1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và biện pháp nhân giống bằng giâm cành cây chè hoa vàng tại huyện chợ đồn, tỉnh bắc kạn

179 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 3,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa trưởng, loại hom đến khả năng nhân giống bằng giâm hom chè hoa Vàng tại huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn .... Tuy nhiên các nghiên cứu về Chè

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

LÊ ĐÀO DUY THẮNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ BIỆN PHÁP NHÂN GIỐNG BẰNG GIÂM CÀNH CÂY CHÈ HOA VÀNG TẠI HUYỆN CHỢ ĐỒN,

TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Thái Nguyên - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

LÊ ĐÀO DUY THẮNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ BIỆN PHÁP NHÂN GIỐNG BẰNG GIÂM CÀNH CÂY CHÈ HOA VÀNG TẠI HUYỆN CHỢ ĐỒN,

TỈNH BẮC KẠN

Ngành : Khoa học cây trồng

Mã số ngành: 8.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN ĐÌNH HÀ

Thái Nguyên - 2019

Trang 3

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Lê Đào Duy Thắng

Trang 4

Trong suốt quá trình học tập và thực tiễn nghiên cứu đề tài, tôi luôn nhận được sự quân tâm của cơ quan, nhà trường, sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Trần Đình Hà

đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Khoa Nông học - Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, đã tạo điều kiện, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để có thể hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến tập thể lãnh đạo công chức Phòng quản

lý Khoa học-Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn nơi tôi công tác đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi được tham gia khóa đào tạo này

Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Thái Nguyên, tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Lê Đào Duy Thắng

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

BẢNG DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài: 1

2 Mục tiêu: 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Nguồn gốc, phân bố và phân loại chè Hoa vàng 4

1.1.2 Đặc điểm thực vật học một số loài chè Hoa vàng 6

1.1.3 Cơ sở khoa học của nhân giống vô tính 8

1.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất cây chè Hoa vàng trên thế giới và trong nước 15

1.2.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất cây chè Hoa vàng trên thế giới: 15

1.2.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất chè Hoa vàng ở trong nước 19

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.2.Thời gian, địa điểm nghiên cứu 27

2.3 Nội dung nghiên cứu 27

2.3.1 Nội dung 1: Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của cây chè Hoa vàng tại huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn 27

Trang 6

hom đến khả năng nhân giống cây chè Hoa vàng tại huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn 27 2.4 Phương pháp nghiên cứu 28 2.4.1 Nội dung 1: Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của cây chè Hoa vàng tại huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn 28 2.4.2 Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa trưởng, loại hom đến khả năng nhân giống bằng giâm hom chè hoa Vàng tại huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn 30

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

3.1 Đặc điểm nông sinh học của cây chè Hoa vàng tại huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn 36 3.1.1 Tình hình phân bố, đặc điểm sinh cảnh và khai thác sử dụng cây chè Hoa vàng tại Huyện Chợ 60 3.1.2 Đặc điểm hình thái của các loài chè Hoa vàng 40 3.1.3 Đặc điểm vật hậu của loài chè Hoa vàng tại huyện Chợ Đồn 44 3.2 Ảnh huởng của nồng độ chất điều hòa sinh truởng, loại hom đến khả năng nhân giống bằng giâm hom cây chè Hoa vàng 45 3.2.1 Ảnh hưởng của nồng độ chất điều hòa trưởng, loại hom đến tỷ lệ

hom sống 45 3.2.2 Ảnh hưởng của nồng độ chất điều hòa sinh trưởng, loại hom đến tỷ lệ tái sinh chồi của hom giâm 49 3.2.3 Ảnh hưởng của nồng độ chất điều hòa sinh trưởng, loại hom đến khả năng sinh trưởng chồi của hom giâm 52 3.2.4 Ảnh hưởng của nồng độ chất điều hòa trưởng, loại hom đến khả năng ra

rễ của hom giâm 55 3.2.4 Ảnh hưởng của nồng độ chất điều hòa sinh trưởng, loại hom đến tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn 58

Trang 7

1.Kết luận 61

2 Đề nghị 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 8

CT : Công thức CV% : Hệ số biến động Đ/C : Đối chứng ĐHST : Điều hòa sinh trưởng IBA : Indol buiyric acid KTST : Kích thích sinh trưởng

PPM : Phần triệu TCXV : Tiêu chuẩn xuất vườn

Trang 9

Bảng 1.1: Danh mục các loài Camellia L có hoa vàng ở Việt Nam 6 Bảng 3.1: Tình hình phân bố tự nhiên của loài Chè Hoa vàng tại huyện

Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 36 Bảng 3.2: Đặc điểm địa hình nơi bắt gặp Chè Hoa vàng tại huyện Chợ

Đồn, tỉnh Bắc Kạn 39 Bảng 3.3: So sánh đặc điểm hình thái thân, cành lá của 2 loài chè Hoa

vàng tại huyện Chợ Đồn 42 Bảng 3.4: So sánh đặc điểm hoa của các cây chè Hoa vàng tại huyện Chợ Đồn 42 Bảng 3.5: Chu kì sinh trưởng (thời kì vật hậu) trong năm của của các cây

chè Hoa vàng tại huyện Chợ Đồn 44 Bảng 3.6: Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến tỷ lệ hom sống của cây chè

Hoa vàng tại huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn 47 Bảng 3.7: Ảnh hưởng của loại hom đến tỷ lệ hom sống của cây chè Hoa

vàng tại huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn 48 Bảng 3.8: Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến tỷ lệ hom tái sinh chồi của

cây chè Hoa vàng tại huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn 50 Bảng 3.9: Ảnh hưởng của loại hom đến tỷ lệ hom tái sinh chồi của cây

chè Hoa vàng tại huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn 52 Bảng 3.10: Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến khả năng sinh trưởng chồi

của hom giâm sau 6 tháng cắm hom của cây chè Hoa vàng tại huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn 53 Bảng 3.11: Ảnh hưởng của loại hom đến khả năng sinh trưởng chồi của

hom giâm sau 6 tháng cắm hom của cây chè Hoa vàng tại huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn 54 Bảng 3.12 : Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến khả năng ra rễ của hom

giâm sau 6 tháng cắm hom của cây chè Hoa vàng tại huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn 55

Trang 10

sau 6 tháng cắm hom của cây chè Hoa vàng tại huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn 57 Bảng 3.14: Ảnh hưởng của nồng độ IBA đến tỷ lệ cây đạt TCXV sau 6 tháng

cắm hom của cây chè Hoa vàng tại huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn 58 Bảng 3.15 : Ảnh hưởng của loại hom đến tỷ lệ cây đạt TCXV sau 6 tháng

cắm hom của cây chè Hoa vàng tại huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn 59

Trang 11

Hình 3.1 Sinh cảnh rừng có khả năng bắt gặp các loài Chè hoa vàng 37 Hình 3.2 Chè hoa vàng búp tím (Camellia sp1.) 41 Hình 3.3 Chè hoa vàng lá nhỏ (Camellia sp2.) 42 Hình 3.4 Đặc điểm hình thái hoa của 2 loài chè Hoa vàng tại huyện Chợ

Đồn, Tỉnh Bắc Kan 43

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây Chè Hoa vàng có tên khoa học là Camellia spp., hay còn gọi là Trà Hoa vàng (Trà mi), thuộc Họ chè (Theaceae), Chi Chè (Camellia L.) Là loại

cây quý hiếm nằm trong sách đỏ của Việt Nam Cây Chè Hoa vàng rất có giá trị về kinh tế và y học có tác dụng điều chỉnh các chất béo trong cơ thể, lượng đường trong máu, giải độc gan và thận Nước sắc lá chè có tác dụng hạ huyết

áp, ức chế sự tụ tập của tiểu cầu, chống sự hình thành huyết khối gây tắc nghẽn mạch máu, phòng ngừa các chứng viêm, sưng, tạo hưng phấn thần kinh, lợi tiểu mạnh, ngăn ngừa xơ vữa động mạnh máu, ức chế và tiêu diệt vi khuẩn Mặt khác, Chè Hoa vàng còn có tác dụng chống dị ứng và duy trì trạng thái bình thường của tuyến giáp Với giá trị dược liệu cao, Chè Hoa vàng ngày càng được giới y quan tâm nghiên cứu, tạo ra nhiều sản phẩm được ứng dụng trên nhiều quốc gia như Mỹ,Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Việt Nam Ngoài ra, cây Chè Hoa vàng có hoa đẹp, màu vàng đượm rất đặc trưng,

lá to xanh đậm quanh năm, thân gỗ nhỏ, ra hoa nhiều đợt kéo dài trong dịp cuối đến đầu năm sau nên có thể khai thác theo hướng trồng làm cây cảnh Chè Hoa vàng là cây ưa bóng có thể tận dụng trồng tầng dưới tán cây tầng cao như cây lâm ở các đai rừng phòng hộ nhằm che phủ bảo vệ đất dốc Ngày nay các nhà thực vật thế giới xem các loài chè Hoa vàng là nguồn gen quý hiếm cần được bảo vệ nghiêm ngặt (Trần Ninh và cs (2010)) [9]

