1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn quận hai bà trưng, thành phố hà nội

97 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 818,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời tháng 8/1945 đến nay là nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam, vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động tôngiáo luôn được thực hiệ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ KIM OANH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO TỪ THỰC TIỄN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀNỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ KIM OANH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO TỪ THỰC TIỄN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số : 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS PHẠM TUẤN ANH

HÀ NỘI, 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn: “Quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực, chính xác và có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình khoa học nào

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Kim Oanh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 NHỮNGVẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ 9

NƯỚC VỀ TÔN GIÁO

1.1 Khái niệm, vai trò và nguyên tắc của quản lý nhà nước về 9tôn giáo

1.2 Mục tiêu, chủ thể, khách thể và nội dung quản lý nhà nước 17vềtôn giáo

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN 30

GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

2.1 Khái quát về vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội và tôn 30giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

2.2 Thực tiễn uảnq lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn quận 43Hai Bà Trưngvà những vấn đề đặt ra

Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU 61

QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ

HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI

3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tôn 61giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về 64tôn giáo trên địa bàn quận Hai Bà trưng, thành phố Hà Nội

trong thời gian tới

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Mặt trận Tổ quốcQuản lý nhà nướcThủ tướng ChínhpủỦy ban nhân dân

Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước đối với hoạt động 20

tôn giáo

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tôn giáo là một thực thể xã hội xuất hiện sớm trong lịch sử loài người, cónguồn gốc hình thành, phát triển và ảnh hưởng đến đời sống chính trị, văn hoá,

xã hội khác nhau trong mỗi quốc gia và trên toàn thế giới Tự do tôn giáo là mộttrong những quyền tự nhiên của con người và phải được pháp luật bảo vệ, đồngthời đó cũng là một mặt của giá trị dân chủ trên thế giới hiện nay Tín ngưỡng,tôn giáo là một nhu cầu tinh thần của nhân dân, nhưng tôn giáo với tư cách làmột thực thể xã hội, là một lĩnh vực của đời sống xã hội thì tôn giáo cũng phảiđược Nhà nước quản lý như quản lý các lĩnh vực khác của đời sống xã hội

Quản lý nhà nước (QLNN) về tôn giáo là một yêu cầu khách quan, cần thiết,bởi chỉ có được quản lý thì hoạt động tôn giáo mới thực sự diễn ra bình thường,quan hệ giữa các tôn giáo, giữa các tín đồ mới thực sự bình đẳng, quyền tự do theohoặc không theo tôn giáo nào của công dân mới được đảm bảo và tôn giáo không bịlợi dụng để nhằm mục đích chính trị hay ý đồ xấu Việt Nam là đất nước có nhiềutôn giáo, đa dạng về tổ chức, khác nhau về số lượng, có nguồn gốc phát sinh, dunhập, phát triển và ảnh hưởng khác nhau trong đời sống chính trị, văn hoá, xã hội

Kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời (tháng 8/1945) đến nay là nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam, vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động tôngiáo luôn được thực hiện nhất quán đó là: đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáocủa công dân; mọi tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, các hành vi lợi dụng tôngiáo vào mục đích chính trị gây mất an ninh, trật tự và chủ quyền quốc gia đều bịnghiêm trị Điều này được thể hiện rõ trong các văn kiện của Đảng và các bản Hiếnpháp 1946, 1959, 1980, 1992, 2013

QLNN về tôn giáo luôn giữ vai trò quan trọng trong thực hiện chính sáchtôn giáo của Đảng, Nhà nước; góp phần củng cố, phát huy khối đại đoàn kết toàndân tộc; giữ vững an ninh - quốc phòng; phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao dân trí cho nhân dân, trong đó cótín đồ các tôn giáo; phát huy dân chủ, tiếp thu những nhu cầu, nguyện vọng

Trang 8

chính đáng của chức sắc, tín đồ các tôn giáo để đề ra những chủ trương, chính

sách phù hợp với tình hình thực tế, góp phần tạo ra sự ổn định chính trị xã hội,

phát huy tinh thần đoàn kết trong nhân dân QLNN về tôn giáo khuyến khích

chức sắc, tín đồ các tôn giáo tham gia các hoạt động từ thiện xã hội có lợi cho sự

phát triển đất nước, phù hợp với pháp luật và đạo lý Đồng thời, ngăn chặn được

những hoạt động lợi dụng công việc từ thiện nhân đạo để tiến hành hoạt động tôn

giáo trái pháp luật QLNN về tôn giáo giúp tạo ra tinh thần phấn khởi, tin tưởng

vào chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước

Quận Hai Bà Trưngnằm ở phía đôngamn thành phố Hà Nội,quậnlà trung tâm

của hànht phố Với vị trí địa lý quan trọng và đặc điểm dân cưđông, nhiều thành

phần, công tácQLNN tại quậnHai Bà Trưng luôn được quan tâm; đặc biệt

làQLNN đối với hoạt động tôn giáo Số lượng các tôn giáo hoạt động trên đị bànquậnHai

Bà Trưng tương đối đa dạng nhưng quy mô các tôn giáo không giống nhau, trong đó Phật giáo vàngCôgiáo là hai tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất Hoạt động của các tín đồ,

chức sắc trênquậnđịaHbàniBà Trưng về cơ bản chấp hành tốt chủ trương, đường lối của

Đảng vàchính sách, pháp luật

của Nhà nước; tích cựcamthgia các hoạt động xã hội, ủng hộ các phong trào của địa

phương Tuy nhiên, bên cạnh những tôn giáo được Nhà nước công nhận, tuân thủ pháp luật; trênđịa bàn Quận vẫn có tôn giáo hoạt động trái phép; việc xây dựng, sửahữac các cơ

sở thờ tự vẫn còn vi phạm, QLNNDođó,đối với

hoạt động tôn giáo là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Quận Từ những

lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về tôn giáo

từ thực tiễn quận Hai BàTrưng, thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp thạc

sĩ Luật học, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Đây là vấn đề có

tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

QLNN là chức năngcơ bản của hàN nước được thể hiện trên nhiều phương diện như kinh tế, văn hóa, xã hội, Đảng và Nhà nước ta nhận định: tôn giáo vấn đề còn tồn tại lâu dài; tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ

Trang 9

phận nhân dân Với vai trò và sự ảnh hưởng đa chiều,tôn giáo và vấn đềQLNN

đối với các hoạt động tôn giáo trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và được đề cập trongcáccông trình khoa học khác nhauTác giả tổng quan tình hình nghiên cứu theo các vấn đề sau:

2.1 Nhómcông trình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với hoạt động

tôn giáo nói chung

Cuốn sách“Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trong điều kiện xây

dựng Nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Hữu

Khiển [52], đã làm rõ ưu điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo; asựđời,r vận động và phát triển của tôn giáo, các yếu tố cấu thành của tôn

giáo; tình hình tôn giáo ở Việt Nam; Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

(CSVN) về công tác tôn giáo và những nguyên tắc trong QLNN đối với những hoạt

động tôn giáo

Cuốn sách“Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” của tác

giả Đặng Nghiêm Vạn [82], cung cấp những kiến thức căn bản và quan trọng về lý luận tôngiáo học mác-xít đồng thời người đọc có thể nhìn nhận được khá

quát thựcrạngt một số tôn giáo ở Việt Nam

Tác phẩm“Quản lý xã hội về tôn giáo” của tác giả Hoàng Quốc Bảo [17], đã

phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng

về quản lý tôn giáo Giới thiệu một số tôn giáoở Việt Nam như đạo Phật, đạo Công

Giáo, đạo Tin Lành, đạo Hồi, đạo Cao Đài, đạo Hoà Hảo Các nguyên tắc và phương

pháp quản lý xã hội về tôn giáo Tổ chức và nội dung quản lý xã hội về tôn giáo

Đề tài cấp Bộ “Quản lý Nhà nước về tôn giáo ở các tỉnh Tây Nguyên” của

tác giả Ngô Văn Minh [57], đã làm rõ một số vấn đề về lý luận QLNN đối với

hoạt động tôn giáo trong thời kỳ đổi mới ở nước ta Khảo sát hoạt động tôn giáo

và công tác QLNN về tôn giáo tại các tỉnh Tây Nguyên từ tháng 6/2004 đến

tháng 6/2009 Qua đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản để tăng cường công tác

QLNN về tôn giáo tại Tây Nguyên Đề tài đã góp phần vào việc tổng kết thực

Trang 10

tiễn 5 năm thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo tại một khu vực có tính đặcthù về vấn đề tôn giáo - dân tộc là Tây Nguyên.

