1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa thêu của dân tộc H.Mông và dân tộc Dao

80 383 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản sắc văn hóa dân tộc là những nét văn hóa riêng biệt của một dân tộc được hình thành, được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Có thể nói trong văn hóa dân tộc, trang phục, đặc biệt là hệ thống hoa văn họa tiết trên trang phục là cái mà ở đó bản sắc dân tộc biểu hiện rõ rệt, thườngxuyên và lâu bền nhất, kết tinh nhiều giá trị riêng của dân tộc. Trang phục là sản phẩm của nghệ thuật tạo hình. Trang phục của mỗi dân tộc là sự thích ứng của con người trước điều kiện tự nhiên. Hoa văn trên trang phục là yếu tố thẩm mỹ cấu thành lên sản phẩm đó

Trang 1

xã hội" với mục đích làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động

xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân

cư, vào mọi sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có những đặc điểm văn hóa riêng thể hiện qua ngôn ngữ, trang phục, phong tục, tập quán Bản sắc văn hóa dân tộc là những nét văn hóa riêng biệt của một dân tộc được hình thành, được lưu truyền qua nhiều thế hệ Có thể nói trong văn hóa dân tộc, trang phục, đặc biệt là hệ thống hoa văn họa tiết trên trang phục là cái mà ở đó bản sắc dân tộc biểu hiện rõ rệt, thường xuyên và lâu bền nhất, kết tinh nhiều giá trị riêng của dân tộc Trang phục là sản phẩm của nghệ thuật tạo hình Trang phục của mỗi dân tộc là sự thích ứng của con người trước điều kiện tự nhiên Hoa văn trên trang phục là yếu tố thẩm mỹ cấu thành lên sản phẩm đó Yếu tố thẩm mỹ này tuy là thể hiện quan điểm của tộc người nhưng nó cũng không ngừng giao lưu, tiếp biến các yếu tố ngoại lai để làm giàu cho chính mình

Hiện nay, do ảnh hưởng của việc giao lưu giữa các nền văn hóa và ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường đã tác động không nhỏ đến bản sắc Văn hóa các dân tộc miền núi, vùng cao trong đó có các bạn học sinh dân tộc thiểu số trường em – trường PTDTNT THCS & THPT huyện Bát Xát Nhiều bạn học sinh chưa nhận thức đúng về nét đẹp văn hóa của trang phục dân tộc mình, còn tự ti về truyền thống văn hóa của dân tộc mình như việc ngại sử dụng trang phục dân tộc mình, thích trang phục theo mốt hiện đại Học sinh có tư tưởng "ra thành phố" nên các văn hóa truyền thống bị coi là "nhà quê" Những lí do trên sẽ làm cho một bộ phận học sinh dân tộc không còn yêu thích và quý trọng truyền thống văn hóa của dân tộc mình, thậm chí

Trang 2

2

muốn giũ bỏ để tiếp cận văn hóa hiện đại Đặc biệt hơn, hiện nay nhiều bạn không biết khâu, thêu trang phục truyền thống của chính dân tộc mình Đó là một nguy cơ đáng lo ngại về sự mai một bản sắc văn hóa dân tộc Những sản phẩm văn hóa được kết tinh từ nhiều đời một cách khó khăn vất vả thì nay có thể nhanh chóng bị chôn vùi, xóa nhòa

Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS & THPT huyện Bát Xát; tỉnh Lào Cai

có nhiệm vụ đặc thù là bên cạnh việc tổ chức dạy học theo chương trình giáo dục, nhà trường còn thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng toàn diện cho học sinh dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn tại các xã của huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai, đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương Bên cạnh các nội dung giáo dục khác, nhà trường đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc cho học sinh, đây là một vấn đề quan trọng góp phần không nhỏ vào sự thành công trong sự nghiệp giáo dục chung của nhà trường Năm học 2017-2018 này, trường chúng em triển khai xây dựng mô hình trường học đa văn hóa gắn với thực tiễn một cách mạnh

mẽ, trong đó có một hoạt động nổi bật là dạy nghề thêu – là hoạt động học nghề duy nhất được thực hiện trong hệ thống các trường trên địa bàn tỉnh Lào Cai Khi học những bài học này, chúng em nảy sinh ý tưởng: Tại sao chúng mình không đi sâu khám phá những giá trị ẩn chứa trong hệ thống hoa văn họa tiết thêu? Tại sao chúng mình không tự thêu và sáng tạo ra những mẫu hoa văn họa tiết thêu trên trang phục của dân tộc mình? Tại sao mình không thể tuyên truyền, giới thiệu cho mọi người về những điểm thú vị, hấp dẫn và những giá trị của nghệ thuật thêu truyền thống? Thiết nghĩ,những việc làm đó sẽ giúp các bạn học sinh hiểu sâu sắc hơn nữa về truyền thống dân tộc, khơi gợi lòng tự hào về truyền thống văn hóa dân tộc giúp các bạn học sinh phát triển tình yêu đối với quê hương Đó là những lý do chúng em thực

hiện đề tài nghiên cứu: “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa thêu dân tộc H’mông – Dao thông qua các hoạt động trải nghiệm của học sinh đồng bào dân tộc thiểu số trường PTDTNT THCS & THPT Bát Xát” Từ đó, chúng em tiến hành

khảo sát thực trạng rồi tiến hành hoạt động trải nghiệm để mở rộng kiến thức thực tế, trải nghiệm tập thêu và làm sản phẩm thêu dân tộc H‟mông, Dao dưới sự định hướng của cô giáo Phạm Minh Huệ

Vậy, là những học sinh chúng em – thế hệ tương lai của đất nước có thể góp một phần nhỏ bé của mình trong việc giữ gìn, quảng bá và lan tỏa những giá trị vô

Trang 3

3

giá của văn hóa thêu của dân tộc thiểu số chúng em đến với nhân dân trong cả nước, trước hết là với những bạn học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường

2.Mục đích nghiên cứu

Đối với học sinh:

+Tìm hiểu suy nghĩ, quan điểm, nhận thức và hành động của học sinh với văn hóa thêu dân tộc H‟mông, Dao

+ Nâng cao Nhận thức của học sinh về văn hóa thêu truyền thống của dân tộc H‟mông, Dao Tăng niềm tin, niềm tự hào dân tộc

+ Rèn luyện kĩ năng sống: Trang bị hiểu biết về văn hóa thêu dân tộc H‟mông, Dao cho các bạn học sinh, Biết cách thêu và sáng tạo các họa tiết thêu của dân tộc H‟mông, Dao cho các bạn trong câu lạc bộ thêu

+ Nghiên cứu, đề xuất một số phương án về tuyên truyền, phổ biến giữ gìn và bảo tồn nét đẹp văn hóa thêu truyền thống của dân tộc H‟mông, Dao

-Đối với nhà trường, địa phương:

+ Góp phần xây dựng mô hình trường học “Đa văn hóa” gắn với thực tiễn + Bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống Phát huy và lan rộng tới cộng đồng,

chia sẻ và giao lưu văn hóa giữa các dân tộc

3.Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa thêu dân tộc H‟mông, Dao thông qua hoạt động trải nghiệm của học sinh đồng bào dân tộc thiểu số trường PTDTNT THCS & THPT huyện Bát Xát

3.2 Đối tượng nghiên cứu:

+ Học sinh: 418 bạn học sinh trường PTDTNT THCS & THPT huyện Bát Xát + Hệ thống hoa văn họa tiết chủ đạo trên trang phục của đồng bào dân tộc H‟mông, Dao ở Lào Cai

+ Tham khảo ý kiến của nghệ nhân

4 Giả thuyết khoa học

“Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa thêu dân tộc H‟mông, Dao thông qua hoạt động trải nghiệm của học sinh đồng bào dân tộc thiểu số trường PTDTNT THCS & THPT huyện Bát Xát” là một vấn đề mới lần đầu tiên được triển khai tại trường PTDTNT THCS & THPT huyện Bát Xát Nếu tổ chức triển khai sâu rộng các hoạt động trải nghiệm tại trường PTDTNT một cách khoa học phù hợp với điều kiện

Trang 4

4

thực tiễn của nhà trường và đặc điểm học sinh người dân tộc thì sẽ nâng cao hiệu quả giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường, địa phương

5 Phạm vi nghiêm cứu

- Đề tài tập trung nghiên cứu giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa thêu dân tộc H‟mông - Dao cho học sinh trường PT Dân tộc nội trú THCS & THPT Bát Xát (vì học sinh là người dân tộc H‟Mông – Dao chiếm trên 62,70% học sinh toàn trường; các hoa văn họa tiết thêu trên trang phục dân tộc H‟mông-Dao rất đa dạng và đặc sắc)

Trang 5

5

- Học sinh: 418 em học sinh từ lớp 6 đến lớp 11

- Thời gian triển khai: 9/2017 – 12/2017

6.Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú

- Nghiên cứu về bản sắc văn hóa thêu (kĩ thuật thêu, họa tiết thêu) truyền thống trên trang phục dân tộc H‟mông, Dao

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng nhận thức của các bạn học sinh trường PTDTNT THCS & THPT Bát Xát về văn hóa thêu dân tộc H‟mông, Dao hiện nay

- Đề xuất các giải pháp giữ gìn, bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hóa thêu truyền thống của dân tộc H‟mông, Dao thông qua hoạt động trải nghiệm của học sinh trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS & THPT huyện Bát Xát

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu, phân tích các quan điểm lý luận, hệ thống hóa các tài liệu trên sách, báo chí, các tài liệu chuyên môn liên quan đến nội dung đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát các hoạt động của nhà trường:

thực hiện mặc trang phục…để thu thập thông tin, làm rõ thực trang; quan sát, chụp ảnh các trang phục dân tộc H‟mông, Dao để có cái nhìn chân thực nhất đối với đối

tượng nghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn, hỏi chuyện, ghi chép, trao đổi, thảo luận: với các

bạn học sinh,với thầy cô giáo, với nghệ nhân

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:

Tiến hành lấy ý kiến của học sinh trường PT DTNT THCS & THPT huyện Bát Xát thông qua phiếu điều tra khảo sát lần 1 (ban đầu) nhằm làm rõ thực trạng cần nghiên cứu Sau đó khảo sát lần 2 (sau khi tổ chức các hoạt động trải nghiệm) để đánh giá sự thay đổi về nhận thức, thái độ và hành vi của các bạn học sinh trường PTDTNT THCS & THPT huyện Bát Xát

- Phương pháp phân tích các sản phẩm hoạt động

7.3 Nhóm phương pháp xử lý thông tin

Phương pháp này dùng để xử lý số liệu kết quả nghiên cứu của các phương pháp

Trang 6

6

nghiên cứu khác đem lại Trên cơ sở đó đưa ra những nhận định, kết luận có tính khoa học và độ tin cậy: tìm được sự lý giải cho các mã văn hóa được giấu bên trong các họa tiết, chi tiết hoa văn trang trí trên vải của dân tộc H‟mông, Dao

8 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

8.1 Ý nghĩa khoa học

- Cung cấp nguồn dữ liệu cụ thể về thực trạng, mức độ quan tâm và cách ứng

xử của học sinh với văn hóa thêu dân tộc thiểu số H‟mông, Dao làm căn cứ để các cấp quản lý và các chuyên gia đưa ra các chương trình phổ biến học nghề thêu dân tộc với học sinh dân tộc thiểu số gắn liền với thực tiễn địa phương

- Đưa ra những nhận định đúng và khách quan về việc đưa văn hóa thêu truyền thống dân tộc H‟mông, Dao đến với học sinh

- Cung cấp một số phương pháp, cách tổ chức để tuyên truyền văn hóa thêu dân tộc tới học sinh để gia đình, nhà trường và xã hội định hướng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, chung tay gìn giữ vốn quý của đồng bào dân tộc thiểu

số

9 Tính sáng tạo của đề tài

- Chỉ tập trung vào một đối tượng cụ thể: học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông trường PTDTNT THCS & THPT huyện Bát Xát, trong một lĩnh vực

cụ thể của bản sắc văn hóa dân tộc: họa tiết hoa văn thêu truyền thống của dân tộc H’mong – Dao Bởi từ trước tới nay chưa có đề tài cụ thể nào về văn hóa thêu dân

tộc H‟mông, Dao gắn liền với lứa tuổi học sinh

- Nghiên cứu, đưa ra những thông tin, dữ liệu chính xác, cụ thể từ thực tiên

chứ không phải những nhận định chung chung…khái quát nghiệm thu đề tài bằng một cuốn Sổ tay về họa tiết thêu truyền thống của dân tộc H’mông, Dao;

- Đưa ra cách tiếp cận, tổ chức các hoạt động sáng tạo để thu hút và hấp dẫn học sinh với bản sắc văn hóa truyền thông gắn liền với quê hương mình

Trang 7

7

- Có thể mở rộng đề tài nghiên cứu ra nhiều bộ phận khác của nền văn hoá;

- Góp phần giải quyết vấn đề bức thiết của nhiều quốc gia, không chỉ của Việt Nam mà còn trên thế giới

10 Câu hỏi nghiên cứu

Thái độ của các bạn học sinh đối với bản sắc văn hóa thêu truyền thống của dân tộc H‟mông, Dao hiện nay như thế nào? Những giải pháp nhằm tạo nên tình yêu văn hóa thêu truyền thống của dân tộc H‟mông, Dao cho học sinh trong giai đoạn hiện nay? Nếu các bạn học sinh ở các dân tộc khác cùng biết về bản sắc văn hóa thêu của dân tộc H‟mông, Dao sẽ đem lại những lợi ích gì?

