1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Tình trạng suy dinh dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng đến trẻ suy dinh dưỡng tại khoa Nhi – bệnh viện đa khoa huyện Mai Sơn

45 115 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 400 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những vấn đề trên, để đánh giá thực trạng suy dinh dưỡng của các bệnh nhân nhập viện, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình trạng suy dinh dưỡng và một số yếu tố ảnh

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dinh dưỡng đóng một vai trò rất quan trọng với sức khỏe con người, đặcbiệt là trẻ em dưới 5 tuổi Dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tăngtrưởng và phát triển của trẻ em, ảnh hưởng đến bệnh tật, làm bệnh dễ phát sinh,kéo dài thời gian mắc bệnh hoặc làm bệnh nặng hơn ở những trẻ bị suy dinhdưỡng

Suy dinh dưỡng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ởtrẻ em dưới 5 tuổi Hậu quả của suy dinh dưỡng cả thể nhẹ và thể vừa đều nặng

nề Suy dinh dưỡng là vấn đề của sức khỏe cộng đồng luôn được các quốc giaquan tâm Dinh dưỡng không đầy đủ vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ởtrẻ em dưới 5 tuổi Một phần ba số ca tử vong ở trẻ em (khoảng 3,9 triệu trẻ emmỗi năm) Hàng năm trên thế giới có khoảng 10,9 triệu trẻ em sinh ra bị suy dinhdưỡng bào thai, 17,1 triệu trẻ em bị suy dinh dưỡng thể thấp còi (chiều cao theotuổi thấp), 11,5 triệu trẻ em bị gầy còm nặng (cân nặng theo tuổi thấp)

Tại Việt Nam, theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng Quốc gia năm

2015 tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam trong ba thập kỷ qua đãđược cải thiện đáng kể Tính từ năm 1985 đến năm 2015 tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi

bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân đã giảm từ 59,7% xuống còn 24,9% Tuy nhiên,tình trạng SDD của trẻ em nước ta đã giảm nhưng vẫn còn cao so với các nướckhác Suy dinh dưỡng là nguyên nhân chính và cũng là hậu quả của bệnh SDDảnh hưởng đến chức năng và sự hồi phục của hệ thống các cơ quan trong cơ thể,làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, kéo dài thời gian điều trị

Huyện Mai Sơn có dân số đông và nhiều dân tộc sinh sống và có nhiều nétriêng biệt; khác nhau trình độ văn hoá không đồng đều Phần lớn các dân tộc ítngười trình độ văn hoá thấp, điều kiện sống còn nhiều khó khăn, phong tục tập

Trang 2

quán còn lạc hậu; tiếp cận các dịch vụ y tế còn hạn chế và nhiều yếu tố kháckhông thuận lợi đặc biệt trong vấn đề chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, điều đó

sẽ là những cản trở trong việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về dinhdưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi

Xuất phát từ những vấn đề trên, để đánh giá thực trạng suy dinh dưỡng

của các bệnh nhân nhập viện, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình trạng suy dinh dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng đến trẻ suy dinh dưỡng tại khoa Nhi – bệnh viện đa khoa huyện Mai Sơn” Với 2 mục tiêu :

1 Đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi đến điều trị tại khoa Nhi, bệnh viện đa khoa huyện Mai Sơn trong năm 2015 - 2016.

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ

em dưới 5 tuổi.

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Khái niệm chung về dinh dưỡng.

1.1.1 Dinh dưỡng

Dinh dưỡng (DD) là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối cácthành phần dinh dưỡng, đảm bảo cho sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơthể để đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực và các hoạt động xã hội

TTDD tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sứckhỏe Khi cơ thể có TTDD không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện cóvấn đề sức khỏe hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai

1.1.3 Suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu Protein, năng lượng và các vichất dinh dưỡng Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độkhác nhau, nhưng ít nhiều đều có sự ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinhthần và vận động của trẻ

Tùy theo sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng mà suy dinh dưỡng thể hiện cácthể, mức độ khác nhau

Trang 4

1.2 Nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến tình trạng SDD trẻ em dưới 5 tuổi

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng SDD thiếu protein, nănglượng ở trẻ em dưới 5 tuổi, trong đó thực phẩm, sức khỏe và chăm sóc là bộ bacác thành tố thiết yếu trong chiến lược phòng chống SDD ở trẻ em

