1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

PHƯƠNG PHÁP KỶ LUẬT TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC VÀ GIÁO DỤC HỌC SINH Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

38 278 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 365,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI GIỚI THIỆU Trong giai đoạn xã hội hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, nguồn lực con người Việt Nam trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Đảng và nhà nước luôn quan tâm và chú trọng đến giáo dục. Với chủ đề của năm học là “Tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục dạy học theo hướng trải nghiệm sáng tạo cho học sinh” đối với giáo dục phổ thông. Mà trong hệ thống giáo dục quốc dân, thì bậc Tiểu học có ý nghĩa vô cùng quan trọng là hình thành nhân cách con người nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng sống cơ bản. Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi người dạy học phải có kiến thức sâu và sự hiểu biết nhất định về nội dung chương trình sách giáo khoa, có khả năng hiểu được về tâm sinh lí của trẻ, về nhu cầu và khả năng của trẻ. Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý. Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan. Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướng riêng để cải tiến phương pháp dạy học và kinh nghiệm của cá nhân. Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH ở Tiểu học nói riêng là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học. Đó cũng là những xu hướng tất yếu trong cải cách PPDH ở mỗi nhà trường. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT theo Nghị quyết số 29NQTW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này. Hiện nay, đa số thầy cô rất yêu nghề và mến trẻ. Khi còn là sinh viên, họ đã được trang bị đầy đủ kiến thức, từ kiến thức giáo dục đến chuẩn mực hành vi và tác phong sư phạm nhẹ nhàng, hiệu quả. Tuy nhiên, cũng còn không ít GV do nôn nóng về chất lượng và hiệu quả cần đạt nên đã bộc lộ một số các biện pháp bất cập trong cách giáo dục dẫn đến hình ảnh của người thầy bị méo mó trong cái nhìn của xã hội. Bên cạnh đó, một số GV tận tụy với nghề nhưng vẫn cho rằng việc trừng phạt thân thể (TPTT) HS là cần thiết, một số khác ủng hộ không TPTT trẻ nhưng lại chưa biết cách sử dụng các phương pháp giáo dục khác tích cực hơn. Từ những trăn trở này, tôi bắt đầu tạo lập chuyên đề để cùng các đồng nghiệp ở Phòng GDĐT tập huấn cho GV từng đơn vị.PV: Theo thầy, biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực khác với giáo dục trừng phạt như thế nào?Giáo dục kỷ luật bằng những biện pháp tích cực không phải là việc đơn giản, dễ thực hiện. Để có thể chấm dứt việc sử dụng TPTT trong các lớp học, GV không chỉ cần đến các quy định của pháp luật mà cần có lòng kiên trì, nhẫn nại, bền bỉ và yêu thương thật lòng HS. TPTT có hai cách: Một là trừng phạt tinh thần như la mắng, nhiếc móc, hạ nhục, bỏ rơi, chửi rủa... làm cho các em HS xấu hổ. Hai là TPTT bao gồm tát, đánh, véo, giật tóc, nhốt, cách ly, quỳ úp mặt vào tường... Cả hai cách thức trừng phạt này đều ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý của HS, làm trẻ cảm thấy mất danh dự, mất tự tin… và để lại những vết sẹo trong tâm hồn của HS. Từ đó, trẻ cảm thấy không thích đến lớp học và muốn chống đối lại bằng cách giảm ý thức kỷ luật. Còn giáo dục kỷ luật tích cực là động viên, khuyến khích, hỗ trợ, nuôi dưỡng lòng ham học dẫn đến ý thức kỷ luật một cách tự giác, nâng cao năng lực và lòng tin của HS vào GV. Giáo dục kỷ luật tích cực không hề mang tính bạo lực mà thể hiện sự tôn trọng trẻ nên trẻ sẽ tiếp thu hiệu quả hơn. Nói như vậy, giáo dục kỷ luật tích cực không phải là sự buông thả để HS muốn làm gì thì làm mà là việc dạy và rèn luyện cho các em tính tự giác tuân theo các quy định và quy tắc đạo đức ở thời điểm trước mắt cũng như lâu dài. Chính từ phân tích này, GV thấy được chỉ có giải thích, chỉ rõ những lỗi lầm mà trẻ mắc phải để trẻ biết cách sửa chữa thì mới giúp trẻ không phạm lỗi và giáo dục ổn định kỷ luật lớp học một cách lâu dài. Trường học là nơi đào tạo nhiều thế hệ học trò, là môi trường tạo dựng cho đất nước những con người xã hội chủ nghĩa có đủ tài năng trí tuệ và những phẩm chất đạo đức cách mạng, để sau này thực sự là người của dân, vì nhân dân mà cống hiến. Người trực tiếp đào tạo những con người như thế không ai khác là giáo viên, giáo viên giảng dạy bộ môn, giáo viên chủ nhiệm lớp.Giáo viên là những người thầy được đào tạo về kiến thức, về nghiệp vụ chuyên môn nhằm giáo dục học sinh phát triển toàn diện, trở thành công dân tốt cho xã hội. Bên cạnh đó, ngoài công tác giảng dạy, công tác chủ nhiệm còn là một công tác mà bất kì người giáo viên nào có tâm huyết cũng không thể xem nhẹ được. Tuy nhiên công tác chủ nhiệm trong nhà trường hiện nay gặp phải không ít khó khăn trong việc quản lý, giáo dục học sinh sa sút về đạo đức, thiếu ý thức trong việc học tập, đặc biệt là những học sinh cá biệt, chậm tiến.Đã là một giáo viên chủ nhiệm, việc đưa lớp tiến lên là trách nhiệm lớn của những ai làm công tác chủ nhiệm, đồng thời cũng là khẳng định mình về năng lực và nhất là có lương tâm. Giáo viên chủ nhiệm nhận thấy rõ mỗi tập thể lớp là cơ sở quan trọng để xây dựng nhà trường vững mạnh, một tập thể tốt chắc chắn sẽ có những học sinh tốt, những con người vừa có đủ cả “ đức” lẫn “ tài”. Như vậy nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm có vai trò quan trọng, ảnh hưởng nhất định đến việc học tập cũng như rèn luyện nhân cách của học sinh. Để kịp thời giúp giáo viên giáo dục học sinh, tôi đã nghiên cứu biên soạn: “Phương pháp kỷ luật tích cực trong dạy học và giáo dục học sinh ở trường phổ thông” nhằm giúp giáo viên có tài liệu tham khảo nâng cao chất lượng giáo dục. Trân trọng giới thiệu với thầy giáo và cô giáo cùng quý vị bạn đọc tham khảo và phát triển tài liệu: PHƯƠNG PHÁP KỶ LUẬT TÍCH CỰCTRONG DẠY HỌC VÀ GIÁO DỤC HỌC SINHỞ TRƯỜNG PHỔ THÔNG Trân trọng cảm ơn

