1. Tính cấp thiết của đề tài Thuế là một công cụ quan trọng của Nhà nước, nó vừa đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, vừa là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Để sử dụng hiệu quả công cụ thuế, về cơ bản hệ thống chính sách thuế bao gồm thuế gián thu và thuế trực thu. -Thuế gián thu như thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. -Thuế trực thu bao gồm thuế thu nhập cá nhân (TNCN), thuế thu nhập doanh nghiệp... Theo thông lệ của các quốc gia, thuế trực thu sẽ chiếm tỷ trọng lớn, ngược lại, giảm dần thuế gián thu. Việt Nam đang bước vào hội nhập sâu, rộng với kinh tế quốc tế và tiến trình chuyển đổi dần cơ cấu tỷ trọng tăng dần của các sắc thuế trực thu đang là xu hướng tất yếu. Thuế Thu nhập cá nhân cũng đóng một vai trò đáng kể trong nguồn thu ngân sách và là nghĩa vụ của tất cả những người lao động trên lãnh thổ Việt Nam. Thuế Thu nhập cá nhân điều tiết thu nhập cá nhân, thể hiện rõ nghĩa vụ của công dân đối với đất nước và được căn cứ trên các nguyên tắc: lợi ích, công bằng và khả năng nộp thuế. Trong thời gian qua cùng với sự phát triển mạnh nền kinh tế của tỉnh Thái Nguyên, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng tăng lên đáng kể, thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao và nhóm người có thu nhập thấp cũng có xu hướng ngày càng tăng. Đối tượng nộp Thuế TNCN và hình thức thu nhập của các bộ phận dân cư và người lao động cũng đa dạng. Trong những năm tới, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong những giai đoạn tiếp theo, các thị trường tài chính, tiền tệ, vốn, lao động sẽ có sự phát triển mạnh mẽ hơn đến Thái Nguyên. Nền kinh tế sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có cơ hội đầu tư, sản xuất kinh doanh, có thêm nguồn thu nhập khác nhau. Bên cạnh đó, cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, một số doanh nghiệp, người nước ngoài làm việc, sinh sống tại Thái Nguyên và số người Việt Nam có thu nhập từ những doanh nghiệp nước ngoài cũng tăng lên. Xuất phát từ thực tế nêu trên, cùng với thực tiễn trong công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài: “Áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản ở Thái Nguyên và một số kiến nghị” làm luận văn thạc sĩ của mình. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình khác nhau nghiên cứu về thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam. Ở mức độ khái quát, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu chủ yếu và nổi bật sau đây: - “Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam” của đồng tác giả PGS.TS Lê Văn Ái và Ths. Đỗ Đức Minh. Đây là một công trình bao quát mang tính kinh tế. - “Nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân”, năm 2006, luận văn thạc sĩ của Phan Phương Nam. Luận văn thạc sĩ này làm rõ khái niệm nguyên tắc công bằng dưới góc độ lý luận, được cụ thể hóa trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân thời điểm đó như thế nào và thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân có đảm bảo được tính công bằng chưa. Đồng thời, tác giả cũng đã khảo cứu pháp luật của các nước tiên tiến để thấy rõ hơn nữa tính công bằng trong pháp luật thế thu nhập cá nhân, từ đó tác giả đã đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện việc xây dựng dự thảo Luật thuế thu nhập cá nhân vào thời điểm đó; - “Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao – thực trạng và giải pháp”, luận văn thạc sỹ năm 2001 của Nguyễn Trọng Hạnh. Luận văn này chủ yếu đề cập đến các phương pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ở thời điểm đó, hoàn thiện các biện pháp tổ chức, thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Đồng thời cũng đưa ra những đề xuất phương hướng xây dựng Luật thuế thu nhập cá nhân thay cho pháp lệnh thuế thu cao thời điểm bấy giờ; - “Thực trạng áp dụng pháp luật thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao từ thực tiễn thuế đối với nghệ sỹ”, luận văn thạc sỹ năm 2006 của Nguyễn Thị Thúy Hường. Luận văn này chủ yếu phân tích những vấn đề còn vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân và việc thu thuế đối với một số đối tượng có thu nhập cao nhưng lại rất khó quản lý là các nghệ sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh; - “Quy định của pháp luật thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao về khấu trừ tại nguồn - Thực trạng và hướng hoàn thiện”, khóa luận tốt nghiệp năm 2006 của Lý Hải Yến. Đây là công trình trực tiếp nghiên cứu về đề tài “khấu trừ tại nguồn” được quy định theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (sửa đổi bổ sung năm 2004). Luận văn chủ yếu đề cập đến những điểm chưa hợp lý trong các quy định về phương pháp khấu trừ tại nguồn của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và vấn đề thực tiễn trong việc áp dụng phương pháp này trên thực tế còn nhiều bất cập để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những vấn đề bất cập đó.Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại thì Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã hết hiệu lực, và được thay thế bởi Luật thuế thu nhập cá nhân 04/2007/QH12. Các quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 về khấu trừ tại nguồn cũng có nhiều thay đổi so với các quy định tại Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (sửa đổi bổ sung năm 2004). Từ các công trình đã dẫn ở trên, có thể khẳng định rằng cho đến nay chưa có một công trình nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ nghiên cứu cụ thể, chi tiết về việc áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản ở Thái Nguyên. Vì vậy, có thể khẳng định việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết, vừa có tính mới và có ý nghĩa thực tiễn trong thời điểm hiện nay. 3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Mục đích nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản; thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản; đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhợng bất động sản ở Thái Nguyên. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản và tình hình thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản ở Thái Nguyên thời gian qua. Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các vấn đề sau đây: - Những vấn đề lý luận cơ bản về áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản; - Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản ở Thái Nguyên; - Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản ở Thái Nguyên. 4. Phương pháp nghiên cứu đề tài Đề tài được triển khai thực hiện trên cơ sở sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu phổ biến trong khoa học xã hội như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu pháp luật, phương pháp khảo sát, điều tra xã hội học, phương pháp thống kê... để giải quyết các nội dung thuộc yêu cầu của đề tài. Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng các phương pháp định tính dựa trên cơ sở nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ tài liệu tạp chí chuyên ngành và báo cáo thống kê chuyên ngành tài chính, thuế. 5. Những đóng góp mới của luận văn - Hệ thống hoá các vấn đề lý thuyết về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản ở Việt Nam. - Trình bầy thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản tại Thái nguyên. - Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản tại Thái Nguyên. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn sẽ được trình bày thành 2 chương như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản. Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản tại Thái Nguyên và một số kiến nghị.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
-LUẬN VĂN THẠC SĨCHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHUYỂN NHƯỢNG BẤT
Trang 2HÀ NỘI - 2017
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 4HÀ NỘI - 2017
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập củariêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng,
đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi
tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thựctiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳnghiên cứu nào khác
Tác giả
Phạm Ngọc Thành
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Ban Giám hiệu Viện Đạihọc Mở Hà Nội, quý Thầy, Cô khoa Đào tạo sau đại học; quý Thầy, Cô đãtham gia giảng dạy lớp Cao học Luật kinh tế mà tác giả theo học đã tận tìnhgiảng dạy, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiêncứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tớiPGS.TS Phạm Thị Giang Thu - người Cô đáng kính đã bỏ nhiều công sứctận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu, hoàn thànhluận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên Cục thuếtỉnh Thái Nguyên, các chi cục thuế huyện, Thành phố của Thái Nguyên đãcung cấp số liệu, giúp đỡ, động viên tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tácgiả hoàn thành luận văn