Ở Việt Nam, đã phát hiện khoảng 50 loài chè Hoa vàng mọc tự nhiên dưới tán rừng ở Tam Đảo, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Tuyên Quang, Yên Bái, Ninh Bình, Bắc Kạn v.v Hiện này loài thực vật này được xem là loại cây quý hiếm nằm trong sách đỏ của Việt Nam cần được bảo tồn do việc khai thác tự do của người dân và tác động của biến đổi khí hậu

Tại Bắc Kạn, cây Chè Hoa vàng có ở các huyện Chợ Đồn, Ba Bể, Pác Nặm, Chợ Mới Do có giá trị dược lý và kinh tế cao, trong thời gian qua người dân địa phương đã phát hiện và khai thác Chè Hoa vàng trong tự nhiên

Trang 13

để bán cho các tư thương với giá khoảng 0,5 triệu đồng/kg nụ hoa tươi, thậm chí thu mua cả cây tươi với giá khoảng 7.000 – 10.000 đ/kg Do vậy nguồn vật liệu này ngày càng có nguy có cạn kiệt, cần có biện pháp bảo tồn và khai thác hợp lý Tuy nhiên các nghiên cứu về Chè Hoa vàng tại Bắc Kạn như phân bố, kỹ thuật nhân giống và gây trồng Chè Hoa vàng chưa được thực hiện

và công bố, do đó thiếu các cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và phát triển loài cây có giá trị này

Xuất phát từ thực trạng nêu trên, để có cơ sở khoa học và thực tiễn nâng cao hiệu quả khai thác, bảo tồn và phát triển sản xuất cây Chè Hoa vàng thành sản phẩm hàng hóa có giá trị cao từ lâm sản ngoài gỗ của tỉnh Bắc Kạn,

tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và biện

pháp nhân giống bằng giâm cành cây Chè Hoa vàng tại huyện Chợ đồn, tỉnh Bắc Kạn”

2 Mục tiêu

- Xác định được đặc điểm nông sinh học của loài Chè Hoa vàng tại

huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn làm cơ sở cho việc bảo tồn, gây trồng phát triển sản xuất

- Xác định được nồng độ chất kích thích sinh trưởng IBA phù hợp trong nhân giống bằng giâm cành, góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống, trồng và chăm sóc cây Chè Hoa vàng tại địa phương

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là luận cứ quan trọng bổ sung thêm dữ liệu khoa học cho các nghiên cứu về đặc tính sinh học, nhân giống của cây Chè Hoa vàng

- Đề tài là cơ hội để các nhà khoa học, học viên tiếp cận nghiên cứu tìm hiểu về cây Chè Hoa vàng tại tỉnh Bắc Kạn

Trang 14

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học và thực tiễn ban đầu cho việc lựa chọn loài Chè Hoa vàng phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh Bắc Kạn, xây dựng quy trình nhân giống, trồng chăm sóc cây Chè Hoa vàng phát triển sản xuất tạo sản phẩm hàng hóa có giá trị cao, đồng thời bảo tồn, phát triển loài thực vật quý này tại địa phương

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Nguồn gốc, phân bố và phân loại Chè Hoa vàng

Chè Hoa vàng có tên khoa học là Camellia L., tên Việt Nam gọi là Trà

Hoa vàng (Trà mi), thuộc Họ Theaceae (Họ chè), Chi Camellia L (Chi chè)

Theo hệ thống phân loại thực vật của Takhtajan, vị trí phân loại của

chi Camellia L có thể được tóm tắt như sau:

Chi Camellia L có khoảng 280 loài, phân bố chủ yếu ở nhiệt đới và á

nhiệt đới, có nguồn gốc ở khu vực miền đông và miền nam châu Á, từ phía đông dãy Himalaya tới Nhật Bản và Indonesia

- Châu Á: Ấn độ, Bangladesh, Đài Loan, Hàn Quốc, Indonesia, Iran, Malaysia, Myanmar, Nepal, Nhật Bản, Sri-lanka, Trung Quốc, Việt Nam

- Châu Phi: Burundi, Ethiopia, Kenya, Maritius, Nam Phi, Uganda

- Nam Mỹ: Argentina, Brazil, Ecuador, Peru

- Châu Đại Dương: Australia, New-Zeland

- Châu Âu: Thổ Nhĩ Kỳ, Liên xô (cũ)

Ở Trung Quốc, các loài Camellia đã được quan tâm bảo tồn và phát triển

Trang 16

từ khá sớm Đến nay có nhiều trung tâm bảo tồn và nghiên cứu phát triển Chè, trong đó có Chè Hoa vàng Vườn ngân hàng gen Camellia ở Nam Ninh là nơi

lưu giữ bộ sưu tập lớn nhất Chè Hoa vàng (Camellia chrysantha.M.Sealy) trên thế giới Lưu giữ hơn 20 loài Camellia và 15 thứ Chè Hoa vàng (Camellia

chrysantha) nhằm bảo tồn, nghiên cứu, lai tạo giống và nghiên cứu về trồng

trọt Có 3,000 cá thể được lưu giữ, từ đó tạo ra 7,000 dòng lai từ cây bố mẹ là

Chè Hoa vàng (Camellia chrysantha.M.Sealy) và các loài khác trong chi Camellia L Có 6 loài trong bộ sưu tập được thu từ Việt Nam, gồm: C

chrysantha.M.Sealy, C ptilosperma S Ye Liang & Q T Chen, C tunghinensis H.T Chang, C murauchii Ninh & Hakoda, C impressinervis

Hung T Chang & S Ye Liang và C amplexicaulis (Pitard) Cohen-Stuart

Ngoài ra, còn nhiều vườn khác lưu giữ các loài và giống Camellia, bao gồm: Guilin Botanic Garden Yanshan - Quảng Tây (20 loài); The Jinhua

International Camellia Species Garden - Chiết Giang (25 loài); The Fangcheng Golden Camellia Nature Reserve and Gene Bank - Quảng Tây (28

loài và giống Trà hoa vàng); Kunming Institute of Botany - Vân Nam (25 loài,

trong đó có 8 loài từ Việt Nam), bao gồm: C crassiphylla Ninh & Hakoda;

C cucphuongensis Ninh &Rosmann; C hakodae.M.Sealy;

C rosmannii Ninh; C vidalii J C.Rosmann; C dongnaiensis Orel; C luteocerata Orel; C inusitata Orel, Curry & Luu (Trần Ninh và cs (2010))[9]

*Ở Việt Nam

Việt Nam được các nhà khoa học xác định nằm trong trung tâm đa dạng sinh học của các loài Chè Hoa vàng được tìm thấy ở một số khu vực như Tam Đảo, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Tuyên Quang, Yên Bái, Cúc Phương … Đến nay đã xác định có 58 loài Camellia L., thuộc các nhóm: Chè, Hải đường, Trà mi, Sở (Trà dầu), trong đó có 27 loài Camellia L có hoa màu vàng (Trần Ninh và cs (2010)) [9] (Bảng 1.1)

