VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAMHỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐẶNG XUÂN LỘC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG XUÂN LỘC
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG XUÂN LỘC
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn "Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai" là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
trong cùng lĩnh vực đã được công bố trước đây
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Đặng Xuân Lộc
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 8
1.1 Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều trađối với vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác 8
1.1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với
vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
8
1.1.2 Vị trí, vai trò, ý nghĩa của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 23
1.2 Quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự về thực hành quyềncông tố trong giai đoạn điều tra đối với vụ án cố ý gây thương tích hoặc gâytổn hại cho sức khỏe của người khác 25
1.2.1 Quy định của pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 25
1.2.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố đối trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 31
1.2.3 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố với hoạt động kiểm sát điều tra vụ án vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Error! Bookmark not defined.
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TỪ THỰC
TIỄN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI 43
2.1 Tình hình, đặc điểm có liên quan đến thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 43
2.1.1 Tình hình tội phạm 43
2.1.2 Cơ cấu tố chức của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 44
2.2 Thực trạng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 46
2.2.1 Những kết quả đạt được 46
2.2.2.Tồn tại, hạn chế 51
2.2.3.Nguyên nhân 53
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI 58
3.1 Phương hướng chung 58
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 61
3.2.1 Giải pháp nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng 61
Trang 63.2.2 Giải pháp tăng cường công tác hướng dẫn luật 63
3.2.3 Một số giải pháp khác 66
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Thực hành quyền công tốViện kiểm sát nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tổng số vụ án hình sự đã khởi tố trên địa bàn Thành phố Biên Hòa,
tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2013 -2018
Bảng 2.2: Tổng số bị can đã bị khởi tố hình sự trên địa bàn Thành phố Biên
Hòa, tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2013 - 2018
Bảng 2.3 Tổng số vụ án và bị can bị khởi tố của tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Trên địa bàn Thành phố BiênHòa, tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2013 - 2018
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai là trung tâm công nghiệp trọng
điểm của cả nước và là đầu mối giao thông quan trọng của vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam Với đặc điểm địa lý, kinh tế, tôn giáo và dân số đa dạng nên
Biên Hòa luôn là điểm nóng về tội phạm, mà nổi cộm nhất là loại tội phạm
xâm phạm đến sức khỏe của người khác Việc xử lý loại tội phạm này nhằm
ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương là vấn đề cấp bách luôn
được cấp ủy và chính quyền thành phố quan tâm Các cơ quan tố tụng thành
phố Biên Hòa đã có nhiều biện pháp đấu tranh, phòng chống loại tội phạm
này nhưng những vụ việc xâm hại đến sức khỏe của người khác trên địa bàn
thành phố vẫn có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và tính chất nguy hiểm
Trong khi, các văn bản áp dụng pháp luật chưa được cụ thể, rõ ràng và đầy đủ
dẫn đến còn nhiều bất cập trong việc điều tra, xử lý các hành vi vi phạm đôi
lúc chưa nghiêm, nhiều vụ việc lẽ ra người có hành vi vi phạm phải bị truy
cứu trách nhiệm hình sự nhưng chỉ bị xử phạt hành chính hoặc tuy có bị truy
cứu trách nhiệm hình sự nhưng lại được áp dụng hình phạt quá nhẹ, nên
không có tác dụng giáo dục và phòng ngừa Các quy định pháp luật về xử lý
đối với loại hành vi xâm hại sức khỏe chưa theo kịp đòi hỏi của thực tiễn về
tình hình phát triển kinh tế-xã hội
Hoạt độngTHQCT của VKSND đối với nhóm tội phạm nàyhiện còn
bộc lộ những tồn tại nhất định như: chưa đề ra yêu cầu xác minh, yêu cầu điều tra kịp thời; việc đánh giá chứng cứ còn phiến diện dân đến chưa xác định
đúng tội danh, khung hình phạt; chưa phối hợp chặt chẽ vớicơ quan điều tra trong quá trình điều tra giải quyết vụ án dẫn đến nhiều vụ việc phải từ chối phê chuẩn hoặc phê chuẩn chậm, để thời hạn điều tra vụ án bị kéo dài quá hạn, có vụ việc
điều tra không kịp thời dẫn đến bỏ lọt tội phạm
Trang 10Để có những nghiên cứu từ lý luận đến thực tiễn, đánh giá thực trạng và tìm ra giải pháp khắc phục những khó khăn, tồn tại, vướng mắc để công tác
THQCT đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác của VKSND thành phố Biên Hòa ngày càng tốt hơn, đảm bảo việckhởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; Không để xảy ra tình trạng bắt, tạm giữ, tạm giam trái pháp luật, không làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của công
dân; luôn đảm bảo việc điều tra khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật;
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, tác giả quyết định chọn đề tài "Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai" làm luận văn tốt nghiệp cao học luật chuyên ngành Luật hình
sự và tố tụng hình sự
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian nghiên cứu đề tại này, tác giả đã tiếp cận, tham khảo được một số bài viết, công trình nghiênứu ccủa các nhà tác giả khác trên các tạp chí,
diễn đàn khoa học về quyền công tố như: "Những giải pháp nâng cao chất lượng thực VKSND tối cao; "Quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp" của Lê Hữu Thể; "Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố
và kiểm sát điều tra án hình sự về trật tự xã hội" của Trần Mai Lâm; "Một số kinh nghiệm trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ
án giết người" của VKSND tối cao; “Về thực hiện quyền công tố của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự, thựcễn tivà kiến nghị” của Vũ Mộc;“Một số vấn đề lý luận cơ bảnềvquyền công tố” của Lê Cảm;;
Các luận văn thạc sĩ như:"Thực hành quyền công tố đối với cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo pháp luật tố
Trang 11tụng hình sự Việt Nam từ thực tiển huyện Phổ Đức, tỉnh Quang Ngãi" của tác giả Lý Tường Vy (năm 2015) ; “Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra tội giết người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thựcễnỉnhti Bình Phước” của tác giả Nguyễn Quốc Hân (2015);.… những luận văn này
đã nghiên cứu sâu về mặt lý luận về chức năngTHQCT của VKSND và đãđưa ra một số giải pháp cụ thể Tuy nhiên, sau thời điểm BLTTHSnăm 2015
và BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực, đã có nhiều quyđịnh mới về THQCT, về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác” quy định tại Điều 134 BLHS Từ đó, đòi hỏi nhữngngười thi hành nhiệm vụ trong các cơ quan tố tụng cần nhanh chóng có những
đề xuất các giải pháp cụ thể về thực hành quyền công tố đối với tội danh này Vì
vậy, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài"Thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từ thực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai" nhằm
