1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xử lý tài sản phá sản theo luật phá sản 2014

82 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 711,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo Luật Phásản 2014 không chỉ nhằm giải quyết vụ việc phá sản đúng pháp luật mà còngóp phần bảo vệ có hiệu quả quyền lợi của các

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THANH HẰNG

XỬ LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN THEO LUẬT PHÁ SẢN 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Hà Nội - 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THANH HẰNG

XỬ LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN THEO LUẬT PHÁ SẢN 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết luận, số liệu trong luận văn là trung thực, đảm bảo độ tin cậy./.

Học viên

Nguyễn Thanh Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÀI SẢN, TÀI SẢN PHÁ SẢN VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN 91.1 Khái niệm về tài sản, tài sản phá sản 91.2 Khái quát thủ tục xử lý tài sản phá sản 21

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN HOẠT

ĐỘNG XỬ LÝ TÀI SẢN THEO LUẬT PHÁ SẢN Ở VIỆT NAM 302.1 Những quy định pháp luật về thủ tục xử lý tài sản phá sản 302.2 Thực tiễn thi hành pháp luật phá sản về xử lý tài sản phá sản 53

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN XỬ LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN THEO LUẬT PHÁ SẢN 2014 623.1 Phương hướng hoàn thiện 623.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản phá sản 643.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về xử lý tài sản phá sản 67

KẾT LUẬN 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, dưới tác động của cạnhtranh, phá sản doanh nghiệp xảy ra hiện tượng tất yếu Kinh tế thị trường là

mô hình kinh tế mở trong đó coi trọng và tuân thủ các quy luật vận động, điềutiết của thị trường, tôn trọng tự do cạnh tranh, tự do hợp tác, mở rộng giao lưuthương mại, tạo cơ hội cho mọi chủ thể kinh tế tham gia thị trường, tìm kiếmlợi nhuận, Có thể nói, kinh tế thị trường là mô hình được nhiều quốc gia lựachọn cho quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế Qua các thời kỳ lịch sử khácnhau, thái độ ứng xử của công chúng lẫn Nhà nước đối với hiện tượng phá sảncác doanh nghiệp có nhiều sự khác biệt Bảo vệ quyền lợi cho chủ nợ, ngườilao động, xử lý tài sản phá sản của doanh nghiệp chỉ đơn thuần là một thủ tụcthanh toán nợ đặc biệt kèm với việc trừng phạt chủ doanh nghiệp bị phá sản,

xử lý tài sản phá sản như là một thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năngthanh toán và tìm những giải pháp phục hồi doanh nghiệp trước khi quyếtđịnh tuyên bố phá sản doanh nghiệp

Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường quyền tự chủ trong kinh doanhcủa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được pháp luật tôn trọng

và bảo vệ Đi kèm với quyền tự chủ rộng rãi trong kinh doanh là nghĩa vụ tựchịu trách nhiệm đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và cũngtiềm ẩn nguy cơ đối diện với phá sản Xử lý tài sản phá sản làm phát sinh cácmối quan hệ giữa các chủ thể liên quan và đòi hỏi pháp luật phải điều chỉnh.Luật Phá sản năm 2004 được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004, có hiệu lựcthi hành từ ngày 15/10/2004, thay thế cho Luật Phá sản doanh nghiệp năm

1993 với nhiều điểm tiến bộ Với Luật Phá sản năm 2004 theo Báo cáo củaPGS.TS Dương Đăng Huệ, Thạc sỹ Nguyễn Thanh Tịnh (tháng 11/2008) vềthực trạng pháp luật về phá sản và hoàn thiện môi trường pháp luật kinh

Trang 6

doạnh tại Việt Nam thì Tòa án thụ lý gần 350 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, ra quyết định mở thủ tục phá sản 236 trường hợp, và thực tế cũng chỉ quyết định tuyên bố phá sảnợcđư83 trường hợp So với năm 2004, năm 2012, doanh nghiệp đăng ký đã vượt trội hơn rất nhiều, có gần 5000 doanh nghiệp dừng hoạt động và hơn 9.000 doanh nghiệp giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp Tình hình thụ lý và giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp theo LuậtPhá sản năm 2004 mặc dù đã được cải thiện nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn

và hạn chế Đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản so với số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động là rất thấp, hiệu quả giải quyết việc phá sản ở các cấp Tòa án vẫn chưa đạt kết quả tốt

Tại Mục 3 Phần II về xây dựng và hoàn thiện pháp luật về sở hữu,

quyền tự do kinh doanh có nhận định: “…Xây dựng một khung pháp luật

chung cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, xóa bỏ đặc quyền

và độc quyền kinh doanh, cải thiện môi trường đầu tư; từng bước thống nhất pháp luật áp dụng đối với đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài” theo Nghị

quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luậtViệt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020;

Tại kỳ họp VII, ngày 19/6/2014, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật phá sản số 51/2014/QH13 Cóhiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2015 Luật Phá sản 2014 đã có nhiều sửađổi bổ sung mới so với Luật Phá sản 2004 Luật Phá sản 2004 có 9 chương và

95 điều luật thì Luật Phá sản 2014 có tận 14 chương và 133 Điều luật LuậtPhá sản 2014 được đánh giá là có những sửa đổi khá căn bản và toàn diện từnhững khó khăn và bất cập của Luật Phá sản 2004 Sửa đổi, bổ sung một sốnội dung như: tiêu chí xác định Doanh nghiệp, Hợp tác xã (doanh nghiệp, hợptác xã) lâm vào tình trạng phá sản, chế định quản tài viên, về thủ tục xử lý tàisản phá sản …

Trang 7

“Tổng hợp hơn 23 báo cáo của các TAND cấp tỉnh cho thấy: Năm

2017, số vụ việc yêu cầu phá sản được các tòa án thụ lý, giải quyết tăng mạnh với 439 vụ việc, trong đó có 45 quyết định tuyên bố phá sản Con số này phản ánh thực tế LPS 2014 đã đi vào cuộc sống, từng bước khắc phục những vướng mắc, bất cập của LPS năm 2004 Tuy nhiên, trên thực tế, năm 2017, có 38.869 DN tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể; số DN hoàn tất thủ tục giải thể là 12.113 Năm 2018, có 27.126 DN đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và 63.525 DN tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể; số DN hoàn tất thủ tục giải thể là 16.314.” theo

Báo cáo kết quả triển khai thi hành LPS năm 2014 Như vậy, số DN, HTXchấm dứt hoạt động thì số vụ xử lý tài sản thông qua thủ tục phá sản tại tòa ánvẫn còn rất khiêm tốn

Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo Luật Phásản 2014 không chỉ nhằm giải quyết vụ việc phá sản đúng pháp luật mà còngóp phần bảo vệ có hiệu quả quyền lợi của các chủ nợ, cơ cấu lại nền kinh tếthị trường phát triển đất nước Vận dụng những nguyên tắc của pháp luật phásản và những quy định về xử lý tài sản phá sản là để tìm ra những giải phápgóp phần ngày một hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản phá sản Luật Phá sản

2014, một số vấn đề đã được sửa đổi bổ sung nhưng khi áp dụng các quy địnhvào thực tiễn đã cho thấy còn nhiều khó khăn, vướng mắc về xử lý tài sản phásản Xác định giá trị tài sản phá sản của doanh nghiệp mất khả năng thanhtoán trong xử lý tài sản phá sản cần phải có những quy định chặt chẽ, cụ thể

và đầy đủ hơn nữa làm căn cứ khi áp dụng với thực tiễn

Nhận thức được xử lý tài sản phá sản theo Luật phá sản 2014 rất quantrọng trong nền kinh tế thị trường hiện nay Hậu quả của nó không chỉ ảnhhưởng trực tiếp đến doanh nghiệp, người lao động, chủ nợ trong doanh nghiệp

mà còn tác động đến các thành phần khác tùy vào quy mô của doanh nghiệp

phá sản Đề tài “Xử lý tài sản phá sản theo Luật Phá sản 2014” là luận văn

Trang 8

em chọn, với mong muốn phần nào làm rõ và định hướng cụ thể để tháo gỡ

những vướng mắc, bất cập, đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả khi áp dụng

quy định về xử lý tài sản phá sản và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu về xử lý tài sản phá sản theo Luật phá sản 2014 đã có

những bước tiến quan trọng, cụ thể có liên quan đến Đề tài như sau:

- “Pháp Luật phá sản của Việt Nam” của PGS, TS Dương Đăng Huệ,

xuất bản năm 2005;

- “Thực trạng pháp luật về phá sản và hoàn thiện môi trường pháp luật

kinh doạnh tại Việt Nam” tháng 11/2008 – chủ biên PGS.TS Dương Đăng

Huệ, Thạc sỹ Nguyễn Thanh Tịnh;

-“Phá sản doanh nghiệp và thi hành luật phá sản ở Việt Nam”ngày

10/8/2017 - Phan Thị Mỹ Hạnh, Viện Dầu khí Việt Nam;

- “Pháp luật phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam – Thực trạng và giải

pháp hoàn thiện” ngày 29/6/2017 – Thạc sỹ Nguyễn Thị Dung;

- “Thực trạng phá sản doanh nghiệp và giải pháp hoàn thiện pháp luật

về phá sản ở Việt Nam” - Thạc sỹ Nguyễn Kim Anh;

- “Quản lý và xử lý tài sản phá sản theo quy định của pháp luật phá sản Việt

Nam” – Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Vũ Thị Hồng Vân, khoa Luật, Đại học