Nguyên nhân trực tiếp gây SDD trẻ em gồm ăn uống không hợp lý vàbệnh tật:

- Khẩu phần ăn các số liệu điều tra riêng về khẩu phần ăn của người lớn vàtrẻ em cho thấy chế độ ăn đóng vai trò quan trọng dẫn tới tình trạng SDD ở ViệtNam Nhìn chung, khẩu phần ăn ở cả người lớn và trẻ em ở nước ta còn ở mứcthấp so với các nước trong khu vực Đối với trẻ trên 2 tuổi thì hầu hết các giađình cho trẻ ăn cơm cùng bữa cơm với gia đình, nhưng số bữa ăn hàng ngày thấp(trung bình ba bữa/ngày) Ngay ở nhóm trẻ 24 - 36 tháng tuổi cũng chỉ có 17,5%được ăn 3 bữa/ngày Tần xuất xuất hiện các thực phẩm như thịt, cá, trứng, sữatrong bữa ăn của trẻ thấp, thường do điều kiện kinh tế gia đình hoặc do hiểu biếtcủa bố mẹ về chăm sóc dinh dưỡng trẻ em còn quá hạn chế

- Bệnh tật

Thiếu dinh dưỡng và bệnh nhiễm trùng ở trẻ em gây ảnh hưởng tới sự pháttriển chung của trẻ trong thời gian dài Ở các nước đang phát triển, sự lưu hànhcủa các bệnh nhiễm trùng, thiếu dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em cao hơn ở cácnước phát triển Thiếu máu có thể do nguyên nhân thiếu dinh dưỡng, mắc cácbệnh nhiễm trùng và do mất máu Thiếu sắt là nguyên nhân chính của 50% cáctrường hợp thiếu máu Thiếu một số các vi chất dinh dưỡng khác như vitaminnhóm B (B6, B12, Riboflavin) và axit folic cũng có thể gấy thiếu máu

Trang 5

Nhiễm ký sinh trùng đường ruột cũng là nguyên nhân quan trọng gây raSDD, thiếu máu ở trẻ em Một số nghiên cứu về nhiễm giun ở trẻ em cho thấy tỷ

lệ nhiễm giun rất cao (khoảng 60 – 95 %) với các loại giun chủ yếu là giun đũa

và giun móc Nhiễm các loại giun cũng là vấn đề cần được nghiên cứu để tìm racác giải pháp phù hợp Nhiễm ký sinh trùng đường ruột là một vấn đề sức khỏecộng đồng ở các nước đang phát triển do điều kiện vệ sinh môi trường khôngđảm bảo Nhiềm giun làm cho trẻ chán ăn, giảm hấp thu các chất dinh dưỡng,thiếu máu và gây ảnh hưởng đến TTDD của trẻ Nhiễm ký sinh trùng đường ruộtvới cường độ cao và trong một thời gian dài có thể gây SDD như thấp còi, nhẹcân và những trường hợp nặng có thể gây tử vong

Nguyên nhân gốc rễ của SDD của trẻ em đó là đói và thiếu kiến thức Đóinghèo chủ yếu rơi vào những hộ gia đình có trình độ học vấn thấp, khó có cơ hộitiếp xúc với thông tin và với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Mặt khác, phần lớncác hộ gia đình nghèo, nhất là vùng nông thôn và miền núi lại thường sinh nhiềucon Vì gia đình đông con nên chế độ dinh dưỡng, khẩu phần ăn của trẻ khôngđược đảm bảo Chính điều này tạo nên vòng luẩn quẩn của đói nghèo khó giảiquyết

Bên cạnh đó còn có một số nguyên nhân cơ bản tác động đến TTDD củatrẻ em như tiềm năng của đất nước, cơ cấu kinh tế xã hội, đường lối chính sáchcủa mỗi quốc gia Mỗi yếu tố ảnh hưởng đến công tác chăm sóc và bảo vệ sứckhỏe trẻ em có những nét riêng biệt trên mỗi vùng miền, mỗi địa phương mỗinước

Trẻ em bị SDD nếu không được chăm sóc sẽ có thể dẫn đến tử vong Theotài liệu của Tổ Chức Y tế thế giới, trong số 11,6 triệu trường hợp tử vong hàng

Trang 6

năm ở trẻ em dưới 5 tuổi tại các nước đang phát triển thì 6,3 triệu (54%) có liênquan đến thiếu dinh dưỡng.