đưa ra các phương pháp mới khi thực hiện nhiệm vụ THQCT trong ngànhkiểm sát
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá làm rõ những vấn đề lý luận và thựctiễn về công tác THQCT trong gia đoạn điều tra đối với Tội cố ý gây thươngtích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố
Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo quy định của Luật TTHS Việt Nam; đánh giá
ưu khuyết điểm, các hạn chế, thiếu sót, vướng mắc trong các quy định củapháp luật, của người tiến hành tố tụng
- Đưa ra những giải pháp hoàn thiện, khắc phục, sửa chữagóp phần nângcao hiệu quả trong quá trình thực hiện chức năng thực hành quyền công tố
củaVKSND thành phố Biên Hòa và trong toàn ngành kiểm sát nói chung
Trang 123.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứutrên, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu cụ thểsau:
Một là, làm sáng tỏ những vấn đềlý luận của đề tài nhưkhái niệm, phân
tích những dấu hiệu pháp lý hình sự củaTội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; khái niệmTHQCT và đặc trưng của công tác THQCT đối với các tội danh này
Hai là, phân tích luật thực định vềTHQCT, đánh giá thựctiễn công tác
THQCT trong giai đoạn điều tra đối với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại VKSND thành phố Biên Hòa Từ đó nhận xét chính xác hạn chế của luật hiện hành, các vướng mắc trong thực tiễn
THQCT của ngành kiểm sát nói chung và của VKSND thành phố Biên Hòa nói riêng
Ba là, xây dựng các quan điểm và đề xuất các giải pháp cụ thể có tính
khả thi nhằm đảm bảo THQCT trong giai đoạn điều tra đối với Tội cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của VKSND thànhphố Biên Hòa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiênứu clà quy định của pháp luật hình sự, quyđịnh của pháp luật Tố tụng hình sự ViệtamN về THQCT đối với Tội cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, trên phương diện lýluận và thực tiễnTHQCT của VKSND thành phố Biên Hòa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu về công tác THQCT củaVKSND trong giai đoạn điều tra đối với Tội cố ý gây thương tích hoặc gâytổn hại cho sức khỏe của người khác trên phương diện lý luận dưới góc độ tố
Trang 13tụng hình sự và hình sự,thực tiễn áp dụng.
- Về thời gian: Từ năm 2013 đến năm 2018
- Về địa bàn: Thành phố Biên hòa, tỉnh Đồng Nai
- Về chủ thể: VKSND thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền,về đấu tranh phòng, chống tội phạm, về vấn đề cảicách tư pháp được thể hiện trong các nghị quyết của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp,Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ViệtNam đến năm 2020;các luận điểm chung của khoa học pháp lý tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình sự
Phương pháp nghiên cứu tác giả sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề
tài:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích và tổng hợp: Từ nguồn tài
liệu liên quan đến đề tài luận văn, tác giả sẽ tổng hợp rút ra những vấn đề lý
luận và quy định chung của pháp luật về THQCT trong giai đoạn điều tra đối
với vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Nghiên cứu, phân tích các văn bản pháp luật có liên quan, đánh giá số liệu
thống kê, qua đó giúp tác giả nắm được các khía cạnh của vấn đề cần nghiên
cứu nhằm đưa ra nhận xét, đề xuất về những vấn đề cơ bản của luận văn
- Phương pháp so sánh: Qua tổng hợp, phân tích các quy định trước
đây, những vần đề hiện nay của pháp luật Tố tụng hình sự nước ta về thực
hành quyền công tố, tác giả xác định những điểm giống, khác nhau trong các
quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật với cách nhìn nhận, đánh
giá theo từng thời điểm lịch sử cụ thể
Trang 14- Phương pháp tiếp cận hệ thống và thống kê: Dựa trên những thông tinthu thập được về vấn đề nghiên cứu, thực tiễn công tác THQCT tại VKSNDthành phố Biên Hòa, tác giả sẽ hệ thống hóa theo một cấu trúc logic, khoahọc, qua đó tác giả có được nhận thức một cách biện chứng, tổng thể và kháiquát nhất về tình hình, đặc điểm của loại án này trong những năm gần
đây để minh chứng cho các luận điểm, kết luận đã nêu ra trong luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn có ý nghĩa về lý luận cũng như thựctiễn
- Về lý luận: Luận văn góphần làm sáng ỏt những lý luậnềvTHQCT
trong gia đoạn điều tra đối với Tộicố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại chosức khỏe của người khác như khái niệm, các đặc trung pháp lý của tội này,cũng như chức năng, nhiệm vụủca VKSND Luận văn có thể được sử dụnglàm tư liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập củangành kiểm sát
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham
khảo cho kiểm tra viên, kiểm sát viên các cấp nghiên cứu, vận dụng trongthực tiễn công tác để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả của công tác này.Đồng thời, có thể giúp các nhà quản lý, lãnh đạo ngành kiểm sát định hướngtrong công tác quản lý, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; trong xây dựng,hoàn thiện các văn bản pháp luật, quy chế nghiệp vụ có liên quan đến hoạtđộng THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gâytổn hại cho sức khỏe của người khác
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định chung của pháp luật về
Trang 15thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với vụ án cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra
vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác từthực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Chương 3: Phương hướng và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quảkhởi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thươngtích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bản thành phốBiên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI
CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC
1.1 Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1.1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1.1.1.1 Khái niệm thực hành quyền công tố
Hiến pháp 1980 là văn bản pháp lý đầu tiên sử dụng thuật ngữ "Thựchành quyền công tố" khi đề cập đến chức năng của VKSND (Điều 138) vàmới nhất là Hiến pháp năm 2013 (Điều 107) Hiện chưa có tài liệu, văn bảnchính thức nào ghi nhận rõ ràng, cụ thể khái niệm, nội dung, phạm vi quyềncông tố và THQCT Đó cũng chính là lý do dẫn đến sự thiếu thống nhất vềnhận thức trong hoạt động THQCT Do vậy phải làm rõ thế nào là “quyềncông tố” thì mới làm rõ được thế nào là THQCT
Công tố là t từ ghép Hán - Việt được hình thành từ hai từ “công” và
“tố” Theo từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản khoa học xã hội xuất bản năm
1994 tại các trang 200, 204, 973 thì: "tố" có nghĩa là "nói công khai cho mọingười biết việc làm sai trái, phạm pháp của người phạm tội khác", còn "công"
có nghĩa là "thuộc về Nhà nước chung cho mọi người, khác với tư"; "Công tố"
là "điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước tòa án".Như vậy "công tố" theo từ điển Tiếng Việt là một khái niệm bao gồm: điềutra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp, phát biểu ý kiến trước tòa án
Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân thì quyền công tố là: Quyền
Trang 17của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan công tố, xét xử, điều tra)dùng để điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước Tòa án hay là quyềntruy tố, buộc tội cá nhân, tổ chức trước pháp luật.