11.Cấu trúc của đề tài

Phần I: Mở đầu

Phần II: Nội dung

Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài

1.Lí luận về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc thông qua hoạt động trải nghiệm

cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú

2 Khái quát về bản sắc văn hóa thêu của dân tộc H‟mông – Dao

Chương 2: Thực trạng và giải pháp

1.Thực trạng về nhận thức, hiểu biết và thái độ của học sinh trường PTDTNT THCS & THPT Bát Xát về văn hóa thêu của dân tộc H‟mông – Dao

2 Một số giải pháp nhằm góp phần bảo tồn, phát huy và lan tỏa những giá trị

của văn hóa thêu của dân tộc H‟mông – Dao với các bạn học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm

Chương 3:Kết quả nghiên cứu

1 Đánh giá kiến thức và nhận thức học sinh về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa thêu dân tộc H‟mông, Dao

2 Sản phẩm của đề tài

Phần III: Kết luận, đề nghị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

8

Phần II: Nội dung

Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.Lí luận về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú

1.1.1 Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc:

Khái niệm Giữ gìn, Phát huy

Theo Từ điển tiếng Việt

Giữ gìn là giữ lại không để cho mất đi

Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt lan toả tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm

Phát huy, trước hết là sử dụng giá trị tinh thần của di sản văn hóa trong công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, tình cảm; đồng thời, khái niệm phát huy cũng đã bao hàm cả các hoạt động khai thác

Khái niệm Văn hóa, Bản sắc văn hóa

Khái niệm Văn hóa

Thuật ngữ văn hóa đã xuất hiện từ lâu trong ngôn ngữ nhân loại nhưng cho đến nay vẫn là một trong những khái niệm phức tạp và khó xác định UNESCO đã nhìn nhận khái niệm này theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, văn hóa

là một phức thể, tổng hợp các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng, gia đình, làng xóm, vùng miền, quốc gia, xã hội Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…Theo nghĩa hẹp, văn hóa là một tổng thể những hệ thống biểu tượng, kí hiệu chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong một cộng đồng khiến cho cộng đồng ấy có đặc thù riêng

Văn kiện Hội nghị lần thứ IV BCHTW khóa VII nêu: “Có nhiều định

nghĩa về văn hóa, nhưng tựu chung có ba loại: Một là, văn hóa hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả trình độ phát triển vật chất và tinh thần; Hai là, văn hóa hiểu theo nội dung bao gồm cả khoa học, kĩ thuật, giáo dục, văn học, nghệ thuật; Ba là, văn hóa

đặt trong phạm vi nếp sống, lối sống, đạo đức xã hội, văn học nghệ thuật Theo chúng tôi, văn hóa đặt trong phạm vi văn hóa vật chất và tinh thần

Trang 9

9

đặc điểm riêng biệt, có giá trị cao gồm những giá trị vật chất và tinh thần được tích lũy và

phát triển trong tiến trình đi lên của một dân tộc, nó quy định vị trí riêng biệt về mặt

xã hội của một dân tộc Những giá trị đó có thể có ở mọi dân tộc, song ở dân tộc có

bản sắc văn hoá được biểu hiện đậm nét, sâu sắc và đặc biệt hơn

Khái niệm Bản sắc văn hóa dân tộc

Thuật ngữ "bản sắc" thường được sử dụng gắn với văn hóa thành cụm từ “Bản sắc văn hoá” và có thể hiểu bản sắc văn hoá là hệ thống các giá trị đặc trưng bản chất của một nền văn hoá được xác lập, tồn tại, phát triển trong lịch sử và được biểu hiện thông qua nhiều sắc thái văn hóa Trong bản sắc văn hóa, các giá trị đặc trưng bản chất là cái trừu tượng, tiềm ẩn, bền vững; còn các sắc thái biểu hiện của nó có tính tương đối cụ thể, bộc lộ và tính biến đổi

“Bản sắc văn hoá dân tộc” là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được dân tộc sáng tạo ra trong lịch sử, là những nét độc đáo rất riêng của dân tộc này so với dân tộc khác Xét về bản chất, bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện tinh thần, linh hồn, cốt cách, bản lĩnh của một dân tộc Đây được coi là “dấu hiệu khác biệt về chất”

giữa dân tộc này với dân tộc khác Tại Hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn

hóa họp ở Venise, F.Mayor - nguyên Tổng giám đốc UNESCO đã đưa ra một định nghĩa khái niệm văn hóa trên cơ sở nhấn mạnh tính đặc thù của bản sắc văn hoá dân tộc: “Văn hoá bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” [dẫn theo 5, tr.798] Trong quan hệ quốc tế, bản sắc văn hóa dân tộc được xem như cái “thẻ căn cước”, là cốt cách của mỗi dân tộc thể hiện trên mọi phương diện Trong quá trình tồn tại và phát triển, bản sắc văn hoá là yếu tố mang sức mạnh tinh thần dân tộc, giúp dân tộc vượt qua những thử thách của lịch sử, bởi

vì theo tác giả Trần Văn Bính thì “bản sắc dân tộc là tổng thể những phẩm chất, tính

cách, khuynh hướng cơ bản thuộc sức mạnh tiềm tàng và sức sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó, giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính duy nhất, tính thống nhất, tính nhất quán so với bản thân mình trong quá trình phát triển” và tạo cơ sở cho sự phân biệt, nhận diện sự khác nhau giữa tộc người này với tộc người khác, dân tộc này với dân tộc khác Bản sắc văn hoá nhìn một cách tổng thể của bất kỳ dân tộc nào, đều gắn bó với lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của chính dân tộc đó [dẫn theo 5, tr.20]

Trang 10

10

Nhà thơ Tố Hữu đã khẳng định: “Trong đồng bào các dân tộc thiểu số, BSVH biểu hiện đậm đà nhiều mặt Dân tộc nào cũng có tinh thần dũng cảm trong sản xuất

và chiến đấu, tính chân thật thuỷ chung, lòng thương người mến khách Ở nhà sàn,

ăn cơm nếp, uống rượu cần Đội mũ, khăn, áo, quần nhiều màu sắc, đàn hát, nhảy múa đông người… Những đức tính và nét sinh hoạt đó thường nổi bật trong đời sống của đồng bào ở miền núi” [2, tr.26]

Nhìn nhận về giá trị bản sắc văn hoá Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam đã

tổng kết tại Văn kiện Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo” [dẫn theo 5, tr.7]

Tiến trình lịch sử phát triển của cộng đồng dân tộc Việt Nam cho thấy các giá trị bản sắc văn hóa của từng tộc người, từng dân tộc không phải ngẫu nhiên được hình thành mà đó là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh địa lý, lịch sử và chính trị Các giá trị cốt lõi của bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc đã làm nên BSVH Việt Nam Bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo thành những nét đặc sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam

Từ những khái niệm của các tác giả trên, theo chúng tôi “BSVH dân tộc là hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mĩ và lối sống của dân tộc tạo thành những đặc trưng tiêu biểu, tiến bộ, riêng biệt, không thể trộn lẫn nền văn hoá của dân tộc này với dân tộc khác” BSVH dân tộc biểu hiện cho sức sống, sự sáng tạo và phát triển của dân tộc đó Trong khuôn khổ của đề tài này, BSVH dân tộc được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, đó là những đặc trưng tiêu biểu, tiến bộ, riêng biệt về họa tiết hoa văn trên trang phục của dân tộc thiểu số H‟mông, Dao ở Lào Cai

1.1.2.Hoạt động trải nghiệm

1.1.2.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm

Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, kế hoạch giáo dục bao gồm các môn học, chuyên đề học tập (gọi chung là môn học) và hoạt động trải nghiệm ; hoạt

Trang 11

Hoạt động trải nghiệm trong nhà trường cần được hiểu là hoạt động có động

cơ, có đối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng các việc làm cụ thể của học sinh, được thực hiện trong thực tế, được sự định hướng giáo viên, hướng dẫn của nhà trường Đối tượng để trải nghiệm nằm trong thực tiễn Qua trải nghiệm thực tiễn, học sinh có được kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí nhất định Sự sáng tạo sẽ có được khi phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn phải vận dụng kiến thức, kĩ năng đã

có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống mới, không theo chuẩn đã có, hoặc nhận biết được vấn đề trong các tình huống tương tự, độc lập nhận ra chức năng mới của đối tượng, tìm kiếm và phân tích được các yếu tố của đối tượng trong các mối tương quan của nó, hay độc lập tìm kiếm ra giải pháp thay thế và kết hợp được các phương pháp đã biết để đưa ra hướng giải quyết mới cho một vấn đề

Hoạt động trải nghiệm được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, các hội thi, các hoạt động giao lưu, hoạt động nhân đạo, tình nguyện, hoạt động cộng đồng, sinh hoạt tập thể, lao động công ích, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, múa rối, tiểu phẩm, kich tham gia ), thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội

1.1.2.2 Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thông qua hoạt động trải nghiệm

Người Việt Nam từ xưa vẫn quan niệm: “Trăm hay không bằng tay quen”

“Học đi đôi với hành”, “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn” Để nhấn mạnh yếu tố thực hành và vận dụng thực tế

Hơn 2000 năm trước, Khổng Tử (551 – 479 TCN) đã nói “Những gì tôi

nghe, tôi sẽ quên Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”

Còn nhà triết học Hy Lạp, Xôcrat (470 – 399 TCN) cũng nêu quan điểm “Người ta phải học bằng cách làm một việc gì đó; Với những điều bạn nghĩ là mình biết, bạn sẽ thấy không chắc chắn cho đến khi làm nó”

Trang 12

12

HĐTNST tạo điều kiện cho HS tiếp xúc và mở rộng ứng dụng thực tế, trải nghiệm được nhiều vấn đề trong các hoạt động xã hội đồng thời gây hứng thú trong học tập HĐTNST cũng có vai trò to lớn trong việc phát triển năng lực cá nhân cho học sinh Trong nhà trường, kỹ năng sống của học sinh có thể được hình thành thông qua hoạt động học tập và giảng dạy cũng như các hoạt động giáo dục khác Trong

đó, HĐTNST là một trong những hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng trong việc rèn

luyện kỹ năng sống cho học sinh Thông qua HĐTNST học sinh được thể hiện đầy

đủ năng lực của bản thân, các kỹ năng mà học sinh đã trải nghiệm, hình thành và rèn luyện Cũng từ những hoạt động này có thể phát hiện được điểm nổi trội hoặc hạn chế của học sinh.Từ đó có cơ sở giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực của mỗi cá nhân và phát huy tốt hơn những kỹ năng đã được hình thành trong các môn học khác Bên cạnh đó, học sinh được hình thành và rèn luyện kỹ năng giao tiếp, rèn luyện sự tự tin, học sinh đều được làm và thấy mình có thể làm được Tóm lại, HĐTNST có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển kỹ năng sống

cũng như nhân cách cho học sinh Việc giữ gìn và phát huy BSVHDT thông qua

hoạt động trải nghiệm cho học sinh, học sinh có điều kiện tham gia vào các hoạt

động của nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động để

nâng cao nhận thức; hình thành thái độ, tình cảm tích cực; hình thành và phát triển kĩ năng phù hợp với giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp cho học sinh Qua đó, học sinh biết giữ gìn và phát huy các giá trị BSVHDT trong cuộc sống, biết lựa chọn và loại

XH khó khăn, là nơi đào tạo cán bộ cho các vùng dân tộc

Trường PTDTNT có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển KT-XH và củng cố an ninh quốc phòng ở các vùng miền núi, vùng sâu vùng xa

Trường PTDTNT là loại trường chuyên biệt mang tính phổ thông, dân tộc và nội trú Trường PTDTNT còn là nơi để thực hiện chế độ chính sách của Đảng, nhà

Trang 13

13

nước đối với học sinh phổ thông dân tộc thiểu số một cách khá đầy đủ và toàn diện nhất

- Đặc điểm học sinh trường PT DTNT

Thông tư Số: 01/2016/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 01 năm 2016 của Bộ Giáo dục & Đào tạo quy định:

Điều 18 Đối tượng tuyển sinh

1 Thanh niên, thiếu niên là người DTTS có hộ khẩu thường trú và định cư

từ 03 năm trở lên (tính đến ngày tuyển sinh) ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định hiện hành

2 Thanh niên, thiếu niên là người DTTS không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này, nếu được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định là vùng tạo nguồn cán bộ cho các dân tộc thì cũng thuộc diện tuyển sinh vào trường PTDTNT

