1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước về dân tộc từ thực tiễn tỉnh điện biên

83 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 679,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trọng và phát huy và đã đạt được một số kết quả quan trọng như: thực hiện tốt công tác giảm nghèo; cơ sở hạ tầng ngày càng được cải thiện; Công tác quy hoạch, kế hoạch phân vùng phát tri

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

NGÔ TH Ị CHÂU GIANG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐIỆN BIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ N ỘI - 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

NGÔ TH Ị CHÂU GIANG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC

T Ừ THỰC TIỄN TỈNH ĐIỆN BIÊN

N gành: Luật hiến pháp và luật hành chính

Mã số: 8.38.01.02

N GƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS VŨ TRỌNG HÁCH

HÀ N ỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu trích dẫn trong luận văn dựa trên số liệu bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Ngô Thị Châu Giang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn “Quản lý nhà nước về dân tộc từ thực tiễn tỉnh Điện Biên”

đã được hoàn thành thể hiện kết quả tổng hợp, cô đọng của hai năm học cao học tại Học viện Khoa học Xã hội

Tôi xin được trân trọng bày tỏ lòng biết ơn các thầy, cô là các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ đã tham gia giảng dạy lớp cao học khoá VIII đợt 02 năm

2017, đặc biệt xin cảm ơn thầy Vũ Trọng Hách đã luôn đồng hành, tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Nhân dịp này tôi xin được chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Hội đồng phản biện, chấm luận văn; cảm ơn Học viện Khoa học Xã hội đã

giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin trân tr ọng cảm ơn

Trang 5

M ỤC LỤC

M Ở ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC 6

1.1 Những khái niệm cơ bản 6

1.2 Nội dung quản lý nhà nước về dân tộc 10

1.3 Đặc điểm của quản lý nhà nước về dân tộc 11

1.4 Vai trò quản lý nhà nước về dân tộc 12

1.5 Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về dân tộc 13

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN 18

2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về dân tộc trên địa bàn tỉnh Điện Biên 18

2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về dân tộc trên địa bàn tỉnh Điện Biên thời gian qua 24

2.3 Đánh giá việc thực hiện quản lý nhà nước về dân tộc trên địa bàn tỉnh Điện Biên 38

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QU ẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN 49

3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về dân tộc hiện nay 49

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về dân tộc trên địa bàn tỉnh Điện Biên 53

K ẾT LUẬN 69

DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

PH Ụ LỤC 78

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ

Trang

Sơ đồ 2.1.Tổ chức bộ máy và biên chế Ban Dân tộc tỉnh Điện Biên 32tính đến 31/12/2018 32

Điện Biên tính đến 31/12/2018 34

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, các DTTS phần lớn sinh sống ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo Đây là những địa bàn

có vị trí chiến lược trọng yếu về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, giao lưu quốc tế Nhận thức được điều đó nên Đảng, Nhà nước ta luôn coi công tác

mạng của nước ta Thực hiện CSDT, chăm lo đời sống của đồng bào các

nước đối với đồng bào DTTS

kinh tế, xã hội đối với miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo, vùng đồng bào DTTS được thực hiện đã tạo nên những thay đổi to lớn trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh; đời sống của đồng bào dân tộc được cải thiện, bộ mặt nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa có những khởi sắc nhất định Bên cạnh những thành tựu còn có những hạn chế, bất cập cần được xem xét, đánh giá một cách khách quan, khoa học để có những giải pháp phù hợp đáp ứng yêu cầu phát triển ở vùng dân tộc, miền núi địa bàn khó khăn trước đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong rất nhiều yếu tố tạo nên những thành tựu cũng như hạn chế trong vấn đề về dân tộc, QLNN về dân tộc là trực tiếp và hết sức quan trọng Tỉnh Điện Biên nằm ở vùng núi cao, biên giới phía Bắc của Tổ quốc, có

10 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm 01 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện), với

130 đơn vị cấp xã (gồm 9 phường, 5 thị trấn và 116 xã) Quy mô dân số ước khoảng 57,66 vạn người; gồm 19 dân tộc cư trú trên địa bàn rộng lớn, có vị trí trọng yếu về an ninh, quốc phòng [51]

Những năm qua, QLNN về công tác dân tộc tỉnh Điện Biên được coi

Trang 9

trọng và phát huy và đã đạt được một số kết quả quan trọng như: thực hiện tốt công tác giảm nghèo; cơ sở hạ tầng ngày càng được cải thiện; Công tác quy hoạch, kế hoạch phân vùng phát triển KTXH được tăng cường và đổi mới; năng lực quản lý của cơ quan công tác dân tộc được nâng lên, công tác đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc được quan tâm hơn trước, sự phối hợp giữa cơ quan công tác dân tộc với các Bộ, Ban ngành Trung ương và các địa phương ngày càng chặt chẽ…

Tuy nhiên so với mặt bằng chung của tỉnh, tình hình KTXH vùng dân tộc, miền núi, biên giới, nhất là ở các xã, thôn, bản ở vùng sâu, vùng xa, biên giới của tỉnh Điện Biên còn nhiều khó khăn, việc thực hiện QLNN lĩnh vực công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh tuy có nhiều khởi sắc, song còn có những tồn tại, hạn chế: cơ sở hạ tầng còn chưa hoàn thiện, giáo dục y tế đều ở xuất phát điểm thấp; kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn việc thực thi chính sách còn nhiều hạn chế; Tình hình chính trị có những diễn biến phức tạp Các thế lực thù địch ra sức chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, công cuộc đổi mới của đất nước bằng việc lợi dụng các vấn đề nhân quyền, dân tộc, tôn giáo Địa bàn vùng dân tộc, miền núi, biên giới của tỉnh luôn tiềm ẩn nguy cơ

bị các thế lực thù địch lợi dụng

Từ những lý do trên, học viên chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà

nước về dân tộc từ thực tiễn tỉnh Điện Biên” để đưa ra các đề xuất nhằm

hoàn thiện QLNN đối với công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Điện Biên góp phần phát triển KTXH vùng dân tộc, miền núi, biên giới bền vững

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề dân tộc là vấn đề rộng lớn, được quan tâm nên trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, những người làm công tác lý luận nghiên cứu và các nhà quản lý, các nhà chuyên môn ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau Có thể kể đến:

Trang 10

- GS Khổng Diễn (1995), Dân số và dân tộc tộc người ở Việt Nam,

NXB Khoa học xã hội;

tiễn cấp bách liên quan đến quan hệ dân tộc hiện nay, NXB Chính trị Quốc

gia, Hà Nội;

kỳ công nghiệp hóa (2002), của Viện nghiên cứu chính sách dân tộc và miền

núi (nay là Viện Dân tộc), NXB Chính trị Quốc gia;

Chính trị quốc gia, Hà Nội;

đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay, Nxb Lý luận Chính trị,

Hà Nội;

vấn đề đặt ra (2010), Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội;

học, các đề tài đã được nghiệm thu về vấn đề dân tộc, CSDT

Những công trình trên các tác giả đã đặt ra nhiều lý luận về vấn đề dân tộc, quản lý nhà nước về dân tộc, cũng như việc thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc và đề xuất nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả QLNN về dân tộc Các công trình đó được tác giả kế thừa sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo trực tiếp cho đề tài luận văn này Tuy nhiên, đây là công trình khoa học do chính học viên cứu, không trùng lặp với công trình khoa học nào được

Trang 11

công bố thời gian gần đây đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước về dân tộc từ thực tiễn một địa bàn cụ thể như tỉnh Điện Biên

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Biên hiện nay

tỉnh Điện Biên Đây cũng có thể là kinh nghiệm có thể sử dụng hoặc tham khảo cho các địa phương khác

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về QLNN

về dân tộc ở Điện Biên

gian từ năm 2014 đến năm 2018 và chỉ nghiên cứu nội dung chính của QLNN

về dân tộc, gồm:

Trang 12

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn nghiên cứu được thực hiện dựa trên phương pháp duy vật lịch

sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về các vấn

đề nhà nước, pháp luật và vấn đề dân tộc

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu trong luận văn: phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp thống kê và phân tích tổng hợp; phương pháp phân tích, đối chiếu; phương pháp so sánh và phương pháp khảo sát thực tế

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn đã góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về dân tộc và QLNN về dân tộc Đánh giá những vấn đề lý luận đó trong thực tiễn

thông qua những quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về dân tộc

Luận văn đã đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về dân tộc trên địa bàn một tỉnh Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc hoạch định chính sách cũng như thực thi pháp luật

về dân tộc Luận văn cũng có thể được sử dụng làm học liệu tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận của QLNN về dân tộc;

Chương 2: Thực trạng QLNN về dân tộc trên địa bàn tỉnh Điện Biên; Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về dân tộc trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ DÂN TỘC 1.1 Những khái niệm cơ bản

1.1.1 Dân tộc

Trên cơ sở xem xét vấn đề dân tộc dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự hình thành và phát triển dân tộc là một hiện tượng lịch sử xã hội phức tạp, có căn nguyên sâu xa

từ sự vận động của sản xuất, của kinh tế đồng thời chịu sự tác động chi phối trực tiếp của nhân tố chính trị, tức là của giai cấp và Nhà nước trong việc tổ chức nên đời sống xã hội của các cộng đồng người Mặt khác, dân tộc ra đời và phát triển còn gắn liền với truyền thống lịch sử và văn hoá (kể cả đời sống tín ngưỡng, tôn giáo) của từng dân tộc Bởi lẽ, mỗi cộng đồng dân tộc cũng như cộng đồng tộc người có lịch sử hình thành và phát triển không giống nhau, không đồng thời và nhất loạt như nhau

Theo cương lĩnh dân tộc của Chủ nghĩa Mác - Lê nin thì dân tộc là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc và đến khi xuất hiện giai cấp nhà nước thì xuất hiện dân tộc

Cho đến nay khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất Một là, dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh

tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong cuộc suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Với nghĩa này, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó

Trang 14

Hai là, dân tộc chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù, Xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc Với nghĩa này, dân tộc là bộ phận của quốc

văn này

Cả hai quan niệm về dân tộc trên đây đều có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu đề tài luận văn Dân tộc là đối tượng của QLNN Trên thực tế, dân tộc thường nói đến các tộc ít người Cụ thể, đối tượng của QLNN về dân tộc là các hoạt động về lĩnh vực dân tộc trên các khía cạnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, khía cạnh đoàn kết dân tộc, thúc đẩy sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các DTTS cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

1.1.2 Quản lý nhà nước về dân tộc

Để đi sâu tìm hiểu về quản lý nhà nước là gì cần phải làm rõ khái niệm quản lý Tùy theo góc độ nghiên cứu của mỗi nhà khoa học, thuật ngữ quản lý được hiểu và có các cách tiếp cận khác nhau Đó cũng chính là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và được

áp dụng rộng hơn trong mọi hoạt động của đời sống xã hội

động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ

cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó” Như vậy Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích

của quản lý, xem quản lý là một tất yếu trong đời sống xã hội

Trang 15

Hiện nay, theo quan niệm chung của các nhà khoa học nghiên cứu thì quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù họp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý trí của người quản lý Theo cách hiểu này thì quản

lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý

Trước hết, xem xét quản lý nhà nước theo nghĩa rộng, thì đó là toàn bộ

hoạt động của cơ quan nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước là đối nội, đối ngoại

Xem xét quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp, thì đây là hoạt động mang tính chấp hành và điều hành, được cấu thành bởi các yếu tố có tính tổ chức, thực hiện thi hành Hiến pháp, pháp luật, được đảm bảo thực hiện bởi hệ thống

chính là các cơ quan hành chính nhà nước, thực hiện chức năng chủ yếu là chấp hành, điều hành, nhằm tổ chức thực hiện trực tiếp và thường xuyên các hoạt động trong xây dựng phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đảm bảo an ninh chính trị quốc gia Trong khoa học quản lý, QLNN thường được hiểu theo nghĩa hẹp Trong luận văn này, quản lý nhà nước về dân tộc chủ yếu là hoạt động hành pháp và được hiểu theo nghĩa hẹp

Trong hệ thống xã hội, có nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như tổ chức chính trị, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân, các hiệp hội.v.v So với quản lý của các tổ chức khác, thì quản

lý nhà nước có những điểm khác biệt sau:

Thứ nhất: chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà nước được trao quyền, gồm các cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp

Thứ hai: đối tượng quản lý của nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức

Trang 16

sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, công dân làm việc bên ngoài lãnh thồ quốc gia

Thứ ba: quản lý nhà nước là quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao

Thứ tư: quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công

cụ pháp luật nhà nước, chính sách để quản lý xã hội

Thứ năm: mục tiêu của quản Ịý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự

ổn định và phát triển của toàn xã hội

Từ những điểm nêu trên, có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản

lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vỉ của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện

Theo cách hiểu chung nhất, quản lý nhà nước về dân tộc là một bộ phận cấu thành của hệ thống QLNN QLNN về dân tộc là hoạt động của các cơ quan nhà nước (trong đó trước hết và chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước), cá nhân có thẩm quyền, trên cơ sở Hiến pháp, luật và để thi hành Hiến pháp, luật nhằm tác động đến công tác dân tộc để đạt được mục đích đã được xác định trước

Khách thể QLNN về công tác dân tộc bao gồm quản lý toàn bộ các hoạt động KTXH diễn ra trong đời sống gắn với vùng cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số để không ngừng nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa của đồng bào Với những trình bày trên, có thể đưa ra định nghĩa QLNN về dân tộc như

sau: “Quản lý nhà nước về dân tộc là hoạt động quản lý của các cơ quan

quản lý nhà nước, cá nhân có thẩm quyền về lĩnh vực dân tộc và các mối quan hệ có liên quan nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp

Trang 17

pháp của công dân để những tác động đó diễn ra theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước”

1.2 Nội dung quản lý nhà nước về dân tộc

Nội dung QLNN về dân tộc tập trung chủ yếu vào các hoạt động:

quy hoạch, kế hoạch, chính sách về dân tộc

về dân tộc; xây dựng và tổ chức thực hiện các CSDT, chính sách đặc thù, các chương trình, dự án, đề án phát triển vùng có điều kiện KTXH khó khăn, đặc biệt khó khăn; tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ phát triển, tiêu chí xác định thành phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số; xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát triển văn hóa các DTTS

phương; thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả, bố trí nguồn nhân lực

Nhà nước bằng nhiều biện pháp, hình thức để đồng bào các dân tộc hiểu rõ và chủ động tham gia vào quá trình thực hiện Tuyên truyền về truyền thống đoàn kết của các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tổ chức tốt các phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong cộng đồng nhằm thúc đẩy phát triển KTXH, xóa đói giảm nghèo, giải quyết khó khăn trong cuộc sống

sách, chương trình, dự án ở vùng DTTS; việc chấp hành pháp luật về công tác dân tộc, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong QLNN về dân tộc

Trang 18

1.3 Đặc điểm của quản lý nhà nước về dân tộc

của quản lý đồng thời có các đặc điểm riêng sau:

quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó phương tiện chủ yếu được sử dụng là văn bản quy phạm pháp luật Chủ thể quản lý thể hiện ý chí của mình thông qua các hoạt động áp dụng pháp luật; dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới những dạng mệnh lệnh chỉ đạo trong hoạt động, nhằm tồ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn Mặt khác, các chủ thể có thẩm quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo đảm thực hiện ý chí, quyền lực nhà nước, như các biện pháp về hoạch định, xây dựng, tổ chức thực hiện, tuyên truyền thực hiện

thể hiện trong việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật

và nhằm mục đích thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng tạo của chủ thể quản lý thì cũng không vượt quá khuôn khổ pháp luật, nhằm hiện thực hóa pháp luật

Tính điều hành của hoạt động quản lý nhà nước về dân tộc thể hiện trong việc chủ thể có thẩm quyền tổ chức, chỉ đạo thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội Trong quá trình đó, các chủ thể này không chỉ tự mình thực hiện pháp luật mà quan trọng hơn cả đảm nhận chức năng chỉ đạo nhằm vận hành hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo một quy trình thống nhất;

tồ chức để mọi đối tượng có liên quan thực hiện pháp luật nhằm hiện thực hóa các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ quản lý

Trang 19

về dân tộc Hiện nay, bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước về dân tộc được

tổ chức từ Trung ương tới địa phương do đó hoạt động quản lý nhà nước được chỉ đạo, hướng dẫn thống nhất và kịp thời, liên kết và phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống làm công tác dân tộc, hạn chế sự phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau

là một trong những yếu tố quan trọng trong việc thực hiện thành công công tác dân tộc của Đảng và nhà nước, đẩy nhanh quá trình phát triển về mọi mặt trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số dần thu hẹp khoảng cách với vùng thấp

1.4 Vai trò quản lý nhà nước về dân tộc

Cùng với việc đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới của đất nước theo đường lối

“Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc”, công tác QLNN về dân tộc ngày càng có vai trò quan trọng và thể hiện ở những điểm chủ yếu dưới đây:

nâng cao đời sống nhân dân Trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng miền, thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục của các dân tộc hiện nay còn đang ở trong tình trạng kém phát triển Để thực hiện được mục tiêu cấp thiết này, Nhà nước ta đang nỗ lực đầu tư cho khu vực đồng bào DTTS, trong đó, đặc biệt quan tâm đầu tư các chiến lược, chương

Trang 20

Thứ hai, những hỗ trợ cho khu vực đồng bào DTTS, đặc biệt là đồng bào

triển giữa các vùng miền, thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế của các dân tộc hiện nay còn đang trong tình trạng kém phát triển

Thứ ba, trong QLNN, có những hoạt động không tuân thủ quy định của

pháp luật, quy tắc của cơ quan quản lý đề ra như tham nhũng, làm sai lệch đường lối, chủ trương của Đảng hay việc các thế lực thù địch lợi dụng

tuỳ theo tính chất, mức độ Nhà nước có thể xử lý vi phạm hành chính, hình

sự Cùng với đó, có thể thấy QLNN về dân tộc là một nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng và Nhà nước ta

1.5 Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về dân tộc

1.5 1 Chính trị

Là một trong những yếu tố tác động, ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động