Trong quá trình thực hiện đề tài, chắc chắn luận văn không sao tránhkhỏi những hạn chế, thiếu sót, tác giả mong nhận được sự thông cảm, đónggóp ý kiến của các nhà khoa học, quý Thầy Cô và bạn bè đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả
Phạm Ngọc Thành
Trang 7MỤC LỤCLỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN 6 1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân và đặc trưng của thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 6
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và cấu trúc của thuế thu nhập cá nhân 6 1.1.2 Đặc trưng của thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 7 1.1.3 Những vấn đề cần lưu ý khi áp dụng thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 8
1.2 Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 14
1.2.1 Khái niệm áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 14 1.2.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 14 1.2.3 Quy trình áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 16 1.2.4 Các yếu tố chi phối tính hiệu quả của việc áp dụng pháp luật thuế thu nhập
cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 17
1.3 Vai trò của pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 22
1.3.1 Đối với nền kinh tế- xã hội 22 1.3.2 Đối với hệ thống pháp luật thuế 23 1.3.3 Pháp luật thuế thu nhập cá nhân là công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25
Trang 8Chương 2: ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN TỪ THỰC TIỄN TẠI
THÁI NGUYÊN 26
2.1 Những đặc trưng cơ bản về kinh tế xã hội của Thái Nguyên và tình hình chuyển nhượng bất động sản trên địa bàn Thái Nguyên 26
2.1.1 Những đặc trưng cơ bản về kinh tế xã hội của Thái Nguyên 26
2.1.2 Tình hình chuyển nhượng bất động sản trên địa bàn Thái Nguyên 33
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản ở Thái Nguyên 34
2.2.1 Đối với miễn thuế mà cá nhân có một nhà ở duy nhất 34
2.2.2 Đối với nhà ở hình thành trong tương lai 35
2.2.3 Về trình tự, thủ tục luân chuyển và giải quyết hồ sơ thực hiện nghĩa vụ tài chính về nhà, đất của hộ gia đình cá nhân 37
2.2.4 Những vướng mắc khi thực hiện Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính 38
2.2.5 Thực tiễn áp dụng các quy định về miễn, giảm, hoàn thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 41
2.3 Một số nhận xét, đánh giá và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản ở Thái Nguyên 45
2.3.1 Kiến nghị về hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 45
2.3.2 Kiến nghị về tổ chức thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 62
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là một công cụ quan trọng của Nhà nước, nó vừa đảm bảo nguồnthu cho ngân sách Nhà nước, vừa là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Để sử dụng hiệu quả công cụ thuế, về cơ bản hệ thống chính sách thuếbao gồm thuế gián thu và thuế trực thu
- Thuế gián thu như thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu
- Thuế trực thu bao gồm thuế thu nhập cá nhân (TNCN), thuế thu nhậpdoanh nghiệp
Theo thông lệ của các quốc gia, thuế trực thu sẽ chiếm tỷ trọng lớn,ngược lại, giảm dần thuế gián thu Việt Nam đang bước vào hội nhập sâu,rộng với kinh tế quốc tế và tiến trình chuyển đổi dần cơ cấu tỷ trọng tăng dầncủa các sắc thuế trực thu đang là xu hướng tất yếu Thuế Thu nhập cá nhâncũng đóng một vai trò đáng kể trong nguồn thu ngân sách và là nghĩa vụ củatất cả những người lao động trên lãnh thổ Việt Nam Thuế Thu nhập cá nhânđiều tiết thu nhập cá nhân, thể hiện rõ nghĩa vụ của công dân đối với đất nước
và được căn cứ trên các nguyên tắc: lợi ích, công bằng và khả năng nộp thuế
Trong thời gian qua cùng với sự phát triển mạnh nền kinh tế của tỉnhThái Nguyên, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng tăng lên đáng kể, thunhập giữa nhóm người có thu nhập cao và nhóm người có thu nhập thấp cũng
có xu hướng ngày càng tăng Đối tượng nộp Thuế TNCN và hình thức thunhập của các bộ phận dân cư và người lao động cũng đa dạng Trong nhữngnăm tới, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong những giai đoạntiếp theo, các thị trường tài chính, tiền tệ, vốn, lao động sẽ có sự phát triểnmạnh mẽ hơn đến Thái Nguyên Nền kinh tế sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh tạođiều kiện cho các tổ chức, cá nhân có cơ hội đầu tư, sản xuất kinh doanh, có
Trang 10thêm nguồn thu nhập khác nhau Bên cạnh đó, cùng với tiến trình hội nhậpkinh tế quốc tế, một số doanh nghiệp, người nước ngoài làm việc, sinh sốngtại Thái Nguyên và số người Việt Nam có thu nhập từ những doanh nghiệpnước ngoài cũng tăng lên.
Xuất phát từ thực tế nêu trên, cùng với thực tiễn trong công tác quản lý
thuế thu nhập cá nhân, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài: “Áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản ở Thái Nguyên và một số kiến nghị” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình khác nhau nghiên cứu vềthuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
Ở mức độ khái quát, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu chủyếu và nổi bật sau đây:
- “Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam” của đồng tác giả PGS.TS Lê Văn Ái và Ths Đỗ Đức Minh Đây là một
công trình bao quát mang tính kinh tế
- “Nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế thu nhập cá nhân”, năm
2006, luận văn thạc sĩ của Phan Phương Nam Luận văn thạc sĩ này làm rõkhái niệm nguyên tắc công bằng dưới góc độ lý luận, được cụ thể hóa trongpháp luật thuế thu nhập cá nhân thời điểm đó như thế nào và thực tiễn ápdụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân có đảm bảo được tính công bằng chưa.Đồng thời, tác giả cũng đã khảo cứu pháp luật của các nước tiên tiến để thấy
rõ hơn nữa tính công bằng trong pháp luật thế thu nhập cá nhân, từ đó tác giả
đã đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện việc xây dựng dự thảo Luật thuế thunhập cá nhân vào thời điểm đó;
- “Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao – thực trạng và giải pháp”, luận văn thạc sỹ năm 2001 của Nguyễn Trọng Hạnh Luận văn này
chủ yếu đề cập đến các phương pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế thu
Trang 11nhập đối với người có thu nhập cao ở thời điểm đó, hoàn thiện các biện pháp
tổ chức, thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Đồng thời cũng đưa
ra những đề xuất phương hướng xây dựng Luật thuế thu nhập cá nhân thaycho pháp lệnh thuế thu cao thời điểm bấy giờ;
- “Thực trạng áp dụng pháp luật thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao từ thực tiễn thuế đối với nghệ sỹ”, luận văn thạc sỹ năm 2006 của
Nguyễn Thị Thúy Hường Luận văn này chủ yếu phân tích những vấn đề cònvướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân và việcthu thuế đối với một số đối tượng có thu nhập cao nhưng lại rất khó quản lý làcác nghệ sĩ tại Thành phố Hồ Chí Minh;
- “Quy định của pháp luật thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
về khấu trừ tại nguồn - Thực trạng và hướng hoàn thiện”, khóa luận tốt
nghiệp năm 2006 của Lý Hải Yến Đây là công trình trực tiếp nghiên cứu về
đề tài “khấu trừ tại nguồn” được quy định theo Pháp lệnh thuế thu nhập đốivới người có thu nhập cao (sửa đổi bổ sung năm 2004) Luận văn chủ yếu đềcập đến những điểm chưa hợp lý trong các quy định về phương pháp khấu trừtại nguồn của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và vấn
đề thực tiễn trong việc áp dụng phương pháp này trên thực tế còn nhiều bấtcập để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những vấn đề bất cậpđó.Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại thì Pháp lệnh thuế thu nhập đối vớingười có thu nhập cao đã hết hiệu lực, và được thay thế bởi Luật thuế thunhập cá nhân 04/2007/QH12 Các quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân số04/2007/QH12 về khấu trừ tại nguồn cũng có nhiều thay đổi so với các quyđịnh tại Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (sửa đổi bổsung năm 2004)
Từ các công trình đã dẫn ở trên, có thể khẳng định rằng cho đến naychưa có một công trình nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ nghiên cứu cụ thể, chitiết về việc áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển
Trang 12nhượng bất động sản ở Thái Nguyên Vì vậy, có thể khẳng định việc nghiêncứu đề tài này là cần thiết, vừa có tính mới và có ý nghĩa thực tiễn trong thờiđiểm hiện nay.
