trong số những biện pháp bắt người nêu trên, có biện pháp lần đầu tiên đượcquy định trong BLTTHS (bắt người bị yêu cầu dẫn độ) để đáp ứng yêu cầu hợptác quốc tế trong tố tụng hình sự

Từ thực tiễn bắt người trong điều tra vụ án hình sự về tội phạm ma túy tạihuyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh trong 5 năm qua (2014 – 2018) cho thấy, cácbiện pháp bắt người trong điều tra vụ án hình sự về tội phạm ma túy được áp

Trang 8

dụng tương đối phổ biến Do vậy, đã phát huy được tác dụng tích cực của cácbiện pháp bắt người trong điều tra loại án này và góp phần quan trọng vào công

Trang 9

Vì lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Biện pháp bắt người trong điều tra

vụ án hình sự về tội phạm ma túy từ thực tiễn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh”

để nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ Luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến tài

Những vấn đề liên quan đến các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình

sự nói chung, biện pháp ngăn chặn bắt người nói riêng đã được các nhà nghiêncứu lý luận và cán bộ thực tiễn đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu đãđược công bố

Trước hết, là các giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam của trường Đạihọc Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội… Trong các cuốn giáotrình này, các tác giả đã phân tích làm rõ những vấn đề lý luận cũng như quyđịnh của pháp luật tố tụng hình sự về các biện pháp ngăn chặn, trong đó có biệnpháp bắt người Nhưng do khuôn khổ của một giáo trình bậc đại học nên nhữngvấn đề trên chỉ được đề cập ở mức độ khái quát

Ngoài hệ thống giáo trình Luật Tố tụng hình sự, nghiên cứu lý luận vàquy định của pháp luật tố tụng hình sự còn có các cuốn bình luận khoa học

BLTTHS, tiêu biểu là cuốn “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự của

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ

Trang 10

biên, Nxb Tư pháp phát hành năm 2012; Cuốn “Bình luận khoa học Bộ luật tố

tụng hình sự năm 2015”, do TS Phạm Mạnh Hùng chủ biên, do Nxb Lao động

phát hành năm 2018; cuốn “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm

2015” của tập thể tác giả, do Nxb Công an nhân dân phát hành năm 2018…

Trong các cuốn bình luận khoa học BLTTHS nêu trên, các tác giả đã bình luậnlàm rõ nội dung các quy định của BLTTHS về các biện pháp ngăn chặn, biệnpháp cưỡng chế tố tụng hình sự, trong đó có đề cập đến các biện pháp bắt người

Một số công trình khác đề cập đến biện pháp ngăn chặn là sách chuyênkhảo, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình

sự Điển hình là:

Sách chuyên khảo “những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của việc

đổi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của TS Lê

Hữu Thể - TS Đỗ Văn Đương – Th.S Nguyễn Thị Thủy (Đồng chủ biên), do

Nxb Chính trị quốc gia phát hành năm 2013; Sách chuyên khảo “chế định các

biện pháp ngăn chặn theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam – Những vấn dề lý luận

và thực tiễn” của TS Nguyễn Trọng Phúc, do Nxb Chính trị quốc gia phát hành

năm 2015… Trong các cuốn sách chuyên khảo này, tác giả đã phân tích làm rõkhông chỉ những vấn đề lý luận mà còn thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn ởViệt Nam

Luận án tiến sĩ “áp dụng biện pháp ngăn chặn trong điều tra vụ án hình

sự của lực lượng cảnh sát nhân dân” của tác giả Trịnh Văn Thanh, Học viện

Cảnh sát nhân dân; Luận văn thạc sĩ: “Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng

hình sự Việt Nam từ thực tiễn của thành phố Đà Nẵng” của tác giả Trương

Hùng Thanh, Học viện Khoa học xã hội, năm 2013; Luận văn thạc sĩ “Biện

pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”, của tác giả Ngô Thùy Khánh

Linh, Học viện Khoa học xã hội năm 2014; Luận văn thạc sĩ “Biện pháp tạm

giam theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” của

tác giả Trần Thanh Tùng, Học viện Khoa học xã hội, năm 2016… Trong cáccông trình trên các tác giả đã đề cập đến biện pháp ngăn chặn ở nhiều cấp độ,phạm vi khác nhau cả về phương diện lý luận, thực tiễn và giải pháp đảm bảo áp

Trang 11

dụng đúng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự

Nghiên cứu về các biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHSnăm 2015 còn có các bài báo khoa học được đăng tải trên các tạp chí chuyên

ngành như: “chế định biện pháp chăn chặn trong BLTTHS năm 2015” của tác giả Mai Đắc Biên và Mai Ngọc Hải; bài “Biện pháp ngăn chặn tạm giam theo

quy định của BLTTHS năm 2015” của tác giả Hoàng Tám Phi; bài “Những nội dung mới cơ bản về các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế trong BLTTHS năm

2015” của tác giả Hoàng Anh Tuyên; bài “Một số quy định về biện pháp tạm giam trong BLTTHS năm 2015” của tác giả Nguyễn Hồng Thiện; bài “Những điểm mới trong các quy định về biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam của BLTTHS năm

2015” của tác giả Ngô Văn Vịnh; bài “Một số vấn đề trao đổi về biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp” của tác giả Ngô Thanh Nhân và Ngô Văn

Vịnh; bài “Tăng cường các biện pháp kiểm sát bảo đảm việc bắt, tạm giữ, tạm

giam và thi hành bản án hình sự tuân thủ đúng pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân” của tác giả Vũ Huy Thuận và Bùi Thị Tú Oanh.