Quốc gia Hà Nội, 2008 Với đề tài “Quản lý và xử lý tài sản phá sản theo quy định

của pháp luật phá sản Việt Nam”, tác giả đã hệ

thống hóa các vấn đề lýn̂vàluạthực tiễn về tài sản phá sản, về quản lý tài s phá sản, và xử lý tài sản phá sản̂tích.Phahững nọîdung của pháp luạt̂về

quản lý và xử lý tài sản phá sản, đồng thờit̂chỉsố quyramọđịnh bất p̂cạ trong các van̆ bản pháp luạt̂hiẹn̂ hành của Viẹt̂Nam và những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụngquycácđịnh về quản lý, xử lý tài sản phá sản Đưa ra một số đề xuất, kiến nghị vềng̛phưohướng và giải pháp sửa đổi, bổ

4

Trang 9

sung và hoàn thiẹn̂các quy định pháp luạt̂Viẹt̂Nam về quản lý, xử lý tài sản phá sản nhằm pháthuy hiẹû lực của những quy định; đó

- “Xử lý tài sản theo pháp luật phá sản Việt Nam” - Luận văn Thạc sĩ

Luật học của Quách Thị Minh Phượng (2009), Khoa Luật trường Đại học

Quốc gia Hà Nội Về mặt lý luận tác giả đã nêu được khái niệm tình trạng phá

sản, thủ tục thanh lý Tài sản phá sản, mối quan hệ giữa thủ tục thanh lý tài sản

và các thủ tục khác trong thủ tục giải quyết phá sản Phần thực trạng tác giả đã

phân tích được các quy định về thanh lý tài sản theo pháp luật của Việt Nam

hiện hành: về điều kiện ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản phá sản, về

giải quyết khiếu nại, kháng nghị đối với quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản

phá sản; về xử lý và thanh lý tài sản phá sản Các giải pháp được tác giả tập

trung vào 2 nhóm: hoàn thiện quy định về thủ tục thanh lý tài sản phá sản và

giải pháp đảm bảo hiệu quả thực thi quy định về thanh lý tài sản phá sản;

- “Trình tự thủ tục thanh lý tài sản phá sản theo phápt ̂Viẹt̂ Namluạ hiẹn̂ nay”- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Phạm Thị Huệ (2017),

Học Viện Khoa Học Xã Hội đã hệ thống hoá được các khái niệm phá sản, mất khả

nanğ thanh toán, thủ tục phá sản, nêưluợc̛so sự hình thành và phát triển của quy định về thủ tục thanh lý tài sản phá sảnt̂NamởViẹvà phân tích mối

quan hệgiữa thủ tục thanh lý tài sản với các thủ tục khác trong giải quyết p sản Tác giả đã phân tích thực trạng Thực trạng các quy định của phápt̂vềluạ thanh lý tài sản phá sản của doanh nghiẹp,̂hợp tác xã, các tổ chức tín dụng.

Đã phân tích thực trạng về quản tài vien,̂ Doanh nghiẹp̂ quản lý, thanh lý tài sản, phân tích thực trạng thựcn̂hiẹcác quy định của phápt̂luạvề thanh lý tài sản phá sản Nêu lên các hạn chế, ạbấtp̂liecn̂ quan đến thanh lý tài sản phá sản Đặc biệt tác giả đã nêu

được các giải pháp cụ thể nhằm hoànn̂thiẹpháp luạt̂về thanh lý tài sản phá sản như: Sớm ban hành̆bảnvahuớng̛ dẫn thực

5

Trang 10

hiẹn̂ Nghị định số 22/2015/NĐ-CP của chính phủ, xâydựng cơchế phối hợp giữa Tòa án, Viẹn̂kiểm sát, cơquan thi hành án dan̂sự, ngâ hàng, Quản tài vien̂ và doanh nghiẹp̂ hành nghề thanh lý tài sản trong hoạtnĝ đọquản lý, thanh lý tài sản, Rà soátcđạocá luạt̂có quy định lien̂quan đến thanh lý tài sản của doanh nghiẹp,̂ hợp tác xã phá sản để sửa đổi, bổ t̂sungcáchmọđồng bọ,̂thống nhất;

- “Thanh lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đếnhạn”, bài báo của Th.s Nguyễn Tuấn Hải (Học viện Tư pháp) đăng trên Tạpchí Toà án Nhân dân ngày 02/04/2018 về “Thanh lý tài sản của doanh nghiệpmất khả năng thanh toán nợ đến hạn” đã phân tích những vướng mắc, bất cậpcủa Luật Phá sản năm 2014 Qua đó nêu lên một số kiến nghị nhằm thực thi

có hiệu quả thủ tục thanh lý tài sản phá sản theo Luật Phá sản năm 2014 như:Quy định cụ thể về giới hạn tài sản phá sản; Bổ sung các quy định về tài sảnđược loại trừ khỏi khối tài sản phá sản, nêu những định hướng để thực hiệnhiệu quả chế định quản tài viên, doanh nghiệp quản lý tài sản, định giá lại tàisản, thu hồi nợ của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán…

Như vậy, các Đề tài nghiên cứu có nhiều nội dung nhau nhưng về kếtquả đều là làm cho các quy định pháp luật phá sản dễ đi vào cuộc sống và dễ

áp dụng vào thực tiễn, bảo đảm được quyền và lợi ích các chủ thể có liênquan Mặc dù trong quá trình vận dụng pháp luật vào thực tiễn vẫn còn một sốvướng mắc về xử lý tài sản phá sản, Luật Phá sản 2014 đã có những thay đổimới về xử lý tài sản phá sản đòi hỏi phải có sự nhất quán trong cách hiểu vậndụng trong thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là chỉ rõ được những khó khăn, bất cập trong xử

lý tài sản phá sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo Luật phásản 2014 Phân tích thực trạng về xử lý tài sản phá sản khi áp dụng những quyđịnh hiện hành của Luật Phá sản 2014 Trên cơ sở đó đưa ra những yêu cầu về

6

Trang 11

xử lý tài sản phá sản để hiện thực hóa các quy định của Luật Phá sản vào cuộcnhằm tạo môi trường kinh doanh và động lực mới cho phát triển kinh tế đấtnước.

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Hệ thống hóa và giải quyết những vấn đề lý luận cơ bản về tài sản phá sản xử lý tài sản phá sản;

+ Nghiên cứu, phân tích, làm rõ những quy định Luật Phá sản 2014 vềthủ tục xử lý tài sản phá sản trong mối quan hệ so sánh với Luật Phá sản 2004;

+ Nghiên cứu, phân tích thực tiễn áp dụng Luật Phá sản 2004, từ đó đề

ra một số biện pháp nhằm thực thi có hiệu quả Luật Phá sản 2014

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về xử lý tài sảnphá sản, những vướng mắc, khó khăn trong hoạt động của Tổ quản lý, thanh

lý tài sản, từ việc thành lập, chất lượng hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, sựphối hợp với Thẩm phán, chấp hành viên, chế độ làm việc, lưu giữ tài liệuhoạt động của tổ đến vấn đề nhạy cảm là tiền thù lao cho thành viên của Tổ.Những vướng mắc khác liên quan đến việc thực hiện quản lý và bảo quản tàisản phá sản, kiểm kê tài sản doanh nghiệp, xác định giá trị tài sản còn lại củadoanh nghiệp, vấn đề thu hồi tài sản phá sản Quan trọng hơn cả là vấn đề xử

lý tài sản phá sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản với vấn đề xácđịnh giá trị tài sản, giải quyết quyền sử dụng đất của doanh nghiệp bị tuyên bốphá sản, xử lý các tài sản đảm bảo để thanh toán cho các chủ nợ có bảo đảm,

xử lý tài sản còn lại của doanh nghiệp bị phá sản nằm rải rác ở nhiều nơi, vấn

đề phân chia tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được viết dựa trên các phương pháp phân tích, tổng hợp các chế định pháp lý về thủ tục phá sản nói chung, về xử lý tài sản phá sản nói

Trang 12

riêng trên phương diện lý luận và phân tích thực tiễn để nhận định, đánh giánhững vướng mắc, khó khăn dẫn đến hạn chế tính khả thi của các quy địnhpháp luật Phương pháp phân tích so sánh những tiến bộ qua các lần sửa đổi,

bổ sung các quy định liên quan đến Luật Phá sản 2014 Các quy định từng vấn

đề pháp lý trong giới hạn nghiên cứu của pháp luật một số quốc gia để rút rađược kinh nghiệm khi đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ápdụng quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục xử lý tài sản phá sản theoLuật Phá sản 2014

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, cơ sở pháp lý về tài sản và thủ tục xử

lý tài sản phá;

- Quy định rõ về tài sản và cách thức xử lý tài sản phá sản;

- Chỉ rõ một số điểm mới giữa Luật Phá sản 2014 và Luật Phá sản 2004;

- Phân tích thực trạng về thi hành pháp luật xử lý tài sản phá sản ở Việt Nam;

- Chỉ ra những hạn chế, vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng các quy định pháp luật về xử lý tài sản phá sản;

- Đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện và thực thi có hiệu quả pháp luật xử lý tài sản phá sản

7 Kết cấu luận văn

Toàn bộ Luận văn gồm phần mở đầu,chương 1, chương 2, chương 3,kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Nội dung chính của luận văn được bốcục thành ba chương cụ thể như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản tài sản phá sản và thủ tục xử lýtài sản phá sản;