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về áp
dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bấtđộng sản; thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt độngchuyển nhượng bất động sản; đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả ápdụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhợng bấtđộng sản ở Thái Nguyên
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định pháp luật thuế thu
nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản và tình hìnhthực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyểnnhượng bất động sản ở Thái Nguyên thời gian qua
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các vấn đề sau đây:
- Những vấn đề lý luận cơ bản về áp dụng pháp luật thuế thu nhập cánhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản;
- Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt độngchuyển nhượng bất động sản ở Thái Nguyên;
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luậtthuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản ởThái Nguyên
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được triển khai thực hiện trên cơ sở sử dụng phối hợp cácphương pháp nghiên cứu phổ biến trong khoa học xã hội như: phương phápphân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu pháp luật, phương phápkhảo sát, điều tra xã hội học, phương pháp thống kê để giải quyết các nộidung thuộc yêu cầu của đề tài
Trang 13Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng các phương pháp định tính dựa trên cơ sởnguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ tài liệu tạp chí chuyên ngành và báo cáothống kê chuyên ngành tài chính, thuế
5 Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hoá các vấn đề lý thuyết về công tác quản lý thuế thu nhập
cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản ở Việt Nam
- Trình bầy thực trạng công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân đối vớihoạt động chuyển nhượng bất động sản tại Thái nguyên
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thuế thu nhập cá nhânđối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản tại Thái Nguyên
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
sẽ được trình bày thành 2 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật thuế thu nhập cánhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối vớihoạt động chuyển nhượng bất động sản tại Thái Nguyên và một số kiến nghị
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG
SẢN
1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân và đặc trưng của thuế thu nhập
cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và cấu trúc của thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu điều tiết vào thu nhập chịuthuế của cá nhân trong kỳ tính thuế,thuế thu nhập cá nhân là điều tiết vào cáckhoản thu nhập thuộc sở hữu của cá nhân không phân biệt nguồn hình thànhthu nhập Khoản thu này có thể hình thành từ các quan hệ xã hội đa dạng của
cá nhân : Như quan hệ lao động, quan hệ kinh doanh, quan hệ tín dụng, quan
hệ mua bán, chuyển nhượng các quyền về tài sản…
Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịuthuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú cóthu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam
- Một cá nhân được xem là cư trú khi đáp ứng một trong các điềukiện sau:
a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dươnglịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam ;
b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng kýthường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn
Đối tượng chịu thuế
- Thu nhập thường xuyên
Là những thu nhập mang tính đều đặn ổn định Với một cá nhân thì thunhập thường xuyên có thể hình thành từ hoạt động kinh doanh hay hoạt động
Trang 15lao động Thu nhập này được xác định gồm:
+ Thu nhập từ kinh doanh (sản xuất, kinh doanh, hành nghề độc lập).+ Thu nhập từ tiền lương, tiền công (tiền lương, phụ cấp, trợ cấp, thù lao…)
- Thu nhập không thường xuyên bao gồm:
+ Thu nhập từ đầu tư vốn (tiền lãi cho vay, cổ tức…)
+ Thu nhập từ chuyển nhượng vốn (chuyển nhượng phần vốn trong các
tổ chức kinh tế, thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán…)
+ Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (chuyển nhượng quyền sửdụng đất và tài sản gắn liền với đất, chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sửdụng nhà ở, chuyển nhượng quyền thuê đất, thuê mặt nước….)
+ Thu nhập từ trúng thưởng (trúng thưởng xổ số, khuyến mại, trong cáchình thức cá cược, casino…)
1.1.2 Đặc trưng của thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản
Đặc trưng: Được xác định bằng giá chuyển nhượng bất động sản theo
từng lần chuyển nhượng trừ giá mua bất động sản và các chi phí liên quan
- Trường hợp không xác định được giá mua và chi phí liên quanđến việc chuyển nhượng bất động sản thì thu nhập chịu thuế được xác
Trang 16định là giá chuyển nhượng bất động sản Thời điểm xác địng thu nhậpchịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản là thời điểm hợp đồng chuyểnnhượng có hiệu lực.
1.1.3 Những vấn đề cần lưu ý khi áp dụng thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản
Thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản
- Được xác định bằng giá chuyển nhượng bất động sản nhân với thuếsuất 2%
- Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế là thời thời điểm hợp đồngchuyển nhượng có hiệu lực
Thực tế, không ít trường hợp đã lợi dụng sự thông thoáng của luật để
lách Luật, trốn thuế, gây thất thu không nhỏ cho ngân sách Các hành vi láchluật điển hình và phổ biến hiện nay phát sinh dưới nhiều hình thức như: thỏathuận thấp giá chuyển nhượng, chuyển nhượng/cho/tặng qua trung gian, Hủy
bỏ hợp đồng hình thành tài sản trong tương lai với chủ đầu tư…
Là loại thuế có tầm ảnh hưởng rộng, tác động đến hầu hết mọi tầng lớpdân cư, mọi sinh hoạt của đời sống, xã hội nên việc triển khai Luật Thuế thunhập cá nhân (TNCN) không tránh khỏi vướng mắc phát sinh trong năm đầutriển khai
Mặc dù các cơ quan chức năng đã có sự nắm bắt để sửa đổi, bổ sungchính sách kịp thời, nhưng riêng vấn đề thuế TNCN đối với hoạt động chuyểnnhượng bất động sản, đến nay vẫn còn nhiều bất cập
Điểm bất cập thứ nhất, người có tài sản chuyển nhượng tự khai là tài
sản duy nhất
Điều 4 Luật Thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) quy định: Thu nhập từchuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cánhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất thì được miễnthuế; đồng thời, người chuyển nhượng bất động sản (BĐS) tự khai và chịu
Trang 17trách nhiệm về tính trung thực về kê khai của mình Tuy nhiên, đây chính là
kẽ hở để không ít người có nhiều nhà ở, đất ở khi chuyển nhượng sẵn sàng kêkhai là tài sản duy nhất để không phải nộp thuế
Thực tế này đang diễn ra khá phổ biến, gây thất thu lớn cho ngân sách,
vì trong bối cảnh hệ thống thông tin quản lý cá nhân của cơ quan quản lý nhànước chưa thể kết nối mạng thông tin thống nhất trên phạm vi toàn quốc, do
đó không thể quản lý được việc sở hữu BĐS chi tiết đến từng cá nhân trênnhiều địa bàn khác nhau Thậm chí, người sở hữu nhà ở, đất ở trong cùng mộtđịa bàn nhưng khi kê khai thì người sở hữu nhà hoàn toàn có thể khai theo địachỉ ghi trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất gửi ở cơquan thuế Trong khi đó, cơ sở dữ liệu tại các quận huyện, địa phương lạiquản lý theo địa chỉ cấp đổi mới, do vậy, lại một lần nữa, cơ quan thuế cầnđến văn bản tự cam kết của người kê khai chứ chưa có thông tin chuẩn xác đểđối chiếu
Đây chính là kẽ hở để không ít người có nhiều nhà ở, đất ở khi chuyểnnhượng sẵn sàng kê khai là tài sản duy nhất để không phải nộp thuế Thực tếnày đang diễn ra hàng ngày và khá phổ biến, gây thất thu lớn cho ngân sách
Ví dụ, có thể cùng một người trong gia đình gồm 3 thế hệ (ông bà, con
và cháu) Họ sống cùng nhau, có nhiều bất động sản (có 2 căn nhà trở lênchẳng hạn) Giờ gia đình này muốn bán đi một căn nhà (cách biệt) nên họ làmthủ tục cho con đẻ, vì họ muốn lách luật để người con này (vẫn cùng chungsống với bố mẹ) chỉ có 1 căn nhà đất duy nhất nên không phải nộp thuế thunhập cá nhân (25% tổng số tiền bán nhà) Và cứ như thế nếu có họ 10 căn nhàthì họ vẫn tiếp tục thực hiện theo quy trình trên thì họ vẫn không phải nộp
thuế thu nhập cá nhân
Thứ hai, hạ giá chuyển nhượng
Hệ thống văn bản pháp luật thuế TNCN quy định giá chuyển nhượngquyền sử dụng đất là giá thực tế ghi trên hợp đồng, tại thời điểm chuyển
Trang 18nhượng nhưng không thấp hơn giá đất do UBND tỉnh, TP quy định.