Trang 17

Bảng 1.1 Danh mục các loài Camellia L có hoa vàng ở Việt Nam

học

Tên Việt Nam Phân bố

1 Camellia aurea Hung T Chang Trà hoa vàng kim VN

2 Camellia crassiphylla Ninh & Hakoda Trà hoa vàng lá dày VN

3 Camellia cucphuongensis Ninh &

Rosmann

Trà hoa vàng Cúc Phương

VN

4 Camellia dalatensis Luong, Tran &

Hakoda

Trà hoa vàng Đà Lạt VN

5 Camellia dilinhensis Ninh & V.D.Luong Trà hoa vàng Di Linh VN

6 Camellia dormoyana (Pierre) Sealy Trà hoa vàng Đo môi VN

7 Camellia euphlebia M.Sealy Trà hoa vàng Tiên Yên VN, TQ

8 Camellia flava (Pit.) Sealy Trà hoa vàng nhạt VN

9 Camellia chrysantha (Hu) Tuyama Trà hoa vàng VN, TQ

10 Camellia gilbertii (A Chev ex Gagnep.)

Sealy

Trà hoa Gilbert VN, TQ

11 Camellia hakodae M.Sealy Trà hoa vàng Hako VN

12 Camellia hamyenensis M.Sealy Trà hoa vàng Hàm Yên VN

14 Camellia huulungensis Rosmann & Ninh Trà hoa vàng Hữu Lũng VN

15 Camellia impressinervis Hung T Chang & S

Ye Liang

Trà hoa vàng gân lõm VN, TQ

17 Camellia limonia C.F.Liang & S.L.Mo Trà hoa vàng da cam VN, TQ

18 Camellia murauchii Ninh & Hakoda Trà hoa vàng Murô VN

19 Camellia megasepala Hung T.Chang &

Trin Ninh

Trà hoa vàng Ba Bể VN, TQ

20 Camellia petelotii (Merr.) Sealy Trà hoa vàng Petelot VN

21 Camellia phanii Hakoda et Ninh Trà hoa vàng Phan VN

22 Camellia quephongensis Hakoda et Ninh Trà hoa vàng Quế Phong VN

23 Camellia rosmannii Ninh Trà hoa vàng Yên Tử VN

24 Camellia tamdaoensis Ninh et Hakoda Trà hoa vàng Tam đảo VN

25 Camellia thanxaensis Trà hoa vàng Thần Sa VN

26 Camellia tonkinensis (Pit.) Cohen-Stuart Trà hoa vàng Bắc bộ VN

1.1.2 Đặc điểm thực vật học một số loài Chè Hoa vàng

1.1.2.1 Chè Hoa vàng ở Ba Vì - Hà Nội

Chè Hoa vàng ở Ba Vì (Camellia tonkinensis) thuộc nhóm cây gỗ nhỏ,

cao 3-5m, mọc rải rác trong rừng Thân tròn, thẳng, có màu trắng nhờ, cành

Trang 18

non và ngọn non có màu nâu đỏ Cây sinh trưởng thường xuyên nhưng tốc độ chậm, có rễ cọc to và dài, ăn sâu Về hình thái, chè Hoa vàng Ba Vì có lá hình trái xoan dài, đầu lá nhọn, lá dài 9,5-14,5 cm, rộng 3,5-5,0 cm, lá đơn mọc cách không có lá kèm, lá non màu nâu đỏ và mọc chúc xuống rất đặc trưng

Hệ gân lá nổi cả 2 mặt, có 8-9 đôi, gân phụ hợp mép; phiến lá dày, cứng và dài, mép lá có răng cưa Cây có hoa màu vàng tươi, hoa lưỡng tính, hoa to, đường kính hoa 6-8cm, hoa nở lâu tàn, có thể duy trì được 8-10 ngày Mùa hoa từ tháng 10 đến tháng 12 (Trần Ninh và cs (2010))[9]

1.1.2.2 Chè Hoa vàng ở Sơn Động - Bắc Giang

Chè Hoa vàng (Camellia euphlebia) phân bố tự nhiên tại Sơn Động là

loài cây gỗ nhỏ, vỏ nhẵn màu xám mốc; lá có dạng hình trứng thuôn dài, mép

lá có răng cưa dài, mặt trên lá nhẵn bóng, có màu xanh thẫm, mặt dưới xanh nhạt, hơi ráp Gốc lá hình nêm hay tù, đầu lá hơi nhọn, lá dài bình quân 9-15

cm, rộng 4-7 cm Mỗi bên lá có 9-12 gân, gân lá hợp cách mép lá 0,2 - 0,6cm.; Hoa màu vàng tươi, đường kính hoa 5 - 6cm, hoa nở vào tháng 10 đến tháng giêng năm sau; số lượng hoa trên cây nhiều, hoa mọc ở đầu cành hay nách lá

1.1.2.3 Chè Hoa vàng ở Cúc Phương - Ninh Bình

Chè Hoa vàng ở Vườn Quốc gia Cúc Phương gồm 2 loài:

Camellia cucphuongensis và Camellia flava

Camellia cucphuongensis là loài cây gỗ nhỏ, cao 3-6m Lá hình bầu

dục dài 6-12cm, rộng 2,5-4,5 cm; đỉnh lá nhọn dài khoảng 1,5cm; gốc lá tròn hay hình nêm rộng; chất lá dày, bóng và dai; gân bên 7-9 cặp Hoa màu vàng nhạt, có cuống dài 5-7 mm, có lông Mùa hoa kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 2 năm sau Loài này ưa ẩm mọc trong các thung lũng của rừng nhiệt đới ở độ cao 300-400 m (khu vực gần hồ Mạc thuộc Vườn Quốc gia Cúc Phương)

Trang 19

1.1.2.3 Chè Hoa vàng ở Tam Đảo - Vĩnh Phúc

Chè Hoa vàng ở Vườn Quốc gia Tam Đảo gồm 2 loài là Camellia

tamdaoensis và Camellia petelotii

Camellia tamdaoensis là loài cây gỗ nhỏ, cao 2-4 m Lá hình bầu dục

hẹp, gốc hình nêm, gân bên gồm 6-8 cặp Hoa màu vàng, mọc ở nách lá; cuống hoa ngắn 5-9 mm; cánh hoa 10-12 màu vàng, phủ nhiều lông mịn trắng

ở cả hai mặt Mùa ra hoa bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 1 Loài này mọc ở độ cao 300-500 m tại khu vực Tây Thiên

Camellia petelotii là loài cây gỗ nhỏ, cao 2-4 m Lá dày hình bầu dục hẹp;

gốc lá dạng nêm hẹp; gân bên gồm 10-12 cặp Hoa màu vàng, mọc ở đỉnh cành; cuống hoa dài 1-1,5 cm Mùa ra hoa từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau Loài này phân bố ở độ cao 900-1100 m ở thung lũng ẩm trong rừng thường xanh

1.1.3 Cơ sở khoa học của nhân giống vô tính

Nhân giống vô tính là phương pháp nhân lên hoặc tạo ra cá thể mới bằng phương pháp sinh sản vô tính Hiện nay phương pháp nhân giống này được ứng dụng nhiều trong nhân giống cây ăn quả, cây trồng lâm nghiệp

Nhân giống bằng hom (cutting propagation) là một trong những

phương pháp nhân giống vô tính Đó là việc dùng một phần lá, một đoạn thân, đoạn cành, hoặc đoạn rễ để tạo nên cây mới gọi là cây hom, cây hom

có đặc tính di truyền như của cây mẹ

Phương pháp nhân giống vô tính có nhiều ưu điểm: Giữ được những đặc tính di truyền của cây mẹ, cây giống sau trồng sớm ra hoa, thời gian nhân giống nhanh, các đột biến có lợi khó bị mất đi do không phải trải qua quá trình phân bào giảm nhiễm Bên cạnh những ưu điểm nổi bật, phương pháp nhân giống này vẫn còn bộc lộ một số nhược điểm sau :

Cây mẹ truyền bệnh virus sang cho cây con, cây giống nhanh bị thoái hóa (sinh trưởng phát triển không đều, giảm giá trị thương phẩm), hệ số nhân thấp, cần số lượng lớn cây bố mẹ

Trang 20

* Cơ sở phát sinh phát triển cá thể

Bất kỳ một loài sinh vật nào trong quá trình sinh trưởng và phát triển đều chịu sự điều hoà của bộ gen và bộ gen do môi trường xung quanh điều chỉnh Trong bộ gen sẽ có những gen hoạt động theo điều kiện nhất định và được điều khiển nhịp nhàng theo môi trường với sự phát triển cá thể đặc trưng cho từng loài cụ thể

Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây được thể hiện qua các giai đoạn: Non trẻ, chuyển tiếp, thành thục Khả năng ra chồi rễ ở các bộ phận cũng khác nhau, ở các bộ phận thuộc giai đoạn non trẻ khả năng ra rễ lớn hơn ở giai đoạn trưởng thành Do vậy việc xử lí trẻ hoá là một biện pháp quan trọng trong nhân giống bằng hom ở những loài cây khó ra rễ

Khả năng ra rễ của hom cũng phụ thuộc vào xuất xứ, có loại hom dễ ra

rễ có loại hom khó ra rễ, chồi đỉnh có khả năng ra rễ tốt hơn chồi nách, đặc biệt là cành chồi vượt dễ ra rễ hơn cành lấy từ tán cây Mỗi loài cây có một loại hom phù hợp riêng, tuỳ từng loài mà lấy hom ở tuổi, vị trí nào cho phù hợp (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001)[6]

Có 2 loại rễ: Rễ tiềm ẩn và rễ mới sinh

- Rễ tiềm ẩn: Là loại rễ có nguồn gốc từ trong thân cây, cành cây nhưng chỉ phát triển khi bộ phận của thân được tách ra khỏi cây mẹ

- Rễ mới sinh: Là loại rễ sinh ra sau khi cắt và giâm hom Khi đó các tế bào chỗ bị cắt, bị tổn thương, và các tế bào dẫn truyền đã chết của mô gỗ được mở ra là giai đoạn các chu trình trao đổi chất và vận chuyển các chất

Trang 21

trong thân cây, dẫn đến dòng nhựa luyện được dẫn từ lá xuống đây bị dồn lại khiến cho các tế bào phân chia hình thành mô sẹo, đây là cơ sở hình thành rễ bất định

Sự hình thành rễ bất định có thể được phân chia làm 3 giai đoạn:

- Các tế bào bị thương ở các vết cắt chết đi và hình thành lên một lớp tế bào bị thối trên bề mặt

- Các tế bào sống ngay dưới lớp bảo vệ bắt đầu phân chia và hình thành lớp mô mềm gọi là mô sẹo

- Các tế bào vùng thượng tầng hoặc lân cận và libe bắt đầu hình thành rễ

* Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình giâm hom

Thông thường người ta chia các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm thành 2 nhóm: Nhóm nhân tố nội sinh bao gồm những đặc điểm di truyền của loài, của xuất xứ và của cá thể, vai trò của tuổi cây, tuổi cành, vị trí cành và nhóm nhân tố ngoại sinh gồm các loại chất kích thích ra

rễ và các nhân tố ngoại cảnh như độ ẩm, ánh sáng, nhiệt độ, thời vụ giâm hom

* Nhân tố nội sinh

- Đặc điểm di truyền loài

Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy không phải tất cả các loài đều có khả năng ra rễ như nhau, tuỳ theo đặc điểm di truyền các loài cây khác nhau có tỉ

lệ ra rễ khác nhau đã dựa theo khả năng ra rễ để chia các loài cây gỗ thành các nhóm chính sau:

+ Nhóm các loài cây tương đối khó ra rễ gồm 26 loài trong đó có

các chi Morus sp., Ficus sp., Populus sp …

+ Nhóm các loài cây có khả năng ra rễ trung bình gồm 65 loài trong đó

có các chi Eucaluptus sp., Quercus sp …

+ Nhóm các loài cây dễ ra rễ gồm có 29 loài như một số loài thuộc các

chi Malus sp., Prunus sp., Pyrus sp … thuộc họ Rosaceae, và một số chi khác

Trang 22

như Aesculus sp., Bauhinia sp …

Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ mang ý nghĩa tương đối vì có một số loài ở nhóm 1, hoặc nhóm 2 vẫn dễ ra rễ như Gạo, Liễu sam, Vân sam … do vậy theo khả năng giâm hom có thể chia thực vật thành 2 nhóm chính là:

+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hom cành gồm các loài thuộc họ

Dâu tằm (Moraceae) như Dâu tằm, Sung… và họ Liễu (Salicaseae) như

Sắn, Mía… đối với nhóm này khi giâm hom không cần phải xử lý thuốc hom vẫn ra rễ bình thường

+ Nhóm sinh sản chủ yếu bằng hạt thì khả năng ra rễ của hom giâm bị hạn chế ở mức độ khác nhau Những loài cây dễ ra rễ như Sở đến 35 tuổi vẫn

có khả năng ra rễ 70 - 90% Những loài cây khó ra rễ như Mỡ (Manglietia

glauca) 5 tuổi vẫn chỉ ra rễ 14% , với nhóm này muốn có tỉ lệ ra rễ cao phải

dùng cây non và xử lý các chất kích thích ra rễ thích hợp (Lê Đình Khả và cs (2003))[5]

- Đặc điểm di truyền của từng xuất xứ, từng cá thể

Do đặc điểm biến dị mà các xuất xứ và các cá thể khác nhau cũng có khả năng ra rễ khác nhau Nghiên cứu cho Bạch đàn trắng Caman

(E.Camaldulensis) 4 tháng tuổi đã thấy rằng trong lúc xuất xứ Katherine có tỉ

lệ ra rễ 95% thì xuất xứ Gilbert River có tỉ lệ ra rễ 50%, còn xuất xứ Nghĩa Bình chỉ ra rễ được 35% (Lê Đình Khả và cs (2003))[5]

- Vị trí cành và tuổi cành lấy hom

Hom lấy từ các phần khác nhau trên thân cũng có khả năng ra rễ khác nhau Thông thường hom lấy từ cành ở tầng dưới dễ ra rễ hơn ở tầng trên Cành chồi vượt dễ ra rễ hơn cành lấy từ tán cây, vì vậy người ta thường xử lý cho cây ra chồi vượt để lấy hom giâm (Lê Đình Khả và cs (2003))[5]

- Sự tồn tại của lá trên hom

Lá là cơ quan quang hợp tạo ra các chất hữu cơ cần thiết cho cây, đồng

Trang 23

thời cũng là cơ quan thoát hơi nước để khuyếch tán các chất kích thích ra rễ đến các bộ phận của hom Lá còn là cơ quan điều tiết các chất điều hoà sinh trưởng ở hom giâm, vì thế khi giâm hom phải để lại một diện tích lá cần thiết, song diện tích lá quá lớn, quá trình thoát hơi nước mạnh sẽ làm cho hom bị héo và có thể chết trước khi ra rễ Do vậy hom phải có 1 - 2 lá, và phải cắt bớt một phần (chỉ để lại 1/3 - 1/2) diện tích lá (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2001)[6]

- Kích thước hom: hom có đường kính lớn ra rễ tốt hơn hom có đường

kính nhỏ

- Tuổi cây mẹ lấy cành

Khả năng ra rễ của hom giâm không những do tính di truyền quy định

mà còn phụ thuộc rất lớn về tuổi cây mẹ lấy cành Thông thường cây chưa ra hoa kết quả dễ nhân giống bằng hom hơn khi đã cho quả, những cây mẹ còn trẻ, sức sống mạnh mẽ, có năng lực phân sinh mạnh nên hom ra rễ tốt hơn Cây càng già khả năng ra rễ của hom càng yếu Thậm chí ở một số loài cây khả năng ra rễ chỉ tồn tại ở những cây 1 - 2 tuổi

- Các chất điều hoà sinh trưởng

Chất điều hoà sinh trưởng bao gồm các hoóc môn thực vật tự nhiên và những hợp chất hữu cơ được tổng hợp nhân tạo Người ta chia chất điều hoà sinh trưởng ra làm nhiều nhóm, mỗi nhóm có đặc trưng riêng của nó, trong đó nhóm Auxin có tác động kích thích ra rễ mạnh nhất khi xâm nhập vào tế bào thực vật làm cho tính thấm của nguyên sinh chất và hô hấp tăng lên … thúc đẩy

sự ra rễ của thượng tầng dẫn đến sự thúc đẩy ra rễ của hom Tuy nhiên sự kích thích sinh lý của Auxin phụ thuộc chặt chễ vào nồng độ của nó trong tế bào Khi nồng độ quá cao thì tác động kích thích trở thành kìm hãm Do đó việc chọn loại thuốc và nồng độ phù hợp cho từng loại cây là rất quan trọng

* Các nhân tố ngoại sinh

Khả năng ra rễ của hom giâm chịu ảnh hưởng của các nhân tố ngoại

Trang 24

sinh như điều kiện sinh sống của cây mẹ và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình giâm hom như mùa vụ, ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ và giá thể giâm hom

- Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành

Điều kiện sinh sống của cây mẹ lấy cành như điều kiện chiếu sáng, độ

ẩm không khí, độ ẩm đất có ảnh hưởng khá rõ đến tỉ lệ ra rễ của hom giâm, nhất là hom lấy từ những cây non

- Giá thể hay môi trường giâm hom

Giá thể cũng góp phần vào thành công của giâm hom Các loại Giá thể giâm hom thường dùng là mùn cưa để mục, xơ dừa băm nhỏ, đất tầng B, cát tinh …giá thể giâm hom tốt phải duy trì được ẩm độ trong thời gian dài và không ứ nước, tạo điều kiện cho rễ phát triển tốt, đồng thời phải sạch, không bị nhiễm nấm và không có nguồn sâu bệnh, độ PH khoảng 6,0 - 7,0

- Thời vụ giâm hom

Thời vụ là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của hom giâm Một số loài cây có thể giâm quanh năm, song nhiều loài có thời vụ giâm hom rõ rệt Theo Frison (1967) và Nesterov (1967) thì mùa mưa tỉ lệ ra rễ của hom giâm cao hơn so với các mùa khác, kết quả giâm hom tốt hay xấu thường gắn liền với các yếu tố như diễn biến khí hậu thời tiết trong năm, mùa sinh trưởng của cây và trạng thái sinh lý của cành [22]

- Ánh sáng

Ánh sáng cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động sống của sinh vật, ánh sáng đóng vai trò sống còn trong việc ra rễ của hom giâm Không có ánh sáng và không có lá thì hom không có hoạt động quang hợp, quá trình trao đổi chất khó xảy ra do đó hom khó ra rễ Trong thực tế ảnh hưởng của ánh sáng đến việc ra rễ của hom giâm thường mang tính chất tổng hợp theo kiểu phức hệ ánh sáng - nhiệt độ - ẩm độ (Lê Đình Khả và cs (2003))[5]

