1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý ở việt nam hiện nay

74 97 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 822 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công ty hợp danh cung cấp dịch vụ pháp lý là một loại hình doanhnghiệp tiềm năng, có nhiều điểm phù hợp với tính đặc thù của hoạt động cungcấp dịch vụ pháp lý, tuy nhiên loại hình công t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐINH THỊ THU HÀ

PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY HỢP DANH

TRONG LĨNH VỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các dẫnchứng, số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

ĐINH THỊ THU HÀ

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY HỢP DANH TRONG LĨNH VỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ 8

1.1 Khái quát chung về công ty hợp danh 8

1.2 Khái quát chung về dịch vụ pháp lý 21

1.3 Khái niệm, đặc điểm của công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấpdịch vụ pháp lý . 32

1.4 Pháp luật về công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp

1.5 Những lợi thế của công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụpháp lý 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY HỢP DANH TRONG LĨNH VỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ 43

2.1 Thực trạng quy định của pháp luật về công ty hợp danh trong lĩnhvực cung cấp dịch vụ pháp lý 43

2.2 Thực trạng thi hành pháp luật về công ty hợp danh trong lĩnh vựccung cấp dịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiện nay 49

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY HỢP DANH TRONG LĨNH VỰC CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ 58

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về công ty hợp danh tronglĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý 60

3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về công tyhợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý 63

KẾT LUẬN 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Ngày nay, quá trình hội nhập quốc tế đang diễn ra ngày càng nhanh vàmạnh hơn dưới sự tác động của nhiều nhân tố, trong đó kinh tế thị trường và

sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ là động lực hàng đầu Hộinhập quốc tế đang là một xu thế tất yếu của thế giới hiện đại, tác động sâu sắcđến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia

Hội nhập quốc tế vừa là cơ hội, đồng thời cũng là những thách thức đốivới các quốc gia nói chung và các doanh nghiệp nói riêng Hội nhập quốc tếđòi hỏi các chủ thể phải tham gia vào “sân chơi chung”, tuân thủ nhữngnguyên tắc, luật lệ nhất định do các chủ thể thống nhất tạo ra Và để đạt đượcmục đích khi tham gia sân chơi chung này, các chủ thể trong đó có các doanhnghiệp phải không ngừng đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh, bên cạnh đó,các chủ thể cũng cần phải hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ của mình trong sânchơi chung này Việc hòa nhập, tiếp cận các nền kinh tế khác nhau, đối táckinh doanh khác nhau đòi hỏi các doanh nghiệp, doanh nhân cần đầu tưnghiên cứu, tiếp cận các dịch vụ pháp lý nói chung và đặc biệt là các dịch vụpháp lý liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư kinh doanh của doanhnghiệp, doanh nhân nói riêng

Xuất phát từ những nhu cầu trên, dịch vụ pháp lý ra đời nhằm đáp ứngyêu cầu của quá trình hội nhập Ở nước ta hiện nay, hoạt động cung cấp dịch

vụ pháp lý tồn tại dưới nhiều hình thức trong đó có loại hình công ty hợpdanh Công ty hợp danh là một loại hình doanh nghiệp có từ lâu trong lịch sửloài người Tuy nhiên, loại hình này mới chỉ được ghi nhận trong pháp luậtcủa Việt Nam kể từ ngày 01/01/2000 khi Luật Doanh nghiệp năm 1999 cóhiệu lực Hiện nay các quy định điều chỉnh về loại hình công ty hợp danh tậptrung trong Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trang 6

Công ty hợp danh cung cấp dịch vụ pháp lý là một loại hình doanhnghiệp tiềm năng, có nhiều điểm phù hợp với tính đặc thù của hoạt động cungcấp dịch vụ pháp lý, tuy nhiên loại hình công ty hợp danh trong lĩnh vực cungcấp dịch vụ pháp lý hiện chưa thực sự phát triển ở Việt Nam Vậy nguyênnhân của tình trạng trên là do quy định của pháp luật chưa phù hợp hay doquá trình thực thi các quy định pháp luật còn nhiều hạn chế? Việc tìm hiểunhững quy định của pháp luật về công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấpdịch vụ pháp lý sẽ giúp chúng ta lý giải được vấn đề trên, giúp các doanhnhân trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý lựa chọn được loại hình kinhdoanh phù hợp.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong giai đoạn phát triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, nhu cầu

sử dụng dịch vụ pháp lý ngày càng cao Việc lựa chọn một mô hình phù hợpvới lĩnh vực kinh doanh, phát huy được tiềm lực của chủ thể thành lập doanhnghiệp cũng được đặt ra Đề tài pháp luật Việt Nam về công ty hợp danh và

đề tài liên quan đến những quy định của pháp luật về dịch vụ pháp lý thu hút

sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu lý luận và đã có nhiềucông trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau đề cập đến vấn đề này, nổi bậtlà:

- Luận văn thạc sĩ luật học năm 2003 của tác giả Vũ Đặng Hải Yến về

“Một số vấn đề pháp lý về công ty hợp danh” đưa ra những quy định củapháp luật về công ty hợp danh và một số vấn đề pháp lý đặt ra với loại hìnhcông ty hợp danh

- Luận văn thạc sĩ luật học năm 2012 của tác giả Nguyễn Thị ThùyGiang về “Pháp luật Việt Nam về công ty hợp danh” nghiên cứu quá trìnhhình thành và phát triển công ty hợp danh, đánh giá thực trạng của công ty hợp danh và đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện hơn pháp

Trang 7

luật về công ty hợp danh.

- Luận án tiến sĩ luật học năm 2006 của tác giả Phan Thảo Nguyên về

“Hoàn thiện pháp luật về thương mại dịch vụ đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh

tế quốc tế”, xác định nội hàm của thương mại dịch vụ và yêu cầu hội nhậpkinh tế quốc tế đối với hoạt động này

- Luận văn thạc sĩ luật học năm 2011 của tác giả Nguyễn Như Chính về

“Pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý - những vấn đề lý luận và thực tiễn”,xác định phạm vi và nội dung của các dịch vụ thương mại pháp lý ở Việt Nam

- Luận án tiến sĩ luật học năm 2014 của tác giả Hoàng Thị Vịnh về

“Hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam” xây dựng được hệ thống lý luận vềdịch vụ pháp lý, tạo cái nhìn tổng quan về hợp đồng dịch vụ pháp lý, tổnghợp được thực trạng các loại hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam

- Bài viết “Từng bước xây dựng quan niệm về dịch vụ pháp lý phù hợptiến trình hội nhập quốc tế” của TS Phan Trung Hoài trên Tạp chí Nhà nước

và Pháp luật số 2, năm 2007, nêu ra quan điểm phạm vi của dịch vụ pháp lýchỉ bao gồm dịch vụ pháp lý của luật sư

- Bài viết “Dịch vụ pháp lý và nhu cầu trong nền kinh tế thị trường ởViệt Nam” của TS Nguyễn Văn Tuân trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật,

số chuyên đề Pháp luật về Doanh nghiệp, khẳng định dịch vụ pháp lý là hoạtđộng rất đặc thù so với các loại dịch vụ thông thường khác; quan điểm vềphạm vi dịch vụ pháp lý ở Việt Nam bao gồm dịch vụ pháp lý của luật sư vàdịch vụ pháp lý của các tổ chức, đoàn thể xã hội và nhu cầu dịch vụ pháp lýngày càng tăng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Những công trình nghiên cứu, bài viết, tài liệu trên đã nghiên cứu vềloại hình công ty hợp danh, về dịch vụ pháp lý, nội hàm của dịch vụ pháp lý

Tuy nhiên, đề tài “Pháp luật về công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiện nay” chưa có công trình nghiên cứu nào

Trang 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Từ sự phân tích, đánh giá quy định của pháp luật về công ty hợp danhtrong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý ở nước ta hiện nay và việc tìm hiểuđưa ra các số liệu, dẫn chứng về thực tiễn thi hành pháp luật về công ty hợpdanh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý ở nước ta hiện nay, luận văn sẽđưa ra các kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng caohiệu quả thực thi pháp luật về công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch

vụ pháp lý ở Việt Nam hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu sự hình thành, khái niệm, đặc điểm của công ty hợp danh

và vai trò của công ty hợp danh đối với sự phát triển kinh tế

- Nghiên cứu khái niệm, đặc điểm và các chủ thể có thẩm quyền cung cấp dịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiện nay

- Chỉ ra các đặc thù của công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch

vụ pháp lý

- Chỉ ra thực trạng pháp luật về công ty hợp danh trong lĩnh vực cungcấp dịch vụ pháp lý; thực tiễn thực thi pháp luật về công ty hợp danh tronglĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiện nay

- Đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý

- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Pháp luật về công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý

ở nước ta hiện nay

Trang 9

- Các văn bản quy phạm pháp luật về dịch vụ pháp lý và công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiện nay.