Cuốn sách“Quan điểm đường lối của Đảng về tôn giáo và những vấn đề tôn

giáo ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Hồng Dương [31], đã phân tích

những quan điểm, đường lối của Đảng về tôn giáo; phác họa nên bức tranh tôngiáo ở Việt Nam hiện nay đồng thời phân tích kinh nghiệm giải quyết vấn đề tôngiáo ở Việt Nam từ cái nhìn đối sánh với một số nước như so sánh kinh nghiệmgiải quyết vấn đề tôn giáo của Trung Quốc, Thái Lan và Singapore Trên cơ sở

đó, tác giả phân tích những vấn đề đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị đối vớicông tác tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

Cuốn sách“Tiếp tục đổi mới chính sách về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay Những vấn đề lý luận cơ bản” của tác giả Nguyễn Hồng Dương (Chủ biên) [32], đã

-phân tích, đánh giá, tiến trình nhận thức, hình thành quan điểm của Đảng về tôngiáo từ năm 1930 đến nay, đưa ra những vấn đề còn bất cập về CTTG và chính sáchtôn giáo hiện nay Hơn nữa, tác giả cũng đưa ra cụ thể được những thành tựu vànhững vấn đề mới đặt ra trong thực hiện chính sách tôn giáo, đòi hỏi Đảng và Nhànước tiếp tục đổi mới chính sách đối với tôn giáo trong tình hình mới

Tác phẩm “Chính sách tôn giáo và nhà nước pháp quyền” của tác giả Đỗ

Quang Hưng [50], là một công trình tổng kết thực tiễn đời sống tôn giáo và thựchiện chính sách tôn giáo ở nước ta trong thời kỳ đổi mới Ngoài những vấn đềthuộc khung lý thuyết cơ bản, tác giả đã trình bày toàn cảnh đời sống tôn giáoViệt Nam hiện nay, làm rõ những vấn đề đặt ra trong mối quan hệ Nhà nước vớicác giáo hội, khảo sát, đánh giá những chuyển biến trong quá trình thực hiệnchính sách tôn giáo, nêu lên những vấn đề đặt ra cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiệnchính sách tôn giáo Tác giả cũng gợi mở một vấn đề quan trọng khác là nỗ lực

mô hình hóa một nhà nước pháp quyền về tôn giáo trong điều kiện Việt Namhiện nay

Luận án tiến sĩ “Quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975 đến

nay” của tác giả Bùi Hữu Dược [30], đã góp phần làm rõ tính tất yếu và yêu cầu

Trang 11

đổi mới QLNN về tôn giáo trong quan hệ giữa nhà nước xã hội chủ nghĩa

(XHCN) với tôn giáo ở Việt Nam, đồng thời làm rõ thực trạng, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong QLNN về tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975 đến năm

2013 Từ đó, đưa ra dự báo tình hình tôn giáo ở Việt Nam và khuyến nghị nhằm

nâng cao hiệu quả QLNN về tôn giáo ở Việt Nam trong thời gian tới.

Luận án tiến sĩ “Tôn giáo và luật pháp về tôn giáo trong thời kỳ đổi mới ở

Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Vân Hà [46], đã nghiên cứu các nhân tố ảnh

hưởng đến việc thực hiện công tác xây dựng hệ thống văn bản quy phạm phápluật trong lĩnh vực tôn giáo ở Việt Nam, đưa ra được thành tựu và hạn chế trongban hành các chính sách liên quan đến tôn giáo ở Việt Nam trong thời kỳ đổimới Từ đó, nêu lên một số vấn đề đặt ra và đề xuất các khuyến nghị, giải phápnhằm nâng cao hiệu quả tính khả thi trong quá trình xây dựng và ban hành vănbản quy phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền về lĩnh vực tôn giáo ởViệt Nam, góp phần bổ sung, phong phú thực tiễn nâng cao hiệu quả CTTG ởViệt Nam

Giáo trình“Quản lý xã hội về tôn giáo” của tác giả Hoàng Quốc Bảo[17], đã

chỉ ra đối tượng và phương pháp nghiên cứu quản lý xã hội về tôn giáo, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng CSVN về quản lý tôn giáo Giới thiệu một số tôn giáo ở Việt Nam và nguyên tắc, phương pháp, tổ chức, nội dung quản lý xã hội về tôn giáo và công tác QLNN đối với các hoạt động tôn giáo

2.2 Nhóm công trình nghiên cứu quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội

Luận văn thạc sĩ “Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn

Thành phố Hà Nội hiện nay” của tác giả Dương Ngọc Kiên [53], đã tập trung

nghiên cứu trên phương diện QLNN của chính quyền và hệ thống chính trị củathành phố Hà Nội đối với hoạt động của các tôn giáo, gồm: Phật Giáo, CôngGiáo, Tin Lành, Cao Đài, Baha’i, Hồi Giáo, Minh Sư Đạo trên địa bàn thành phố

Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2014 Từ đó, đề xuất giải pháp

Trang 12

nhằm góp phần nâng cao hiệu quả QLNN đối với các hoạt động tôn giáo trên địa

bàn thành phố Hà Nội thời gian tới

Luận văn thạc sĩ “Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa

bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Phạm Thị Phương

Mai [56], đã phân tích tình hình tôn giáo ở thành phố Hà Nội và các hoạt động

có liên quan; Liên hệ trong sự phát triển vào xu thế chung của đất nước và thành

tựu của địa phương, đồng thời đánh giá thực trạng hoạt động tôn giáo và QLNN

đối với hoạt động tôn giáo ở thành phố Hà Nội Từ đó, đề xuất một số giải pháp

hoàn thiện QLNN đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội

Luận án tiến “sĩTôn giáo và công tác tôn giáo ở Hà Nội hiện”củna ytác

giả Đàm Tuấn Anh [1], đã phân tích, đánh giá một cách tổng thể về tình hì đặc điểm cùngvới hoạt động của các tôn giáo trên địa bàn thành phốvà Hà Nô công tác tôn giáo ở Hà NộihiệnLuậnnay án đã rút ar một số kinh nghiệm trong

công tác tôn giáo ở Hà Nội Đồng thời đề xuất một số khuyến nghị giải pháp nhằm

nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhữngộidung

cơ bản về tôn giáo, cơ sở lý luận cũng như thực tiễn về công tác QLNN đối v hoạt động tôngiáo dưới những khía cạnh nghiên cứu khác nhau và là nguồn t liệu vô cùng hữu ích hỗ trợcho công tác QLNN vềotôn.Đồnggiá thời, sẽ cung

cấp cho tác giả nhữngtư liệu quan trọng và xác thực để phân tích nhằm rút ra

những thành tựu và hạn chế trong QLNN về tôn giáo Trên cơ sở đó, đưa ra được

những dự báo và đề xuất một số quan điểm, giải pháp để nâng cao hiệu quả QLNN

về tôn giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ một số vấn đề lý luận về công tácQLNN về tôn giáo; đánh giá thực

trạng quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng Trên cơ sở

đó, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tácQLNN về

tôn giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng trong thời gian tới

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Làm rõ khái niệm, nguyên tắc, vai trò, mục tiêu, chủ thể, khách thể và nội dung của quản lý nhà nước về tôn giáo

- Phân tích và đánh giá thực trạng QLNN về tôn giáo trên địa bàn quận Hai

Bà Trưng, chỉ ra những kết quả đạt được, những vấn đề hạn chế, bất cập và

nguyên nhân

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về tôn giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý nhà cnướvề tôn giáotrên địa bàn uậnq Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

5 Cơ sở lýluận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lýluận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo;các quan điểm, chủ trương, đường lối củaĐảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, để giảiquyết mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các

Trang 14

phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: phương pháp lịch sử cụ thể;phương pháp nghiên cứu tôn giáo học như xuất phát từ cấu trúc, chức năng tônphươnggiáo; phápphân tích, tổng hợp; phương phápthống kê, so sánh v.v Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành và chuyên ngành như: luật học, chính trị học, sử học, triết học, xã hội học, dân tộc học,…

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả luận văn sẽ cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện hơn nữachính sách và pháp luật về tôn giáo và công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáotrong tình hình mới trên phạm vi cấp quận nói chung,quận Hai Bà Trưng, thànhphố Hà Nộinói riêng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiêncứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung vào kinh nghiệm thựctiễn trong công tácQLNN về tôn giáo tạimột địa phương nhất định; có thể sử dụng

làm tài liệu tham khảo trong quá trìnghiên cứu, giảng dạy về tôn giáo vàcông tác

quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, cũng như việc hoạch định chính sách ở

nhiều phương diện liên quan đến QLNN đối với hoạt động tôn giáo.

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luậnvăn được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết

Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về tôn giáo

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn quận Hai Bà

Trưng, thành phố Hà Nội hiện nay

Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tôn

giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội trong thời gian tới

Trang 15

Chương 1 NHỮNGVẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO

1.1 Khái niệm, vai trò và nguyên tắc của quản lý nhà nước về tôn giáo

1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về tôn giáo

QLNN nói chung và QLNN về tôn giáo nói riêng là hoạt động chức năngcủa Nhà nước Để hiểu rõ hơn về QLNN đối với hoạt động tôn giáo trước hết tacần hiểu về các khái niệm quản lý, QLNN, tôn giáo, hoạt động tôn giáovà QLNNvềtôn giáo

* Quản lý

Thuật ngữ “Quản lý” đã được nhiều tác giả định nghĩa khác nhau dựa theo

mục tiêu và góc độ nghiên cứu Có quan điểm coi quản lý là quá trình bao gồmcác khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra những nỗ lực của các thànhviên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhau của tổ chức để đạtđược mục tiêu đã định trước Cũng có quan điểm cho rằng quản lý là sự tác độngđịnh hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hoá nó và hướng nó pháttriển phù hợp với những quy luật nhất định Mặc dù, có nhiều quan niệm khácnhau, song thuật ngữ quản lý đều được các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhàquản lý thống nhất ở hai nội dung:

Thứ nhất, quản lý là sự tác động mang tính tổ chức, tính mục đích của chủ

thể quản lý đến đối tượng quản lý

Thứ hai, mục tiêu là nhằm làm cho đối tượng quản lý hoạt động vận hành

phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã định ra từ trước

Như vậy, nói đến quản lý trước hết đó là sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếpcủa chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý Sự tác động này không phải mang tínhđơn lẻ, tự phát mà nó mang tính tổ chức, tính mục đích rõ ràng Mục đích mà chủthể quản lý đặt ra là hướng tới đối tượng quản lý hoạt động phù hợp với ý chí củamình

Trang 16

Từ hai nội dung nêu trên có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có

mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt

Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội của Nhà nước, sử

dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt độngcủa con người do tất cả các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tiếnhành để thực hiện các chức năng của Nhà nước đối với xã hội

Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang quyền lực

nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật củacác cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, UBND các cấp)

* Tôn giáo

“Tôn giáo” là một hiện tượng lịch sử, xã hội đã xuất hiện từ rất lâu (Phật

Giáo khoảng thế kỷ thứ VI trước công nguyên, Công Giáo thế kỷ I trước côngnguyên,…) và có nhiều cách hiểu khác nhau

Chủ nghĩa Mác - Lênin coi tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội duy tâmthần bí nhưng chủ nghĩa Mác - Lênin cũng thừa nhận tính chất, vai trò của tôngiáo, thừa nhận tôn giáo còn tồn tại lâu dài đồng thời chỉ rõ nguồn gốc của tôngiáo chính là xã hội, là tồn tại xã hội, là cuộc sống của con người lại được phảnánh một cách hoang đường kỳ dị

Trang 17

Theo C.Mác, tôn giáo là một sản phẩm xã hội, nó được quy định và quyếtđịnh bởi lịch sử vì cơ sở của quá trình lịch sử là sự phát triển của các điều kiệnvật chất của đời sống xã hội nên nguồn phát sinh của biểu tượng tôn giáo cũng ởngay trong điều kiện sinh sống của con người Những lực lượng trần tục thống trịcon người, đè nặng lên ý thức của họ một cách hoang đường đã sinh ra nhữngbiểu tượng siêu nhiên Những hình ảnh và biểu tượng tôn giáo trong ý thức củacon người chính là tồn tại được phản ánh.

Trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ph.Ăngghen đã viết: “Tất cả mọi tôn giáochẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của nhữnglực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánhtrong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêutrần thế” [22, tr.437]

Ở Việt Nam, vẫn phổ biến một quan điểm về tôn giáo theo loại hình tôngiáo của giáo hội, vẫn phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng dân gian như là hai cấp

độ phát triển, như nhận xét của một tác giả nghiên cứu tôn giáo: “Hiện nay, ởnước ta và một số nước dường như chỉ coi các hình thức tôn giáo nảy sinh ra từ

xã hội có giai cấp, hay đúng hơn nữa là phải có tổ chức, giáo lý, giáo luật, mớiđược coi là tôn giáo [81,tr.29]

Như vậy, tôn giáo không phải là cái tự có mà là sản phẩm của con người Nói cách khác, tôn giáo là sự phản ánh xã hội vào ý thức con người Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản ánh tồn tại xã hội đã sinh ra nó Song sự phản ánh đó chỉ là sự phản ánh phi lý tính, hoang đường để giải thích hoặc chi phối hiện thực Tôn giáo là sản phẩm của con người, nhưng không phải con ngườicá nhân, riêng lẻ mà là con người xã hội (hay xã hội con người), do đó tôn giáo là một hiện tượng xã hội Xét về mặt bản chất, tôn giáo là một hiện tượng xã hội vừathể hiện sự phản kháng trước những đau khổ, bất hạnh của con người, vừa biểu thị sự bất lực của con người trước sức mạnh của tự nhiên và xã hội Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, Đảng ta nhận định tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân

Trang 18

dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ởnước ta Quan điểm này là cơ sở cho việc quản lý, xem xét, giải quyết các vấn đềtôn giáo ở nước ta hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải có thái độ bình tĩnh, kháchquan trong khi xem xét, giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động tôn giáo;đảm bảo cho các tôn giáo ở Việt Nam sinh hoạt một cách bình thường, tuân thủpháp luật, đồng hành với dân tộc và chủ nghĩa xã hội Điều 24 Hiến pháp năm

2013 quy định: "1 Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc

không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật 2 Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 3 Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật" [60, tr.20] Như vậy, tôn giáo, tín ngưỡng đã trở thành quyền cơ

bản của mọi người dân Việt Nam; là một trong những quyền cơ bản của conngười được Nhà nước và pháp luật tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm

Tuy nhiên, hiện nay trong các văn bản quản lý nhà nước về tôn giáo ở nước ta chưa có văn bản nào định nghĩa cụ thể về khái niệm này Mặc dù, việc giải thích khái niệm khá phức tạp, thậm chí khó có thể thống nhất, nhưng khi nói đến một tôn giáo hoàn chỉnh bao gồm các dấu hiệu cơ bản sau: là đại diện cho một cộng đồng người có chung niềm tin vào thế lực siêu nhiên, huyền bí; có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi; có tổ chức hoạt động từ Giáo hội xuống cơ sở khá chặt chẽ

* Hoạt động tôn giáo

Hoạt động tôn giáo là “hoạt độngtruyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản

lý tổ chứccủa tôn giáo” [62, tr.6] Truyền bá giáo lý, giáo luật (còn gọi là truyền đạo)

là việc tuyên truyền những lý lẽ về sự ra đời, về luật lệ của tôn giáo Thông qua hoạt động truyền đạo, niềm tin tôn giáo của tín đồ được củng cố, luật

lệ trong tôn giáo được tín đồ thực hiện Thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi làhoạt động của tín đồ, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo thể hiện sự tuân thủ phápluật, thỏa mãn đức tin tôn giáo của cá nhân tôn giáo hay của cộng đồng tín đồ.Hoạt động quản lý tổ chức của tôn giáo là thực hiện quy định của giáo luật, thựchiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm bảo duy trì trật tự trong tổchức tôn giáo Trong các hoạt động này, việc phân biệt hoạt động truyền bá giáo

Trang 19

lý giáo luật và hoạt động thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi chỉ mang tính tương đối có không ít hoạt động hành đạo có hoạt động truyền đạo.

* Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo

Từ các khái niệm quản lý, quản lý nhà nước, tôn giáo, hoạt động tôn giáo,chúng ta có thể đưa ra khái niệm về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáotheo hai nghĩa sau:

Theo nghĩa rộng: là quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền lập pháp,hành pháp và tư pháp) của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật đểtác động, điều chỉnh, hướng dẫncác hoạt độngtôn giáo và hành vi hoạt động tôngiáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mụctiêu cụ thể của chủ thể quản lý

Theo nghĩa hẹp: là một dạng quản lý xã hội mang tính chất nhà nước; làchức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chứcthực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh,hướng dẫn hoạt động cáctôngiáo và mọi hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức,cá nhân tôn giáo diễn ra theo quy định của pháp luật Nói cách khác, đó là sựquản lý của nhà nước đối với hoạt động của các tín đồ, chức sắc trong việctruyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo; quản lý nơi thờ tự, đồdùng việc đạo, cơ sở vật chất xã hội của các tôn giáo

Từ đây, thuật ngữ quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo sử dụngtrong luận văn được hiểu theo nghĩa hẹp của thuật ngữ này Như vậy, khi nhắcđến quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là nói đến sự quản lý của các cơquan hành pháp đối với hoạt động tôn giáo

1.1.2 Vai trò của quản lý nhà nước về tôn giáo

Tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của một bộ phận đông đảo nhân dân Chính vì vậy, quản lý nhà nước về tôn giáo có vai trò đặc biệt quan trọng

Một là, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo luôn giữ vai trò quantrọng trong thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước; góp phần củng

cố, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc; giữ vững an ninh - quốc phòng Sự

Trang 20

nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là của mọi người Việt Nam, dù ở trong nướchay đang sinh sống, học tập ở nước ngoài.

Hai là, quản lý nhà nước về tôn giáo giúp phát triển kinh tế - xã hội của đất

nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao dân trí cho nhân dân, trong

đó có tín đồ các tôn giáo; tạo ra mối quan hệ tốt giữa quần chúng với Đảng vàNhà nước; phát huy dân chủ, tiếp thu những nhu cầu, nguyện vọng chính đángcủa chức sắc, tín đồ các tôn giáo để đề ra những chủ trương, chính sách phù hợpvới tình hình thực tế của địa phương, góp phần tạo ra sự ổn định chính trị - xãhội, phát huy tinh thần đoàn kết trong nhân dân

Ba là, cơ sở chính trị trong các vùng tôn giáo tập trung được xây dựng, củng

cố, phát huy được vai trò của quản lý nhà nước về tôn giáo của cán bộ, đảng viên,người có uy tín để vận động đồng bào có đạo, phát triển thêm được nhiều đảng viên,

hội viên các đoàn thể là tín đồ các tôn giáo Chức sắc các tôn giáo ở huyện cũng

được hoạt động thuận lợi trong khuôn khổ của pháp luật từ khâu tuyển chọn đào tạo,thuyên chuyển, bổ nhiệm, đến phân công địa bàn hoạt động

Bốn là, quản lý nhà nước về tôn giáo khuyến khích chức sắc, tín đồ các tôn

giáo tham gia các hoạt động từ thiện xã hội có lợi cho sự phát triển đất nước, phùhợp với pháp luật và đạo lý Đồng thời, ngăn chặn được những hoạt động lợidụng công việc từ thiện nhân đạo để tiến hành hoạt động tôn giáo trái pháp luật

Năm là, quản lý nhà nước về hoạt động đối ngoại của các tôn giáo giúp tạo

ra tinh thần phấn khởi, tin tưởng vào chính sách tôn giáo, chính sách đối ngoạicủa Đảng và Nhà nước

1.1.3 Các nguyên tắc quản lý nhà nước về tôn giáo

Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo không ngoài mục đích bảođảm cho hoạt động tôn giáo diễn ra trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật,

vì lợi ích chung, trong đó có cả lợi ích của đồng bào có đạo và lợi ích của cácgiáo hội Dó đó, quản lý hàn nước về hoạt động tôn giáo có một số nguyên tắcchính sau:

Trang 21

Một là, nguyên tắc đảm bảo cho mọi công dân được bình đẳng trước Hiến pháp và pháp luật.

Nguyên tắc này được thể hiện tại Điều 16 pháp năm 2013 Đây là nguyên tắcthể chế dân chủ trong hoạt động của Nhà nước ta Nội dung của nguyên tắc này được hiểu: Nhà nước đảm bảo quyền tự do tôn giáo hay không tôn giáo của công dân (dù là tín đồ tôn giáo hay không phải là tín đồ tôn giáo) bình đẳng trước pháp luật, được hưởng quyền lợi và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân Từ cơ

sở này, tín đồ được tự do hành đạo trên cơ sở thực hiện nghĩa vụ công dân

Hai là, nguyên tắc tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo của công dân.

Tất cả công dân Việt Nam dù là người có tôn giáo hay không có tôn giáo,hoặc giữa tín đồ của các tôn giáo khác nhau đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa

vụ trước pháp luật Nguyên tắc này tạo cơ sở pháp lý của việc theo hoặc khôngtheo một tôn giáo nào đó của công dân Tôn giáo là một nhu cầu tinh thần củacon người, không cá nhân hoặc tổ chức nào có quyền áp đặt hoặc tước bỏ nhucầu đó Sự tự do tín ngưỡng, tôn giáo thể hiện sự tự nguyện của cá nhân hướngtới hoặc phản đối một đấng tối cao nào đó Tuy nhiên, quyền tự do tín ngưỡngluôn phải được đặt trong khuôn khổ của luật pháp, của sự quản lý của Nhà nướcnhằm đảm bảo không có bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào lợi dụng quyền này đểphá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước, kích động bạo lực, chia rẽ dântộc, gây rối trật tự công cộng…

Ba là, nguyên tắc về tính thống nhất giữa sinh hoạt tôn giáo và bảo tồn giá trị văn hoá.

Niềm tin tôn giáo được thể hiện thông qua sinh hoạt vật chất của con người:lễ nghi, trang phục…; được thể hiện thông qua các công trình kiến trúc, kinhsách…Những dạng vật chất của tôn giáo đồng thời cũng là sản phẩm của vănhóa Các giá trị này trải qua giai đoạn phát triển, dần kết hợp, hòa quyện với cáctruyền thống dân tộc Sự tồn tại của tôn giáo là động lực cho sự phát triển và bảo

Trang 22

tồn các giá trị văn hóa Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị văn hoá đích thực vẫncòn những hiện tượng phản văn hoá có trong tôn giáo, những hủ tục, mê tín dịđoan… Do đó, sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo phải vừa giữgìn được bản sắc văn hoá dân tộc, vừa loại bỏ dần những hiện tượng phản vănhoá trong sinh hoạt tôn giáo.

Bốn là, nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất, hài hoà lợi ích cá nhân - cộng đồng và lợi ích quốc gia, xã hội.

Đối với tín đồ các tôn giáo, nhu cầu tôn giáo của họ được nhà nước coitrọng và tạo mọi điều kiện để họ thực hiện những hành vi tôn giáo của mình.Nhưng ở vào một thời điểm nào đó đứng trước nhiều nhu cầu khác đòi hỏi tín đồphải giải quyết hài hoà, thoả đáng giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể với lợi íchchung của xã hội Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải giải quyết tốt các xungđột, mâu thuẫn xuất hiện giữa các chủ thể nói trên Nhận thức cơ bản của nguyêntắc này là mỗi người có đạo thường có nhiều nhu cầu, trong đó nhu cầu tâm linhthể hiện trong sinh hoạt tôn giáo và trách nhiệm của công dân Đối với một tín

đồ, nhu cầu tâm linh được thỏa mãn ngay trong sinh hoạt tôn giáo như hành lễ,cầu nguyện Nhưng với người tín đồ đó, với tư cách công dân thì lợi ích xã hộinào đó có thể thực hiện được thông qua việc thực hiện một nghĩa vụ của người

đó Nguyên tắc này thực ra là yêu cầu ứng xử được đặt ra khi cùng một thời điểmxuất hiện hai hoạt động khác nhau: một là sinh hoạt tôn giáo, hai là hoạt động xãhội Ví dụ, thời điểm để đi hành hương, hành đạo ở một nơi nào đó trùng vàođúng thời điểm xảy ra thiên tai ở một địa phương cần có sự huy động sức người,sức của mới có thể khắc phục được,… Nguyên tắc này đòi hỏi trước những mâuthuẫn như vậy thì mọi công dân cần xác định lợi ích xã hội cộng đồng phải đượcđặt lên trên hết Ngay trong các giáo lý tôn giáo cũng có những điều răn dạy vềđức hóa sinh của tín đồ, phật tử với đồng loại, với xã hội

Trang 23

Năm là, những hoạt động tôn giáo vì lợi ích chính đáng và hợp pháp của tín đồ phải được đảm bảo.

Những hoạt động tôn giáo vì lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân đượckhuyến khích Mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, lợi dụngtín ngưỡng, tôn giáo để chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, phá hoại sự nghiệp đoàn kết toàndân tộc, làm phương hại đến nền văn hoá lành mạnh của dân tộc và hoạt động

mê tín dị đoan đều bị lên án và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật

1.2 Mục tiêu, chủ thể, khách thể và nội dung quản lý nhà nước về tôn giáo

1.2.1 Mục tiêu quản lý nhà nước về tôn giáo

*Mục tiêu tổng quát

Góp phần xây dựng các giá trị văn hóa và chuẩn mực xã hội, tạo nên những mối quan hệ lành mạnh

* Mục tiêu cụ thể

Thứ nhất, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trước hết phải bảo

đảm được quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, bảo đảm cho các hoạtđộng tôn giáo được diễn ra bình thường theo đúng quy định của pháp luật

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền con người cơbản được Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốcghi nhận Nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo còn tồn tại lâu dài cùng với sự phát triểncủa xã hội loài người chừng nào những nguồn gốc làm phát sinh ra nó chưa giảiquyết được Suốt quá trình đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng đấtnước, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,tôn giáo, coi đó là quyền cơ bản của công dân Cùng với việc bảo đảm quyền tự

do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, phải bảo đảm cho tổ chức, cá nhân tôngiáo được thực hiện các hoạt động hành đạo, truyền đạo và quản lý tổ chức mộtcách thuận lợi

QLNN cần phân biệt rõ giữa hoạt động tôn giáo thuần túy với hành vi lợidụng hoạt động tôn giáo để có những biện pháp quản lý phù hợp, tránh can thiệp

Trang 24

vào công việc nội bộ của tôn giáo Trong hoạt động tôn giáo, chúng ta cũng yêucầu các tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành tuân thủ quy định củapháp luật Mọi hành vi vi phạm đều phải bị phê phán, nghiêm cấm và xử lý theoquy định của pháp luật.

Thứ hai, QLNN đối với hoạt động tôn giáo phải phát huy được những mặt

tích cực của tôn giáo như tính hướng thiện, từ bi; khắc phục được những hạn chế,tiêu cực của tôn giáo đối với sự phát triển của xã hội

Nhà nước tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tôn giáo tham gia cùng Nhànước giải quyết những vấn đề của xã hội Mặt khác, Nhà nước phải luôn tăngcường cảnh giác đề phòng những âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo chốnglại chế độ xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, trong quản lý nhà nước về hoạt động tôngiáo, cần phân biệt rõ giữa hoạt động tôn giáo thuần tuý với hành vi lợi dụnghoạt động tôn giáo để đề ra những biện pháp quản lý phù hợp

Thông qua QLNN đối với hoạt động tôn giáo, phải giúp cho quần chúngtừng bước xóa bỏ được những nhận thức lệch lạc về thế giới và con người,những luật lệ khắt khe trong tôn giáo Đặc biệt phải chống được âm mưu lợidụng tín ngưỡng, tôn giáo chống lại Đảng, Nhà nước, xâm hại đến các quan hệ

xã hội được Nhà nước bảo hộ

Thứ ba, QLNN đối với hoạt động tôn giáo phải thực hiện được mục tiêu

đoàn kết đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôngiáo, tạo ra sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xâydựng và bảo vệ Tổ quốc

Mục tiêu đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo luôn là bài học quan trọngtrong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, là truyền thốngquý báu tạo nên sức mạnh của dân tộc Trong công tác tôn giáo, mục tiêu đoànkết dân tộc, đoàn kết lương giáo càng quan trọng khi tôn giáo luôn là một trongnhững công cụ, phương tiện được các thế lực thù địch, phản động trong và ngoàinước chia rẽ người theo đạo và người không theo đạo, thực hiện âm mưu diễnbiến hòa bình

Trang 25

Thứ tư, QLNN đối với hoạt động tôn giáo phải đảm bảo sự tăng cường vai

trò của Nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động tôn giáo, góp phần pháttriển văn hóa, khoa học

Tổ chức, cá nhân tôn giáo là một bộ phận của xã hội, được Nhà nước thừanhận, phải đặt dưới sự quản lý của Nhà nước Hoạt động tôn giáo phải tuân thủnhững quy định của Nhà nước Mọi hành vi nhằm biến tôn giáo thành một lựclượng đối trọng với Nhà nước, thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước đều là bấthợp pháp Hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật mà Nhà nước đãđặt ra đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật Khi vai trò của Nhà nướctrong điều chỉnh các hoạt động tôn giáo được tăng cường, hiệu lực, hiệu quả củaquản lý nhà nước đối với lĩnh vực này sẽ được nâng cao, các quy định quản lýnhà nước được các tổ chức, cá nhân tôn giáo thực hiện nghiêm chỉnh, triệt để,pháp chế trong công tác tôn giáo được giữ vững

1.2.2 Chủ thể và khách thể quản lý nhà nước về tôn giáo

QLNN đối với hoạt động tôn giáo là quá trình tác động, điều hành, điềuchỉnh của các cơ quan hành pháp để các hoạt động tôn giáo diễn ra theo đúngquy định của pháp luật Với cách hiểu như vậy, QLNN đối với hoạt động tôngiáo bao gồm các yếu tố: chủ thể quản lý, khách thể quản lý

1.2.2.1 Chủ thể quản lý nhà nướcvề tôn giáo

QLNN đối với hoạt động tôn giáo được thực hiện bởi cơ quan QLNN cáccấp nhằm huy động sức mạnh của cộng đồng tín ngưỡng, tôn giáo để đạt mụcđích của chủ thể cầm quyền đặt ra Khi hiểu QLNN đối với hoạt động tôn giáo làsự quản lý của các cơ quan hành pháp đối với hoạt động tôn giáo thì chủ thể củaQLNN đối với hoạt động tôn giáo chỉ bao gồm các cơ quan nhà nước thuộc hệthống hành pháp (Chính phủ: các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND các cấp) Trong

đó, Chính phủ thống nhất QLNN về hoạt động tôn giáo, toàn quyền quyết địnhcác vấn đề có liên quan trên phạm vi cả nước Chính phủ sử dụng quyền hànhpháp để thi hành pháp luật và chấp hành các nghị quyết của Quốc hội, đồng thờichủ động tham gia quá trình lập pháp về các vấn đề có liên quan đến tôn giáo; sử

Trang 26

dụng quyền lập quy để ra các văn bản dưới luật để thực hiện và thống nhấtQLNN về các hoạt động tôn giáo Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộcChính phủ chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động QLNN về hoạt động tôn giáotrong phạm vi ngành, lĩnh vực theo quy định của pháp luật UBND là cơ quanhành chính ở địa phương có trách nhiệm chấp hành pháp luật và các văn bản củacác cơ quan hành chính nhà nước cấp trên, chấp hành nghị quyết của Hội đồngnhân dân (HĐND) và ra các quyết định, chỉ thị về lĩnh vực tôn giáo của địaphương, nói cách khác trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình UBND cáccấp chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các hoạt động QLNN đối với hoạt độngtôn giáo tại địa phương.

Mô hình QLNN đối với hoạt động tôn giáo được thể hiện cụ thể qua sơ đồ sau:

Trung ương Chính phủ Ban Tôn giáo của Chính phủ

Sơ đồ 1.1: Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo.

Điểm nổi bật của sơ đồ này là đã chỉ ra hệ thống và tính thống nhất của bộmáy QLNN đối với hoạt động tôn giáo Quan hệ giữa bốn cấp từ Trung ươngđến địa phương trong hoạt động điều hành chung của Nhà nước dưới sự lãnh đạocủa Đảng Mỗi cấp vừa có quyền hạn riêng vừa chịu sự tác động của các cấptrong hệ thống theo chiều dọc Nếu một khâu nào đó của một cấp bị trục trặc thìsự điều hành của các cấp còn lại sẽ gặp trắc trở

Trang 27

Trong hệ thống các cơ quan thuộc Chính phủ, Ban Tôn giáo Chính phủ

thuộc Bộ Nội vụ có chức năng chính là QLNN về hoạt động tôn giáo trong phạm

vi cả nước, là đầu mối phối hợp với các ngành về công tác tôn giáo và liên hệ với

các tổ chức tôn giáo

Ban Tôn giáo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan chuyên

môn thuộc Sở Nội Vụ - UBND, chịu trách nhiệm trước UBND thực hiện chức

năng QLNN về các hoạt động tôn giáo theo pháp luật của Nhà nước trong phạm

vi địa phương Ban Tôn giáo chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và

hoạt động của Sở Nội vụ; đồng thời chịu sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp

vụ của Ban Tôn giáo Chính phủ trực thuộc Bộ Nội vụ

Phòng Nội vụ là cơ quan chuyên môn, tham mưu, giúpUBND huyện, quận

QLNN về lĩnh vực công tác tôn giáo trên địa bàn huyện, quận Phòng Nội vụ chịu

sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND huyện, quận đồng

thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Ban Tôn giáo tỉnh

hoặc Sở có chức năng quản lý công tác tôn giáo

UBND phường, xã do đồng chí Phó chủ tịch UBND phụ trách khối Văn xã (la ủy viênUBND) và một công chức Văn phòng-Thống kê (có phường, xã bố trí công chức Văn hóa-

Xã hội) kiêm nhiệm thực hiện nhiệm vụ về công tác tôn giáo

1.2.2.2 Đối tượngquản lý nhà nước về tôn giáo

Trước hết, đối tượng của quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo bao

gồm: hoạt động tôn giáo của các tổ chức tôn giáo, của tín đồ, chức sắc, nhà tu

hành và các cơ sở vật chất phục vụ hoạt động sinh hoạt tôn giáo như cơ sở tôn

giáo, các đồ dùng phục vụ hoạt động tôn giáo

Tín đồ là “người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đóthừa

nhận” [62, tr.5] Tín đồ của các tôn giáo có sự thống nhất trên hai mặt: công dân

và tín đồ Về mặt công dân, họ bình đẳng trước pháp luật về quyền lợi và nghĩa

vụ như các công dân không tôn giáo Về mặt tín đồ, là người có tín ngưỡng tôn

giáo (có niềm tin và tình cảm tôn giáo ở mức độ khác nhau); có quyền lợi và

nghĩa vụ do tổ chức tôn giáo quy định (thể hiện trong giáo lý Mặt công dân và

Trang 28

mặt tín đồ thống nhất trong con người tín đồ tôn giáo; nhưng không đồng nhất

với nhau (mặt công dân là số một, mặt tín đồ là số hai)

Nhà tu hành là “tín đồ xuất gia, thường xuyên thực hiện nếp sống riêng theo giáo

lý, áogi luật và quy định của tổ chức tôn” [62,giáotr.5].

Chức sắc là “tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức”[62, tr.5] Các chức sắc tôn giáo có sự thống nhất ba mặt:

công dân, hành đạo và đại diện Về mặt công dân, là người chuyên việc đạo, bình

đẳng trước pháp luật về nghĩa vụ và quyền lợi như các công dân khác Mặt hành

đạo, được Giáo hội đào tạo, tấn phong, bổ nhiệm giữ các phẩm trật khác nhau

trong chức vị thánh và chức vị phẩm quyền (tùy theo từng tôn giáo) Chức sắc tôn

giáo có uy quyền khác nhau tùy theo phẩm trật, năng lực hành đạo Mặt đại diện,

ở những mức độ khác nhau cho tổ chức giáo hội trong mối quan hệ đối nội và

trong quan hệ đạo - xã hội Ba mặt nói trên thống nhất trong con người chức sắc

tôn giáo nhưng không đồng nhất; mặt công dân là số một, các mặt khác là số hai,

đặc biệt là mặt hành đạo Ở Việt Nam, nghĩa vụ của chức sắc tôn giáo được quy

định tại Điều 9Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016như sau: “Chức

sắc, chức việc, nhà tu hành, người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng trách nhiệmhướng dẫn tín đồ, người tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt độ tôn giáo đúng quy địnhcủa pháp” luật[62, tr.13]

Sinh hoạt tôn giáo, lễ nghi tôn giáo: có hai đặc điểm chính Về chủ thể: có

thể do các thể nhân tôn giáo thực hiện đơn lẻ (như: đọc kinh, cầu nguyện…) và

có thể do các pháp nhân tôn giáo thực hiện (như: Ban hành giáo, hộ tự, Ban chấp

sự, Hội đồng tinh thần…) Về diễn biến: thực hiện theo lề luật và lễ nghi nhất

định, ví dụ: lễ thường, lễ trọng, các phép bí tích, các khóa hạ, giới đàn…Lề luật

và lễ nghi thường chứa đựng trong văn tự (hiện hữu trong ngôn ngữ văn tự) và

được thể hiện thành các hành vi có thể đo đếm (định lượng và định tính) thông

qua các sinh hoạt tôn giáo cụ thể: lễ hôn phối, lễ cầu siêu, lễ tấn phong

Cơ sở tôn giáo gồm“chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của

tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khácổchứccủa tôn giáo”[62,

Trang 29

tr.6] Cơ sở tôn giáo có sự thống nhất giữa bốn mặt: vật chất, tôn nghiêm, trụ sở

và sinh hoạt cộng đồng Mặt vật chất, đó là những địa điểm được xây dựng bằngvật liệu khác nhau, theo những mô hình kiến trúc khác nhau, thể hiện niềm tincủa từng tôn giáo Mặt tôn nghiêm, là nơi bái vọng, ngưỡng mộ, biểu hiện tìnhcảm và đức tin tôn giáo, nơi diễn ra những nghi lễ tôn giáo quan trọng Mặt trụ

sở, là nơi diễn ra hoạt động hành chính của đạo Mặt sinh hoạt cộng đồng, là nơidiễn ra các lễ hội tôn giáo, nơi sinh hoạt các hội đoàn tôn giáo… Trong các mặttrên, tôn nghiêm là mặt chi phối

Đồ dùng việc đạo bao gồm: kinh, sách, tượng, bài vị, tranh ảnh, cờ trống…;

trong đó mỗi đồ dùng có vai trò, vị trí khác nhau tùy theo lễ nghi của từng tôngiáo Đồ dùng việc đạo có chung một đặc điểm là sự thống nhất và đồng nhấtgiữa tính vật chất và tính biểu đạt Mặt vật chất, các đồ dùng được tạo nên bởicác chất liệu khác nhau dưới dạng vật chất cụ thể Mặt biểu đạt, mỗi đồ dùngbiểu đạt một nội dung nào đó và cái được biểu đạt chỉ được hiện hữu khi đồ dùngđược sử dụng vào một nội hoạt động tôn giáo cụ thể theo một lễ nghi nào đó.Trong các đồ dùng việc đạo thì kinh sách, tượng, bài vị là quan trọng nhất

Cơ sở vật chất khác: như khuôn viên (tạo nên cảnh quan kiến trúc văn hoá môi

trường), ruộng, đất, nhà chung, trường học, cơ sở từ thiện, những cơ sở vật chất

kỹ thuật này có hai mặt cơ bản Một mặt là tài sản của giáo hội, là nơi diễn ra cáchoạt động của tổ chức tôn giáo, của giáo hội cơ sở Một mặt được Nhà nước bảo

hộ bằng cách cấp các văn bản mang giá trị pháp lý, được giáo hội giao trách nhiệmquản lý hay giao quyền sử dụng các cơ sở thuộc quyền sở hữu của giáo hội

1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về tôn giáo

1.2.3.1 Mô hình quản lý

- Nội dung chung về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo gồm:+ Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đối với hoạt độngtôn giáo;

+ Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;

+ Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;

Trang 30

+Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công

chức làm công tác tôn giáo;

+ Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp

luật về hoạt động tôn giáo;

- Nội dung cụ thể của quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, gồm;

+ Quản lý về hoạt động tín ngưỡng;

+ Quản lý về sinh hoạt tôn giáo của tín đồ;

+ Quản lý về hoạt động của chức sắc, nhà tu hành;

+ Quản lý về công nhận tổ chức tôn giáo;

+ Quản lý về đại hội, hội nghị của tổ chức tôn giáo;

+ Quản lý về đào tạo của tổ chức tôn giáo;

+ Quản lý về phong chức, phong thần, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử trong tổ

chức tôn giáo;

+ Quản lý việc xây dựng cơ sở tôn giáo;

+ Quản lý về xuất bản kinh sách tôn giáo;

+ Quản lý về hoạt động từ thiện xã hội của cá nhân, tổ chức tôn giáo;

+ Quản lý hoạt động quốc tế của cá nhân, tổ chức tôn giáo

1.2.3.2 Phạm vi quản lý cụ thể

* Về tổ chức tôn giáo và công nhận tổ chức tôn giáo:

- Về việc công nhân tổ chức tôn giáo: có hai giai đoạn, trước hết là đăng ký hoạt

động tôn giáo, sau khi đăng ký hoạt động tôn giáo nếu đủ điều kiện, trong đó có điều kiện “hoạt động ổn định” thì được công nhận về tổ chức

Sau thời gian hoạt động ổn định, tổ chức đã đăng ký hoạt động tôn giáo muốn được xét công nhận về mặt tổ chức phải gửi hồ sơ đến Thủ tướng Chính phủ (tổ chức tôn giáo hoạt động trong phạm vi nhiều tỉnh) hoặc UBND cấp tỉnh (tổ chức tôn giáo hoạt động trong phạm vi một tỉnh) để được xem xét công nhận tổ chức tôn giáo.

- Về thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực

thuộc:được thực hiện theoĐiều 27và Điều 28Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.

Trang 31

* Về hội đoàn và dòng tu, tu viện của các tôn giáo:

- Về hội đoàn tôn giáo: Pháp luật xác định hội đoàn tôn giáo được xác định

là một hình thức tập hợp tín đồ do tổ chức tôn giáo lập ra nhằm phục vụ hoạtđộng tôn giáo Những hội đoàn do tổ chức tôn giáo lập ra không nhằm phục vụhoạt động tôn giáo thì việc thành lập và hoạt động thực hiện theo quy định củapháp luật về lập hội Những hội đoàn do tổ chức tôn giáo lập ra chỉ nhằm phục

vụ lễ nghi tôn giáo, khi hoạt động không phải đăng ký với cơ quan nhà nước cóthẩm quyền

Những trường hợp khác, tổ chức tôn giáo có trách nhiệm đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được hoạt động

Tùy từng phạm vi hoạt động cụ thể, hội đoàn có trách nhiệm đăng ký với UBND cấp huyện, UBND cấp tỉnh hoặc Ban Tôn giáo Chính phủ

- Về hoạt động của dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể: theo quy

định hiện hành, dòng tu, tu viện hoặc các tổ chức tu hành tập thể tương tự các tổchức này chỉ cần đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ( UBND cấphuyện, UBND cấptỉnh hoặc Ban tôn giáo Chính phủ) là có quyền hoạt động hợppháp

* Về việc đào tạo chức sắc của các tổ chức tôn giáo:

Tổ chức tôn giáo được thành lập trường đào tạo, mở lớp bồi dưỡng nhữngngười chuyên hoạt động tôn giáo.Trước khi thành lập trường, mở lớp, tổ chứctôn giáo phải có hồ sơ gửi Ban Tôn giáo Chính phủ hoặc cơ quan quản lý nhànước về tôn giáo cấp tỉnh Sau thời hạn quy định (60 ngày đối với việc thành lậptrường, 30 ngày đối với việc mở lớp), Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch UBNDcấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, trả lời tổ chức tôn giáo

* Về việc phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử trong tổ chức tôn giáo: Theo quy định của pháp luật, đây là công việc nội bộ của tổ chức tôn giáonên tổ chức tôn giáo có quyền thực hiệntheo hiến chương, điều lệ của tổ chức đãđược Nhà nước phê duyệt Trướckhi bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, tổ chức tôn giáo

có trách nhiệm gửi hồ sơđăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyển Những

Trang 32

người không đáp ứng những tiêu chí mà Nhà nước đặt ra sẽ không được Nhànước thừa nhận, nếu họ hoạt động tôn giáo sẽ là bất hợp pháp Riêng trường hợpphong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử công dân Việt Nam vào cácchức danh tôn giáo do nước ngoài quyết định thì phải có sự thỏa thuận trước vớiBan Tôn giáo Chính phủ.

* Về việc thuyên chuyển nơi hoạt động tôn giáo của chức sắc, nhà tu hành:được thực hiện theoquy định tại Điều 35 LuậtínTngưỡng, tôn giáo năm 2016

* Về ách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc: tổ chức tôn giáo, tổ chức tôngiáo trực thuộc cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc theo hiến chương củatổ chức vàthông báo bằng văn bản đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền

* Về hoạt động tôn giáo: luật pháp xác định, hoạt động tôn giáo là hoạt

độngtruyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chứctôncủagiáo Cụ thể từng nội dung sau:

- Sinh hoạt tôn giáo của tín đồ: Tín đồ có quyền tự do bày tỏ đức tin, thực

hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện, tham gia các hình thức sinh hoạt lễnghi tôn giáo và học tập giáo lý tôn giáo mà mình tin theo; hoạt động tôn giáophải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tínngưỡng, tôn giáo của người khác, thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáokhông cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân, hoạt động tínngưỡng, tôn giáo bảo đảm an toàn, tiết kiệm, tôn trọng quy định của cơ sở tôngiáo và tuân thủ quy định của pháp luật

- Hoạt động tôn giáo của chức sắc: Theo quy định của pháp luật, chức sắc

tôn giáo có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo trong phạm vi phụ trách, được giảngđạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo Việc thực hiện lễ nghi tôn giáo ngoài phạm viphụ trách, giảng đạo, truyền đạo người cơ sở tôn giáo phải có sự chấp thuận củaUBND cấp huyện nơi thực hiện

Hằng năm, tổ chức tôn giáo phải đăng ký chương trình hoạt động tôn giáo với UBND cấp xã, phườngĐối với những hoạt động tôn giáo ngoài chương trình

Trang 33

đã đăng ký thì tùy theo quy mô hoạt động tôn giáo, sự tham gia của tín đồ, phải được sự chấp thuận của UBND cấp tỉnh hoặc UBND cấp huyện.