1.3 Hậu quả của suy dinh dưỡng

Trẻ bị suy dinh dưỡng dể mắc bệnh nhiễm khuẩn, diễn biến thường nặng

và dẫn đến tử vong

1.3.1 Suy dinh dưỡng và tình trạng bệnh tật tử vong

Hậu quả của suy dinh dưỡng thể nặng không còn là vấn đề bàn cãi nữa,nhưng đối với thể vừa và thể nhẹ các hậu quả cũng không kém phần quan trọng

Trên những trẻ bị SDD thường kèm theo tình trạng thiếu các vi chất cầnthiết như: vi ta min A, sắt, kẽm là giảm sức chống đỡ các bệnh nhiễm trùng.Người ta ước tính khoảng 50 – 60% trẻ dưới 5 tuổi tử vong do nguyên nhân tiềm

ẩn là SDD Trong đó, 50 – 70% gánh nặng bệnh tật của tiêu chảy, sởi, sốt rét,nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ em toàn thế giới là do sự góp mặt của SDD

1.3.2 Thiếu dinh dưỡng với phát triển hành vi và trí tuệ.

Có thể thấy mối liên quan giữa thiếu dinh dưỡng và phát triển trí tuệ hành

vi qua những cơ chế sau:

- Do thiếu nhiều chất dinh dưỡng cùng lúc, trong đó có các chất dinhdưỡng cần thiết cho sự phát triển trí tuệ như: I ốt, sắt…

- Trẻ em thiếu dinh dưỡng thường lờ đờ, chậm chạp, ít năng động nên íttiếp thu được qua giao tiếp với cộng đồng và người chăm sóc

- Các thực nghiệm về ăn uống bổ sung tỏ ra có hiệu quả với các chỉ sốphát triển trí tuệ

Trang 7

Với sự hiểu biết hiện nay, người ta thấy SDD sớm trong bào thai và trongnhững năm đầu của cuộc đời có ảnh hưởng xấu đến phát triển trí tuệ ít nhất là cảđời niên thiếu.

1.3.3 Suy dinh dưỡng và sức khỏe khi trưởng thành.

Những trẻ thấp bé sẽ trở thành những người trưởng thành có tầm vóc bénhỏ, năng lực sản xuất kém

Gần đây người ta thấy sự liên quan giữa SDD trước đó và thừa dinh dưỡng

về sau và đó là sự kết hợp đặc biệt nguy hiểm Người ta nhận thấy các bệnh mạntính không lây đang trội lên ở các nước đang phát triển có khi còn mạnh hơn ởcác nước phát triển trước đây, đặc biệt ở các nước đang phát triển nhanh Đối vớiSDD thể thấp còi người ta cũng nhận thấy có mối liên quan giữa thấp còi và thừacân ở trẻ em Ở các nước nghèo, số đông trẻ em bị thấp còi và thừa cân, nhưngkhi thu nhập tăng, điều kiện sống thay đổi, chúng dễ dàng trở nên béo phì, màchúng ta đều biết phòng chống béo phì ở trẻ em cũng khó khăn không kémphòng chống SDD, thiếu cân

1.4 Phương pháp đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em

Ở thời kỳ đầu, để đánh giá tình trạng DD người ta chỉ dựa vào các nhậnxét đơn giản như: gầy, béo, tiếp đó là dựa vào một số chỉ tiêu nhân trắc như:Brock, Quetelet, Pignet Hiện nay sử dụng các số đo nhân trắc trong đánh gíatình trạng DD là phương pháp dễ làm và được áp dụng rộng rãi

1.4.1 Các số đo nhân trắc

Đánh giá tình trạng DD của trẻ thông qua các số đo nhân trắc: cân nặng vàchiều cao, song từng số đo riêng lẻ và chiều cao hay cân nặng sẽ không có ýnghĩa, chúng chỉ có ý nghĩa khi kết hợp với tuổi, giới hoặc kết hợp với các số đo

Trang 8

của trẻ với nhau và phải được so sánh với giá trị của quần thể tham khảo Hiệnnay người ta nhận định tình trạng DD trẻ em chủ yếu dựa vào 3 chỉ số là cânnặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao

- Cân nặng theo tuổi (CN/T) là chỉ số đánh giá tình trạng DD thông dụng

từ những năm 50 của thế kỷ trước Chỉ số này được dùng để đánh giá tình trạng

DD của cá thể hay cộng đồng, nhưng chỉ số này không cho biết là thiếu dinhdưỡng trong quá khứ hay hiện tại