- Thực tiễn thực hiện pháp luật về công ty hợp danh, dịch vụ pháp lý, công

ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung: Trên cơ sở lý luận chung về thực hiện pháp luật,

luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về công ty hợp danh, dịch vụpháp lý, pháp luật về công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp

lý ở Việt Nam hiện nay Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về công

ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý, đánh giá và kiến nghịgiải pháp hoàn thiện pháp luật về công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấpdịch vụ pháp lý ở nước ta hiện nay

Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và

thực tiễn về công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý ở ViệtNam hiện nay Trong quá trình nghiên cứu tác giả có tham khảo pháp luật vàthực hiện pháp luật của một số quốc gia là thành viên của Tổ chức Thươngmại thế giới WTO

Phạm vi về thời gian: Việc đánh giá thực trạng pháp luật về công ty hợp

danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là

từ năm 2007 khi Luật Luật sư có hiệu lực

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối luậtpháp của Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam để xem xét quyđịnh của pháp luật điều chỉnh về công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấpdịch vụ pháp lý

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

Trang 10

- Phương pháp phân tích, bình luận, so sánh…để tìm hiểu về một số vấn

đề lý luận về thực hiện pháp luật về công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấpdịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiện nay

- Phương pháp đánh giá, đối chiếu, diễn giải, quy nạp…để tìm hiểu vềthực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về công ty hợp danh trong lĩnhvực cung cấp dịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiện nay, đánh giá về những kếtquả đạt được, một số khó khăn, vướng mắc còn tồn tại

Ngoài ra, tác giả cũng đã kết hợp lý luận và thực tiễn, đối chiếu các quyđịnh của pháp luật với thực tế triển khai các quy định đó nhằm đánh giánhững ưu điểm, hạn chế xuất phát từ quy định của pháp luật, và những ưuđiểm hạn chế xuất phát từ quá trình triển khai, thi hành pháp luật

Việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu trên giúp tác giả nhìn nhận,đánh giá vấn đề một cách toàn diện, khách quan, từ đó đưa ra những kiếnnghị, đề xuất phù hợp, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về phương diện lý luận: Kết quả nghiên cứu mới của luận văn gópphần làm sáng tỏ, phong phú những vấn đề lý luận và thực tiễn về công ty hợpdanh, về dịch vụ pháp lý, nội hàm của dịch vụ pháp lý, quy định của pháp luật

về công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiệnnay

- Về phương diện thực tiễn: Luận văn là tài liệu tham khảo cho nhữngngười có nhu cầu tìm hiểu về loại hình công ty hợp danh, lĩnh vực cung cấpdịch vụ pháp lý Ngoài ra luận văn cùng có thể là một nguồn đề xuất thamkhảo đối với cơ quan có thẩm quyền trong việc hoàn thiện quy định của phápluật cũng như kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật vềcông ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý ở nước ta hiện nay

Trang 11

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấpdịch vụ pháp lý

Chương 2: Thực trạng pháp luật về công ty hợp danh trong lĩnh vực cungcấp dịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thipháp luật về công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý ở ViệtNam hiện nay

Trang 12

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY HỢP DANH TRONG LĨNH VỰC

CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ 1.1 Khái quát chung về công ty hợp danh

1.1.1 Sự hình thành công ty hợp danh

* Sự hình thành công ty hợp danh trên thế giới

Là một trong những hiện tượng kinh tế, công ty ra đời, tồn tại và pháttriển trong điều kiện nhất định Kinh tế, xã hội phát triển đòi hỏi các nhà kinhdoanh phải có nhiều vốn, và để có được nhiều vốn các nhà kinh doanh bắt đầuphải liên kết với nhau Trên cơ sở vốn và sự tin tưởng lẫn nhau họ đã liên kếttheo hình thức nhất định và tạo ra mô hình tổ chức kinh doanh mới là công tykinh doanh Mặt khác, khi sản xuất hàng hóa phát triển, sự cạnh tranh trên thịtrường khốc liệt hơn, đòi hỏi nguồn vốn lớn hơn, những doanh nghiệp vốnđầu tư thấp thường không có lợi thế cạnh tranh Do đó, muốn tạo được chỗđứng trên thị trường, người kinh doanh cần liên kết với nhau thông qua hìnhthức góp vốn để thành lập một doanh nghiệp có vốn lớn, tạo thế đứng vữngchắc trên thị trường Ngoài lợi thế trên, việc liên kết giữa những người kinhdoanh còn góp phần chia sẻ những rủi ro có thể gặp phải trong quá trình kinhdoanh Mô hình liên kết này đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường

và hấp dẫn các nhà đầu tư, với nhiều thành phần tham gia khác nhau Nhưvậy, sự ra đời của công ty là quy luật khách quan trong nền kinh tế thị trường,

là kết quả của việc thực hiện nguyên tắc tự do trong kinh doanh, tự do kết ước

và tự do lập hội

Vào khoảng thế kỷ thứ XIII, ở các thành phố lớn của một số nước châu

Âu có điều kiện địa lý thuận lợi cho việc giao lưu, buôn bán, đã xuất hiệncông ty thương mại đối nhân đầu tiên Sang đầu thế kỉ XVII các công ty đốivốn ra đời

Trang 13

Công ty đối nhân là công ty mà việc thành lập dựa trên sự liên kết chặtchẽ bởi độ tin cậy về nhân thân của các thành viên, các thành viên quan hệgần gũi, có sự tin tưởng lẫn nhau, công ty lập ra với mục đích chủ yếu là để

“góp danh”, việc “góp vốn” là thứ yếu Trong công ty đối nhân không có sựtách bạch về tài sản cá nhân các thành viên và tài sản công ty Các thành viênliên đới chịu trách nhiệm vô hạn đối với mọi khoản nợ của công ty hoặc ítnhất phải có một thành viên chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ củacông ty Các thành viên trong công ty đối nhân có tư cách thương gia độc lập

và phải chịu thuế thu nhập cá nhân Hầu hết pháp luật các quốc gia không quyđịnh tư cách pháp nhân cho công ty đối nhân, do đó, bản thân công ty đốinhân không bị đánh thuế Các thành viên công ty cùng nhau điều hành hoạtđộng của công ty và đều có quyền đại diện theo pháp luật

Về phương diện kinh tế, các công ty đối nhân do có sự liên đới chịu tráchnhiệm vô hạn của các thành viên nên có nhiều thuận lợi trong quá trình ngânhàng xem xét cho vay vốn Mặt khác, do tính liên đới chịu trách nhiệm vô hạnnên các công ty đối nhân thường không đầu tư vào lĩnh vực có nhiều rủi ro,trong thực tế, công ty đối nhân thường hoạt động trong lĩnh vực đòi hỏi độ tincậy giữa các thành viên, đòi hỏi các thành viên có trình độ chuyên môn nhưdịch vụ pháp lý, kiểm toán, kiến trúc, giám định…

Về phương diện pháp lý, công ty đối nhân là loại hình công ty trong đócác thành viên có quan hệ gắn bó, hiểu biết và tin tưởng nhau, do đó pháp luật

ít quy định điều chỉnh mối quan hệ của các thành viên trong công ty đối nhân.Công ty đối nhân thường tồn tại dưới hai dạng cơ bản đó là: công ty hợpdanh và công ty hợp vốn đơn giản

* Sự hình thành công ty hợp danh ở Việt Nam

Ở Việt Nam, với lịch sử phát triển kinh tế mang đặc trưng là kinh tếnông nghiệp giữ vai trò chủ đạo, hoạt động kinh doanh, thương mại giai đoạn

Trang 14

trước kia chưa phát triển Hoạt động thương mại ở Việt Nam giai đoạn đầudiễn ra chủ yếu tại các chợ, mua bán nhỏ, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt là chính.