3 Trường PTDTNT được phép tuyển sinh không quá 5% trong tổng số chỉ tiêu được tuyển mới hằng năm là con em người dân tộc Kinh có hộ khẩu thường trú

và định cư từ 03 năm trở lên (tính đến ngày tuyển sinh) ở vùng quy định tại khoản 1 Điều này

Điều 17 Nhiệm vụ và quyền hạn của HS

Ngoài các nhiệm vụ và quyền hạn của HS được quy định tại Điều lệ trường trung học hiện hành, HS trường PTDTNT còn có nhiệm vụ và quyền hạn sau:

1 Giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc mình, tôn trọng văn hóa của các dân tộc khác

2 Chấp hành nghiêm túc sự phân công đi học ngành, nghề và sự phân công công tác theo yêu cầu của địa phương

3 Được ăn, ở, sinh hoạt trong khu nội trú và được hưởng các chế độ ưu tiên, ưu đãi theo quy định của Nhà nước

Như vậy, HS trường PTDTNT là những thiếu niên người DTTS có hộ khẩu thường trú và định cư từ 03 năm trở lên (tính đến ngày tuyển sinh) ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định hiện hành Các em được xét duyệt và cử tuyển vào học tại trường theo yêu cầu của địa phương 100% HS được

ăn, ở, sinh hoạt trong khu nội trú và được hưởng các chế độ ưu tiên, ưu đãi theo quy định của Nhà nước

1.1.2.3.2 Một số vấn đề về giữ gìn hoạt động trải nghiệm ở trường PTDTNT Đặc trưng của hoạt động trải nghiệm

Trang 14

14

Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục Hoạt động trải nghiệm được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, các hội thi, hoạt động giao lưu, nhân đạo hoạt động cộng đồng, sinh hoạt tập thể, lao động công ích, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, múa rối, tiểu phẩm, kic h tham gia, ), thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội, Hoạt động trải nghiệm nhằm hình thành và phát triển phẩm chất nhân cách, các năng lực tâm lý - xã hội ; giúp học sinh tích luỹ kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình, làm tiền đề cho mỗi cá nhân tạo dựng được sự nghiệp và cuộc sống hạnh phúc sau này

Chính vì vậy việc giáo dục BSVHDT thông qua hoạt động trải nghiệm ở trường PT DTNT có ý nghĩa vô cùng quan trọng Đó không chỉ là điều kiện để mỗi học sinh được thể hiện mà còn được giao lưu học hỏi Qua hoạt động trải nghiệm, học sinh được hòa nhập với bạn bè, hiểu biết về văn hóa, lối sống của các dân tộc, từ

đó biết điều chỉnh, tiếp thu những giá trị văn hóa tích cực và tạo nên sự hòa nhập, thân thiện với tập thể bạn bè, thầy cô Hoạt động trải nghiệm tạo ra môi trường tốt để tăng cường sự đoàn kết các dân tộc

Mục tiêu của giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc thông qua hoạt động trải nghiệm cho HS trường PT DTNT

- Giữ gìn BSVHDT thông qua hoạt động trải nghiệm cho HS trường PT DTNT THCS là thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hóa Đảng ta xác định: "Văn hóa là một trong ba mặt trận: kinh tế, chính trị, văn hóa",

vì vậy, "phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được công cuộc cải tạo xã hội" và "Đảng tiên phong lãnh đạo văn hóa tiên phong"; đồng thời, đề ra ba nguyên tắc cuộc vận động văn hóa mới: Dân tộc, đại chúng, khoa học

Đồng thời, kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người; chống tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ, trái với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục nhấn mạnh, phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; quan tâm chăm lo xây dựng, hoàn thiện những phẩm giá nhân cách tốt đẹp của con người Việt Nam

- Giữ gìn BSVHDT thông qua hoạt động trải nghiệm là góp phần phát

Trang 15

Trong khuôn khổ của đề tài về nội dung giữ gìn bản sắc văn hóa thêu của dân tộc H‟mông và dân tộc Dao cho học sinh PT DTNT Học sinh là người dân tộc H‟mông-Dao chiếm trên 60% tổng số học sinh toàn trường Dân tộc H‟mông và dân tộc Dao có đặc trưng hoa tiết thêu trên trang phục truyền thống

Thông qua các hoạt động trải nghiệm để giữ gìn và phát huy BSVHT dân tộc H‟mông - Dao, sẽ giúp cho học sinh có nhận thức về bản sắc văn hóa, giá trị lịch sử,

ý nghĩa của truyền thống thêu dân tộc H‟mông, Dao; có kĩ năng thêu họa tiết hoa văn truyền thống để từ qua đó có cách nhìn nhận, đánh giá và thái độ, hành vi đúng đắn trong việc bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc, trong điều kiện hiện nay

Giáo dục BSVHDT thông qua các hoạt động trải nghiệm cho HS

Với đặc trưng là trường nội trú, mọi hoạt động của học sinh phần lớn đều diễn

ra trong nhà trường Các hình thức giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc cho các bạn học sinh cần được tổ chức một cách đa dạng, linh hoạt, lồng ghép trong các môn học

và các hoạt động giáo dục khác của nhà trường một cách hài hòa, phù hợp, hiệu quả

Ví dụ như:

- Tổ chức các câu lạc bộ:

Câu lạc bộ (CLB) là hình thức sinh hoạt ngoại khóa của những nhóm học sinh cùng sở thích, nhu cầu, năng khiếu, dưới sự định hướng của những nhà giáo dục nhằm tạo môi trường giao lưu thân thiện, tích cực giữa các học sinh với nhau và giữa học sinh với thầy cô giáo, với những người lớ n khác Có thể tổ chức một số câu lạc

bộ như:

Trang 16

16

- CLB văn hóa nghê thuâ : Hát then, Đàn tính

- CLB trò chơi dân gian: kéo co, ném còn, đánh cầu/đá cầu, ô ăn quan, đánh

chuyền, đánh khăng, đánh quay, đánh đáo

- CLB thể thao: Đẩy gậy, võ thuật cổ truyền

- Tổ chức các trò chơi:

Trò chơi là một loại hình hoạt động giải trí, thư giãn; là món ăn tinh thần nhiều bổ ích và không thể thiếu được trong cuộc sống con người nói chung và đặc biệt, đối với thanh thiếu niên học sinh nói riêng, những trò chơi phù hợp nhiều khi

có tác dụng giáo dục rất tích cực Trò chơi được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau có tác dụng học mà chơi, chơi mà học

bè và những người khác Diễn đàn thường được tổ chức rất linh hoạt, phong phú và

đa dạng với những hình thức hoạt động cụ thể, phù hợp với từ ng lứa tuổi học sinh

- Tổ chức sinh hoạt ngoại khóa, sân khấu tương tác:

Sân khấu tương tác (hay sân khấu diễn đàn) là một hình thức nghệ thuật tương tác dựa trên hoạt động diễn kịch , trong đó vở kịch chỉ có phần đầu đưa ra tình huống, phần còn lại được sáng tạo bởi những người tham gia Phần trình diễn chính

là một cuộc chia sẻ, thảo luận giữa những người thực hiện và khán giả, trong đó đề cao sự tương tác hay sự tham gia của khán giả Mục đích của hoạt động này là tăng cường nhận thức, thúc đẩy HS đưa ra quan điểm, suy nghĩ và cách xử lý tình huống thực tế gặp phải trong bất kì nôi dung nào của cuộc sống Thông qua sân khấu tương tác, các bạn có cơ hội rèn kĩ năng như: kĩ năng phát triển vấn đề, kĩ năng phân tích vấn đề, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo ứng phó trước những thay đổi trong cuộc sống

Trang 17

17

- Tham quan dã ngoại

Tham quan dã ngoại là một hình thức trải nghiệm thực tế hấp dẫn với học sinh Mục đích của tham quan, dã ngoại là để các em học sinh được đi tham quan, tìm hiểu, học hỏi kiến thức, được tiếp xúc với các giá trị văn hóa , lịch sử … giúp các em có được những kiến thức từ thực tế, sinh động hấp dẫn từ đó có thể áp dụng vào cuộc sống Các chuyến tham quan dã ngoại sẽ tăng cường cho các bạn HS được giao lưu, chia sẻ và thể hiện những khả năng vốn có của mình đồng thời giúp các

em cảm nhận được vẻ đẹp của quê hương, đất nước , hiểu được các giá trị truyền thống của dân tộc

- Hội thi/cuôc thi

Hội thi (cuộc thi) là một trong những hình thức tổ chức hoa đông hấp dẫn, lôi cuốn HS và đạt hiệu quả cao trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện và định hướng giá trị cho tuổi trẻ Hội thi mang tính chất thi đua giữa các cá nhân, nhóm hoặc tập thể luôn hoạt động tích cực để vươn lên đạt được mục tiêu mong muốn thông qua việc tìm ra người thắng cuộc Chính vì vậy, tổ chức cuộc thi cho HS

là một điều quan trọng, cần thiết trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo Mục đích tổ chức hội thi/cuộc thi nhằm lôi cuốn HS tham gia một cách chủ động, tích cực vào các hoạt động giáo duc của nhà trườ ng; đáp ứng nhu cầu về vui chơi giải trí cho HS; thu hút tài năng và sự sáng tạo của HS; phát triển khả năng hoạt động tích cực và tương tác của HS, góp phần bồi dưỡng cho các em động cơ học tập tích cực, kích thích hứng thú trong quá trình nhận thức

1.2 Khái quát về bản sắc văn hóa thêu của dân tộc H’mông – Dao

1.2.1 Bản sắc văn hóa thêu dân tộc H’mông

1.2.1.1 Khái quát về dân tộc H’mông

Dân tộc H‟mông là một dân tộc có dân số khá đông (trên 9 triệu người), thuộc nhóm ngôn ngữ H‟mông – Dao, cư trú ở nhiều nước khác nhau trên thế giới trong đó đông nhất là ở Trung Quốc với khoảng trên 7,5 triệu người Ở Lào là khoảng 25 vạn,

ở Thái Lan khoảng 15 vạn và ở nước ta là hơn 1 triệu người Trong vài thập niên gần đây, người H‟mông còn có mặt ở một số nước ngoài châu Á như: Pháp, Mỹ, Canada, Australia Ở Lào Cai, dân tộc H‟mông chiếm 22,21% dân số toàn tỉnh (dân

số Lào Cai là 674.530 người, số liệu năm 2016) [6]

Ở Việt Nam, người H‟mông nằm trong nhóm các dân tộc nói ngôn ngữ H‟mông – Dao (gồm ba dân tộc là H‟mông, Dao và Pà Thẻn)

Trang 18

18

Về nguồn gốc dân tộc thì người H‟mông hiện nay ở Việt Nam đều có nguồn gốc từ phương Bắc Theo một số tài liệu và truyền thuyết của dân tộc H‟mông, cũng như theo các nhà dân tộc học thì phần lớn những người H‟mông ở các tỉnh miền núi phía Bắc đều di cư vào Việt Nam chủ yếu trực tiếp từ Quý Châu, Quảng Tây và Vân Nam Trung Quốc sang Riêng nhóm H‟mông ở Thanh Hóa và Nghệ An đi cư vào Việt Nam qua Lào

Về tên gọi của dân tộc, thì ở Việt Nam, ngôn ngữ dân gian quen gọi là người Mèo hay người H‟Mông Nhưng trên nhiều tài liệu nghiên cứu, các nhà dân tộc học

và nghiên cứu về dân tộc này đều gọi họ là dân tộc H‟mông hoặc là dân tộc Mông Bản thân họ tự nhận mình là dân tộc Mông (nghĩa là người)

Các nhóm người H‟mông chính ở nước ta:

* Mông Hoa (Mông Lềnh)

* Mông Đen (Mông Đú hoặc Mông Đu)

* Mông Xanh (Mông Súa hoặc Mông Dua)

* Mông Đỏ (Mông Si) Dấu hiệu để phân biệt các nhóm người H‟mông là trang phục của họ nhưng chỉ có trang phục nữ mới có chức năng này, trang phục nam hầu như có mô típ giống nhau

Về địa bàn cư trú và phân bố dân cư: dân tộc H‟mông nói chung thì thường cư trú ở độ cao từ 800 đến 1500m so với mực nước biển Phân bố chủ yếu ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc trong một địa bàn khá rộng, dọc theo biên giới Việt – Trung

và Việt – Lào từ Lạng Sơn đến Nghệ An Trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc Đông Bắc và Tây Bắc VN như Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La Do tập quán du mục nên một số người H‟mông trong những năm 1980, 1990 đã di dân vào tận Tây Nguyên, sống rải rác ở một số nơi thuộc Gia Lai và Kon Tum

Người H‟mông ở miền bắc Việt Nam cư trú đông nhất là ở Hà Giang, tiếp đến

là Điện Biên, Sơn La, Yên Bái, và ít nhất là ở Hòa Bình Địa bàn cư trú của họ là các dãy núi cao nhất nước ta Độ cao trung bình của các làng người H‟mông cư trú là từ

900 – 1600m Đây là vùng đất cao nhất, hiểm trở nhất Độ chia cắt sâu, chia cắt ngang từ lớn đến rất lớn Độ dốc từ 15o