Thực tế trên thị trường bất động sản, giá đất mua bán thường cao hơngiá đất do UBND tỉnh, TP quy định Nhưng vì lợi ích của cả người mua vàngười bán (bên bán được nộp thuế TNCN ít hơn, bên mua nộp lệ phí trước
bạ thấp hơn), nên họ thường thoả thuận ghi giá trên hợp đồng chuyểnnhượng thấp hơn thực tế Và để được cơ quan nhà nước chấp nhận hồ sơ, họchỉ ghi trên hợp đồng mức giá ngang bằng hoặc cao hơn chút đỉnh so với giáUBND tỉnh, TP quy định Như thế sẽ được nộp thuế thấp hơn số thực tế phảinộp Kết quả là, cả đôi bên mua bán đất cùng có lợi, chỉ riêng Nhà nước chịuthất thu thuế
Ví dụ: Ông A bán một lô đất giá thực tế mua bán là 2 tỷ đồng, giáchuyển nhượng ghi trên hợp đồng là 1,5 tỷ đồng (tương đương giá đất doUBND tỉnh quy định) thì số thuế TNCN sẽ bị thất thu là:
( 2 tỷ đồng- 1,5 tỷ đồng) x 2%=10 triệu đồng
Đây chỉ là một trường hợp với giá trị mua bán không lớn Trên thực tế,mỗi ngày có biết bao giao dịch diễn ra với giá trị mỗi giao dịch lên đến hàngchục tỷ đồngthì chắc chắn số thuế thất thu là rất lớn
Thứ ba, chuyển nhượng bắc cầu
Khoản 1 Điều 4 Luật Thuế TNCN 2007 quy định: “Thu nhập từ chuyểnnhượng BĐS giữa vợ với chồng, cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôivới con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể;ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh chị emruột với nhau” thì được miễn thuế TNCN Lợi dụng quy định này, nhiềutrường hợp đã sử dụng mối quan hệ bắc cầu để trốn thuế
Ví dụ, trường hợp hai anh em cọc chèo chuyển nhượng BĐS chonhau, theo quy định nêu trên, họ là đối tượng phải nộp thuế Tuy nhiên, đểkhông phải nộp thuế, người anh rể có thể làm thủ tục chuyển nhượng cho bố
vợ, sau đó bố vợ lại chuyển nhượng tiếp cho rể thứ hai Bằng cách này,
Trang 19người chuyển nhượng BĐS đã tránh phải nộp thuế Một trường hợp khác,nếu căn nhà đứng tên vợ chồng anh trai ruột, nay anh và chị dâu tặng nhàcho em trai thì người em trai vẫn phải nộp thuế TNCN khoản “quà tặng” dogiao dịch cho tặng giữa chị dâu với em chồng không được miễn thuế Đểkhông phải nộp thuế, người vợ có thể làm thủ tục tặng phần sở hữu của mìnhcho chồng, sau đó người anh trai làm thủ tục tặng nhà cho em trai Hoặc, vợchồng người anh làm thủ tục tặng nhà cho bố mẹ, sau đó bố mẹ làm thủ tụctặng nhà đó lại cho người em trai.
Thứ tư, thỏa thuận thấp giá chuyển nhượng
Điều 17 Thông tư 92/2015/TT-BTC chỉ rõ: Giá chuyển nhượng đối vớichuyển nhượng quyền sử dụng đất không có công trình xây dựng trên đất làgiá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm chuyển nhượng Giáchuyển nhượng đối với chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với công trìnhxây dựng trên đất, kể cả công trình xây dựng hình thành trong tương lai là giághi trên hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm chuyển nhượng Trường hợptrên hợp đồng chuyển nhượng không ghi giá đất hoặc giá đất trên hợp đồngchuyển nhượng thấp hơn giá do UBND cấp tỉnh quy định thì giá chuyểnnhượng đất là giá do UBND cấp tỉnh quy định tại thời điểm chuyển nhượngtheo quy định của pháp luật về đất đai Trường hợp chuyển nhượng nhà gắnliền với đất thì phần giá trị nhà, kết cấu hạ tầng và công trình kiến trúc gắnliền với đất được xác định căn cứ theo giá tính lệ phí trước bạ nhà do UBNDcấp tỉnh quy định Trường hợp UBND cấp tỉnh không có quy định giá tính lệphí trước bạ nhà thì căn cứ vào quy định của Bộ Xây dựng về phân loại nhà,
về tiêu chuẩn, định mức xây dựng cơ bản, về giá trị còn lại thực tế của côngtrình trên đất
Như vậy, hệ thống văn bản pháp luật thuế TNCN quy định giá chuyểnnhượng là giá thực tế ghi trên hợp đồng, tại thời điểm chuyển nhượng nhưngkhông thấp hơn giá đất do UBND tỉnh, thành phố quy định Thực tế trên thị
Trang 20trường BĐS, giá đất mua bán thường cao hơn giá đất do UBND tỉnh, thànhphố quy định nhưng do căn cứ xác định thuế TNCN của người bán và thuếtrước bạ của người mua là giá chuyển nhượng, vì lợi ích của cả người mua vàngười bán, nên họ thường thoả thuận ghi giá trên hợp đồng chuyển nhượngthấp hơn thực tế Trong trường hợp này chỉ Nhà nước chịu thất thu thuế.
Thứ năm, hủy bỏ hợp đồng hình thành tài sản trong tương lai với chủ đầu tư.
Cũng trong Điều 17 Thông tư 92/2015/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Điều
12 Thông tư số 111/2013/ TT-BTC của Bộ Tài chính về căn cứ tính thuế đốivới thu nhập từ chuyển nhượng BĐS đối với công trình xây dựng hình thànhtrong tương lai: Trường hợp hợp đồng không ghi giá chuyển nhượng hoặc giáchuyển nhượng thấp hơn tỷ lệ góp vốn trên phần tổng giá trị hợp đồng nhân(x) với giá đất và giá tính lệ phí trước bạ công trình xây dựng do UBND cấptỉnh quy định thì giá chuyển nhượng được xác định theo giá UBND (x) với tỷ
lệ góp vốn trên tổng giá trị hợp đồng Trường hợp UBND cấp tỉnh chưa cóquy định về đơn giá thì áp dụng theo suất vốn đầu tư xây dựng công trình do
Bộ Xây dựng công bố, đang áp dụng tại thời điểm chuyển nhượng.Quy định thì có nhưng để thu được khoản thuế này chưa hẳn dễ dàng Nhàđầu tư ký hợp đồng mua nhà ở hình thành trong tương lai (hoặc ký hợp đồnggóp vốn để nhận về phần đất tương ứng) với chủ đầu tư Khi nhà đầu tư Athực hiện giao dịch mua bán với nhà đầu tư B, họ không đưa nhau ra phòngcông chứng để chuyển nhượng lại Hợp đồng đã ký với chủ đầu tư, mà nhàđầu tư A sẽ lập biên bản hủy bỏ hợp đồng với chủ đầu tư Chủ đầu tư sử dụnglại hợp đồng cũ nhưng chỉ thay đổi tên người mua mới là nhà đầu tư B Bằngcách này, nhà đầu tư A đã không phải nộp thuế TNCN khi chuyển nhượnghợp đồng
Thứ sáu, giao dịch mua bán bằng giấy viết tay.