Trong tiếng Anh, công tố (prosecute) có nghĩa là thẩm quyền về mặtnhà nước đại diện cho quyền lực công thực hiện một số quyền năng pháp lý
để bảo vệ lợi ích của nhà nước, tập thể và công dân Như vậy, công tố là mộttrong những hình thức cáo buộc của nhà nước đối với người hoặc pháp nhânthực hiện hành vi vi phạm pháp luật Trong công tố, nhà nước là bên thựchiện sự cáo buộc và bên bị cáo buộc không chỉ là con người mà còn có thể làpháp nhân và cáo buộc của nhà nước được thể hiện trong nhiều lĩnh vực màhành vi vi phạm được thực hiện đã xâm phạm tới Công tố, vì vậy, theo tácgiả cần được hiểu là sự cáo buộc của nhà nước đối với người hoặc pháp nhân
đã có hành vi vi phạm pháp luật trước tòa án
Việc xác định quyền công tố và theo đó là THQCT có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn rất quan trọng Quyền công tố là quyền của nhà nước đưa các vụviệc vi phạm pháp luật ra cơ quan xét xử Khái niệm công tố hoàn toàn đối lậpvới khái niệm tư tố (tự mình nhân danh lợi ích cá nhân, riêng tư để cáo giác,khởi kiện ra tòa) Sự ra đời của chế định tư tố trong pháp luật xuất phát từquan niệm cho rằng, việc bảo vệ lợi ích cá nhân bị người khác xâm phạm làviệc riêng tư của mỗi người, nhà nước không cần thiết và không có tráchnhiệm phải can thiệp
Hiện nay, phạm vi và chủ thể thực hiện quyền công tố vẫn còn nhiều ýkiến khác nhau, nổi bật là các quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân
theo pháp luật được thực hiện trong lĩnh vực tố tụng hình sự đều là THQCT.Theo quan điểm này, quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiệncác chức năng do BLTTHS quy định để kiểm sát việc điều tra tội phạm, để
Trang 18truy tố, buộc tội người phạm tội trước tòa án nhằm đạt được mục đích xét xửđúng người, đúng tội và đúng pháp luật, góp phần bảo đảm quyền tự do dânchủ của con người, bảo vệ các lợi ích của xã hội, của nhà nước.
Quan điểm thứ hai cho rằng:
Quyền công tố là quyền chỉ tồn tại duy nhất trong tố tụng hình sự Từ
đó, họ đưa ra khái niệm về quyền công tố là: Quyền của nhà nước truy cứutrách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; quyền này được giao cho VKS.VKS có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định tộiphạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội Trên cơ sở đó truy tố bị can ratrước tòa án và bảo vệ buộc tội đó trước phiên tòa
Quan điểm thứ ba và cũng là quan điểm phổ biến được đưa vào giáo
trình giảng dạy trong ngành kiểm sát nhân dân Quan điểm này cho rằng:
Quyền công tố được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, tố tụnghình sự Sau đó, quyền công tố được mở rộng sang lĩnh vực dân sự và các lĩnhvực tư pháp khác Theo họ, quyền công tố là "Quyền đại diện cho nhà nước
để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ nhànước, bảo vệ trật tự pháp luật", phạm vi THQCT được tiến hành trong khithực hiện các công tác kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sátviệc giải quyết các vụ án dân sự, lao động, hành chính, kiểm sát thi hành ándân sự, kiểm sát việc quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, kiểmsát thi hành án hình sự và công tác điều tra tội phạm
Quan điểm thứ tư cho rằng: Quyền công tố là quyền của nhà nước giao
cho VKS mà trực tiếp là KSV thay mặt nhà nước thực hiện việc buộc tội tạiphiên tòa Nội dung của quyền công tố là đưa ra lời buộc tội những chủ thểphạm tội và chứng minh tính có căn cứ và tính hợp pháp của cáo trạng tạiphiên tòa sơ thẩm Quan điểm này coi quyền công tố chỉ là sự buộc tội tạiphiên tòa, việc thực hiện quyền đó là thuộc VKS Đó là sự nhầm lẫn giữa
Trang 19quyền công tố và THQCT Trên thực tế hoạt động truy tố và duy trì quyềncông tố của KSV trước tòa chỉ là một phần THQCT theo đúng nghĩa của nó,còn chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật là hoạt động kiểm tra tính cócăn cứ, tính hợp pháp trong quyết định và hành vi của cơ quan tiến hành tốtụng và người tiến hành tố tụng Khi thực hiện chức năng này ngoài quyềnkiến nghị, kháng nghị và quyền yêu cầu chấm dứt, khắc phục vi phạm phápluật, VKS không có quyền tự quyết định như khi THQCT.