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành hoạt động xử lýtài sản ở Việt Nam hiện nay;

Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và thực thi có hiệu quảpháp luật xử lý tài sản phá sản theo pháp luật Việt Nam

Trang 13

Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÀI SẢN, TÀI SẢN PHÁ SẢN VÀ

XỬ LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN

1.1 Khái niệm về tài sản, tài sản phá sản

1.1.1 Khái niệm về tài sản

“Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.” theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự

năm 2015

* Tài sản là vật chỉ có ý nghĩa khi trở thành đối tượng của quan hệ phápluật, nó được con người kiểm soát và đáp ứng được một nhu cầu nào đó củacon người Không phải bất cứ một bộ phận nào của thế giới vật chất đều đượccoi là vật Vì vậy, có những bộ phận của thế giới vật chất ở dạng này thì đượccoi là vật nhưng ở dạng khác lại không được coi là vật

Ví dụ, Ô-xi còn ở dạng không khí trong tự nhiên thì chưa thể được coi làvật, vì chưa thể đưa vào giao dịch dân sự Chỉ khi con người có thể nắm giữ,quản lý được thì mới có thể đưa vào giao lưu dân sự và được coi là vật Chính vì

vậy, để thỏa mãn được thành vật trong dân sự thì phải có những điều kiện sau:

- Là bộ phận của thế giới vật chất;

- Con người chiếm hữu được;

- Mang lại lợi ích cho chủ thể;

- Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch.Căn cứ xác định giá trị sử dụng của vật để được chia ra thành nhiều phầnnhỏ mà Bộ luật dân sự phân chia vật thành vật chia được và vật không chiađược Căn cứ vào giá trị của tài sản sau khi sử dụng thì chia thành vật tiêu hao

và vật không tiêu hao Căn cứ vào các dấu hiệu phân biệt của vật mà người ta

Trang 14

phân loại vật thành vật thành vật cùng loại và vật đặc định Không chỉ vậy,người ta còn chia ra làm vật đồng bộ và vật không đồng bộ, Vật được phânloại thành các nhóm khác nhau:

- Vật có đăng ký quyền sở hữu và vật không đăng ký quyền sở hữu Vậtchính là vật độc lập có thể khai thác theo tính năng (ví dụ: ti vi, điều hòa, máyảnh…);

- Vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vậtchính, là một bộ phận của vật chính nhưng có thể tách rời vật chính (ví dụ:điều khiển ti vi, điều hòa, vỏ máy ảnh,…)

*Tiền: Theo Mác thì tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt, được tách rakhỏi thế giới hàng hóa, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả cácloại hàng hóa khác Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệsản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa Bộ luật dân sự năm 2005 và cả

Bộ luật dân sự năm 2015 đều quy định tiền là một loại tà sản nhưng lại không

có quy định để làm rõ bản chất pháp lý của tiền chỉ có loại tiền có giá trị đangđược lưu hành trên thực tế, tức là được pháp luật thừa nhận, mới được coi làtài sản Tiền là công cụ thanh toán đa năng, là công cụ tích lũy tài sản và làthước đo giá trị

* Giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiệnnay đặc biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụngkhác Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giaođược trong giao lưu dân sự Giấy tờ có giá tồn tại dưới nhiều hình thức

khác nhau, có thể có rất nhiều cơ quan ban hành như : kho bạc, các công ty cổphần…, có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh giá, có thể có thời hạn sửdụng hoặc không có thời hạn sử dụng, có thể ghi danh hoặc không ghi danh

và việc thực hiện quyền định đoạt về số phận thực tế đối với giấy tờ có giácũng không bị hạn chế như việc định đoạt tiền Ví dụ: giấu nhận nợ, tờ vé sốtrúng thưởng, trái phiếu, cổ phiếu…tất cả những giấy tờ trị gia được bằng

Trang 15

đồng Việt Nam Nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tàisản, giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luậtbảo vệ giấy tờ có giá có tính thanh khoản và là công cụ có thể chuyển nhượngvới điều kiện chuyển nhượng tòan bộ một lần, việc chuyển nhượng một phầngiấy tờ có giá là vô hiệu.

Ngoài ra, giấy tờ có giá có tính thời hạn, tính có thể đưa ra yêu cầu, tínhrủi ro, các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sảnnhư giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà,giấy đăng ký xe máy,… không phải là giấy tờ có giá Những loại giấy tờ nàychỉ được coi là một vật thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó

* Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sảnđối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sảnkhác đã được quy định tại Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015

* Quyền sử dụng đất là quyền tài sản, Giấy chứng nhận quyền sử dụngđất không được coi là tài sản cũng đã được quy định tại điều 105 Bộ luật dân

sự 2015 Điều 163 Bộ luật dân sự 2005

=> Quyền tài sản được là một loại tài sản và có thể dùng để trao đổitrong các giao dịch dân sự, thương mại, thực hiện góp vốn hoặc để lại thừa kếtrong trường hợp cá nhân chết hoặc tuyên bố là đã chết

Điều 107 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định bất động sản và động sản như sau:

“1 Bất động sản bao gồm:

a) Đất đai;

b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;

c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;

d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.

2 Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.”

Trang 16

Việc phân loại tài sản thành động sản và bất động sản là cách phân loạitài sản dựa vào đặc tính vật lý của tài sản là có thể di dời được hay không thể

di dời được, các tài sản không thể di, dời được do bản chất tự nhiên cấu tạonên tài sản đó, bao gồm:

- Đất đai: đất đai trong giao lưu dân sự được xác định bằng diện tích đấtcùng vị trí của mảnh đất đó Điều này được thể hiện trên bản đồ địa chính,được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận thông qua quyết định giaođất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó

- Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai: Khoản 1 Điều 104 LuậtĐất đai năm 2013 quy định về cấp Giấy chứng nhận đối với tài sản gắn liền

với đất, như sau: “Tài sản gắn liền với đất được cấp Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bao gồm nhà ở, công trình xây dựng khác, rừng sản xuất là rừng trồng và cây lâu năm có

tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Như vậy, theo quy định của pháp luật, tài sản

gắn liền với đất bao gồm nhà ở, công trình xây dựng khác, rừng sản xuất làrừng trồng và cây lâu năm có tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

- Cây cối, hoa màu và các tài sản khác trên đất: Khoáng sản, cây cối hoamàu trên đất cũng được coi là bất động sản chừng nào người ta chưa khaithác, chặt cây, hay hái lượm

- Các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đều được coi là bấtđộng sản Thông thường, việc gắn một động sản vào nhà, công trình xây dựngmột mặt phải nhằm tạo một chỉnh thể thống nhất phục vụ cho mục đích sửdụng nhà, công trình đó, mặt khác, việc gắn động sản vào nhà, công trình phải

do người có quyền đối với nhà, công trình xây dựng đó thực hiện Việc gắnliền phải mang tính chất kiên cố, không thể tháo ra mà không làm hư hại hoặcmất vẻ mỹ quan của nhà, công trình

Trang 17

Ví dụ: Hệ thống điện, nước trong nhà, bức tượng… (nếu được gắn vàohốc tường một cách kiên cố cũng có thể được coi là bất động sản).

Ngoài những tài sản là bất động sản kể trên, pháp luật có quy địnhnhững tài sản khác là bất động sản và bằng các văn bản hướng dẫn cụ thể

Ví dụ: theo quy định của Điều 5, “Luật Kinh doanh bất động sản năm

2014 thì quyền sử dụng đất là bất động sản”.

Căn cứ vào thời điểm hình thành tài sản và thời điểm xác lập quyền sởhữu cho chủ sở hữu, bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tàisản hình thành trong tương lai Tài sản hiện có là tài sản đã tồn tại vào thờiđiểm hiện tại và đã được xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu của tài sản đó(nhà đã được xây,…) Tài sản hình thành trong tương lai được hiểu là tài sảnchưa tồn tại hoặc chưa hình thành đồng bộ vào thời điểm xem xét nhưng chắcchắn sẽ có hoặc được hình thành trong tương lai (nhà đang được xây dựngtheo dự án, tiền lương sẽ được hưởng,…)

Ngoài tài sản hiện có là tài sản đã tồn tại còn có tài sản hình thành trongtương lai Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm tài sản đã được hìnhthành tại thời điểm giao kết giao dịch nhưng sau thời điểm giao kết giao dịchtài sản đó mới thuộc sở hữu của các bên (ví dụ: tài sản mua bán, thừa kếnhưng chưa hoàn thành thủ tục chuyển giao cho chủ sở hữu)

- “Sản nghiệp thương mại là toàn bộ tài sản gồm cả tài sản hữu hình và

vô hình thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của thương nhân phục vụ cho hoạt động thương mại như trụ sở, cửa hàng, kho tàng, trang thiết

bị, hàng hóa, tên thương mại, biển hiệu, nhãn hiệu hàng hóa, mạng lưới tiêu thụ hàng hóa và cung ứng dịch vụ” theo khoản 7, Điều 5, Luật Thương mại

1997

Thương mại ở thời kỳ trước là hàng đổi hàng,con người trao đổi trực tiếphàng hóa hay dịch vụ mà không cần thông qua các phương tiện thanh toán Vídụ: Đổi một xe đạp lấy một mảnh đất) Tuy nhiên, hình thức trao đổi trực tiếp