Do đó, các loại hình công ty ra đời muộn hơn so với các quốc gia trên thếgiới Phải đến thế kỷ thứ XIX, khi thực dân Pháp đô hộ nước ta, công ty hợpdanh được quy định dưới hình thức là “Hội người” trong “Dân luật được thihành tại các tòa Nam án - Bắc kỳ” năm 1931, Bộ luật Thương mại Trungphần năm 1944, Bộ luật Thương mại Việt Nam cộng hòa năm 1972

Cho đến những năm cuối của thế kỷ XX, sau Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ VI diễn ra năm 1986, nghị quyết của Đảng định hướng chủ trương pháttriển kinh tế đất nước chuyển từ kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thịtrường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng các thành phần kinh tế, ghinhận hình thức sở hữu tư nhân

Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 ra đời đánh dấu

sự ghi nhận của Nhà nước ta về hình thức công ty thông qua quy định củapháp luật Tuy nhiên, quy định của pháp luật tại thời điểm đó còn đơn giản vàchưa cụ thể, hình thức công ty hợp danh chưa được quy định trong hai vănbản quy phạm pháp luật nêu trên

Sau gần một thập kỷ, phải đến khi có Luật Doanh nghiệp năm 1999 thìhình thức công ty hợp danh mới lần đầu tiên được quy định Tuy nhiên, ngoàimột số quy định cho các loại hình công ty, Luật Doanh nghiệp năm 1999 cũngchỉ có 4 điều thuộc Chương 5 (từ Điều 95 đến Điều 98) quy định riêng vềcông ty hợp danh Các quy định này còn khá đơn giản, quy định về khái niệm,đặc điểm của công ty hợp danh, quyền và nghĩa vụ của các thành viên hợpdanh, việc quản lý công ty hợp danh Riêng đối với quy định về việc thànhlập, tổ chức và hoạt động của công ty hợp danh thì Luật Doanh nghiệp năm

1999 không quy định cụ thể mà ủy quyền cho Chính phủ quy định cụ thể nộidung này

Trang 15

Luật Doanh nghiệp năm 1999 có hiệu lực từ ngày 01/01/2000 Chỉ sauvài năm, những quy định về công ty hợp danh đã bộc lộ nhiều hạn chế và kếtquả là các nhà đầu tư không mặn mà với loại hình doanh nghiệp này.

Ngày 29/11/2005, Luật Doanh nghiệp năm 2005 được ban hành thay thếcho Luật Doanh nghiệp năm 1999 Luật này có 11 điều quy định riêng vềcông ty hợp danh (từ Điều 130 đến Điều 140)

Trong gần 10 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp năm 2005, số lượngcông ty hợp danh vẫn chỉ dừng lại ở con số vài chục, điều đó chứng tỏ loạihình công ty này vẫn còn chưa hấp dẫn các nhà đầu tư kinh doanh LuậtDoanh nghiệp năm 2014 được ban hành với 11 điều (từ Điều 172 đến Điều182) quy định về công ty hợp danh, các quy định này về cơ bản vẫn chưakhắc phục triệt để những hạn chế của các quy định về loại hình công ty này sovới các văn bản trước đây

Chúng ta có thể thấy rằng, ở Việt Nam công ty hợp danh được hìnhthành trên cở sở quy định của pháp luật và việc hoàn thiện dần quy định củapháp luật về công ty hợp danh có tác động tích cực đến sự phát triển của loạihình công ty này trên thực tế

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của công ty hợp danh

* Khái niệm công ty hợp danh

Công ty hợp danh là loại hình công ty trong đó các thành viên cùng nhautiến hành hoạt động thương mại dưới một hãng chung và cùng liên đới chịutrách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty Công ty hợp danh bao gồmtoàn thành viên hợp danh với chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của các thànhviên hợp danh, là một loại hình công ty mang bản chất đối nhân Đây là loạicông ty trọng về nhân thân, ít quan tâm tới yếu tố vốn Công ty hợp danh rađời là một yếu tố khách quan phù hợp với điều kiện, môi trường kinh doanh

và tâm lý kinh doanh, đặc biệt ở một số nước châu Á Đây là những

Trang 16

quốc gia có nền tảng kinh tế là nông nghiệp lúa nước, tâm lý kinh doanh nhỏ

lẻ, cá nhân hoặc kinh doanh gia đình đã ăn sâu vào cư dân khu vực này Vìvậy, khi giao thương buôn bán xuất hiện và phát triển, những người kinhdoanh này sẽ lựa chọn con đường mở rộng quy mô kinh doanh một cách vừa

an toàn, vừa đơn giản Như vậy, người kinh doanh chỉ có thể lựa chọn hìnhthức liên kết mà họ có thể hiểu rõ về nhân thân của nhau, tin cậy lẫn nhau.Việc thành lập công ty dựa trên cơ sở hợp đồng giữa các thành viên, tuynhiên, luật không bắt buộc hợp đồng thành lập loại hình công ty này phảibằng văn bản Các bên có thể thoả thuận miệng, có trường hợp tuy khôngtuyên bố rõ thoả thuận nhưng giữa các thành viên có hoạt động thương mạichung thì công ty cũng được coi là đã thành lập Đã có nhiều quốc gia trên thếgiới công nhận việc thành lập công ty thực tế (defacto) như trên Ở Việt Namhiện nay chưa công nhận hình thức công ty thực tế này Về nguyên tắc, hợpđồng thành lập cần được đăng ký vào danh bạ thương mại Trong một sốtrường hợp, hợp đồng không được đăng ký nhưng được thông báo rộng rãi thìvẫn có giá trị pháp lý Trong hợp đồng, thỏa thuận của các thành viên là nộidung quan trọng Công ty hợp danh được thành lập nếu có ít nhất hai thànhviên thỏa thuận với nhau cùng chịu trách nhiệm liên đới, vô hạn đối với mọikhoản nợ của công ty

Khác với hình thức trên, công ty hợp vốn đơn giản vừa có thành viênhợp danh, chịu trách nhiệm vô hạn vừa có thành viên góp vốn, chịu tráchnhiệm hữu hạn Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa công ty hợp danh và công

ty hợp vốn đơn giản Thành viên nhận vốn là người quản lý, sử dụng vốn,người trực tiếp điều hành các hoạt động của công ty Thành viên này chịutrách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty, có quyền quản trị công ty.Thành viên nhận vốn chỉ là cá nhân, họ là thương nhân và có quyền lấy tênmình đặt tên cho công ty Thành viên góp vốn là người bỏ vốn cho công ty

Trang 17

kinh doanh với mục đích tìm kiếm lợi nhuận.

Ở Việt Nam, quy định về công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp năm

2014 có những điểm đặc thù không hoàn toàn giống với các nước Điều 172Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định:

“1 Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó:

a) Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh) Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn; b) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty;

c) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.

2 Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

3 Công ty hợp danh không được hành bất kỳ loại chứng khoán nào”.

Luật Doanh nghiệp năm 2014 không đưa ra một định nghĩa khái quát mà

mô tả công ty hợp danh qua các đặc điểm đặc trưng Cách xây dựng kháiniệm này đã được áp dụng từ Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanhnghiệp năm 2005 và tiếp tục được thể hiện trong Luật Doanh nghiệp năm

2014 Theo đó, công ty hợp danh được định nghĩa là doanh nghiệp, trong đó:(i) phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhaukinh doanh dưới một tên chung (gọi là thành viên hợp danh); Ngoài thànhviên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn; Thành viên hợpdanh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về cácnghĩa vụ của công ty; Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản

nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty; (ii) Công ty hợpdanh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký

Trang 18

doanh nghiệp; (iii) Công ty hợp danh không được phát hành bất kì loại chứngkhoán nào.