- Chiều cao theo tuổi (CC/T) phản ánh tiền sử dinh dưỡng (SDD trong quákhứ) CC/T thấp là chỉ tiêu phản ánh tốt nhất ảnh hưởng tích lũy dài hạn do chế

độ ăn uống không đầy đủ hoặc do mắc bệnh mang lại

- Cân nặng theo chiều cao (CN/CC) là chỉ số đánh giá tình trạng DD hiệntại Chỉ số này phản ánh SDD cấp CN/CC thấp phản ánh tình trạng thiếu dinhdưỡng ở thời kỳ hiện tại hay gần đây làm cho đứa trẻ không tăng cân được hoặcgiảm cân

1.4.2 Cách nhận định kết quả

Trước đây WHO dựa trên số liệu Quần thể tham khảo của hoa kỳ đã đưa

ra Quần thể tham khảo, làm giá trị tham chiếu để nhận định tình trạng DD trẻ emcho các quốc gia thành viên Tuy nhiên WHO cũng khuyến cáo nên coi Quần thểtham khảo là chuẩn mà chỉ là cơ sở để đưa ra nhận định,thuận tiện cho các sosánh trong nước và quốc tế Sử dụng Quần thể tham khảo NCHS với ngưỡngthấp hơn 2 độ lệch chuẩn (<-2SD) và chia ra các độ như sau:

Trang 9

Bảng 1.1 Phân loại mức độ suy dinh dưỡng ở trẻ em Chỉ tiêu

Phân loại

CN/T (nhẹ cân W/A)

CC/T (thấp còi H/A)

CN/CC (Gầy còm W/H)

< - 2SD

Từ < - 2SD đến – 3SDDưới – 3SD

< - 2SD

Để so sánh số liệu quốc gia hoặc cộng đồng khác,WHO đã đưa ra bảngphân loại ý nghĩa sức khỏe cộng đồng của thiếu dinh dưỡng như sau:

Bảng 1.2 Phân loại mức độ thiếu dinh dưỡng trẻ em ở cộng đồng

Cách phân loại dựa vào phần trăn so với trung vị

Để tính toán theo cách này người ta coi giá trị trung vị là 100% rồi tínhgiá trị đo được trên đứa trẻ đạt bao nhiêu phần trăm so với trung vị

• Phân loại của GOMEZ

- Nguyên tắc: Dựa trên chỉ số cân nặng theo tuổi so với trung vị của quầnthể tham khảo Harvard

Trang 10

số WFA lại khó đưa ra quyết định chính xác.

• Phân loại theo Welcome (1970)

Bảng 1.3 Phân loại SDD của Welcome

% cân nặng mong đợi

theo tuổi

Phù

< 60% Marasmus và kwashiokor Marasmus

• Phân loại theo Welcome (1972)

Sử dụng cả chỉ số cân nặng theo chiều cao và chiều cao theo tuổi so vớitrung vi của quần thể tham khảo Harvard

Chiều cao theo tuổi

% (độ)

Cân nặng theo chiều cao

Trang 11

< 60% Còi Thể phối hợpCách phân loại này giúp cho phân biệt được đứa trẻ nào là còm Còi hoặcphối hợp cả 2 thể vừa còm vừa còi.

Cách phân loại dựa vào độ lệch chuẩn (hoặc Z score)

Hiện nay, TCYTTG đề nghị lấy điểm ngưỡng dưới -2SD so với quần thểtham khảo NCHS để coi là SDD Dưới -3SD và dưới -4SD được coi là SDDnặng và rất nặng

Nếu dựa vào score, điểm ngưỡng được chọn cũng là -2 Những trẻ có score dưới -2 sẽ được coi là bị SDD

Z-1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em.