Trang 18

này ít còn tồn tại đến ngày nay do nhiều nguyên nhân.Trong hình thức này không

có sự phân biệt rõ ràng giữa người bán và người mua, do người bán mặt hàng Alại là người mua mặt hàng B đồng thời điểm Vì thế tiền được hình thành nhưmột phương tiện trao đổi đa năng để đơn giản hóa thương mại giữa “Tiền – Hàng– Tiền) Trước đây, tiền thường được liên kết với các phương tiện trao đổi hiệnthực có giá trị ví dụ như đồng tiền bằng vàng thì tiền ngày nay thông thường là

từ vật liệu mà chính nó không có giá trị (ví dụ: tiền giấy) Trong thương mạiquốc tế người ta gọi các loại tiền khác nhau là tiền tệ Giá trị của tiền hình thành

từ trị giá đối ứng mà tiền đại diện cho chúng Chính vì vậy, khi đưa thêm tiềngiấy hay tiền kim loại vào sử dụng thì tổng giá trị của tiền lưu thông trong mộtnền kinh tế không được nâng cao thêm mà chỉ dẫn đến lạm phát Điều này sẽ làmsuy giảm phát triển kinh tế thị trường

Nguyên nhân Thương mại tồn tại vì nó là sự chuyên môn hóa và phânchia lao động, trong đó các nhóm người nhất định nào đó chỉ tập trung vàoviệc sản xuất để cung ứng các hàng hóa hay dịch vụ thuộc về một lĩnh vựcnào đó để đổi lại hàng hóa hay dịch vụ của các nhóm người khác Thương mạicũng tồn tại giữa các khu vực là do sự khác biệt giữa các khu vực này đem lạilợi thế so sánh hay lợi thế tuyệt đối trong quá trình sản xuất ra các hàng hóahay dịch vụ có tính thương mại hoặc do sự khác biệt trong các kích thước củakhu vực (dân số chẳng hạn) cho phép thu được lợi thế trong sản xuất hàngloạt Vì thế, thương mại theo các giá cả thị trường đem lại lợi ích cho cả haikhu vực Thương mại được hiểu theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phátsinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng.Thương mại bao gồm các giao dịch sau đây: giao dịch về cung cấp hoặc traođổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thươngmại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹthuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai tháchoặc tô nhượng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc

Trang 19

kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đườngkhông, đường sắt hoặc đường bộ.

1.1.2 Khái niệm tài sản phá sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Nghiên cứu pháp luật nhiều nước cho thấy, hiện nay có hai loại tiêu chí

để xác định thời điểm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, tiêu chí vềđịnh lượng và tiêu chí về định tính Kinh nghiệm của một số nước khi xâydựng khái niệm phá sản theo trường phái định lượng thì trường có quy định

về số nợ cụ thể, về thời hạn chậm thanh toán nợ từ phía doanh nghiệp mắc nợsau khi chủ nợ có yêu cầu đòi nợ Tính định tính thể hiện ở quy định về nhữngtài liệu cần thiết mà còn nợ phải gửi cho Tòa án sau khi Tòa thụ lý đơn yêucầu giải quyết tuyên bố phá sản để Tòa án đánh giá tổng số nợ và tổng tài sảncủa con nợ như danh sách chủ nợ kèm theo số nợ, báo cáo về tình trạng tàichính, tài sản và khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp mắc nợ Như vậy,khái niệm tình trạng phá sản đã được xây dựng trên cơ sở kết hợp giữa haitiêu chí định lượng và tiêu chí định tính

Theo từ điển Tiếng Việt thì thuật ngữ “phá sản” được hiểu là “lâm vàotình trạng tài sản không có gì, thường là do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại.Các văn bản pháp luật Việt Nam không đưa ra định nghĩa thế nào là phá sản,phá sản doanh nghiệp mà chỉ giải thích khi nào thì doanh nghiệp, hợp tác xãđược coi là “lâm vào tình trạng phá sản” Theo Luật Phá sản năm 2014 thì phásản được hiểu là “tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanhtoán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản” Như vậy, phá sản

dù chưa định nghĩa thống nhất nhưng về cơ bản được sử dụng để chỉ sự đổ vỡtrong hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp hoặc cá nhân

Giống như pháp luật phá sản ở nhiều nước trên thế giới, pháp luật phásản ở nước ta hiện nay điều chỉnh hai thủ tục chính là thủ tục phục hồi hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản và

Trang 20

thủ tục phá sản Pháp luật phá sản doanh nghiệp hiện hành bao gồm tất cả cácquy định của pháp luật đang còn hiệu lực điều chỉnh việc phá sản, giải quyếtphá sản doanh nghiệp Bản chất của pháp luật phá sản hiện đại là pháp luật vềthủ tục đòi nợ tập thể (liên quan đến nhiều người) và cứu vớt doanh nghiệpmất khả năng thanh toán nợ Điều đó có nghĩa là pháp luật phá sản không chỉ

là pháp luật về thanh toán mà còn là pháp luật về quản trị doanh nghiệp gặpkhó khăn về tài chính nhằm cứu vớt doanh nghiệp đó

Pháp luật phá sản là toàn bộ các quy phạm pháp luật do Nhà nước banhành, quy định về điều kiện mở thủ tục phá sản và điều kiện tuyên bố phá sảndoanh nghiệp, hợp tác xã Giáo trình Luật Thương Mại tập 2 – Trường Đại

học Luật Hà Nội (2014) có đưa ra khái niệm như sau: “Pháp luật phá sản có

thể hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã ”; quy định trình tự, thủ tục giải quyết và yêu cầu

mở thủ tục phá sản cũng như thi hành quyết định tuyên bố phá sản; về địa vịpháp lý và mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia tố tụng phá sản và các vấn

đề khác phát sinh liên quan đến giải quyết phá sản

Pháp luật phá sản là một chế định đặc thù khi vừa chứa đựng các quyphạm của pháp luật nội dung, vừa chứa đựng các quy phạm của pháp luậthình thức (pháp luật tố tụng) Với tư cách là pháp luật nội dung, pháp luật phásản điều chỉnh các quan hệ tài sản giữa chủ nợ và con nợ Với tư cách là phápluật hình thức, pháp luật phá sản điều chỉnh quan hệ tố tụng giữa cơ quan nhànước có thẩm quyền với chủ nợ, con nợ và những người có liên quan, quyđịnh quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể, trình tự, thủ tục giải quyếtyêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

Trên cơ sở vận dụng có chọn lọc những thành tựu của các hệ thống luậttiên tiến trên thế giới kết hợp với việc nghiên cứu quá trình giải quyết phásản, luận văn đưa ra khái niệm tài sản phá sản:

Trang 21

Tài sản phá sản là khối sản nghiệp của doanh nghiệp, bao gồm toàn bộ những tài sản có và tài sản nợ của doanh nghiệp từ thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đến thời điểm có quyết định của Tòa án về việc hoàn tất vụ việc phá sản.

Tài sản doanh nghiệp gồm hai loại: tài sản có và tài sản nợ

• Tài sản có

Những tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền quản lý, sử dụng củadoanh nghiệp được gọi là tài sản có và được phân loại thành tài sản lưu động

và tài sản cố định như sau:

- Tài sản lưu động là biểu hiện dưới hình thái vật chất của các thành

phần tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh doanh sản xuất (các thành phầnnày còn được gọi là đối tượng lao động) Tài sản lưu động trong doanh nghiệpthường được chia thành 2 loại: Tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu độnglưu thông Tài sản lưu động sản xuất: Các loại nguyên vật liệu, nhiên liệu, phụtùng thay thế… dự trữ sản xuất và các loại sản phẩm dở dang, bán thành phẩmđang trong quá trình sản xuất TSLĐ lưu thông: Các loại tài sản nằm trongquá trình lưu thông như thành phẩm chờ tiêu thụ, vốn trong thanh toán, vốnbằng tiền…

Việc tài sản lưu động sản xuất và lưu thông vận động thường xuyên vàđổi chỗ cho nhau sẽ đảm bảo cho hoạt động sản xuất và kinh doanh trongdoanh nghiệp diễn ra ổn định và nhịp nhàng

- Tài sản cố định là tư liệu sản xuất chuyên dùng trong sản xuất kinh

doanh, có giá trị lớn và dùng được vào nhiều chu kì sản xuất Có ba loại tàisản cố định: tài sản cố định hữu hình, vô hình, tài sản cố định thuê ngoài dàihạn, các khoản đầu tư tài chính dài hạn, các khoản đầu tư xây dựng cơ bản

Những tài sản cố định hữu hình có hình thái vật chất cụ thể do doanhnghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh như: trụ sở, cửa

Trang 22

hàng, kho tàng, máy móc, thiết bị công tác, phương tiện vận tải, phương tiệntruyền dẫn và hao mòn dần theo thời gian.