Như vậy, mặc dù có rất nhiều công trình khoa học đề cập đến các biệnpháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự (trong đó có biện pháp bắt người) Tuynhiên, các công trình này chủ yếu đề cập đến các biện pháp ngăn chặn nóichung, ít có công trình nghiên cứu chuyên sâu về biện pháp bắt người trong tốtụng hình sự, đặc biệt là trong điều tra vụ án ma túy Mặc dù vậy, các công trìnhkhoa học này là những tài liệu tham khảo hết sức bổ ích để học viên thực hiệnluận văn của mình Đồng thời, qua đây có thể xác định đề tài luận văn nàykhông trùng với các công trình khoa học đã được công bố ở Việt Nam hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.

3.1 Mục đích nghiên cứu.

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, quy định của pháp luật tố tụng hình sự vàthực tiễn áp dụng biện pháp bắt người trong điều tra các vụ án hình sự về tộiphạm ma túy ở địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, luận văn hướng tới

Trang 12

mục đích xây dựng các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quy định của pháp luật

tố tụng hình sự về biện pháp bắt người trong điều tra vụ án ma túy

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.

Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung thực hiện các nhiệm vụnghiên cứu sau:

+ Phân tích luận giải cơ sở lý luận về biện pháp bắt người trong tố tụnghình sự trên các bình diện: khái niệm, đặc điểm, căn cứ, thẩm quyền, đối tượng,

áp dụng và mục đích, ý nghĩa của biện pháp bắt người đối với việc giải quyết vụ

án hình sự

+ Bình luận, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng hình sự ViệtNam (nhất là BLTTHS năm 2015) về biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự,rút ra những điểm mới, hoàn thiện cũng như những vấn đề còn hạn chế, bất cậptrong các quy định đó

+ Khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng biện pháp bắt người trong điều tra

vụ án hình sự về tội phạm ma túy ở địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh,chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những hạn chế, thiếu sót cần khắc phục

+ Đưa ra yêu cầu và thiết lập các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quyđịnh của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp bắt người trong giai đoạn điềutra vụ án hình sự

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

4.1 Đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, quy định củapháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp ngăn chặn bắt người trong tốtụng hình sự và thực tiễn áp dụng trong điều tra vụ án hình sự về tội phạm ma túy

Trang 14

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác

- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách

tư pháp, về bảo vệ quyền con người, quyền công dân Ngoài ra, luận văn còndựa trên cơ sở lý luận chuyên ngành luật tố tụng hình sự để làm rõ đối tượngnghiên cứu

5.2 Các phương pháp nghiên cứu.

Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phântích, tổng hợp, so sánh, thống kê, chuyên gia… để làm rõ đối tượng nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.

án hình sự, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy

Ngoài ra, luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo trong học tập, giảngdạy, nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo ngành luật

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về biện pháp bắt ngườitrong tố tụng hình sự

Chương 2 Thực trạng quy định và áp dụng biện pháp bắt người trongđiều tra vụ án hình sự về tội phạm ma túy tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

Chương 3 Yêu cầu và giải pháp đảm bảo áp dụng đúng quy định củapháp luật tố tụng hình sự về biện pháp bắt người trong điều tra các vụ án hình sự

về tội phạm ma túy

Trang 15

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 Bắt người trong tố tụng hình sự.

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự.

Các biện pháp ngăn chặn là nhóm biện pháp cưỡng chế được áp dụng phổbiến trong thực tiễn điều ta, truy tố, xét xử Khi tiến hành tố tụng hình sự, cơquan người có thẩm quyền được phép áp dụng các biện pháp giữ người trongtrường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả tang; bắt người đang bị truy nã;bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người bị yêu cầu dẫn độ; bảo lãnh; đặt tiền đểđảm bảo; cấm đi khỏi nơi cư trú; tạm hoãn xuất cảnh Các biện pháp này khoahọc luật tố tụng hình sự Việt Nam gọi là các biện pháp ngăn chặn Trong cácBLTTHS được ban hành năm 1988, 2003 và 2015, nhà lập pháp nước ta khôngdành một điều luật riêng để quy định khái niệm pháp lý về các biện pháp ngănchặn, mặc dù có quy định cụ thể căn cứ, thẩm quyền, đối tượng và các biện pháp

cụ thể có thể áp dụng

Trong khoa học luật tố tụng hình sự có nhiều quan niệm khác nhau về các

biện pháp ngăn chặn như: “những biện pháp ngăn chặn là những biện pháp

cưỡng chế trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang), nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án” [49, tr.166] Khái niệm này đã chỉ rõ tính chất

cưỡng chế, đối tượng áp dụng và mục đích áp dụng, song chưa chỉ ra căn cứ,chủ thể áp dụng

Quan niệm khác thì cho rằng “Biện pháp ngăn chặn là biện pháp có tính

chất bắt buộc của Nhà nước do những người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được quyền tiến hành một số hoạt động điều tra theo luật định áp dụng, tạm thời tước bỏ hoặc hạn chế một phần quyền tự do thân thể của bị can, bị cáo và trong trường hợp đặc biệt có thể áp dụng đối với người