Sự định hướng tích cực, tiến bộ sẽ giúp cho hoạt động QLNN về dân tộc theo hướng tích cực, tiến bộ

Là quốc gia có nhiều dân tộc, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định đường lối, CSDT có vị trí đặc biệt quan trọng.“Chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo những điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ít người và dân tộc đông người, làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc, đoàn kết giúp nhau tiến bộ, cùng làm chủ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [20]

Đảng xác định vấn đề dân tộc có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ sự nghiệp của Đảng và nhân dân ta, Đảng đã đề ra những nguyên

Trang 21

tắc định hướng về CSDT ở Việt Nam, đó là đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc Thời kỳ đổi mới, CSDT của Đảng vừa đảm bảo tính nhất quán, vừa đổi mới trước yêu cầu phát triển và hội nhập nhằm giải quyết thành công vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay và trong tương lai

Công tác dân tộc là nhiệm vụ chung của toàn bộ hệ thống chính trị, bao gồm: Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên Mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị, tuỳ theo địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà có phương thức khác nhau để thực hiện công tác dân tộc Bộ máy nhà nước, từ Trung ương đến địa phương, QLNN

về dân tộc bằng những biện pháp, công cụ khác nhau, trong đó pháp luật là công cụ quan trọng Pháp luật về dân tộc là công cụ để thực hiện QLNN về dân tộc, cơ sở để thực hiện giám sát việc thực hiện CSDT là sự thể chế hoá để quan điểm, đường lối của Đảng về dân tộc đi vào cuộc sống

Trong nhiều năm qua, các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước ta thường xuyên ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung những quy định pháp luật nhằm thực hiện sự đoàn kết, bình đẳng, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, đặc biệt là những chính sách ưu tiên và đẩy mạnh phát triển kinh tế,

xã hội, văn hóa, giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi phù hợp với điều kiện phát triển KTXH của đất nước và hiện đang là là khung pháp lý cơ bản điều chỉnh các vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc

Pháp luật về dân tộc không được hoàn thiện, không được sửa đổi, bổ sung thường xuyên nhằm phù hợp với sự phát triển KTXH của đất nước và tình hình thực hiện CSDT đối với các vùng, miền hoặc đối tượng cụ thể sẽ gây khó khăn cho việc QLNN về dân tộc

Một hệ thống QLNN chỉ tốt và được tự nguyện áp dụng khi nó phát huy

Trang 22

được những ưu điểm của các giá trị truyền thống, nhưng đồng thời cũng phải loại bỏ đi những nhược điểm của truyền thống như những hủ tục lạc hậu, tư duy bảo thủ QLNN về dân tộc không nằm ngoài ngoại lệ đó

Hiện nay, hệ thống tổ chức bộ máy cơ quan công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ và thiếu tính ổn định

Cơ chế QLNN về công tác dân tộc đã được hình thành, từng bước hoàn thiện Trong hệ thống bộ máy QLNN về công tác dân tộc, tỷ lệ cán bộ là người

Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác dân tộc có vai trò rất quan trọng trong việc hoạch định và quyết định sự thành công hay thất bại trong sự nghiệp QLNN về công tác dân tộc Chất lượng, số lượng đội ngũ cán

bộ, công chức có tính quyết định trong QLNN về công tác dân tộc Đội ngũ cán bộ, công chức đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng mới thực hiện được QLNN về công tác dân tộc hiệu quả và ngược lại

Do biên chế của hệ thống cơ quan công tác dân tộc còn hạn chế nên kinh phí được giao cũng rất hạn hẹp theo cơ chế khoán chi hiện nay Ngành công tác dân tộc chưa xây dựng được tiêu chuẩn chức danh theo nghề đối với đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc như một số ngành, nghề khác để được hưởng chế độ phụ cấp nghề theo quy định hiện hành Nguyên nhân là do cơ quan công tác dân tộc có nhiều biến động, thiếu ổn định; việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được quy chuẩn nghề nghiệp chung Mặt khác, công tác dân tộc có tính tổng hợp, mang tính chất đa ngành,

đa lĩnh vực nên rất khó trong việc chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh Thực tế trên khẳng định: Mức độ hoàn thiện của cơ chế quản lý và hệ thống bộ máy quản lý có tác động, ảnh hưởng rất lớn tới QLNN dân tộc Do đó, hoàn thiện

bộ máy QLNN về dân tộc; đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực về công tác dân tộc; thu hút hút nguồn lực các cá nhân, tổ chức xã hội để hỗ trợ phát triển

Trang 23

vùng dân tộc thiểu số là vô cùng cần thiết

Ở các vùng DTTS, phong tục tập quán có ảnh hưởng quan trọng đến

thực tế vẫn còn tồn tại những phong tục tập quán chưa tiến bộ, lạc hậu đã phần nào kìm hãm sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội vùng đồng bào

quán lạc hậu góp phần đẩy mạnh phát triển KTXH

Toàn cầu hóa là xu thế phát triển tất yếu của quan hệ quốc tế và của nền kinh tế thế giới, nó vừa mang lại cho công tác QLNN một động lực tích cực nhưng cũng đạt cho công tác này trước những đòi hỏi, yêu cầu và thách thức

Do đó toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế cũng là một trong những nhân

tố tác động đến QLNN nói chung và QLNN về dân tộc nói riêng

Trang 24

Tiểu kết chương 1

Trong chương, luận văn đã hệ thống và làm rõ hơn những vấn đề lý luận

vai trò, nội dung QLNN về dân tộc và các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về dân tộc

Dân tộc là một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững

được hình thành trong quá trình lịch sử trên cơ sở có chung phương thức sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, có tâm lý và ý thức riêng, kết tinh trong nền văn hóa của dân tộc và cư trú trên một vùng lãnh thổ nhất định Dân tộc là một bộ phận của quốc gia Ví dụ như dân tộc Kinh, Tày, Nùng…

Quản lý nhà nước về dân tộc là một bộ phận cấu thành của hệ thống

trước hết và chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước), cá nhân có thẩm quyền, trên cơ sở Hiến pháp, luật và để thi hành Hiến pháp, luật nhằm tác động đến công tác dân tộc để đạt được mục đích đã được xác định trước