Trang 1

TÀI LIỆU GIÁO DỤC HỌC -™™™ -

Trang 2

LỜI GIỚI THIỆU

Trong giai đoạn xã hội hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, nguồn lực con người Việt Nam trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Đảng và nhà nước luôn quan tâm và chú trọng đến giáo dục Với chủ đề của năm học là “Tiếp tục đổi mới quản

lý và nâng cao chất lượng giáo dục dạy học theo hướng trải nghiệm sáng tạo cho học sinh” đối với giáo dục phổ thông Mà trong hệ thống giáo dục quốc dân, thì bậc Tiểu học có ý nghĩa vô cùng quan trọng là hình thành nhân cách con người nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng sống cơ bản Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi người dạy học phải có kiến thức sâu và sự hiểu biết nhất định về nội dung chương trình sách giáo khoa, có khả năng hiểu được về tâm sinh

lí của trẻ, về nhu cầu và khả năng của trẻ Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện,

cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướng riêng để cải tiến phương pháp dạy học và kinh nghiệm của cá nhân.

Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực

Trang 3

hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH ở Tiểu học nói riêng là phát huy tính tích cực, tự lực

và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học Đó cũng là những xu hướng tất yếu trong cải cách PPDH ở mỗi nhà trường.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích

tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang

tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này.

Hiện nay, đa số thầy cô rất yêu nghề và mến trẻ Khi còn là sinh viên, họ đã được trang bị đầy đủ kiến thức, từ kiến thức giáo dục đến chuẩn mực hành vi và tác phong sư phạm nhẹ nhàng, hiệu quả Tuy nhiên, cũng còn không ít GV do nôn nóng

về chất lượng và hiệu quả cần đạt nên đã bộc lộ một số các biện

Trang 4

pháp bất cập trong cách giáo dục dẫn đến hình ảnh của người thầy bị méo mó trong cái nhìn của xã hội Bên cạnh đó, một số

GV tận tụy với nghề nhưng vẫn cho rằng việc trừng phạt thân thể (TPTT) HS là cần thiết, một số khác ủng hộ không TPTT trẻ nhưng lại chưa biết cách sử dụng các phương pháp giáo dục khác tích cực hơn Từ những trăn trở này, tôi bắt đầu tạo lập chuyên đề để cùng các đồng nghiệp ở Phòng GD-ĐT tập huấn cho GV từng đơn vị.

PV: Theo thầy, biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực khác với giáo

dục trừng phạt như thế nào?