Trang 16

chưa bị khởi tố về hình sự nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hoặc không cho họ tiếp tục gây nguy hại cho

xã hội” [35, tr.40] Khái niệm này đã cho thấy tính chất bắt buộc phải chấp

hành từ phía người bị áp dụng, chủ thể, đối tượng, mục đích áp dụng, nhưng

không hợp lý khi cho là khi áp dụng biện pháp ngăn chặn “tạm thời tước bỏ một

phần quyền tự do thân thể của bị can, bị cáo…” Trong khi đó, biện pháp ngăn

chặn không phải là hình phạt, không có nội dung “tước bỏ, hạn chế quyền, lợi

ích của người phạm tội” như hình phạt được quy định tại Điều 30 BLHS năm

2015 Ngoài ra, trong khái niệm này chưa liệt kê đầy đủ chủ thể có thẩm quyền

áp dụng biện pháp ngăn chặn như chủ thể bắt người phạm tội quả tang và bắtngười đang bị truy nã

Quan niệm thứ ba thì cho rằng “Biện pháp ngăn chặn là biện pháp hạn

chế quyền tự do cá nhân, do người có quyền hạn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự áp dụng đối với bị can, bị cáo, người liên quan đến việc thực hiện tội phạm chưa bị khởi tố, khi có căn cứ áp dụng nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự đạt hiệu quả cao” [25, tr.41-42]

Quan niện này đã đúng khi chỉ ra bản chất chủ thể, đối tượng, mục đích

áp dụng Tuy nhiên, không chỉ ra căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn

Mặc dù có sự khác nhau nhất định, nhưng các quan niệm nêu trên tươngđối thống nhất khi đề cập đến bản chất của biện pháp ngăn chặn là biện phápcưỡng chế trong tố tụng hình sự, có nội dung hạn chế tạm thời (chứ không tướcbỏ) quyền và lợi ích của đối tượng bị áp dụng, đối tượng, mục đích áp dụng Tuynhiên những khái niệm này được xây dựng trước thời điểm ban hành BLTTHSnăm 2015 nên chưa thật sự chính xác và phản ánh đầy đủ những vấn đề thuộcnội hàm của khái niệm biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự

Để đưa ra khái niệm biện pháp ngăn chặn thật sự khoa học, theo tác giảcủa luận văn thì trong nội dung khái niệm này phải thể hiện được bản chất, căncứ; chủ thể có thẩm quyền áp dụng; đối tượng bị áp dụng; trình tự thủ tục vàmục đích áp dụng mà BLTTHS năm 2015 quy định

Với cách tiếp cận như vậy, tác giả luận văn cho rằng: “các biện pháp ngăn

Trang 17

chặn là những biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự do cơ quan; người có thẩm quyền áp dụng đối với những đối tượng nhất định khi có căn cứ và theo một trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thuận lợi”.

Từ khái niệm này cho thấy, các biện pháp ngăn chặn có các đặc điểm sau:

Một là, biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế do pháp luật

cơ quan có thẩm quyền; cấm cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hànhán; cấm phạm tội mới Cùng với việc cấm đoán đó, các biện pháp ngăn chặn khiđược áp dụng còn hạn chế tạm thời một số quyền và lợi ích thiết thân của đốitượng bị áp dụng như: quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do đi lại,

cư trú… Mặc dù các biện pháp ngăn chặn có nội dung này, nhưng không phải làhình phạt

Tính pháp lý của biện pháp ngăn chặn thể hiện ở chỗ, chỉ những biệnpháp nào có mục đích ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn hành vi cản trở việc điềutra, truy tố, xét xử và thi hành án được pháp luật tố tụng hình sự quy định mớiđược coi là biện pháp ngăn chặn truy tố hình sự

Những tính chất này phản ánh bản chất xã hội pháp lý của biện pháp ngăn chặn

Hai là, căn cứ áp dụng là những tài liệu, chứng cứ xác đáng phản ánh khả

năng đối tượng bị áp dụng (bị can, bị cáo) sẽ gây khó khăn cho việc điều tra,

Trang 18

truy tố, xét xử và thi hành án, cản trở việc xác định sự thật của vụ án hoặc khảnăng tiếp tục thực hiện tội phạm Đây là những căn cứ thực tế chứng tỏ cần phải

Trang 19

ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn những hành vi gây khó khăn, cản trở các hoạtđộng điều tra, truy tố, xét xử hoặc để bảo đảm thi hành án

Ba là, mục đích áp dụng: mục đích chung nhất của việc áp dụng các biện

pháp ngăn chặn là để kịp thời ngăn chặn tội phạm và các hành vi gây trở ngạicho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án như: ngăn chặn việc người

bị tình nghi phạm tội; người bị buộc tội bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ; ngăn chặnviệc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án

Bốn là, đối tượng bị áp dụng chỉ bao gồm những người mà BLTTHS quy

định Họ có thể là người bị buộc tội (bao gồm người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bịcáo); người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; người bị kết án; người bị yêu cầudẫn độ Trong số họ có người đã bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về tội hình sự(bị can); có những người đã bị tòa án quyết định đưa ra xét xử (bị cáo); có người

đã bị tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật và phải thi hành bản án đó.Nhưng cũng có người chưa bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố về hình sự (người

bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người phạm tội quả tang…)

Năm là, chủ thể có thẩm quyền áp dụng là những người mà theo quy định

của BLTTHS họ có quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn Những chủ thể này chủyếu là những người tiến hành tố tụng hình sự; những người trong các cơ quanđược giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; hoặc bất kỳ ai mà theoquy định của pháp luật có quyền bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang

bị truy nã

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của bắt người trong tố tụng hình sự.