đến 25o, vùng Tây Hoàng Liên Sơn có độ dốc lớn hơn 25o Khí hậu mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa Do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và độ cao địa hình nên khí hậu lạnh Địa hình phức tạp và khí hậu khắc nghiệt đã gây nhiều khó khăn cho đời sống văn hóa của đồng bào

Trang 19

19

Họ sống quần tụ trong từng bản có vài chục nóc nhà, thường thích sống khép kín Nhà cửa là loại nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa Phổ biến là nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh

1.2.1.2 Khái quát về trang phục dân tộc H’mông

Đồng bào H‟mông đã cư trú ở nước ta từ lâu đời, sinh sống chủ yếu trên các rẻo cao thuộc khu vực miền núi Tây Bắc và Đông Bắc, gồm các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Lai Châu, Tuyên Quang, Yên Bái, Điện Biên, Sơn La và Nghệ An

So với các dân tộc khác, người H‟mông còn giữ nguyên được nhiều phong tục tập quán, vật dụng cổ truyền độc đáo, một trong đó là việc dệt vải, thêu may các bộ trang phục dân tộc đặc sắc, rực rỡ nhất vùng Đối với người H‟mông, trang phục là cái mặc, cũng là của cải gia truyền, ai nấy đều phải bảo tồn và phát huy sao cho ngày càng đẹp càng quý, phản ánh được rõ nét truyền thống văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng,

cá tính và sự giàu có của tộc người

Từ xưa đến nay, trang phục nam nữ H‟mông đều do phụ nữ H‟mông làm Bảy, tám tuổi, các bé gái đã được bà và mẹ dạy dệt vải, thêu, may các kiểu hoa văn truyền thống, để tới khi lấy chồng (vào tuổi 15-18, tuổi trưởng thành theo cách tính H‟mông) sẽ may được 8 đến 15 chiếc váy làm của hồi môn

Quần áo của người Mông chủ yếu may bằng vải lanh tự dệt Đậm đà tính cách tộc người trong tạo hình và trang trí với kỹ thuật đa dạng Trang phục nam H‟mông độc đáo khác nhiều tộc người trong khu vực; trang phục nữ khó lẫn lộn với các tộc khác bởi phong cách tạo dáng và trang trí công phu, kết hợp kỹ thuật nhuộm, vẽ sáp ong, thêu, ghép, dệt hoa văn với kiểu váy rộng và đẹp Nam giới H‟mông mặc trang phục cổ truyền tương tự nữ giới song giản tiện và mộc mạc hơn Đó là một cái áo đen (vào dịp lễ Tết là áo trắng, xanh, thêu hoa) có dạng chữ T thân hẹp, hoặc lơ lửng ngang sườn hoặc dài quá thắt lưng, cổ áo thêu hoa, ve áo song song đính khoảng năm hàng khuy vải nằm ngang giữa hai thân, cũng có khi là hai vạt vắt chéo và đơm khuy nách Ống tay rộng, chia làm hai phần, tùy nhóm người mà ống tay liền dải đồng chất, đồng màu hoặc gắn các mảnh vải, miếng thêu có màu sắc, chất liệu khác nhau Với nam giới H‟mông Đen, thân và tay áo thường có một màu tím than Với nam giới H‟mông Hoa thì ống tay chia thành nhiều lớp vẽ thêu như đen nối xanh, đen nối đỏ, vàng nằm liền kề hoặc cách quãng Với nam giới H‟mông Đỏ có thêm viền cổ và nẹp áo thêu Ngoài ra, họ cũng đội mũ gồm các loại mũ quả dưa tám miếng màu đen hoặc thêu, đính các vòng họa tiết xung quanh mũ hay trên đỉnh đính

Trang 20

20

cắc bạc; mũ lưỡi trai ngắn sát đầu và mũ bốn vành khi lạnh để xuôi, khi nóng gập lên gọn ghẽ trên đầu Vào hội, khi tham gia biểu diễn nghệ thuật họ vấn khăn buộc sau gáy Quần nam giới là loại chân què ống rất rộng so với các tộc người khác trong khu vực

Người H‟mông có nhiều nhóm khác nhau, trang phục nữ các nhóm cũng có sự khác biệt Trang phục cổ truyền của người phụ nữ H‟mông gồm: khăn, áo, váy, tạp

dề che phía trước váy, sau váy, thắt lưng, xà cạp…Nhìn chung có thể thấy phụ nữ H‟mông thường mặc áo bốn thân, xẻ ngực không cài nút, gấu áo không khâu hoặc cho vào trong váy Ống tay áo thường trang trí hoa văn những đường vằn ngang từ nách đến cửa tay, đường viền cổ và nẹp hai thân trước được trang trí viền vải khác màu (thường là đỏ và hoa văn trên nền chàm) Phụ nữ H‟mông còn dùng loại áo xẻ nách phải trang trí cổ, hai vai xuống ngực giữa và cửa ống tay áo Phía sau gáy thường được đính miệng và trang trí hoa văn dày đặc bằng chỉ ngũ sắc

Váy phụ nữ H‟mông là loại váy kín, nhiều nếp gấp, rộng, khi xòe ra có hình tròn Váy là một tiêu chuẩn nhiều người đã dựa vào để phân biệt các nhóm H‟mông (Hoa, Xanh, Đỏ, Đen ) Đó là các loại váy trắng, váy đen, váy in hoa, vẽ sáp ong kết hợp thêu Váy được mang trên người với chiếc thắt lưng vải được thêu trang trí ở đoạn giữa Khi mặc váy thường mang theo tạp dề Tạp dề mang trước bụng phủ xuống chân là 'giao thoa' giữa miếng vải hình tam giác và chữ nhật; phần trang trí hoa văn là miếng vải hình tam giác cân phía trên, miếng hình chữ nhật là màu chàm đen, kích thước tùy từng bộ phận người H‟mông Phụ nữ thường để tóc dài quấn quanh đầu, có một số nhóm đội khăn quấn thành khối cao trên đầu Đồ trang sức bao gồm khuyên tai, vòng cổ, vòng tay, vòng chân, nhẫn

1.2.1.3 Khái quát về họa tiết hoa văn thêu trên trang phục dân tộc H’mông

Có thể nói hoa văn, họa tiết là yếu tố quan trọng nhất tạo nên vẻ đẹp trang phục H‟mông Nghệ thuật tạo hình dân gian của người H‟mông thể hiện ở trang phục, đồ dùng sinh hoạt, tranh cắt giấy…Nhưng trang trí trên vải có vị trí quan trọng nhất trong nghệ thuật tạo hình dân gian, điển hình là trang trí trên trang phục người H‟mông Mọi hoa văn ở đây đều hết sức mộc mạc, bắt nguồn từ các câu chuyện cổ, thơ ca về cội nguồn dân tộc, phong cảnh thiên nhiên nơi người H‟mông sinh sống, các loại cây trồng, vật nuôi và sản phẩm nông nghiệp quen thuộc Thường thấy các họa tiết dưới dạng ô nằm ngang với đường viền là hình vuông, chữ thập, đinh, công

Trang 21

21

cách quãng kết hợp với hình quả trám, tam giác, tròn, xoáy đơn, xoáy kép (dấu móc hoặc chữ S), răng cưa, đường cong, đường lượn sóng Bên trong là các hình ngôi sao năm cánh - sáu cánh- tám cánh, hoa bí, hoa tỏi, hoa cà, hoa mận, hoa đào, hoa sen, mạng nhện, cánh bướm, vảy cá, lá ngải cứu, cành tùng, búp tre, lưỡi câu, núi sông, đuôi rồng, con ốc, con rắn, sừng dê Những họa tiết này đều có màu sắc tươi sáng, nhất là màu đỏ vừa tạo cảm giác ấm áp, hưng phấn cho người mặc khi đi giữa rừng, trên núi cao, vực thẳm trong điều kiện khí hậu lạnh lẽo vừa khiến người H‟mông dù là H‟mông Đen hay Xanh, Hoa, Đỏ đều nổi bật trước đám đông và choáng ngợp mọi không gian, môi trường cho dù trên nương rẫy, giữa buổi chợ hay

lễ hội

Hệ thống họa tiết hoa văn trang trí trên trang phục dân tộc người H‟mông hàm chứa nhiều ý nghĩa và giá trị đặc sắc Nó không chỉ góp phần quan trọng làm nên vẻ đẹp của bộ trang phục mà còn thể hiện cả đời sống vật chất và tinh thần của người H‟mông Đó là một nguồn tư liệu quý giá trong việc nghiên cứu dân tộc học và đáng được chúng ta quan tâm, tìm hiểu

1.2.1.3.1 Sự ra đời của hoa văn trên trang phục

Theo lời kể của Thào A Thề, 45 tuổi, bản Lả Khắt, xã Nậm Khắt huyện Mù Căng Chải, tỉnh Yên Bái, nhóm H‟mông Hoa – phó bí thư đảng ủy xã, phó trưởng

họ Thào (dựa theo “Truyện cổ Mèo” của Doãn Thanh, nhà xuất bản Văn học năm 1963) thì cách lý giải vì sao có hoa văn trên vải của họ rất thú vị Họ cho rằng hoa văn trên váy của người phụ nữ chính là chữ viết của dân tộc mình Truyển kể rằng, xưa kia khi người H‟mông còn sống ở Trung Quốc, họ cũng có chữ viết riêng của dân tộc mình như người Kinh bây giờ Sau vì muốn chiếm đất và đồng hóa người H‟mông nên người Hán đã cho quân xâm lược, đốt sách vở và cấm người H‟mông đọc chữ Người H‟mông muốn ghi lại lịch sử của mình cũng không được Đang lúc chạy lên núi trốn sự truy lùng của người Hán, vua của người H‟mông lúc bấy giờ đã gặp một người phụ nữ H‟mông vẫn đang cặm cụi ngồi mải miết thêu bên suối, không hề để ý quân Hán đang đuổi tới Vua đã chợt nghĩ ra phương thức giữ lại chữ viết của dân tộc mình bằng việc thêu lên váy người phụ nữ Nhưng thêu thì lâu, nên khi nhìn thấy một tổ ong bên đường, vua đã lấy sáp ong và vẽ vào váy người phụ nữ

Từ đó, người H‟mông biết thêu và in hoa văn bằng sáp ong Song do người phụ nữ kia không biết chữ nên không biết ý nghĩa của chúng Dù là truyền thuyết, song câu truyện trên đã phản ánh được một phần lịch sử đau thương của người H‟mông và

Trang 22

Lớn lên anh theo cha đi cày nương

Theo anh đi vào rừng săn thú

Lớn lên em theo mẹ tập thêu

Theo chị nhuộm chàm, in hoa trên váy mới

Đến tuổi trưởng thành các thiếu nữ H‟mông không tiếc thời gian, làm đêm, làm ngày thêu bộ váy áo cưới Tập quán của người H‟mông đánh giá tài năng, vẻ đẹp của người phụ nữ qua khả năng thêu thùa, qua bộ trang phục trong lễ cưới Tục

ngữ H‟mông có câu Muốn biết người tốt xem gác bếp, muốn xem người đẹp xem quần áo Và nghề dệt vải, thêu hoa văn là thước đo giá trị của người phụ nữ:

Gái đẹp không biết làm lanh cũng xấu

Gái xinh chưa biết cầm kim là hư

Cô gái đẹp được quan niệm là cô gái phải thêu thùa khéo léo như trôn ốc Người giỏi thêu thùa được cả cộng đồng đề cao, coi trọng Những đêm trăng thanh gió mát hay bên bếp lửa hồng, từng tốp các cô gái quây quần bên nhau học thêm, truyền dạy kinh nghiệm in sáp, tạo mẫu, ghép vải mới…Các hình thức giúp đỡ truyền nghề này góp phần cho nghệ thuật thêu, ghép hoa văn phát triển Trước khi đi làm dâu, các cô gái được mẹ tặng cho bộ váy áo như của hồi môn Khi về nhà chồng, các cô gái phải chuẩn bị bộ váy áo tặng mẹ đẻ và mẹ chồng Váy thêu đẹp trở thành tài sản của người phụ nữ Khi đã thành người vợ, người mẹ, người phụ nữ H‟mông vẫn tiếp tục thêu in nhiều mẫu hoa văn, lo cho chồng con mặc đẹp Hạnh phúc của mỗi gia đình được phản ánh trong bức tranh sinh hoạt: người vợ ngồi thêu, người chồng thổi

kèn, tận tình giúp đỡ người vợ trong công việc thêu thùa:

Cuối nhà là nơi em ngồi thêu váy

Đầu nhà là nơi anh ngồi thổi sáo, múa kèn

Em in hoa mới không có sáp, anh ra chợ kiếm

Trang 23

23

Em thêu hoa mới, không biết đường anh cầm que vạch giúp

Người vợ trở thành người mẹ lại có nghĩa vụ dạy con cái mình học thêu Đồng thời, con dâu lại được mẹ chồng, hay thậm chí là cả các chị chồng nhiệt tình dạy bảo cách thêu thùa, in sáp ong Vừa kế thừa nghệ thuật thêu, trang trí hoa văn của nhà

mẹ đẻ, cô dâu lại vừa tiếp thu nghệ thuật trang trí hoa văn của gia đình nhà chồng Khi trở về già, người phụ nữ vẫn lo cho mình cả một bộ váy đẹp để về với tổ tiên