Do chưa xác định đúng đối tượng, nội dung và phạm vi của quyền công
tố trong mối quan hệ với các lĩnh vực pháp luật dẫn đến có quan điểm thu hẹphoặc mở rộng phạm vi của quyền công tố, hoặc nhầm lẫn giữa quyền công tốvới hoạt động thực hiện quyền công tố Có thể nói nơi nào mà pháp luật chophép VKS nhân danh lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội đưa vụ án ra tòa để quátrình truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với người vi phạm, nên quá trình nàybắt đầu từ việc khởi tố vụ án hoặc khởi kiện và chấm dứt khi có phán quyết cóhiệu lực pháp luật của cơ quan xét xử hoặc khi có căn cứ triệt tiêu quyền công
tố ở giai đoạn sớm hơn Quyền công tố không chỉ trong lĩnh vực Tố tụng hình
sự mà mở rộng trong cả các lĩnh vực khác như dân sự, kinh tế, hành chính, laođộng
Tóm lại, nghiên cứu các quan điểm trên có thể đưa ra nhận xét: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho VKS nhân dân để đưa vụ án ra xét
xử trước tòa án nhằm bảo vệ lợi ích nhà nước, tổ chức và của công dân theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Để xác định đúng đắn phạm vi quyền công tố trong Tố tụng hình sựcần phải nhận thức sâu sắc rằng: Quyền công tố là quyền của nhà nước truycứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Không thể đồng nhất quyềncông tố với việc THQCT, bởi quyền công tố là quyền của Nhà nước để yêucầu trừng phạt người phạm tội, còn THQCT là việc sử dụng các biện pháp do
Trang 20luật định để đạt được mục tiêu trừng phạt đó.
Như vậy, phạm vi quyền công tố trong Tố tụng hình sự bắt đầu từ khitội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị khángnghị
Vậy quan niệm về quyền công tố thế nào cho chính xác Theo tác giả,bản chất của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật là việc kiểm tra tính
có căn cứ và tính hợp pháp trong hành vi và quyết định của các chủ thể bịkiểm sát Do đó, đối tượng của hoạt động kiểm sát trong tố tụng hình sự phải
là hành vi xử sự của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng.Quyền công tố là quyền buộc tội, còn tiến hành như thế nào là do luật địnhnhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội là THQCT Xuấtphát từ bản chất của quyền công tố và đối tượng tác động của quyền công tốnhư đã nêu trên, tác giả quan niệm rằng: Nội dung quyền công tố chính là sựbuộc tội đối với người đã thực hiện tội phạm
Điều 20 BLTTHS quy định: VKS THQCT và kiểm sát việc tuân theopháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội; phát hiện vi phạmpháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhânphạm tội đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oanngười vô tội THQCT được xác định là chức năng của VKS trong các giaiđoạn tố tụng Điều đó được khẳng định trong BLTTHS và Luật Tổ chứcVKSND về công tác thực hiện chức năng của VKS trong tố tụng hình sự.Những quy định trên đây của pháp luật hiện hành cũng cho thấy quyền công
tố trong tố tụng hình sự phát sinh từ khi có tội phạm xảy ra đến khi ra bản án
có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị
Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: Quyền công tố là quyền
Trang 21của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát thực hiện theo quy định của pháp luật
để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chủ thể phạm tội thực hiện sự buộc tội đối với chủ thể đó trước tòa án.
Trong tố tụng hình sự, phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi có tộiphạm xảy ra và kết thúc khi ra bản án đã có hiệu lực pháp luật, không bịkháng cáo, kháng nghị Pháp luật hình sự quy định, VKS là cơ quan được giaoTHQCT và chỉ có VKS là cơ quan có quyền độc lập phát động quyền công tố
mà không chịu sự can thiệp của bất cứ cơ quan nhà nước nào Nếu quyết địnhkhởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra không có căn
cứ và trái pháp luật thì VKS có quyền hủy bỏ Quyết định khởi tố vụ án hình
sự của tòa án đều phải được gửi cho VKS xem xét, nếu có vi phạm pháp luậtthì VKS có quyền kháng nghị
Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra chỉ có quyền đề nghị việc ápdụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đối với tất cả các trườnghợp VKS đã phê chuẩn, còn việc quyết định là do VKS; Cơ quan điều tra cóquyền độc lập thu thập tài liệu, chứng cứ, nhưng việc bảo đảm cho các tài liệuchứng cứ ấy có căn cứ và đủ cơ sở để truy tố bị can hay không là trách nhiệmcủa VKS Trong trường hợp không đủ căn cứ để buộc tội, VKS có quyền yêucầu cơ quan điều tra bổ sung tài liệu chứng cứ; có quyền đình chỉ vụ án; yêucầu cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật hoặc xử lý hành chính người đã cóhành vi vi phạm pháp luật Khi có đủ tài liệu chứng cứ chứng minh hành viphạm tội và xét thấy đủ căn cứ để xử lý hành vi phạm tội của người đó trướcTòa án thì VKS quyết định truy tố bị can ra Tòa BLTTHS đã quy định chứcnăng THQCT của VKS trong tố tụng hình sự rất lớn là: Được áp dụng cácbiện pháp do BLTTHS để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội loại trừviệc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này nhằm bảo đảmmọi hành vi phạm tội, người phạn tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật
Trang 22đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh; việc khởi tố, điều tra,truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọttội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội(Điều 20 BLTTHS).