-Giáo dục kỷ luật bằng những biện pháp tích cực không phải là việc đơn giản, dễ thực hiện Để có thể chấm dứt việc sử dụng TPTT trong các lớp học, GV không chỉ cần đến các quy định của pháp luật mà cần có lòng kiên trì, nhẫn nại, bền bỉ và yêu thương thật lòng HS TPTT có hai cách: Một là trừng phạt tinh thần như

la mắng, nhiếc móc, hạ nhục, bỏ rơi, chửi rủa làm cho các em

HS xấu hổ Hai là TPTT bao gồm tát, đánh, véo, giật tóc, nhốt, cách ly, quỳ úp mặt vào tường Cả hai cách thức trừng phạt này đều ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý của HS, làm trẻ cảm thấy mất danh dự, mất tự tin… và để lại những vết sẹo trong tâm hồn của

HS Từ đó, trẻ cảm thấy không thích đến lớp học và muốn chống đối lại bằng cách giảm ý thức kỷ luật Còn giáo dục kỷ luật tích cực là động viên, khuyến khích, hỗ trợ, nuôi dưỡng lòng ham học dẫn đến ý thức kỷ luật một cách tự giác, nâng cao năng lực

và lòng tin của HS vào GV Giáo dục kỷ luật tích cực không hề mang tính bạo lực mà thể hiện sự tôn trọng trẻ nên trẻ sẽ tiếp thu hiệu quả hơn Nói như vậy, giáo dục kỷ luật tích cực không phải

là sự buông thả để HS muốn làm gì thì làm mà là việc dạy và rèn

Trang 5

luyện cho các em tính tự giác tuân theo các quy định và quy tắc đạo đức ở thời điểm trước mắt cũng như lâu dài Chính từ phân tích này, GV thấy được chỉ có giải thích, chỉ rõ những lỗi lầm

mà trẻ mắc phải để trẻ biết cách sửa chữa thì mới giúp trẻ không phạm lỗi và giáo dục ổn định kỷ luật lớp học một cách lâu dài Trường học là nơi đào tạo nhiều thế hệ học trò, là môi trường tạo dựng cho đất nước những con người xã hội chủ nghĩa - có đủ tài năng trí tuệ và những phẩm chất đạo đức cách mạng, để sau này thực sự là người của dân, vì nhân dân mà cống hiến Người trực tiếp đào tạo những con người như thế không ai khác là giáo viên, giáo viên giảng dạy bộ môn, giáo viên chủ nhiệm lớp.

Giáo viên là những người thầy được đào tạo về kiến thức, về nghiệp vụ chuyên môn nhằm giáo dục học sinh phát triển toàn diện, trở thành công dân tốt cho xã hội Bên cạnh đó, ngoài công tác giảng dạy, công tác chủ nhiệm còn là một công tác mà bất kì người giáo viên nào có tâm huyết cũng không thể xem nhẹ được Tuy nhiên công tác chủ nhiệm trong nhà trường hiện nay gặp phải không ít khó khăn trong việc quản lý, giáo dục học sinh sa sút về đạo đức, thiếu ý thức trong việc học tập, đặc biệt là những học sinh cá biệt, chậm tiến.

Đã là một giáo viên chủ nhiệm, việc đưa lớp tiến lên là trách nhiệm lớn của những ai làm công tác chủ nhiệm, đồng thời cũng

là khẳng định mình về năng lực và nhất là có lương tâm Giáo viên chủ nhiệm nhận thấy rõ mỗi tập thể lớp là cơ sở quan trọng

để xây dựng nhà trường vững mạnh, một tập thể tốt chắc chắn sẽ

có những học sinh tốt, những con người vừa có đủ cả “ đức” lẫn

“ tài” Như vậy nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm có vai

Trang 6

trò quan trọng, ảnh hưởng nhất định đến việc học tập cũng như rèn luyện nhân cách của học sinh.

Để kịp thời giúp giáo viên giáo dục học sinh, tôi đã nghiên

cứu biên soạn: “Phương pháp kỷ luật tích cực trong dạy học và giáo dục học sinh ở trường phổ thông” nhằm giúp giáo viên có

tài liệu tham khảo nâng cao chất lượng giáo dục.

Trân trọng giới thiệu với thầy giáo và cô giáo cùng quý vị bạn đọc tham khảo và phát triển tài liệu:

Trang 7

2.Hỗ trợ GV thực hiện các biện pháp, vận dụng phương pháp giáo dục

kỉ luật tích cực trong dạy học và giáo dục HS

B NỘI DUNG TẬP HUẤN:

I BỐI CẢNH VÀ QUAN ĐIỂM

Trang 8

+Về tinh thần: Cô lập, tẩy chay trẻ, sỉ nhục trẻ, bóc lột trẻ, đối xử

với trẻ hoặc nhìn trẻ một cách thiếu tôn trọng, khinh bỉ hay bôi xấu trẻ;

tự quyết định mà không cho trẻ tự quyết định

2 Nguyên nhân của hiện tượng trừng phạt.

 Do còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến

3 Hậu quả của việc sử dụng các biện pháp trừng phạt trẻ em:

- HS: Tổn thương thể xác, tinh thần; nhân cách; kết quả học tập:trẻ

chán học, học tập sút kém, bỏ học …)