Cứ như vậy, nghệ thuật in thêu hoa văn được bảo lưu, trao truyền nhiều thê hệ, bản sắc văn hóa riêng của dân tộc luôn phát triển Dòng đời người phụ nữ qua đi, dòng hoa văn cứ chảy trôi mãi theo bàn tay tài năng của họ Qua bàn tay của họ – những người phụ nữ H‟mông, nghệ thuật tạo hình trên nền trang phục xuất hiện với những nét độc đáo cả về mặt bố cục, màu sắc

1.2.1.3.3 Kỹ thuật tạo hình hoa văn trên trang phục

Để tạo được hệ thống hoa văn họa tiết sống động trên trang phục, người H‟mông sử dụng 4 kỹ thuật tạo hình chính là kỹ thuật thêu, kỹ thuật in sáp ong, kỹ thuật ghép vải và kỹ thuật ghép hạt cườm, nhựa, bạc

Kĩ thuật thêu:

Kỹ thuật thêu của của người H‟mông có hai cách thêu lát và thêu chéo mũi Hai cách thêu này làm cho việc tạo nét mềm mại chủ động, phóng khoáng, không bị gò bó trong kỹ thuật thêu luồn sợi, mầu, dựa theo thớ vải ngang, dọc mà các dân tộc khác thường làm Người phụ nữ H‟mông thêu hoa văn không cần mẫu Chỉ dùng để thêu thường là sợi tơ tằm to, vừa bền sợi vừa bền màu Đặc biệt sắc màu óng nuột của tơ tằm làm vẻ đẹp của hoa văn thêm mượt mà Phụ nữ H‟mông có cái nhìn khái quát, giàu óc tưởng tượng, hoàn toàn dựa vào trí nhớ để thêu hoa văn Người thêu đã thuộc sẵn màu hoa mình thích, họ không cần nhìn mẫu mà vẫn thêu được những môtip đẹp Trước khi thêu, họ phải tính toán tỷ mỷ, đếm từng sợi chỉ, nhớ từng kích thước hoa văn trong toàn bộ mảng trang trí Vì vậy, ngay từ khâu dệt, người H‟mông dệt tấm vải nền theo một kỹ thuật sao cho các sợi chỉ không quá xít, dành các khoảng nhỏ thuận lợi cho việc đếm sợi, bố cục hoa văn Kỹ thuật thêu hoa văn rất phức tạp vì thêu ở mặt trái của vải nhưng hình mẫu lại nổi lên ở mặt phải, đòi hỏi người phụ nữ kiên trì, cẩn thận vì sơ ý nhầm một mũi kim, mũi thêu đã sai lệch, làm cho mảng trang trí không toàn vẹn

Kỹ thuật vẽ mầu in sáp ong

Công cụ dùng vẽ mẫu in sáp là dar drangtaz (loại bút vẽ bằng đồng) Có ba

Trang 24

in sáp ong, các khuôn này làm bằng giấy do người H‟mông tự chế tạo được bồi khá dày, trên khuôn in được đục lỗ theo hình các hoa văn khác nhau rồi đổ sáp ong lên khuôn Và sau đó tiến hành nhuộm chàm như cách in vẽ, nhưng cách này làm hạn chế sự sáng tạo của nghệ nhân

Kỹ thuật ghép vải

Kỹ thuật này được người phụ nữ H‟mông sử dụng để tạo thành các băng dải, khoang vải màu khác nhau ở cổ áo, ống tay, nẹp ngực và cả khoang dài gấu váy, vuông vải che váy (tạp dề) Kỹ thuật ghép vải không chỉ tạo ra các khoang mảng màu mà còn tạo ra các đường nét hoa văn Trên hình chữ nhật ở cổ áo người H‟mông xuất hiện nhiều kiểu hoa văn hình học được tạo nên bằng kỹ thuật ghép vải Các đường nét hoa văn nhỏ, phức tạp ở yếm, cổ tay áo cũng đều là ghép vải Vải ghép thường có gam màu nóng hoặc vải trắng làm diềm nhỏ bao bọc cho các môtip hoặc tự tạo thành một môtip riêng về hoa văn Người H‟mông sử dụng một số miếng vải đỏ, vàng tiết diện nhỏ từ 0,5 – 1cm được viền xung quanh vải nền tạo thành các hình xếp nếp hoặc các đường viên môtíp chính Người H‟mông còn sáng tạo nhiều kiểu ghép vải Kiểu đơn giản nhất là chọn miếng vải màu đỏ, vàng hình tam giác, hình vuông, hình chữ nhật khâu lên gấu váy, mũi khâu giấu ở đằng sau miếng ghép cùng với đệm lót và khâu gấp mép lên Kiểu phức tạp là ghép các miếng vải thành nhiều lớp với nhiều màu sắc khác nhau Việc ghép những miếng vải này thường làm từng lớp, mỗi lớp là một hoặc vài miếng vải cùng nhau, lớp dưới có diện tích lớn hơn diện tích lớp trên

Kỹ thuật ghép hạt cườm, nhựa, bạc

Ở một số khăn của người làm Saman hoặc mũ áo của những đứa trẻ cầu

tự thấy xuất hiện hình thức ghép gắn những đồng bạc trắng, đồng xu nhỏ, hạt cườm…tạo cho những chiếc khăn, mũ áo này có vẻ đẹp độc đáo, rực rỡ nhưng mang tính biểu tượng Mũ trẻ nhỏ H‟mông Hoa ở Mường Khương, trên đỉnh đầu có thêu hình mào gà trống, theo quan niệm người H‟mông thì gà trống là biểu tượng của vị

Trang 25

25

thần cửa chống ma ác vào nhà, bảo vệ sức khỏe cho trẻ nhỏ Những quả bông đỏ trên mũ, những sợi tua nhiều màu sắc tượng trưng cho cầu vồng ngăn thần rắn, ngăn những ma ở thể giới nước

Các kỹ thuật tạo hình trên thường được người phụ nữ H‟mông khéo léo kết hợp với nhau tạo ra sự phong phú về hoa văn Bên cạnh các đường vải ghép đậm

là đường thêu thanh mảnh, tạo cảm giác hoa văn luôn biến đổi liên tục Kết hợp các biện pháp kỹ thuật còn góp phần tạo hiệu quả về màu sắc Màu xanh lơ nhạt của vải

in sáp trở thành màu trung gian, dung hòa với các màu đậm của vải ghép, chỉ thêu Nhờ vậy mà màu sắc, đường nét môtíp của hoa văn có sự chuyển động khá phong phú, vui mắt và sống động.[3]

Trong giới hạn của đề tài này chúng tôi chỉ quan tâm đến kĩ thuật thêu

1.2.1.3.4 Bố cục đồ án và màu sắc hoa văn trên trang phục người H’mông

Bố cục

Cũng như hoa văn nhiều dân tộc khác, hoa văn của dân tộc H‟mông có

bố cục thành dải: dải ngang và dải dọc Mỗi dải hoa văn thường có bố cục ở giữa là môtip hoa văn thêu chủ đạo khổ lớn, phía diềm các vải là hoa văn thêu có tiết diện nhỏ, hẹp, bề ngang, dọc Dải ngang hoa văn xuất hiện trên thắt lung, đầu tấm vải tạp

dề, nằm trên ống tay áo Trên nền chàm của váy, dải ngang gấu váy rực rỡ hoa văn

Bố cục dải dọc hoa văn in sáp ong chạy song song sát nhau trên thân váy, hay chạy thành dọc trên tạp dề

Tập trung các dải thành khối dày là đặc điểm của bố cục thành dải trên nền trang phục của người H‟mông Tạp dề ở phía trước và sau gồm nhiều dải dọc chạy song song ken dày bên nhau tạo thành hai dải lớn Thắt lưng là dải ngang lớn Gấu váy là dải ngang khổ rộng 15 – 20cm gồm nhiều môtíp hoa văn thêu ghép vải Các môtip hoa văn không phân tán mà kề sát bên nhau thành dải nhằm tôn thêm độ dày của các khối hoa văn Các dải tập trung thành mặt phẳng lớn, các môtip hoa văn

ở giữa có khổ lớn Để tránh tình trạng các hoa văn bị tan trên nền váy chàm, chúng thường dược dồn lại, chồng xít thành dải để trở thành một mảng lớn, vượt khỏi nền chàm, rực rỡ trên nền vải dân tộc H‟mông Điểm đáng chú ý là các băng dải này được kết hợp với nhau thành nhiều kiểu khác nhau, có băng dải mỏng xen với dải dày, có băng dải hoa văn nằm trên nền thêu, kề dải hoa văn ghép vải

Bên cạnh bố cục thành dải, một số trang trí của người H‟mông còn có

bố cục thành ô Ở đây các hình hoa bốn cánh, tám cánh hoặc móc câu được đóng

Trang 26

26

khung trong các ô trang trí hình vuông, hình chữ nhật, hình thoi Các ô này được bố trí đan xen với các dải hoa văn tạo nên sự phong phú đa dạng cho các đồ án trang trí, không máy móc, đơn điệu mà luôn sống động, góc nhìn luôn thay đổi

Màu sắc

Màu sắc hoa văn trên vải phản ánh thẩm mỹ, tâm lý, cá tính, ước vọng trong cuộc sống của dân tộc H‟mông Bảng màu của người H‟mông gồm năm màu cơ bản: chàm thẫm thành đen, đỏ, vàng, trắng, xanh lơ Để tạo màu chàm sẫm, người phụ nữ H‟mông phải tiến hành nhiều khâu từ luộc sợi lanh với nước tro, ngâm sợi trong nước chàm và củ nâu nhiều lần tạo thành màu chàm sẫm Để thêm độ bóng, họ miết sáp ong vào vải và mài lên đá Màu chàm sẫm thường dùng làm nền cho hoa văn trang trí Đôi khi có ít diềm mỏng màu chàm chạy song song với diềm trắng ở dải hoa văn chính, Mục đích là để tôn dải hoa văn, tô đậm cho màu sắc hoa văn thêm rực rỡ

Màu đỏ là màu chủ đạo, vừa là màu nền trung gian vừa tạo các môtíp chính làm nên sắc màu rự rỡ của hoa văn trên vải trang phục Thông thường, màu đỏ đặt trên nền chàm sẫm gần như đen sẽ làm giảm bớt sắc độ của đỏ, đỏ sẽ không tươi mà sẫm lại chìm vào nền chàm Nhưng màu đỏ của váy áo người H‟mông Hoa, H‟mông

Đỏ vẫn cứ rực lên Màu đỏ trước đây được nhuộm từ nước một loại vỏ cây thảo mộc hoặc nhuộm từ cánh kiến, hiện nay thì chủ yếu là màu công nghiệp Màu vàng được nhuộm từ củ nghệ Màu trắng là màu nguyên bản của sợi lanh

Bảng màu của người H‟mông không rộng hơn bảng màu của các dân tộc khác nhưng trang phục của người H‟mông vẫn gây cho người xem cảm giác đa sắc màu

Phụ nữ H‟mông không chỉ dùng màu đỏ làm môtíp hoa văn mà còn làm màu nền cho các môtíp hoa văn Màu đỏ trở thành một thứ nền cho các môtíp hoa văn Màu đỏ trở thành một thứ nền trung gian đặt trên nền cơ bản của màu chàm Màu đỏ trung gian có tác dụng “ngăn chặn” nền chàm hút mất môtíp hoa văn Đồng thời các dải hoa văn trên nền đỏ ấy lại có diện tích lớn tạo thành các băng dải dày đậm “lấn át” chiếm chỗ nền chàm Cùng với đặc điểm của bố cục tập trung các dải thành khối dày, màu đỏ cứ rực lên, loang rộng ra, thu hẹp diện tích màu chàm Chất rực rỡ của hoa văn trên trang phục của dân tộc H‟mông được tăng thêm nhờ sự phối hợp màu

đỏ với màu vàng tạo thành các gam màu nóng được phát huy tối đa Sự kết hợp này làm cho họa tiết hoa văn trên trang phục người H‟mông sống động hơn và tạo hiệu ứng vui nhộn cho thị giác

Trang 27

27

1.2.1.3.5 Hệ thống các môtíp hoa văn trên trang phục người H’mông

Sống ở trên những vùng núi cao, gần với thiên nhiên nên hoa văn trên vải của dân tộc H‟mông ẩn chứa và chuyển tải hình ảnh thiên nhiên, cảnh quan sinh hoạt trong cuộc sống lao động hàng ngày, bao gồm cả thế giới động vật, thực vật, đồ vật

và các hiện tượng thiên nhiên Tất cả đều được cách điệu và thể hiện rất đẹp như các hiện tượng gió, mưa, sấm chớp, các con vật khổng lồ, sự biến chuyển của mặt trời, của thời tiết hay sự biến chuyển của không gian và thời gian trong vũ trụ quan