Ở nhiều địa phương, do nhận thức của người dân còn thấp nên nhiều
Trang 21hợp đồng mua, bán nhà đất hiện vẫn tồn tại theo hình thức viết tay giữa các cánhân Điều này chưa đủ căn cứ pháp lý để cơ quan thuế tính thuế bởi theo quyđịnh, việc xác định căn cứ tính thuế thu nhập từ chuyển nhượng BĐS chỉ xảy
ra khi hoạt động chuyển nhượng đã được cơ quan nhà nước chứng thực Việckhông tiến hành lập hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà/quyền
sử dụng đất và thực hiện giao dịch theo thỏa thuận bằng giấy viết tay khôngchỉ khiến nhà nước bị thất thu thuế trong các giao dịch này, mà còn khiến các
cơ quan chức năng ở địa phương, nơi cá nhân mua bán BĐS cư trú khó xácđịnh người chuyển nhượng hiện có bao nhiêu BĐS và đâu là BĐS duy nhất
Không phủ nhận việc cải cách để cơ chế ngày càng được thông thoáng
là mục tiêu mà các cơ quản quản lý hàng chính đang phấn đấu để đạt tới Tuynhiên, trong giai đọan quá độ, khi ý thức của một bộ phận dân cư còn thấp thìcũng cần phải có những giải pháp ngắn hạn đề chấn chỉnh, kiểm soát
Trên cơ sở nhận diện các hành vi lách thuế, tránh thuế phát sinh khitriển khai thực hiện Luật Thuế TNCN, thiết nghĩ, các cấp quản lý cần khẩntrương có những giải pháp hữu hiệu, theo đó tập trung vào các biện pháp sau:
Về phía Nhà nước, phải xây dựng và quản lý hệ thống thông tin cánhân đầy đủ toàn diện, trên cơ sở đó giữa ngành thuế và ngành Tài nguyên vàmôi trường kết nối mạng thông tin thống nhất trên phạm vi toàn quốc để quản
lý được việc sở hữu BĐS chi tiết của từng cá nhân Từ đó, chống được sựkhai gian dối là tài sản duy nhất trong chuyển nhượng bất động sản để đượcmiễn thuế
Đối với UBND các tỉnh, TP để chống việc lách thuế qua việc ghi thấpgiá trên hợp đồng chuyển nhượng thì việc xây dựng và ban hành bảng giánhà, đất Hàng năm phải phù hợp và sát giá thực tế chuyển nhượng trên thịtrường tự do
Riêng ngành thuế, với vị trí, vai trò của cơ quan chịu trách nhiệnchính, phải tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến đạo lý của Luật Thuế
Trang 22TNCN đến mọi tầng lớp dân cư để giúp họ nắm và hiểu về các quy định,đồng thời bằng kinh nghiệm và kỹ năng quản lý chuyên sâu, phải chủ động
đề xuất ngay các giải pháp ứng phó trong mọi tình huống, đảm bảo quản lýsát nguồn thu
1.2 Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản
1.2.1 Khái niệm áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản
Thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển,đối tượng nộp thuế này là mọi dân cư trong nước và người nước ngoài có thunhập phát sinh ở nước sở tại không phân biệt nghề nghiệp và địa vị xã hội.Ðồng thời, tùy theo tính chất của các khoản thu nhập cá nhân, người ta chiathu nhập làm hai loại: thu nhập thường xuyên và thu nhập không thườngxuyên để tính thuế cho phù hợp để tính thuế vào từng khoản thu nhập thực tếcủa mỗi cá nhân, đảm bảo thu kịp thời và tăng thêm nguồn thu vào ngân sáchNhà nước
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản: Là khoản lãi nhận được doviệc chuyển nhượng BĐS của cá nhân, như: chuyển nhượng vốn quyền sửdụng đất và tài sản gắn với đất, quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở, quyền thuêđất, thuê mặt nước
Như vậy, thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản là loại
thuế trực thu đánh vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân trong việc kinhdoanh dịch vụ chuyển nhượng bất động sản
1.2.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản
- Thứ nhất: Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân từ nguồn thu nhập củahoạt động chuyển nhượng bất động sản là cá nhân có thu nhập chịu thuế.không phân biệt cá nhân đó có tư cách chủ thể, tức là độ tuổi hay xác định
Trang 23năng lực trách nhiệm pháp luật…
Điều 2 của Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 6 năm 2013của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân
và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, có hiệulực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số91/2014/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2014 của Chính phủ sửa đổi, bổ sungmột số điều tại các Nghị định quy định về thuế, có hiệu lực kể từ ngày 15tháng 11 năm 2014 và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm
2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định
về thuế, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 quy định:
1 Người nộp thuế thu nhập cá nhân bao gồm cá nhân cư trú và cánhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật Thuếthu nhập cá nhân và Điều 3 Nghị định này Phạm vi xác định thu nhập chịuthuế của người nộp thuế như sau:
a) Đối với cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinhtrong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập;
b) Đối với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phátsinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập
2 Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau:
a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một nămdương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tạiViệt Nam;
Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo quy định tại điểm này là sự hiệndiện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam
b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau:
- Có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú;
- Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở,
Trang 24với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế.
Trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quyđịnh tại Điểm này nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trongnăm tính thuế mà cá nhân không chứng minh được là đối tượng cư trú củanước nào thì cá nhân đó là đối tượng cư trú tại Việt Nam
3 Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện quy định tạiKhoản 2 Điều này
- Thứ hai: : Mức độ điều tiết phần thu nhập cao là rất lớn theo mức thuếsuất tỷ lệ lũy tiến từng phần
- Thứ ba: Quy định về chế độ miễn giảm linh hoạt
Đây là các cá nhân có thu nhập theo quy định của pháp luật nhằm
thực hiện mục đích điều tiết một phần thu nhập của họ để thực hiện công bằng xã hội.
1.2.3 Quy trình áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản
- Đối với các bất động sản được mua, hình thành trước ngày1/1/2009 (ngày Luật thuế TNCN có hiệu lực thi hành) không có hóa đơn,chứng từ; có giấy viết tay (có hoặc không có xác nhận của chính quyền địaphương) nay chuyển nhượng, không có cơ sở để xác định giá vốn và chiphí liên quan làm cơ sở xác định thu nhập tính thuế thì áp dụng thuế suất2% trên giá chuyển nhượng
- Đối với trường hợp chuyển nhượng bất động sản dưới dạng mua vàbán bất động sản đều thực hiện bằng Hợp đồng mua bán bất động sản cóchứng nhận của cơ quan công chứng, không có cơ sở để xác định giá vốn vàchi phí liên quan làm cơ sở xác định thu nhập tính thuế thì áp dụng thuế suất2% trên giá chuyển nhượng
-Đối với trường hợp cá nhân mua bất động sản từ tổ chức kinh doanhbất động sản, từ tổ chức kinh tế có hợp đồng mua bán và hóa đơn hợp pháp;
Trang 25từ giao đất có thu tiền sử dụng đất; từ trúng đấu giá, sau đấy chuyển nhượngbất động sản đó cho tổ chức hoặc cá nhân khác theo Hợp đồng mua bán bấtđộng sản có chứng nhận của cơ quan công chứng thì: (i) Trường hợp ngườinộp thuế có căn cứ để xác định được thu nhập tính thuế theo quy định củapháp luật về thuế thu nhập cá nhân thì thực hiện khai và nộp thuế theo thuếsuất 25%; Trường hợp người nộp thuế không xác định hoặc không có hồ sơ
để xác định được giá vốn và các chi phí liên quan làm cơ sở xác định thu nhậptính thuế thì người nộp thuế khai thuế với thuế suất 2% trên giá chuyểnnhượng và tự chịu trách nhiệm về việc kê khai thuế
Giá chuyển nhượng là giá thực tế trên hợp đồng chuyển nhượng tại thờiđiểm chuyển nhượng Trường hợp, hợp đồng không ghi giá chuyển nhượnghoặc giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng thấp hơn giá do UBND cấp tỉnhquy định thì giá chuyển nhượng được xác định theo quy định tại Điều 18,Điều 19, Điều 20 Nghị định 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ
và các văn bản hướng dẫn hiện hành
Cơ quan thuế thực hiện kiểm tra và xác định số thuế TNCN phải nộptheo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn hiện hành.Trường hợp phát hiện có sự gian lận về căn cứ tính thuế thì cơ quan thuế thựchiện truy thu và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật về quản lý thuế./
1.2.4 Các yếu tố chi phối tính hiệu quả của việc áp dụng pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạtđộng chuyển nhượng bất động sản cần tôn trọng những nguyên tắc sau đây:
– Đảm bảo nguyên tắc công bằng Nguyên tắc công bằng không chỉ làyêu cầu mà còn là mục tiêu hướng tới của hệ thống pháp luật Việt Nam nóichung, hệ thống pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyểnnhượng bất động sản nói riêng Quá trình ban hành, sửa đổi, bổ sung hệ thốngpháp luật thuế của nước ta trong 20 năm đổi mới đã thể hiện yêu cầu đó Điều