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng DD của trẻ em Trong nghiêncứu này chúng tôi chỉ tập trung vào một số yếu tố chính tác động đến tình trạng

DD trẻ em dưới 5 tuổi

1.5.1 Chăm sóc bà mẹ khi có thai và cho con bú.

Trước khi có thai, dinh dưỡng và thói quen dinh dưỡng tốt sẽ cung cấp đầy

đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho thời kỳ có thai,cho sự phát triển và lớn lêncủa thai nhi Nhiều nghiên cứu thấy rằng các yếu tố nguy cơ dẫn đến trẻ sơ sinh

có cân nặng thấp trước tiên là tình trạng DD kém của người mẹ trước khi có thai

và chế độ ăn không cân đối, không đủ năng lượng khi có thai hoặc thiếu các vichất và chất khoáng cần thiết như: Sắt, canxi… Những bà mẹ trong khi có thailao động nặng nhọc, không được nghỉ ngơi đầy đủ cũng là những yếu tố ảnhhưởng tới cân nặng sơ sinh Yếu tố bệnh tật của người mẹ và đẻ thiếu tháng cũnglàm tăng tỷ lệ trẻ sơ sinh cân nặng thấp

1.5.2 Thực hành nuôi dưỡng trẻ.

Trang 12

Chế độ ăn của trẻ đóng vai trò quan trọng đối với tình trạng DD của trẻ,phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức và sự hiểu biết về DD của các bà mẹ trong đónuôi con bằng sữa mẹ và cho con ăn bổ sung hợp lý là 2 vấn đề quan trọng nhất.

- Nuôi con bằng sữa mẹ: Là đứa trẻ được nuôi dưỡng trực tiếp bằng bú mẹhoặc gián tiếp do sữa mẹ vắt ra Sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnh nhất, thích hợpnhất với trẻ vì có đủ năng lượng, đủ chất DD cần thiết (đạm, đường, mỡ,vitamin, muối khoáng) với tỷ lệ thích hợp cho sự hấp thu và phát triển của trẻ,tránh SDD và tăng cân quá mức Sữa mẹ không chỉ cung cấp cho trẻ thức ăn cógiá trị DD tốt nhất không thể thay thế được mà còn tác động đến sự phát triển thểlực và trí tuệ của trẻ, cũng như những lợi ích khác

- Thời gian bắt đầu cho trẻ bú: Bà mẹ nên cho trẻ bú trong vòng 1 giờ đầusau đẻ, bú càng sớm càng tốt và không cần ăn bất cứ thức ăn gì trước khi bú mẹlần đầu Bú sớm giúp trẻ tận dụng sữa non là loại sữa tốt, hoàn hảo về DD và cácchất sinh học thích ứng với cơ thể non nớt của trẻ

- Số lần bú: Trẻ càng bú nhiều thì sữa mẹ càng được bài tiết nhều, số lần

bú phụ thuộc theo nhu cầu của trẻ, hãy để trẻ bú theo nhu cầu của trẻ bú bất cứlúc nào trẻ muốn, kể cả ban đêm

- Thời gian cai sữa: cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Không nêncai sữa trước 12 tháng, nên cho trẻ bú mẹ kéo dài từ 18 – 24 tháng

Việc không cho trẻ bú, ngừng cho con bú sớm, không cho con bú khi bịbệnh hoặc ăn bổ sung sớm từ tháng thứ 2 làm tăng tỷ lệ SDD ở trẻ dưới 2 tuổi

- Cho trẻ ăn bổ sung: Là đứa trẻ vừa được bú sữa mẹ vừa được ăn thức ăn

ở dạng đặc hoặc nửa đặc Từ 6 tháng thuổi trẻ phát triển nhanh, nhu cầu DD củatrẻ lớn hơn nên sữa mẹ không thể đáp ứng đủ do đó cần thiết cho trẻ ăn bổ sung

Trang 13

phù hợp về số lượng và chất lượng theo từng lứa tuổi của trẻ Tập cho trẻ ăn từloãng đến đặc, từ ít đến nhiều Cách chế biến thức ăn cần đảm bảo khẩu phần

DD và vệ sinh Ăn bổ sung sớm hay muộn đều ảnh hưởng đến tình trạng SDD

Ăn bổ sung là cho trẻ ăn những thức ăn khác ngoài sữa mẹ, là những thựcphẩm cung cấp năng lượng và các chất DD khác Số lượng thức ăn tăng dần theotuổi, đảm bảo thức ăn hợp khẩu vị của trẻ

Ăn bổ sung được coi là hợp lý khi trẻ được ăn các loại thức ăn cung cấp

đủ năng lượng (có thể ước tính qua số bữa ăn trong ngày kết hợp với khối lượngcủa mỗi bữa ăn) và đủ chất DD (thể hiện bằng sự kết hợp các nhóm thực phẩm

bổ sung cho trẻ) Để đáp ứng nhu cầu năng lượng của trẻ, cần cho trẻ ăn đủ sốbữa với số lượng thích hợp