- GV: buồn khổ; PH không tin; HS phản ứng lại; kết quả Gd khôngđạt; Có thể bị PH xúc phạm, đánh; mất việc(do vi phạm quy chế, phápluật)

- GĐHS : Buồn phiền; tốn tiền của, tốn thời gian, sức khỏe; mấtcông ăn việc làm,

- XH: tốn tiền của chăm lo, gia tăng tệ nạn xã hội và vi phạm phápluật

- Mối quan hệ giữa người lớn/trẻ em; giáo viên/học sinh (Trẻ hận

GV, mất lòng tin với GV, tạo ra khoảng cách giữa GV và HS…)

II NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG PHÁP KỶ LUẬT TÍCH CỰC

1 Kỷ luật: Là những quy tắc, quy định, luật lệ mà con người phải

thực hiện, chấp hành và tuân theo

*Kỷ luật tích cực:

- Là động viên

- Khuyến khích

Trang 9

- Hỗ trợ trong quá trình học tập và rèn luyện của học sinh

- Nuôi dưỡng lòng ham học

- Ý thức kỷ luật tự giác

- Tự nhận hình thức kỷ luật, cam kết không tái phạm

* Kỷ luật tích cực không phải là luôn chú ý kỷ luật học sinh, hoặc

hình phạt nặng hơn trước mà cần có những quan niệm giáo dục như:-Việc mắc lỗi của học sinh được coi là lẽ tự nhiên của quá trình họctập, rèn luyện và phát triển trong nhà trường

-Việc quan trọng của ngành giáo dục là làm thế nào học sinh nhậnthức được bản thân, tự kiểm soát hành vi, thái độ trên cơ sở các quiđịnh, nội qui…

-Như vậy người giáo viên là người phân tích đúng sai, đối chiếucác qui định của những hành vi không đúng để học sinh nhận ra lỗicủa mình để điều chỉnh sữa đổi, tiến bộ không mắc lỗi lần sau

- Gây dựng mối quan hệ tôn trọng giữa giáo viên và học sinh

- Dạy cho học sinh những kĩ năng sống mà các em sẽ cần trongsuốt cả cuộc đời

- Làm tăng sự tự tin và khả năng xử lý các tình huống khó khăntrong học tập và cuộc sống của các em

- Dạy cho học sinh cách cư xử lịch sự, nhã nhặn, không bạo lực, có

sự tôn trọng bản thân, biết cảm thông và tôn trọng quyền của người khác

2 Giáo dục kỷ luật tích cực:

- Là các biện pháp kỉ luật không mang tính bạo lực, tôn trọng họcsinh, cung cấp cho học sinh những thông tin biết để không vi phạm, chấphành và ý thức tự giác

- Giúp cho các em sự tự tin khi đến trường học và rèn luyện

Trang 10

3 PHƯƠNG PHÁP KỶ LUẬT TÍCH CỰC:

a) Các đặc điểm của phương pháp kỷ luật tích cực:

Không bạo lực và tôn trọng trẻ; thực hiện các tác động giáo dụcphù hợp với nhu cầu, trạng thái của trẻ, giúp trẻ khắc phục nhận thức,hành vi chưa đúng của bản thân

Tạo cho trẻ có cảm giác an toàn, thân thiện và được tôn trọng bằng việclắng nghe tích cực và khích lệ trẻ, giúp họ có khả năng vượt qua các ràocản về tâm lý, giảm bớt sự căng thẳng trong học tập và cuộc sống cánhân

- Gia tăng năng lực hoạt động và cơ hội thành công cho trẻ bằngviệc giáo dục kĩ năng sống cơ bản (theo lứa tuổi) cho các em

b) Phương pháp kỷ luật tích cực là gì?

PPKL tích cực là biện pháp giáo dục học sinh không sử dụng đếncác hình thức bạo lực, trừng phạt mà thay vào đó là sử dụng những hìnhthức kỉ luật tích cực, phù hợp để giúp học sinh giảm thiểu những hành vikhông phù hợp, củng cố các hành vi tích cực và phát triển nhân cách mộtcách tốt đẹp, bền vững

4 NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN PHƯƠNG PHÁP KỶ LUẬT TÍCH CỰC

- Nguyên tắc 1: Vì lợi ích thực tế nhất của học sinh

- Nguyên tắc 2: Không làm tổn thương đến thể xác và tinh thần

- Nguyên tắc 3: Khích lệ và tôn trọng lẫn nhau

- Nguyên tắc 4: Phù hợp với đặc điểm và sự phát triển của lứa tuổihọc sinh

5 CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN PP KỶ LUẬT TÍCH CỰC

a) Biện pháp 1:Dùng hệ quả tự nhiên và hệ quả logic:

+ Hệ quả tự nhiên: Là những gì xảy ra một cách tự nhiên, không có

sự can thiệp của người lớn (VD: Không ăn sẽ bị đói, không ngủ sẽ bịmệt,…)

+ Hệ quả logic: Là những gì xảy ra đòi hỏi phải có sự can thiệp củangười lớn hoặc của trẻ khác trong gia đình hoặc lớp học (VD: Khi trẻ

Trang 11

nghịch ngợm phá hỏng đồ chơi mới mua thì trong thời gian tới sẽ khôngđược mua đồ chơi mới, không học bài ở nhà đến lớp sẽ bị điểm kém,…)

* Để việc áp dụng giáo dục dùng hệ quả tự nhiên không trở thànhtrừng phạt cần lưu ý:

+ Không gây nguy hiểm cho trẻ

+ Không làm ảnh hưởng đến người khác

* Dùng hệ quả logic không trở thành trừng phạt cần lưu ý:

+ Người lớn phải tôn trọng trẻ

+ Hệ quả logic phải liên quan với những hành vi mà trẻ gây ra

+ Có những nội quy bao gồm những quy định nghiêm khắc dongười lớn hướng dẫn, trẻ buộc phải tuân thủ và không thể thương lượngđược (VD: Tôn trọng mọi người, trung thực, không đánh nhau, khônghút thuốc lá, không lấy trộm của người khác,…) và cũng có những nộiquy, quy định do trẻ và người lớn cùng thảo luận, thống nhất, đồng thời

có thể thay đổi như: thời gian học bài ở nhà từ mấy giờ, làm việc nhà,thời gian giải lao, giải trí,…

*Một số lưu ý khi thiết lập nội quy:

+ Việc thiết lập nội quy lớp học không làm phức tạp hơn nội quynhà trường mà chỉ làm rõ hơn nội quy mà mang lại hiệu quả (VD: Tổchức sinh nhật 1 HS trong lớp, yêu cầu tất cả HS mang quà tặng Làmphức tạp thêm, không hiệu quả)

+ HS được tham gia thiết lập nội quy, sẽ làm cho các em thể hiệntrách nhiệm của bản thân tốt hơn

Trang 12

+ Hướng dẫn cho trẻ phải rõ ràng, cụ thể (VD: đã đến lúc con phải

đi rửa tay để chuẩn bị ăn cơm, )

+ Nhắc nhở trẻ để giúp trẻ suy nghĩ và nhớ lại sau đó quyết địnhhành động (VD: Con có nhớ là khi có khách đến nhà thì không được vòivĩnh,….)

+ Cho trẻ ít nhất 2 khả năng lựa chọn: Các khả năng này người lớnđều chấp nhận được, mục đích để khuyến khích khả năng suy nghĩ vàđưa ra quyết định của mình (VD: Hôm nay con muốn mặc quần màuxanh hay màu trắng)

+ Cho trẻ biết hệ quả với hành vi lựa chọn: Khi trẻ biết được hệ quảcủa hành vi lựa chọn trẻ sẽ có xu hướng để tránh gây ra hậu quả như vậy(VD: Cô giáo sẽ rất buồn nếu em tiếp tục không làm bài tập ở nhà)

+ Cảnh báo: Là nhắc nhở trẻ nghĩ về hậu quả xấu của một hành vinào đó có thể xảy ra (VD: Nếu phóng nhanh, vượt ẩu thì chuyện gì sẽxảy ra)

+ Thể hiện mong muốn: Là khích lệ trẻ có một hành vi cụ thể nào

đó (VD: Cô mong rằng em sẽ không đánh nhau với bạn nữa)

* Tóm lại: Thiết lập nội quy, nề nếp trong gia đình và lớp học làmột phương pháp quan trọng để duy trì trật tự, nề nếp trong gia đình, lớphọc và ngoài xã hội Khi thiết lập nội quy cả người lớn và trẻ em đượccùng tham gia đều cảm thấy mình thoải mái và hài lòng vì mình đã gópphần đưa ra các quyết định đó Vì thế xác suất làm theo các quyết định

đó cao hơn nhiều so với bị áp đặt

c) Biện pháp 3: Dùng thời gian tạm lắng

- Đây là một phương pháp kỉ luật có hiệu quả nhưng cũng dễ gâytranh cãi Bởi nếu khi áp dụng PP thời gian tạm lắng mà không tuân thủtheo nguyên tắc thì nó sẽ trở thành hình thức hình phạt

- Thời gian tạm lắng là thời gian trẻ bị tách ra khỏi hoạt động màtrẻ đang tham gia bởi trẻ đang có nguy cơ thực hiện hành vi không mongmuốn (trêu trọc, đánh nhau, phá đồ chơi,….) Trong lúc “tạm lắng” trẻphải “ngồi” một chỗ, không được chơi, không được trò chuyện hay tham

Trang 13

gia hoạt động như những người khác Việc này diễn ra trong một khônggian và thời gian nhất định (cách ly), mục đích là để trẻ bình tĩnh trở lại,suy nghĩ về hành vi không đúng mực của mình và sau đó tiếp tục thamgia các hoạt động đang diễn ra.