Như vậy, THQCT là việc Viện kiểm sát sử dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó.
Phạm vi quyền công tố và THQCT bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra vàkết thúc khi ra bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị.Tuy nhiên, trên thực tế không phải trong mọi trường hợp quyền công tố kéodài như vậy mà có thể bị triệt tiêu ở giai đoạn tố tụng sớm hơn theo quy địnhcủa BLTTHS Điều này có nghĩa là, không phải mọi vụ án đều được đưa raxét xử trước tòa án, khi chấm dứt quyền công tố thì đồng thời cũng không cóviệc THQCT Vì vậy, tác giả hoàn toàn tán thành quan điểm cho rằng: Hoạtđộng công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quátrình tố tụng nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội Đóchính là phạm vi THQCT
Tóm lại: Phạm vi THQCT bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi
ra bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị hoặc vụ án được đình chỉkhi có một trong những căn cứ do BLHS và BLTTHS quy định
Như vậy, những quyền năng pháp luật cho phép VKS tự quyết định liênquan đến việc buộc tội bị can, bị cáo thì đó là chính là những quyền năngthuộc nội dung THQCT; những quyền năng pháp lý mà VKS sử dụng để pháthiện và yêu cầu xử lý vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, ngườitiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng là những quyền năng thuộc chứcnăng kiểm sát việc tuân theo pháp luật Tuy nhiên, có một số hành vi tố tụngthể hiện sự đan xen giữa THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật như
Trang 23quyết định kháng nghị phúc thẩm hình sự của VKS đối với bản án hoặc quyếtđịnh của tòa án chưa có hiệu lực pháp luật Quyết định kháng nghị có thể baohàm hai nội dung: có sự vi phạm trong việc áp dụng pháp luật hình sự và có viphạm nghiêm trọng về TTHS hoặc chỉ thể hiện một trong hai nội dung trênnhưng đều làm phát sinh một trình tự xét xử mới Chính vì lẽ đó, theo luậtđịnh VKS thực hiện đồng thời hai chức năng là THQCT và kiểm sát hoạtđộng tư pháp.
Hiện nay trong lý luận và thực tiễn còn có một số quan điểm khác nhau
về THQCT và chủ thể THQCT Nhưng theo tác giả, chỉ có cơ quan nào sửdụng tất cả các quyền năng pháp lý cần thiết để quyết định việc buộc tội củaNhà nước đối với người phạm tội trong cả giai đoạn điều tra và giai đoạn xét
xử hình sự tại tòa án thì đó là cơ quan THQCT
Từ những vấn đề vừa phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: THQCT là việc VKS sát sử dụng tổng hợp các quyền năng tố tụng độc lập, quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng.
1.1.1.2 Khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Điều 8 BLHS năm quy định: “1 Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xãhội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sựhoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạmđộc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độchính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xãhội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm quyền con người, lợi ích hợppháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xãhội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” Điều
143 BLTTHS quy định: “Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định códấu hiệu tội phạm Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau
Trang 24đây: Tố giác của cá nhân; Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Tin báo trênphương tiện thông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; Cơquan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tộiphạm; Người phạm tội tự thú”.
Như vậy, pháp luật hiện hành không quy định khái niệm thế nào là vụ
án hình sự Tuy nhiên, căn cứ các quy định của BLTTHS có thể hiểu: Vụ án hình sự là vụ án phát sinh khi vụ việc phạm pháp bị phát hiện có dấu hiệu tội phạm đã được quy định trong BLHS được cơ quan có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, Cơ quan được được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra,VKSND , Toà án nhân dân) ra quyết định khởi tố vụ án để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đã được quy định trong BLTTHS.
Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự thứ hai mà trong đó
cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một sốhoạt động điều tra theo luật định, căn cứ vào các quy định của pháp luật tốtụng hình sự và dưới sự kiểm sát của VKS tiến hành các biện pháp cần thiếtnhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ ánhình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗitrong việc thực hiện tội phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thờibảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và đạt
được mục đích chung của quá trình tố tụng, đó là: “Phát hiện chính xác nhanh chóng và xử lý công minh kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội” [19, tr.19].
Với tính chất là một giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự, giai đoạnđiều tra vụ án có chức năng thực hiện những nhiệm vụ cụ thể nhằm áp dụngcác biện pháp cần thiết do luật định để chứng minh việc thực hiện tội phạm vàngười phạm tội, xác định rõ những nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đồngthời kiến nghị các cơ quan và tổ chức liên quan áp dụng đầy đủ các biện pháp
Trang 25khắc phục, phòng ngừa tội phạm; Giai đoạn này được bắt đầu từ khi cơ quan(người) tiến hành tố tụng có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự
và kết thúc khi cơ quan điều tra sẽ ra quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án hình
sự hoặc chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho VKS kèm theo kết luậnđiều tra và đề nghị truy tố bị can trước Tòa án
Mục đích của hoạt động điều tra vụ án hình sự là để chứng minh sự thậtcủa vụ án Mọi hành vi tội phạm xảy ra đều được phản ánh trong hiện thựcnhững thay đổi trên thực tế cho hành vi phạm tội gây ra, từ đó để lại nhữngdấu vết vật chất, dấu vết tâm, sinh lý được thu thập, những dấu vết này đượcthu thập theo trình tự tố tụng hình sự sẽ trở thành những chứng cứ của vụ án.Ngoài ra, mỗi vụ án là một sự kiện phạm tội diển ra trên thực tế do vậy đểchứng minh sự thật của vụ án chỉ có thể là những tài liệu thực tế hay chính lànhững chứng cứ pháp lý
Như vậy, có thể hiểu: Điều tra vụ án hình sự là hoạt động tố tụng của
cơ quan điều tra và cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật dưới sự kiểm sát của VKS nhằm xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố hoặc đình chỉ vụ án hình sự tương ứng, tìm ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và phòng ngừa.