Trang 26đó đòi hỏi pháp luật thuế Việt Nam phải đáp ứng được hệ thống pháp luật thểhiện sự công bằng, bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế trong từng luật thuếcũng như trong cả hệ thống pháp luật Giải quyết yêu cầu này, những vấn đềphát sinh trong công tác hành thu như khai man tiền thuế, trốn lậu thuế sẽđược giảm thiểu; hệ thống pháp luật thuế dễ được người dân chấp nhận, tựgiác tuân thủ, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước
– Thực hiện tốt nguyên tắc minh bạch, công khai Minh bạch của hệthống pháp luật thuế yêu cầu các qui phạm pháp luật thuế phải rõ ràng, giảmthiểu những qui định dẫn chiếu từ văn bản pháp luật này sang văn bản phápluật khác hoặc hạn chế dẫn chiếu những qui định chung Yêu cầu về sự rõràng, đầy đủ được đặt ra ngay từ quá trình soạn thảo, ban hành Luật thuế chođến khi Luật thuế đó đi vào đời sống Để ban hành một Luật thuế, các cơquan có thẩm quyền hoặc các cá nhân có sáng kiến pháp luật (chẳng hạn nhưviệc Đại biểu Quốc hội đệ trình một dự luật thuế) phải chứng minh được sựcần thiết của Luật thuế đó trong đời sống kinh tế xã hội trong thời gian dựtính, thời gian dự định ban hành và thực hiện luật thuế đó Trong quá trìnhsoạn thảo, ý kiến từ dân chúng – những người dân đóng thuế cần được quantâm và lưu ý Để đảm bảo sự minh bạch, các qui định trong đạo luật thuếliên quan đến phạm vi áp dụng, đối tượng nộp thuế, đối tượng tính thuế,cách xác định mức thuế phải nộp, thời hạn nộp thuế, cách thức nộp thuế, các
cơ quan thu, hành vi nào bị coi là vi phạm, thẩm quyền phạt và mức phạt cầnphải được qui định cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu để đa số dân chúng đều có thểhiểu được quyền và nghĩa vụ về thuế của mình Đây cũng chính là phương
án phòng ngừa tốt đối với những hành vi vi phạm pháp luật thuế Trong quátrình ban hành luật thuế, tính công khai được thể hiện ở việc công bố vănbản pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian luậtđịnh, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho quá trình quản lý, thu và nộp thuế.Việc thực hiện quản lý, thu nộp thuế được thực hiện bởi nhiều đối tượng
Trang 27khác nhau, kể cả các cơ quan chính quyền địa phương, các tổ chức quản lý,chi trả thu nhập… nên công bố các thông tin liên quan đến trách nhiệm thuếcủa từng chủ thể cũng có ý nghĩa pháp lý quan trọng – Đảm bảo tính ổnđịnh Tính ổn định của hệ thống pháp luật thuế thực chất cũng thể hiện sựcông bằng, minh bạch của pháp luật Tính ổn định của hệ thống pháp luậtthuế yêu cầu nhà hoạch định chính sách cũng như cơ quan lập pháp cần có
dự báo về xu hướng phát triển và những vấn đề phát sinh, cần điều chỉnhbằng pháp luật đối với những nội dung gắn với phạm vi điều chỉnh của Luậtthuế đó Đảm bảo tính ổn định của hệ thống pháp luật thuế sẽ dễ dàng hơntrong việc thực hiện, ổn định và thu hút đầu tư, tăng trưởng kinh tế Xét ởkhía cạnh tài chính, ổn định hệ thống pháp luật thuế là căn cứ quan trọng đểthực hiện cân đối ngân sách nhà nước, tạo sự chủ động thực sự cho cả kỳ ổnđịnh ngân sách Tuy vậy, cũng cần phải chỉ ra rằng, ở các nước có nền kinh
tế thị trường ổn định và phát triển, tính ổn định của hệ thống pháp luật thuếnói chung cũng như từng luật thuế nói riêng cao hơn nhiều so với hệ thốngpháp luật thuế tương ứng của các nước đang có nền kinh tế chuyển đổi ViệtNam vừa là quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, vừa là nước có nền kinh tếđang phát triển nhưng ở mức độ thấp, tính ổn định của hệ thống pháp luậtthuế bị hạn chế Ổn định là yêu cầu quan trọng đối với qui định pháp luật vềthuế vì chúng giúp cho nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn đầu tư vào lĩnh vực lựachọn Điều này hoàn toàn phù hợp cả về yêu cầu lý luận cũng như thực tiễn.Hoạt động đầu tư chỉ có thể tính toán và xác định khả năng sinh lời thực tếcủa nguồn vốn đầu tư sau một thời gian tối thiểu mà nhà đầu tư dự tính Thờigian đầu tư thường là trung hạn hoặc dài hạn (đây chính là điểm khác biệtkhi cần thiết phải đánh giá giữa hành vi đầu tư với hành vi đầu cơ) Nếu hệthống pháp luật thuế không ổn định, hoạt động đầu tư sẽ gặp nhiều khókhăn, chưa nói đến việc xác định kết quả đầu tư Tuy nhiên, điểm chung củacác quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi là hệ thống pháp luật thường xuyên
Trang 28bị biến động Có nhiều lý do khác nhau được đưa ra để lý giải cho thực tếnày nhưng sự bất ổn định như vậy không được các nhà đầu tư ủng hộ Đểđảm bảo tính ổn định cho cả hệ thống pháp luật thuế cũng như từng Luậtthuế, cần xác định tính định hướng đón đầu của tiến trình phát triển kinh tế
xã hội trong nước và hội nhập kinh tế quốc tế và những ảnh hưởng cũng nhưyêu cầu của chúng đối với hệ thống pháp luật thuế Đối với từng Luật thuế
cụ thể phải tính toán đến những qui định mang tính chất lâu dài về đốitượng, phạm vi điều chỉnh, thuế suất áp dụng trong một thời kỳ nhất định.Trong quá trình áp dụng có thể có những điều chỉnh chính sách pháp luậtthuế cũng như từng luật thuế cụ thể nhưng sự điều chỉnh đó phải tuân thủđúng lộ trình đã dự liệu, hoạch định nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực củachúng Cũng như các nước, Việt Nam cần phải thận trọng trong việc hoạchđịnh và ban hành một Luật thuế cũng như thực hiện quá trình cải cách hệthống pháp luật thuế, xuất phát từ yêu cầu ổn định hệ thống pháp luật củađất nước có nền kinh tế chuyển đổi với điều kiện cụ thể của nền kinh tế còn
ở trình độ chưa cao Xác định được yêu cầu cụ thể này có ý nghĩa quan trọngtrong quá trình ban hành hệ thống pháp luật thuế Chẳng hạn như, việc banhành, sửa đổi, bổ sung Luật thuế giá trị gia tăng và luật thuế thu nhập doanhnghiệp không chỉ tác động tức thời tới đối tượng nộp thuế mà còn ảnh hưởngtrực tiếp tới cân đối ngân sách nhà nước, tới việc phân định nguồn thu giữacác cấp ngân sách Nếu như trong giai đoạn hiện tại, nguồn thu từ thuế củangân sách cấp xã, phường, thị trấn vẫn có thu từ thuế của hoạt động sản xuấtkinh doanh trên địa bàn, một số khoản thu từ đất, nếu Luật thuế thu nhập cánhân được ban hành, ngân sách cấp xã phường thị trấn hầu như không còncác khoản thu này do phạm vi áp dụng và căn cứ tính thuế có sự thay đổiquan trọng;Xây dựng và tôn trọng trách nhiệm của người nộp thuế trongquan hệ pháp luật thuế Trong lịch sử hình thành và phát triển pháp luậtthuế, dường như thuế luôn gắn với quan niệm của sự ép buộc, cưỡng bức,
Trang 29luôn có tính chất cưỡng chế đặc biệt Tuy nhiên, nếu xem xét ở góc độhưởng thụ kết quả của những chi tiêu công cộng do Nhà nước thực hiện,người dân sẽ thấy được việc thu thuế là nhu cầu tất yếu của chủ thể quản lýcao nhất trong xã hội – Nhà nước Chắc chắn còn nhiều tranh luận, tronggiai đoạn hiện nay, vấn đề xây dựng “xã hội công dân” được đề cập mạnh
mẽ đặt ra yêu cầu cần tôn trọng đúng mức người nộp thuế Qui định cụ thể
về nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế cần tương ứng với quyền hạn
và nghĩa vụ của cơ quan thu, cán bộ thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thu.Khi người dân nộp thuế được tôn trọng và xác định trước trách nhiệm, nghĩa
vụ của mình trong quan hệ thuế, họ sẽ chấp thuận (tất nhiên ở những mức độ
và biểu hiện cụ thể khác nhau) đối với hệ thống pháp luật thuế Xây dựng vàtôn trọng trách nhiệm của người nộp thuế có thể được xem xét và thể hiện ởnhiều khía cạnh cụ thể khác nhau Việc người nộp thuế nhận thức đúng tráchnhiệm và tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thuế cần được ghi nhận và bảo đảmthực hiện Điều này hoàn toàn không mâu thuẫn và làm mất đi tính chất bắtbuộc, uy quyền của Nhà nước trong quan hệ pháp luật thuế Chẳng hạn nhưviệc Luật định người nộp thuế có thể thực hiện nộp thuế theo chế độ tự kêkhai, tự nộp thuế hoàn toàn không làm mất đi tính chất bắt buộc của thuế vàcũng không làm mất đi vai trò của các cơ quan thu Bên cạnh những qui địnhnhằm tạo quyền tự chủ của đối tượng nộp thuế, những qui phạm mang tínhchất răn đe hoặc những biện pháp cưỡng chế thực hiện thuế là hoàn toàn cầnthiết để đạt được mục đích cuối cùng là đảm bảo nguồn thu quan trọng chongân sách nhà nước Việc ghi nhận và tôn trọng người nộp thuế cũng là cáchthức để các cơ quan thu, nhân viên của hệ thống các cơ quan thu giảm thiểucác hành vi mang tính lạm quyền, có cách nhìn nhận đúng đắn về những đốitượng tạo ra của cải xã hội và tạo nguồn vật chất cho chi tiêu của Nhà nước.Tôn trọng người nộp thuế còn cần được thể hiện thông qua những qui địnhnhằm bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế, kể cả quyền khiếu kiện và giải
Trang 30quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình quản lý, thu và nộp thuế Nếu nhưnhững vấn đề này trong giai đoạn trước đây hầu như không được đặt ra vàkhó có thể được chấp nhận thì giai đoạn cụ thể này, không những chúngđang được đặt ra như một thực tế khách quan mà còn có nhiều văn bản đềcập tới việc tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người nộpthuế Những qui định liên quan đến nghĩa vụ của hệ thống các cơ quan thu,qui định về trình tự thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại, trình tự giảiquyết tranh chấp về thuế là những ví dụ cụ thể.