- Đặc biệt việc áp dụng PP thời gian tạm lắng chỉ trong trường hợptrẻ đang hoặc có nguy cơ làm tổn thương đến trẻ khác hoặc chính bảnthân mình

* Cần lưu ý khi sử dụng:

- Sử dụng PP này đúng cách (thỉnh thoảng sử dụng và sử dụngtrong khoảng thời gian ngắn) thì sẽ có hiệu quả tốt, làm cho trẻ bình tĩnhtrở lại, kiềm chế bản thân tốt hơn trong những tình huống gây tức giận,

ức chế

- Sử dụng thời gian tạm lắng không đúng cách (sử dụng thườngxuyên) sẽ không hiệu quả, thậm chí còn gây tác động tiêu cực tới trẻ, làm

cho trẻ trở nên hung hăng hơn, dễ cáu giận hơn Nếu như vậy việc sử

dụng thời gian tạm lắng đã trở thành một dạng trừng phạt thân thể vàtinh thần đối với trẻ.Do vậy, thời gian tạm lắng nên kéo dài bao nhiêu làvừa? (Có một quy ước cho dễ nhớ, đó là lấy số phút trẻ “tạm lắng” tươngứng với số tuổi của trẻ) Song cần phải lưu ý tùy theo khí chất và mức độmắc lỗi của mỗi trẻ mà áp dụng cụ thể PP này Mục đích chính là cho trẻhiểu được thông điệp mà cha mẹ và thầy cô muốn giáo dục cho trẻ

Cần phải sử dụng thời gian tạm lắng như thế nào để không trở thành trừng phạt?

- Không sử dụng cho trẻ quá nhỏ, bởi đối với trẻ ở lứa tuổi quá nhỏtrẻ rất sợ bị tách ra khỏi bố mẹ, thầy cô nên chỉ cần dọa “nhốt” trẻ ở mộtmình là trẻ đã rất sợ rồi (Lớp 1)

- Nên sử dụng ngay sau khi trẻ có hành vi làm tổn thương bạn hoặcbản thân Như vậy trẻ sẽ hiểu rõ hơn tại sao người lớn lại đối xử vớimình như vậy Lúc này “thời gian tạm lắng” đối với trẻ như một hệ quảlogic của hành vi tiêu cực Nên chú ý để tránh phải sử dụng thời gian tạmlắng đối với trẻ nhiều lần, có một cách có thể thay thế trong trường hợp

Trang 14

này là cho trẻ có các lựa chọn tích cực khác như: xin lỗi bạn, dọn dẹp lạinhững vật dụng do mình bầy bừa ra,….

- Thời gian tạm lắng không được mang tính chất nhục mạ trẻ, làmcho trẻ thấy sợ hãi, xấu hổ,….như vậy sẽ là một hình thức trừng phạt

- Không đe dọa trẻ rằng sẽ dùng hình phạt này nếu trẻ còn táiphạm, bởi như vậy trẻ sẽ tưởng rằng mình đang bị trừng phạt nên có thái

độ thiếu hợp tác

Do đó, sử dụng biện pháp này có tính hai mặt (Có trẻ sau thời giantạm lắng thích quay lại chơi nhưng có em sau khi kỉ luật rồi không quaylại chơi nữa) Vì vậy cần phân loại đối tượng HS để áp dụng Các biệnpháp trên áp dụng đối với trẻ thông thường Đối với trẻ tự kỉ hoặc cá biệtthì không có tác dụng

Do vậy, kỉ luật nhưng làm sao HS vẫn thấy được sự an toàn,thương yêu của GV

III VÌ SAO CẦN ĐƯA PHƯƠNG PHÁP KỶ LUẬT TÍCH CỰC VÀO TRƯỜNG PHỔ THÔNG

a) Thực hiện PPKLTC là phù hợp với Công ước quốc tế về quyềntrẻ và luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục học sinh của Việt Nam

b) Thực trạng giáo dục đạo đức hiện nay trong nhà trường phổthông

c) Thực hiện PPKLTC phù hợp với mục tiêu giáo dục của ViệtNam là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức,tri thức, thẩm mỹ và nghề nghiệp”

d) Thực hiện PPKLTC mang lại lợi ích cho học sinh, giáo viên,

nhà trường, gia đình và xã hội

- Học sinh:

+Có nhiều cơ hội chia sẻ, bày tỏ cảm xúc, luôn cảm nhận được sựquan tâm, tôn trọng, lắng nghe ý kiến từ thầy cô, bạn bè và mọi ngườixung quanh

+Học sinh nhận ra được lỗi lầm, hạn chế của họ để khắc phục, sữachữa, phát triển toàn diện bản thân

Trang 15

+Học sinh sẽ tích cực, chủ động hơn trong học tập và rèn luyện bảnthân

+Học sinh tự tin trước đám đông, không mặc cảm tự ti về nhữngkhuyết điểm, hạn chế của bản thân

+Học sinh phát huy được những tiềm năng, những mặt tích cực,điểm mạnh của cá nhân

- Giáo viên:

+Giảm được áp lực quản lý lớp vì học sinh hiểu và tự giác chấphành kỷ luật Giáo viên không phải nhắc nhở, mất nhiều thời gian theodõi, giám sát việc thực hiện kỷ luật của học sinh; đỡ mệt mỏi căng thẳng

vì phải xử lý nhiều vụ vi phạm kỷ luật, giải quyết nhiều vấn đề khúc mắctrong quan hệ với học sinh, gia đình và nhà trường

+Xây dựng được mối quan hệ thân thiện Thầy – Trò Trò kínhtrọng, tin tưởng và yêu quý thầy cô;thầy cô hiểu, thông cảm với khókhăn của trò, yêu thương và hết lòng vì học sinh

+Nâng cao hiệu quả quản lý lớp học, góp phần nâng cao chất lượnggiáo dục học sinh

- Nhà trường: Thực hiện được mục tiêu GD, nâng cao chất lượng

và hiệu quả GD ; tạo ra môi trường học tập thân thiện, an toàn tạo đượcniềm tin đối với gia đình HS và XH

- Lợi ích đối với gia đình: HS trở thành những người có đủ phẩm

chất và năng lực cho tương lai Điều này làm cha mẹ HS yên tâm laođộng và công tác, gia đình hòa thuận, hạnh phúc

- Lợi ích đối với xã hội: Giảm thiểu được các tệ nạn XH, các hành

vi bạo hành, bạo lực ; tiết kiệm kinh phí quốc gia trong việc chăm sóc,điều trị và trợ giúp giải quyết các tệ nạn trên góp phần nâng cao đời sốngcộng đồng, xây dựng XH phồn vinh

IV ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN CỦA LỨA TUỔI HỌC SINH TIỂU HỌC

1 Sự phát triển về thể chất.

Trang 16

- Sự phát triển về thể chất của trẻ diễn ra tốc độ chậm hơn so vớigiai đoạn trước Chiều cao – cân nặng của HS phát triển tương đối đồngđều.

- Não bộ của HS tiểu học tăng không đáng kể Chức năng các giácquan đạt được sự hoàn thiện rõ rệt

- Hệ xương tiếp tục phát triển và chưa cốt hoá hoàn toàn

2.Một số đặc điểm phát triển bình thường của trẻ từ 6 – 12 tuổi

Giai đoạn này trẻ vẫn rất nhạy cảm với việc bị trừng phạt khi mắc lỗi

Ở lứa tuổi này, trẻ đang tập thích nghi với trường học Nếu bị phạt khimắc lỗi trẻ dễ thu mình, cảm thấy không an toàn, có thể giảm hứng thú,động cơ học tập hoặc thậm chí không muốn đi học

Cha mẹ, thầy cô có thể ảnh hưởng đến việc hình thành sự thiên lệch

về mặt văn hóa, thái độ của trẻ, ví dụ như định kiến, rào cản về giới tính,dân tộc, …

3 Những hành vi tiêu cực của trẻ:

- Thu hút sự chú ý

- Thể hiện quyền lực

- Trả đũa

4 Người lớn cần ứng xử thế nào trước hành vi tiêu cực của trẻ.

- Xác định mục đích sai lệch của hành vi tiêu cực

- Thái độ ứng xử của người lớn

- Người lớn nên làm gì nếu không trừng phạt

* Với loại hành vi thu hút sự chú ý

- Giảm thiểu hoặc không để ý đến hành vi của trẻ nếu có thể, chú ýlúc phù hợp và lúc dễ chịu hơn

- Nhìn nghiêm nghị nhưng không nói

- Hướng trẻ vào hành vi có ích hơn

- Nhắc nhở (tên, công việc phải làm), cho trẻ lựa chọn có giới hạn

- Dùng hệ quả lôgíc

- Lập nội qui hay lịch để bạn dành thời gian cho trẻ

* Với loại hành vi nhằm chứng tỏ quyền lực

Trang 17

- Bình tĩnh, rút khỏi cuộc đôi co, xung đột, không “tham chiến” đểtrẻ nguôi dần - Sử dụng các bước khuyến khích hợp tác (bài Lắngnghe tích cực)