Trang 261.1.1.3 Khái niệm Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác
BLHS Việt Nam không định nghĩa cụ thể như thế nào là Tội cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Tuy nhiên, trongkhoa học pháp lý hình sự có nhiều quan điểm với các khái niệm khác nhau vềTội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Cách khái niệm thứ nhất: “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý gây tổn hại sức khỏe cho người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác”;
Cách khái niệm thứ hai cho rằng: ”Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi của một người cố ý làm cho người khác bị thương hoặc tổn hại đến sức khỏe”.
Các cách khái niệm trên vẫn còn những điểm chưa phù hợp như chưa
đề cập đến dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự, độ tuổi chịu do luật địnhcũng như tính trái pháp luật hình sự của hành vi cố ý gây thương tích hoặcgây tổn hại cho sức khỏe của người khác Dựa trên cơ sở pháp lý quy định nộidung cấu thành tội phạm Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhoẻ của người khác tại Điều 134 BLHS và khái niệm về tội phạm quy địnhtại khoản 1 Điều 8 BLHS, có thể đi đến khái niệm về Tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau: “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi nguy hiểm cho
xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý xâm phạm sức khỏe của người khác”.
1.1.1.4 Hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đốivới các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác của Viện Kiểm sát nhân dân
Quá trình THQCT ở giai đoạn điều tra đối với các vụ án cố ý gây
Trang 27thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được bắt đầu từgiai đoạn tiếp nhận tin báo tội phạm có dấu hiệu gây tổn thương đến sức khỏecủa người khác, khởi tố vụ án, khởi tố bị can và kết thúc điều tra, VKS raquyết định truy tố hoặc đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật.
Hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra đối với các vụ án cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của VKSND cónhững đặc điểm sau:
Một là, hoạt động này chỉ do VKSND tiến hành theo quy định của pháp
luật
Theo quy định của pháp luật thì VKSND là cơ quan có chức năngTHQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp VKSND là cơ quan duy nhất thựchiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tư pháp, đặcbiệt là cơ quan điều tra Hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra của VKSđược quy định tại Điều 14 Luật tổ chức VKSND năm 2014; Điều 165BLTTHS, khi thực hành quyên công tố VKS có những nhiệm vụ và quyềnhạn sau đây:
1 Yêu cầu cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ ánhình sự, khởi tố bị can
2 Phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc
bổ sung quyết định khởi tố bị can không có căm cứ và trái pháp luật
3 Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố
bị can trong các trường hợp do BLTTHS quy định
4 Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợpkhẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bả đảm, khámxét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, áp dụngbiện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết
Trang 28định tố tụng khác không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơquan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy địnhcủa BLTTHS; hủy bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luậtcủa Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt độngđiều tra Trường hợp không phê chuẩn hoặc hủy bỏ thì trong quyết địnhkhông phê chuẩn hoặc hủy bỏ phải nêu rõ lý do.
5 Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biệnpháp cưỡng chế theo quy định của BLTTHS
6 Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan đượcgiao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để là, rõtội phạm, người phạm tội; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can, áp dụngbiện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
7 Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp đểkiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của Cơquan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điềutra hoặc trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, viphạm pháp luật mà VKS đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắcphục hoặc trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết địnhviệc truy tố
8 Khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyềntrong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trongviệc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố
vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giảiquyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố,điều tra có dấu hiệu tội phạm;
9 Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam; chuyển
vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; hủy bỏ
Trang 29Một trong những nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng của VKS khiTHQCT trong giai đoạn điều tra là đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quanđiều tra tiến hành điều tra Để bảo đảm hoạt động điều tra có kết quả thì VKSphải đề ra yêu cầu điều tra ngay từ khi khởi tố vụ án và trong từng giai đoạncủa quá trình điều tra, KSV được phân công THQCT trong giai đoạn điều traphải bám sát việc điều tra vụ án của Cơ quan điều tra để kịp thời đề ra các yêucầu điều tra một cách cụ thể, toàn diện nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án.Trong một số trường hợp cần thiết, khi THQCT trong giai đoạn điều tra, VKS
có thể trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định củaBLTTHS như: Hỏi cung bị can; lấy lời khai người làm chứng; tiến hành đốichất; … để củng cố chứng cứ nhằm đánh giá khách quan, toàn diện vụ án
Khi THQCT trong giai đoạn điều tra tội phạm nếu phát hiện Điều tra
Trang 30viên được phân công giải quyết vụ án hình sự thuộc trường hợp phải thay đổitheo qui định tại Điều 51 BLTTHS thì VKS phải kịp thời yêu cầu Thủ trưởng
Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên nhằm đảm báo vụ án được điều trakhách quan Trường hợp xét thấy hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tộiphạm thì yêu cầu Cơ quan điều tra có thẩm quyền khởi tố về hình sự
Khi THQCT trong giai đoạn điều tra, VKS có quyền quyết định ápdụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạmgiam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảolãnh Đối với những biện pháp tố tụng, hành vi tố tụng mà BLTTHS quy địnhphải có sự phê chuẩn của VKS như: Lệnh bắt người trong trường hợp khẩncấp; quyết định gia hạn tạm giữ; quyết định khởi tố bị can; lệnh bắt bị can đểtạm giam lệnh tạm giam… thì VKS có trách nhiệm xem xét, quyết định việcphê chuẩn hoặc không phê chuẩn Ngoài ra, khi phát hiện các quyết định tốtụng của Cơ quan điều tra như: Quyết định tạm giữ; quyết định khởi tố vụ án,khởi tố bị can; quyết định về việc bảo lĩnh; quyết định đình chỉ điều tra vụ án
…không có căn cứ và trái pháp luật thì VKS có quyền ra quyết định huỷ bỏcác quyết định đó theo đúng quy định của Bộ luật TTHS Trường hợp bị cantrốn hoặc không biết bị can đang ở đâu thì VKS yêu cầu Cơ quan điều tra ruynã
Hai là, hoạt động này của VKS phải tuân thủ nghiêm chỉnh những quy
định về trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
Hoạt động điều tra của cơ quan điều tra, hoạt động THQCT của VKS lànhững hoạt động rất quan trọng có tính quyết định trong quá trình giải quyếtcác vụ án hình sự Chính vì vậy nên pháp luật tố tụng hiện hành quy định rấtchặt chẽ việc THQCT trong giai đoạn điều tra đối với các vụ án hình sự trong
đó có các vụ cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngườikhác của VKS như thủ tục: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, nhập - tách vụ án,
Trang 31đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, thời hiệu điều tra, thời hạn điều tra
Ba là, hoạt động này của VKS được pháp luật bảo đảm thi hành.