Bắt người là một trong những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự

Do vậy, cũng có những đặc điểm chung của biện pháp ngăn chặn như đã phântích ở trên Tuy nhiên, đây là một biện pháp ngăn chặn đặc thù khác với các biệnpháp ngăn chặn khác, nên có những đặc điểm riêng (biểu hiện riêng) về bản chất

xã hội pháp lý, căn cứ, mục đích, đối tượng, thẩm quyền áp dụng Cụ thể là:

+ Thứ nhất, về bản chất xã hội – pháp lý: bắt người trong tố tụng hình sự

biện pháp tạm thời hạn chế tự do thân thể đối với đối tượng bị áp dụng

Nếu như các biện pháp ngăn chặn khác khi được áp dụng có thể hạn chếkhông chỉ quyền tự do thân thể mà còn hạn chế một số quyền, lợi ích thiết thực

Trang 20

khác của đối tượng bị áp dụng như quyền tự do cư trú, quyền về tài sản… thìbiện pháp này chủ yếu hạn chế quyền tự do thân thể của đối tượng bị áp dụng.

+ Thứ hai, căn cứ, điều kiện áp dụng tùy theo từng biện pháp bắt người

mà có những căn cứ, điều kiện tương ứng Tuy nhiên những căn cứ bắt ngườiphải là những tài liệu, chứng cứ xác đáng phản ánh đối tượng có khả năng tiếptục thực hiện tội phạm, khả năng bỏ trốn, khả năng gây khó khăn cho hoạt độngđiều tra, truy tố, xét xử, thi hành án

+ Thứ ba, mục đích áp dụng là để kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn

những hành vi gây trở ngại cho hoạt động điều tra, truy tố xét xử, thi hành án,nhất là hành vi tiêu hủy chứng cứ, bỏ trốn…

+ Thứ tư, đối tượng áp dụng là những người bị giữ trong trường hợp khẩn

cấp, người phạm tội quả tang, người đang bị truy nã, bị can, bị cáo, người có yêucầu dẫn độ

+ Thứ năm, chủ thể có thẩm quyền áp dụng rất đa dạng bao gồm không

chỉ những người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự,những người trong các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt độngđiều tra mà còn có thể là bất kỳ ai trong trường hợp bắt người phạm tội quả tang,người đang bị truy nã

Từ sự phân tích trên có thể rút ra khái niệm về các biện pháp bắt người

trong tố tụng hình sự như sau: “Bắt người là một trong những biện pháp ngăn

chặn trong tố tụng hình sự, do người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị buộc tội, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị yêu cầu dẫn độ, tạm thời hạn chế tự do thân thể của họ, theo những trình tự thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm ngăn chặn tội phạm, người thực hiện tội phạm trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử

và thi hành án được thuận lợi”.

1.1.3 Các biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 109 BLTTHS năm 2015, các biện phápbắt người gồm bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tộiquả tang; bắt người đang bị truy nã; bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người bịyêu cầu dẫn độ

Trang 21

1.1.3.1 Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.

Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp ngăn chặn trong

tố tụng hình sự, do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự áp dụng đốivới người đã bị giữ trong trường hợp khẩn cấp mà xét thấy cần phải tiếp tục ápdụng biện pháp bắt để tạm giữ đối với người đó trong một thời hạn nhất định

Qua đây thấy rằng, đối tượng bị áp dụng biện pháp bắt này chỉ là người bịgiữ trong trường hợp khẩn cấp theo quy định tại Điều 110 BLTTHS hiện hành

Căn cứ để áp dụng biện pháp này là những tài liệu, chứng cứ cho thấy cầnphải tiếp tục áp dụng biện pháp bắt để tạm giữ đối với người bị giữ trong trườnghợp khẩn cấp trong một thời hạn nhất định

Mục đích áp dụng biện pháp này là nhằm ngăn chặn không để người đangchuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, hoặc tội phạm đặc biệt nghiêmtrọng tiếp tục thực hiện tội phạm, ngăn chặn ngay người phạm tội bỏ trốn, hoặctiêu hủy chứng cứ

Về thẩm quyền, trình tự thủ tục bắt: theo quy định tại khoản 4 Điều 110BLTTHS năm 2015, những người sau đây có thẩm quyền ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp

+ Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp;

+ Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương; Đồn trưởngĐồn biên phòng; Chỉ huy trưởng Biên phòng cửa khẩu cảng; Chỉ huy trưởng Bộđội biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cục trưởng Cục trinh sátbiên phòng; Cục trưởng cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biênphòng; Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ độibiên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển; Cục trưởng Cục nghiệp vụ

và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển; Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng,chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng chi cục kiểmngư vùng…

Việc áp dụng biện pháp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đượctiến hành theo trình tự thủ tục như sau:

Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi tiếp nhận người bị giữ trong trường hợpkhẩn cấp, cơ quan điều tra phải lấy lời khai và người có thẩm quyền ra lệnh bắt

Trang 22

phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấphoặc trả tự do ngay cho người đó.

Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Việnkiểm sát cùng cấp kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phêchuẩn

Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩnlệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, VKS phải ra quyết định phêchuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn Thời hạn 12 giờ xét phê chuẩn đượctính liên tục kể cả trong và ngoài giờ làm việc Do vậy, sau khi đã dẫn giải người

bị bắt về trụ sở của mình Cơ quan điều tra thụ lý vụ án phải chuyển ngay hồ sơ

có đủ tài liệu cho VKS cùng cấp xét phê chuẩn

Trường hợp cơ quan điều tra đã ra quyết định tạm giữ nhưng VKS thấykhông có căn cứ để phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấpthì VKS quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợpkhẩn cấp Trường hợp VKS quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữtrong trường hợp khẩn cấp thì người đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩncấp phải ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ, cơ quan điều tra đã nhậnngười bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải trả tự do ngay cho người bị giữ