+ Trẻ 6 tháng: ăn 1 bữa bột + bú mẹ

+ Trẻ 6 – 8 tháng: Bú mẹ + 2 bữa bột (2/3 bát mỗi bữa) và quả nghiền

- Trẻ 9 – 11 tháng: Bú mẹ + 3 bữa bột hoặc cháo (3/4 bát mỗi bữa + 2 bữaphụ: hoa quả, sữa chua, nước hoa quả )

+ Trẻ 12 – 23 tháng: Bú mẹ + 3 bữa cháo (1 bát/ bữa) + 2 bữa phụ

+ Trẻ từ 24 tháng: 3 bữa cơm (1-1,5 bát/ bữa) + 2 bữa phụ

- Thành phần của các bữa ăn bổ sung: Trước đây người ta phân loại thựcphẩm làm 4 nhóm chính: Nhóm lương thực chủ yếu cung cấp năng lượng, nhómcung cấp protein – chất đạm, nhóm cung cấp lipid/ chất béo và nhóm cung cấpcác chất khoáng và vitamin Hiện nay theo khuyến cáo của Viện dinh dưỡngphân loại thực phẩm theo 8 nhóm sau đây:

Trang 14

+ Nhóm 1: Lương thực( Gạo, ngô,khoai,sắn…), đây là nguồn cung cấpglucid/ chất bột, đường cung cấp năng lượng chủ yếu cho cơ thể.

+ Nhóm 7: Nhóm rau, củ, quả khác như: Su hào, củ cải…

Các nhóm thực phẩm 6 và 7 cung cấp vitamin, khoáng chất và chất xơ.+ Nhóm 8: Nhóm dầu, mỡ các loại, là nguồn cung cấp lipid / chất béo

- Số lượng thức ăn và bữa ăn tăng dần theo tuổi, đảm bảo thức ăn hợpkhẩu vị của trẻ

1.5.3 Một số yếu tố khác.

Ngoài ra còn một số yếu tố khác tác động đến tình trạng dinh dưỡng củatrẻ như tiềm năng của đất nước, cơ cấu kinh tế xã hội, đường lối chính sách củamỗi quốc gia, thu nhập của mỗi gia đình, tuổi, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, yếu

tố dân tộc của bà mẹ, số trẻ trong một gia đình, yếu tố môi trường, đặc biệt làtình trạng bệnh tật của trẻ

Trang 15

Các bệnh được xếp hàng đầu thường gặp là tiêu chảy và nhiễm khuẩn hôhấp cấp Trong 1 năm số lần mắc bệnh tiêu chảy trung bình của trẻ em là 2,2 lần,bệnh viêm phổi là 1,6 lần.

Khi trẻ bị bệnh cơ thể tiêu hao nhiều năng lượng và các chất dinh dưỡng,cảm giác thèm ăn giảm, tiêu hóa và hấp thu thức ăn kém, khả năng cung cấp dinhdưỡng giảm, các chất dinh dưỡng không còn đủ đáp ứng nhu cầu của cơ thể, do

đó bệnh tật trở thành nguyên nhân trực tiếp dẫn đến SDD ở trẻ em

Nhiễm khuẩn dễ dẫn đến SDD do rối loại tiêu hóa và ngược lại, SDD dễdẫn đến nhiễm khuẩn do sức đề kháng giảm Do đó tỷ lệ SDD thường cao trongcác mùa mà các bệnh lưu hành ở mức cao (tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấpcấp….) Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ các bệnh nhiễm trùng, thiếu dinhdưỡng và tử vong ở trẻ em cao hơn ở các nước phát triển SDD cũng thường đikèm các bệnh: thiếu vitamin A, thiếu các vi chất dinh dưỡng như vitamin nhóm