1.3 Vai trò của pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản
Là một bộ phận của hệ thống pháp luật thuế, luật thuế thu nhập cá nhânvới hoạt động chuyển nhượng bất động sản vừa mang các vai trò chủ yếu củapháp luật thuế nói chung, vừa có các vai trò riêng mà các luật thuế kháckhông có được
1.3.1 Đối với nền kinh tế- xã hội
Tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, trong đó thuế thunhập cá nhân với hoạt động chuyển nhượng bất động sản là một trong những
bộ phận quan trọng cấu thành thuế nói chung nên cũng góp một phần quantrọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nước Thuế thu nhập cá nhân nói chung
và thuế thu nhập cá nhân với hoạt động chuyển nhượng bất động sản nói riêngđược tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn Bêncạnh đó, thuế thu nhập cá nhân tác động trực tiếp vào thu nhập của dân cư màngười dân của bất kỳ quốc gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng có thunhập ngày càng cao để nâng cao đời sống vật chất tinh thần Thuế thu nhập cánhân luôn có sự gia tăng nhanh chóng cùng với sự tăng lên của thu nhập bìnhquân đầu người Luật thuế thu nhập cá nhân tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước
Trang 31thực hiện thu ngân sách nhà nước
Góp phần thực hiện công bằng xã hội
Thực hiện công bằng trong xã hội là một trong nhưng vai trò quantrọng của pháp luật thuế nói chung, ngoài ra với luật thuế thu nhập cá nhâncùng với việc thực hiện biểu thuế luỹ tiến từng phần, thuế thu nhập cá nhân đãthực hiện được việc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng trong xã hội
Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm
Luật Thuế thu nhập cá nhân cũng có tác dụng điều tiết vĩ mô đối vớinền kinh tế Loại thuế này điều tiết trực tiếp thu nhập cá nhân nên một mặt tácđộng trực tiếp đến tiết kiệm, mặt khác làm cho khả năng thanh toán của các cánhân bị giảm Từ đó cầu hàng hoá, dịch vụ giảm sẽ tác động đến sản xuất
Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp
Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhậnđược từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụngnhững kẽ hở của pháp luật mà nhà nước không kiểm soát được như tham ô,nhận hối lộ, buôn bán hàng quốc cấm, trốn tránh thuế, lừa đảo chiếm đoạt tàisản của nhà nước và công dân… Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đếnđời sống kinh tế–xã hội của mỗi quốc gia Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biệnpháp để ngăn chặn và chống lại những hành vi trên, một trong số các biệnpháp ngăn chặn đó thì phải kể đến vai trò của pháp luật thuế thu nhập cá nhân
1.3.2 Đối với hệ thống pháp luật thuế
Pháp luật thuế thu nhập cá nhân góp phần khắc phục nhược điểm củamột số loại thuế khác
Một số thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều cónhược điểm là có tính luỹ thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn ngườigiàu vì khi tiêu thụ cùng một lượng hàng hoá mọi người không phân biệt giàunghèo và đều phải chịu thuế như nhau Nếu tính thuế thu nhập cá nhân theo
Trang 32phương pháp luỹ tiến từng phần sẽ góp phần khắc phục được nhược điểm này
1.3.3 Pháp luật thuế thu nhập cá nhân là công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô
Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuầncho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năngviệc kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sảnxuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng pháttriển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặtmất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân
Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng Luật Thuế thu nhập cá nhân đóngvai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt làthuế thu nhập cá nhân với hoạt động chuyển nhượng bất động sản Tuynhiên, vì công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân còn nhiều hạn chế nênnhững vai trò này vẫn chưa thực sự được phát huy vai trò tác dụng của nó,nhất là đối với thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng bấtđộng sản ở Việt Nam
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Từ sự phân tích khái quát về thuế thu nhập cá nhân và pháp luật thuếthu nhập cá nhân đối với việc chuyển nhượng bất động sản có thể cho thấy,thuế là một khoản thu của ngân sách nhà nước mang tính bắt buộc, khôngmang tính hoàn trả trực tiếp và được pháp luật quy định đối với các tổ chứckinh tế xã hội cũng như mọi thành viên trong xã hội Pháp luật thuế thu nhập
cá nhân áp dụng đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản vừa tạo cơ sởpháp lý cho hoạt động thu ngân sách nhà nước, vừa đảm bảo tiều tiết thu nhậpcủa cá nhân trong xã hội
Trang 34Chương 2
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP
CÁ NHÂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN TỪ THỰC TIỄN TẠI THÁI NGUYÊN
2.1 Những đặc trưng cơ bản về kinh tế xã hội của Thái Nguyên và tình hình chuyển nhượng bất động sản trên địa bàn Thái Nguyên
2.1.1 Những đặc trưng cơ bản về kinh tế xã hội của Thái Nguyên
Tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nóiriêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưukinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ; phíaBắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, TuyênQuang, phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam tiếpgiáp với thủ đô Hà Nội (cách 80 km); diện tích tự nhiên 3.562,82 km²
2.1.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi hành chính
Tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nóiriêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưukinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ; phíaBắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, TuyênQuang, phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía Nam tiếpgiáp với thủ đô Hà Nội (cách 80 km); diện tích tự nhiên 3.562,82 km²
Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính: Thành phố Thái Nguyên;Thị xã Sông Côngvà 7 huyện: Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, ĐịnhHóa, Đại Từ, Phú Lương Tổng số gồm 180 xã, trong đó có 125 xã vùng cao
và miền núi, còn lại là các xã đồng bằng và trung du
Với vị trí rất thuận lợi về giao thông, cách sân bay quốc tế nội bài 50
km, cách biên giới Trung Quốc 200 km, cách trung tâm Hà Nội 75 km và
Trang 35cảng Hải Phòng 200 km Thái Nguyên còn là điểm nút giao lưu thông qua hệthống đường bộ, đường sắt, đường sông hình rẻ quạt kết nối với các tỉnhthành, đường quốc lộ 3 nối Hà Nội đi Bắc Kạn; Cao Bằng và cửa khẩu ViệtNam – Trung Quốc; quốc lộ 1B Lạng Sơn; quốc lộ 37 Bắc Ninh, Bắc Giang.
Hệ thống đường sông Đa Phúc - Hải Phòng; đường sắt Thái Nguyên – Hà Nội
- Lạng Sơn
2.1.1.2 Tiềm năng và tài nguyên thiên nhiên
Địa hình không phức tạp lắm so với các tỉnh trung du, miền núi khác,đây là một thuận lợi của Thái Nguyên cho canh tác nông lâm nghiệp và pháttriển kinh tế xã hội nói chung so với các tỉnh trung du miền núi khác
Khí hậu tỉnh Thái Nguyên chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 Lượng mưa trung bìnhhàng năm khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vàotháng 1 Mùa đông được chia thành 3 vùng rõ rệt: Vùng lạnh nhiều nằm ởphía bắc huyện Võ Nhai; Vùng lạnh vừa gồm các huyện Định Hóa, PhúLương và phía nam huyện Võ Nhai; Vùng ấm gồm các huyện: Đại Từ, Thànhphố Thái Nguyên, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên và Thị xã Sông Công Nhiệt
độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9°C) với tháng lạnh nhất(tháng 1: 15,2°C) là 13,7°C Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.300đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm Nhìnchung, khí hậu tỉnh Thái Nguyên thuận lợi cho phát triển ngành nông, lâmnghiệp Với đặc điểm khsi hậu này và nhu cầu phát triển nông nghiệp, hoạtđộng chuyển nhượng bất động sản liên quan đến du lịch sinh thái được coi làđiểm mạnh của Thái Nguyên
Tài nguyên khoáng sản phong phú về chủng loại, là một lợi thế so sánhlớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng…Tỉnh Thái Nguyên có trữ lượng than lớn thứ hai trong cả nước, than mỡ trữlượng trên 15 triệu tấn, than đá trữ lượng khoảng 90 triệu tấn; kim loại màu có
Trang 36thiếc, chì, kẽm, vonfram, vàng, đồng, niken, thuỷ ngân… Khoáng sản vật liệuxây dựng cũng là tiềm năng nguyên liệu rất lớn để sản xuất xi măng, sản xuất
đá ốp lát các loại và sản xuất vật liệu xây dựng Với đặc điểm này, nhữngkhoản thu từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất sẽ ngàycàng tăng cao do mức thu nhập của một số cá nhân trên địa bàn phát sinh từhoạt động khai khoáng hoặc du nhu cầu của các cá nhân khi thực hiện đầu tưkinh doanh trên địa bàn Thái Nguyên
Hạ tầng cơ sở như hệ thống điện, nước, bưu chính viễn thông, giaothông (kể cả đường bộ, đường sắt và đường thuỷ) phát triển khá hoàn thiện vàthuận lợi
Với lợi thế có nhiều danh lam thắng cảnh tự nhiên như Hồ Núi Cốc,hang Phượng Hoàng, các di tích lịch sử như: An toàn khu Việt Bắc - ATK, córừng Khuôn Mánh và di tích khảo cổ học thời kỳ đồ đá cũ ở huyện Võ Nhai.Bên cạnh đó, còn có các di tích kiến trúc nghệ thuật chùa chiền, đình, đền tạinhiều địa phương trong tỉnh như: Khu Bảo tàng Văn hoá các dân tộc ViệtNam, Đền Đuổm, chùa Hang, chùa Phủ Liễn, đền Xương Rồng, đền Đội Cấn.Hiện nay, Thái Nguyên đang triển khai quy hoạch khu du lịch hang PhượngHoàng, suối Mỏ Gà, Hồ Suối Lạnh và cả hệ thống khách sạn chất lượng caogầnđạt tiêu chuẩn quốc tế Năm 2007 Thái Nguyên đã tổ chức rất thành côngnăm du lịch quốc gia hướng về cội nguồn chiến khu Việt Bắc thu hút hàngtriệu khách du lịch đến thăm trong đó có nhiều khách nước ngoài
2.1.1.3 Dân số, nguồn nhân lực, truyền thông văn hoá và ngành nghề của dân cư
Dân số Thái Nguyên khoảng 1,2 triệu người, trong đó có 8 dân tộc chủyếu sinh sốngđó là Kinh, Tày, Nùng, Sán dìu, H’mông, Sán chay, Hoa vàDao Ngoài ra, Thái Nguyên được cả nước biết đến là một trung tâm đào tạonguồn nhân lực lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với 6Trường Đại học, 11 trường Cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, 9 trung tâmdạy nghề, mỗi năm đào tạo được khoảng gần 100.000 lao động;
Trang 37Là một trung tâm y tế của vùng Đông Bắc với 01 Bệnh viên Đa khoa
TW, 9 Bệnh viện cấp tỉnh và 14 Trung tâm y tế cấp huyện; Là một nơi cónhững địa danh du lịch lịnh sử, sinh thái – danh thắng, có nhiều danh thắngtầm cỡ chưa được đầu tư khai thác xứng tầm như: Hồ Núi Cốc, Hang Thần Sa– Thác Mưa bay và Hồ thuỷ lợi Văn Lăng và Khu đô thị hai bờ Sông Cầu
2.1.1.4 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm gần đây có nhiềuthuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh, một số ngành nghề trọng điểmđều có sự tăng về năng lực sản xuất; các thành phần kinh tế đều có sự tăngtrưởng, nhất là kinh tế ngoài quốc doanh đã khẳng định vị trí của mình trongnền kinh tế nhiều thành phần song cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn,thách thức như: thiên tai, dịch bệnh gia súc; giá cả đầu vào ở hầu hết cácngành sản xuất đều tăng làm cho chi phí sản xuất tăng cao đã đẩy giá thànhsản phẩm tăng lên, ảnh hưởng không nhỏ tới sức cạnh tranh; kết cấu cơ sở hạtầng, nhất là kết cấu hạ tầng khu vực nông thôn miền núi tuy đã cải thiệnnhưng vẫn thiếu và xuống cấp; lĩnh vực xã hội còn nhiều bức xúc,tai nạn giaothông tuy có nhiều biện pháp nhằm kiềm chế nhưng vẫn chưa có xu hướnggiảm Song với sự chỉ đạo quyết tâm và nỗ lực cố gắng các cấp, các ngành
và nhân dân toàn tỉnh nên tình hình kinh tế xã hội đã thu được kết quả đáng
kể, kinh tế tiếp tục phát triển theo chiều hướng tích cực
Thái Nguyên với đặc điểm là phụ thuộc không nhiều vào xuất khẩu và tỷtrọng sản xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thấp hơn nhiều
so với bình quân chung cả nước nên kinh tế của tỉnh bị ảnh hưởng nhẹ hơn sovới cả nước Bên cạnh đó, bằng những chính sách mạnh mẽ, kịp thời, phùhợp; cùng với sự cố gắng, nỗ lực của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp vànhân dân toàn tỉnh, nên tình hình kinh tế - xã hội năm trên địa bàn đã dầnphục hồi trong, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ổn định, trật tự antoàn xã hội được giữ vững
Trang 38Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) trên địa bàn là 9,1% (kế hoạch điềuchỉnh là tăng 9%); GDP bình quân đầu người năm ước đạt 14,6 triệu đồng,vượt mục tiêu kế hoạch và tăng 2,5 triệu đồng/người so với năm trước; Giá trịxuất khẩu trên địa bàn ước đạt 65,38 triệu USD, bằng 93,4% kế hoạch điềuchỉnh Trong đó, xuất khẩu địa phương là 52,17 triệu USD, bằng 65,8% sovới cùng kỳ; Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 1.631,87 tỷ đồng,trong đó tổng thu ngân sách trong cân đối là 1.422,37 tỷ đồng, bằng 124,22%
dự toán đầu năm; bằng 108% dự toán điều chỉnh và tăng 28,48% so với năm
2008 Riêng thu nội địa 1.308,17 tỷ đồng; bằng 120,57% dự toán đầu năm;bằng 108,38% dự toán điều chỉnh; Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp,thuỷ sản ước đạt 2.316 tỷ đồng, bằng mục tiêu kế hoạch điều chỉnh; Giá trịsản xuất trên 1 ha đất nông nghiệp trồng trọt ước đạt 47 triệu đồng, bằng mụctiêu kế hoạch điều chỉnh; Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi là 625 tỷ đồng; Sảnlượng lương thực có hạt ước đạt 408,3 nghìn tấn, bằng 102,1% kế hoạch;Diện tích trồng rừng tập trung toàn tỉnh (từ tất cả các nguồn: dân tự trồng;doanh nghiệp và trồng theo dự án của nhà nước) đạt 6.565 ha Trong đó, riêngđịa phương trồng theo dự án 661 đạt 5.045 ha, bằng 112,1% kế hoạch; Diệntích chè trồng mới và trồng lại được 709 ha, đạt 118,2% kế hoạch;
2.1.1.5 Triển vọng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020
Xây dựng tỉnh Thái Nguyên trở thành một trong những trung tâm kinh
tế (công nghiệp, thương mại, du lịch), văn hoá, giáo dục, y tế của Vùng trung
du và miền núi Bắc Bộ; có hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối hiện đại vàđồng bộ; có nền văn hoá lành mạnh và đậm đà bản sắc dân tộc; quốc phòng –
an ninh vững mạnh; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừngđược nâng cao Với mục tiêu cụ thể như sau:
a) Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 2006 2010 đạt 12% 13%/năm, thời kỳ 2011-2015 đạt 12,0 - 12,5%/năm và thời kỳ 2016 - 2020đạt 11 - 12%/năm; trong đó, tăng trưởng bình quân của các ngành trong cả