- Nhiệt độ

Trang 25

Nhiệt độ là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sống của sinh vật, là nhân tố quyết định đến tốc độ ra rễ của hom giâm nhiệt độ quá thấp hom nằm ở trạng thái tiềm ẩn mà không ra rễ, còn nhiệt độ quá cao sẽ làm tăng cường độ hô hấp, giảm tỉ lệ ra rễ của hom hoặc làm chết hom, đối với các loài cây nhiệt đới nhiệt độ không khí thích hợp nhất cho quá trình giâm hom là từ 25ºC - 35ºC nhiệt đô giá thể cao hơn nhiệt độ không khí 3ºC

- 5ºC thì tỉ lệ ra rễ tốt hơn Nhiệt độ không khí trên 35ºC sẽ làm tăng tỉ lệ héo

lá ảnh hưởng xấu đến quá trình giâm hom (Pravdin, 1938)[23]

- Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể

Độ ẩm không khí và độ ẩm giá thể là nhân tố hết sức quan trọng trong quá trình giâm hom Các hoạt động sống của cây đều cần nước Khi giâm hom mỗi loài cây đều cần một ẩm độ thích hợp, mất 15 - 20% độ ẩm hom hoàn toàn mất khả năng ra rễ Độ ẩm giá thể thích hợp cho giâm hom là 50 -

70% khi tăng ẩm độ lên 100% chỉ một số loài như Nerium oleander mới giữ được tỉ lệ ra rễ cao, các loài khác đều giảm rõ rệt hoặc không ra rễ (Lê Đình Khả và cs (2003))[5]

- Các chất kích thích sinh trưởng

Các chất kích thích ra rễ ở 130 loài cây, trong đó tác giả cho thấy thuốc kích thích đã làm tăng hiệu quả ra rễ lên 1,5 đến 3 lần ở 27 loài, 23 loài cho kết quả trung bình, 72 loài không có hiệu quả và 8 loài kém hơn cả đối chứng Điều đó chứng tỏ không phải thuốc kích thích là phương sách quy nhất để tăng tỉ lệ ra rễ của các loài cây rừng (Romixarop (1964))[23]

Đối với từng loài cây, cần xác định rõ loại thuốc, nồng độ và thời gian xử lý thích hợp nhất Trạng thái hom khác nhau (hom hoá gỗ yếu, hom nửa hoá gỗ hay hom đã hoá gỗ) cũng yêu cầu nồng độ và thời gian

xử lý thuốc khác nhau và điều này cần được quan tâm khi có kế hoạch xử lý một số lượng lớn hom cành cho sản xuất

Trang 26

1.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất cây Chè Hoa vàng trên thế giới và trong nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất cây Chè Hoa vàng trên thế giới:

Chè Hoa vàng thuộc chi Camellia, chi này được Linnaeus đặt tên vào

năm 1753, mang tên thầy tu dòng người Czech: Georg Joseph Kamel; người

có công đưa hạt chè từ Nhật về Châu Âu Loài chuẩn (Typus) của chi

Camellia là Camellia japonica L và hai loài được mô tả sớm nhất và cũng là

tiền đề cho việc nghiên cứu lai tạo, nhân giống là loài Camellia javanica L và

và thưa dần về phía gốc lá Hoa màu vàng, mọc ra từ đầu cành hoặc nách lá, đường kính hoa khi nở khoảng từ 3,5 – 4 cm Cuống hoa dài 5-7 cm, lá bắc 5

mm, lá đài 5,0 mm hình móng hay gần tròn, có lông ở mặt trong và mép Hoa gồm 11 - 12 cánh, gần tròn, trứng ngược hoặc bầu dục, dài 1,4 - 2,2 cm, cả hai mặt đều có lông các cánh hoa hợp với nhau và với bộ nhị 1 – 5 mm ở gốc

Bộ nhị cao 1,5 - 1,7 cm, hợp với vòng ngoài khoảng 9 mm chỉ nhị bên trong rời, có lông ở gốc Bộ nhụy gồm 3 - 4 lá noãn, 3 - 4 ô, không lông Vòi nhụy

3 hoặc 4, rời dài khoảng 2,2 cm, không lông Quả hình cầu dẹt, khía 3 rãnh, đường kính 4 cm, cao 2,3 cm; Quả có 3 ô, 3 hạt trong mỗi ô, vỏ quả dày 2

mm Hạt có dạng bán cầu hay nêm, dài 1,5 - 1,7 cm, vỏ hạt nhẵn, (Trần Ninh

và cs (2010) [9]

Trang 27

Chè Hoa vàng (kim chè hoa) được Trung Quốc phát hiện ở Quảng Tây vào năm 1965, đến nay qua nhiều nghiên cứu họ đã lai tạo thành công giữa Chè Hoa vàng và chè Hoa đỏ

Những kiểm nghiệm dược lý đầu tiên tiến hành trên đối tượng là động vật đã cho kết quả hết sức khả quan Chè Hoa vàng có khả năng kiềm chế sự sinh trưởng của các khối u đến 33,8% trong khi y học cho rằng chỉ cần đạt đến ngưỡng 30% đã có thể xem là thành công trong điều trị ung thư Ngoài ra,

nó giúp giảm đến 35% hàm lượng cholesterol trong máu mà nếu dùng các loại thuốc khác thì mức độ giảm chỉ là 33.2% Hơn thế, Chè Hoa vàng còn có tác dụng làm giảm tới 36.1% lượng lipoprotein trong máu, cao hơn 10% so với các liệu pháp chữa trị sử dụng Tây dược hiện nay Chè Hoa vàng còn rất tốt cho bệnh cao huyết áp vì khả năng làm giảm và điều hòa huyết áp của nó Pha

1-2 ml tinh chất từ Camellia chrysantha trong 100 ml nước, uống như chè

hàng ngày có thể chữa được rất nhiều bệnh, có thể giúp hạ đường huyết, giảm lượng đường trong máu đối với bệnh nhân bị tiểu đường Chè Hoa vàng cũng

có vai trò tích cực ngăn ngừa một số bệnh ung thư như ung thư tuyến bạch huyết ngay cả ở giai đoạn cuối, đem lại kết quả hết sức khả quan Bên cạnh

đó, một số bệnh về đường hô hấp, bài tiết (chứng tiểu khó và vàng), khí thũng hay co thắt dạ con ở phụ nữ đều có thể sử dụng thức uống này như một phương pháp chữa trị đơn giản lại sớm mang lại kết quả Sở dĩ Chè Hoa vàng

có nhiều công dụng như vậy là vì trong thành phần của nó có chứa các hoạt chất có lợi cho sức khỏe (hoạt chất thuộc nhóm Saponin, Polyphenon, Flavonoid), ngoài ra còn chứa nhiều nguyên tố khác như Se, Ge, Mo, Mn, V,

Zn có tác dụng trong việc bảo vệ sức khỏe, ngăn ngừa ung thư, củng cố tính đàn hồi của thành mạch, điều hòa các enzyme hoạt hóa cholesterol… (Ngô Quang Đê, 2001)[1]

Trang 28

Lá Chè Hoa vàng có thể uống, điều chỉnh các chất béo trong cơ thể, lượng đường trong máu, giải độc gan và thận, theo y học Trung Quốc công

bố, Chè Hoa Vàng có 9 tác dụng chính:

- Trong lá chè có những hoạt chất làm giảm tổng hàm lượng lipit trong huyết thanh máu, giảm lượng cholesterol mật độ thấp (cholesterol xấu) và tăng lượng cholesterol mật độ cao (cholesterol tốt);

- Nước sắc lá chè có tác dụng hạ huyết áp rõ ràng và tác dụng được duy trì trong thời gian tương đối dài;

- Nước sắc lá chè có tác dụng ức chế sự tụ tập của tiểu cầu, chống sự hình thành huyết khối gây tắc nghẽn mạch máu;

- Phòng ngừa ung thư và ức chế sự phát triển của các khối u khác;

- Hưng phấn thần kinh;

- Lợi tiểu mạnh;

- Giải độc gan và thận, ngăn ngừa xơ vữa động mạnh máu;

- Ức chế và tiêu diệt vi khuẩn;

Ngoài ra, lá chè còn có tác dụng chống viêm, chống dị ứng và duy trì trạng thái bình thường của tuyến giáp

Trong công trình nghiên cứu “To demonstrate the medical treatment and health protection value of GOLDEN CAMELLIA”giáo sư Chen Jihui và

Wu Shurong đã đưa ra các kết luận, bằng chứng chứng minh cho tác dụng chữa bệnh của Chè Hoa Vàng dựa trên các thí nghiệm lâm sàng được tiến hành trong một thời gian dài Tác dụng chữa bệnh của Chè Hoa vàng đã được hơn 120 nhà khoa học của thế giới khẳng định một lần nữa tại Hội nghị quốc

tế về Camellia chrysantha được tổ chức ở Nam Ninh, Trung Quốc vào năm 1994

Ngày 21 - 23/2/2013 tại Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc đã tổ chức Hội thảo quốc tế về cây Chè Hoa vàng Tham gia hội thảo có các đại biểu từ các nước Mỹ, Việt Nam, Australia, Đức và hầu hết các cơ sở nghiên cứu, sản

