1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lời nói giới thiệu và tự giới thiệu trong tiếng Việt (Có liên hệ với tiếng Anh)

281 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 281
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu LNGT và TGT sẽ góp phần vào nghiên cứu lựa chọn ngôn ngữ trong sử dụng ở các phạm vi giao tiếp quy thức và phi quy thức của cộng đồng giao tiếp ở Việt Nam, đồng thời kết quả k

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

TƯỞNG THỊ PHƯƠNG LIÊN

LỜI NÓI GIỚI THIỆU VÀ TỰ GIỚI THIỆU TRONG TIẾNG VIỆT (có liên hệ với tiếng Anh)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-

TƯỞNG THỊ PHƯƠNG LIÊN

LỜI NÓI GIỚI THIỆU VÀ TỰ GIỚI THIỆU TRONG TIẾNG VIỆT (có liên hệ với tiếng Anh)

Ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 9.22.90.20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGÔ HỮU HOÀNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những tư liệu và số liệu trong luận án là trung thực do tôi thực hiện Đề tài nghiên cứu và các kết luận chưa được ai công bố

Tác giả luận án

Tưởng Thị Phương Liên

Trang 4

BẢNG KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

SP1: Người nói/ Chủ thể giao tiếp

SP2: Người nghe/Đối thể giao tiếp BT: Biểu thức

X: Đối tượng được giới thiệu

ĐTNV: Động từ ngữ vi

NDGT: Nội dung giới thiệu

LNGT: Lời nói giới thiệu

LNTGT: Lời nói tự giới thiệu

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SƠ LÍ LUẬN 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6

1.1.1 Tình hình nghiên cứu lời nói trong sự kiện giao tiếp 6

1.1.2 Tình hình nghiên cứu lời nói giới thiệu và tự giới thiệu 11

1.2 Cơ sở lý thuyết 19

1.2.1 Một số vấn đề về giao tiếp 19

1.2.2 Sự kiện giao tiếp (speech event) 29

1.2.3 Lý thuyết hành vi ngôn ngữ (speech acts) 35

1.2.4 Phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi và động từ ngữ vi 37

1.2.5 Lời nói giới thiệu và tự giới thiệu 39

1.3 Tiểu kết chương 1 41

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM LỜI NÓI GIỚI THIỆU VÀ TỰ GIỚI THIỆU TIẾNG VIỆT TRONG GIAO TIẾP QUY THỨC (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH) 43

2.1 Đặt vấn đề 43

2.2 Đặc điểm lời nói giới thiệu quy thức tiếng Việt trong phạm vi giao tiếp chính trị - xã hội (liên hệ với tiếng Anh) 43

2.2.1 Các nhân tố giao tiếp trong phạm vi chính trị - xã hội 43

2.2.2 Các biểu thức lời nói giới thiệu quy thức trong phạm vi chính trị - xã hội 50

2.2.3 Các thành phần trong nội dung giới thiệu quy thức trong phạm vi chính trị - xã hội 68

2.2.4 Các thành phần khác của lời nói giới thiệu quy thức trong phạm vi chính trị - xã hội 72

2.3 Đặc điểm lời nói tự giới thiệu quy thức tiếng Việt trong phạm vi vui chơi giải trí ( liên hệ với tiếng Anh) 78

2.3.1 Các nhân tố giao tiếp trong phạm vi vui chơi giải trí 78 2.3.2 Các biểu thức lời nói tự giới thiệu quy thức trong phạm vi vui chơi

Trang 6

2.3.3 Các thành phần trong nội dung lời nói tự giới thiệu quy thức trong

phạm vi vui chơi giải trí 89

2.4 Tiểu kết chương 2 104

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM LỜI NÓI GIỚI THIỆU VÀ TỰ GIỚI THIỆU PHI QUY THỨC TIẾNG VIỆT (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH) 107

3.1 Đặt vấn đề 107

3.2 Đặc điểm lời nói giới thiệu và tự giới thiệu phi quy thức tiếng Việt trong phạm vi giao tiếp hàng ngày (có liên hệ với tiếng Anh) 107

3.2.1 Các nhân tố giao tiếp trong phạm vi giao tiếp hàng ngày 107

3.2.2 Các biểu thức lời nói giới thiệu phi quy thức trong tiếng Việt trong phạm vi giao tiếp hàng ngày (có liên hệ với tiếng Anh) 111

3.2.3 Các biểu thức lời nói tự giới thiệu phi quy thức tiếng Việt trong phạm vi giao tiếp hàng ngày (có liên hệ với tiếng Anh) 123

3.2.4 Các thành phần trong nội dung lời nói giới thiệu và tự giới thiệu phi quy thức tiếng Việt trong phạm vi giao tiếp hàng ngày (liên hệ với tiếng Anh) 136

3.3 Tiểu kết chương 3 151

KẾT LUẬN 154

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 159

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 160

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.0a Các sự kiện giao tiếp cấp nhà nước trong phạm vi chính trị - xã hội 44

Bảng 2.0b Các sự kiện ở các cấp chính quyền địa phương trong phạm vi chính trị - xã hội 44

Bảng 2.0c Các sự kiện giao tiếp cấp nhà nước trong phạm vi chính trị - xã hội 45

Bảng 2.0d Các sự kiện giao tiếp các cấp chính quyền địa phương trong phạm vi chính trị - xã hội 45

Bảng 2.1 Các biểu thức LNGT tiếng Việt và tiếng Anh trong phạm vi chính trị xã hội 50

Bảng 2.2 Mức độ sử dụng hình thức giới thiệu trực tiếp và gián tiếp quy thức tiếng Việt và tiếng Anh trong phạm vi chính trị - xã hội 52

Bảng 2.3 Các thành phần trong nội dung giới thiệu quy thức tiếng Việt và tiếng Anh- Mỹ trong phạm vi chính trị - xã hội 68

Bảng 2.4 Các từ xưng hô trong LNGT quy thức tiếng Việt và tiếng Anh trong phạm vi chính trị - xã hội 73

Bảng 2.5 Các biểu thức LNTGT quy thức tiếng Việt và tiếng Anh trong phạm vi vui chơi giải trí 81

Bảng 2.6 Mức độ sử dụng họ tên trong lời nói giới thiệu và tự giới thiệu tiếng Việt và tiếng Anh trong phạm vi vui chơi giải trí 91

Bảng 2.7 Các câu hỏi tên tiếng Việt và tiếng Anh trong các chương trình giải trí trên truyền hình 93

Bảng 2.8 Các thành phần biểu thái được sử dụng trong lời nói tự giới thiệu của người tham gia trong các chương trình giải trí trên truyền hình Việt Nam 100

Bảng 3.1 Các biểu thức LNGT phi quy thức tiếng Việt và tiếng Anh trong phạm vi giao tiếp hàng ngày 112

Bảng 3.2 Các từ tăng cường tiếng Việt phi quy thức trong phạm vi giao tiếp hàng ngày 147

Bảng 3.3 Các từ xưng hô tiếng Việt trong phạm vi giao tiếp hàng ngày 147

Bảng 3.4 Các tiểu từ tình thái tiếng Việt trong phạm vi giao tiếp hàng ngày 149

Bảng 3.5 Các thán từ trong tiếng Anh trong phạm vi giao tiếp hàng ngày 150

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Biểu đồ 2.1 Các biểu thức lời nói giới thiệu quy thức tiếng Việt và tiếng Anh

trong phạm vi chính trị - xã hội 52 Biểu đồ 2.2 Các động từ tiếng Việt trong biểu thức lời nói giới thiệu gián tiếp

quy thức trong phạm vi chính trị - xã hội 67 Biểu đồ 2.3 Các động từ/cụm từ tiếng Anh trong biểu thức lời nói giới thiệu gián

tiếp trong phạm vi chính trị - xã hội 67 Biểu đồ 2.4 Từ xưng hô trong LNGT quy thức tiếng Việt và tiếng Anh trong

phạm vi chính trị - xã hội 76 Biểu đồ 2.5 Các từ tăng cường trong lời nói giới thiệu quy thức tiếng Việt trong

phạm vi chính trị - xã hội 77 Biểu đồ 2.6 Từ tăng cường trong lời nói giới thiệu quy thức tiếng Anh ở phạm

vi chính trị - xã hội 78 Biểu đồ 2.7 Các biểu thức tự giới thiệu quy thức tiếng Việt và tiếng Anh trong

phạm vi vui chơi giải trí 83 Biểu đồ 2.8 Các thành phần trong nội dung biểu thức lời nói tự giới thiệu tiếng

Việt và tiếng Anh trong phạm vi vui chơi giải trí 90 Biểu đồ 2.9 Từ tự xưng trong tiếng Việt và tiếng Anh trong phạm vi vui chơi

giải trí 97 Biểu đồ 2.10 Các thành phần biểu thái trong LN TGT quy thức tiếng Việt trong

phạm vi vui chơi giải trí 103 Biểu đồ 3.1 Các biểu thức lời nói giới thiệu phi quy thức tiếng Việt và tiếng Anh

trong phạm vi giao tiếp hàng ngày 113 Biểu đồ 3.2 Các biểu thức lời nói tự giới thiệu phi quy thức tiếng Việt và tiếng

Anh trong phạm vi giao tiếp hàng ngày 125 Biểu đồ 3.3 Các thành phần trong nội dung LNGT phi quy thức tiếng Việt và

tiếng Anh trong phạm vi giao tiếp hàng ngày 136 Biểu đồ 3.4 Các thành phần trong nội dung LN TGT phi quy thức tiếng Việt và

tiếng Anh trong phạm vi giao tiếp hàng ngày 142

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do lựa chọn đề tài

Ngày nay ngôn ngữ học hiện đại phát triển mạnh mẽ vượt theo xu thế toàn diện ở dạng hoạt động dưới sự chế định của các nhân tố văn hóa xã hội, chứ không bó hẹp ở dạng ngôn ngữ cấu trúc Xu thế nghiên cứu ngôn ngữ trong giao tiếp đang nở rộ và đạt được những thành tựu đáng kể, đem lại những hiệu quả lớn lao về mặt lí luận và thực tiễn

Với những quy định khắt khe của quy tắc xã hội, của đặc trưng tâm lý, văn hóa dân tộc quy định cách thức giao tiếp lời nói của mỗi cộng đồng ngôn

ngữ, nên mỗi một hành vi nói như chào, cám ơn, xin lỗi, mời mọc, từ chối, yêu cầu, khen v.v đều có những biểu thức với vai trò hành chức riêng của nó trong giao tiếp và hành vi giới thiệu và tự giới thiệu không phải là một ngoại

lệ Có thể nói, xã hội nào ở mọi thời kì cũng cần có hành vi này, đặc biệt là

trong xã hội hiện đại, do giao lưu rộng mở nên việc giới thiệu lại cần hơn bao giờ hết, vì nó giúp cho mối quan hệ giữa con người khi giao tiếp nhanh chóng