- Hội nghị, đại hội của tổ chức tôn giáo:Hội nghị thường niên, đại hội của

tổ chức tôn giáo, tùy theo cấp tổ chức phải được sự chấp thuận của Ban Tôn giáoChính phủ, UBND cấp tỉnh hoặc UBND cấp huyện

- Hoạt động tôn giáo ngoài nơi thờ tự: Các cuộc lễ của tổ chức tôn giáo

diễn ra ngoài cơ sở tôn giáo: cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo phải có văn bản đềnghị gửi UBND cấphuyện hoặc UBND cấp tỉnh nơi diễn ra cuộc lễ

* Về quan hệ quốc tế của cá nhân, tổ chức tôn giáo: việc mời tổ chức, ngườinước ngoài vào Việt Nam để tiến hành các hoạt động trao đổi, hợp tác quốc tế cóliên quan đến tôn giáo; tham gia hoạt động tôn giáo ở nước ngoài của tổ chức tôngiáo; tham gia khóa đào tạo tôn giáo ở nước ngoài, tổ chức tôn giáo phải có hồ

sơ gửi Ban Tôn giáo Chính phủ Đối với chức sắc, nhà tu hành xuất cảnh ra nướcngoài không thuộc các trường hợp trên thì thực hiện theo quy định của pháp luậtvề xuất nhập cảnh

Về hoạt động tôn giáo của chức sắc, nhà tu hành nước ngoài tại Việt Nam

và sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam, pháp luật quy định:

- Chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài được phép giảng đạo tại cơ sởtôn giáo của Việt Nam nếu được tổ chức tôn giáo Việt Nam đề nghị và được BanTôn giáo Chính phủ chấp thuận

- Người nước ngoài khi vào Việt Nam được mang theo xuất bản phẩm tôngiáo và đồ dụng việc đạo để phụ vụ nhu cầu của bản thân; được tạo điều kiệnsinh hoạt tôn giáo như những tín đồ của Việt Nam; được mời chức sắc tôn giáo

là người Việt Nam đến thực hiện lễ nghi tôn giáo cho mình; phải tuân thủ phápluật Việt Nam và tôn trọng quy định của tổ chức tôn giáo Việt Nam

* Về việc sửa chữa, xây dựng cơ sở tôn giáo: hoạt dộng sửa chữa, cải tạo, nângcấp, xây dựng mới các công trình thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện theoquy định của pháp luật về xây dựng Việc quản lý, sử dụng đất có các công trình tínngưỡng, tôn giáo thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai Giải quyết đấtđai cụ thể liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện theo ba

Trang 34

nguyên tắc: một là, nhu cầu xây dựng cơ sở tôn giáo; hai là, tùy theo khả năng quỹ đất của địa phương; ba là, phụ thuộc vào quy hoạch xây dựng.

* Việc xuất bản, in, phát hành kinh sách: các tổ chức tôn giáo được xuấtbản, in phát hành kinh sách, báo, tạp chí và các xuất bản phẩm khác về tínngưỡng, tôn giáo; được kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm về tínngưỡng, tôn giáo, sản xuất đồ dùng phục vụ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, sảnxuất đồ dùng phục vụ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện theo quy địnhcủa pháp luật về xuất bản, pháp luật về xuất nhập khẩu văn hóa phẩm

* Việc quyên góp, nhận tài sản hiến tặng: tổ chức tôn giáo được tổ chức quyêngóp, nhận tài sản hiến, tặng, cho trên cơ sở tự nguyện của tổ chức, cá nhân trongnước và tổ chức, cá nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật Tùy theo phạm viquyên góp, tổ chức tôn giáo phải thông báo bằng văn bản trước khi quyên góp vớiUBND cấp xã, UBND cấp huyện hoặc UBND cấp tỉnh về mục đích, phạm vị, cáchthức, thời gian thực hiện quyên góp, cách thức sử dụng tài sản được quyên góp.Không được lợi dụng danh nghĩa cơ sở, tổ chức tôn giáo để quyên góp phục vụ lợiích cá nhân hoặc những mục đích trái pháp luật UBND nơi nhận thông báo có tráchnhiệm giám sát việc quyên góp theo nội dung thông báo

* Hoạt động từ thiện xã hội: tổ chức tôn giáo được Nhà nước khuyến khích,tạo điều kiện tham gia nuôi dạy trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; hỗ trợ cơ sở chămsóc sức khỏe người nghèo, người tàn tật, người nhiễm HIV/AIDS, bệnh nhânphong, tâm thần; hỗ trợ phát triển các cơ sở giáo dục mầm non và tham gia cáchoạt động khác vì mục đích từ thiện nhân đạo phù hợp với hiến chương, điều lệcủa tổ chức tôn giáo và quy định của pháp luật

Chức sắc, nhà tu hành, với tư cách công dân được Nhà nước khuyến khích tổ chức hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo theo quy định của pháp luật

Trang 35

Tiểu kết chương

Chương 1 đã làm rõ những khái niệm liên quan đến quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, bao gồm khái niệm về quản lý, quản lý nhà nước, tôn giáo, hoạt động tôn giáo, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Từ đó chỉ ra mục tiêu, khách thể và chủ thể, nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Những nội dung trên là cơ sở quan trọng để tác giả phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo được trình bày ở chương sau

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁOTRÊN ĐỊA BÀN

QUẬN HAI BÀ TRƯNG, THÀNH PHỐ HÀNỘI HIỆN NAY

2.1 Khái quát về vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội và tôn giáo trên

địa bàn quận Hai Bà Trưng

2.1.1 Vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Quận Hai Bà Trưng nằm phíaở Đông Nam Thành phố Hà Nội, là quận trung tâm của Thành phố Phía Đông giáp sông Hồng, phía Tây giáp quận Đống Đa và quận Thanh Xuân,phía Nam giáp quận Hoàng Mai, phía Bắc giáp quận Hoàn Kiếm Quận Hai Bà Trưng có diệntích tự nhiên 10,14 km2, dân số gần 32

vạn người Toàn quận có 20 đơn vị hành chính cấp phường (với 754 tổ dân ph 215 địa bàndân cư), 38 đơn vị hành chính sự nghiệp và 41 doanh nghiệp Có 16/20 phường có cơ sởtôn giáo

Quận Hai Bà Trưng có 91 di tích lịch sử, văn hóa và cách mạng (đã có 33 di

tích đã được xếp hạng) Trong đó có những di tích nổi tiếng như: Chùa Hương

Tuyết, Chùa Liên Phái, Chùa Thiền Quang - Quang Hoa - Pháp Hoa, Đền Hai Bà

Trưng, Đình Tương Mai, Di tích cách mạng 152 Bạch Mai, Khu tưởng niệm

đồng chí Hoàng Văn Thụ, Khu tưởng niệm nạn đói năm 1945, Di tích lịch sử

cách mạng kháng chiến 18 Nguyễn Du v.v Là cửa ngõ phía Nam của kinh

thành Thăng Long xưa, nên quận Hai Bà Trưng vẫn còn dấu tích của ba cửa ô là

ô Đồng Lầm, còn gọi là ô Kim Liên ở chỗ ngã tư đường Kim Liên-Đại Cồ Việt;

ô Cầu Dền, còn gọi là ô Thịnh Yên ở cuối phố Huế giáp phố Bạch Mai; ô Đống

Mác tức là ô Lương Yên, ở ngã ba Lò Đúc-Trần Khát Chân

2.1.1.2 Tình hình kinh tế-xã hội

- Về kinh tế: Trên địa bàn quận Hai Bà Trưng có nhiều nhà máy, xí nghiệp

của Trung ương và Hà Nội như: Dệt Kim Đồng Xuân; cảng Hà Nội; cụm công

Trang 37

nghiệp Minh Khai - Vĩnh Tuy với hàng chục xí nghiệp nhà máy, chủ yếu thuộccác ngành dệt, cơ khí, chế biến thực phẩm Kinh tế nhiều thành phần trên địa bànquận phát triển nhanh Hiện trên địa bàn quận có hơn 3.200 doanh nghiệp, trong

đó 70% là thương mại, dịch vụ, còn lại là hoạt động công nghiệp; có 2.166 hộkinh doanh cá thể.Hàng năm, giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanhtăng 14,5%; doanh thu thương mại, du lịch, dịch vụ tăng hơn 15%; tổng thu ngânsách nhà nước trên địa bàn quận luôn đạt và vượt chỉ tiêu được giao.Theo sốliệu báo cáo năm 2018, tình hình kinh -tếxã hội trên địa bàn quận tiếp tục ổnđịnh Theo đó, giá trị sản xuất trên địa bàn Quận năm 2018 tăng 16,6%, trong đódịch vụ tăng 18,7%, công nghiệp và xây dựng tăng 14,5% Tổng số thu ngânsách trên địa bàn 10 tháng năm 2018 đạt 7.982 tỷ 845 triệu đồng đạt 107%với sodự toán kế hoạch đề ra; ước thực hiện cả năm đạt 9.200 tỷ đồng đạt 123% so vdự toán kế hoạch đề ra, đạt 136% so với thu ngân sách thực hiện năm 2017

- Về công tác xã hội: Trong những năm qua, quận đã hỗ trợ sửa chữa và xâydựng 167 nhà đại đoàn kết, hỗ trợ cho 1.201 hộ gia đình thoát nghèo, trên 33.000lao động được giới thiệu việc làm Công tác y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình;công tác giáo dục và đào tạo; công tác thông tin tuyên truyền và tổ chức các hoạtđộng văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao tiếp tục giữ vững và đạt kết quả tốttrong nhiều năm qua

2.1.2 Tình hình và đặc điểm tôn giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

2.1.2.1 Tình hình tôn giáo trên địa bàn quận Hai Bà Trưng

Từ năm 2003 trở về trước, trên bànđịa quận Hai Bà Trưng có 04 tổ chứctôn giáo được Nhà nước công nhận, trong đó có 03 tôn giáo có cơ sở thờ tự vtín đồ (gồm Phật Giáo, Cao Đài, Công Giáo); 01 tôn giáo chỉ có tín đồ (đạo TLành); đạo Baha’i chưa đủ điều kiện được Nhà nước công nhận Hoạt động tôngiáo trên địa bàn quận tập trung ở 02 tôn giáo lớn là Đạo Phật và Đạo Cô

Giáo Đạo Tin Lành và đạo Cao Đài ít tín đồ và chưa được Nhà nước công nhnhiều hệ phái củao đạTin Lành nên hoạt động của 02 đạo này chưa có gì nổi bật

Trang 38

Sau khi triển khai thực hiện Nghị quyết số-NQ/TW25 ngày 12/3/2003 của

Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) về công tác tôn giáo cho đến nay, quận

Hai Bà Trưng hiện có05 tôn giáo được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân và đang hoạt động đó là: Đạo Phật, Đạo Công Giáo, Đạo Cao Đài, Đạo Ti Lành, Đạo Baha’i Có 03tôn giáo lớn có cơ sở thờ tự là Phật Giáo, Đạo Công Giáo, Đạo Cao Đài;óc03 điểm nhóm Tin Lành tư gia được công nhận, đủ điều kiện hoạt động trên địa bàn; Đạo’iBahađã được Nhà nước công nhận Số lượng tín đồ, chức sắc các tôn giáo có phần tăng so với giai đoạn trước Cụ thể:

Đạo Phật (Phật Giáo): Trên địa bàn quận hiện có 23 chùa (16 chùa đã được xếp hạng

di tích lịch sử) Trong đó, có 22 chùa có sư trụ trì, 01 chùa không có trụ trì (chùa Tổ Ông)

Về chức sắc: có 01 vị hòa thượng, 01 ni trưởng,ni 07sư,vị03 vị tỳ khiêu giữ

chức vụ, 60 vị sư, 07 vị tăng, 53 vị ni

Về tín đồ: Có khoảng 10.000 tín đồ theo Đạo Phật

Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam quận Hai Bà Trưng có 09 vị do Đại đức Thích Đạo Thông làm Trưởng ban Trị sự

Hoạt động tôn giáo của Phật giáo được thực hiện trên cơ sở giáo lý cơ bản

là thể hiện ở một số thuyết như: Tứ diệu đế, Duyên khởi, Vô thường, Vô ngã,

Nghiệp báo, Nhân quả, Luân hồi [71, tr.43] và trên cơ sở giáo luật của Phật Giáo

gồm: Ngũ giới, Thập thiện và Bát quan trai giới (dành cho tín đồ), Thập giới/Sa

di giới (dành cho tu sĩ mới xuất gia), Cụ túc giới/Tỷ khiêu giới (dành cho tu sĩ

chính thức) và Bồ tát giới (dành cho cả tín đồ/cư sĩ tại gia lẫn tu sĩ/tăng sĩ xuất

gia) [71, tr.45].

Những năm gần đây, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam quận Hai Bà Trưng đã

có nhiều kết quả tốt đẹp trong hoạt động hoằng pháp, Giáo hội luôn tổ

chức các hội nghị về sinh hoạt Phật giáo, tạo ra nhiều hoạt động Phật giáo quan

trọng, như: đào tạo tăng ni, giảng pháp cho dân chúng, tổ chức đại lễ đàn thụ

giới, tổ chức Đại Pháp hội để cầu an và truyền pháp, tham gia các chương trình

an sinh xã hội Hàng tuần, chương trình thuyết giảng định kỳ tại các lớp giáo lý

Trang 39

cơ bản và nâng cao cho Phật tử tại một số chùa được duy trì đều đặn đã thu hút

được đông đảo Phật tử tham gia Hoằng pháp ngoài trang bị giáo lý còn phát huy

tinh thần nhập thế của Phật giáo, hòa nhập quần chúng, thích nghi với đối tượng,

có nội dung thích ứng và lắng nghe nhu cầu, tâm tư của quần chúng Phật tử

Hoạt động xã hội của Phật giáo được thể hiện ở chỗ trong thời gian qua, Phật

Giáo quận Hai Bà Trưng tích cực tham gia các hoạt động xã hội, có nhiều đóng

góp trên các lĩnh vực y tế, giáo dục và từ thiện nhân đạo, tiêu biểu như:

tặng những xuất cơm, cháo cho các bệnh nhân nghèo đang điều trị tại bệnh việ (chùa Liên Phái, chùa Đức Viên, chùa Vua, chùa Thanh Nhàn,…).Ngoài ra,

Phật Giáo quận Hai Bà Trưng còn tích cực vận động cứu trợ đồng bào bị thiên tai,

ủng hộ xây dựng nhà tình nghĩa, trợ cấp học bổng cho học sinh và sinh viên nghèo

hiếu học, ủng hộ các chiến sĩ biên cương và hải đảo, hỗ trợ các thương binh, bệnh

binh, bệnh nhân nghèo khó…

Ngoài ra, các chức chắc, chức việc và nhà tu hành của Phật Giáo cũng tích cực

tham gia vào cơ quan dân cử, tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội các cấp Trong kỳ bầu

cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐNDnhiệmcác cấp

kỳ 2016- 2021 đã có 02 vị chức sắc trúng cử đại biểu HĐND cấp quận;c 05 chư sắc trúng

cử đại biểu HĐND cấp phường; đặc biệt có 01 chức sắc trúng cử biểu HĐND 2 cấp (cấpquận và cấp phường) Bên cạnh đó, các chức sắc còn th gia vào hoạt động của Ủy banMTTQ cấp quận và phường

Nhìn chung, hoạt động của Phật Giáo trên địa bàn quận về cơ bản là ổ định do được sự quan tâm giúp đỡ thường xuyên cả về vật chất và tinh thầ của Đảng, chính quyền địa phương, được nhân dân phát tâm công đức để tu sửa nơi thờựt và duy trì các hoạt động Hoạt động nội bộ của các tăng ni đ ngày càng chú trọng vào việc nâng cao chất lượng và trình độ trên nhiều mă Chức sắc, tín đồ Đạo Phật có tư tưởng đồng hành cùng dân tộc, chấpt hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tha gia tích cực các phong trào của địa phương, luôn ủng hộ các hoạt động củ chính quyền địa phương

Trang 40

Đạo Công Giáo (Thiên Chúa Giáo):Trên địa bàn quận hiện có 02 nhà thờ họ là

nhà thờ Trung Chí và nhà thờ Tân Lạc, 01 dòng tu là“ConDòngĐứctu

Mẹ Mân Côi- Chí Hòa” Trong đó, nhà thờ Trung Chí thuộc giáo xứ Hàm Long, nhà thờ Tân Lạc đã có quyết định lên giáohiệnxứ vàkhông còn thuộc giáo xứ Hàm Long

Về chức sắc: có 02 chức sắc tôn giáo

Về tín đồ: có 2024 tín đồ

Hoạt động tôn giáo của Công Giáo trên cơ sở hệ thống giáo lý trong Cựu

ước và Tân ước có 5 tín điều cơ bản: (1) Thiên Chúa và sự sáng tạo thế giới của

Thiên Chúa (2) Con người và sự sa ngã của con người (3) Chúa Giêsu và công

cuộc cứu chuộc (4) Chúa Giêsu trở lại và sự phán xét cuối cùng (5) Thiên

đường và Địa ngục, thiên thần và ma quỷ Giáo lý Công giáo thể hiện tập trung ở

các nội dung: Chỉ tin thờ một Thiên Chúa Chúa Giêsu Kitô, do Đức Mẹ Maria

sinh hạ, vừa là Người thật vừa là Chúa thật, chết 3 ngày rồi sống lại, ở trần gian

40 ngày rồi về trời Con người do Thiên Chúa tạo ra, có phần hồn và phần xác,

mắc tội tổ tông truyền, ai không theo đạo sẽ không được cứu rỗi Giáo hoàng là

thủ lĩnh tối cao của Giáo hội Giáo hội có quyền thay mặt Thiên Chúa tha tội cho

con người Giáo hội có 7 phép bí tích (Rửa tội, Thêm sức, Giải tội, Thánh thể,

Xức dầu, Truyền chức, Hôn phối) do Chúa Giêsu thiết lập để con người được

hưởng hồng ân của Thiên Chúa Song cùng với hệ thống giáo lý, Công giáo hoạt

động theo giáo luật được ghi trong Bộ Giáo luật 1983 (đề cập về hành đạo, quản

đạo và truyền đạo) và được sử dụng trên toàn thế giới, trong đó có các nội dung

chủ yếu, gồm: Mười điều răn của Thiên Chúa gồm: phải thờ kính Thiên Chúa

trên hết; không được lấy danh Thiên Chúa để làm những việc phàm tục, tầm

thường; dành ngày chủ nhật để thờ phụng Thiên Chúa; thảo kính cha mẹ; không

được giết người; không được dâm dục; không được tham lam lấy của người

khác; không được che giấu sự giả dối; không được ham muốn vợ chồng người

khác; không được ham muốn của cải trái lẽ Sáu điều răn của Giáo hội gồm: dự

lễ chủ nhật và các ngày lễ buộc; kiêng việc xác ngày chủ nhật cùng các ngày lễ

Ngày đăng: 09/12/2019, 08:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w