Hệ thống hoa tiết được chia làm hai loại: hoa văn hình học và hoa văn hiện thực

1.2.1.3.5.1 Hê thống hoa văn hình học

Hoa văn hình học đơn thuần phục vụ thẩm mỹ với chức năng làm nền Hoa văn hình học không chỉ trang trí trên trang phục mà còn ở các đồ dùng khác của dân tộc H‟mông Các môtíp cơ bản có:

+ Nhóm hoa văn hình núi (hình rẻ quạt): thường trang trí làm nền và xen kẽ giữa các hình thoi, tam giác, hình chong chóng trên thân váy, tạp dề

+ Nhóm hoa văn hình răng cưa: nhóm hoa văn này thường là các

đường viền đóng khung trong các mảng hoa văn chính Đây là nhóm hoa văn có tần số xuất hiện trên vải người H‟mông

+ Nhóm hoa văn chấm tròn nhỏ to khác nhau: nhóm này thường xuất hiện trên thân váy của phụ nữ H‟mông Hoa, H‟mông Đỏ in bằng sáp ong Mô hình hoa văn của nhóm này chạy theo từng chuỗi dài vòng quanh thân váy, các chấm này cách đều nhau tạo thành những hoa văn độc lập

+ Nhóm hoa văn đường zíc zắc: thường được thêu, in sáp ong viền mép xung quanh 1 ô trang trí trên váy, áo, và chỗ tiếp giáp giữa các phần với nhau

+ Nhóm hoa văn những đường gạch song song: nhóm này nhìn chung đơn điệu, thường những đường gạch dài thêu bằng chỉ màu, hay ghép bằng vải màu tạo thành đường song song đóng khung cho mảng hoa văn chính như hoa văn trên áo, váy, tạp dề

+ Nhóm hoa văn hình vuông: nếu ghép vải thì thường là hai hình vuông lồng ghép với nhau tập trung ở phần gấu váy và vai áo hoặc là những ô lớn bao bọc các mảng in hoa văn sáp ong và thêu

+ Nhóm hoa văn hình bát giác: bao quanh hình những bông hoa hoặc tạo thành hình đồng tiền, đồng tiền thủng

Trang 28

+ Nhóm hoa văn hình xoắn ốc: là một trong những nhóm hoa văn

quan trọng ở đồ án hoa văn trang trí trên vải dân tộc H‟mông Hoa văn hình xoắn ốc đứng cặp đôi, cặp bốn, có khi là môtíp hoa văn in sáp ở mảng chính hoặc chạy xung quanh đóng khung cho môtíp hoa văn chính

+ Nhóm hoa văn hình chữ S: nhóm này thường được trang trí trên

váy, tạp dề nhóm H‟mông Hoa, H‟mông Đỏ Môtíp hoa văn hình chữ S có khi

là môtíp hoa văn chủ đạo của một đồ án, có khi là đường diềm đóng khung cho hoa văn chính

Mười một nhóm hoa văn trên như những tín hiệu tạo nên từ vựng nghệ thuật dân tộc H‟mông Một đặc điểm dễ nhận thấy là các hoa văn hình học thường có tác dụng làm nền cho các hoa văn chính Nó giống như cái khung của một bức tranh đẹp làm nổi bật ý đồ chủ đạo của nghệ thuật tạo hình Bố cục hoa văn hình học còn có đặc điểm là sự kết hợp của nhiều môtíp hoa văn thành các tổ hợp hoa văn có tần số xuất hiện nhiều trên vải dân tộc H‟mông, nhất là trên váy, áo Ví dụ tổ hợp môtíp hình chữ S với răng cưa, tổ hợp hoa văn hình đồng tiền xen giữa các đường gạch dài, môtíp hình quả trám xen giữa môtíp đường thẳng song song

1.2.1.3.5.2 Hệ thống hoa văn hiện thực

Nếu nhóm hoa văn hình học chỉ phục vụ cho nhu cầu thẩm mĩ thì nhóm hoa văn hiện thực là phương tiện giúp người H‟mông chuyển tải tư duy và thể hiện những suy nghĩ về cuộc sống của mình

+ Nhóm hoa văn hình người: môtíp này không giống như môtíp trên vải của dân tộc Dao hay các dân tộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái Trên vải, người H‟mông chỉ miêu tả cách điệu từng phần cơ thể con người như tai người, bàn chân

Hoa văn động – thực vật:

+ Hoa văn hình con bướm: nếu là in sáp ong thì chỉ là 2 tam giác quay

đỉnh vào nhau, còn nếu là thêu thì đường nét uốn cong theo dáng hình con bướm

+ Hoa văn con ốc: có thể được bố trí thành các hình xoáy ốc dọc hay ngang

Trang 29

29

trên thân váy

+ Hoa văn hình móng gà: loại này được trang trí trên ống tay áo, tạp

dề của người phụ nữ H‟mông Giống như môtíp hình người, hình gà trống cũng chỉ đừng ở các bộ phận như móng gà, cựa gà, mào gà…

+ Hoa văn hình con cua: chạy thành từng băng vòng quanh ống tay áo, cổ áo, tạp dề, hoa văn này biểu tượng cho sấm chớp

+ Hoa văn hình con ốc hay còn gọi là ốc rồng

+Hoa văn hình con tằm: thường là hai hình vạch, vạch chéo nhau giống như dấu X

+ Hoa văn hình con kiến: hình lục giác có ba chấm nhỏ

+ Hoa văn hình chó nằm ngủ: là những đường thẳng vuông góc và những đường gấp khúc kết hợp lại với nhau tạo thành hình gần giống với hình thoi, hoặc là các ngoặc lớn hướng ra ngoài

+ Hoa văn hình vết chân chó

+ Hoa văn hình móng trâu

+ Hoa văn hình lá cây: hình dáng các loại lá cây trên trang phục của người H‟mông rất phong phú và nhiều loại đa dạng Có khi chỉ là những tam giác lồng vào nhau, có khi chỉ là những đường vạch chằng chịt tùy theo từng loại lá

+ Hoa văn hình hạt đậu tương: 3 điểm chấm tròn nhỏ trong in sáp ong hoặc là

3 dấu X trong thêu

+ Hoa văn hình hoa: bao gồm hoa cúc, hoa bầu, hoa bí, hoa tỏi, hoa dâu da, hoa dưa – đều là những loại hoa của những loại cây mà họ trồng được

Hoa văn tự dạng là hoa văn sao tám cánh

Hoa văn công cụ: hoa văn hình cái cuốc, hình chân ghế, hình bật lửa

Ngoài ra còn có một số hình hoa văn khác như hình chữ thập (+), chữ đinh ( ), chữ công được chuyển biến vào trong trang trí một cách phong phú và tài tình

Tóm lại: Có thể thấy hệ thống hoa văn họa tiết trang trí của người H‟mông rất

đa dạng và phong phú Từ kỹ thuật tạo hình đến bố cục đồ án trang trí, lựa chọn màu sắc đều rất công phu và tài tình Hệ thống hoa văn họa tiết trên trang phục của họ không chỉ tạo ra sự đặc sắc, nổi bật cho trang phục của dân tộc H‟mông mà còn là biểu hiện của nếp sống tộc người, thể hiện trình độ lao động thủ công truyền thống

và quan niệm về thẩm mỹ Hệ thống hoa văn họa tiết trên là vốn từ vựng nghệ thuật,

là cánh cửa giúp ta đi vào tìm hiểu được các mã văn hóa ẩn chứa trong đó

Trang 30

30

1.2.2 Bản sắc văn hóa thêu dân tộc Dao

1.2.2.1 Khái quát về dân tộc Dao

Người Dao ở Lào Cai chiếm khoảng 14,05% cơ cấu dân số toàn tỉnh (dân số tỉnh 674530 người, số liệu 2016) [6] gồm ba ngành Dao đỏ (Dao đại bản, Dao Cooc Ngang), Dao họ (Dao quần trắng) và Dao tuyển (Dao Làn Tèn, Dao Đầu bằng) Chủ yếu cư trú rải rác ở các xã thuộc địa bàn huyện Bát Xát, Sapa, Bắc Hà, Bảo Thắng, t.p Lào Cai (Tả Phời), Bảo Yên, Văn Bàn, Mường Khương (tài liệu tham khảo- Lịch)

Người Dao cũng như các dân tộc thiểu số ở miền Bắc nước ta có nguồn gốc từ Trung Quốc Theo cuốn “Trang phục cổ truyền của người Dao ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Khắc Tụng và Nguyễn Anh Cường cho rằng người Dao ở Lào Cai hiện nay là từ Vân Nam, Trung Quốc đến nước ta vào cuối thế kỉ XVIII Điểm cư trú đầu tiên của họ là Toong sành, Chu Quang Hồ thuộc huyện Bát Xát

Người Dao là cư dân nông nghiệp, canh tác nương rẫy và làm ruộng bậc thang đối với vùng cao và làm ruộng lòng khe đối với vùng thấp Ngoài ra người Dao nổi tiếng với việc trồng thảo quả, loại cây mang lại giá trị kinh tế cao giúp cho đồng bào thoát nghèo Bên cạnh việc trồng trọt, người Dao cũng chăn nuôi Mục đích là lấy sức kéo, sức thồ như nuôi trâu để cầy ruộng, nuôi ngựa để thồ hàng Ngoài ra họ còn nuôi gà, nuôi lợn để phục vụ các nghi lễ trong năm như cấp sắc, ma chay, cưới hỏi,

ăn tết…

1.2.2.2 Khái quát về trang phục dân tộc Dao

Văn hóa trang phục là những ý nghĩa, giá trị của văn hóa tộc người được biểu hiện trên trang phục Trang phục mang cả giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, cao hơn nữa là phản ánh ý thức và khẳng định sức sáng tạo của tộc người

Trang phục cổ truyền của người Dao đạt đến những giá trị nghệ thuật, ẩn chứa những thông tin về đời sống con người Xét về phương diện tạo hình nếu trang phục của người Thái bó gọn, ôm sát và tôn dáng của người mặc, trang phục người H‟mông xòe chùm và tạo thành “cái dế” để dáng người vút lên thì trang phục của người Dao cộng hưởng được cả hai yếu tố: bó gọn tôn dáng và xúng xính, „bí ẩn‟ làm cho con người thấp thoáng ẩn hiện, có lúc tan vào rừng núi, có lúc lại rạng rỡ bừng lên trên nền của không gian văn hóa đa sắc

Theo phong tục, phụ nữ Dao Đỏ không mặc áo ngắn mà chỉ mặc áo dài Áo tứ thân màu chàm hoặc đen, không khoét nách mà tay đấu thẳng vào thân Nẹp cổ liền

Trang 31

Nếu trang phục phụ nữ Dao đỏ đặc sắc và cầu kỳ bao nhiêu thì trang phục nam giới lại đơn giản bấy nhiêu Đó là những chiếc áo ngắn, xẻ nách, cài cúc chéo Hoa văn trên áo ngắn tập trung chủ yếu ở phần ngực, cổ và lưng áo Hoa văn được trang trí trên ngực áo ngắn là cách đính cúc hoa bạc theo chiều chéo của vạt áo Trang phục truyền thống cho nam giới Dao tuyển thường là áo cánh xẻ nách, cổ tròn, đứng, cài cúc chì Áo thường có một túi trên bên phải Thân áo hơi ngắn, màu đen, xẻ tà được nẹp viền bằng màu đỏ

Một bộ trang phục hoàn chỉnh của người Dao gồm: áo, yếm, xà cạp, cùng đồ trang sức vàng bạc, khăn vấn đầu Cổ áo của người phụ nữ Dao được trang trí bằng núm bông hoa đỏ như nắm tay nổi bật trên nền áo chàm xanh đằm thắm Yếm của người Dao là một vuông lụa trắng đính một miếng vải hình tam giác làm cổ yếm Xà

cạp có hình hoa văn móc câu hay răng cưa hình chim

Ngoài trang phục chính, thiếu nữ Dao còn ưa dùng đồ trang sức làm cho bộ trang phục của mình thêm sang trọng: vòng cổ, nhẫn, túi ăn trầu, các đồ trang sức bằng bạc hình bán cầu, hình sao 8 cánh Có những cô gái Dao đeo 10 chiếc vòng

cổ, 12 chiếc nhẫn, cùng những chiếc khuy bạc đường kính 6-7cm, nổi bật trên màu

áo chàm

1.2.2.3 Khái quát về họa tiết hoa văn thêu trên trang phục dân tộc Dao

Trang 32

32

1.2.2.3.1 Hoa văn – nguyên liệu trang trí trên trang phục

Hoa văn là một dạng thức tái hiện các yếu tố tự nhiên, được ghi chép qua ấn tượng, được sàng lọc và định hình qua tư duy và được biểu hiện qua xúc cảm thẩm mỹ, qua kĩ năng của con người Sản phẩm sáng tạo hoa văn đó trở thành phương tiện để biểu hiện nội tâm, biểu hiện thế giới quan; nhân sinh quan của người sáng tạo và sử dụng kể cả ở góc độ cá nhân hay cao hơn là tập quán của cộng đồng

Người Dao có trách nhiệm, say mê và tự hào về công việc tạo hình, tạo

ra các hoa văn trang trí trang phục Giá trị bộ trang phục được quyết định bởi hệ thống hoa văn in trên nó Nếu trang phục của các tộc người khác khoe màu, khoe diện và mảng thì trang phục của người Dao khoe chi tiết, khoe hoa văn và sự biến hóa linh hoạt của chính hệ thống hoa văn đó Hoa văn biểu hiện quan niệm thẩm

mỹ Hoa văn chứa đựng những thông tin về tâm lý, xã hội, tín ngưỡng, về quá trình phát triển lịch sử, quá trình tiếp biến của văn hóa Hoa văn trở thành tâm điểm khi

đi sâu nghiên cứu giá trị bộ trang phục truyền thống của người Dao

Hoa văn trong đời sống cộng đồng người Dao

Cũng như những dân tộc khác, người Dao thưởng thức hoa văn trên trang phục từ trong tâm khảm của họ Trong quá trình thêu, họ thổi hồn, khẳng định cá tính của mình trên mỗi hoa văn Để làm ra một bộ trang phục lễ hôi hoàn chỉnh, phụ nữ Dao phải tự tay mình thêu trong một thời gian rất dài Khi bộ trang phục hoàn chỉnh cũng là lúc người mẹ, người chị, người bà đã hoàn thành việc trao chuyền cho cô gái sự khéo tay, sự cẩn trọng, tính kiên trì, sự sáng tạo, tinh tế và đặc biệt là đã cùng con cháu trải nghiệm những hơi thở từ cuộc sống, trong không gian nguyện ước, cùng hòa nhịp với các cung bậc tư tưởng, tình cảm của cộng đồng qua một phương tiện hết sức đặc biệt: tạo hình Trang phục – hoa văn trên trang phục qua đó đã đảm đương nhiệm vụ thiêng liêng là cầu nối, là phương tiện chuyển giao, là mối giao cảm trao truyền giữa các thế hệ, là „văn bản‟ lưu trữ hết sức chân thực và bền vững những khía cạnh cuộc sống từ đời này sang đời khác Trang phục “kết nối”, “xâu chuỗi” đời sống các thế hệ với nhau Trang phục và hoa văn trên trang phục thật sự đã trở thành những thành tố quan trọng, linh thiêng không thể thiếu trong đời sống cộng đồng và cấu thành nền văn hóa Dao riêng biệt

1.2.2.3.2 Vai trò của người phụ nữ Dao trong việc thêu hoa văn trên trang phục

Trang 33

33

Nói đến trang phục không thể không nhắc tới người phụ nữ Từ xa xưa trong phân công công việc, người phụ nữ đã đảm nhiệm việc thêu thùa, cắt khâu quần áo cho cả gia đình, Người phụ nữ đảm nhiệm công việc làm trang phục Các công đoạn làm ra bộ quần áo từ lúc khai phá đất trồng bông đến khi có được bộ quần áo mặc trên người, phụ nữ đều tham gia Công đoạn khai phá đất trồng bông, trồng chàm, gieo hạt, chăm sóc, thu hoạch có thêm sự giúp đỡ 50% sức lực của đàn ông Còn lại người phụ nữ phải tự mình đảm nhiệm hết Bắt đầu từ công đoạn nhuộm chàm, lấy cây rừng về nhuộm chỉ thêu đến cắt, khâu, thêu trang phục người phụ nữ tự làm tất cả Hằng ngày, người phụ nữ cũng phải làm công việc như nam giới như canh tác nương rãy, làm ruộng, lấy củi, đi rừng hái rau, nấm…Những giờ nghỉ giải lao, nghỉ trưa, sau bữa cơm tối khi mọi người trong gia đình được nghỉ ngơi thì người phụ nữ lại cầm kim chỉ thêu hoa, khâu quần áo Hầu như người phụ

nữ không có thời gian nghỉ ngơi, cứ rảnh rỗi là họ lại thêu hoa Công việc cắt, khâu quần áo, thêu thùa chỉ được tranh thủ thời gian làm vào lúc rảnh rỗi chứ người ta không bỏ làm nương làm rẫy ngồi ở nhà thêu hoa Chỉ trừ trường hợp con gái chuẩn bị đi lấy chồng thì được bố mẹ ưu tiên cho ở nhà thêu Hoặc vào những ngày đông giá rét, người ta không thể đi làm nương thì người phụ nữ mới có thời gian ngồi cả ngày bên bếp lửa để thêu hoa Người phụ nữ không những khâu, thêu quần

áo quần áo cho mình mà còn phải thêu cho cả gia đình bao gồm: con, chồng, bố,

mẹ Như vậy ta có thể thấy người phụ nữ rất vất vả Họ không có thời gian nghỉ ngơi, ngồi thêu hoa có lẽ là thời gian nhàn nhất của họ Một năm họ phải thật chăm chỉ, tận dụng mọi thời gian thì mới có thể thêu được ba hoặc bốn bộ quần áo Cũng

vì phải khâu thêu nhiều mà ánh sáng nhiều khi không đủ nên hầu hết phụ nữ Dao đến khoảng 40 tuổi mắt đã rất kém Người phụ nữ không chỉ là người đảm nhiệm việc khâu thêu quần áo cho giai đình mà họ còn là những người sáng tạo, lưu giữ những giá trị văn hóa

Các bé gái khi lên 6, 7 tuổi đã bắt đầu được bà, mẹ dạy thêu Khi 13,14 tuổi đến tuổi đi lấy chồng là có thể thêu thành thạo Người phụ nữ dạy cho con, cháu cách thêu cũng chính là lưu giữ, truyền dạy những giá trị văn hóa của dân tộc mình Tù thế hệ này nối tiếp thế hệ kia kĩ thuật khâu, thêu không bao giờ bị mất đi Khi các cô gái đến tuổi lấy chồng thì trang phục các cô gái cũng chính là một thước đo về sự chăm chỉ, khéo léo của các cô Cô nào chăm chỉ và khéo léo sẽ có những bộ trang phục đẹp và được các tràng trai, mọi người quý mến

Trang 34

34

1.2.2.3.3 Kỹ thuật tạo hình hoa văn trên trang phục

Trên trang phục của người phụ nữ Dao người ta trang trí ở hầu hết các bộ phận của trang phục như áo, quần, thắt lưng, xà cạp Áo được thêu ở các vị trí sau: nẹp áo, cổ áo, tay áo, lưng áo, tà áo sau, hai đầu thắt lưng, lùi kia, hai tà áo trước Quần của nữ được thêu ở phần gấu và ống quần.Áo được thêu ở các vị trí sau: nẹp

áo, hai tay áo, lưng áo Khăn quấn đầu thêu ở hai đầu khăn Trên trang phục của thầy cúng được trang trí ở khăn hình tam giác, khăn dài, xà cạp trắng

Kĩ thuật thêu hoa văn người Dao

Cách thêu của người Dao khá đặc biệt Không giống như người Kinh dùng chỉ thêu vắt lên các sợi vải, thêu ở mặt phải thì hình thêu nổi ở mặt phải mà người Dao lại luồn chỉ thêu vào kẽ các sợi vải ở mặt trái để hình thêu thể hiện lên ở mặt phải Các hình thêu không vẽ sẵn mà được nhớ trong đầu rồi thêu theo trí nhớ Các cô gái khi học thêu thường phải rất kiên nhẫn thì mới có thể nhớ được cách thêu các hình hoa văn Người phụ nữ thường thêu bất kì khi nào rảnh rỗi, vào buổi trưa, buổi tối, ngày mưa, rét không đi làm, hầu như không lúc nào họ có thời gian nghỉ ngơi Các

cô gái thường được bà, mẹ dạy những cách thêu cơ bàn, rồi dần dần tự học qua bạn

Các kiểu thêu, trang trí trên trang phục của người Dao gồm: thêu chữ thập, thêu đường thẳng (hình que), ghép vải, ghép tơ (len) Với cách thêu và ghép vải như thế này giúp cho người thêu chủ động và linh hoạt hơn so với cách dệt hoa văn của một số tộc người khác Khi dệt thì hoa văn phải chịu sự chi phối và nhiều hạn chế của kĩ thuật dệt, của khổ vải dệt Muốn thay đổi khổ vải, độ lớn nhỏ, số lượng các hoa văn rất là khó Với kĩ thuật thêu tay người thêu có thể thay đổi độ lớn, nhỏ của các họa tiết cho phù hợp với từng người cao, thấp, to nhỏ khác nhau Cách ghép vải, ghép len cũng được thay đổi tùy theo ý thích từng người

Với kiểu thêu hình que người thêu đã ghép những hình que tưởng chừng rất thô cứng, đơn giản để được hình cụ thể với các thế song hành, đối lập và giữ lại những đặc điểm cơ bản của hình thù thực tế Hình que thực chất là những đường thẳng được người thêu cắt bớt cho ngắn hoặc kéo dài để phù hợp với từng chi tiết

thêu Ví dụ như hình người – chằn ton …Người phụ nữ đã bỏ đi những chi tiết rườm

rà, khó thêu làm cho cho hình thể được giản ước tối đa nhưng không vì thế mà các họa tiết mất đi dáng vẻ vốn có từ thực tế Chính những nét thẳng dễ tạo được độ dài, ngắn và thế cân bằng đối xứng khi mà người Dao sử dụng kĩ thuật thêu ngược hình

Trang 35

ta cảm giác hình thể mong manh thì các hình chữ thập này tạo cảm giác cho ta những mảng, miếng cụ thể vững chãi và liên tiếp chuyển động

Kĩ thuật ghép vải: Ngoài cách thêu để làm đẹp bộ quần áo người Dao còn

dùng kĩ thuật ghép vải Với một số dân tộc như Lô lô, H‟mông người ta ghép những mảnh vải to, ô vuông hoặc hình chữ nhật, mỗi cạnh 3 cm, còn với người Dao họ lại ghép những đường vải dài bề mặt rộng, rất nhỏ để làm đường Diềm vòng quanh vạt

áo, bao lấy các đường thêu Hoặc những ô màu nhỏ xinh xen lẫn với các họa tiết thêu Các ô màu có được từ cách ghép vải là những ô rất nhỏ, chạy dài Người phụ

nữ phải rất khéo tay mới có thể tạo ra được các ô màu vừa đẹp, vừa thẳng Bề rộng của mảnh vải ghép chỉ khoảng 0,15 cm đến 0,3 cm tùy theo từng vùng Với cách ghép vải nhỏ như thế, yêu cầu cao về kĩ thuật, bởi vì nếu ghép không khéo đường vải sẽ gồ lên, cong queo Nó phải đảm bảo độ thẳng cho các đường diềm mà mảnh vải ghép vẫn mềm mại Người ta sẽ cắt các mảnh vải nhỏ, rộng khoảng 1cm, độ dài tùy thuộc vào vạt áo Sau đó gấp cuộn giấu hai mép vải vào trong và khâu đuổi –

hỏn nối hai mép bên ngoài Sau khi được các ô vải dài thì khâu nối vào vạt áo bằng kiểu khâu vắt – đìa lẩy Khi khâu nối tại vị trí hai mép vải này người ta chỉ dùng một

sợi chỉ để khâu Đường khâu là các trái tim nối tiếp ở mặt trên của vải sẽ giấu mép vải đi làm tăng thêm tính thẩm mỹ Ngoài cách ghép những ô vải chạy dài, Người Dao cũng tận dụng kĩ thuật này để bọc các mép vải ở viền vạt áo Với cách bọc các méo vải này vừa tạo được điểm nhấn về màu sắc vừa đảm bảo được độ bền cho áo, các sợi vải ở mép vải không bị xổ ra trong khi sử dụng Người ta sẽ lật ngược miếng vải bọc và khâu đuổi vào gần mép của vạt áo Sau đó lật sang bên phải trùm vào mép vạt áo và gấp mép miếng vải bọc vào bên trong để giấu mối, rồi khâu vắt giữa

Trang 36

36

mép vải bọc và phần vạt áo Người ta cũng dùng cách khâu đuổi nhưng không làm

lộ đường chỉ lên trên mặt vải

Người Dao cũng có một số kiêng kị khi thêu y phục như khi bố mẹ mất thì con dâu và con gái không được thêu trong một tháng Với những người trong họ khi mất thì đàn bà, con gái kiêng thêu ba ngày Theo quan niệm của đông bào, nếu cố tình làm thì mọi việc không được tốt, xảy ra nhiều điều không may trong gia đình

1.2.2.3.4 Bố cục đồ án và màu sắc hoa văn trên trang phục người Dao

Một trong các thành tố tạo nên thành công và mang lại sự độc đáo của trang phục người Dao là màu sắc Màu sắc hoa văn trên trang phục người Dao – dù hiện lên ở một bình diện trang trí lớn, phủ kín bề mặt trên trang phục Dao đỏ hay hiện lên với liều lượng ít hơn trên trang phục Dao Thanh phán, Dao Thanh Y hay tiết chế đến mức tối thiểu như trang phục của người Dao Quần Chẹt, hoặc kiêu kì và sâu thẳm như trên trang phục của người Dao Tiền thì vẫn cho ta một ấn tượng chung không thể phủ nhận Người Dao sử dụng màu sắc hoa văn một các táo bạo mạnh mẽ, không ngại ngần ở các vị trí trên trang phục Đặc điểm cơ bản là trang phục người Dao sử dụng màu sắc ở tần suất cao và cường độ mạnh Mặc dù có những nét độc đáo ở từng nhóm ngành, nhưng trang phục người Dao đều có chung đặc điểm là ưa chuộng màu sắc sặc sỡ