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, công ty hợp danh ởViệt Nam có hai loại: công ty chỉ bao gồm các thành viên hợp danh và công

ty bao gồm thành viên hợp danh và thành viên góp vốn

Công ty hợp danh chỉ bao gồm các thành viên hợp danh: Các thành viênhợp danh chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới; có quyền quản lý và đại diệncho công ty hợp danh Quy định này giống với quy định của nhiều nước trênthế giới như Hoa Kỳ, Nhận Bản

Công ty hợp danh bao gồm thành viên hợp danh và thành viên góp vốn:Thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn, có quyền quản lý và đại diệncho công ty, thành viên góp vốn chịu trách nhiệm hữu hạn, không có quyềnquản lý, và không đại diện cho công ty Luật các nước có quy định về loạihình công ty này, tuy nhiên, không quy định đây là công ty hợp danh mà làcông ty hợp vốn đơn giản Hình thức công ty này cho phép một thương nhân

có ý tưởng kinh doanh nhưng không có vốn được tận dụng phần vốn góp củathành viên góp vốn

Có thể nói rằng đây là điểm khá đặc thù của pháp luật Việt Nam, công

ty hợp danh gồm cả hai loại công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giảncủa công ty đối nhân theo quy định của các nước Đặc thù này trong quy địnhpháp luật Việt Nam tạo sự linh hoạt cho chủ thể lựa chọn thành lập và hoạtđộng theo mô hình công ty hợp danh, tuy nhiên việc quy định như vậy cũng

sẽ khiến công ty hợp danh của Việt Nam không hoàn toàn giống công ty hợpdanh của các nước gây khó khăn cho việc nhận diện cũng như hội nhập củathương nhân Việt Nam khi kinh doanh dưới hình thức công ty hợp danh

* Đặc điểm công ty hợp danh

Một là, về thành viên công ty hợp danh: Theo quy định của Luật Doanh

Trang 19

nghiệp năm 2014, công ty hợp danh có hai loại thành viên là: (1) Thành viênhợp danh; (2) Thành viên góp vốn.

Thành viên hợp danh: Theo quy định của Luật Doanh nghiệp thì thành

viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản củamình về các nghĩa vụ của công ty Đây là nòng cốt của công ty hợp danh, nếukhông có thành viên này công ty không thể thành lập và hoạt động Trongcông ty hợp danh phải có ít nhất hai thành viên hợp danh Các thành viên hợpdanh liên kết với nhau chủ yếu dựa vào nhân thân, liên kết về vốn chỉ là thứyếu Thực tế, các công ty hợp danh thường được thành lập dựa trên trình độchuyên môn và danh tiếng, uy tín của các thành viên hợp danh Có thể thấy,

sự liên kết giữa các thành viên hợp danh trong công ty là hết sức chặt chẽ,không phải ai cũng có thể trở thành thành viên hợp danh trong công ty Dođặc điểm đặc thù ở trên mà loại hình công ty hợp danh thường thích hợp vớinhững ngành nghề kinh doanh đòi hỏi trình độ chuyên môn, kinh nghiệm,danh tiếng…của các thành viên hợp danh Sự liên kết của các thành viên hợpdanh rất chặt chẽ, gắn với yếu tố nhân thân của từng người Do vậy, khi thànhviên hợp danh rút khỏi công ty thì hoạt động của công ty hợp danh sẽ chịuảnh hưởng rất lớn

Thành viên góp vốn: Trong công ty hợp danh, thành viên góp vốn có thể

là cá nhân, tổ chức, có thể có hoặc không có trong công ty Thành viên gópvốn không buộc phải liên kết về nhân thân với các thành viên khác trong công

ty, không bắt buộc phải là cá nhân Thành viên góp vốn tuy không có vai tròquan trọng như thành viên hợp danh nhưng lại có ý nghĩa lớn trong việc huyđộng vốn đối với công ty Việc quy định công ty hợp danh có thể có thànhviên góp vốn là một đặc thù của Việt Nam Quy định này góp phần tháo gỡkhó khăn trong việc huy động vốn cho công ty hợp danh nhưng lại có thể gây

ra nhầm lẫn cho các chủ thể khi mở cửa thị trường giao lưu với các quốc gia

Trang 20

Đối với thành viên hợp danh: Các thành viên hợp danh khi đã liên kết

thành lập công ty hợp danh thì phải cùng liên đới chịu trách nhiệm vô hạn vềmọi khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty.Thành viên hợp danh không chỉ chịu trách nhiệm bằng số tài sản bỏ vào kinhdoanh, mà phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của mìnhđối với mọi khoản nợ của công ty Chế độ chịu trách nhiệm vô hạn này tương

tự với chế độ chịu trách nhiệm của chủ doanh nghiệp tư nhân Công ty hợpdanh có ít nhất hai thành viên hợp danh nên các thành viên hợp danh phải liênđới chịu trách nhiệm vô hạn Điều này góp phần ràng buộc các thành viên hợpdanh của công ty hợp danh, khiến các thành viên hợp danh phải thận trọng,cân nhắc kỹ việc lựa chọn các thành viên hợp danh để cùng thành lập công tyhợp danh

Khoản 2 Điều 172 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định công ty hợpdanh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng kýdoanh nghiệp Theo quy định tại Điều 74 và Điều 75 Bộ luật Dân sự năm

2015 thì công ty hợp danh là một pháp nhân thương mại Và một trong các

đặc điểm của pháp nhân thương mại đó là “Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình”.

Do vậy, trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh sẽ phát sinh sautrách nhiệm trả nợ của công ty, bởi vì công ty hợp danh theo quy định củaLuật Doanh nghiệp năm 2014 có tư cách pháp nhân và có tài sản độc lập vớitài sản của các thành viên Điều đó có nghĩa là khi công ty hợp danh có khoản

Trang 21

nợ cần thanh toán, công ty phải trả bằng tài sản của công ty Khi tài sản củacông ty không đủ và đáp ứng các điều kiện để tuyên bố phá sản, công ty phảiphá sản để trả các khoản nợ bằng toàn bộ tài sản còn lại Và trong trường hợptài sản còn lại của công ty lúc này vẫn không đủ để trả nợ thì các thành viênhợp danh phải trả nợ thay cho công ty bằng tài sản của cá nhân mình.

Đối với thành viên góp vốn: Thành viên góp vốn sẽ chịu trách nhiệm

trong phạm vi số vốn góp vào công ty Trong quá trình hoạt động kinh doanh,nếu công ty có làm ăn thua lỗ thì thành viên góp vốn cũng chỉ phải chịu tráchnhiệm trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Chế độ chịu trách nhiệm hữuhạn của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh giống chế độ chịu tráchnhiệm của cổ đông công ty cổ phần hay thành viên công ty trách nhiệm hữuhạn Giới hạn trách nhiệm của thành viên góp vốn chỉ là số tài sản mà thànhviên này đã góp vào công ty hợp danh Như vậy, thành viên góp vốn có thểhạn chế được rủi ro phát sinh từ hoạt động kinh doanh của công ty Đây chính

là một trong những lựa chọn phù hợp cho các chủ thể muốn kiểm soát vàgiảm thiểu được sự rủi ro trong kinh doanh

Ba là, về vốn của công ty hợp danh: Vốn điều lệ của công ty hợp danh

là tổng giá trị tài sản mà các thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thànhlập công ty Tài sản góp vốn rất đa dạng, có thể là tiền mặt, vàng, giá trịquyền sử dụng đất…Tài sản góp vốn có thể góp đủ khi thành lập công ty, cóthể góp theo thời hạn và tiến độ cam kết góp đã được các thành viên nhất tríthông qua Điều 173 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về thực hiện gópvốn như sau:

“1 Thành viên hợp danh và thành viên góp vốn phải góp đủ và đúng hạn

số vốn như đã cam kết.

2 Thành viên hợp danh không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết gây thiệt hại cho công ty phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho

Trang 22

công ty.

3 Trường hợp có thành viên góp vốn không góp đủ và đúng hạn số vốn

đã cam kết thì số vốn chưa góp đủ được coi là khoản nợ của thành viên đó đối với công ty; trong trường hợp này, thành viên góp vốn có liên quan có thể

bị khai trừ khỏi công ty theo quyết định của Hội đồng thành viên”.