- Tham gia đôi co quyền lực hoặc nhượng bộ chỉ làm trẻ mongmuốn có “quyền lực” hơn

- Hợp tác làm việc riêng với trẻ để giải quyết khó khăn

- Sử dựng kỹ năng khích lệ, cho trẻ thấy nó được yêu thương, tôntrọng

* Với loại hành vi thể hiện sự không thích hợp/né tránh thất bại

- Không phê phán, chê bai

- Dành thời gian rèn luyện, giúp đỡ trẻ

- Chia nhỏ nhiệm vụ, bắt đầu từ việc dễ để có “thành công” banđầu

- Sử dụng kỹ năng khích lệ, tập trung vào điểm mạnh, vốn quí củatrẻ

- Không thể hiện thương hại, không đầu hàng

V VẬN DỤNG PP KLTC TRONG DẠY HỌC VÀ GIÁO DỤC HỌC SINH

1 Ứng xử tích cực trong lớp học

a) Ứng xử tích cực trong lớp học là gì?

Ứng xử tích cực trong lớp học là những hành vi tương tác giữa giáoviên - học sinh, học sinh - học sinh, mang tính tích cực chủ động của mỗichủ thể và thể hiện sự quan tâm, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của ngườikhác trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ để đạt mục tiêu dạy học vàgiáo dục đã đề ra

Dấu hiệu về sự hài lòng trong giao tiếp với học sinh

Trang 18

- Cảm giác thoải mái, dễ chịu

- Thấy mình đựơc tôn trọng

- Cảm thấy người khác lắng nghe mình

- Thấy tự tin và phát huy đựơc khả năng của bản thân

- Muốn đựơc tiếp tục

b) Vì sao cần ứng xử tích cực trong lớp học?

Trong dạy học và giáo dục học sinh, ứng xử tích cực có tác độngtích cực đối với học sinh, giáo viên và cả gia đình, nhà trường cững nhưcộng đồng xã hội

- Đối với học sinh: ứng xử tích cực sẽ khiến học sinh thấy tự tin

trước đám đông tích cực, chủ động hơn trong thực hiện các nhiệm vụ họctập và giáo dục do đó mà phát huy đựơc khả năng của bản thân Điềuquan trọng là, các em thêm nhiều cơ hội để chia sẻ với thầy cô và bạnhọc, cảm nhận đựơc giá trị của mình vì thấy mình đựơc người khác quantâm, tôn trọng và lắng nghe ý kiến

- Đối với giáo viên: ứng xử tích cực sẽ giúp học sinh hiểu và tự

giác chấp hành kỉ luật, nhờ đó họ giảm đựơc áp lực quản lý lớp học,được học sinh tin tưởng, tôn trọng Chính trong mối quan hệ thân thiệngiữa giáo viên và học sinh mà môi trường tâm lí trong dạy học và giáodục được cải thiện, hiệu quả các hoạt động do giáo viên thiết kế, tổ chức

sẽ cao hơn Đây là điều kiện quan trọng để thực hiện mục tiêu dạy học vàtừng bước nâng cao chất lượng của dạy học và giáo dục trong nhàtrường

2 Một số kỹ năng giúp giáo viên ứng xử tích cực:

a)Lắng nghe tích cực là:

- Lắng nghe một cách chân thành, gợi mở (cả bằng ánh mắt và tráitim);

- Hiểu rõ nội dung học sinh cần nói;

- Hiểu rõ đựơc cảm xúc của học sinh

Các rào cản lắng nghe tích cực

Trang 19

- Không chú ý, xao nhãng, mất tập trung, gây mất hứng thú của họcsinh;

- Phán xét, chỉ trích, trách mắng học sinh;

- Đỗ lỗi cho học sinh mà không xem xét rõ vấn đề;

- Hạ thấp, xem thường học sinh;

- Ngắt lời khi học sinh đang nói;

- Đưa ra lời khuyên, giải pháp, thuyết trình, giảng giải về đạo đức;

- Đồng tình kiểu thương hại

- Kỹ năng thể hiện sự hiểu biết, thông cảm và chấp nhận học sinh

- Kỹ năng tập trung vào điểm mạnh của học sinh

- Kỹ năng tìm điểm tích cực, nhìn nhận tình huống theo cách khác

- Kỹ năng tập trung vào những điểm cố gắng mới, tiến bộ mới củahọc sinh

d) Tăng cường sự tham gia của học sinh trong các hoạt động giáo dục

d.1 Hoạt động giáo dục:

Hoạt động giáo dục là hoạt động do người lớn tổ chức theo kếhoạch, chương trình giáo dục nhằm đạt các mục tiêu giáo dục đặt ra Chủthể của hoạt động này (trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm về nhữnghoạt động đó) là nhà trường, các giáo viên và các nhà giáo dục có liên

Ngày đăng: 09/12/2019, 09:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w