1.1.3.2 Bắt người phạm tội quả tang.

Căn cứ vào Điều 111 BLTTHS năm 2015 thì bắt người phạm tội quả tang

là trường hợp bắt người khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khithực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt [17, tr.217]

Qua đây cho thấy có ba trường hợp bắt người phạm tội quả tang:

+ Trường hợp thứ nhất là trường hợp bắt người khi người đó đang thựchiện tội phạm thì bị phát hiện Đối với trường hợp này phải có căn cứ xác địnhmột người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện

Người đang thực hiện tội phạm là người đang thực hiện hành vi được mô

tả trong cấu thành tội phạm cụ thể, nhưng chưa kết thúc, hành vi phạm tội củangười này đang gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.Việc đang thực hiện tội phạm diễn ra dài hay ngắn tùy thuộc vào tính chất của

Trang 23

hành vi phạm tội, có hành vi phạm tội được thực hiện trong một khoảng thờigian ngắn như hành vi cướp giật, nhưng cũng có hành vi phạm tội được thực

Trang 24

hiện trong một thời gian dài và không gian đoạn như hành vi tàng trữ trái phépchất ma túy quy định tại Điều 249 BLHS năm 2015 Đối với tội phạm này thìtrong suốt thời gian người phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy mà bị phát

hiện vào bất kỳ thời điểm nào đều được coi là “đang thực hiện tội phạm thì bị

phát hiện” cần ngăn chặn không để tội phạm tiếp tục được thực hiện.

+ Trường hợp thứ hai là trường hợp một người ngay sau khi thực hiện tộiphạm thì bị phát hiện

Đối với trường hợp này phải có căn cứ xác định một người ngay sau khithực hiện hành vi phạm tội xong, chưa kịp chạy trốn, chưa kịp cất giấu tang vậthoặc đang cất giấu tang vật, xóa vết tích của tội phạm thì bị phát hiện Đồngthời, giữa thời điểm kết thúc việc thực hiện tội phạm và thời điểm phát hiện tộiphạm không có sự gián đoạn về mặt thời gian Nếu người thực hiện tội phạm đãkết thúc việc phạm tội và bỏ trốn, sau một khoảng thời gian nhất định người đómới bị người khác phát hiện, thì việc bắt người phạm tội trong trường hợp nàykhông thuộc trường hợp bắt người phạm tội quả tang

Việc người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạmxong có bị phát hiện hay không tùy thuộc vào tính chất của tội phạm, bối cảnhxảy ra tội phạm cũng như khả năng phát hiện của người khác

+ Trường hợp thứ ba là trường hợp một người đang thực hiện tội phạmhoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị đuổi bắt

Đối với trường hợp này phải có căn cứ chứng minh một người đang thựchiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm xong thì bị phát hiện nên đã

bỏ chạy và bị đuổi bắt Đồng thời giữa việc người phạm tội bị phát hiện, bỏ chạy

và việc bị người khác phát hiện đuổi bắt phải có sự kế tiếp nhau, không giánđoạn về mặt thời gian, nghĩa là việc đuổi bắt phải diễn ra ngay sau khi ngườiphạm tội bỏ chạy

Về thẩm quyền bắt người phạm tội quả tang Do tính cấp bách cần phảibắt ngay người phạm tội quả tang để kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội hoặchành vi trốn tránh pháp luật, cũng như để phát huy tính tích cực của nhân dântrong đấu tranh phòng, chống tội phạm, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy

Trang 25

định: “bất kỳ người nào cũng có quyền bắt” (khoản 1 Điều 111 BLTTHS năm

2015)

Trang 26

Về thủ tục áp dụng biện pháp bắt người phạm tội quả tang Để đảm bảo

an toàn cho những người tham gia bắt người phạm tội quả tang pháp luật tố

tụng hình sự Việt Nam quy định: “khi bắt người phạm tội quả tang thì

người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt” (khoản 2

Điều 111

BLTTHS)

Sau khi bắt người phạm tội quả tang, người thực hiện việc bắt phải giảingay người bị bắt đến Cơ quan công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dânnơi gần nhất

Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay hoặc báo cáongay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền

Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn công an phát hiện bắt giữ,tếp nhận người phạm tội quả tang thì Công an xã, phường, thị trấn, Đồn công

an có trách nhiệm thu giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liênquan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trườngtheo quy

định của pháp luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền

1.1.3.3 Bắt người đang bị truy nã

Bắt người đang bị truy nã là bắt bị can, bị cáo, người bị kết án trục xuất,phạt tù hoặc tử hình hoặc người đang chấp hành án trục xuất, chấp hành ánphạt tù hoặc người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được hoãnchấp hành án bỏ trốn và đã quyết định truy nã của cơ quan có thẩm quyền[17,tr219]

Qua đây cho thấy, đối tượng áp dụng biện pháp bắt này là người đang bịtruy nã Họ có thể là bị can, bị cáo, người bị kết án trục xuất, người chấp hành

án phạt trục xuất, người bị kết án phạt tù, người bị kết án tử hình, người đangchấp hành án phạt tù, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, ngườiđược hoãn chấp hành án mà bỏ trốn và đã có quyết định truy nã của cơ quan cóthẩm quyền

Trang 27

Như vậy, người đang bị truy nã, với tính chất là đối tượng bị áp dụng biệnpháp bắt người trong trường hợp này phải có đủ điều kiện: 1 Họ phải có mộttrong những người nêu trên; 2 Có căn cứ xác định họ đã bỏ trốn hoặckhông biết đang ở đâu và đã tến hành các biện pháp xác minh, truy bắtnhưng không có kết quả; 3 Đã xác định chính xác lý lịch, các đặc điểm đểnhận dạng đối

Trang 28

tượng bỏ trốn; 4 Đã bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định (lệnh) truynã.