Như vậy, Luật không quy định cụ thể thời hạn thành viên cam kết góp,

do đó thời hạn này sẽ do Điều lệ công ty quy định Thành viên hợp danh vàthành viên góp vốn có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình, tuynhiên, việc chuyển nhượng này cần tuân theo các quy định khá chặt chẽ vìtính chất liên kết về nhân thân của các thành viên trong công ty hợp danh

Bốn là, huy động vốn của công ty hợp danh: Công ty hợp danh khôngđược phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào để huy động vốn trong côngchúng (Khoản 3 Điều 172 Luật Doanh nghiệp năm 2014) Công ty chỉ có thểtăng vốn điều lệ bằng cách kết nạp thêm thành viên mới, tăng phần vốn gópcủa mỗi thành viên hay ghi tăng giá trị tài sản của công ty Việc huy động vốnbằng các hình thức này không hề dễ dàng Có thể thấy rằng đây chính là điểmhạn chế của công ty hợp danh so với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty

cổ phần

Năm là, tư cách pháp lý và trách nhiệm tài sản của công ty hợp danh:

Khoản 2 Điều 172 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp” Theo quy định này, công ty hợp danh có tư cách pháp lý độc

lập khi tham gia giao dịch, có tài sản độc lập với các thành viên và chịu tráchnhiệm độc lập bằng chính tài sản của mình Quy định này khác với quy địnhcủa Luật Doanh nghiệp năm 1999 và luật của nhiều nước trên thế giới vìkhông thừa nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp danh Mặc dù có nhiềutranh cãi xung quanh quy định này, nhưng Luật Doanh nghiệp năm 2014 vẫn

Trang 23

giữ nguyên quy định này như Luật Doanh nghiệp năm 2005 Quy định nàykhông ảnh hưởng đến tính chịu trách nhiệm vô hạn của thành viên hợp danhnhưng có vai trò giúp công ty hợp danh hoạt động dễ dàng hơn vì có thể nhândanh chính mình thiết lập giao dịch.

1.1.3 Sự phù hợp của mô hình công ty hợp danh với tình hình phát triển kinh tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, ngoài công ty hợpdanh còn có các loại hình doanh nghiệp khác như: Công ty cổ phần, công tytrách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân…Mỗi loại hình doanh nghiệpmang đặc trưng riêng, và có những ưu điểm, hạn chế riêng

Đối với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên thì hạn chếđối với công ty này thể hiện, khi số lượng thành viên công ty luôn bị khốngchế (không được vượt quá 50 thành viên trong mọi trường hợp) Điều này làkhó khăn rất lớn vì với nhu cầu phát triển của công ty thì khó có thể dự đoántrước rằng đến giai đoạn nào, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên cầnphải mở rộng thêm quy mô Ngoài ra, các hạn chế khác của công ty tráchnhiệm hữu hạn hai thành viên còn thể hiện khi việc chuyển nhượng phần vốncủa các thành viên luôn bị hạn chế; mặt khác, tính chất trách nhiệm hữu hạn

về tài sản đôi khi có thể làm giảm trách nhiệm của các thành viên với kháchhàng

Đối với loại hình doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạnmột thành viên thì điểm chung giữa hai loại hình doanh nghiệp này là luôn bị

bó hẹp trong phạm vi kinh doanh nhỏ, lẻ do cả hai loại hình doanh nghiệp nàychỉ có một chủ sở hữu duy nhất Điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp khidoanh nghiệp phát sinh nhu cầu về nguồn vốn lớn, việc huy động vốn từ cácthành viên khác là không thể Ngoài ra, khi chủ doanh nghiệp muốn san sẻ rủi

ro trong quá trình kinh doanh của mình thì việc lựa chọn mô hình doanh

Trang 24

nghiệp một chủ sở hữu là không khả thi và rất khó cạnh tranh với các loạihình công ty có nhiều chủ sở hữu.

Công ty cổ phần là loại hình công ty phát huy nhiều ưu điểm như: cổđông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanhnghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; việc chuyển nhượng

cổ phần linh hoạt; khả năng huy động vốn cao; không hạn chế số lượng cổđông tham gia thành lập công ty Tuy nhiên, bên cạnh các ưu điểm

trên, loại hình công ty cổ phần cũng có một số hạn chế nhất định như: Việcthành lập và quản lý công ty cổ phần phức tạp hơn các loại hình công ty khác

do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về chế độ tàichính, kế toán Hoạt động điều hành công ty cổ phần cũng có phần khó khănhơn do số lượng các cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không quen biếtnhau và thậm chí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ đông đối khángnhau về lợi ích

Công ty hợp danh với các đặc trưng như: Quy mô của doanh nghiệpkhông quá lớn nhưng lại có thể dễ dàng mở rộng quy mô trong dài hạn; Cácthành viên của doanh nghiệp luôn có sự tin tưởng lẫn nhau; Tạo được sự tintưởng cho khách hàng; Cơ cấu tổ chức, quản trị điều hành không quá phứctạp Loại hình công ty này phù hợp với tâm lý kinh doanh đề cao sự tin cậy,quen biết của các nhà đầu tư Việt Nam Có thể khẳng định, yếu tố tin tưởng,hiểu rõ về đối tác luôn đặt nặng trong suy nghĩ kinh doanh của người Việt.Khi đối chiếu các điều kiện này với công ty hợp danh thì ưu điểm của công tyhợp danh chính là kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều thành viên Hơn nữa,nhờ nghĩa vụ liên đới và trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh, làmcho công ty hợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy trước các bạn hàng hay cácđối tác kinh doanh

Trang 25

Do đó, có thể nói, công ty hợp danh là loại hình công ty có nhiều ưuđiểm và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạnhiện nay Tuy nhiên, trên thực tế số lượng công ty hợp danh được thành lập sovới các loại hình công ty khác là không lớn Một trong những nguyên nhâncủa tình trạng trên là quy định của pháp luật hiện hành về công ty hợp danhcòn có nhiều điểm chưa thực sự rõ ràng, việc kiểm soát hoạt động của cácthành viên hợp danh còn hạn chế, điều này tạo lý e ngại cho bản thân cácthành viên muốn hợp danh thành lập công ty cũng như tạo sự mơ hồ cho cácđối tác của công ty, làm giảm sự hấp dẫn của loại hình công ty này so với cácloại hình công ty khác.

1.2 Khái quát chung về dịch vụ pháp lý

1.2.1 Khái niệm dịch vụ pháp lý

Để làm rõ khái niệm “dịch vụ pháp lý”, cần phải làm rõ một số thuật ngữ

có liên quan như: dịch vụ, thương mại, pháp lý…Ở mỗi quốc gia lại có cáchhiểu riêng về các thuật ngữ này

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, dịch vụ xuất hiện vàphát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, phải đến sau thời kỳ đổimới, khái niệm dịch vụ mới dần phổ biến hơn Từ điển tiếng Việt của trung

tâm Từ điển học (xuất bản năm 2004) định nghĩa “dịch vụ là công việc phục

vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công” 1

Từ điển tiếng Anh định nghĩa về dịch vụ với nội dung khá rộng, theo đó,dịch vụ là việc thực hiện các nghĩa vụ hoặc làm công việc cho Chính phủ,công ty…Dịch vụ là công việc được tiến hành bởi các máy móc, phương tiện,

cơ giới; Dịch vụ là công việc được làm cho người khác, là hành vi giúp đỡngười khác, là nghề kinh doanh cung ứng hàng hóa cho khách hàng mà không

Trang 26

thể làm ra hàng hóa đó; Dịch vụ là phục vụ khách hàng ở nhà hàng, nhà trọ, làviệc duy trì, bảo dưỡng phương tiện cơ giới, máy móc định kỳ…

Để có cách hiểu thống nhất về dịch vụ trong quan hệ quốc tế và để đápứng nhu cầu hội nhập kinh tế, quốc tế, năm 1991, Liên Hợp Quốc đã công bốbảng phân loại tạm thời các dịch vụ chủ yếu và đến năm 1997 thì có Bảngphân loại dịch vụ chủ yếu của Liên Hợp quốc Hai bảng phân loại này khôngđưa ra các định nghĩa về dịch vụ, nhưng các hành vi được liệt kê trong bảnggọi là dịch vụ

Việc đưa ra một định nghĩa thống nhất và chính xác về dịch vụ là khákhó khăn, do đó, người ta đã chọn giải pháp liệt kê hành vi cụ thể vào mộtdanh mục thống nhất để phục vụ hoạt động thương mại quốc tế

Cũng tương tự như vậy, thuật ngữ “thương mại” được hiểu theo cácnghĩa khác nhau không chỉ trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa ánhoặc Trọng tài mà còn trong xác định quan hệ thương mại, quan hệ kinh tế,quan hệ dân sự Ở các nước có sự phân biệt các loại quan hệ thuộc phạm viđiều chỉnh khác nhau của Luật Dân sự, Luật Thương mại hoặc Luật Kinh tế.Theo Luật mẫu của UNCITRAL về Trọng tài Thương mại quốc tế thì thuậtngữ “thương mại” cần được giải thích theo nghĩa rộng để bao quát mọi vấn đềphát sinh từ mọi quan hệ mang bản chất thương mại, bất kể quan hệ đó cómang tính chất hợp đồng hay không Các quan hệ mang bản chất thương mại

đó bao gồm, nhưng không giới hạn các giao dịch sau: các giao dịch nhằmcung ứng hoặc trao đổi hàng hóa, dịch vụ; các thỏa thuận về phân phối hànghóa; đại diện hoặc đại lý thương mại; kinh doanh sản xuất…

Vấn đề dịch vụ pháp lý và thương mại dịch vụ pháp lý quốc tế ngày naytrở thành vấn đề thời sự được nhiều luật gia và tổ chức luật sư các nước quantâm Đây là kết quả của quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế của các quốcgia và hội nhập kinh tế, quốc tế Trong điều kiện “thế giới phẳng”, các luật

Trang 27

gia, các luật sư cần tiếp cận nhiều hệ thống pháp luật của các quốc gia khác

nhau trên thế giới, hoạt động tư vấn pháp luật vượt ra ngoài phạm vi biên giới

quốc gia Việc tạo lập hình thức hợp tác giữa các hãng luật góp phần nâng cao

sức cạnh tranh của hoạt động tư vấn pháp luật Tuy vậy, đối tượng chủ yếu

của thương mại dịch vụ pháp lý là ở chỗ tính chất của pháp luật luôn bị chi

phối bởi tính chất của chính quốc gia đó Do vậy, người ta phải cố gắng tìm

cho được những nét tương đồng trong các hệ thống pháp luật lớn của các quốc

gia khác nhau

Trong bối cảnh trên, xét theo nghĩa rộng, dịch vụ pháp lý có thể định

nghĩa là tổng thể các dịch vụ tư vấn pháp luật, dịch vụ đại diện pháp lý và mọi

hoạt động liên quan đến hành chính tư pháp Trong thực tiễn, tại nhiều quốc

gia, các hoạt động liên quan đến hành chính, tư pháp bị loại ra khỏi phạm vi

của dịch vụ pháp lý trong thương mại quốc tế vì các hoạt động đó được coi là

“các dịch vụ được cung cấp khi thi hành thẩm quyền của Chính phủ”

Hiểu theo nghĩa hẹp hơn, thì dịch vụ pháp lý có thể hiểu là tổng thể các

dịch vụ tư vấn pháp luật và dịch vụ đại diện pháp lý được thực hiện theo quy

định của pháp luật của quốc gia nơi các dịch vụ đó được hình thành và có thể

được thực hiện trong các lĩnh vực pháp luật nội dung và thủ tục tố tụng khác

nhau của hệ thống pháp luật quốc gia

ỞViệt Nam, cho đến nay, chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về dịch vụ

pháp lý Dưới góc độ nghiên cứu, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về dịch

vụ pháp lý như:

Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học phápdịchlý,vụ "pháp lý là

loại hình dịch vụ do những tổ chức, cá nhân có hiểu biết,hứccó vàkiến t chuyên môn pháp luật được Nhà nước tổ chức hoặc cho phép hành nghề thư hiện, nhằm đáp ứng nhucầu được biết, được tư vấn hoặc giúp đỡ về mặt p lý của các tổ chức, cá nhân trong xã hội"

Trang 28

Theo TS Đặng Vũ Huân thì: "Dịch vụ pháp lý là tổng thể các dịch vụ tư

vấn pháp luật và dịch vụ đại diện pháp lý được định lập và thực hiện theo quy

định pháp luật của nước nơi các dịch vụ đó được định lập và có thể được thực

hiện trong các lĩnh vực pháp luật nội dung và thủ tục tố tụng khác nhau của

hệ thống pháp luật quốc gia" 2

Theo TS Phan Trung Hoài thì tạiViệt Nam quan niệm vềdịch vụ pháp

luật chưa có được sự thống nhất cao từ phía các nhà làm luật và hoạt đô thực tiễnvà về mặt lý luận và thực tiễn, quan niệmdịchvvềụpháp lý ở Việt

Nam chưa tương thích với khái niệm cùng loại của nhiều nước phát triển trê thế giới cũng như của WTO.Theo đó, để từng bước hoàn thiện pháp luật bảo đảm cho tiến trình hội nhập thị trườngdịchvụ pháp lý quốc tế thì: "cần xác định quan niệm vềdịch vụ pháp

lý phù hợp với tiến trình hội nhập dịch vụ pháp lý quốc -tếmột phần trong các dịch vụ chuyên môn nằm trong phân ngành các dịch vụ kinh doanh"3và "từng bước hướng tới

việc cungdịcấph

vụ pháp lý là dịch vụ độc quyềnủalucật sư"

Chương 6 về "hợp đồng dịch vụ pháp lý cho doanh nghiệp" của Giáo

trình "Một số hợp đồng đặc thù trong hoạt động thương mại và kỹ năng đàm

phán, soạn thảo" của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân

xuất bản năm 2012 đã đưa ra sự phân loại các dịch vụ pháp lý ở Việt Nam,

gồm: dịch vụ tư vấn pháp luật; dịch vụ tranh tụng; dịch vụ đại diện ngoài tố

tụng và dịch vụ pháp lý khác như công chứng, thừa phát lại…;

Có thể nhận thấy đaốcács nghiên cứu về dịch vụ pháp lý tại Việt Nam

đều tiếp cận dịch vụ pháp lý dưới góc độ thương mại, xác định dịch vụ pháp

lý là một loại dịch vụ, theo đó bên cung ứng dịch vụ pháp lý, thực hiện một

2Xem: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp “Dịch

vụ pháp lý ở Việt Nam: Thực trạng, nhu cầu và định hướng phát triển”, Chủ nhiệm đề tài

TS Nguyễn Văn Tuân, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ, pháp luật năm 2005.

3Phan Trung Hoài (2007), Từng bước xây dựng quan niệm về dịch vụ pháp lý phù hợp tiến trình hội

Trang 29

hoặc nhiều công ệcvi có liên quan đến pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu vềpháp lý của bên sử dụng dịch vụ pháp lý Những công việc (dịch vụ) về pháp

lý được nhiều quan điểm xếp thuộc phạm vi dịch vụ pháp lý là dịch vụ tư vấnpháp luật, dịch vụ tranh tụng và dịch vụ đại diện Bên cạnh đó, một số quanđiểm nêu phạm vi dịch vụ pháp lý còn bao gồm thêm loại hình "dịch vụ pháp

lý khác" và xác định đó là dịch vụ công chứng, dịch vụ thừa phát lại

Trong phạm vi luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm dịch vụ pháp lýnhư sau: dịch vụ pháp lý là loại hình dịch vụ gắn liền với pháp luật do nhànước hoặc các tổ chức hành nghề cung ứng dịch vụ pháp lý thực hiện nhằmđáp ứng nhu cầu về pháp lý của tổ chức, cá nhân Dịch vụ pháp lý gồm cácnhóm dịch vụ là: Dịch vụ tư vấn pháp luật, dịch vụ tranh tụng, dịch vụ đạidiện ngoài tố tụng, dịch vụ pháp lý khác: công chứng, thừa phát lại

1.2.2 Dịch vụ pháp lý theo quy định của GATS, WTO

Theo quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), dịch vụ pháp

lý được định nghĩa “bao gồm các lĩnh vực tư vấn và đại diện đối với pháp luật nước tiếp nhận dịch vụ, pháp luật của nước sở tại, nước thứ ba, luật pháp quốc tế; dịch vụ chứng thực giấy tờ tài liệu; các dịch vụ tư vấn và thông tin khác”.

Dịch vụ pháp lý gắn bó trực tiếp và mật thiết với các quy định pháp luậtcủa một nước hay của thế giới Xuất phát từ đặc điểm về “sản phẩm” của loạidịch vụ này là gắn bó mật thiết với hệ thống pháp luật của từng quốc gia, vàpháp luật quốc tế Trong khi đó, mỗi quốc gia có hệ thống pháp luật khácnhau Do đó, sản phẩm dịch vụ pháp lý rất khác nhau Và như vậy, điểm khácbiệt lớn nhất của dịch vụ pháp lý so với các ngành thương mại dịch vụ khácchính là sự gắn bó trực tiếp và mật thiết của các dịch vụ được cung cấp đốivới một hệ thống pháp luật nhất định

Trang 30

Theo nghĩa rộng, dịch vụ pháp lý bao gồm dịch vụ tư vấn, dịch vụ tranhtụng cũng như toàn bộ các hoạt động liên quan đến việc thi hành công lý (nhưhoạt động của thẩm phán, công tố viên, v.v ) Tuy nhiên, loại hoạt động liênquan đến thi hành công lý bị gạt ra ngoài phạm vi của Hiệp định chung vềthương mại dịch vụ của WTO (viết tắt là GATS), bởi vì ở hầu hết các nước,các hoạt động này được coi là “loại dịch vụ được cung cấp để thi hành thẩmquyền của Chính phủ” theo Điều I (3) (c) GATS (dịch vụ được cung cấpkhông trên cơ sở thương mại cũng như không trên cơ sở cạnh tranh với mộthoặc nhiều người cung cấp).

WTO không định nghĩa dịch vụ chung mà chỉ định nghĩa dịch vụ theotừng phân ngành cụ thể và qua các phương thức cung cấp dịch vụ Theo phânloại của WTO, dịch vụ được chia thành 11 ngành chính, mỗi ngành chính lạiphân chia thành nhiều phân ngành nhỏ, tổng số gồm 155 phân ngành Việcphân loại này được quy định trong tài liệu MTN.GNS/W/120 của WTO Dịch

vụ kinh doanh là một trong 11 ngành chính và dịch vụ pháp lý là một phânngành của Dịch vụ kinh doanh

Theo “Bảng phân loại các ngành dịch vụ” của WTO (Tài liệu mã sốMTN.GNS/W/120) thì “(a) dịch vụ pháp luật” được liệt kê với tư cách là tiểungành dịch vụ của “ (A) dịch vụ chuyên môn” nằm trong ngành dịch vụ thứnhất: “1 Dịch vụ kinh doanh”, tương ứng với mã số CPC 861 của Liên hợpquốc, “dịch vụ pháp luật” được chia thành nhiều loại:

- Dịch vụ tư vấn và tranh tụng trong nhiều lĩnh vực pháp luật (CPC8611);

- Dịch vụ tư vấn và tranh tụng liên quan đến luật hình sự (CPC 8611);

- Dịch vụ tư vấn và tranh tụng về các thủ tục tại tòa án liên quan đến cáclĩnh vực pháp luật khác (CPC 86119);

Trang 31

- Dịch vụ tư vấn và tranh tụng về các thủ tục theo quy định của luật thành văn tại các tổ chức mang tính tòa án (CPC 8621/862120);

- Dịch vụ cung cấp và chứng nhận hồ sơ pháp luật (CPC 8613/86130);

- Dịch vụ khác về thông tin pháp luật và tư vấn (CPC 8619/86190);Như vậy, Ủy ban thống kê của Liên hợp quốc phân biệt các dịch vụ pháp

lý theo tiêu chí lĩnh vực luật hình sự hay các lĩnh vực pháp luật khác hoặctheo tiêu chí thủ tục tại tòa án hay thủ tục tại các cơ quan tài phán ngoài tòa

án Có thể thấy rằng các tiêu chí phân loại này không phản ánh được thực tiễnthương mại dịch vụ pháp lý Trong quá trình xây dựng cam kết theo GATS,năm 2002, Australia đã đưa ra cách thức phân loại khác thích hợp hơn trongviệc mô tả các mức độ mở cửa thị trường khác nhau trong dịch vụ pháp lý.Theo các phân loại này, các quốc gia khi gia nhập WTO sẽ cam kết hạn chếhoặc mở rộng việc cung cấp dịch vụ pháp lý liên quan đến luật của nước tiếpnhận dịch vụ, luật của nước cung cấp dịch vụ, luật nước thứ ba hay pháp luậtquốc tế Cách phân loại này được WTO đưa ra trong tuyên bố chung về dịch

vụ pháp lý vào năm 2005 Tuyên bố này cũng đưa ra khái niệm rộng về dịch

vụ pháp lý bao gồm: Dịch vụ tư vấn pháp luật; dịch vụ đại diện; dịch vụ trọngtài và hòa giải; dịch vụ tư vấn, chứng từ pháp lý và chứng thực được thực hiệnbởi các nhà cung cấp dịch vụ được ủy thác bằng các chức năng công như dịch

vụ công chứng Đối với nhóm dịch vụ cuối cùng, một số nước thành viênWTO cũng loại trừ những dịch vụ này ra khỏi phạm vi cam kết về mở cửa thịtrường dịch vụ đặc biệt là dịch vụ công chứng và dịch vụ thừa phát lại WTOcũng hướng dẫn các hoạt động trên không nằm ngoài phạm vi của GATS, phùhợp với Điều I: 3 của GATS, loại trừ những dịch vụ này khi chúng được cungcấp không trên cơ sở thương mại hoặc không phải cạnh tranh với một hoặcnhiều nhà cung cấp dịch vụ khác

Trang 32

1.2.3 Dịch vụ pháp lý theo pháp luật Việt Nam

Dịch vụ pháp lý tại Việt Nam được điều chỉnh bởi nhiều văn bản khácnhau nhưng chưa có một khái niệm cụ thể và thống nhất Thuật ngữ “dịch vụpháp lý” với ý nghĩa thị trường cung, cầu lần đầu tiên được ghi nhận trongPháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 Điều 13 Pháp lệnh quy định ngoài việctham gia tố tụng, các luật sư mở rộng hoạt động nghề nghiệp sang lĩnh vực tưvấn pháp luật và thực hiện dịch vụ pháp lý khác Pháp lệnh này được banhành là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc phát triển và thúc đẩy hoạt độngcủa luật sư Tuy nhiên, trong giai đoạn này số lượng luật sư trong cả nướctăng chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội

Ngày 25/7/2001, Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội về luật sưđược ban hành, thể hiện quan điểm cải cách mạnh mẽ tổ chức và hoạt độngluật sư, nghề luật sư cùng với quan điểm về dịch vụ pháp lý, tạo điều kiện choquá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam Điều 1 Pháp lệnh của Ủy banthường vụ Quốc hội về luật sư năm 2001 quy định Luật sư có quyền tham giahoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theoyêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họtheo quy định của pháp luật Trong giai đoạn này, Luật Doanh nghiệp năm

1999 được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/01/2000 Để hướng dẫn thihành Luật Doanh nghiệp, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 03/2000/NĐ-

CP ngày 03/02/2000 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp,trong đó hướng dẫn về chứng chỉ hành nghề quy định tại khoản 4 Điều 6 củaLuật Doanh nghiệp Theo quy định của Nghị định này, kinh doanh dịch vụpháp lý là ngành nghề kinh doanh có điều kiện và phải có chứng chỉ Tuynhiên, thời điểm đó, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định vềtrình tự, thủ tục, điều kiện và cơ quan có thẩm quyền cấp chứng chỉ hànhnghề kinh doanh dịch vụ pháp lý, vẫn tồn tại song song các văn

Trang 33

phòng luật sư và các công ty luật hoạt động kinh doanh dịch vụ pháp lý thànhlập theo Luật Công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiêp năm 1999.

Trong quá trình Việt Nam gia nhập WTO, để phù hợp với sân chơichung và để thực hiện các cam kết quốc tế, Quốc hội đã ban hành nhiều vănbản quy phạm pháp luật mới để thay thế các văn bản không còn phù hợp LuậtLuật sư được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành kể

từ ngày 01/01/2007 thay thế cho Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội

về luật sư năm 2001

Trên cơ sở kế thừa các quy định của Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987,Điều 4 Luật Luật sư năm 2006 quy định về dịch vụ pháp lý của Luật sư, cụ

thể như sau: “Dịch vụ pháp lý của luật sư bao gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác”.

Cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế, sự xuất hiện của nhữnglĩnh vực pháp luật mới, đặc biệt là trong lĩnh vực luật kinh doanh thúc đẩydịch vụ pháp lý phát triển, tuy nhiên nhu cầu đối với các dịch vụ pháp lý phátsinh nội dung phức tạp hơn Căn cứ vào tuyên bố chung về dịch vụ pháp lýnăm 2005 của WTO và Điều 22 Luật Luật sư năm 2006 về phạm vi hành nghềcủa luật sư, có thể phân loại các dịch vụ pháp lý ở Việt Nam thành các nhómdịch vụ sau:

* Dịch vụ tranh tụng

Đây là nhóm dịch vụ được các luật sư thực hiện độc quyền Theo quyđịnh tại Điều 22 Luật Luật sư năm 2006 thì luật sư tham gia tố tụng với tưcách sau:

- Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn

Trang 34

dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự.

- Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinhdoanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân vàgia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy địnhcủa pháp luật

* Dịch vụ tư vấn pháp luật

Tư vấn pháp luật là một trong các phạm vi hành nghề của luật sư, lần đầutiên hoạt động này được xác định trong Hiến pháp năm 1980 “Tổ chức luật sưđược thành lập để giúp các bị cáo và đương sự khác về mặt pháp lý” TheoPháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987, tư vấn pháp luật được cụ thể hóa là “làm

tư vấn pháp luật cho các tổ chức kinh tế nhà nước, tập thể và tư nhân, kể cảcác tổ chức kinh tế nước ngoài” Hiện nay, theo quy định tại Điều 28 LuậtLuật sư năm 2006 thì hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư được hiểu là:

“Tư vấn pháp luật là việc luật sư hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp khách hàng soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ Luật sư thực hiện tư vấn pháp luật trong tất cả các lĩnh vực pháp luật” Từ

quy định trên, có thể hiểu tư vấn pháp luật là việc giải đáp pháp luật, hướngdẫn cá nhân, tổ chức xử sự đúng pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý để các cánhân, tổ chức thực hiện và bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình.Hoạt động tư vấn pháp luật không dựa vào vốn, tài sản mà dựa vào kiếnthức pháp luật, kĩ năng hành nghề của chủ thể cung ứng dịch vụ pháp lý Tưvấn pháp luật mang tính dự liệu những vấn đề pháp lý có thể xảy ra, những hệquả phát sinh khi thực hiện công việc nào đó Luật sư sẽ cung cấp thông tingiúp cá nhân, tổ chức giải quyết vấn đề, phòng tránh được các rủi ro Lĩnh

Trang 35

vực tư vấn pháp luật rất đa dạng gồm: tư vấn, hướng dẫn soạn thảo văn bản,

tư vấn trình tự, thủ tục thực hiện công việc…phương thức tư vấn có thể bằnglời nói, bằng văn bản, email…

* Dịch vụ đại diện ngoài tố tụng

Điều 29 Luật Luật sư năm 2006 quy định hoạt động đại diện ngoài tố

tụng của luật sư đó là: “Luật sư đại diện cho khách hàng để giải quyết các công việc có liên quan đến việc mà luật sư đã nhận theo phạm vi, nội dung được ghi trong hợp đồng dịch vụ pháp lý hoặc theo sự phân công của cơ quan, tổ chức nơi luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động”.

Theo đó, đại diện ngoài tố tụng là luật sư đại diện theo ủy quyền để xáclập, thực hiện giao dịch nhân danh khách hàng tiến hành các công việc ngoàiphạm vi tố tụng tòa án để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho khách hàng

* Dịch vụ pháp lý khác

Trong thời kỳ kinh tế phát triển theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tậptrung thì các ngành dịch vụ không có điều kiện phát triển, nền sản xuất hànghóa được coi là nhân tố quyết định, nhà nước chỉ quan tâm, tập trung pháttriển các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục…Tuy nhiên, trong thời đạihội nhập sâu rộng, việc xã hội hóa các dịch vụ cơ bản trên là một đòi hỏi tấtyếu của nền kinh tế thị trường Trên cơ sở kết quả đạt được trong việc thựchiện xã hội hóa dịch vụ cơ bản, nhà nước tiếp tục cho phép xã hội hóa hoạtđộng công chứng Các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động nàynhư: Luật Công chứng số 53/2014/QH13 ngày 20/6/2014 của Quốc hội (LuậtCông chứng năm 2014), Nghị định số 29/2015/NĐ-CP ngày 15/3/2015 củaChính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Côngchứng, Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 19/01/2012hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí công chứng,

Trang 36

Thông tư liên tịch số 115/2015/TTLT-BTC-BTP ngày 11/8/2015 sửa đổi, bổsung một số điều của thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BTC-BTP ngày19/01/2012 hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phícông chứng đã xác lập cơ sở pháp lý quan trọng nhằm thực hiện xã hội hóahoạt động công chứng, tạo điều kiện để công dân và tổ chức được thụ hưởngtốt nhất dịch vụ này.

Tương tự đối với chế định thừa phát lại, thực hiện chủ trương “từng bước

xã hội hóa hoạt động thi hành án”, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số24/2008/QH12 về thi hành Luật Thi hành án dân sự, trong đó giao cho Chínhphủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm Thừa phát lại Để tạo cơ sở pháp

lý cho việc triển khai thực hiện, Chính phủ đã ban hành Nghị định số135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung tên gọi vàmột số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ

về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố HồChí Minh Bộ Tư pháp phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng, ban hành 03Thông tư để hướng dẫn, triển khai thực hiện chế định thừa phát lại Trên cơ sởtổng kết kết quả thực hiện thí điểm thừa phát lại tại 13 địa phương, ngày26/11/2015, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 107/2015/QH13 chấm dứtviệc thực hiện thí điểm, cho thực hiện chế định thừa phát lại trong phạm vi cảnước kể từ ngày 01/01/2016

1.3 Khái niệm, đặc điểm của công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiện nay

* Khái niệm công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch

vụ pháp lý Công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch

vụ pháp lý là doanhnghiệp, trong đó: (i) phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung củacông ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (gọi là thành viên hợpdanh), các thành viên hợp danh phải đáp ứng các tiêu chuẩn được quy định

Trang 37

trong văn bản quy phạm pháp luật về Luật sư, Công chứng, Thừa phát lại;Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sảncủa mình về các nghĩa vụ của công ty Công ty hợp danh trong lĩnh vực cungcấp dịch vụ pháp lý không có thành viên góp vốn; (ii) Công ty hợp danh có tưcách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp;(iii) Công ty hợp danh không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào.

* Đặc điểm công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý

Công ty hợp danh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý có các đặcđiểm của công ty hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp, đồng thời

có một số đặc điểm riêng của công ty cung cấp dịch vụ pháp lý Công ty hợpdanh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ pháp lý do ít nhất hai thành viên hợpdanh thành lập, công ty không có thành viên góp vốn Thành viên hợp danhphải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa

vụ của công ty Đây là nòng cốt của công ty hợp danh, nếu không có thànhviên này công ty không thể thành lập và hoạt động Trong công ty hợp danhphải có ít nhất hai thành viên hợp danh Các thành viên hợp danh liên kết vớinhau chủ yếu dựa vào nhân thân, liên kết về vốn chỉ là thứ yếu Thành viênhợp danh trong công ty cung cấp dịch vụ pháp lý phải đáp ứng được các yêucầu của luật chuyên ngành

Đối với công ty luật hợp danh, thành viên hợp danh phải là luật sư, theo

đó, thành viên hợp danh phải đáp ứng các tiêu chuẩn của luật sư theo quy địnhtại Điều 10 Luật Luật sư Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 củaLuật Luật sư muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật

sư và gia nhập một Đoàn luật sư Bên cạnh đó để thành lập công ty Luật hợpdanh, tổ chức hành nghề cần đáp ứng được các điều kiện quy định tại Điều 32Luật Luật sư được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 15 Điều 1 củaLuật số 20/2012/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư,

Ngày đăng: 09/12/2019, 07:58

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w