Người Dao tập trung xử lý các màu nguyên chất đối chọi trên bộ trang phục

Họ trộn màu bằng cách thêu luồn sợi và đặt lần lượt tất cả các màu nguyên chất lên màu chàm đậm Người Dao đã thành công khi họ đã biết dùng chất rậm rạp của hoa văn để đập vụn các màu nguyên sặc sỡ thành các mảng màu nhỏ chen chúc, hy sinh tính tập trung của hình để đạt cho hiệu quả về màu Từ đó đã giảm đi độ sẫm của màu đỏ, độ chua của màu vàng, đỏ chói của màu xanh, chỉ để lại một ấn tượng vừa kín đáo vừa vui mắt

Nhìn tổng thể trang phục người Dao là một hòa sắc sáng chói, rực rỡ Điều không thể bỏ qua là màu đỏ và những màu nguyên chất khi đã hiện lên trang phục qua bàn tay khéo léo của người thêu, nó không hoàn toàn “nguyên” nữa mà đã hợp thành hòa sắc cụ thể: hòa sắc nóng Màu và cách dùng màu trên trang phục người Dao thể hiện tư duy táo bạo đến “tham lam” Trên dây lưng trước bụng, các tua len dài với các màu nguyên chất: đỏ, vàng, xanh lá cây và trắng làm cho thị giác luôn tiếp cận màu ở trạng thái động, rung rinh và biến hóa trong nhau Cảm nhận sự rực

rỡ màu sắc đến từ hệ quả của các màu nóng phối hợp hài hòa (Dao đỏ, Dao Thanh

Trang 37

cơ hội tự do chen chúc, tự do và đập trên bất kì bình diện nào Có chỗ màu đạt được

sự thỏa hiệp, có vị trí dường như tạo ra sự “tranh chấp” khôn cùng, tất cả đã tạo nên hiệu quả rực rỡ, lung linh và huyền diệu, hút mắt người thưởng thức Dù cố ý hay vô tình đi chăng nữa thì đây cũng là thành công của họ, những nghệ sĩ thêu dệt nên giá trị nghệ thuật trên trang phục, bắt đầu từ những thành công của việc sử dụng màu sắc

Tính độc đáo của trang phục và khả năng phối màu chính xác nói lên tư duy tạo hình độc đáo của người Dao Nếu sự cầu kỳ của hoa văn tạo cho người xem có cảm giác về một lối tư duy đa chiều nhưng chặt chẽ thì sự lung linh của màu sắc khiến cho người ta cảm nhận được đời sống nội tâm phong phú và sâu lắng Màu và hoa văn đã phối hợp hài hòa, hợp lý đến mức trang phục không còn đơn thuần chỉ là đảm đương công năng che thân, giữ ấm mà nó đã trở thành là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, nơi thể hiện những bày tay tài hoa điêu luyện và nơi trải nghiệm những rung cảm với thiên nhiên, đất trời cỏ cây hoa lá và chất chứa nguồn mỹ cảm, nơi gửi gắm những yếu tố tâm linh của đời sống cộng đồng[ 4]

1.2.2.3.5 Hệ thống các môtíp hoa văn trên trang phục người Dao

1.2.2.3.5.1-Hoa văn hình kỷ hà:

Hoa văn hình kỷ hà tập trung ở trang phục nữ và nam cổ truyền Cách thể hiện hoa văn theo các dạng hình kỷ hà thể hiện cách cảm thụ, cách tư duy mạch lạc, dứt khoát Tính cách điệu, điển hình hóa các chi tiết đã đạt đến tầng bậc cao Các đoạn thẳng trong biến chuyển đơn lẻ cũng như trong thế phức hợp đều lần lượt kết nối tạo nên các hình cơ bản như hình tròn, hình thoi, hình tam giác, hình vuông, hình chữ nhật…Sự biến đổi hoa văn khi được ghép liên tục từ các hình kỷ hà tạo cho thị giác cảm nhận được sự linh hoạt và luôn có hướng mở, hướng phát triển

Trang 38

38

Thông thường, tạo hình hoa văn trên cơ sở các hình kỷ hà rất dễ dẫn đến khô cứng máy móc Tuy nhiên, hoa văn trên trang phục người Dao đã vượt qua những hạn chế này nhờ cách ghép đoạn thẳng ở việc rút chỉ thêu, nhờ cách ghép hình xuôi ngược táo bạo ở việc ghép các mảnh vải màu, nhờ cách “lăn” và trượt các hình bán nguyệt hình tròn Họ tạo ra và tận dụng ngay những điểm mấu, những điểm nối, đối chọi nhau về thế nhưng nhờ đó lại mềm đi cảm giác Sự kết nối liên tiếp các hình kỷ hà đơn lẻ đã mang đến hiệu quả về cảm giác một hình kỷ hà mới Người Dao đã tận dụng tuyệt đối các ứng dụng về sự đối xứng, sự phá thế khi tạo hình kỷ

hà để đưa đến cho thị giác nhiều cung bậc cảm nhận khác nhau Có lúc chen chúc, rối rít, vui nhộn ở các hình thêu dấu thập ngoặc trên trang phục; có lúc lại “thảnh thơi”, “đủng đỉnh” ở các hình thêu chim thú “cõng” chim thú hay “quằn quại”,

“bùng lên” hình đài lửa trên trang phục; có lúc lại lấp lánh ẩn hiện ở các hình bánh

xe lăn Trong các đồ án hoa văn trên trang phục người Dao đã rất linh hoạt khi

“biến hóa” các hình kỷ hà và đạt hiệu quả tốt Đánh giá ở góc độ thẩm mỹ thì đây

là một dạng hoa văn luôn tạo cảm giác vui mắt và khỏe hình Nghệ thuật tạo hình

đi tìm sự độc đáo trong ngôn ngữ của chính mình Một trong những ngôn ngữ của tạo hình là đường nét Người Dao đã làm cho những đường nét khô cứng trở thành

có hồn, có “tiếng nói” biệt lập và đầy xúc cảm Thành công trong quá trình biến hóa các đoạn thẳng, đường thẳng là tâm điểm đánh giá về hoa văn trên trang phục

cổ truyền của người Dao ở miền núi phía Bắc Việt Nam

1.2.2.3.5.2 Hoa văn tả thực:

Các hoa văn trên trang phục thầy cúng người Dao có tính cách điệu không cao, cố gắng tả thực ở mức độ chấp nhận được Khi thểu áo thầy cúng, người thêu đã không cố tình tạo cho nó là một sản phẩm thêu đặc trưng mà tạo ra một bức tranh thờ theo đúng nghĩa Sự mềm mại của hình đã góp phần hỗ trợ cho quá trình hành lễ bài bản của người thầy cúng Sự dịch chuyển đi lại nhiều lần của thầy cúng và những người tham gia; sự cầu kỳ của nghi lễ, sự thăng hoa của niềm tin trong mờ ảo hương khói kết hợp với lớp áo nhiều hoa văn uốn lượn của thầy cúng đã tạo hiệu quả linh thiêng cho cuộc cúng tế

1.2.2.3.5.3 Hoa văn tạo đồ án trang trí

Bố cục dải băng:

Đó là những dải hoa văn chạy băng ngang được cấu tạo liên hoàn tạo nên tổng thể vui mắt, logic và có cấu trúc chặt chẽ Những khoảng trống vừa phải,

Trang 39

39

những chi tiết rậm rạp nhưng không rườm rà, những điểm nối hợp lý làm cho hình vừa chắc, vừa khỏe vừa mềm mại, vừa cầu kỳ vừa giản đơn, vừa thoáng đạt vừa hiện đại Các chi tiết đều quan hệ ràng buộc với nhau Ở cấu trúc hoa văn dải băng ngang này, sự bắt đầu, sự trưởng thành của đơn vị họa tiết này là sự kết thúc có chủ

ý của một đơn vị họa tiết trước nó, bởi bản thân mỗi đơn vị họa tiết là sự hoàn thành và là sự bắt đầu cho đơn vị họa tiết tiếp theo

1.2.2.3.5.4.Hoa văn thể hiện đời sống tộc người gắn với thế giới tự nhiên Hoa văn biểu tượng cây cỏ, hoa lá:

Cuộc sống của con người giữa bao la thiên nhiên đất trời với sự tồn tại của cỏ cây hoa lá chim thú Khi con người hòa mình trong nó, cảm nhận nó với một tình yêu cuộc sống mãnh liệt và vốn có nguồn mỹ cảm dồi dào nuôi dưỡng, các hình tượng thiên nhiên được in đậm trong trí nhớ và trở thành ấn tượng sâu sắc trong tâm thức, khó phai mờ Hình ảnh cỏ cây, hoa lá còn chứa đựng đầy yếu tố tâm linh Người Dao quan niệm mỗi cây mang một “hồn” riêng và “hồn” của cây rừng cũng chi phối đến vận mệnh của cuộc đời mỗi con người Người Dao ăn với rừng, ở với rừng và họ tắm mình trong khung cảnh của núi rừng, mang theo khung cảnh đó hàng ngày Họ trân trọng, tôn thờ rừng núi mà cụ thể là cây cỏ, hoa lá, những yếu tố dệt nên không gian sống Họ tìm được trong cây cỏ, hoa lá, sự chở che, bao bọc và chính con người cũng phả vào cây cỏ, rừng núi niềm tin, sức sống mãnh liệt, trường tồn

Hoa văn biểu tượng chim thú

Cộng đồng người Dao với không gian sống ngập tràn trong mối giao hòa thiên nhiên cây cỏ ở nơi mà tiếng tiếng chim, thú nhiều hơn tiếng người, tất cả hình ảnh hiện lên đều hoang sơ và ẩn chứa bao điều kì diệu Hình ảnh chim thú đã bồi đắp trí tưởng tượng cho những tâm hồn chất chứa tình cảm nghệ thuật, tạo nên

Trang 40

40

một sự kết nối bền vững trong đời sống cộng sinh Biểu tượng chim, thú được diễn

tả cùng cây cỏ, hoa lá và con người đã khẳng định thêm tình yêu thiên nhiên của chủ nhân sáng tạo ra hoa văn Hình ảnh chim thú thấp thoáng trong sự rậm rạp của cây cối cho thấy óc quan sát tinh tế và mối giao cảm của con người với vạn vật sự sống cộng sinh, giao hòa, gìn giữ, nâng niu và bảo vệ thiên nhiên là lẽ sống, là thông điệp được chuyển tải từ đời này sang đời khác

Hoa văn mặt trời

Người Dao coi mặt trời là một biểu tượng của thần linh cần phải tôn trọng và tôn thờ Thần mặt trời và thần lửa là những vị thần mang đến cho họ những điều may mắn Hoa văn biểu tượng mặt trời là những kết cấu mang tổ hợp hình hoa với các hệ thống các cánh hoa xếp đối xứng nhau qua tâm Hoa văn này xuất hiện khá nhiều trên trang phục cổ truyền của người Dao

Hoa văn biểu tượng vũ trụ

Sự xuất hiện của hoa văn mang biểu tượng mặt trăng trên trang phục người Dao đã tạo nên một sự khác biệt về quan niệm tín ngưỡng của người Dao so với quan niệm tín ngưỡng của các dân tộc khác Phải chăng là một sự kết hợp không thể thiếu của tính nhị nguyên Nhị nguyên giữa chủ động và bị động, giữa nước và lửa, giữa đực và cái Người Dao có quan niệm “mặt trời là chồng, mặt trăng là vợ” theo ảnh hưởng của truyền thuyết “sự tích mặt trời mặt trăng” lưu truyền nhiều đời nay

Hoa văn mang ý nghĩa nhân sinh

Hoa văn biểu tượng con người

Hoa văn hình người được diễn tả tương đối đầy đủ cụ thể các chi tiết bộ phận Tuy xuất hiện với tần suất thấp nhưng hoa văn này lại được tạo hình khá sinh động và đa dạng về kiểu dáng Với phương thức tạo hình đơn giản nhưng biểu hiện khá đầy đủ chi tiết và có tính khái quát cao, biểu tượng hình người của hoa văn trên trang phục đã thành công trong việc đại diện cho cách làm, cách nghĩ, nói lên đời sống nội tâm và đời sống tâm linh cho một cộng đồng Họ như thấy chính mình

ở đó, linh thiêng và cao cả, hồn hậu và giao hòa Họ trân trọng sự sống bắt đầu từ chính sự cảm thụ thẩm mỹ trên mỗi hoa văn

Hoa văn biểu tượng tín ngưỡng, tôn giáo

Hoa văn biểu tượng con chó trên trang phục Dao tiền (ko có)

Ngày đăng: 10/12/2019, 15:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w