Về thẩm quyền và thủ tục áp dụng: tương tự như trường hợp bắt ngườiphạm tội quả tang

1.1.3.4 Bắt bị can, bị cáo để tạm giam.

Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là một trong những biện pháp bắt người

do cơ quan, người có thẩm quyền tến hành tố tụng hình sự áp dụng đối với bịcan, bị cáo để tạm giam nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động điều tra,truy tố, xét xử và thi hành án, ngăn chặn bị can, bị cáo tếp tục phạm tội

Qua đây thấy rằng, đối tượng bị áp dụng biện pháp bắt người này chỉ cóthể là bị can hoặc bị cáo

Bị can là người bị khởi tố về hình sự (Điều 60 BLTTHS)

Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử (Điều 61 BLTTHS)

Về căn cứ áp dụng: mặc dù Điều 113 BLTTHS không quy định cụ thể căn

cứ áp dụng biện pháp này nhưng căn cứ vào Điều 119 BLTTHS năm 2015 vềtạm giam, có thể thấy căn cứ bắt bị can, bị cáo để tạm giam phải dựa trên căn

cứ áp dụng biện pháp tạm giam bởi vì sau khi áp dụng biện pháp bắt bị can, bịcáo để tạm giam thì cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng ngay biện pháp tạmgiam đối với người bị bắt

Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam được quy định tại Điều 119 BLTTHSnăm 2015, cụ thể là:

Căn cứ thứ nhất: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam có thể áp dụng đối với bịcan, bị cáo bị buộc tội về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng

Theo Điều 9 BLHS năm 2015 thì tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tộiphạm có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhấtcủa khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến

20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình; Tội phạm rất nghiêm trọng là tộiphạm có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất củakhung hình phạt do BLHS quy định đối với tội ấy là là từ trên 7 năm tù đến 15năm tù

Trang 29

Như vậy, bắt bị can, bị cáo để tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bịcáo phạm những tội có mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đốivới tội ấy là từ trên 7 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình Tuynhiên,

Trang 30

không phải mọi bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội rấtnghiêm trọng đều phải bắt để tạm giam Những đối tượng này chỉ bị bắt đểtạm giam nếu việc bị bắt bị can, bị cáo để tạm giam là cần thiết để kịp thời ngănchặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn choviệc điều tra, tuy tố, xét xử, hoặc sẽ tếp tục phạm tội, hoặc để bảo đảm thihành án.

Căn cứ thứ hai: bắt bị can, bị cáo để tạm giam có thể áp dụng đối với bịcan, bị cáo về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm ít nghiêm trọng mà BLHS quyđịnh phạt tù trên 2 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trongnhững trường hợp sau đây:

+ Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;

+ Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bịcan;

+ Có dấu hiệu bỏ trốn;

+ Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tếp tục phạm tội;

+ Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo giandối, cung cấp tài liệu sai sự thật;

+ Tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sảnliên quan đến vụ án;

+ Đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tộiphạm và người thân thích của những người này;

+ Bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tùđến 2 năm nếu họ tiếp tục phạm tội

Để bảo đảm nguyên tắc nhân đạo của pháp luật, đối với bị can, bị cáo làphụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người

bị bệnh nặng mà có nơi cư trú, lí lịch rõ ràng thì không bắt bị can, bị cáo để tạmgiam, mà áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp sau:

+ Bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội;

+ Bị can, bị cáo có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người kháckhai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy chứng cứ, tài liệu, đồ vật

Trang 31

của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù ngườilàm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích củanhững

Trang 32

người này;

+ Bị can, bị cáo phạm tội về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn

cứ xác định nếu không bắt bị can, bị cáo để tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguyhại đến an ninh quốc gia

Về thẩm quyền áp dụng: Theo quy định tại Điều 113 BLTTHS thì nhữngngười sau đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam:

- Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp Trường hợp này,lệnh bắt phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;

- Viện trưởng, Phó viện trưởng VKSND; Viện trưởng, Phó viện trưởngVKS quân sự các cấp;

- Chánh án, Phó chánh án TAND; Chánh án, Phó chánh án Tòa án quân

Khi tiến hành việc bắt, người thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh,quyết định; giải thích lệnh, quyết định, giải thích quyền và nghĩa vụ của người bịbắt, đồng thời phải lập biên bản về việc bắt; giao lệnh, quyết định cho người bịbắt

Khi tiến hành bắt bị can, bị cáo để tạm giam tại nơi người đó cư trúphải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người khác chứng kiến(thân nhân, người láng giềng của người bị bắt hoặc bất kỳ ai có mặt tại địa điểmthực hiện việc bắt) chứng kiến Khi tiến hành bắt bị can, bị cáo để tạm giam tạinơi người đó làm việc, học tập phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đólàm việc, học tập chứng kiến Khi tiến hành bắt bị can, bị cáo để tạm giam tại

Trang 34

giờ sáng ngày hôm sau), trừ trường hợp bắt bị can, bị cáo đang bị truy nã Quyđịnh này nhằm bảo đảm việc bắt được công khai, minh bạch, giữ trật tự chungcho người dân.

1.1.3.5 Bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn

độ

Áp dụng biện pháp bắt người bị yêu cầu dẫn độ hoặc thi hành quyết địnhdẫn độ phát sinh từ nhu cầu hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự Do vậy,trong một số hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự mà Việt Nam đã ký kết cóquy định sau khi nhận được yêu cầu dẫn độ, bên được yêu cầu phải áp dụng cácbiện pháp cần thiết theo pháp luật của nước mình để bắt người bị yêu cầudẫn độ Để đáp ứng yêu cầu này, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 đã dànhmột điều (Điều 41) để quy định các biện pháp ngăn chặn để dẫn độ Nghiêncứu điều luật này thấy rằng, nội dung của Điều 41 Luật Tương trợ tư pháp năm

2007 mới chỉ dừng lại ở nguyên tắc chung, chưa quy định một cách cụ thể, rõràng đối tượng, cơ quan và người có thẩm quyền ra quyết định áp dụng cũngnhư trình tự thủ tục áp dụng

Để tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc áp dụng biện pháp bắt người bị yêucầu dẫn độ để tạm giam, BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể 5 biện phápngăn chặn, trong đó có biện pháp bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ để bảođảm cho việc xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc thi hành yêu cầu dẫn độ Biện phápbắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ lần đầu tiên được quy định tại Điều503

BLTTHS năm 2015

Mặc dù tại Điều 503 BLTTHS không quy định định nghĩa pháp lý về khái

niệm bắt để tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ, nhưng có thể hiểu: “Bắt

tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình

sự, do cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng đối với người bị yêu cầu dẫn độ để tạm giam nhằm bảo đảm việc xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc thi hành quyết định dẫn độ, đáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự”.

Trang 35

Căn cứ vào quy định tại Điều 503 BLTTHS năm 2015 đối tượng bị áp dụngbiện pháp này là người xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc người bị dẫn độ

Khi thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự,

cơ quan tến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam có thể thực hiện việcdẫn độ người nước ngoài đang ở trên lãnh thổ Việt Nam có hành vi phạm tộihoặc bị kết

Trang 36

án hình sự mà bản án đã có hiệu lực pháp luật cho nước yêu cầu dẫn độ để truycứu trách nhiệm hình sự hoặc để thi hành án nếu có đủ điều kiện để dẫn

độ Công dân Việt Nam mặc dù là đối tượng bị từ chối dẫn độ nhưng họ cóthể là đối tượng bị cơ quan có thẩm quyền nước ngoài yêu cầu cơ quan cóthẩm quyền của Việt Nam dẫn độ Do vậy, trong quá trình xem xét yêu cầu dẫn

độ của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thì công dân Việt Nam có thể bị ápdụng biện pháp ngăn chặn nhất định, trong đó có biện pháp bắt tạm giamngười bị yêu cầu dẫn độ

Điều kiện áp dụng: Biện pháp bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ hoặcngười bị dẫn độ khi có đủ các điều kiện:

+ Tòa án đã có quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ đối với người đó hoặcquyết định dẫn độ đối với người đó đã có hiệu lực pháp luật;

+ Có căn cứ cho rằng người bị yêu cầu dẫn độ bỏ trốn hoặc gây khó khăn,cản trở việc xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc thi hành quyết định dẫn

độ

Thẩm quyền quyết định áp dụng: Theo quy định tại Điều 502 BLTTHS năm

2015 thì Chánh án, Phó Chánh án TAND cấp tỉnh; Chánh án, Phó chánh án TANDcấp cao quyết định áp dụng biện pháp bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn

độ

Về thủ tục: Việc bắt người bị yêu cầu dẫn độ để tạm giam hoặc thi hànhquyết định dẫn độ được thực hiện theo thủ tục quy định tại Điều 113 BLTTHS(bắt bị can, bị cáo để tạm giam)

Thời hạn tạm giam để xem xét yêu cầu dẫn độ không quá thời hạn tronglệnh bắt giam của cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ hoặcthời hạn phải thi hành hoặc còn phải thi hành hình phạt tù trong bản án, quyếtđịnh hình sự của Tòa án nước yêu cầu dẫn độ

Trường hợp cần thiết, TAND cấp tỉnh, TAND cấp cao có thể gửi văn bảnyêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ ra lệnh, quyết địnhtạm giam hoặc gia hạn tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ để bảo đảm việc xemxét yêu cầu dẫn độ; văn bản yêu cầu được gửi thông qua Bộ Công an

Trang 37

“Trường hợp cần thiết” ở đây hiện tại chưa có văn bản giải thích, hướng

dẫn, nhưng có thể hiểu là trường hợp không có đủ tài liệu, chứng cứ để xemxét quyết định áp dụng biện pháp tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ

Trang 38

Quy định này của BLTTHS năm 2015 thể hiện tinh thần trách nhiệm củaViệt Nam trong việc hợp tác quốc tế và tương trợ tư pháp hình sự, cũng nhưtôn trọng pháp luật của nước sẽ xét xử tội phạm được dẫn độ và mỗi nước khácnhau có những quan niệm về tội phạm và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạmgiam với thời hạn khác nhau [*, tr 810]

Khi tòa án có thẩm quyền quyết định từ chối dẫn độ hoặc hết thời hạn

15 ngày kể từ ngày quyết định thi hành dẫn độ có hiệu lực mà nước yêu cầudẫn độ không tiếp nhận người bị dẫn độ thì biện pháp ngăn chặn tạm giam đã

áp dụng bị hủy bỏ Khi hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giam, người bị yêucầu dẫn độ có thể hoặc không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác

1.1.4 Ý nghĩa của việc quy định và áp dụng biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự.

Việc quy định và áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong tốtụng hình sự có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình giải quyết vụ án hình

sự, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và

xã hội, góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Ýnghĩa lớn lao đó được thể hiện trên các phương diện cơ bản sau đây:

+ Thứ nhất, việc quy định và áp dụng các biện pháp bắt người trong

tố tụng hình sự thể hiện quyền lực của Nhà nước trong đấu tranh phòng, chốngtội phạm bằng sức mạnh cưỡng chế

Ở nước ta, đấu tranh phòng, chống tội phạm là trách nhiệm chungcủa toàn xã hội, nhưng vai trò nòng cốt, có tnh chất quyết định vẫn là các cơquan nhà nước, nhất là các cơ quan, người có thẩm quyền tến hành tố tụnghình sự Điều 18

BLTTHS năm 2015 quy định: “Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong

phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội”.

Với nhiệm vụ và trách nhiệm trên, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tốtụng được phép áp dụng các biện pháp do BLTTHS quy định, trong đó có các

Trang 39

biện pháp bắt người để tác động lên thân thể đối tượng bị áp dụng buộcđối tượng phải chấm dứt ngay hành vi phạm tội, ngăn chặn đối tượng bỏtrốn, tiêu

Trang 40

hủy chứng cứ, phạm tội mới nhằm đảm bảo cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án có hiệu quả.

Việc áp dụng các biện pháp bắt người trong tố tụng hình sự đượctiến hành theo ý chí đơn phương của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành

tố tụng hình sự, cũng như của một số người khác được pháp luật trao quyền,không phụ thuộc vào ý chí của đối tượng bị áp dụng Về phía đối tượng bị ápdụng bắt buộc phải chấp hành quyết định áp dụng biện pháp bắt người của cơquan, người có thẩm quyền, nếu không chấp hành thì đối tượng bị áp dụngphải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi do pháp luật quy định (trách nhiệmpháp lý)

+ Thứ hai, việc quy định và áp dụng biện pháp bắt người trong tố tụng

hình sự có tác dụng không chỉ ngăn chặn tội phạm mà còn tạo điều kiệnthuận lợi cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự đượcđúng đắn, có cơ sở pháp lý, đồng thời thể hiện vai trò của bắt người trong cáchoạt động tố tụng nói chung, hoạt động điều tra nói riêng

Để giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan, toàn diện và chính xác,các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải thực hiện nhiều hoạt động, áp dụngnhiều biện pháp khác nhau (trong đó có các biện pháp bắt người) trước hết lànhằm ngăn chặn tội phạm, sau đó là nhằm thu thập chứng cứ chứng minh tộiphạm, làm rõ sự thật của vụ án Để đạt được mục đích đó, cơ quan và người cóthẩm quyền được áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói chung, biện pháp bắtngười nói riêng trong những trường hợp cần thiết, đối với những đối tượngnhất định nhằm: Không để cho đối tượng tự do thực hiện tội phạm, hoặc bỏtrốn; không để cho đối tượng có những hoạt động cản trở việc điều tra, truy tố,xét xử (như tiêu hủy chứng cứ, thông cung, cất giấu phương tiện phạm tội )hoặc gây khó khăn cho việc thi hành án Qua đó góp phần tạo thuận lợi choviệc giải quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời, đúng đắn; góp phần thựchiện có hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm

+ Thứ ba, việc quy định chặt chẽ và áp dụng đúng đắn các biện pháp bắt

người trong tố tụng hình sự còn góp phần tích cực vào việc bảo vệ lợi ích của

Ngày đăng: 13/12/2019, 08:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Anh (2011), Nâng cao hiệu quả hoạt động của điều tra viên trong điều tra vụ án hình sự, Nxb CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả hoạt động của điều traviên trong điều tra vụ án hình sự
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb CAND
Năm: 2011
2. Nguyễn Hòa Bình (Chủ biên) (2016), Những nội dung mới trong BLTTHS năm 2015 (Sách chuyên khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung mới trongBLTTHS năm 2015
Tác giả: Nguyễn Hòa Bình (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
4. Nguyễn Đình Bình (2008), “Một số ý kiến về việc hoàn thiện các quy định về biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 5, tr.27-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về việc hoàn thiện các quyđịnh về biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự”, Tạp chí "Kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Đình Bình
Năm: 2008
5. Mai Đắc Biên, Mai Ngọc Hải (2016), “Chế định biện pháp ngăn chặn trong BLTTHS năm 2015”, Tạp chí Kiểm sát số 05, tr.26-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định biện pháp ngăn chặntrong BLTTHS năm 2015”, Tạp chí "Kiểm sát
Tác giả: Mai Đắc Biên, Mai Ngọc Hải
Năm: 2016
6. Mai Bộ (2007), “Sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS về những biện pháp ngăn chặn”, Tạp chí Kiểm sát số 20, tr.7-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS về nhữngbiện pháp ngăn chặn”, Tạp chí "Kiểm sát
Tác giả: Mai Bộ
Năm: 2007
7. Bộ chính trị (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một sốnhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ chính trị
Năm: 2002
8. Bộ chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về Chiếnlược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ chính trị
Năm: 2005
10. Lê Cảm (2007), Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự vàpháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: NxbTư pháp
Năm: 2007
11. Công an tỉnh Quảng Ninh, Báo cáo kết quả công tác phòng, chống ma túy các năm 2014, 2015, 2016, 2017, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả công tác phòng, chống matúy các năm
12. Công an tỉnh Quảng Ninh, Báo cáo tình hình, kết quả công tác các năm 2014, 2015, 2016, 2017, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình, kết quả công tác các năm
13. Công an tỉnh Quảng Ninh, phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w