“biết về nhau”, rút ngắn thời gian “tìm hiểu” Vì vậy, người tham gia giao tiếp cần có sự lựa chọn biểu thức nói sao cho thích nghi, phù hợp với bối cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp bộc lộ thái độ lịch sự, tránh vi phạm về thể diện để duy trì mối quan hệ khi giao tiếp nên việc sử dụng ngôn ngữ khi giới thiệu, theo đó, cũng là một sự lựa chọn ngôn ngữ gắn với bối cảnh ngôn ngữ-xã hội-văn hóa Nghiên cứu LNGT và TGT sẽ góp phần vào nghiên cứu lựa chọn ngôn ngữ trong

sử dụng ở các phạm vi giao tiếp quy thức và phi quy thức của cộng đồng giao tiếp ở Việt Nam, đồng thời kết quả khảo sát có liên hệ với dữ liệu tiếng Anh trong ngữ cảnh tương đồng sẽ giúp củng cố thêm kết quả nghiên cứu

Cho đến nay, theo hiểu biết bước đầu của chúng tôi, hầu như chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu, hệ thống về hành vi nói này Vì thế, một nghiên

cứu về lời nói giới thiệu và tự giới thiệu, trên cơ sở lấy tiếng Việt (có liên hệ

với tiếng Anh) cho phép tìm ra những đặc điểm ngôn ngữ, các biểu thức sử dụng theo những quy tắc vận hành ngôn ngữ và những quy tắc về văn hóa của

Trang 10

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc nghiên cứu LNGT và TGT quy thức và phi quy thức trong tiếng Việt và tiếng Anh, luận án góp phần vào chứng minh cho lí thuyết của ngữ dụng học về hành vi ngôn ngữ, lí thuyết của ngôn ngữ học xã hội về các nhân tố trong giao tiếp, phong cách ngôn ngữ, ngữ vực, sự kiện giao tiếp Đồng thời, nghiên cứu chỉ ra đặc điểm LNGT và TGT, đưa ra các biểu thức và đặc điểm ngôn ngữ trong trong phạm vi chính trị - xã hội, phạm vi vui chơi giải trí và phạm vi giao tiếp hàng ngày Đồng thời, luận án liên hệ với LNGT

và TGT trong tiếng Anh để chỉ ra những tương đồng và đặc điểm dị biệt về các biểu thức LNGT và TGT khi sử dụng hai ngôn ngữ khác nhau

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích trên, luận án đặt ra những nhiệm vụ chủ yếu như sau: 1) Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu, luận án tổng hợp một số nội dung cơ bản về vấn đề lí thuyết của ngữ dụng học như lí thuyết hành vi ngôn ngữ và lí thuyết về giao tiếp nhìn từ góc độ dụng học xã hội

2) Chỉ ra những đặc điểm về LNGT và TGT trong tiếng Việt và tiếng Anh nói riêng bằng cách phân tích các nhân tố giao tiếp, khảo sát và chỉ ra các biểu thức lời nói và những đặc điểm ngôn ngữ trong giao tiếp quy thức và phi quy thức ở phạm vi chính trị - xã hội, phạm vi vui chơi giải trí và phạm vi giao tiếp hàng ngày

3) Chỉ ra các nhân tố văn hoá-xã hội, chính trị tác động đến LNGT và TGT trong tiếng Việt và tiếng Anh hiện nay

3 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận án này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp và thủ pháp sau:

3.1 Phương pháp miêu tả

Dựa trên kết quả khảo sát được, tiến hành miêu tả những biểu hiện cụ thể trong LNGT và TGT để thấy được các nhân tố giao tiếp, các nhân tố ảnh

Trang 11

phạm vi chính trị và LNTGT của người tham gia các chương trình giải trí trên truyền hình, và các LNGT và TGT trong mối quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, gia đình trong phạm vi giao tiếp hàng ngày trong tiếng Việt và tiếng Anh Trên cơ

sở đó, chỉ ra những đặc điểm nổi bật, những điểm giống và khác nhau trong từng phương diện, phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn, phân tích hội thoại

Dựa vào kết quả thống kê, tiến hành phân tích các diễn ngôn LNGT và TGT để thấy được những biểu thức lời nói và đặc điểm ngôn ngữ trong văn hoá giao tiếp của Việt Nam và Mỹ Qua đó, chỉ ra được mối quan hệ cũng như

sự chi phối giữa lí thuyết và thực tế sử dụng ngôn ngữ; đồng thời, chỉ ra sự tương tác giữa ngôn ngữ trong hệ thống và nghĩa ngữ dụng trong hai ngôn ngữ

3.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Thông qua kết quả thống kê, tiến hành so sánh, đối chiếu để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt của lời nói giới thiệu và tự giới thiệu trên từng phương diện cụ thể ở những sự kiện chính trị - xã hội, vui chơi giải trí và giao tiếp hàng ngày trong tiếng Việt và tiếng Anh – Mỹ từ năm 2000 đến nay Trong luận án chúng tôi không đối chiếu song song giữ tiếng Việt và tiếng Anh – Mỹ mà đối chiếu một chiều, lấy tiếng Việt là ngôn ngữ nguồn

Sử dụng thủ pháp này còn để so sánh và đánh giá sự khác nhau về cấu trúc, các thành phần trong nội dung lời nói giới thiệu và tự giới thiệu các thói quen sử dụng biểu thức ngôn ngữ, giao tiếp xưng hô… Từ đó thấy được sự chi phối của các nguyên lí giao tiếp, nghi thức lời nói tới các lĩnh vực của LNGT

và TGT Để cụ thể hoá các phương pháp trên, chúng tôi sử dụng thủ pháp nghiên cứu sau:

3.4 Thủ pháp thống kê, phân loại

Khảo sát và thống kê sự xuất hiện của các LNGT các đại biểu, khách mời trong phạm vi chính trị - xã hội; các LNTGT của những người tham gia các chương trình truyền hình trong phạm vi vui chơi giải trí và các LNGT và

Trang 12

LNGT theo cặp thoại giữa SP1 (người dẫn chương trình, người điều hành buổi lễ) và SP2 (khán giả); LNTGT theo cặp thoại/hội thoại giữa SP1 (người tham gia sự kiện) với SP2 (người dẫn chương trình, thành viên ban giám khảo, khán giả); các LNGT và TGT theo cặp thoại/hội thoại giữa bạn bè, đồng nghiệp, con cái, cha mẹ, hàng xóm, người quen, người mới gặp của nhau trong các buổi gặp mặt, giao lưu, trò chuyện trên phần mềm word và excel Nhận định

và đánh giá mà luận án đưa ra dựa vào tình hình khảo sát thống kê và phân loại hơn 1003 cặp thoại/hội thoại lấy từ nguồn tư liệu trên

4 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu, khảo sát của luận án này là LNGT và TGT tiếng Việt và tiếng Anh – Mỹ trong một số lĩnh vực chính trị - xã hội, phạm vi vui chơi giải trí và phạm vi giao tiếp hàng ngày Các yếu tố phi lời như bắt tay, mỉm cười, ra dấu hiệu, nháy mắt, không được xem xét đến trong luận án này

Tư liệu mà chúng tôi thu thập là từ giao tiếp trực tiếp bằng lời nói Luận án tiến hành thu thập tư liệu bằng cách ghi chép lại 1003 cặp thoại/hội thoại LNGT và TGT của 254 sự kiện từ năm 2006 đến 2018 ở các nguồn:

- Nguồn ghi âm các hoạt động giao tiếp ở phạm vi giao tiếp hàng ngày , gồm 75 cặp thoại / hội thoại LNGT và 78 cặp thoại / hội thoại LNTGT tiếng Việt

- Nguồn ngữ liệu trên các kênh truyền hình VTV1, VTV3 của đài truyền hình Việt Nam và trên các kênh Star movie, Disney; trên mạng Internet ở các kênh www.Youtube.com, www.studyphim.vn, www.bilutv.com, www.phimmoi.net, www.hochoctv.com, www.c-span.org Cụ thể:

+ Các sự kiện giao tiếp hàng ngày trong các bộ phim: 7 cặp thoại / hội thoại LNGT và TGT tiếng Việt; 30 cặp thoại / hội thoại LNGT và TGT

+ Các sự kiện trong phạm vi chính trị - xã hội: 223 cặp thoại / hội thoại LNGT và TGT tiếng Việt ; 124 cặp thoại / hội thoại LNGT và TGT trong

Trang 13

+ Các sự kiện trong phạm vi vui chơi giải trí: 302 cặp thoại / hội thoại LNGT và TGT tiếng Việt; 165 cặp thoại / hội thoại tiếng Anh

Ngoài ra, luận án cũng sử dụng kết quả nghiên cứu liên quan khác nhằm củng cố nhận định của luận án cũng như làm sáng tỏ vấn đề đang nghiên cứu

5 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án

5.1 Ý nghĩa lí luận

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần vào nghiên cứu lời nói trong giao tiếp của người Việt Từ việc nghiên cứu LNGT và TGT trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh – Mỹ) thấy được chiến lược giao tiếp của mỗi dân tộc, cộng đồng gắn với các đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá - xã hội của các dân tộc, cộng đồng đó

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu giúp tăng cường hiệu quả giao tiếp của người Việt trong môi trường giao tiếp quy thức và phi quy thức Đồng thời, kết quả khảo sát liên hệ với các biểu thức LNGT và TGT tiếng Anh trong các ngữ cảnh giống nhau có thể trở thành tư liệu cho người Việt học tiếng Anh Kết quả đó

có thể vận dụng vào đời sống giao tiếp hằng ngày hay các mô hình rèn luyện

kĩ năng sống cho người Việt trẻ hiện nay; có thể ứng dụng vào nghiên cứu, giảng dạy trong các nhà trường, đặc biệt trong giảng dạy ngoại ngữ ở Việt Nam

6 Cấu trúc luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận án được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lí luận

Chương 2 Đặc điểm lời nói giới thiệu và tự giới thiệu tiếng Việt trong

giao tiếp quy thức (có liên hệ với tiếng Anh)

Chương 3 Đặc điểm lời nói giới thiệu và tự giới thiệu tiếng Việt trong

giao tiếp phi quy thức (có liên hệ với tiếng Anh )

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SƠ LÍ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu lời nói trong sự kiện giao tiếp

Ngữ dụng học đã phát triển rất mạnh mẽ, nhất là ở thời điểm những lý thuyết về dụng học của Austin (1962), Searl (1969), Brown & Levinson (1987), Leech (1983) xuất hiện Những nghiên cứu về lý thuyết và những nghiên cứu cụ thể trở thành một chuyên ngành có sức lôi cuốn đặc biệt tới các nhà ngôn ngữ học Chính sự phát triển này đã tạo đà cho các nhà ngôn ngữ học quan tâm nhiều hơn những vấn đề liên quan đến lời nói trong sự kiện giao tiếp Qua tìm hiểu, chúng tôi đưa ra một số hướng nghiên cứu tiêu biểu sau:

1.1.1.1 Hướng nghiên cứu lời nói theo cấu trúc hệ thống

Ở hướng nghiên cứu này, theo quan sát chúng tôi chỉ có một số nghiên cứu về mô hình sử dụng các hành vi ngôn ngữ thông dụng trong giao tiếp theo nghi thức lời nói

Tiêu biểu phải kể đến nghiên cứu “Cách dùng nghi thức lời nói tiếng Nga” của N.I. Phơrơmanốpxcaia (1987) [59] Trong công trình này, tác giả

miêu tả và phân loại các hành vi ngôn ngữ như xưng hô, thu hút sự chú ý, làm quen, chào hỏi, tạm biệt, chúc mừng, chúc tụng, cảm ơn, xin lỗi, mời, khuyên nhủ-đề nghị, an ủi-cảm thông-chia buồn, khen ngợi-tán đồng, nói chuyện điện thoại Tất cả những hành vi ngôn ngữ đó được minh họa qua băng ghi âm,

những ví dụ được trích trong các tác phẩm văn học Đây là một công trình nghiên cứu chứa đựng lượng kiến thức phong phú lý giải cho nghi thức lời nói mặc dù có thiên hướng nhiều về thực hành

Sau đó N.I Phơrơmanốpxcaia cùng A.A Akisina xuất bản cuốn sách

về“Nghi thức lời nói Nga” (1987) [1] Các tác giả đưa ra một loạt bảng biểu

mẫu, tình huống sử dụng và diễn giải theo từng nhóm đề tài, kèm theo là các

ví dụ minh họa và một số hội thoại trong tình huống cụ thể Trong phần hội thoại có cả đối đáp và phản đáp từ những dẫn liệu tiêu biểu, sinh động và

Trang 15

Cùng với sự phát triển không ngừng các nghiên cứu trên thế giới về lời nói trong sự kiện giao tiếp, ở trong nước đã có một số nhà ngôn ngữ học quan tâm và đi sâu tìm hiểu về lời nói và nghi thức lời nói

Thái Duy Bảo (1988) [69] “đối chiếu nghi thức lời nói đối thoại Anh – Việt”, tác giả đi vào miêu tả, đối chiếu các khuôn mẫu nghi thức lời nói trong

năm phạm trù “giao tế” cơ bản và nêu lên những đặc trưng của các hành vi

ngôn ngữ như: hành vi xưng hô, chào hỏi, tiễn biệt, cảm ơn, xin lỗi, mời, yêu cầu, v.v Đồng thời, luận án còn nêu điều kiện dùng các phát ngôn, các mã tín

hiệu kèm theo ngôn ngữ đặc thù trong những bối cảnh giao tiếp tương đồng xét trên bình diện dụng học

Phạm Thị Thành (1995) [63] nghiên cứu tìm hiểu các phát ngôn chào, cám ơn, xin lỗi bằng cách phân loại theo nội dung ngữ nghĩa giao tiếp và cấu

trúc của các phát ngôn trong hoạt động giao tiếp mang tính nghi thức Từ việc hình thành lên các khuôn mẫu theo từng hành vi, tác giả phân tích những tác động của hoạt động giao tiếp tới sự hình thành nội dung ngữ nghĩa và cấu trúc

cú pháp của các phát ngôn này Luận án có một ngữ liệu nghiên cứu khá đa dạng như trong các tiểu thuyết, truyện ngắn, tạp chí trong các giáo trình dạy tiếng Việt hiện đại đến các cuộc đối thoại trong phim, kịch, tiểu phẩm trên truyền hình và trong đời thường được ghi âm lại

Nguyễn Văn Khang (1996)[41] đã đề cập đến một loại nghi thức lời nói thể hiện hành vi xưng gọi trong giao tiếp gia đình người Việt Tác giả tập

trung mô tả và đưa ra các kiểu chào thường gặp trong gia đình người Việt

Nguyễn Văn Lập (2005) [46] miêu tả và phân loại nghi thức lời nói khẩu ngữ tự nhiên của tiếng Việt theo các nhóm thông dụng nhất Đặc biệt tác giả đối chiếu hai loại khuôn mẫu nghi thức lời nói trong tiếng Việt và tiếng Anh-Mỹ về nghi thức lời nói biểu thị hành vi yêu cầu và nghi thức lời nói biểu

thị hành vi cảm ơn

Trang 16

1.1.1.2 Hướng nghiên cứu lời nói theo dụng học

Trên thế giới, Austin (1965) và Searle (1969), Hymes (1964), Grice

(1975), Levinson (1983), Schmidt & Richards (1985), Yule (1996),v.v, có

những nghiên cứu về lý thuyết hành vi ngôn ngữ, cho thấy được “một sự điều chỉnh sâu sắc và cơ bản đối với quan niệm của F.de Sausure về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói” [16]

Austin [46] phát hiện ra bản chất hành vi ngôn ngữ là hành vi được thực hiện ngay khi nói năng và ngôn ngữ là phương tiện thực hiện hành vi đó Nói

như tác giả Nguyễn Văn Hiệp về tư tưởng cốt lõi của Austin một cách đầy đủ

“nói là hành vi” [38] Austin chia hành vi ngôn ngữ làm ba tiểu hành vi: Hành

vi tạo lời (locutionary act), hành vi ở lời (illocutionary act), hành vi mượn lời (perlocutionary act) Khi phát ngôn của người nói kết thúc thì cũng là lúc

người nói thực hiện xong hành vi ngôn ngữ

Searle [107] hoàn thiện và phát triển thêm khái niệm hành vi ngôn ngữ Theo tác giả các qui tắc mà con người tuân thủ cũng đồng thời là những quy tắc mà hành vi ngôn ngữ phải tuân theo Để phân biệt các hành vi ngôn ngữ Searle đưa ra mười hai điểm khác biệt và dựa vào bốn tiêu chí quan trọng hơn

cả là đích ở lời, hướng khớp ghép giữa lời và hiện thực, trạng thái tâm lý, nội dung mệnh đề để phân lập thành năm nhóm hành vi ở lời

Đã có một số nhà ngôn ngữ nghiên cứu đưa ra những quan điểm, những bài viết liên quan đến hành vi ngôn ngữ như: Searle J.R , Kiefer F and Bierwisch.M (Chủ biên, 1980); Eemeren F.H và Grootendorest.R (1982); Geis L.M (1995); Gass S.M and Neu.J (Chủ biên, 1996)

Ở Việt Nam, lý thuyết về hành vi ngôn ngữ cũng được bàn luận khá nhiều trong những công trình của Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (1993), Nguyễn Đức Dân (1998), Nguyễn Thiện Giáp (2004), v.v Các tác giả không những giới thiệu các quan điểm tiêu biểu của các nhà nghiên cứu trên thế giới mà còn đưa ra những lập luận riêng trên cứ liệu tiếng Việt

Sự xuất hiện của lý thuyết hành vi ngôn ngữ có tác động mạnh mẽ tới các

Trang 17

ơn (Ngô Hữu Hoàng, 1998; Đỗ Thị Thuý Vân, 2019), hành vi khen (Nguyễn Văn Quang, 1999; Phạm Thị Hà, 2013); sự kiện lời nói cho, tặng (Chử Thị Bích, 2008); các phát ngôn chào, cảm ơn, xin lỗi (Huỳnh Thị Nhĩ, 2010; Nguyễn Văn Khang, 2014); hành vi chê, hành vi từ chối, hành vi yêu cầu, hành vi nhờ v.v được coi là những hành vi ngôn ngữ để nghiên cứu các hành

vi trực tiếp, hành vi gián tiếp; các biểu thức ngôn ngữ, các biến thể; các yếu tố

ngôn ngữ và thực tế sử dụng các hành vi ngôn ngữ đó Sau đây là những nghiên cứu tiêu biểu:

Nguyễn Văn Quang (1999) [50] đã chỉ ra một số khác biệt giao tiếp lời nói

trong cách thức khen và tiếp nhận lời khen của người Việt và người Mỹ “Khen”

được coi là một hành vi ngôn trung giao tiếp Xét theo các thông số giao tiếp, tác giả mô tả việc sử dụng cách thức khen trực tiếp và gián tiếp trong từng ngôn ngữ, các dấu hiệu từ vựng tình thái, đồng thời nêu ra những điểm tương đồng và dị biệt Kết quả nghiên cứu này giúp cho những người sử dụng ngôn ngữ tránh được các xung đột văn hóa tiềm năng trong giao tiếp Đây là một sự khẳng định tầm quan trọng của dụng học giao thoa văn hóa nhằm phục vụ cho giảng dạy ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp và các lĩnh vực có liên quan

Dương Tuyết Hạnh (2006) [8] khảo sát hành vi nhờ trong hội thoại hàng

ngày và các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại, tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản phim (đã được văn bản hoá) để chỉ ra các biểu thức ngữ vi nhờ, cách rào đón và phép lịch sự trong sự kiện lời nói nhờ

Huỳnh Thị Nhĩ (2010) [16] đã vận dụng một số kết luận về nghi thức tiếng Việt của Phạm Thị Thành [63] đưa ra cấu trúc, tình huống và chiến lược

thực hiện các phát ngôn chào, cám ơn, xin lỗi dựa theo lý thuyết về hành vi

ngôn ngữ và lý thuyết lịch sự và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cách sử dụng các phát ngôn đó trên cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt Đồng thời tác giả có những gợi ý hướng dẫn sinh viên Việt Nam học tiếng Anh-Mỹ theo đúng cách của người

Mỹ khi giao tiếp với họ, giúp sinh viên nâng cao năng lực giao tiếp

Ngô Hương Lan (2014) [58] chỉ ra đặc điểm hành vi từ chối lời cầu khiến

Trang 18

thức cụ thể; những điểm giống và khác nhau giữa tiếng Nhật và tiếng Việt và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy tiếng Nhật như một ngoại ngữ đối với người Việt dưới ánh sáng của lí thuyết lịch sự và góc nhìn của giao tiếp liên văn hoá

1.1.1.3 Hướng nghiên cứu theo ngôn ngữ học xã hội

Từ khi ngôn ngữ học xã hội (sociolinguistics) xuất hiện, đã có nhiều nội dung được nghiên cứu gắn liền với tên các tác giả như: Fasold (1990), Labov (1967), Trudgill (2000),v.v, trong đó nổi bật có một số nghiên cứu theo hướng giao tiếp tương tác của các tác giả như Saville-Troike (1986), Hymes (1974), v.v Ngôn ngữ học xã hội tương tác được phát triển trên cơ sở của dân tộc học giao tiếp (Ethnography of Communication) với mục đích là dùng tri thức ngôn ngữ để lý giải quá trình và kết quả giao tiếp giữa con người với con người; chỉ ra được những đặc trưng trong sử dụng ngôn ngữ trong nền văn hóa khác nhau; giải thích phương thức giao tiếp giữa những người có nền văn hóa khác nhau

Ở Việt Nam cũng đã có một số nhà nghiên cứu quan tâm và đi sâu vào nghiên cứu về ngôn ngữ học xã hội cả những nghiên cứu lý thuyết và thực hành

Nguyễn Văn Khang (2014) [44] đề cập đến nghi thức lời nói với các nhân

tố chi phối: trường hợp chào gặp mặt và chào từ biệt, cảm ơn và xin lỗi Tác

giả liệt kê các mô hình từ hạt nhân đến mở rộng tối đa và phân tích đặc điểm những nghi thức đó với các nhân tố xã hội chi phối như: nhân tố thời đại, nhân

tố phân tầng xã hội (giới, tuổi, vùng miền, quyền lực, nhóm xã hội khác tác động đến cách chọn ngôn ngữ)