Những định hướng QLNN về dân tộc nhằm phát triển KTXH, nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào

chế tài xử lý phù hợp đối với những hành vi vi phạm CSDT, lợi dụng chính sách dân tốc mưu cầu lợi ích riêng, chống phá nhà nước, chia rẽ tinh thần đoàn kết dân tộc…

Quản lý nhà nước về dân tộc cũng giống như các hoạt động QLNN khác đều bị ảnh hưởng bởi tác động của các yếu tố như chính trị, pháp luật, tổ chức

bộ máy quản lý, phong tục tập quán

Trang 25

C hương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐIỆN BIÊN 2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về dân tộc trên địa bàn tỉnh Điện Biên

2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội, dân cư

Điện Biên là tỉnh miền núi, biên giới phía Tây Bắc của Tổ quốc, được chia tách thành lập từ ngày 01/01/2004 Diện tích tự nhiên 9562,9 km 2, địa hình chia cắt, hiểm trở, 50% diện tích có độ cao 1000m so với mực nước biển,

có đường biên giới dài 455,573 km tiếp giáp với hai quốc gia là Lào và Trung Quốc (trong đó đường biên giới tiếp giáp với Lào là 414,712 km; tiếp giáp với Trung Quốc là 40,861 km) Quy mô dân số ước khoảng 57,66 vạn người; gồm

19 dân tộc Tỉnh có 10 đơn vị hành chính gồm 01 thành phố, 01 thị xã và 08 huyện, 130 xã, phường, thị trấn (trong đó có 29 xã biên giới; có 14 xã khu vực I chiếm 10,8%, 15 xã khu vực II chiếm 11,5%, 101 xã khu vực III chiếm 77,7%;

có 1.146 thôn đặc biệt khó khăn chiếm 63,2%) Hiện có 05 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ và 02 huyện

phủ [5]

nước tỉnh Điện Biên đã đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực:

100% xã, phường, thị trấn có đường ô tô đến trung tâm xã, trong đó 120/130

xã đi lại được quanh năm; năng lực tưới tiêu của các công trình thủy lợi có khả năng phục vụ cho trên 27.000 ha đất sản xuất; 130/130 xã, phường, thị trấn có điện, tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt 88,24 %; cơ sở vật chất các trường chuyên nghiệp

Trang 26

cơ bản đáp ứng được nhu cầu dạy và học Hệ thống hạ tầng về y tế các cấp được tăng cường, 100% số xã có trạm y tế; hạ tầng văn hóa, thông tin và thể dục thể thao đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân [52, tr.1];

trong những năm qua đạt mức khá Đến hết năm 2018, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) đạt 10.482 tỷ 240 triệu đồng tương đương 466.900 triệu USD, tăng 7,15% so với năm 2017, trong đó: nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 4,98%; công nghiệp, xây dựng tăng 9,52%; thương mại, dịch vụ tăng 7,11%.Sản lượng lương thực đạt 264.601 tấn, đạt 102,16% kế hoạch năm Giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 2.717,43 tỷ đồng, tăng 12,95% so năm 2017 Thương mại, lưu thông hàng hóa đảm bảo cung ứng đủ cho nhu cầu của người dân trên địa bàn tỉnh; giá trị xuất, nhập khẩu ước đạt 44 triệu USD; lượng khách du lịch đến với Điện Biên trong năm 2018 ước đạt 705 nghìn lượt người Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện, công tác cải cách thủ tục hành chính, xây dựng chính quyền hiệu lực, hiệu quả thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư cả trong và ngoài tỉnh Năm 2018 đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và Quyết định chủ trương đầu tư cho 25 dự án với tổng mức đầu tư đăng ký trên 4.900 tỷ đồng [48] Tỷ lệ hộ nghèo chung toàn tỉnh

là 37,08%, tỷ lệ hộ nghèo người dân tộc thiểu số là 97,4% trên tổng số hộ là người dân tộc thiểu số [52, tr.1];

trong đó: thông qua vay vốn hỗ trợ việc làm cho 1.064 người, xuất khẩu lao động 46 người, tuyển dụng vào các doanh nghiệp là 4.221 người (trong đó, tại

Trang 27

lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị xuống còn 2,75%; Tuyển mới và đào

khăn; tỷ lệ huy động dân số trong độ tuổi đến trường tiếp tục tăng Toàn tỉnh,

trường mầm non và phổ thông đạt chuẩn quốc gia là 312/498 đạt 62,65%

phường, thị trấn duy trì chuẩn xóa mù chữ mức độ 1, phổ cập giáo dục mầm non

độ 1 và phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2; có 88/130 xã, phường, thị trấn xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3; có 119/130 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 2; có 21/130 xã, phường, thị trấn đạt

sĩ sản nhi; 94,3% thôn bản có nhân viên y tế thôn bản; 29,1% thôn bản có cô

Trang 28

đỡ thôn bản hoạt động; 99,7% dân số tham gia bảo hiểm y tế; 64,6% trạm y tế

đạt 995.000 lượt người, tổng số bệnh nhân điều trị nội trú đạt trên 100.000 lượt và trên 7.500 bệnh nhân điều trị ngoại trú [52, tr.2];

đình văn hóa”; 56,8% thôn, bản, tổ dân phố đạt danh hiệu “Thôn, bản, tổ dân

phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị [52, tr.3]

thanh trung ương đạt 100%; tỷ lệ số hộ được phủ sóng phát thanh địa phương đạt 100%; tỷ lệ số hộ được phủ sóng truyền hình Việt Nam đạt 100%; tỷ lệ số

cư tự do, xuất cảnh trái phép, quản lý trật tự xã hội Phát hiện, điều tra, làm rõ

Trang 29

2017 số vụ giảm 03 vụ (42/45) giảm 6,7%; số người chết giảm 04 người (26/30)

2.1.2 Tình hình thực hiện các chính sách về dân tộc trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Hiện nay dân số tỉnh Điện Biên có trên 57 vạn người với sự sinh sống của 19 dân tộc anh em (Thái, Hmông, Kinh, Dao, Khơ Mú, Hà Nhì, Lào, Hoa

Bảng 2.1 Thống kê dân số các dân tộc tỉnh Điện Biên

[Nguồn: UBND tỉnh Điện Biên]