Trang 29

xuất chè của Trung Quốc và sự có mặt của bà Patricia Lee Short – chủ tịch Hội chè thế giới Hội thảo, tập trung bàn về các lĩnh vực: Bảo tồn, đa dạng sinh học và phân loại; Chọn giống và nhân giống; Gây trồng, công nghệ và gia công chế biến Chè Hoa vàng Tại Hội thảo cũng chỉ rõ, Chè Hoa vàng là thực vật chứa thành phần dinh dưỡng phong phú nhất trong tự nhiên Ngoài tác dụng là cảnh, cải thiện môi trường, nó còn giá trị dược liệu rất quý Qua các tài liệu kiểm nghiệm khoa học thì nó có chứa tới hơn 400 thành phần dinh dưỡng, nổi trội là Saponin, Tea polyphenon và các nguyên tố như selenium (Se), germannium (Ge), kẽm (Zn), vanadium (V), molypden (Mo), mangan (Mn), kalium (K) và các vitamin B1, B2, C

Tiến sĩ John Welsburger – thành viên cao cấp của tổ chức sức khoẻ Hoa Kỳ phát biểu: “Dường như những thành phần chứa trong chè có khả năng làm giảm nguy cơ một số bệnh mãn tính như đột quỵ, truỵ tim và ung thư”

Theo một số nghiên cứu ở Hà Lan, những người uống 4 - 5 tách chè đen hàng ngày giảm 70% nguy cơ đột quỵ so với những người chỉ dùng 2 tách hoặc ít hơn Đó chính là do chất flavonoid có trong chè đen đã ngăn ngừa

sự vón cục nguy hiểm của tiểu huyết cầu trong máu – nguyên nhân dẫn đến hầu hết các chứng đột quỵ và các cơn đau tim Loại chè đen nhắc đến trên đây

là một thứ đã lên men trong quá trình (chế biến từ chè Hoa vàng)

Một nghiên cứu khác ở Nhật Bản về công dụng chè (chè) cho thấy dùng chè mang lại hiệu quả gần 90% trong việc ngăn ngừa chứng sạm da – một trong những nguyên nhân dẫn đến ung thư da Đặc biệt fluoride chứa trong chè giúp men răng vững chắc và ngăn ngừa sự mục răng

Các giống trong chi Camellia có thể nhân giống bằng nhiều cách: bằng hạt, giâm cành, ghép, bó bầu và nhân giống vô tính in vitro Việc gieo hạt ít

sử dụng vì sẽ có hiện tượng phân ly ở thế hệ sau vì vậy việc gieo hạt chỉ sử dụng để làm gốc ghép là chính

Trang 30

Hiện nay giâm cành chè là phương pháp phổ biến trong nhân giống chè trên thế giới Giâm cành chè được nghiên cứu ở Trung Quốc từ năm 1900 và

Ấn Độ năm 1911, Grudia năm 1928, Srilanca 1938 Việt Nam năm 1938 (ở miền Nam) bắt đầu nghiên cứu và ứng dụng trong sản xuất

Hiện tại 22 quốc gia có vườn bảo tồn Camellia, nổi tiếng là Huntington

Botanical Gardens, Descanso Gardens (Mỹ); Royal Botanic Gardens (Úc); Kamelien Paradies (Đức); Kurume Camellia Gardens (Nhật Bản); Camellia Culture Park (Trung Quốc) Riêng Descanso Gardens có khoảng 1.000 giống

với trên 100 ngàn cây Chè đủ loại

1.2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất Chè Hoa vàng ở trong nước

Việt Nam được xác định là trung tâm phân bố các loài thuộc Camellia

và là một trong hai quốc gia trên thế giới (Việt Nam, Trung Quốc) hiện tại có Chè Hoa vàng trong môi trường tự nhiên (Lê Đình Khả và cs (2003))[5]

Người đầu tiên nghiên cứu về Camellia ở Việt Nam là L Pierre, trong

cuốn “Flore forestiere de la Cochinchine”, xuất bản năm 1888, tác giả đã mô

tả 6 loài thuộc chi Camellia có ở Việt Nam, trong đó có 2 loài mới, lần đầu tiên được mô tả và định danh, đó là loài Chè bạc (Camellia dormoyana (Pierre) Sealy) và loài Chè hoa Piquet (Camellia piquetiana (Pierre) Sealy)

Tiếp theo là các nghiên cứu của Pitard (1910), Gagnepain (1943), tại

thời điểm này, có 28 loài thuộc chi Camellia được mô tả Đến năm 1991,

trong cuốn “Cây cỏ Việt Nam”, quyển 1, tác giả Phạm Hoàng Hộ đã thống kê,

mô tả 30 loài thuộc chi Camellia có ở Việt Nam

Từ 1992 đến nay có rất nhiều nhà thực vật trong và ngoài nước nghiên

cứu tiếp về Camellia của Việt Nam, nổi bật nhất là Chang Hung Ta (Trung

Quốc); Hakoda (Nhật Bản); Rosmann (Pháp); Ngô Quang Đê, Nguyễn Hữu Hiền, Đỗ Đình Tiến, Trần Ninh (Việt Nam) và đến nay các nhà khoa học đã

xác định ở Việt Nam có 55 loài thuộc chi Camellia, chiếm khoảng 19% số

Trang 31

loài Camellia trên toàn thế giới Trong đó, 22 loài đặc hữu và 11 loài mới cho khoa học đã được công bố trong 20 năm gần đây, đó là các loài: Camellia

bolovenensis (Gagnep.) Chang; Camellia cucphuongensis Ninh; Camellia megasepala Chang; Camellia rosmannii Ninh; Camellia crassiphylla Ninh; Camellia murauchii Ninh; Camellia rubriflora Ninh; Camellia kirinoi Ninh; Camellia huulungensis Ninh; Camellia vidalii Rosmann và Camellia dongnaiensis Kết quả nghiên cứu trên phản ánh tính đa dạng cao và tính tập

trung của Camellia ở Việt Nam

Về giá trị sử dụng của Camellia, ở Việt Nam, phải kể đến các loài:

- Chè (Camellia sinensis): là loài có giá trị kinh tế cao nhất trong các

loài thuộc họ chè Hiện nay có nhiều giống được lai tạo từ loài này để phát triển vùng nguyên liệu sản xuất chè xanh, đen, chè Olong Hiện nay định hướng của tình Bắc Giang là phát triển cây chè trở thành một trong những cây trồng chủ lực của tỉnh

- Chè mi (Camellia japonica); Hải đường (Camellia amplexicaulis): là

những loài phổ biến để trồng cây cảnh, với những màu đặc trưng: đỏ, hồng, trắng Và những năm gần đây, giới chơi cây cảnh quan tâm đến các loài

Camellia có hoa màu vàng chỉ phân bố ở Việt Nam và Trung Quốc Hiện nay

loài Camellia petelotii được xem là loài Chè Hoa vàng đẹp nhất trong các loài

Chè Hoa vàng, được rất nhiều người ngưỡng mộ

Hiện nay, có 26 loài Chè Hoa vàng đã được mô tả Trong đó, Việt Nam

có 16 loài, phân bố tập trung ở Vườn Quốc gia Tam Đảo, Vườn Quốc gia Cúc Phương, Ba Vì, Hòa Bình, Nghệ An Lâm Đồng có 3 địa điểm ghi nhận sự phân bố của Chè Hoa vàng: Cát Tiên và thành phố Đà Lạt

Công tác bảo tồn, nhân giống các loài Chè Hoa vàng ở Việt Nam cũng

đã được triển khai Vườn Quốc gia Tam Đảo, nơi có 3 loài Chè Hoa vàng,

Trang 32

trong đó có loài Camellia petelotii nổi tiếng, đây sẽ là khu vực bảo tồn nguyên vị và vườn Camellia tự nhiên của Việt Nam