Hoạt động THQCT trong gia đoạn điều tra các vụ án hình sự - trong đó
có các vụ án về cố ý gây thương tích luôn được pháp luật bảo đảm thi hành đểxác định rõ hành vi phạm tội, người phạm tội đã thỏa mãn cấu thành của tội
đó hay chưa Quá trình này bao gồm nhiều bước nhưng phải đảm bảo cácnguyên tắc xử lý: Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lýnhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật; Mọi người phạm tội đều bìnhđẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo,thành phần, địa vị xã hội
Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm: THQCT trong giai đoạn điều tra đối với các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của VKSND là hoạt động thực hiện pháp luật của VKS nhằm đảm bảo cho toàn bộ hoạt động giải quyết tin báo, tố giác về dấu hiệu tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, khởi tố, điều tra, truy tố tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc đình chỉ vụ án được tuân thủ theo đúng qui định của pháp luật.
1.1.2 Vị trí, vai trò, ý nghĩa của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Giai đoạn điều tra vụ án là một trong những giai đoạn dài nhất và có vaitrò quan trọng trong việc phát hiện tội phạm, người phạm tội, mọi tình tiết của
vụ án đều phải làm sáng tỏ ở giai đoạn này để từ đây tìm ra đúng người thựchiện hành vi phạm tội nhằm đảm bảo việc truy tố, xét xử vụ án được chínhxác, đúng người đúng tội, đúng pháp luật THQCT trong giai đoạn điều trađối với các vụ cố ý gây thương tích, có vai trò rất quan trọng trong việc thực
Trang 32hiện quyền lực Nhà nước , thực hiện quyền tư pháp của VKS Chính vì vậy,việc THQCT trong quá trình giải quyết vụ án của VKSND nói chung cũngnhư THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án của VKSND nói riêng có vai trò quantrọng góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủnghĩa, bảo vệ trật tự pháp luật bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệtính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân; bảođảm mọi hành vi vi phạm lợi ích của Nhà nước, của công dân phải được xử lýtheo pháp luật.
THQCT ở giai đoạn điều tra vụ án nói chung và vụ án cố ý gây thươngtích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng của VKSND cóvai trò quan trọng nhằm hoàn chỉnh cơ chế điều chỉnh pháp luật, tạo thói quentuân thủ pháp luật trong nhân dân Qua công tác THQCT, VKSND phát hiện
ra những dạng vi phạm pháp luật mới, những dạng quan hệ xã hội mới cầnphải có những quy phạm pháp luật điều chỉnh kịp thời; những quy phạm đãlạc hậu, chồng chéo cần thay thế sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hìnhtội phạm
THQCT trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự về tội cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hướng các chủ thểcủa các quan hệ pháp luật trong THQCT thực hiện đúng, đầy đủ chức tráchcủa mình khi tiến hành tố tụng nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp củanhững người tham gia tố tụng; ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật củangười tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng
Thông qua THQCT ở giai đoạn điều tra, VKSND có những biện pháp,cách thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật; kiến nghị phòng ngừa vi phạm.Hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật của VKSND không chỉ tác độngtới các đối tượng vi phạm pháp luật hình sự mà còn ảnh hưởng sâu rộng trongcộng đồng dân cư, các cơ quan ban ngành hữu quan
Trang 331.2 Quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự về thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đối với vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1.2.1 Quy định của pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:
1 Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc ….;
b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu,
ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình…;
đ) Có tổ chức;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, …;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người ; i) Có tính chất côn đồ;
k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc …
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
02 năm đến 06 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà
tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
Trang 34c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà
tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
05 năm đến 10 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà
tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà
tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
07 năm đến 14 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà
Trang 35tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
5 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
12 năm đến 20 năm hoặc tù chung
thân: a) Làm chết 02 người trở
lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên
mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
6 Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.