B, acid folic, sắt, kẽm…

1.6 Phòng chống SDD trẻ em.

Suy dinh dưỡng là vấn đề dinh dưỡng cộng đồng quan trọng nhất trên thếgiới hiện nay Trẻ em là đối tượng chính SDD, nếu không can thiệp kịp thời thìquãng thời gian phát triển nhanh nhất và quan trọng nhất sẽ trôi qua và hậu quả

do SDD không có cơ hội phục hồi được Do nguyên nhân phức tạp nên chiếnlược phòng chống SDD trẻ em đã trở thành chương trình mục tiêu quốc gia đượcnhà nước hỗ trợ kinh phí từ năm 1994 và hiện nay chương trình đã bao phủ khắpcác vùng, miền trong cả nước Tuy nhiên do triển khai trên diện rộng, nội dung

và phương pháp chưa thực sự phù hợp với từng vùng, từng địa phương nên tỷ lệSDD trẻ em dưới 5 tuổi còn cao Thời kỳ có nguy cơ cao về SDD là thời giannăm trong bụng mẹ và 2 năm đầu tiên Đỉnh cao của SDD trẻ em thường ở lứa

Trang 16

tuổi 24 – 36 tháng, nhưng đó là đỉnh tập hợp của SDD ở các thời kỳ trước đó vìSDD là một bệnh mãn tính chứ không tiến triển nhanh như một số bệnh nhiễmkhuẩn Vì vậy, chiến lược phòng chống SDD cần tập trung vào các thời kỳ sớm

Tình trạng sức khỏe, dinh dưỡng của mẹ liên quan chặt chẽ tới thai và concủa họ, cho nên cần theo dõi cả tình trạng dinh dưỡng của người mẹ

• Đối với trẻ:

- Phải cân trẻ ngay sau khi sinh, cân đều đặn, theo dõi biểu đồ tăng trưởng,nếu có một sự bất thường phải tìm nguyên nhân và can thiệp kịp thời Trẻ chậmlớn là biểu hiện sớm nhất của bệnh Ý nghĩa của việc sử dụng biểu đồ phát triển

là phát hiện sớm nhất về tăng trưởng để có biện pháp can thiệp kịp thời, có hiệuquả nhất

- Nuôi con bằng sữa mẹ được coi là một trong những biện pháp quan trọngnhất để bảo vệ sức khỏe trẻ em

- Cho ăn bổ sung hợp lý: trong 6 tháng đầu, sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnhnhất; đối với trẻ trên 6 tháng số lượng sữa mẹ không đáp ứng nhu cầu của trẻđang lớn nhanh, do đó trẻ cần được ăn bổ sung một cách hợp lý

- Phòng chống các bệnh nhiễm trùng cấp tính, tiêm chủng đầy đủ, điều trịsớm các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp, tiêu chảy, phòng chống các bệnh thiếudinh dưỡng khác

• Đối với người mẹ:

- Phải theo dõi tình trạng dinh dưỡng của mẹ trước, trong khi mang thai vàkhi cho con bú

Trang 17

- Khám thai định kỳ, tiêm chủng đầy đủ, theo dõi sự tăng cân trong thời kỳmang thai là hết sức cần thiết.

Phòng chống SDD trẻ em cần được xã hội hóa vì đây không chỉ là chươngtrình Y tế - kỹ thuật đơn thuần mà là một chương trình xã hội

Thực phẩm, sức khỏe và chăm sóc là bộ ba các thành tố thiết yếu trongchiến lược phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 18

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Nghiên cứu được tiến hành tại khoa Nhi Bệnh viện đa khoahuyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

- Thời gian: Từ tháng 9/2015 đến tháng 9/2016

2.2 Đối tượng nghiên cứu

- Tất cả các trẻ em dưới 5 tuổi vào điều trị tại khoa Nhi trong thời giantrên

- Bà mẹ của các trẻ trên

2.3 Thiết kế nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang Nhằm xác định tỷ lệhiện mắc suy dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

Thu thập số liệu dựa trên bộ câu hỏi chuẩn bị sẵn kết hợp đo cân nặng vàchiều cao của trẻ

Các thông tin cần thu thập

Trang 19

+ Thời gian trẻ được ăn bổ sung

+ Thời gian trẻ được cai sữa

+ Đo cân nặng, chiều cao nằm, hoặc chiều dài đứng

- Phía mẹ

+ Tuổi, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, dân tộc

+ Số con trong gia đình

2.4 Kỹ thuật thu thập số liệu

2.4.1 Xác định tuổi của trẻ dưới 5 tuổi

Trong điều tra tình trạng dinh dưỡng trẻ em, tuổi là một thông số vô cùngquan trọng Tuổi của trẻ được xác định càng chính xác thì số liệu càng có giá trị

Hiện nay, có nhiều cách tính tuổi khác nhau, chúng tôi sử dụng cách tínhtheo Tổ chức Y tế Thế giới năm 1983 hiện nay đang được áp dụng phổ biến ởViệt Nam là cách tính tuổi quy về tháng Cách tính cụ thể như sau :

Tính tuổi theo tháng (đối với trẻ dưới 5 tuổi), quy ước :

- Từ lúc mới sinh đến 29 ngày (tháng thứ nhất): 1 tháng tuổi

Trang 20

- Cân nặng : Sử dụng cân có độ chính xác 0,01 kg, kết quả ghi theokilogam với 1 số lẻ.