Song song với bảo tồn trong điều kiện tự nhiên, các nghiên cứu nhân giống cũng được triển khai, có nhiều nghiên cứu nhân giống Chè Hoa vàng Trong đó, đề tài “Nghiên cứu khả năng bảo tồn ngoại vi và nhân giống một số loài Chè Hoa vàng nhằm bảo vệ và phát triển” của Ngô Quang Đê, tiến hành

nghiên cứu giâm hom chè Hoa vàng Ba Vì (Camellia tonkinensis) Kết quả

rất khả quan: Với chè Hoa vàng Ba Vì, công thức IBA 200 ppm và ABT1 50

ppm đạt tỉ lệ ra rễ 77,8% Như vậy, việc nhân giống các loài Camellia bằng

phương pháp giâm hom có thể thực hiện được, việc xây dựng mô hình phát

triển cây Chè Hoa vàng thuộc loài Camellia và phát triển làm cây dược liệu,

là cần thiết và khả thi

Theo (Ngô Quang Đê, 2001)[1] thống kê chưa đầy đủ hiện nay có khoảng 196 loài chè, chia làm 4 á chi và nhiều chủng, biến chủng Việt Nam có khoảng 26 loài chè, chủ yếu được trồng ở miền Bắc Trong những năm gần đây nhiều người nước ngoài (Úc, Pháp, Anh, Nhật…), tới Việt Nam để nghiên cứu, tìm hiểu về các giống, đặc biệt là Chè Hoa vàng Việt Nam cũng tìm thấy Chè Hoa vàng vào những năm 1990 Chè Hoa vàng phân bố chủ yếu ở vùng á nhiệt đới, nóng ẩm và có mùa đông, rất thích hợp với miền Bắc và Đà Lạt, có thể trồng được trên nhiều loại đất, trong đó đất tơi xốp, thoát nước, đất chua có độ

pH từ 4,5 – 5,5 là thích hợp nhất Chè Hoa vàng đang là loài quý hiếm, chưa nơi nào trồng với diện tích lớn Một số loài không có nhị (bạch chè) nên không

có quả Vì vậy phương pháp nhân giống chủ yếu hiện nay là nhân giống vô tính (chiết, ghép, giâm hom, cấy mô), trong đó cách giâm hom là đơn giản nhất, với

tỷ lệ cây sống cao

Trang 33

Kỹ thuật nhân giống: Chọn cây mẹ khỏe mạnh, không bị sâu bệnh, cành không mang hoa và nụ, cắt cành bánh tẻ (một phần hóa gỗ) để làm hom giống

Chuẩn bị đất giâm hom: Tốt nhất là cát sông đãi bỏ sỏi và tạp chất, đem phơi khô để diệt khuẩn và hạn chế sâu bệnh Cát cho vào khay hoặc chậu, có

lỗ thoát nước dưới đáy, nếu nhiều thì có thể làm luống, cán phẳng rồi phun nước cho ẩm Dùng kéo thật sắc để cắt hom, tránh giập vỏ, mỗi hom dài từ 5 – 7 cm, tối thiểu có 3 – 4 mắt Hom cắt xong nhúng vào dung dịch kích thích

ra rễ (như IBA, NAA) từ 1 – 2 giờ rồi giâm Khi cắm hom dùng que nhỏ chọc

lỗ, tay kia cắm hom, cắm xong dùng ngón tay ấn chặt xung quanh gốc hom, mỗi hom cách nhau từ 2 – 3 cm, cắm xong tưới luôn nước để giữ ẩm (Ngô Quang Đê et al, 2008)[2]

Chăm sóc: Cần làm giàn che cho vườn giâm hom với ánh sáng khoảng

70 – 80%; nhiệt độ tốt nhất để hom ra rễ là 25 – 30 độ C Tưới nước bằng hệ thống phun sương để giữ ẩm Hom ra rễ được cắm vào bầu đất xếp trong giàn che và tưới nước mỗi ngày một, hai lần Nếu giâm hom đúng thời vụ, có giàn che tốt, thì việc chăm sóc chủ yếu là tưới nước, giữ ẩm hợp lý và tỷ lệ sống của cây con rất cao Chè là cây thường xanh, không có thời gian ngủ (ngừng sinh trưởng) rõ rệt Trong một năm có: thời kỳ sinh trưởng là mùa Xuân Hạ (từ tháng 2 – 5); thời kỳ tích lũy vật chất cho giai đoạn phát triển của nụ và quả là hạ thu (thường từ tháng 5 – 10); thời kỳ ra hoa vào cuối thu đến đầu Xuân Cây chè ở các giai đoạn phát triển đều cần được chăm sóc chu đáo Thời kỳ sinh trưởng cần nhiều đạm và kali, thời kỳ nụ và quả cần lân và kali Chè Hoa cũng có thể giâm bằng lá cho ra rễ, song thời gian từ lúc ra rễ đến lúc ra ngọn non kéo dài hơn Phổ biến vẫn là giâm cành

* Nghiên cứu và sản xuất Chè Hoa vàng tại Quảng Ninh

Trang 34

Quảng Ninh được xem là địa phương đi đầu trong cả nước về nghiên cứu, trồng thâm canh cây Chè Hoa Vàng Vốn là loài cây mọc tự nhiên trong rừng Ba Chẽ từ rất lâu, người dân địa phương thường hái hoa, lá, thân cây bán cho thương lái Trung Quốc bên kia biên giới Những năm gần đây, giá trị đích thực của cây Chè Hoa vàng mới được biết đến Loại cây này có thể cho thu hái lá, nụ và hoa với giá trị kinh tế mang lại lên tới 15 triệu đồng/kg khô và trở thành cây đặc sản có triển vọng của huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh

Nhằm bảo vệ nguồn dược liệu quý và vừa giúp người dân nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm, huyện Ba Chẽ đã hoàn thành quy hoạch vùng trồng Chè Hoa Vàng đến năm 2020 với diện tích 500 ha và thực hiện Dự án phát triển vùng nguyên liệu Chè Hoa vàng và nhà máy chế biến trà công nghệ cao Kết quả đến nay đã có 70 ha Chè Hoa vàng, trong đó 10ha đã cho thu hoạch

Đi đầu trong phong trào trồng, sản xuất, chế biến dược liệu quý này là gia đình ông Nịnh Văn Trắng ở thôn Bắc Xa, xã Đạp Thanh, Ba Chẽ Hiện vườn trà của ông cho thu hoạch, thu nhập đạt hơn 5 tỷ đồng trong 2 năm 2016 –

2017 Để thúc đẩy quảng bá sản phẩm chè Hoa vàng, trong những năm gần đây lễ hội Chè Hoa vàng được tổ chức thu hút nhiều người quan tâm

Trong chương trình nghiên cứu nhân giống vô tính bằng giâm hom, tác giả (Nguyễn Văn Việt et al, (2016))[12] đã tiến hành cắm hom trong mùa Xuân và kết luận nồng độ xử lý IBA 150 ppm trong 5 phút, vị trí hom ngọn, giá thể trấu hun kết hợp đất sạch tầng B, độ che sáng 50% cho kết quả tốt nhất đối với cây Chè Hoa vàng tại huyện Ba Chẽ

* Nghiên cứu cây Chè Hoa vàng tại Vĩnh Phúc

Tại tỉnh Vĩnh Phúc Công ty Cổ phân Đầu tư DIA đã thực hiện nhiệm

vụ bảo tồn và phát triển cây Chè Hoa vàng Tam Đảo, với quy mô 15 ha Sở Khoa học và Công nghệ Vĩnh Phúc thực hiện nhiệm vụ xây dựng, bảo hộ và phát triển nhãn hiệu sản phẩm của cây Chè Hoa vàng, đồng thời tiếp tục có

Trang 35

chủ trương phát triển cây Chè Hoa vàng Tam Đảo ra diện rộng Ngày 10/8/2015, nhãn hiệu chứng nhận nguồn gốc địa lý cho một số sản phẩm từ cây Chè Hoa vàng Tam Đảo đã được Sở Khoa học và Công nghệ Vĩnh Phúc đăng ký và nộp tại Cục Sở hữu trí tuệ

* Nghiên cứu nhân giống Chè Hoa vàng tại Hà Nội

Tiến hành thí nghiệm nhân giống chè Hoa vàng tại Trường Đại học Lâm nghiệp, Xuân Mai, Hà Nội, theo (Ngô Quang Đê et al , (2008))[2] Chè Hoa

vàng Ba Vì (C tonkinensis) và Chè Hoa Vàng Sơn Động (C euphlebia) có

thể giâm hom thành công, đạt tỷ lệ ra rễ tương đối cao Với Chè Hoa vàng Ba

Vì, công thức IBA 200 ppm và ABT1 50 ppm đạt tỷ lệ ra rễ 77,8% Với Chè Hoa vàng Sơn Động, 3 công thức IBA 100 ppm, ABT1 100 ppm và NAA 50 ppm đạt tỷ lệ ra rễ tương ứng là 75%, 75% và 80,6% Trong khi đó một nghiên cứu khác về nhân giống Chè Hoa vàng cho kết quả tốt nhất ở IBA 100 ppm Về thời vụ giâm cho thấy giâm vụ Xuân cho tỷ lệ ra rễ cao hơn nhưng thời gian ra rễ ngắn hơn ở vụ Thu

* Nghiên cứu cây Chè Hoa vàng tại Bắc Giang

Theo Trần Sỹ Trung (2015), nhân giống Chè Hoa vàng bằng kỹ thuật giâm hom ở Quế Sơn, Sơn Động khi tiến hành thử nghiệm giâm 2.000 hom Chè Hoa vàng, sau sáu tháng chăm sóc tại vườn ươm đã đạt số cây sống đạt tiêu chuẩn xuất vườn là 1.020 (tương ứng với tỷ lệ là 51%)