Những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đãđược đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vàonhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sửdụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyềntác giả… ví dụ như lợi thế của địa điểm kinh doanh, điều này có ý nghĩa quantrọng khi xác định giá trị quyền sử dụng đất; tay nghề của người lao độngtrong doanh nghiệp, có ý nghĩa khi trả một số phụ cấp cho họ khi doanhnghiệp bị tuyên bố phá sản

Tài sản cố định tài chính là những tài sản cố định mà doanh nghiệp thuêcủa công ty cho thuê tài chính Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyềnlựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuậntrong hợp đồng thuê tài chính Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợpđồng thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thờiđiểm ký hợp đồng Giá trị của các khoản đầu tư tài chính dài hạn với mục đíchkiếm lời, thời gian thu hồi vốn lớn hơn một năm hay một chu kỳ kinh doanh như:đầu tư liên doanh dài hạn, cho thuê tài sản cố định, đầu tư chứng khoán dài hạn

- Các khoản nợ được đảm bảo bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác

xã của người thứ ba mà giá trị tài sản bảo đảm ít hơn khoản nợ đó thì được gọi

là nợ có đảm bảo một phần

- Khoản nợ mà theo đó doanh nghiệp chưa phát sinh nghĩa vụ thanhtoán Kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, các khoản nợ được tiếp tục

Trang 23

tính lãi theo thỏa thuận nhưng được tạm dừng việc trả lãi Đối với khoản nợmới phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản đến thời điểm tuyên bố doanhnghiệp, hợp tác xã phá sản thì tiền lãi của khoản nợ đó được xác định theothỏa thuận nhưng không trái với quy định của pháp luật Kể từ ngày ra quyếtđịnh tuyên bố doanh nghiệp phá sản thì khoản nợ không được tiếp tục tính lãi.

- Việc phân biệt nợ đến hạn thanh toán nợ chưa đến hạn thanh toán giúptòa án có thể xác định chính xác doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng mất khảnăng thanh toán Các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần

đã được các bên xác nhận, có đầy đủ chứng cứ chứng minh các khoản nợ này

là có thật và không có tranh chấp Chủ nợ phải có căn cứ chứng minh là chủ

nợ đã có yêu cầu nhưng không được doanh nghiệp thanh toán

1.1.3 Nguyên tắc và cách thức xác định khối tài sản phá sản

1.1.3.1 Nguyên tắc xác định khối tài sản phá sản

Việc xác định giá trị nghĩa vụ về tài sản khi giải quyết phá sản đã đượcquy định cụ thể tại Điều 51 Luật Phá sản 2014 Theo đó, việc xác định giá trịnghĩa vụ về tài sản khi giải quyết phá sản được quy định như sau:

1 Nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác lập trước khi Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản được xác định vào thời điểm ra quyết định mở thủ tục phá sản.

2 Nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác lập sau khi Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản được xác định vào thời điểm ra quyết định tuyên bố phá sản.

3 Trường hợp nghĩa vụ về tài sản quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không phải là tiền thì Tòa án nhân dân xác định giá trị nghĩa vụ về tài sản đó bằng tiền.

1.1.3.2 Cách thức xác định khối tài sản phá sản

Xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp được kiểm kê và xác định sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản (Điều 64 Luật Phá sản 2014), gồm:

Trang 24

- Tài sản và quyền tài sản mà doanh nghiệp có tại thời điểm Tòa án nhân dân quyết định mở thủ tục phá sản;

- Các khoản lợi nhuận, các tài sản và quyền tài sản mà doanh nghiệp sẽ

có việc thực hiện các giao dịch được xác lập trước khi Tòa án nhân dân mởthủ tục phá sản;

- Tài sản và quyền tài sản có được sau ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản;

- Tài sản là vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp Trườnghợp thanh toán tài sản là vật bảo đảm được trả cho các chủ nợ có bảo đảm,nếu giá trị của vật bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm phải thanh toán thìphần vượt quá đó là tài sản của doanh nghiệp;

- Giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai;

- Tài sản thu hồi từ hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản của doanh nghiệp;

- Tài sản và quyền tài sản có được do các giao dịch vô hiệu;

- Các tài sản khác theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, công ty hợp danh còn bao gồm tài sản của chủ doanh nghiệp

tư nhân, thành viên hợp danh không trực tiếp dùng vào hoạt động kinh doanh.Đặc điểm điển hình của loại hình công ty hợp danh là thành viên hợp danhphải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụcủa doanh nghiệp, khối tài sản của Công ty hợp danh được xác định như thếnào và có tách bạch với khối tài sản của thành viên hợp danh hay không.Các tài sản được xác lập theo quy định tại Điều 174 Luật Doanh nghiệp

2014 là tài sản của Công ty hợp danh, khối tài sản này tách bạch hoàn toànvới khối tài sản của thành viên hợp danh Tài sản của thành viên hợp danhcũng không phải là tài sản của Công ty Hợp danh Việc thành viên hợp danhphải chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của công ty nếu tài sản củacông ty không đủ để trang trải số nợ của công ty chỉ là trách nhiệm liên đới

Trang 25

mà Pháp luật buộc thành viên hợp danh phải chấp nhận khi lựa chọn loại hìnhdoanh nghiệp này.

1.2 Khái quát thủ tục xử lý tài sản phá sản

1.2.1 Đặc trưng của thủ tục xử lý tài sản phá sản

Thủ tục xử lý tài sản phá sản của doanh nghiệp mất khả năng thanhtoán là xác định giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp phá sản nhằm bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ Bên cạnh đó, xử lý tài sản phá sảncủa doanh nghiệp cũng góp phần bảo vệ quyền lợi của con nợ, giúp con nợ sửdụng tài sản hợp lý và hiệu quả hơn Xử lý tài sản phá sản của doanh nghiệpcòn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động Xử

lý tài sản phá sản của doanh nghiệp một cách khách quan, minh bạch và hiệuquả giúp cho pháp Luật Phá sản 2014 thực hiện được tính hiệu quả của việc

xử lý tài sản phá sản của doanh nghiệp

1.2.2 Nội dung cơ bản của thủ tục xử lý tài sản phá sản

Thủ tục xử lý tài sản phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Phá sản là mộthiện tượng xảy ra có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế – xã hội, nó cóthể gây ra những mâu thuẫn, tình trạng hỗn loạn, mất trật tự xã hội bằng sựtranh giành tài sản của con nợ từ phía các chủ nợ, bằng sự biểu tình đòi việclàm, tiền lương, thu nhập ở người lao động Nếu không có một thủ tục phá sảnchặt chẽ để điều chỉnh ổn thỏa, công bằng những mối quan hệ đó chắc chắn sẽgây ra tình trạng lộn xộn, vô tổ chức trong xã hội Tuy nhiên, đây lại là mộtthủ tục đòi nợ đặc biệt Đó là việc các chủ nợ đòi nợ công khai, bình đẳng vàmang tính tập thể Có thể coi thủ tục phá sản là một giải pháp để các chủ nợthu hồi nợ bằng cách chia nhau tài sản của con nợ một cách có trật tự, tránhtình trạng "mạnh ai nấy đòi" cũng như tránh việc tẩu tán tài sản của con nợ.Luật Phá sản năm 2014 quy định thủ tục thông thường giải quyết phá sản có 4bước chủ yếu, bao gồm:

21

Trang 26

1) Nộp đơn yêu cầu và mở thủ tục phá sản;

2) Hội nghị chủ nợ và thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh;

3) Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản;

4) Thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản

Xử lý tài sản phá sản theo Luật Phá sản 2014 thực hiện bước sau khi có Quyết định mở thủ tục phá sản, bước 2 và bước 4

● Về đối tượng áp dụng của Luật phá sản

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Phá sản (2004) thì đối tượng áp

dụng của Luật này là: “Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được

thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật” Theo quy định này thì

Luật Phá sản (2004) chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã Trong quátrình xây dựng Luật Phá sản (2014), nhiều ý kiến cho rằng cần bổ sung đổitượng áp dụng của Luật này là cá nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình, xí nghiệp cóđăng ký kinh doanh, trường Đại học và trường ở các cấp học khác nếu lâmvào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn thì đều có thể giải quyếttheo thủ tục phá sản Quan điểm này cho rằng, việc mở rộng các đối tượngnày phù hợp với khuyến nghị số 8 và 9 của Khuyến nghị Hướng dẫn xây dựngpháp Luật Phá sản của Ủy ban Luật thương mại quốc tế của Liên hiệp quốc(UNCITRAL) và một số nước trên thế giới như Nhật Bản, Pháp, Đức, Anh,Nga, Latvia… đều quy định áp dụng pháp luật phá sản đối với mọi chủ thể cóđăng ký kinh doanh

Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành thì cá nhân, tổ hợptác, hộ gia đình khi tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh có đăng ký kinhdoanh nhưng không phải đăng ký vốn pháp định; hoạt động kinh doanh củanhóm đối tượng này ở quy mô nhỏ, đa số chưa thực hiện tốt về chế độ kếtoán, tài chính nên khi áp dụng thủ tục phá sản sẽ gặp nhiều khó khăn trongquản lý, thanh lý tài sản Mặt khác, hiện nay khi các đối tượng này mất khảnăng thanh toán thì việc xử lý nợ sẽ thực hiện theo quy định của Bộ Luật dân

Trang 27

sự 2015 Đối với các cơ sở đào tạo hoạt động mang tính nghề nghiệp đặc thù,hoạt động của các cơ sở này liên quan đến chính sách đối với học sinh, sinhviên; việc thành lập, hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể được điều chỉnhtheo Luật giáo dục, Luật giáo dục đại học và Luật dạy nghề Vì vậy, trong thờiđiểm hiện nay, quan điểm Luật Phá sản (2014) là tạm thời chưa nên mở rộngcác đối tượng áp dụng.

Tóm lại , về đối tượng áp dụng Luật Phá sản (2014) quy định tại điều 2:

“Luật này áp dụng đối với doanh nghiệp và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (sau đây gọi chung là hợp tác xã) được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.”

● Về lý do phá sản của một số nước trên thế giới

- Pháp luật Nhật Bản quy định “tình trạng phá sản là không có khả năngtrả các khoản nợ đến hạn và đối với pháp nhân là không có khả năng trả nợ”;

- Luật Phá sản doanh nghiệp 1992 của Liên bang Nga thì quy định “tìnhtrạng phá sản của doanh nghiệp được hiểu là việc mất khả năng đáp ứng yêu cầucủa chủ nợ về thanh toán hàng hóa (công việc, dịch vụ) kể cả việc mất khả năngbảo đảm các thanh toán phải nộp ngân sách và các quỹ ngoài ngân sách do nghĩa

vụ của người mắc nợ vượt quá tài sản của mình hoặc do mất cân đối trong cáncân thanh toán của người mắc nợ Tình trạng phá sản của doanh nghiệp là sựngừng việc thanh toán bình thường của Doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp khôngbảo đảm hoặc rõ ràng không có khả năng thực hiện các yêu cầu của chủ nợ trongthời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn thực hiện các yêu cầu đó” Theo quy địnhcủa pháp luật phá sảnTrung Quốc thì “khi doanh nghiệp không có khả năngthanh toán khoản nợ đến hạn thì bị xem xét khả năng doanh nghiệp bị phá sản”;

- Luật Phá sản Việt Nam 2014 có nhiều điểm tương đồng với pháp luậtNhật Bản, Nga, Trung Quốc trong quy định về tình trạng phá sản của doanhnghiệp Theo quy định tại Khoản 1, 2 Điều 4 Luật Phá sản (2014) thì phá sản làtình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án

Trang 28

nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản; doanh nghiệp, hợp tác xã mất khảnăng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanhtoán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.

● Về cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu phá sản và xử lý tài

ở Trung Quốc, Malayxia, tính chất của một vụ phá sản được pháp luật coi như

một vụ kiện dân sự nên thẩm quyền thuộc về tòa án dân sự

Ở Việt Nam, Luật Phá sản (2014) quy định Tòa án nhân dân cấp tỉnh vàcấp huyện có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết việc phá sản doanh nghiệp, việcphân định thẩm quyền giải quyết vụ phá sản dựa trên ba nguyên tắc:

- Theo trụ sở chính;

- Theo nơi đăng ký kinh doanh;

- Theo tính chất phức tạp của vụ việc phá sản

Cụ thể hơn, thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết yêu cầu tuyên

bố phá sản được quy định tại Điều 8 của Luật Phá sản (2014)

Chủ thể tham gia giải quyết xử lý tài sản phá sản là Quản tài viên đượcThẩm phán chỉ định bằng Quyết định bao gồm Quản tài viên, doanh nghiệp

quản lý, thanh lý tài sản “Chấp hành viên có trách nhiệm giám sát hoạt động

của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trong việc thực hiện thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản sau khi có văn bản yêu

Trang 29

cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản tổ chức thực hiện thanh lý tài sản theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 121 Luật Phá sản.

Chấp hành viên giám sát Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thông qua việc Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý báo cáo Chấp hành viên” Trích Thông tư liên tịch 07/2018/TTLT-BTP-VKSNDTC-

TANDTC quy định việc phối hợp thực hiện một số vấn đề về trình tự, thủ tụctrong thi hành quyết định của Tòa án giải quyết phá sản

● Về thủ tục xử lý tài sản phá sản

Xử lý tài sản phá sản theo Luật Phá sản ở một số nước trên thế giới nhưPháp, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc đều quy định thủ tục xử lý tài sản phá sảngồm: thủ tục xác định lại giá trị tài sản còn lại, phục hồi hoạt động kinh doanh,phân chia theo thứ tự ưu tiên Điểm chung của các nước là tuỳ theo tình hình cụthể của các doanh nghiệp mà áp dụng thủ tục phục hồi (cứu vãn) hay thủ tục xử

lý tài sản (phá sản) Trong quá trình thực hiện không cứng nhắc trong một thủ tục

mà có thể chuyển từ thủ tục này sang thủ tục khác một cách linh hoạt

Theo quy định xử lý tài sản phá sản trong Luật Phá sản Việt Nam 2014

là một trong những thủ tục giải quyết phá sản gồm: Xác định giá trị tài sản,phục hồi hoạt động kinh doanh và phân chia tài sản phá sản theo thứ tự ưutiên Thủ tục xử lý tài sản được thực hiện sau trước khi và sau khi ra quyếtđịnh tuyên bố doanh nghiệp phá sản Xử lý tài sản phá sản được tiến hànhtheo các bước sau:

1 Kê biên tài sản phá sản bắt đầu xác định giá trị tài sản phá sản, chủ thểđảm nhận nhiệm vụ này sẽ phải có nghĩa vụ thông báo cho các chủ nợ rồi tiếnhành kê biên tài sản để thu hồi tài sản phá sản Xác định phạm vi tài sản phá sản

là những tài sản nợ và tài sản có của doanh nghiệp Thông thường, việc thu hồitài sản thuộc về một cơ quan (Quản tài viên được Thẩm phán ra Quyết định).Việc thu hồi này chỉ diễn ra sau khi có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Trang 30

2 Xử lý tài sản phá sản là việc xác định giá trị tài sản sản phá sản saukhi hoàn tất việc thu hồi tài sản phá sản Đây còn là một thủ tục xử lý nợmang tính chất tập thể cao, không mang tính cá nhân, riêng lẻ Việc xử lý tàisản phá sản để thanh toán cho các chủ nợ phải được tiến hành tập thể để đảmbảo quyền lợi công bằng cho các chủ nợ Công bằng thể hiện ở một thứ tự ưutiên thanh toán giữa các chủ nợ, đảm bảo thông tin đến được với chủ nợ làkhác nhau, các chủ nợ trong những điều kiện như nhau thì được hưởng quyềnlợi như nhau.

Mục đích của hoạt động xử lý tài sản phá sản nhằm bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của các chủ nợ, giúp con nợ sử dụng tài sản hợp lý và hiệu quảhơn, xử lý tài sản phá sản còn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyềnlợi của người lao động, góp phần đảm bảo trật tự, an toàn xã hội Xử lý tài sảnphá sản khách quan, minh bạch và hiệu quả giúp cho pháp luật phá sản thựchiện được các mục đích đã đặt ra, đồng thời góp phần tặng tính hiệu quả củaviệc quản lý tài sản phá sản Bởi lẽ, những nội dung khoa học, cùng ý nghĩaquan trọng và thiết thực, cơ chế xử lý tài sản phá sản sẽ tác động lớn tới cácchủ thể quản lý tài sản phá sản, giúp các chủ thể này phát huy tinh thần tráchnhiệm trong việc quản lý tài sản phá sản nhằm hạn chế thấp nhất việc tẩu tán,mất mát tài sản phá sản để bảo toàn tài sản phá sản

3 Thanh toán cho các chủ nợ là bước cuối cùng của thủ tục xử lý tàiphá sản, thực chất của việc xử lý tài sản phá sản là việc xử lý mối quan hệ vềlợi ích tài sản giữa các chủ nợ với con nợ Việc thanh toán được tiến hành theomột thứ tự ưu tiên theo quy định của Luật Phá sản 2014 Luật Phá sản 2014 có

xu hướng ưu tiên bảo vệ chủ nợ là người lao động thể hiện ở thứ tự ưu tiênthanh toán như: (i) Các khoản lệ phí, các chi phí theo quy định của pháp luậtcho việc giải quyết phá sản; (ii) các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảohiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thỏa ướclao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết; (iii) Các khoản nợ

Trang 31

thuế và các khoản nợ cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ; (iv) Các chủ sởhữu doanh nghiệp.

1.2.3 Vai trò của thủ tục xử lý tài sản

Để xử lý tài sản phá sản được tiến hành một cách có trật tự, đúng phápluật thì pháp luật phá sản cần thực hiện đúng những quy định cụ thể về trình

tự xử lý tài sản phá sản doanh nghiệp Những quy định này là cơ sở pháp lý đểTòa án tiến hành Tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, bảo đảm vụ việcđược giải quyết đúng pháp luật

Xử lý tài sản theo pháp luật Luật Phá sản 2014 ở nước ta hiện nay, đãgóp phần quan trọng vào việc hình thành một cơ chế pháp lý đồng bộ cho hoạtđộng xử lý nợ của các doanh nghiệp, bảo đảm trật tự, kỷ cương trong lĩnh vựctài chính, làm cho môi trường kinh doanh trở nên lành mạnh hơn Mặc dù,Luật Phá sản ở Việt Nam được ban hành chậm so với các nước trên thế giớinhưng cũng đã góp phần quan trọng vào việc hình thành một cơ chế pháp lý,

xử lý nợ của các doanh nghiệp, bảo đảm trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực tàichính, làm cho môi trường kinh doanh trở nên lành mạnh hơn trong thời kìquá độ đi lên chủ nghĩa xã hội

Việc áp dụng đúng thủ tục xử lý tài sản phá sản sẽ đóng một vai tròquan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ nợ và người laođộng Trong kinh doanh, việc công nợ là điều tất yếu có trong bất cứ doanhnghiệp nào Khi có nợ thì chủ nợ đương nhiên được quyền đòi nợ thông quamọi hình thức, biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp khởi kiện ra Tòa

án Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc kiện tụng ra Tòa án không thểgiải quyết được một cách thỏa đáng quyền lợi của các chủ nợ, nhất là khi con

nợ bị mất khả năng thanh toán Pháp luật phá sản ra đời đã quy định về thủ tục

xử lý tài sản phá sản, một thủ tục đòi nợ đặc biệt cho các chủ nợ Có thể nói,điều mà các chủ nợ lo ngại nhất là con nợ không thể trả lại các khoản nợ đãvay của mình Tuy nhiên, thông qua xử lý tài sản phá sản, các doanh

Trang 32

nghiệp hợp tác xã có nguy cơ phá sản sẽ có cơ hội được phục hồi, trở lại tìnhtrạng ban đầu, có khả năng thanh toán các khoản nợ của chủ nợ Còn nếudoanh nghiệp, hợp tác xã không thể phục hồi, bị tuyên bố phá sản thì các tàisản phá sản của doanh nghiệp cũng được xác định giá trị tài sản của doanhnghiệp phá sản để trả nợ cho các chủ nợ.

Đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, ápdụng thủ tục xử lý tài sản phá sản là một giải pháp tránh việc các chủ nợ tự dotranh dành “xiết nợ”, ngăn cản các chủ nợ đòi nợ theo kiểu mạnh ai nấy đòi,

từ đó dẫn đến tình trạng mất trật tự xã hội Thủ tục xử lý tài sản phá sản là do

cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành, đảm bảo cho việc thực thi đượcthống nhất, trật tự, bằng mọi cách tạo điều kiện cho con nợ khắc phục khókhăn, khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường hoặc tạo cơ hộicho con nợ rút khỏi thương trường một cách có trật tự

Tóm lại, có thể thấy việc xử lý tài sản phá sản nếu không được quy định

cụ thể về trình tự, cách thức có thể dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng vềkinh tế - xã hội Các hậu quả này nhiều khi là nguyên nhân của tình trạng lộnxộn trong đời sống xã hội Vì vậy, quá trình xử lý tài sản phá sản nhất thiếtphải được tiến hành một cách quy củ, trật tự thông qua một trình tự, thủ tụcgiải quyết một vụ phá sản

Tiểu kết chương 1

Nền kinh tế nào cũng luôn tồn tại một bộ phận quan hệ kinh tế quantrọng và tương ứng với nó có một bộ phận quy phạm pháp luật điều chỉnhThành lập – Phá sản Các tranh chấp xuất hiện càng nhiều với quy mô phứctạp, đó cũng là hình thức loại bỏ dần các doanh nghiệp yếu kém và không cóchiến lược đúng đắn trong quá trình sản xuất trao đổi sản phẩm, hàng hoá.Qua nhiên cứu nội dung của chương 1, tác giả đưa ra một số lết luận về tài sảnphá sản như sau:

Trang 33

1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồmbất động sản và động sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có

và tài sản hình thành trong tương lai

2 Xử lý tài sản phá sản là một thủ tục đặc biệt vì bản chất của xử lý tàisản phá sản là việc Tòa án ra quyết định chấm dứt hoạt động của con nợ vànhân cơ hội đó mà thu hồi tài sản còn lại của con nợ, xác định giá trị tài sảnbằng tiền và chia cho các chủ nợ theo một thứ tự ưu tiên nhất định Như vậy,thủ tục xử lý tài sản phá sản liên quan đến ba hoạt động: thu hồi tài sản, xử lýtài sản và thanh toán tiền cho các chủ nợ Xử lý tài sản phá sản quy định trongLuật Phá sản Việt Nam 2014 bao gồm hai thủ tục chính xác định giá trị tài sảncủa doanh nghiệp mất khă năng thanh toán và thanh toán cho các chủ nợ vàngười lao động

3 Nội dung của xử lý tài sản phá sản gồm thu hồi tài sản phá sản,phụchồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, phânchia tài sản phá sản theo thứ tự ưu tiên Bắt đầu xác định giá trị tài sản phásản, chủ thể đảm nhận nhiệm vụ này sẽ phải có nghĩa vụ thông báo cho cácchủ nợ rồi tiến hành kê biên tài sản để thu hồi tài sản phá sản, xử lý tài sảnphá sản là việc xác định giá trị tài sản phá sản sau khi hoàn tất việc thu hồi tàisản phá sản Đây còn là một thủ tục xử lý nợ mang tính chất tập thể cao,không mang tính cá nhân, riêng lẻ.Thanh toán cho các chủ nợ theo thứ tự ưutiên được quy định trong Pháp Luật Phá sản 2014

Tóm lại, mốc đánh dấu quan trọng cho sự hình thành pháp luật phá sản

ở Việt Nam là sự ra đời của Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1994, Luật Phásản năm 2004 và mới đây là Luật Phá sản năm 2014 Trên cơ sở kế thừa nềntảng của Luật cũ, Luật Phá sản 2014 có nhiều nội dung mới so với Luật cũ

Trang 34

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG

XỬ LÝ TÀI SẢN THEO LUẬT PHÁ SẢN Ở VIỆT NAM

2.1 Những quy định pháp luật về thủ tục xử lý tài sản phá sản

2.1.1 Quy định về chủ thể tham gia xử lý tài sản phá sản

Pháp luật Phá sản đã có sự đa dạng hóa các loại thủ tục áp dụng đối vớidoanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản bao gồm: thủ tục phục hồi hoạt độngkinh doanh, thủ tục xử lý tài sản phá sản, thủ tục tuyên bố phá sản.Theotruyền thống, tuyên bố doanh nghiệp phá sản là tiền đề pháp lý cho việc thanh

lý tài sản phá sản Khi tuyên bố phá sản một doanh nghiệp thì đối với con nợcũng là một cách thức pháp lý thu hồi nợ của các chủ nợ Các chủ nợ thu hồi

nợ bằng yêu cầu của Tòa án, quyết định mở thủ tục giải quyết phá sản trở nênrườm rà và bị phá sản Tuy nhiên, hai quyết định này đều có thể bị khiếu nại

và kháng nghị và đòi hỏi thời gian giải quyết

Thanh lý tài sản phá sản nếu chỉ là một nội dung của thủ tục tuyên bốphá sản dựa trên quyết định tuyên bố phá sản thì thủ tục phá sản chỉ là một nộidung của thủ tục tuyên bố phá sản Thanh lý tài sản có thể có hoặc có thểkhông nhưng tuyên bố phá sản là một trong những mục tiêu chính của thủ tụcphá sản khi doanh nghiệp không thể phục hồi Chủ thể xử lý tài sản của doanhnghiệp phá sản là một thẩm phán do Tòa án bổ nhiệm, việc quản lý, xử lý tàisản phá sản được giao cho một nhóm người do Tòa án thành lập ra và gọi là

Tổ quản lý tài sản

• Tòa án

Thẩm quyền giải quyết việc phá sản ở hầu hết các nước đều có quyđịnh chung là Tòa án và ở Việt Nam cũng vậy, Thẩm quyền giải quyết việcphá sản của một doanh nghiệp là Tòa án Luật phá sản doanh ngiệp năm 1993,Luật Phá sản năm 2004 và nay là Luật Phá sản năm 2014 đều quy định tòa án

Trang 35

là cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc phá sản của doanh nghiệp, hợp tác

xã Ở Việt Nam, trong quy định của pháp luật phá sản, Tòa án luôn luôn đượcthiết kế như một chủ thể có vai trò quyết định, một nhân vật trung tâm trongnhiều hoạt động của tố tụng phá sản

Thẩm quyền của Tòa án, Tòa án phải thụ lý đơn khi có đơn nộp yêu cầu

mở thủ tục phá sản Theo quy định tại Điều 32 Luật Phá sản (2014) thì Tòa án

sẽ thông báo cho người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản về việc nộp lệ phíphá sản, tạm ứng chi phí phá sản nếu đơn yêu cầu hợp lệ; có quyền yêu cầungười nộp đơn sửa đổi, bổ sung đơn nếu có thiếu sót; Tòa án chuyển đơn yêucầu mở thủ tục phá sản cho Tòa án nhân dân có thẩm quyền nếu thuộc thẩmquyền giải quyết của Tòa án nhân dân khác; và Tòa án cũng có thể trả lại đơnyêu cầu mở thủ tục phá sản khi xảy ra các trường hợp quy định tại Khoản 1Điều 35

Trong việc mở thủ tục phá sản, Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tụcphá sản có quyền ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản (Điều

42 Luật Phá sản (2014)) Nếu ra quyết định mở thủ tục phá sản, trong thời hạn

3 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, Thẩm phán của Tòa án thụ lý đơnyêu cầu mở thủ tục phá sản có trách nhiệm chỉ định Quản tài viên hoặc doanhnghiệp quản lý, thanh lý tài sản

Trong hội nghị chủ nợ, Tòa án có thẩm quyền triệu tập hội nghị chủ nợ;thẩm phán được giao phân công phụ trách vụ phá sản tham gia điều hành việctiến hành hội nghị chủ nợ

Tòa án có vai trò trong thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, trong đóThẩm phán được Tòa án giao phân công phụ trách vụ phá sản ra quyết định côngnhận nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán Nghị quyếtnày có hiệu lực đối với tất cả người tham gia thủ tục phá sản có liên quan Theođịnh kỳ báo cáo, doanh nghiệp, hợp tác xã phải lập báo cáo về tình hình thực

Trang 36

hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã choQuản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản Quản tài viên, doanhnghiệp quản lý, xử lý tài sản phá sản có trách nhiệm báo cáo Thẩm phán.