Trang 30

trong thời gian qua đã được Đảng, Chính phủ đặc biệt quan tâm, các Bộ, ngành hướng dẫn cụ thể giúp các địa phương triển khai thực hiện các chính sách đạt hiệu quả Được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, các sở, ban, ngành tỉnh, tình hình KTXH trên địa bàn tỉnh ổn định, quốc phòng - an ninh được giữ vững; nhân dân các dân tộc luôn tin tưởng vào

sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đồng tình ủng hộ và tham gia thực hiện các

lý, chỉ đạo, thực hiện một số chính sách trên địa bàn Các địa phương và ngành thực hiện nghiêm túc, kịp thời các chế độ CSDT, đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các chương trình, dự án có liên quan đến CSDT; kiểm tra, giám sát, hướng dẫn việc thực hiện các chương trình, dự án, chính sách cho vùng đồng bào dân tộc để tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo Nhờ các chương trình xoá đói giảm nghèo, các chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ sản xuất và đời sống, đời sống của nhân dân đã từng bước được cải thiện, đặc biệt

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai và thực hiện các chính sách về dân tộc vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn như: Hầu hết các chính sách đầu tư, hỗ trợ chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, biên giới nên giao thông đi lại khó khăn, dân

cư sống phân tán, giá cả thị trường bất ổn định, thời tiết diễn biến bất thường ; Trình độ dân trí tại một số vùng chưa đồng đều, sản xuất lạc hậu, chủ yếu là tự cung tự cấp, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên; Năng lực quản lý,

tổ chức thực hiện của một số đơn vị cơ sở (huyện, xã) còn nhiều hạn chế, đặc biệt là việc phân cấp cho cấp xã làm chủ đầu tư gặp nhiều khó khăn Ban Giám sát cộng đồng hoạt động còn nhiều khó khăn, hạn chế; Công tác thông tin, báo cáo định kỳ của các huyện, xã còn yếu, gây nhiều khó khăn cho việc theo dõi, chỉ đạo điều hành và tổng hợp báo cáo

Trang 31

2.2 Thực tiễn quản lý nhà nước về dân tộc trên địa bàn tỉnh Điện Biên thời gian qua

2.2.1 Xây dựng, ban hành các văn bản, kế hoạch thực hiện chính sách, pháp luật về dân tộc

Trong thời gian qua, Trung ương đã quan tâm và ban hành nhiều văn bản quy định về chính sách đầu tư đối với đồng bào DTTS, vùng đặc biệt khó khăn đối với cả nước như: Chương trình phát triển KTXH vùng đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 135/QĐ-TTg; Quyết định số 414/QĐ-TTg ngày 12 tháng 4 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ đồng bào thiểu số phát triển KTXH và đảm bảo an ninh trật tự vùng đồng bào DTTS Việt Nam giai đoạn 2019 - 2025”; Quyết định số 219/QĐ-TTg ngày 21 tháng 02 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án hỗ trợ thông tin, tuyên truyền về dân tộc,

tướng Chính phủ Về việc “Cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng DTTS

và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2019 - 2021; Quyết định số 771/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Đề án “Bồi dưỡng kiến thức dân tộc đối với cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2018 - 2025”; Quyết định số 1898/QĐ-TTg năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới vùng DTTS giai đoạn 2018 - 2025”; Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02 tháng 9 năm

giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 – 2020; Quyết định số 2085/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 31/10/2016 về phê duyệt chính sách đặc thu hỗ trợ phát triển KTXH vùng DTTS và miền núi giai đoạn 2017 - 2020; v.v Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của Trung ương, tỉnh Điện Biên đã ban hành các chương trình, kế hoạch của địa phương về công tác dân tộc trên địa

Trang 32

bàn tỉnh như: Chương trình 135; Các sự án hỗ trợ sản xuất, đa dạng sinh kế nhân rộng mô hình giảm nghèo thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia; Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển KTXH vùng DTTTS và miền núi giai đoạn

của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 2086/QĐ-TTg ngày 31 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ; phê duyệt đề án hỗ trợ phát triển KTXH

phủ Ai Len năm 2015

Kết quả thực hiện các chương trình, dự án, chính sách về dân tộc tại tỉnh Điện Biên giai đoạn 2014-2018 như sau [5,52]:

- Chương trình 30a:

huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP: Nguồn vốn được phân bổ 599.078 triệu đồng, thực hiện 549.098 triệu đồng, đạt 91,7% kế hoạch, đầu tư xây dựng 116 công trình; Đối với 02 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao được áp dụng cơ chế chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng theo quy định của Nghị quyết

103.095 triệu đồng, thực hiện 93.257 triệu đồng, đạt 90% kế hoạch; đầu tư xây dựng 17 công trình (09 công trình giao thông, 05 công trình thủy lợi, nước sinh hoạt, 03 công trình trường học, trạm y tế)

Trang 33

trồng 810 ha rừng sản xuất, kinh phí 2.776 triệu đồng; trợ cấp gạo hộ nghèo nhận khoán chăm sóc bảo vệ rừng, kinh phí 215 triệu đồng;

Chính sách hỗ trợ sản xuất: Thực hiện hỗ trợ khai hoang, phục hóa và tạo ruộng bậc thang cho trên 2.018 lượt hộ với diện tích hơn 960,44 ha, kinh

việc chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao với kinh phí 133.895 triệu đồng, tổng số hộ thụ hưởng là 13.297 hộ;

Hỗ trợ vay vốn với lãi suất 0%, làm chuồng trại chăn nuôi, hỗ trợ cải tạo

ao nuôi thủy sản và trồng cỏ phát triển chăn nuôi cho trên 1.149 hộ, kinh phí

với tổng số hộ tham gia 136 hộ, kinh phí 1.083 triệu đồng Hỗ trợ 100% giống, vật

tư cho 1.202 hộ tham gia xây dựng mô hình, kinh phí 4.816 triệu đồng Hỗ trợ tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho 755 lao động, kinh phí 617 triệu đồng

Hỗ trợ dụng cụ và máy móc cho 750 hộ, kinh phí 4.324 triệu đồng Hỗ trợ kinh phí trợ cấp bố trí cán bộ khuyến nông - khuyến lâm - khuyến ngư thôn, bản cho