Hoàng Anh Thi (2001) [17] nghiên cứu nghi thức giao tiếp thông qua các hình thức xưng hô và hoạt động của chúng trong ngôn ngữ chuẩn đương đại của tiếng Nhật và tiếng Việt Tác giả đưa ra những nét đặc trưng trong từng ngôn ngữ trong nghi thức giao tiếp nhìn từ văn hóa, xã hội, tâm lý học bằng sự kết hợp của phương pháp điều tra xã hội học, phỏng vấn, so sánh đối chiếu Đây

Trang 19

là một nghiên cứu so sánh tiếng Việt và tiếng Nhật ở bình diện giao tiếp, khảo sát

từ xưng hô một cách toàn diện theo hướng tiếp cận ngôn ngữ học xã hội

Phạm Thị Hà (2013) [62] từ góc nhìn của ngôn ngữ học xã hội, chỉ ra đặc

điểm ngôn ngữ giới của hành vi khen và tiếp nhận lời khen (bằng ngôn ngữ) trong giao tiếp tiếng Việt và khảo sát trường hợp về đặc điểm ngôn ngữ giới ở

ở hành vi khen và cách tiếp nhận lời khen của nghệ sĩ với người hâm mộ và về

hình thức bên ngoài của của con người trong các cuộc giao tiếp hiện nay

1.1.2 Tình hình nghiên cứu lời nói giới thiệu và tự giới thiệu

1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới, theo hiểu biết của chúng tôi chưa có công trình nào chuyên sâu về lời nói giới thiệu và tự giới thiệu mà chỉ có một số tác giả như Emily Post, Nagesh Belludi, John Corcoran, Jo Bryant, Pamela Martin, v.v viết về cách thức giới thiệu trong một số tình huống giao tiếp phổ biến Tiêu biểu biểu nhất trong số họ là Emily Post [105]:

Về lời nói giới thiệu, Emily đi sâu vào các tình huống giới thiệu, thứ tự giới thiệu, biểu thức giới như thế nào trước và trong khi giới thiệu (what to say when introduced) Tác giả đề cập đến hai tình huống cụ thể như sau:

Thứ nhất, tình huống giao tiếp xã hội (social situation) bao gồm: 1/Lời nói giới thiệu qui thức (formal introductions) là những hành vi diễn ra trong một môi

trường trang trọng, lịch sự Động từ “present” thường được dùng để biểu thị: Biểu thức 1: SP2 + may I present + X

Biểu thức 2: SP2 + I have the honor to present + X

Ví dụ: Mr President, I have the honor to present Mrs Clinton, of Florida

(Ngài Tổng thống, tôi vinh dự giới thiệu bà Clinton đến từ Florida)

Ví dụ: “Your Eminence, may I present Mrs Brown?” (Đức Hồng Y, con xin

giới thiệu bà Brown)

2/ Giới thiệu phi qui thức (informal introductions) là những hành vi diễn ra trong các mối quan hệ thông thường và gần gũi Khi giới thiệu có thể sử dụng

các danh xưng (như Mr./Mrs./Ms/.Miss./Dr ) và họ (family name/ last name)

Trang 20

với người quen, những người là giám đốc, những người nổi tiếng, các vị giáo

sư hay người nào đó hơn tuổi SP1 không sử dụng danh xưng khi được cho

phép gọi bằng tên, các động từ thường dùng là “meet”, “know”,

“introduce”…

- Khi con giới thiệu với mẹ về bạn học cùng trường, sử dụng biểu thức:

Biểu thức 1: Gọi tên SP2 + I’d like you to meet + X

Ví dụ: Mom, I’d like you to meet my friend from school, Simon.” (Mẹ, Con

muốn giới thiệu với mẹ [đây là] bạn cùng trường của con, Simon

- Trong trường hợp không biết tên, biểu thức là:

Biểu thức 2: Gọi tên SP2, do + SP2 + know + X

Ví dụ: Tommy, do you know Ms Smith? (Tommy, anh biết cô Smith chứ?)

- Khi hai người cùng một thế hệ, sử dụng biểu thức:

Biểu thức 3: Gọi tên SP2, SP1 + ‘d like to + introduce + X

Ví dụ: Mrs Miller, I’d like to introduce Mr.Horton (Bà Miller, Tôi xin giới

thiệu [đây là] ông Horton)

- Khi giới thiệu đối tượng X có vai thấp hơn chủ thể giới thiệu, biểu thức:

Biểu thức 4: Gọi tên SP2, this is + X

Ví dụ: Mr Horton, this is my daughter, Hillary (Ông Horton, đây là con gái

nhận tất cả các tin tức của báo chí trong nước.)

Thứ hai, ở tình huống kinh doanh (business situations) Giới thiệu đối

tượng giao tiếp chủ yếu dựa vào quyền lực và cấp bậc Yếu tố giới tính

(gender) không tác động đến trình tự giới thiệu Có các biểu thức giới thiệu trực tiếp và gián tiếp:

- Giới thiệu người điều hành cấp dưới với người điều hành cấp trên

Trang 21

Ví dụ: Mr Senior Executive, I’d like to introduce Mr Junior Executive (Ông ủy

viên ban quản trị cấp trên, tôi xin giới thiệu ông ủy viên ban quản trị cấp dưới )

- Giới thiệu một sĩ quan cấp thấp tới một sĩ quan cấp cao

Biểu thức 2: May I introduce + X

Ví dụ: General Schwarzkof, may I introduce Lieutenant Jones? (Thưa đại

tướng Schawrazkof, tôi xin giới thiệu trung úy Jones)

Biểu thức 3: SP2 + allow me to introduce + X

Ví dụ: Senator Watson, allow me to introduce Martha Gellhorn of the San Francisco Examiner ([Thưa ngài]Thượng nghị sĩ Watson, cho phép tôi giới

thiệu bà Martha Gellhorn [người của] tạp chí San Francisco Examniner)

Nguyễn Quang (2017)[107], trong cuốn “Ways of expression”, tác giả đưa

khá cụ thể các biểu thức hành vi ngôn ngữ cụ thể theo các nhóm như chào hỏi

và chia hay (Greeting and taking leave), thể hiện tình cảm và thái độ (showing feeling and attitude)… Trong đó giới thiệu và hỏi giới thiệu (introducing and asking for introduction) nằm ở mục chào hỏi và chia tay Nguyễn Quang đưa

ra 85 biểu thức lời nói giới thiệu (giới thiệu, tự giới thiệu) trong bối cảnh qui thức và phi qui thức Đây là những biểu thức rất hữu ích, có tính dụng học cao, giúp chúng tôi có những so sánh, gợi mở trong quá trình nghiên cứu của mình

Về hành vi tự giới thiệu (self-introduction), ngoài một số biểu thức của

Nguyễn Quang, chúng tôi chỉ thấy có trên các trang báo điện tử ở mức độ sơ

Trang 22

I’m … (Tôi là….);

My name is… (Tên của tôi là…);

Nice to meet you; I’m… (Rất vui được gặp anh/chị; Tôi là…);

Pleased to meet you; I’m… (Rất vui được gặp anh/chị; Tôi là…);

Let me introduce myself; I’m…(Cho phép tôi giới thiệu về mình Tôi là…); Let me introduce myself to you/ Allow me to introduce myself to you

(Cho phép tôi giới thiệu về mình tới anh/chị)

Như vậy, có thể thấy, trong tiếng Anh các tác giả chỉ đề cập đến tình

huống xã hội, tình huống kinh doanh trong trường hợp qui và phi qui thức Mỗi tình huống giao tiếp có những cách giới thiệu khác nhau dựa theo vai giao tiếp, thứ bậc và địa vị xã hội Tuy phạm vi tình huống còn hạn hẹp nhưng đây

là một dữ liệu có đóng góp không nhỏ cho nghiên cứu của chúng tôi

Hiện nay, theo quan sát chúng tôi thấy có một số nghiên cứu liên quan

đến hành vi tự giới thiệu, đó là những nghiên cứu xoay quanh hành disclose”, chúng tôi tạm dịch là tự bộc bạch

vi“self-Tự bộc bạch (self-disclose) được nhiều nhà nghiên cứu như Archer

(1980), Cozby (1973), Derlega, Metls, Petronio và Margulis (1993) định nghĩa

chung là những hành vi ngôn ngữ khi người ta muốn bộc lộ về bản thân mình như những thông tin cá nhân, kinh nghiệm, suy nghĩ và cảm xúc

Theo Jourard và Lasahow (1958) cho rằng, tự bộc bạch là quá trình làm cho người khác biết về bản thân mình, phụ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp mà mỗi lời bộc lộ có những ý nghĩa khác nhau Thông tin được chia sẻ này tồn tại giữa một cặp, một nhóm hay một cá nhân với tổ chức [97]

Altman và Taylor (1973) đưa ra một cách phân loại ba lớp cho phân tích

nội dung theo chiều sâu của bộc bạch 1/Lớp ngoại biên (peripheral layer): là những dữ liệu về tiểu sử như tên, tuổi tác, địa vị,v.v 2/ Lớp trung gian (intermediate layer): là thái độ, cách đánh giá và các quan điểm 3/Lớp lõi (core layer): là niềm tin cá nhân, các nhu cầu, sự sợ hãi, cách đánh giá [81]

Từ các định nghĩa và cách phân loại như đã trình bày ở trên, có thể thấy

Trang 23

1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Hiện nay ở Việt Nam, theo sự hiểu biết của chúng tôi chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt về LNGT và TGT mà chỉ có một số các nghiên cứu trong phạm vi hẹp

Một số nghiên cứu theo hướng chỉ ra các biểu thức lời nói giới thiệu và

tự giới thiệu trong tiếng Việt, tiếng Anh như:

1/ Như đã đề cập ở trên, Thái Duy Bảo (1988) đề cập đến một mục nhỏ

để nói về lời nói giới thiệu“Hành vi nói cho người nghe biết những điều mới

về một đối tượng nào đó” Tác giả chỉ ra các khuôn mẫu lời nói tiếng Anh và

dịch nghĩa sang tiếng Việt về cách giới thiệu người trung gian (introducing),

tự giới thiệu (self-introducing) theo các tình huống giao tiếp thể hiện sắc thái

xã giao thông thường, sắc thái xã giao trang trọng, sắc thái xã giao thân mật,

xề xòa và giới thiệu một diễn giả (introducing a speaker) theo tình huống mang sắc thái kém trang trọng, sắc thái trang trọng [69, tr.60-72] Mặc dù, đưa

ra những nội dung cơ bản, phạm vi hẹp nhưng nghiên cứu giúp chúng tôi có thêm thông tin về lời nói giới thiệu

2/ Trong công trình nghiên cứu về nghi thức lời nói Tiếng Việt, Nguyễn Văn Lập (1989) [45] xem hành vi giới thiệu giống như các hành vi khác như: chào, cảm ơn, xin lỗi là một hành vi có tính khuôn mẫu được xã hội thừa

nhận Ở nghiên cứu này, tác giả đã bước đầu phân loại hành vi giới thiệu và

mô tả một số mô hình/ cấu trúc/ biểu thức cơ bản vào hoàn cảnh cụ thể Tác

giả cho rằng hành vi giới thiệu có thể diễn ra theo hai cách giới thiệu trực tiếp

và giới thiệu gián tiếp còn phụ thuộc vào mỗi dân tộc và tần số sử dụng hai cách giới thiệu này Chẳng hạn người Nga sử dụng hai cách, còn người Anh chủ yếu làm quen qua người trung gian (gián tiếp) Theo tác giả, trong cộng đồng người Việt hiện nay sử dụng cả hai cách

- Hành vi giới thiệu trực tiếp (Chủ thể tự giới thiệu), bao gồm hai hành

vi giới thiệu dựa vào sự xuất hiện của phát ngôn giới thiệu trong giao tiếp

Khi hành vi giới thiệu là thoại gợi thì chúng sẽ là những lời tự xưng

Trang 24

chức vụ, vv Hình thức cấu tạo gồm: 1/Động từ ngữ vi tường minh: Tôi xin giới thiệu / Xin tự giới thiệu 2/ Động từ ngữ vi hàm ẩn: xưng tên, họ, quê

quán, chức vụ Khi hành vi giới thiệu là thoại đáp Mô hình giới thiệu sẽ là:

Ngôi chủ ( tôi) + là + X

- Hành vi giới thiệu gián tiếp (người trung gian đứng ra giới thiệu)

Hành vi này được thực hiện trong hai tình huống:1/Khi giới thiệu là sự tiến cử, hoặc đề cử thì giới thiệu một bên giao tiếp 2/ Khi hai bên chưa biết nhau, người

trung gian phải giới thiệu cả hai theo mô hình: Xin giới thiệu đây là còn đây là Và lời đáp được mô tả theo các dạng như: Rất hân hạnh, rất hân hạnh được quen biết Tôi đã nghe nói rất nhiều về anh hôm nay mới được gặp mặt/ Anh đấy à?