Ngoài ra, Tòa án nhân dân còn là chủ thể có thẩm quyền ra quyết địnhtuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản theo thủ tục rút gọn, khi Hội nghịchủ nợ không thành hoặc sau khi có Nghị quyết của hội nghị chủ nợ

Thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp là Tòa ánquyết định Tòa án là cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết phá sản.Thẩm quyền giải quyết phá sản của Tòa án đươc quy định tại Điều 8 Luật phásản (2014) cụ thể:

Thứ nhất, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết phá sản đối

với doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xãđăng ký kinh doanh tại tỉnh đó Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết03/2016/NQ-HĐTP thì vụ việc phá sản có tính chất phức tạp là vụ việc khôngthuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c khoản 1 Điều 8của Luật phá sản và doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sảnthuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Có từ trên 300 lao động trở lên hoặc có vốn điều lệ từ trên

100.000.000.000 (một trăm tỷ đồng) trở lên;

+ Là tổ chức tín dụng; doanh nghiệp, hợp tác xã cung ứng các sản phẩm, dịch

vụ công ích; doanh nghiệp quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật;

+ Là tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước; doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài;

+ Có khoản nợ được Nhà nước bảo đảm hoặc có liên quan đến việc thựchiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, văn bản thỏa thuận về đầu tư với cơ quan, tổ chức nước ngoài;

+ Có giao dịch bị yêu cầu tuyên bố là vô hiệu theo quy định tại Điều

59 của Luật phá sản 2014

Trang 37

Thứ hai, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản

đối với doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính tại huyện, quận, thị xã, thànhphố thuộc tỉnh đó và không thuộc trường hợp quy định tại mục trên

Luật phá sản năm 2004 quy định theo hướng doanh nghiệp, hợp tác xã

do cơ quan cấp nào đăng ký kinh doanh thì do Tòa án cấp ấy có thẩm quyềngiải quyết, việc căn cứ vào thẩm quyền đăng ký kinh doanh để quy định thẩmquyền giải quyết của Tòa án là không phù hợp với các nguyên tắc pháp lý,không thống nhất với quy định về thẩm quyền của Tòa án trong Bộ luật Tốtụng dân sự 2004 Quy định thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo cấp, theolãnh thổ trong Luật phá sản (2014) được cho là phù hợp và thống nhất với cácquy định trong Bộ luật tố tụng dân sự 2004

+ Thẩm phán – người trực tiếp thực hiện việc giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp

Cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ phá sản là Tòa án, song việc thựchiện các hành vi tố tụng đều do Thẩm phán phụ trách tiến hành Vì vậy, xemxét đến vai trò, vị trí của Tòa án chính là xem xét vai trò, vị trí của Thẩmphán, Thẩm phán giữ vai trò trung tâm, là chủ thể có vai trò quyết định trongviệc giải quyết các vấn đề pháp lý cơ bản Thẩm phán là người thay mặt Tòa

án trực tiếp tiến hành các hành vi tố tụng Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩmphán được quy định cụ thể trong Điều 9 Luật Phá sản (2014)

Thẩm phán có quyền quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản.Trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán là người xác minh, thu thập tài liệu,chứng cứ liên quan đến việc giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản Nếu Thẩmphán đồng thời là người tham gia thủ tục phá sản Nếu Thẩm phán đồng thời

là người tham gia thủ tục phá sản; người đại diện người thân thích của ngườitham gia thủ tục phá sản; người đại diện, người thân thích của người tham giathủ tục phá sản trong vụ việc phá sản đó, đã tham gia với tư cách Kiểm sátviên, Quản tài viên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

Trang 38

người tham gia thủ tục phá sản, người giám định, thẩm định giá, định giá,người phiên dịch trong vụ việc phá sản đó cùng trong một Tổ Thẩm phán giảiquyết phá sản đó và là người thân thiết với nhau, đã tham gia ra quyết địnhtuyên bố phá sản đối với việc phá sản đó hoặc có căn cứ rõ ràng cho rằngThẩm phán có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ thì Thẩm phán phải từchối giải quyết yêu cầu phá sản Thẩm phán còn là người quyết định đình chỉtiến hành thủ tục phá sản.

Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán liên quan đến quản lý tài sản củadoanh nghiệp phá sản bao gồm: Thẩm phán có quyền ra quyết định chỉ địnhhoặc thay đổi Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, xử lý tài sản, giám sát hoạtđộng cuẩ Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, xử lý tài sản Thẩm phán raquyết định việc thực hiện kiểm toán doanh nghiệp mất khả năng thanh toántrong trường hợp cần thiết; quyết định việc xử lý tài sản sau khi mở thủ tụcphá sản để đảm bảo chi phí phá sản; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấptạm thời theo quy định của pháp luật để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp,hợp tác xã mất khả năng thanh toán, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp củangười lao động

Nhiệm vụ, quyền lợi của Thẩm phán còn được thể hiện thông qua cácquyền liên quan đến Hội nghị chủ nợ, Thẩm phán là người triệu tập, tổ chứcHội nghị chủ nợ và là người quyết định công nhận Nghị quyết của Hội nghịchủ nợ về phương án phục hồi hoạt động kinh doanh

Thẩm phán còn có nhiệm vụ quan trọng là tuyên bố phá sản đối vớidoanh nghiệp mất khả năng thanh toán, đó là các trường hợp: Người nộp đơnyêu cầu mở thủ tục phá sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanhtoán không còn tiền, tài sản khác để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phásản; Sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà doanh nghiệp, hợp tác

xã mất khả năng thanh toán không còn tài sản để thanh toán chi phí phá sản;Quyết định tuyên bố phá sản khi Hội nghị chủ nợ không thành; Nghị quyết

Trang 39

của Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án phục vụ hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, hợp tác xã; doanh nghiệp hợp tác xã không thựchiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.

Ngoài ra, nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán được thể hiện qua nhómquyền liên quan đến việc áp dụng các biện pháp hành chính – tư pháp gồm:quyết định áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, yêu cầu cơ quan có thẩmquyền dẫn giải đại diện của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo quyđịnh của pháp luật; quyết định áp dụng biện pháp xử lý phạt hành chính, đềnghị cơ quan có thẩm quyền xử lý về hình sự theo quy định của pháp luật

Trong khi thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thẩm phán cónhững mối quan hệ mất thiết với các chủ thể khác, cụ thể:

Thứ nhất, mối quan hệ giữa Thẩm phán và Quản tài viên, Doanh nghiệp

quản lý, xử lý tài sản

Thẩm phán có trách nhiệm ra quyết định chỉ định Quản tài viên, doanhnghiệp quản lý, xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán trongquá trình giải quyết phá sản Đồng thời Thẩm phán cũng là người ra quyếtđịnh thay đổi Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, xử lý tài sản trong trườnghợp cần thiết

Thẩm phán có thẩm quyền giám sát hoạt động của Quản tài viên, doanhnghiệp quản lý, xử lý tài sản Ngoài ra Thẩm phán có thẩm quyền xem xét vàchấp nhận những đề xuất của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, xử lý tàisản như sau: đề xuất bán tài sản của doanh nghiệp để đảm bảo chi phí phá sản;

đề nghị tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ; áp dụng các biện pháp khẩn cấptạm thời; áp dụng biện pháp xử lý tài sản có trách nhiệm thi hành những quyếtđịnh của Thẩm phán về bán tài sản, thi hành các quyết định khác của Thẩmphán trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản Quản tài viên, doanh nghiệpquản lý, xử lý tài sản phải báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn củamình theo yêu cầu của Thẩm phán và chịu trách nhiệm trước Thẩm phán

Trang 40

về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Có thể thấy, quan hệ giữaThẩm phán và Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, xử lý tài sản là quan hệhành chính – nghiệp vụ giữa một bên phụ trách và một bên thừa hành, thực thinhiệm vụ được giao.

Thứ hai, mối quan hệ giữa Thẩm phán với các chủ nợ

Thẩm phán là người ra quyết định triệu tập Hội nghị chủ nợ Thẩm pháncũng là người phụ trách khai mạc Hội nghị chủ nợ, thông báo về những ngườitham gia Hội nghị chủ nợ và nội dung việc giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tụcphá sản Khi Hội nghị chủ nợ ra Nghị quyết đề nghị tuyên bố phá sản doanhnghiệp hoặc khi Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án phụ hồi hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Thẩm phán là người lập biên bản và quyết địnhtuyên bố phá sản khi Hội nghị chủ nợ ra Nghị quyết đề nghị tuyên bố phá sản khiHội nghị chủ nợ không thành (khoản 3 Điều 80 Luật Phá sản (2014)

Thứ ba, mối quan hệ giữa Thẩm phán với doanh nghiệp phá sản

Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp vẫn tiếp tụchoạt động kinh doanh, nhưng phải chịu sự giám sát của Thẩm phán Thẩmphán có quyền ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán; quyết địnhđình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hoặc quyếtđịnh đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hoặcquyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản

• Các thiết chế quản lý, xử lý tài sản

Việc quản lý, xử lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năngthanh toán nợ đến hạn do Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, xử lý tài sảnthực hiện, được thành lập bởi quyết định của Thẩm phán, đồng thời với quyếtđịnh mở thủ tục phá sản theo quy định Luật phá sản 2014

Khoản 2 Điều 9 Luật Phá sản 2004 quy định về tổ quản lý, xử lý tài sản

do Thẩm phán quyết định thành lập đồng thời với việc ra quyết định mở thủ

Ngày đăng: 10/12/2019, 08:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w