650 cán hộ, kinh phí 3.046 triệu đồng; chi phí quản lý 69 triệu đồng

Trong 2 năm (2014-2015): Xây dựng 05 mô hình nhân rộng giảm nghèo, trong đó: 03 mô hình hỗ trợ 57 con bò cho 171 hộ tại các xã (Xá Tổng, Háng Lìa,

Sa Lông); 01 mô hình nuôi giun quế xã Mường Đăng; 01 mô hình nuôi ong xã Sính Phình; kinh phí thực hiện 1.500 triệu đồng

đồng bào dân tộc thiểu số đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài:

có thời hạn (Nhật Bản 7 lao động; Lào 13 lao động; Hàn Quốc 17 lao động; Đài Loan 16; các nước khác 5 lao động); kinh phí thực hiện 4.244 triệu đồng

Trang 34

- Chương trình 135:

Tổng vốn kế hoạch giao: 719.353 triệu đồng; trong đó: Tiểu dự án Hỗ trợ phát triển sản xuất 146.342 triệu đồng; tiểu dự án Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu 530.886 triệu đồng; duy tu, bảo dưỡng công trình sau đầu tư 32.352 triệu đồng; tiểu

dự án nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở và cộng đồng 9.773 triệu đồng

Kết quả thực hiện: 671.793 triệu đồng, đạt 93,4% kế hoạch; trong đó:

+ Dự án Hỗ trợ phát triển sản xuất:

Tổ chức 15 lớp tập huấn (quy trình trồng trọt, chăn nuôi ) với 646 lượt người tham gia; hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, vật tư sản xuất cho 19.061 lượt hộ, hỗ trợ 23,3 tấn giống (lúa, ngô, đậu tương) có năng suất, chất lượng,

nhân tím, 7.600 cây lâm nghiệp; hỗ trợ 6.103 con gia súc (trâu, bò, dê, lợn),

trôi…); hỗ trợ 59.116 liều thuốc thú y; hỗ trợ 60 tấn phân bón tổng hợp; 337,42 tấn thức ăn chăn nuôi; hỗ trợ 3.583 bộ máy các loại cho 6.916 hộ và nhóm hộ; hỗ trợ nhân rộng 97 mô hình, với 2.655lượt người tham gia Chi phí

hỗ trợ cho 3 hợp tác xã tham gia liên kết với các hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo Kinh phí thực hiện 137.195 triệu đồng

Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng: Đầu tư xây dựng 376 công trình (220 công

trình giao thông, 90 công trình thủy lợi, 09 công trình nước sinh hoạt, 19 công trình điện sinh hoạt, 19 công trình trường lớp học và phụ trợ, 19 công trình nhà sinh hoạt cộng đồng); giá trị khối lượng thanh toán 493.662 triệu đồng

Duy tu, bảo dưỡng: Duy tu, bảo dưỡng 82 công trình (36 công trình giao

thông, 19 công trình thủy lợi, 27 công trình nước sinh hoạt…), giá trị khối lượng thanh toán 31.982 triệu đồng

Trang 35

+ Dự án Nâng cao năng lực cho cộng đồng và cán bộ cơ sở: Mở 51 lớp

tập huấn cho cộng đồng với hơn 4.602 lượt người tham gia; 22 lớp tập huấn cho cán bộ cơ sở với hơn 1.529 lượt người tham gia; kinh phí thực hiện 8.954 triệu đồng

hình giảm nghèo trên địa bàn các xã ngoài Chương trình 30a và Chương trình

135

Kế hoạch vốn giao (2017-2018): 1.974 triệu đồng;

chăn nuôi gà lai chọi với 100 hộ thụ hưởng; hỗ trợ 17 con bò cái sinh sản cho

38 hộ tham gia; nhân rộng 03 mô hình giảm nghèo; hỗ trợ giống cây lương thực cho 08 hộ nghèo; hỗ trợ giống cây ăn quả cho 02 hộ nghèo; hỗ trợ 05 con

bò cho 05 hộ nghèo; kinh phí 1.974 triệu đồng, đạt 100% kế hoạch giao

(2014-2015)

Thực hiện tuyên truyền về Chương trình Giảm nghèo bền vững trên các phương tiện thông tin đại chúng (Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Điện Biên phủ ); tập huấn nâng cao năng lực cho trên 280 lượt cán bộ làm

và chính sách giảm nghèo về thông tin (2016-2018)

Tổng vốn kế hoạch giao: 1.855 triệu đồng; Thực hiện: 1.656 triệu đồng, đạt 89,3% kế hoạch;

Giảm nghèo bền vững trên các phương tiện thông tin đại chúng (chiếu phim lưu động; Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Điện Biên phủ );

Trang 36

mỗi chương trình có thời lượng 10 phút tuyên truyền về công tác xóa đói giảm nghèo; sản xuất 05 tờ gấp, in, phát hành 23.935 bản với nội dung tuyên truyền về Chương trình Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020; tập huấn cho 50 học viên là cán bộ phụ trách thông tin và truyền thông

trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững tại cơ sở

Tổng vốn kế hoạch giao: 1.810 triệu đồng Thực hiện: 1.582 triệu đồng, đạt 87,4% kế hoạch, cụ thể: Tổ chức 06 lớp tập huấn, tuyên truyền về thực hiện công tác giảm nghèo và bảo trợ xã hội cho cán bộ cấp xã; hằng năm, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,

Sở Thông tin và Truyền thông, Ban Dân tộc tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố thường xuyên tổ chức các đoàn kiểm tra, giám sát tình hình triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững tại cơ sở

2017.

Tổng vốn kế hoạch giao: 16.580 tr.đ trong đó: Đầu tư xây dựng 09 công trình, gồm: 06 công trình đường giao thông nông thôn và 03 công trình thủy lợi; 9/9 công trình đã bàn giao đưa vào sử dụng; thực hiện giải ngân 16.068 tr.đ, đạt 97% kế hoạch

- Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017-2020 theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ

Tổng nhu cầu vốn Đề án lập: 638.938 triệu đồng Trong đó: Hỗ trợ đất sản xuất 11.678 triệu đồng; Hỗ trợ chuyển đổi nghề 32.970 triệu đồng; Nước

Trang 37

- Thực hiện Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí lựa chọn công nhận người có uy tín và chính sách đối với người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Điện Biên giai đoạn 2018-2022 Thực hiện cấp phát báo, tạp chí cho người có

uy tín trên địa bàn tỉnh với kinh phí 1.335 triệu đồng năm 2018

Thăm hỏi nhân dịp tết Nguyên Đán, tết DTTS với kinh phí 599,6 triệu đồng Thăm hỏi ốm đau 61 người có uy tín, kinh phí 41,2 triệu đồng; thăm 13 gia đình người có uy tín gặp khó khăn do hậu quả thiên tai, kinh phí 6,5 triệu;

Riêng huyện Mường Nhé năm 2018 đã dùng ngân sách huyện, tổ chức: Hội nghị biểu dương cho 45 người có uy tín, kinh phí 95 triệu đồng; Khen thưởng người có uy tín: 45 người, kinh phí 18,9 triệu đồng

phát triển:14.205 triệu đồng; vốn hỗ trợ sự nghiệp: 1.610 triệu đồng trong đó:

đồng, đạt 70% kế hoạch Ước thực hiện đến 31/01/2019 đạt 100% Cụ thể:

Bố trí giải ngân cho 03 công trình tiếp chi gồm: Đường giao thông Pa Thơm - Huổi Moi (giai đoạn II) xã Pa Thơm, huyện Điện Biên; Đường giao thông (giai đoạn II) bản Lả Chà, xã Pa Tần, huyện Nậm Pồ và Đường vào bản Nậm Kè, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé; khởi công mới 02 công trình năm

2018 là: San nền, giao thông, thoát nước điểm dân cư Púng Bon, xã Pa Thơm, huyện Điện Biên và San nền, giao thông, thoát nước điểm dân cư Si Văn, xã

Pa Thơm, huyện Điện Biên Hiện UBND tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư 6 công trình mới năm 2019 gồm: Nước sinh hoạt bản Púng Bon, xã Pa Thơm, huyện Điện Biên; Nước sinh hoạt bản Lả Chà, xã Pa Tần, huyện Nậm Pồ;

Trang 38

Nước sinh hoạt bản Nậm Kè, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé; San nền, giao thông, thoát nước bản Huổi Moi và sinh hoạt bản Huổi Moi, xã Pa Thơm, huyện Điện Biên; San nền, giao thông, thoát nước bản Lả Chà, xã Pa Tần, huyện Nậm Pồ và Thủy lợi bản Lả Chà, xã Pa Tần, huyện Nậm Pồ

Ước thực hiện cả năm đạt 80%, trong đó: Hỗ trợ gạo và hỗ trợ mua vật tư sản

xuất với tổng số tiền là 520.4 triệu đồng; Hỗ trợ phát triển y tế: Cấp thuốc y

tế, hỗ trợ dinh dưỡng đối với trẻ sở sinh; hỗ trợ phụ nữ mang thai và sau sinh cho nhân dân bản Púng Bon, Si Văn, Lả Chà, Nậm Kè Kinh phí thực hiện: 82 triệu đồng; Hỗ trợ phát triển văn hóa – thông tin: Hỗ trợ hoạt động của đội văn nghệ và hỗ trợ người phục hồi và truyền bá văn hóa dân tộc cho 04 bản: Púng Bon, Si Văn, Lả Chà, Nậm Kè Kinh phí thực hiện là 40 triệu đồng; Chi trả tiền hỗ trợ di chuyển: 120 triệu đồng; Chi phí quản lý: 42,6 triệu đồng

2.2.2 Tổ chức bộ máy và bố trí nguồn nhân lực thực hiện pháp luật về dân tộc

Thực tế hoạt động QLNN về dân tộc của tỉnh gắn liền hoạt động của các cơ quan làm công tác dân tộc thuộc UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Điện Biên

a Ở cấp tỉnh

Ban Dân tộc tỉnh Điện Biên là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh,

có chức năng tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng QLNN về công tác dân tộc va thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của UBND tỉnh và theo quy định của pháp luật Đồng thời Ban Dân tộc chịu

sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn vè chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan

Trang 39

Cơ cấu tổ chức Ban Dân tộc tỉnh Điện Biên gồm có Lãnh đạo Ban Dân tộc và 04 đơn vị thuộc Ban Dân tộc

người đứng 1à người đứng đầu Ban, chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Ban

sách Dân tộc và Phòng Dân tộc tuyên truyền

+ Văn phòng Ban thực hiện chức năng tham mưu, thông tin tổng hợp, điều phối công tác hành chính quản trị để phục vụ chương tình kế hoạch của

VĂN PHÒNG

(05 biên

chế)

THANH TRA (04 biên chế)

PHÒNG CHÍNH SÁCH DÂN TỘC (04 biên chế)

PHÒNG DÂN TỘC TUYÊN TRUYỀN (04 biên chế)

Trang 40

lãnh đạo Ban, quản lý tài chính của Ban; thường trực Hội đồng thi đua khen thưởng, kỷ luật của cơ quan và ngành của tỉnh; tham mưu công tác tổ chức cán bộ, công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ là công tác dân tộc ở địa phương + Thanh tra Ban giúp lãnh đạo Ban thực hiện chức năng thanh tra hành

Dân tộc tỉnh

thực hiện chức năng QLNN về lĩnh vực thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh Điện Biên

Dân tộc tỉnh xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện hoạt động thông tin, tuyên truyền trong lĩnh vực dân tộc theo quy định của pháp luật; triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động QLNN của Ban Dân tộc; tổ chức xây dựng, quản lý, vận hành hạ tầng kỹ thuật, cơ sở dữ liệu và các hệ thống công nghệ thông tin của Ban Dân tộc tỉnh

b Ở cấp huyện

Hiện nay, tỉnh Điện Biên có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó có

01 thành phố, 01 thị xã và 08 huyện Tất cả 10/10 đơn vị hành chính cấp huyện đều đủ tiêu chí để thành lập Phòng Dân tộc theo quy định của pháp luật Phòng Dân tộc cấp huyện là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, có chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng

và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cấp huyện; đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Ban Dân tộc

Ngày đăng: 10/12/2019, 08:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w