Có thể thấy, nghiên cứu trên đã phân loại hành vi giới thiệu lấy điểm nhìn từ người hành ngôn Tuy nhiên phạm vi nghiên cứu còn rất hạn chế, chỉ đặt trong tình huống làm quen ở phần II trang 45-50

Áp dụng lý thuyết về hành vi ngôn ngữ của Austin và Searle, một số nghiên cứu về hành vi lời nói giới thiệu được tiến hành trong phạm vi một luận văn

1/ Trong nghiên cứu hành vi giới thiệu trong tình huống làm quen của

Đỗ Thị Mai Hương (2009) [14] đã thống kê, khảo sát, phân loại và mô tả hành

vi giới thiệu dựa trên ba phương diện: cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng của trên

300 hành vi giới thiệu thuộc hai mảng: tác phẩm văn học và thực tế đời sống hàng ngày (ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày, ngôn ngữ ghi lại từ phương tiện thông tin đại chúng: vô tuyến, đài, báo chí) Nghiên cứu đã dựa theo lý thuyết

về hành vi ngôn ngữ của Searle để phân loại hành vi giới thiệu theo các tiêu chí: trực tiếp/ gián tiếp, nghi thức/ không nghi thức

- Hành vi giới thiệu trực tiếp: là hành vi giới thiệu có sự phù hợp giữa hiệu lực

ở lời của hành vi giới thiệu với hình thức câu chữ được dùng để biểu thị chúng Kết quả khảo sát của hành vi giới thiệu trực tiếp gồm có bốn kiểu (trong đó, SP1: người thực hiện hành vi giới thiệu; SP2: người tiếp nhận hành

vi giới thiệu): Kiểu 1: Dạng đầy đủ: SP1 + giới thiệu + SP2 + NDGT; Kiểu 2:

Trang 25

SP1: Giới thiệu + SP2 + NDGT; Kiểu 4: Dạng khuyết thiếu SP1, SP2: (xin) giới thiệu + NDGT Chủ yếu những hành vi giới thiệu trực tiếp sử dụng trong

hoàn cảnh giao tiếp nghi lễ qui thức: cuộc họp, cuộc mít tinh, đại hội, chương trình truyền hình…

- Hành vi giới thiệu gián tiếp: là hành vi có hiệu lực ở lời của hành vi giới thiệu

nhưng lại được biểu thị bằng hình thức câu chữ của một hành vi khác

Với hành vi giới thiệu gián tiếp kết quả khảo sát đưa ra được bốn kiểu: Kiểu 1:

Hành vi thông báo - giới thiệu; Kiểu 2: Hành vi xác nhận - giới thiệu; Kiểu 3: Hành vi chào mời, chào đón - giới thiệu; Kiểu 4: Hành vi hỏi - giới thiệu

Nghiên cứu của tác giả bước đầu hệ thống được 8 kiểu giới thiệu thường gặp trong giao tiếp của người Việt Mỗi kiểu giới thiệu có kèm theo việc mô tả cấu trúc, ngữ nghĩa, hoàn cảnh sử dụng, lời đáp và nêu cơ sở nhận diện với những kiểu giới thiệu gián tiếp Tuy nhiên, vì nghiên cứu chỉ khảo sát hành vi lời nói giới thiệu trong tình huống làm quen nên chưa đảm bảo đầy đủ các yếu tố của một nghiên cứu về lời nói một cách hệ thống, toàn diện

2/ Hoàng Minh Hằng (2011) [23] đưa ra nội dung lí luận liên quan đến

lý thuyết về các nhân tố giao tiếp, lý thuyết lịch sự và lý thuyết về hành vi ngôn ngữ, nghiên cứu được thực hiện dựa trên nguồn tư liệu bao gồm tổng số

300 lời nói giới thiệu thu thập từ nguồn hội thoại thường ngày, các phương

tiện thông tin đại chúng, các tác phẩm văn học nghệ thuật Việt Nam và phỏng vấn Mục đích của nghiên cứu là tìm ra các biểu hiện lịch sự và không lịch sự thông qua các dấu hiệu của phát ngôn, đặc điểm nội dung mệnh đề, quan hệ liên cá nhân,v.v Luận văn đã có phân loại hành vi giới thiệu cũng dựa theo lý thuyết hành vi ngôn ngữ của Searle giống như nghiên cứu trước đó của tác giả

Đỗ Thị Mai Hương Kết quả đạt được có những điểm đáng lưu ý: (i) Trong hoàn cảnh giao tiếp qui thức và phi qui thức có 15 cách giới thiệu lịch sự, 14 kiểu giới thiệu không lịch sự trong nội dung giới thiệu và tự giới thiệu (ii) Dấu hiệu thể hiện tính lịch sự của hành vi giới thiệu trong hoàn cảnh qui thức chủ yếu là về hình thức (các từ, các tổ hợp từ, cấu trúc câu, cách thức phối hợp

Trang 26

thưa gửi) Bên cạnh cũng có những các yếu tố nội dung có tính chất tôn vinh thể diện, yếu tố tình cảm, cảm xúc chỉ ở mức trung hòa Gần như đối lập lại, trong hoàn cảnh giao tiếp phi qui thức, biểu hiện rất rõ ràng của dấu hiệu lịch

sự lại là các yếu tố cảm xúc, tình cảm nhằm tôn vinh thể diện của người đối thoại (iii) Dấu hiệu thể hiện tính không lịch sự lại thường là nội dung giới thiệu và thái độ của người thực hiện hành vi, xuất phát từ việc thực hiện không phù hợp với tâm lý của các đối tượng khi giao tiếp

Ngoài ra, còn có một số các nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ học xã hội: Khúc Thị Hạnh (2015) [21] hệ thống hóa một số khái niệm về giao tiếp ngôn ngữ, nghi thức giao tiếp, lý thuyết về lịch sự, sự phân tầng xã hội trong

sử dụng ngôn ngữ,v.v tác giả đã tiến hành nghiên cứu khảo sát đặc điểm các

mô hình hành vi tự giới thiệu qua một số chương trình giải trí trên truyền hình

và các nhân tố xã hội tác động đến nghi thức lời nói tự giới thiệu của người Việt hiện nay Với số lượng khảo sát 291 lượt tự giới thiệu của một số chương trình truyền hình, luận văn đã đưa ra các mô hình, đặc điểm của các mô hình, phân tích

từ ngữ và các nhân tố văn hóa – xã hội, sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ Với cách làm này, luận văn đã đưa ra một số nhận xét như sau:

(i)Trong nghiên cứu đặc điểm văn hóa của hành vi TGT có cấu trúc đầy đủ: SP1+ giới thiệu +SP2+ NDGT; mô hình khuyết SP1; mô hình khuyết SP2, mô hình khuyết thiếu SP1, SP2 ; mô hình không đầy đủ: giới thiệu với SP2+ đối tượng giới thiệu + phần phụ chú, dùng câu trần thuật đơn và phần phụ, dùng câu đơn để tự giới thiệu tên Người tự giới thiệu sử dụng linh hoạt các kiểu mô hình phù hợp với bối cảnh giao tiếp và tùy theo dụng ý cũng như thông tin mong muốn truyền đạt

(ii)Yếu tố phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ cũng có những tác động khá lớn đến việc sử dụng hệ thống từ ngữ tự xưng, đến việc lựa chọn sử dụng các

mô hình tự giới thiệu đầy đủ và không đầy đủ Bước đầu cho thấy các nhân tố như

tuổi, giới ảnh hưởng không nhỏ tới cách xưng hô và cách sử dụng các mô hình tự

giới thiệu trong nghi thức lời nói tự giới thiệu của người Việt

Trang 27

(iii) Nghĩa biểu cảm của hành vi tự giới thiệu cùng với thái độ của người

tự giới thiệu được biểu thị chủ yếu qua các từ ngữ xưng hô và các thành tố biểu thái

(iv) Những nét đặc trưng văn hóa của người Việt thể hiện rất rõ qua hành

vi tự giới thiệu: xưng hô khiêm tôn, điềm đạm, không thích phô trương hay thể hiện quá nhiều về bản thân mình Những cách giới thiệu được coi là lịch sự đều là những lời giới thiệu rất trang trọng nhưng khiêm tốn, còn yếu tố cảm xúc, tình cảm chỉ ở mức trung hòa

Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả mới chỉ bước đầu khảo sát, nghiên cứu và tìm hiểu phần nào về cách thức tự giới thiệu của người Việt hiện nay trong phạm vi tương đối hẹp (qua một số chương trình giải trí trên truyền hình)

Như vậy, có thể thấy nghiên cứu về LNGT và TGT mới chỉ nhắc đến trong một số nghiên cứu một cách sơ lược, chưa có công trình nào nghiên cứu riêng

về LNGT và TGT một cách đầy đủ trong tiếng Việt và tiếng Anh

1.2 Cơ sở lý thuyết

1.2.1 Một số vấn đề về giao tiếp

1.2.1.1 Khái niệm giao tiếp

Giao tiếp đã được nghiên cứu từ rất lâu bởi các nhà triết học, logic học, hùng biện học như Saville –Troike (1986), Zimmerman et al (1986) Tác giả Nguyễn Quang (2002)[51, tr 226] chỉ ra rằng mục đích trong những nghiên cứu đó chủ yếu để (1) tìm ra mối quan hệ giữa giao tiếp (chủ yếu là nội ngôn) với tư duy và thực tại, (2) để phân biệt giữa giao tiếp tín hiệu nội ngôn của con người -“sinh thể có ý thức” (concious being) với giao tiếp tín hiệu phi ngôn ngữ - “các sinh thể phi ý thức” (non-concious beings), (3) để phát hiện ra mối quan hệ logic nội tại của ngôn ngữ (chủ yếu là ngôn ngữ lời nói), (4) để tìm ra cái tạo nên mâu thuẫn và sự hài hòa giữa tính đồng hiện phi tuyến tính và các hình ảnh vô thức, các khái niệm tiền ngôn vô hình hài với bản chất tuyến tính của ngôn ngữ, (5) để truy nguồn khởi thủy của giao tiếp ngôn ngữ xét theo bản chất

Trang 28

quả mang tính thần chú, chuyền chú và dụ chú trong ngôn ngữ (chủ yếu là ngôn ngữ lời nói) nhằm phục vụ những mục đích giao tiếp đặc thù,v.v

Dưới tác động của quá trình xã hội hóa trong nội bộ các cộng đồng ngôn

ngữ và toàn cầu hóa trên phạm vi toàn thế giới, các nghiên cứu về giao tiếp đã

phát triển sâu rộng trên các khu vực chính yếu như: (1) giao tiếp ngôn ngữ thông qua lời nói hoặc chữ viết (verbal communication), (2) giao tiếp phi ngôn ngữ (nonverbal communication) và tập trung vào một số khía cạnh như: (1) tính phù hợp trong giao tiếp, (2) lịch sự trong giao tiếp, (3) giao tiếp và văn hóa, (4) giao tiếp giao văn hóa, (5) giao tiếp liên văn hóa, v.v Có thể nói, giao tiếp ngôn ngữ là một nội dung được quan tâm và các nghiên cứu ở nước ngoài

đã đạt những thành quả lớn tập trung vào một số vấn đề chính như: 1/Ngữ dụng học trên cơ sở thực tiễn của tiếng Anh và các ngôn ngữ châu Âu nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ, các nguyên lí cộng tác và nguyên lí lịch sự; 2/ Dân tộc học giao tiếp chú trọng tới nghiên cứu giao tiếp dưới tác động của dân tộc; 3/ Giao tiếp xuyên/liên ngôn ngữ văn hóa chú trọng tới giao tiếp ngôn ngữ giữa các nền văn hóa khác nhau 4/ Ngôn ngữ học xã hội tiếp thu lí luận của dân tộc học giao tiếp và giao tiếp liên/xuyên văn hóa chú trọng tới giao tiếp tương tác dưới tác động của các nhân tố xã hội, trong đó chú trọng tới yếu tố cộng đồng (cộng đồng giao tiếp)

Giao tiếp ở mỗi góc độ nghiên cứu, có nhiều cách hiểu, nhiều định nghĩa

khác nhau Mỗi định nghĩa được đưa ra đều dựa trên một quan điểm riêng và

có hạt nhân hợp lí:

- “Là hành vi truyền đạt những ý nghĩa có ý định từ một thực thể hay một nhóm người tới người khác thông qua việc sử dụng những ký hiệu có thể hiểu nhau và các quy tắc ký hiệu học.” (is the act of conveying intended meanings

from one entity or group to another through the use of mutually understood signs and semiotic rules) [118]

- “Là sự trao đổi thông tin, tin tức và ý tưởng, hoặc chia sẻ quan niệm, cảm xúc, suy nghĩ.” (to exchange information, news, ideas, etc with some body) [103, tr 301]

Trang 29

- “Là sự trao đổi tư tưởng, thông tin, … giữa hai hoặc hơn hai người Trong mỗi hành vi giao tiếp thường có ít nhất một người nói, hoặc người gửi một thông điệp được truyền đạt và một người hoặc những người tiếp nhận.” [44]

Như vậy, giao tiếp là một quá trình trao đổi thông tin, ý tưởng, suy nghĩ, cảm xúc và xúc cảm thông qua lời nói, tín hiệu, viết, hoặc thái độ Trong quá trình giao tiếp, người gửi (người mã hoá) mã hoá một thông điệp và sau đó sử dụng một kênh trung gian gửi nó tới người nhận (người giải mã) sẽ giải mã thông điệp đó và sau khi thông tin được xử lý thì gửi lại những phản hồi (feedback/reply) sử dụng kênh trung gian

1.2.1.2 Các hình thức giao tiếp

Con người giao tiếp với nhau bằng nhiều cách khác nhau dựa vào thông điệp và ngữ cảnh của nó được gửi đi; đó là những yếu tố mà chúng ta thể hiện thái độ, tình cảm, mối quan hệ và những tâm lý khác nhau của mình trong một cuộc giao tiếp Việc lựa chọn cách giao tiếp của mỗi người cũng ảnh hưởng đến giao tiếp Tuỳ theo những tiêu chuẩn khác nhau, giao tiếp có thể có những hình thức như sau:

Dựa vào phương tiẹ̛n giao tiếp, có hai loại giao tiếp bằng ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ 1/Giao tiếp bằng ngôn ngữ (verbal communication): Con người sử dụng lời nói và chữ viết (văn bản) để giao tiếp với nhau Nguyễn Quang [30] gọi nó là nội ngôn (intralanguage), bao gồm: từ vựng (lexicon), các quy tắc ngữ pháp (rules of grammar), quy tắc ngữ

âm (rules of phonetics), quy tắc sử dụng ngôn ngữ và kỹ năng tương tác (rules

of language use and interaction skills), v.v

- Giao tiếp bằng lời nói (oral communication) hay là những từ ngữ được nói (spoken words) được sử dụng trong giao tiếp trực diện (face-to-face conversation), bài phát biểu (speech), các cuộc nói chuyện trên điện thoại (telephonic conversation), phim ảnh (video), đài ( radio), ti vi ( television), âm thanh trên internet, v.v Theo Đinh Trọng Lạc (Chủ biên) (1994) [9] lời nói (speech) được sử dụng trong tất cả các phạm vi hoạt động của con người, bao

Trang 30

Phạm vi khoa học – kĩ thuật; (4) Phạm vi giảng dạy – học tập; (5) Phạm vi văn học – nghệ thuật; (6) Phạm vi vui chơi – giải trí Trong luận án, chúng tôi tập trung vào nghiên cứu lời nói giới thiệu và tự giới thiệu được sử dụng trong giao tiếp trực diện tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) ở một số phạm vi nêu trên

- Giao tiếp bằng văn bản (written communication) là những ký hiệu hoặc biểu tượng bằng văn bản được sử dụng để liên lạc Một văn bản có thể được in hoặc bằng văn bản viết tay Trong thông điệp bằng văn bản có thể truyền qua email, thư, báo cáo, bản ghi nhớ, v.v Thông điệp trong giao tiếp bằng văn bản

bị ảnh hưởng bởi từ vựng và ngữ pháp được sử dụng, phong cách viết, độ

chính xác và rõ ràng của ngôn ngữ được sử dụng Các bản ghi nhớ, báo cáo, bản tin, bản mô tả công việc và thư điện tử là các loại giao tiếp bằng văn bản

được sử dụng trong giao tiếp nội bộ Ngoài ra để liên lạc bằng ra môi trường

bên ngoài là các văn bản như thư điện tử, các trang web Internet, thư, đề xuất, điện tín, fax, bưu thiếp, hợp đồng, quảng cáo, bản tin,v.v

2/ Giao tiếp phi ngôn ngữ (nonverbal communication): Bao gồm giao tiếp cận ngôn (Paralanguage) và giao tiếp ngoại ngôn (extralanguage)

Giao tiếp cận ngôn là các đặc tính ngôn thanh (cường độ - volume, cao độ

- pitch, tốc độ - rate); các loại ngôn thanh (typels of vocal quality); các yếu tố xen ngôn thanh (vocal interferences); im lặng (silence), v.v

Giao tiếp ngoại ngôn gồm: ngôn ngữ thân thể (body language); ngôn ngữ vật thể (object language); ngôn ngữ môi trường (environmental language) 1/Ngôn ngữ thân thể được con người sử dụng là nhãn giao (eyes contact); diễn hiệu (facial expressions); cử chỉ (gestures); dáng điệu (postures); hành vi động chạm (touch/haptics/tactile), v.v 2/Ngôn ngữ vật thể là quần áo (clothing); phụ kiện (accessories); trang điểm (make-up); nước hoa (Artificial scents), v.v 3/Ngôn ngữ môi trường là các yếu tố như địa điểm (setting); khoảng cách giao tiếp (conversational distance/proxemics); thời gian (time/Chronemics); ánh sáng (lighting system); mầu sắc (colour); nhiệt độ (heat), v.v [51]

Trang 31

Trong giao tiếp, người sử dụng không ngừng lựa chọn ngôn ngữ (language choice) ở bất kì tầng diện nào của ngôn ngữ như ngữ âm, ngữ pháp,

từ vựng, v.v Mỗi một biến đổi nhỏ trong một tầng diện nào đó sẽ tạo nên một ý nghĩa dụng học sâu sắc Sự lựa chọn ngôn ngữ diễn ra một cách chủ quan của người giao tiếp (sự lựa chọn mang tính chiến lược) nhưng cũng có thể diễn ra một cách vô thức (sự lựa chọn mang tính ngữ cảnh) Ba đặc điểm nổi bật của lựa chọn ngôn ngữ là tính dị biến, tính thương lượng và tính thích nghi

- Tính dị biến là tính đa khả năng trong biểu đạt ngôn ngữ với các hình thức biểu hiện về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Để phù hợp với bối cảnh cũng như mục đích giao tiếp, con người khi giao tiếp có thể lựa chọn đặc điểm này

- Tính thương lượng: đó là sự lựa chọn trên cơ sở quyền (rights) sử dụng ngôn ngữ của người giao tiếp và nghĩa vụ (obligation) người giao tiếp đảm bảo nguyên tắc thông tin Trên cơ sở này, mọi sự thực hiện đều dựa trên nguyên tắc

và chiến lược có tính linh hoạt cao

- Tính thích nghi là đặc điểm làm cho người giao tiếp có thể lựa chọn ngôn ngữ theo cách thương lượng

Theo hướng tiếp cận xã hội học, có những ngữ cảnh được coi là lĩnh vực giao tiếp (domain) mà theo đó có sự lựa chọn biến thể ngôn ngữ sao cho phù hợp Ví dụ: lĩnh vực giao tiếp theo phạm vi không gian (ở cơ quan, ở nhà trường, ở nhà, ở nhà thờ,v.v); phạm vi liên quan đến đối tượng giao tiếp (đồng nghiệp, người trong gia đình, bạn bè,v.v) Theo Fishman (1968) [88] lĩnh vực giao tiếp là ngữ cảnh thói quen có sự nhất quán với phạm vi hoạt động của các thành viên trong cộng đồng giao tiếp cũng như thói quen vận dụng ngôn ngữ theo chuẩn tắc văn hóa xã hội Như vậy, sự lựa chọn ngôn ngữ của các đối tượng giao tiếp trong LNGT và TGT không nằm ngoài sự vận dụng đó

Trang 32

gắn liền với những cộng đồng xã hội hoặc nghề nghiệp Các nhà giải phẫu, phi công, giám đốc ngân hàng, người bán hàng, những người hâm mộ nhạc Jazz và các chủ chứa sử dụng những từ vựng khác nhau.(sets of vocabulary items

associated with discrete occupational or social group Surgeons, airline pilots, bank managers, sales clerks, jazz fans, and pimps use different languages)

Hudson định nghĩa ngữ vực theo Halliday, Mc Intosh và Streven “ngữ vực là các biến thể ngôn ngữ theo cách dùng” (Dẫn theo, [12]) Biến thể ngôn

ngữ có thể phân chia ngôn ngữ thành nhiều ngữ vực (register) trên cơ sở của tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp Ngữ vực được chia thành ba bình diện: (1) Trường (field) là do toàn bộ sự kiện phát sinh hành vi ngôn ngữ và mục đích giao tiếp của người tham gia giao tiếp; (2) Phương thức (mode) là phương tiện và kênh truyền giao tiếp; người giao tiếp (tenor) là các vai giao tiếp

và mối quan hệ của vai giao tiếp trong hoạt động xã hội bao gồm, cả ý đồ người

sử dụng ngôn ngữ đối với người thụ lời Khi một trong ba bình diện trên thay đổi thì sẽ hình thành nên ngữ vực khác nhau (Dẫn theo [43,tr.393])

Theo Halliday (1985) [92] ngữ vực được chia thành ba bình diện: (1) Trường (field) là toàn bộ sự kiện phát sinh hành vi ngôn ngữ và mục đích giao tiếp của người tham gia giao tiếp; (2) Phương thức (mode) là phương tiện và kênh truyền giao tiếp; (3) người giao tiếp (tenor) là các vai giao tiếp và mối quan hệ của vai giao tiếp trong hoạt động xã hội bao gồm, cả ý đồ người sử dụng ngôn ngữ đối với người thụ lời Khi một trong ba bình diện trên thay đổi thì sẽ hình thành nên ngữ vực khác nhau

Dựa theo những căn cứ trên của Halliday, Thompson cho rằng ít nhất có thể có ba ngữ vực: “Ngữ vực quy thức (formal), đó là ngữ vực mà chúng ta dùng khi nói với những người quen biết rất ít hoặc chưa hề quen biết Đó cũng

là ngữ vực của lễ nghi, hoặc của những cuộc hội ngộ tuân theo những nghi thức nhất định Ngữ vực thân tình (familiar) là ngữ vực của những cuộc giao tiếp giữa những người có quen hệ thân thiết với nhau Giữa hai ngữ vực đó là vương quốc của ngữ vực phi quy thức (informal) Đó là ngữ vực của những

Trang 33

1.2.1.5 Phong cách ngôn ngữ (Language Style)

Trong ngôn ngữ, phong cách là một lựa chọn mà hàng ngày con người được định hình, định nghĩa bởi các hành vi và sự kiện; tư duy và nhận thức Joos (1976) [97] đưa ra năm phong cách ngôn ngữ (style) trong giao tiếp, bao

gồm: (1) Frozen Style (Phong cách rất quy thức): ngôn ngữ được sử dụng

trong bối cảnh rất trang trọng như trong các buổi lễ, trong cung điện và nhà thờ và một số sự kiện rất quan trọng khác (2) Formal Style (Phong cách quy thức): ngôn ngữ được sử dụng trong tình huống quan trọng hay nghiêm túc

Nó thường xuất hiện trong giao tiếp giữa người nói và người nghe đạt hiệu quả trao đổi cao và thường được sử dụng trong trường học của sinh viên, giáo

viên, giảng viên, hiệu trưởng (3) Phong cách bán quy thức (consultative style)

là một loại ngôn ngữ người nói sử dụng hàng ngày, thường là đối thoại, nhưng cũng có các từ ngữ đủ tính quy thức ở các cuộc hội thoại Ví dụ: trong kinh

doanh, dịch thuật, giao tiếp giữa bác sĩ và bệnh nhân (4) Phong cách hàng ngày (Casual Style) là phong cách được sử dụng cho cuộc trò chuyện thoải

mái hoặc tình huống bình thường phù hợp với cuộc trò chuyện với bạn bè, học sinh ngoài lớp học hoặc đôi khi là thành viên của một gia đình Đặc trưng của phong cách này là cách xưng hô, có thể là tên và biệt danh (nickname), có thể

nói nhanh hoặc sử dụng tiếng lóng (5) Phong cách thân mật (Intimate style) là

một ngôn ngữ hoàn toàn riêng tư, thường sử dụng trong gia đình, với người yêu và bạn bè thân thiết

Căn cứ vào sự phân chia ngữ vực của Halliday, Thompson và phong cách ngôn ngữ của Joos, trong luận án chúng tôi chia hành vi giới thiệu và tự giới thiệu theo hai nhóm: lời nói quy thức và lời nói phi quy thức

Lời nói quy thức là những lời nói được sử dụng mang tính chất công cụ,

theo chức trách, theo một qui trình đã được thể chế như hội họp, mít tinh, đàm phán các vấn đề trong giao tiếp thường được định trước, thông tin cũng được các chủ thể (biết ít về nhau hoặc chưa hề quen biết) cân nhắc trước, thông tin

có độ chính xác cao Trong giao tiếp quy thức các phép tắc của nguyên lý lịch

Trang 34

bảo tính trang trọng, khách quan Ngôn ngữ sử dụng đảm bảo độ chính xác,

phát âm đúng, không sử dụng tiếng lóng và ngôn ngữ suồng sã Phạm vi ở ngoài xã hội, loại giao tiếp này thường diễn ra trong các cuộc họp (doanh

nghiệp, đoàn thể), hội thảo, các buổi mít tinh tại các địa điểm công cộng hay trên các phương tiện truyền thông và báo chí theo quyền hạn các cấp (authority lines); ở lễ kỷ niệm, trao tặng và đón nhận danh hiệu vinh dự của Nhà nước, Chính phủ, các phương diện ngoại giao theo nghi thức Nhà nước Phạm vi và đối tượng là các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn

vị lực lượng vũ trang nhân dân hoạt động trên lãnh thổ đất nước; luôn thể hiện

tính thống nhất, trang trọng, khoa học và hiệu quả Phạm vi ở trong gia đình,

họ tộc, giao tiếp qui thức cũng được sử dụng ở các buổi mang tính nghi thức,

lễ nghi như: mừng thọ, cưới xin, tang lễ, họp gia đình, họ tộc, sinh nhật, v.v

Lời nói phi quy thức không mang tính xã giao, kiểu cách mà chỉ đòi hỏi sự

bình dân, giản dị và chỉ là các cuộc nói chuyện thông thường có tính chất tự nhiên, thoải mái; có thể dùng cho mọi vai giao tiếp, với các loại quan hệ tình cảm

từ xa lạ, thân tình đến suồng sã Giao tiếp theo cách này thường là những người trong gia đình (biết nhau, có quan hệ thân thiết), những người bạn (biết nhau có quan hệ thân thiết hoặc không thân thiết) vừa ở ngoài xã hội và cả trong gia đình trong các sinh hoạt đời thường Lời nói sử dụng đa dạng không theo cấp bậc chính quyền Ngôn ngữ, cử chỉ sử dụng đa dạng không theo cấp bậc chính quyền

và giao tiếp này sẽ giúp xây dựng các mối quan hệ trong xã hội

1.2.1.6 Các nhân tố giao tiếp

Các nhân tố giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập lên các phát ngôn trong mỗi sự kiện giao tiếp Những quan điểm của ngữ dụng học, ngôn ngữ học về nhân tố giao tiếp được các tác giả đề cập như sau:

Theo lý thuyết dụng học, Đỗ Hữu Châu [13] chỉ ra rằng có ba nhân tố trong giao tiếp: ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn

Thứ nhất, Ngữ cảnh là nhân tố có mặt trong cuộc giao tiếp nhưng nằm

Trang 35

một cuộc giao tiếp, giữa họ có quan hệ vai giao tiếp (vai người nói –Sp1; vai người nghe – Sp2) và quan hệ liên cá nhân (quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội theo quyền uy – power và thân cận - solidarity); 2/ Hiện thực ngoài diễn ngôn gồm có:

+ Hiện thực – đề tài của diễn ngôn, thế giới khả hữu và hệ quy chiếu:

Đề tài diễn ngôn là một mảng trong thế giới khả hữu (những dạng tồn tại cảu hiện thực, cùng với thế giới thực tại chúng ta đang sống hợp thành hiện thực ngoài diễn ngôn) được chọn làm hệ quy chiếu cho các diễn ngôn về đề tài đó

+ Hoàn cảnh giao tiếp: thế giới vật lí, sinh lí, tâm lí xã hội, văn hoá, tôn giáo, lịch sử các ngành khoa học, nghệ thuật v.v… ở thời điểm và ở không gian trong đó đang diễn ra cuộc giao tiếp

+ Thoại trường: là không-thời gian cụ thể ở một cuộc giao tiếp diễn ra,

ở đó có những đặc trưng chung, đòi hỏi người tham gia giao tiếp phải xử sự, nói năng phù hợp

+ Ngữ huống giao tiếp: Tác động tổng hợp của các yếu tố tạo nên ngữ cảnh ở từng thời điểm của cuộc giao tiếp

Thư hai, Ngôn ngữ là 1/Đường kênh thính giác và kênh thị giác của

ngôn ngữ (diễn ngôn nói, diễn ngôn viết); 2/Các biến thể của ngôn ngữ gồm có: Biến thể chuẩn mực hoá là các đơn vị từ vựng, ngữ cố định, các kết cấu ngữ pháp, cách phát âm được toàn thể một cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận, cho là đúng; Biến thể phương ngữ địa lí là cách phát âm, đơn vị từ vựng, một

số kết cấu cú pháp được sử dụng ở những địa phương nhất định; Biến thể phương ngữ xã hội là các đơn vị từ vựng, một số quán ngữ, một số kiểu kết cấu được sử dụng trong một cộng đồng xã hội theo nghề nghiệp, nghệ thuật, tôn giáo, v.v… của cộng đồng những người sinh sống trong và ngoài vòng pháp luật; Hoạt động khoa học ngữ vực (biến thể ngôn ngữ theo các hoàn cảnh xã hội) và phong cách chức năng 3/Loại thể: văn xuôi, văn vần hay pha trộn, thần thoại, cổ tích, tiểu thuyết hiện thực, tiểu thuyết viễn tưởng…

Thứ ba, Diễn ngôn bao gồm: 1/Câu: câu trừu tượng (những mô thức kết

Trang 36

làm đầy bằng những đơn vị từ vựng cụ thể có thể được dùng ở những ngữ cảnh khác nhau, nhằm nhiều đích khác nhau; 3/Diễn ngôn: lời của từng người nói ra trong một cuộc giao tiếp, ở đó có sự liên kết các phát ngôn thành một chỉnh thể

Theo trường phái/ quan điểm nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội,

Saville-Troike (1986) [111] đưa ra mười hai nhân tố, bao gồm: 1/ Thể loại (genre) hay Loại sự kiện (type of event); 2/Đề tài (the topic) hay Tiêu điểm quy chiếu (referential focus); 3/Mục đích (purpose) hay Chức năng (function)

Cả sự kiện và mục đích giao tiếp của mỗi cá nhân tham gia giao tiếp “both of the event in general and in terms of the interaction goals ogf individual participant”; 4/Ngoại cảnh (the setting) bao gồm có địa điểm thời gian của

ngày mùa của năm và các yếu tố vật lý như kích cỡ phòng cách sắp xếp, bố trí

đồ đạc; 5/ Phương thức (the key) hay các biểu hiện của cảm xúc như nghiêm túc (serious), mỉa mai (sarcastic), jocular (hài hước), ; 6/Những người tham gia (the participants) bao gồm cả tuổi, giới, dân tộc, địa vị xã hội của họ hay các phạm trù có liên quan và các mối quan hệ của người tham gia giao tiếp với những người khác 7/Hình thức thông điệp (the message form) bao gồm cả các kênh lời nói và phi lời nói và bản chất của các mã được sử dụng 8/Nội dung thông điệp (message content), hay các tham chiếu biểu hiện mức độ bề mặt (surface level denotative references); cái được truyền đạt là gì 9/Chuỗi hành

vi (the act sequence) hay trật tự các hành vi ngôn ngữ/ giao tiếp (ordering of communicative/speech acts); 10/ Các quy tắc giao tiếp (the rules for interaction); 11/Các chuẩn mực diễn giải (the norms of interpretation) bao gồm những kiến thức chung, những tiền giả định văn hoá có liên quan hay những hiểu biết chung

Nguyễn Quang (2002) [51] đưa ra mười bốn nhân tố để phù hợp với những cộng đồng ngôn ngữ văn hoá có khuynh hướng thiên về nhóm và mang tính tôn ti cao, bao gồm: 1/ Các thông số của chủ thể giao tiếp (tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn, trình độ ngoại ngữ, tình trạng hôn nhân, nơi ngụ cư lâu nhất); 2/Các thông số của đối thể giao tiếp (tuổi tác, giới tính,

Trang 37

ngụ cư lâu nhất); 3/Quan hệ chủ thể - đối thể (ruột thịt, họ hàng, quen biết); 4/Quyền lực của chủ thể đối với đối thể (quyền lực địa vị, quyền lực tuổi tác, quyền lực giới tính, quyền lực học vấn, quyền lực kinh tế, quyền lực cơ bắp); 5/Trạng thái tâm lí khi giao tiếp (của chủ thể giao tiếp, của đối thể giao tiếp); 6/Khí chất của các đối tác giao tiếp (của chủ thể, của đối thể ); 7/Tình cảm biểu hiện của các đối thể giao tiếp (tích cực, trung tính, tiêu cực); 8/Thái độ cần biểu hiện của các đối tác giao tiếp (của chủ thể, của đối thể); 9/Mục đích giao tiếp (có lợi, trung tính, bất lợi); 10/ Đề tài giao tiếp (rất an toàn, an toàn, tương đối an toàn, không an toàn, rất không an toàn); 11/ Hình thức giao tiếp (Mã giao tiếp: ngôn ngữ, phi ngôn ngữ; Kênh tạo: Âm tạo, phi âm tạo); 12/ Nội dung giao tiếp (thuộc thông lệ xã hội, các đối tác giao tiếp cùng quan tâm, không quan tâm ); 13/ Khung cảnh giao tiếp (rất trang trọng, tương đối trang trọng, bình thường, tương đối thoải mái, rất thoải mái); 14/ Thời gian giao tiếp (không hạn định, tương đối hạn định, eo hẹp, rất eo hẹp)

Nhân tố giao tiếp ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành biểu thức lời nói trong sự kiện giao tiếp Đứng ở góc độ khác nhau các tác giả đưa ra những nhân tố phù hợp để cho thấy cụ thể hơn sự hình thành đó Trong luận án, trên

cơ sở ngữ liệu tiếng Việt (liên hệ với tiếng Anh – Mỹ), để phù hợp với đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sử dụng mô hình về sự kiện giao tiếp của Hymes làm khung phân tích

1.2.2 Sự kiện giao tiếp (speech event)

Hymes là một trong những nhà ngôn ngữ học, xã hội học, nhân chủng học người Mỹ của thế kỷ XX với nhiều đóng góp trong nghiên cứu cho ngôn ngữ học xã hội Tác giả đã phát triển một mô hình có giá trị để giúp xác định

và ghi nhãn các thành phần tương tác ngôn ngữ: để nói một ngôn ngữ chính xác, người ta không chỉ cần học từ vựng và ngữ pháp của nó mà còn là từ ngữ được sử dụng trong bối cảnh Sự kiện giao tiếp được coi là đơn vị cơ bản trong nghiên cứu ngôn ngữ Dù trong bất kì tình huống giao tiếp nào thì các hoạt động tương tác được thể hiện trong sự kiện giao tiếp phải tuân thủ theo quy tắc

Trang 38

nhất định D Hymes [93, tr 55-62] đã phát triển một mô hình để thúc đẩy sự phân tích diễn ngôn như một chuỗi sự kiện giao tiếp và hành vi ngôn ngữ trong bối cảnh văn hoá Cấu trúc lấy những chữ cái đầu tiên của các thuật ngữ này gồm 8 nhân tố được viết tắt bằng 8 chữ cái làm thành từ S.P.E.A.K.I.N.G,

đó là: Bối cảnh giao tiếp (setting and scence, S); người tham gia giao tiếp/tham thể (participants, P); mục đích giao tiếp (end, E); chuỗi hành vi (acts sequence, A); phương thức (key, K); phương tiện (instrumentalities, I); chuẩn mực xã hội được chấp nhận (norms,N); thể loại (genres; G) Sự phân loại này rất hiệu quả và thực sự có sức mạnh trong việc phân tích các thể loại diễn ngôn khác nhau khi sử dụng mô hình này

i)Bối cảnh giao tiếp (Setting and Scene;S)

Bối cảnh giao tiếp bao gồm khung cảnh và thoại trường Khung cảnh chỉ

thời gian và địa điểm của một hành vi ngôn ngữ được diễn ra, nói một cách

khái quát là các tình huống vật lý cụ thể “Setting refers to the time and place

of a speech act and, in general, to the physical cirumstances” Thoại trường (Scene) chỉ hoàn cảnh tâm lí “psychological setting” hoặc giới hạn về mặt văn hoá “culture definition” của hoạt động giao tiếp này (như trường quy thức-phi quy thức) Ví dụ, khung cảnh nơi người dẫn chương trình giới thiệu các đại biểu

khách mời trong một buổi lễ, diễn ra tại sân khấu ngoài trời, hay người dẫn chương trình giới thiệu một người chơi nào đó và người chơi tự giới thiệu về bản thân trong một chương trình trò diễn ra là ở trường quay của đài truyền hình Trong một khung cảnh nhất định, người giao tiếp có thể tự do thay đổi thoại trường Ví dụ, người giao tiếp có thể thay đổi mức độ qui thức (như chuyển từ nghiêm túc sang khôi hài) hoặc có thể thay đổi hoạt động đang tiến hành (như

đang giới thiệu về bản thân lại chuyển sang hát một bài để tặng khán giả)

ii)Người tham gia giao tiếp (Participants; P)

Người tham dự giữ bốn vai là người nói (addressor), người phát ngôn (speaker), người thụ lời (addressee), người nghe (hearer).Ví dụ: Sau phần tự giới

Trang 39

thiệu của thí sinh A, người dẫn chương trình (người phát ngôn) hỏi thí sinh B (người thụ lời) là có thấy khán giả (người nói) nói gì không

Người tham dự có thể phối hợp các vai mà trong các cuộc giao tiếp một cách rất

đa dạng: speaker – listener ( người phát ngôn-người nghe); addressor – addressee (người nói-người thụ lời); sender – receiver (người gửi thông tin – người nhận thông tin) Trong trường hợp giao tiếp cặp đôi thì một bên (người tự giới thiệu) là người nói, một bên là người nghe Trong các buổi diễn thuyết thì người diễn thuyết là người phát ngôn, còn đối tượng của diễn thuyết là khán thính giả

iii) Mục đích giao tiếp (End: E)

Mục đích của giao tiếp là kết quả đạt được theo sự mong đợi định sẵn của hoạt động giao tiếp và mục đích cá nhân của người tham dự, xuất phát từ hai phương diện, đó là: Kết quả (outcomes) bao gồm kết quả có thể dự đoán và kết quả không thể dự đoán; Đích (goals), tức đích nói chung và đích mang tính

cá nhân

iv) Chuỗi hành vi (Acts sequence; A)

Chuỗi hành vi chỉ hình thức(form) và trình tự (order) của cuộc giao tiếp Chẳng hạn, dùng từ ngữ gì, mối quan hệ gì, lời định nói và cách biểu đạt như thế nào với thoại đề, v.v Ví dụ, trong môi trường giao tiếp phi quy thức, Sp1(người nói) tự giới thiệu về bản thân có thể được bắt đầu bằng lời chào, sau đó là nội dung giới thiệu với những thông tin cá nhân về người phát ngôn lần lượt được đưa ra Trong quá trình đó có thể có một sự gián đoạn có tính hợp tác của các Sp2 (đối ngôn) Sau đó, người nghe tán thưởng, hoan nghênh lời giới thiệu và chuyển sang đối tượng khác hoặc hành vi khác.Ví dụ:

Người chơi: Xin kính chào quý vị khán giả đang ở trường quay và xin các quý

vị khán giả đang theo dõi truyền hình Em tên là Dương Thị Hạnh, em năm nay 19 tuổi và em là sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Luật Hà Nội ạ Rất mong nhận được sự cổ vũ của quý vị khán giả

Người dẫn chương trình: Bạn đang run à?

Người chơi: Vâng ạ

Trang 40

thiệu sự có mặt của một số thành viên của Thủy quân lục chiến và quân đội Cảm ơn bạn rất nhiều vì đã phục vụ cho đất nước chúng ta Sự hy sinh của bạn

là một cống hiến Sự hiện diện của bạn ngày hôm nay củng cố thêm bản năng của một con người về sức chiến đấu và sự đoàn kết mạnh mẽ được hình thành dưới các điều kiện phi thường)

Như vậy, chuỗi hành vi của hội đàm khác với ở nói chuyện phiếm, khác với ở trò chuyện trong tiệc rượu bởi vì phong cách giữa chúng khác nhau và nội dung trao đổi, nói chuyện cũng khác nhau

v) Thái độ giao tiếp (Key; K)

Phương thức diễn đạt chỉ ngữ điệu (tone), cách (manner), tinh thần (spirit) chứa đựng trong thông tin đó như: vô tư, thoải mái (light-hearted); nghiêm túc (serious); rõ ràng, tỉ mỉ (precise); mô phạm (pedantic); chế giễu (mocking); châm chọc, mỉa mai (sarcastic); tự cao (pompous), v.v Cách diễn đạt có thể dùng ngôn ngữ để biểu thị, cũng có thể dùng hành vi ngoài ngôn ngữ, như tư thế, thể hiện tình cảm v.v Có thể thấy, cùng một nội dung như vậy, nhưng sử dụng các phong cách truyền đạt khác nhau thì hàm ý truyền đạt có thể khác nhau

Ví dụ, khi tự giới thiệu về bản thân trong tiệc chúc mừng tân tiến sĩ người phát ngôn thể hiện giọng nói, cử chỉ điệu bộ bằng một cách khôi hài hoặc có thể giới thiệu về mình bằng giọng nói nghiêm túc thể hiện sự chân thành và mong đợi một sự hài lòng, ấn tượng từ người nghe

vi) Phương tiện giao tiếp (Instrumentalities; I)

Ngày đăng: 11/12/2019, 20:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w