- Chiều cao : Sử dụng thước đo chuyên dụng Đo chiều cao của trẻ < 5 tuổitheo 2 cách sau:

+ Cách đo thứ nhất: đo chiều cao đứng đối với trẻ từ 24 tháng trở lên.+ Cách đo thứ hai: Đo chiêu cao năm đối với trẻ < 24 tháng tuổi

2.4.3 Thu thập thông tin về các yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ

Thông tin về các yếu tố liên quan được thu thập thông qua việc phỏng vấntrực tiếp bà mẹ (hay người nuôi dưỡng trẻ) kết hợp với quan sát bằng bảng câuhỏi thiết kế sẵn

Các biến số thu thập

- Các biến định lượng:

+ Trọng lượng lúc sinh của trẻ: ≤ 2500g, > 2500g

+ Thứ tự của trẻ trong gia đình

+ Thời gian bắt đầu bú sau sinh: là thời gian từ khi trẻ lọt lòng đến lần

bú đầu tiên, tính bằng số giờ ≤ 6 giờ, > 6 giờ

+ Thời gian bắt đầu ăn sam: là thời gian trẻ bắt đầu ăn các thức ăn khácngoài sữa mẹ, tính bằng số tháng

+ Thời gian cai sữa hoàn toàn: là thời gian trẻ hoàn toàn không còn búsữa mẹ, tính bằng số tháng

+ Tuổi của mẹ : chia làm 2 nhóm ≤ 35 tuổi và > 35 tuổi

Trang 21

+ Trình độ văn hóa của mẹ : chia 2 nhóm ≤ cấp I và từ cấp II trở lên + Số con : là số con hiện còn sống, kể cả số con hiện có trong nhà, đihọc hay đi làm xa hoặc lấy vợ lấy chồng Chia 2 nhóm: ≤ 2 con và từ 3 con trởlên.

- Các biến định tính:

+ Giới của trẻ

+ Nghề nghiệp của mẹ

2.5 Nhận định kết quả

* Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi

Được đánh giá theo quần thể tham khảo WHO 2005 với 3 tiêu chí (CN/T,CC/T, CN/CC) theo Z-Score như sau:

+ Khi CN/T Z-Score < -2.0, SDD thể nhẹ cân

+ Khi CC/T Z-Score < -2.0, SDD thể thấp còi

+ Khi CN/CC Z-Score < -2.0, SDD thể gầy còm

- Cân nặng theo tuổi: Lấy điểm ngưỡng dưới – 2 độ lệch chuẩn (< -2SD)

để coi là SDD thể nhẹ cân Thang phân loại như sau:

+ Từ dưới -2SD đến -3SD: Suy dinh dưỡng độ I (vừa)

+ Từ dưới -3SD đến -4SD: Suy dinh dưỡng độ II (nặng)

+ Dưới -4SD : Suy dinh dưỡng độ III (rất nặng)

- Chiều cao theo tuổi: SDD mãn tính (SDD thể thấp còi).

Thang phân loại như sau:

Trang 22

+ Từ dưới -2SD đến -3SD: Thiếu dinh dưỡng thể vừa

+ Dưới -3SD : Thiếu dinh dưỡng thể nặng

- Cân nặng theo chiều cao: Cân nặng theo chiều cao thấp phản ảnh tình

trạng thiếu dinh dưỡng ở thời kỳ hiện đại, gần đây làm cho đứa trẻ ngừng lên cânhoặc tụt cân nên bị gầy còm Thang phân loại như sau:

+ Từ dưới -2SD đến -3SD: Thiếu dinh dưỡng thể vừa

+ Dưới -3SD : Thiếu dinh dưỡng thể nặng

2.6 Phương pháp sử lý số liệu

Số liệu được làm sạch trước khi nhập vào máy tính, sử dụng phần mềmSPSS 16.0 để nhập và sử lý số liệu

Chương 3

Ngày đăng: 10/12/2019, 08:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w