Hiện nay, ở huyện Sơn động đã bắt đầu có hộ khai thác theo phương thức đánh cây từ rừng về trồng tại vườn và trồng thử nghiệm bằng hạt, bằng cây nhân giống Sản phẩm hoa tươi với giá từ 1 - 1,2 triệu đồng/kg Hết mùa hoa, người dân có thể tiếp tục thu hoạch lá để bán vì có giá trị dinh dưỡng cao, rất tốt cho sức khỏe (Trần Sỹ Trung, 2015)[11]

Trang 36

Trong giai đoạn từ năm 2017 – 2019, đề tài “Nghiên cứu bảo tồn và phát triển cây Chè Hoa vàng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang’’ được tiến hành với mục tiêu bảo tồn, phát triển loài cây, trồng với diện tích 03 ha

* Nghiên cứu cây Chè Hoa vàng tại Thái Nguyên

Tại Thái Nguyên, cây Chè Hoa vàng được tìm thấy trong rừng tự nhiên tại các xã vùng thấp của dãy núi Tam Đảo, huyện Đại Từ, ngoài ra qua điều tra sơ bộ cho thấy Chè Hoa vàng còn phân bố tự nhiên ở huyện Phú Lương, huyện Võ Nhai và thị xã Phổ Yên Số lượng cá thể được tìm thấy không nhiều, với giá bán khoảng 0,8 – 1,6 triệu đồng/kg hoa, nụ tươi cho thương lái đặt mua, nên khi tới mùa hoa người dân vào rừng khai thác kiệt quệ, thậm chí đánh cả gốc mang về bán làm cây cảnh Việc khai thác quá mức dẫn đến nguy

cơ suy kiệt nguồn tài nguyên quý hiện có của tỉnh Để góp phần nhân giống bảo tồn Chè Hoa vàng, tác giả (Bùi Đình Nhạ, 2016)[7] đã nghiên cứu và kết luận IBA với nồng độ 100 ppm để hom ra rễ sau đó chuyển cây hom vào bầu

có thành phần ruột bầu là 50% đất tầng B + 50% mùn cưa và thời vụ giâm hom vào đầu mùa mưa (tháng 5) tốt hơn vào đầu mùa khô tháng 01

* Tình hình sản xuất cây Chè Hoa vàng tại Bắc Kạn

Tại Bắc Kạn, Cây Chè Hoa vàng có ở các huyện Chợ Đồn, Ba Bể, Pác Nặm, Chợ Mới Do có giá trị dược lý và kinh tế cao, trong thời gian qua người dân địa phương đã phát hiện và khai thác Chè Hoa vàng trong tự nhiên

để bán cho các tư thương với giá khoảng 0,5 triệu đồng/kg nụ hoa tươi Một

số hộ dân khai thác đào cả cây bán sang Trung Quốc, mang về trồng vườn nhà như tại xã Nghĩa Tá và Đông Viên, hoặc lấy lá phơi khô đun nước uống

Do vậy nguồn cây Chè Hoa vàng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn trong tự nhiên ngày càng suy giảm Tại xã Đông Viên, một vài hộ dân (Ông Nguyễn Tiến Khang) đã tiến hành nhân giống vô tính loài chè hoa vàng thu hái trong tự nhiên chỉ sử dụng các đoạn gốc, cành to nên hệ số nhân giống thấp Các cành

Trang 37

nhỏ không được sử dụng gây lãng phí nguồn vật liệu Việc tiến hành kĩ thuật nhân giống ở các hộ theo kinh nghiệm Các nghiên cứu về Chè Hoa vàng tại Bắc Kạn như phân bố, đặc điểm hình thái, kỹ thuật nhân giống và gây trồng Chè Hoa vàng chưa được thực hiện, do đó chưa có giải pháp bảo tồn và phát triển có hiệu quả, thiếu các cơ sở khoa học cho việc bảo tồn và phát triển loài

cây có giá trị này

* Kết luận về tổng quan vấn đề nghiên cứu

- Cây Chè Hoa vàng là một cây dược liệu quý có giá trị kinh tế cao, được biết và sử dụng phổ biến tại một số quốc gia như Trung Quốc và đang được thế giới quan tâm nghiên cứu và sử dụng

-Tại Việt Nam Chè Hoa vàng được phát hiện phân bố tự nhiên dưới tán rừng ở các tỉnh như Vĩnh Phúc, Quãng Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Hòa Bình, Bắc Kạn, Nghệ An, Lâm Đồng , tuy nhiên thời gian gần đây vấn đề nghiên cứu về phân bố, nhân giống mới được quan tâm thực hiện trên một số loài Chè Hoa vàng tại Tam Đảo-Vĩnh Phúc, Ba Chẽ- Quãng Ninh, Sơn Động – Bắc Giang

- Nhân giống Chè Hoa vàng bằng giâm hom là biện pháp phù hợp nhất cho sản xuất, các nghiên cứu về nhân giống đều có kết luận sử dụng chất kích thích sinh trưởng làm tăng hiệu quả rõ rệt, trong đó sử dụng chất IBA phổ biến Tuy nhiên nồng độ sử dụng phù hợp còn khác nhau giữa các nghiên cứu

và biến động từ 50 – 300 ppm, tùy thuộc vào điều kiện, thời vụ và loài Chè Hoa vàng

- Sử dụng hom lấy ở vị trí khác nhau trên cành bánh tẻ của cây Chè Hoa vàng có thể nhân giống để nâng cao hệ số nhân Thời vụ giâm hom có thể tiến hành vụ Xuân, Hè và Thu, nhưng thời vụ cho kết quả tốt nhất chưa thống nhất giữa các nghiên cứu

Trang 38

- Từ những kết quả và đánh giá những nghiên cứu nêu trên là cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng đề tài nghiên cứu với các nội dung phù

hợp và có hiệu quả

Trang 39

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cây Chè Hoa vàng mọc tự nhiên tại huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn

2.2.Thời gian, địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 11/2017 đến tháng 12/2018;

- Địa điểm nghiên cứu:

+ Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học cây Chè Hoa vàng tại xã Nghĩa

Tá, Đông Viên và Rã Bản huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn;

+ Nghiên cứu biện pháp nhân giống bằng giâm hom Chè Hoa vàng tại Vườn ươm xã Đông Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nội dung 1: Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của cây Chè Hoa vàng tại huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn

- Khảo sát sự phân bố, đặc điểm sinh cảnh, tình khai thác sử dụng

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái cây Chè Hoa vàng

- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và phát triển (vật hậu)

2.3.2 Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng, loại hom đến khả năng nhân giống cây Chè Hoa vàng tại huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn

- Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất KTST đến khả năng sống, tái

sinh mầm, ra rễ và tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn

- Nghiên cứu ảnh hưởng của loại hom đến khả năng sống, tái sinh

mầm, ra rễ và tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn

Trang 40

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Nội dung 1: Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của cây Chè Hoa vàng tại huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn

(1) Xác định đối tượng nghiên cứu:

Loài chè hoa vàng mọc tự nhiên phân bố khu vực huyện chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn, lựa chọn loài phổ biến có giá trị sử dụng và kinh tế cao để nghiên cứu Lựa chọn các cây mẫu đại diện phân bố khu vực phổ biến để nghiên cứu Lựa chọn người phỏng vấn có liên quan khai thác sử dụng cây chè Hoa vàng tại địa phương Dựa trên kết quả tham vấn người dân và cán bộ kiểm lâm địa bàn, đã xác định được 3 xã có Chè Hoa vàng xuất hiện nhiều (Đông Viên, Nghĩa Tá và Rã Bản)

(2) Phương pháp điều tra:

* Khảo sát thành phần loài Trà hoa vàng, sự phân bố, đặc điểm sinh cảnh, tình hình khai thác sử dụng qua 30 phiếu phỏng vấn người dân địa

phương: Tại 3 xã Đông Viên, Nghĩa Tá và Rã Bản huyện chợ Đồn (Mẫu

phiếu tại phụ lục kèm theo)

* Khảo sát đặc điểm nơi sống: Dựa trên kết quả phỏng vấn xác định được các khu vực Chè Hoa vàng có khả năng xuất hiện nhiều tại 3 xã Để kiểm chứng thông tin và khẳng định các loài, tiến hành khảo sát thực địa (điều tra theo tuyến) Trong quá trình khảo sát có dựa vào người cung cấp tin (người dân địa phương, hay đi rừng) Trên tuyến đi, tại vị trí bắt gặp Chè Hoa vàng, các thông tin về địa hình, độ cao, loại sinh cảnh, loại đất đều được ghi nhận Ngoài ra việc thu mẫu thực vật, mô tả hình thái, chụp ảnh mẫu cũng được tiến hành

* Mô tả đặc đặc điểm hình thái: Tiến hành mô tả đặc điểm hình thái các loài Chè Hoa vàng dựa trên mẫu thu được của các cá thể bắt gặp ngoài tự

Ngày đăng: 10/12/2019, 08:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w