Căn cứ vào điều luật trên, ta thấy cấu thành tội phạm này phản ánhtrong 4 yếu tố cấu thành tội phạm và hình phạt như sau:
Khách thể của tội phạm: Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác là hành vi cố ý làm cho người khác bị thương hoặc tổnhại đến sức khỏe Tội phạm xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khỏe củacon người
Mặt khách quan của tội phạm: Người phạm tội thực hiện các hành vitác động vào cơ thể của người khác như: đâm, chém, đấm đá, tra tấn làmcho người đó bị thương, bị tổn hại sức khỏe hoặc cưỡng bức người bị hại tựlàm tổn hại cho sức khỏe của mình như tự chọc vào mắt mình, chặt ngón tay
Trang 36Hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
mà tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên bị coi là tội phạm
Nếu hậu quả tổn thương cơ thể dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì cũng coi là phạm tội:
- Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gâynguy hại cho nhiều người Vũ khí, vật liệu nổ theo quy định tại Luật Quản lý,
sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2017 Hung khí nguy hiểm đượchiểu là vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm khác
Tại Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồngthẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn, thì “phương tiện nguy hiểm”
là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của conngười (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ranhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên màngười phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấncông người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khỏe củangười bị tấn công Ví dụ, dùng dao sắc nhọn, dao phay, búa đinh, côn gỗ,thanh sắt mài nhọn, gạch, đá gây thương tích cho người khác
- Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm gây thương tích hoặcgây tổn hại cho sức khỏe của người khác Trong vụ án hình sự, cần trưng cầugiám định cơ quan chuyên môn xác định rõ các a-xít, hóa chất là chất gì, có thể phá hủy tế bào cơ thể như thế nào
- Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi: Căn cứ vào giấy khai sinh, Giấy chứng sinh, sổ hộ khẩu hoặc Chứng minh nhân dân
- Phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không
có khả năng tự vệ: Phụ nữ đang có thai có thể do người phạm tội nhận biếtđược hoặc nghe người khác nói Việc xác định có thai hay không phải dựa vào kết luận của bác sĩ Người già yếu là người từ đủ 60 tuổi trở lên, sinh
Trang 37hoạt, đi lại khó khăn Người ốm đau là người đang bị bệnh tật mà đang phải điều trị Người không có khả năng tự vệ ; thương binh, bệnh binh nặng…
- Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo củamình, gồm: ông, bà gồm ông bà nội, ông bà ngoại; cha, mẹ là người sinh rangười phạm tội hoặc người đã nhận người phạm tội làm con nuôi được phápluật thừa nhận; Người nuôi dưỡng là người chăm sóc, giáo dục như cha mẹ.Thầy giáo, cô giáo là người trực tiếp giảng dạy người phạm tội về văn hoá,chuyên môn, nghề nghiệp, v.v
- Có tổ chức là việc có từ 02 người trở lên cùng thực hiện 01 tội phạm
và giữa họ có sự cấu kết, phân công trách nhiệm chặt chẽ với nhau
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn
- Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành ánphạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưavào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc: Thời gian này được xácđịnh đựa vào các quyết định của cơ quan có thẩm quyền
- Thuê hoặc được thuê gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe cho ngườikhác
- Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm: phạm tội có tính chấtcôn đồ là trường hợp thực hiện tội phạm có tính hung hãn cao độ, coi thườngtính mạng, sức khỏe của người khác; vô cớ gây thương tích vì lý do nhỏ nhặthoặc do mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt; đâm, chém, đánh đập người khác
Trang 38pháp y, pháp y tâm thần.
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
là cấu thành vật chất nên phải xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vàhậu quả xảy ra
Chủ thể của tội phạm: Người từ đủ 14 tuổi trở lên, có năng lực tráchnhiệm hình sự Theo quy định của Điều 12 BLHS thì phạm tội thuộc khoản 1,
2 Điều 134 tuy là trường hợp ít nghiêm trọng và nghiêm trọng nhưng người phạm tội đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi cũng bị truy cứu TNHS
Mặt chủ quan của tội phạm: Người thực hiện tội phạm với lỗi cố ý
Khung hình phạt quy định tại khoản 2 Mức hình phạt tù từ 02 năm đến
6 năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp nêu tại khoản 2;
Khung hình phạt quy định tại khoản 3 Mức hình phạt tù từ 05 năm đến
10 năm khi phạm tội một trong các trường hợp được nêu tại khoản 3;
Khung hình phạt quy định tại khoản 4 Mức hình phạt tù từ 07 năm đến
14 năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp được nêu tại khoản 4;
Khung hình phạt quy định tại khoản 5 Mức hình phạt tù từ 12 năm đến
20 năm hoặc tù chung thân khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp đượcnêu tại khoản 5;
Khung hình phạt quy định tại khoản 6 Phạt cải tạo không giam giữ đến
2 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm đối với người chuẩn bị phạm tội này
So sánh giữa Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
Trang 39của người khác quy định tại Điều 104 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm2009) với quy định tại Điều 134 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017) có một số điểm mới sau:
Điều luật được cấu trúc lại thành 6 khoản; bỏ 3 tình tiết định khung làgây cố tật nhẹ cho nạn nhân; phạm tội 02 lần trở lên; tái phạm nguy hiểm tạikhoản 1; bổ sung cụm từ “Dùng vũ khí, vật liệu nổ” tại điểm a; thay cụm từ
“Sunfuric (H2SO4) bằng cụm từ “nguy hiểm”; bổ sung cụm từ: “bị giữ”,
“đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tạitrường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chínhđưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc” tại điểm g Sửa hình phạt tù tối đa tại các khoản 2, 3,
4, 5 Quy định về những trường hợp chuẩn bị phạm tội tại khoản 6
1.2.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thực hành quyền công
tố đối trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
1.2.2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tốtrong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác
*Hoạt động THQCT của VKSND trong việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Theo quy định tại Điều 145 BLTTHS, VKSND không chỉ có tráchnhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố mà còn cóthẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trongtrường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hànhmột số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt độngkiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấuhiệu bỏ lọt tội phạm mà VKS đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được
Trang 40khắc phục Để thực hiện tốt hoạt động THQCT trong việc giải quyết tố giác,
tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác, KSV phải nắm vững những nhiệm vụ,
quyền hạn của VKSND khi THQCT quy định tại Điều 159 BLTTHS và Điều
12 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 Theo đó, hoạt động THQCT trong việc
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố phải được tiến
hành đồng thời với hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố về tội phạm này
Trách nhiệm của VKS trong công tác này là THQCT và kiểm sát việc
giải quyết nguồn tin về tội phạm, bảo đảm việc giải quyết của Cơ quan điều tra đúng pháp luật, đầy đủ; bảo đảm mọi tội phạm đều được phát hiện, khởi tố, điều tra và xử lý Điều 145, 146, 147, 148, 150, 159 BLTTHS quy định rõ nội dung của THQCT trong giai đoạn này, cụ thể:
Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp khác:
Theo quy định tại Điều 165 BLTTHS, VKS có quyền quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn biện pháp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ nhằm thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, bảo đảm người
bị tình nghi không bỏốn,tr cản trở quá trình xác minh
Tại Điều 110 BLTTHS quy định: “Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ
người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a
và điểm b khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị
giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó Lệnh bắt người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát
có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê