1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu và triển khai hệ thống truyền hình tương tác sử dụng màn hình thứ hai dựa trên nền tảng hạ tầng viễn thông

63 126 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 3,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮTAPI Application Programming CDN Content Delivery Network/ Content Distribution Network Mạng phân phối nội dung CODEC Compressor-Decompressor hay Cod

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ



NGUYỄN THẾ TÙNG

NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI HỆ THỐNG TRUYỀN HÌNH TƯƠNG TÁC SỬ DỤNG MÀN HÌNH THỨ HAI DỰA

TRÊN NỀN TẢNG HẠ TẦNG VIỄN THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ



NGUYỄN THẾ TÙNG

NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI HỆ THỐNG TRUYỀN HÌNH TƯƠNG TÁC SỬ DỤNG MÀN HÌNH THỨ HAI DỰA

TRÊN NỀN TẢNG HẠ TẦNG VIỄN THÔNG

Ngành: Công nghệ thông tin Chuyên ngành: Kỹ thuật phần mềm

Mã số: 60480103

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Lê Sỹ Vinh

Trang 3

HÀ NỘI – 2015 LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Nguyễn Thế Tùng, học viên khóa K20, ngành Công nghệ thông tin,chuyên ngành Kỹ thuật phần mềm Tôi xin cam đoan luận văn “Nghiên cứu vàtriển khai hệ thống truyền hình tương tác sử dụng màn hình thứ hai dựa trên nềntảng hạ tầng viễn thông” là do tôi nghiên cứu, tìm hiểu và phát triển dưới sựhướng dẫn của PGS.TS Lê Sỹ Vinh, không phải sự sao chép từ các tài liệu, côngtrình nghiên cứu của người khác mà không ghi rõ trong tài liệu tham khảo Tôixin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Hà Nội, ngày tháng năm

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 2

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ 6

MỞ ĐẦU 7

CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG TRUYỀN HÌNH TRÊN THẾ GIỚI VẢ Ở VIỆT NAM ……… 1

1.1 Tổng quan hệ thống và thị trường truyền hình thế giới 1

1.2 Hiện trạng sản xuất chương trình tương tác tại các Đài Truyền hình ở Việt Nam 8

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN HÌNH TƯƠNG TÁC ………

10 2.1 Giới thiệu và đặc điểm của truyền hình tương tác 10

2.1.1 Giới thiệu truyền hình tương tác 10

2.1.2 Đặc điểm của truyền hình tương tác 11

2.2 Giới thiệu đa màn hình (multi-screen) 12

2.3 Thiết kế tổng quan hệ thống truyền hình tương tác 14

2.3.1 Khái niệm nền tảng 14

2.3.1.1 Nội dung thông thường và nội dung có gắn dữ liệu thời gian (timed content) 14

2.3.1.2 Dòng thời gian (timeline) 15

2.3.2 Tác nhân tham gia 16

2.3.2.1 Đài Truyền hình 16

2.3.2.2 Nhà cung cấp dịch vụ phân phối (Delivery Service Provider) 17

2.3.2.3 Khách hàng/Khán thính giả (Consumer) 17

2.3.3 Thiết bị sử dụng 18

2.3.3.1 Thiết bị truyền hình (TV Device) 18

2.3.3.2 Thiết bị đồng hành (Companion Device) 18

2.3.4 Mối quan hệ giữa khái niệm, tác nhân và thiết bị 19

2.3.5 Kiến trúc tổng thể (General Architecture) 20

2.4 Phân loại Truyền hình tương tác 21

2.4.1 Truyền hình tương tác dựa trên nền tảng hạ tầng vô tuyến truyền hình – tương tác trực tiếp với dòng dữ liệu truyền hình (Direct Communication) 21

2.4.2 Truyền hình tương tác dựa trên nền tảng hạ tầng viễn thông – tương tác gián tiếp với dòng dữ liệu truyền hình (Indirect Communication) 24

CHƯƠNG 3: HIỆN TRẠNG, KIẾN TRÚC TRIỂN KHAI VÀ MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG ……… 26

Trang 5

3.1 Hiện trạng hệ thống sản xuất chương trình của Đài Truyền hình 26

3.2 Nhiệm vụ cụ thể của các khối chức năng (bộ phận phụ trách) 29

3.3 Kiến trúc triển khai 30

3.3.1 Khối chức năng “Quản lý, điều hành các dịch vụ đồng hành” 30

3.3.2 Khối chức năng “Đồ họa” 33

3.3.3 Khối chức năng “Sản xuất nội dung đa màn hình” 36

3.3.4 Khối chức năng “Mạng phân phối nội dung” 37

3.4 Mô hình vận hành thực tế 37

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH, THIẾT KẾ VÀ TRIỂN KHAI HỆ THỐNG THỬ NGHIỆM ……… 39

4.1 Phát biểu bài toán, phân tích thiết kế ca sử dụng “Bình chọn, thăm dò ý kiến” 39

4.2 Thiết kế khối chức năng “Sản xuất nội dung đa màn hình” 42

4.3 Mô hình thực nghiệm 45

4.4 Kết quả thử nghiệm 45

KẾT LUẬN 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 6

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

API Application Programming

CDN Content Delivery Network/

Content Distribution Network

Mạng phân phối nội dung

CODEC Compressor-Decompressor

hay Coder-Decoder

là một thiết bị phần cứng hoặc là mộtchương trình phần mềm cho phép mãhóa và giải mã các luồng dữ liệu số hoặc

là tín hiệuCSA Companion Screen Application Ứng dụng màn hình đồng hành

CSS-CII Content Identification and other

Information Giao diện chuyển tiếp Nhận dạng nội dungvà những thông tin khác CSS-LP Companion Screens and

thời gian

EPG Electronic Program Guide Lịch phát sóng điện tử

HD High Definition Kỹ thuật hiển thị Độ nét cao hay Độ phân

giải cao MAM Media Asset Management Hệ thống quản lý tài nguyên truyền thông PVR Personal Video Recorder Máy ghi hình/quay phim cá nhân

SD Standard Definition Kỹ thuật hiển thị Độ nét tiêu chuẩn

SDI Serial Digital Interface Một trong số chuẩn truyền hình kỹ thuật số

được phát triển bởi SMPTE (Society of Motion Picture and Television Engineers - Hiệp hội kỹ sư điện ảnh và truyền hình quốc tế)

SOAP Simple Object Access Protocol Giao thức truy cập đối tượng đơn giản

WSDL Web Service Definition

Trang 7

DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

Hình 1.1: Tương lai của truyền hình 3

Hình 1.2: Chương trình “Nhân tố bí ẩn” – Sky Italia 6

Hình 2.1: Vị trí và phương thức cung cấp thông tin của bốn loại phương tiện màn hình 14

Hình 2.2: Mối quan hệ giữa khái niệm, tác nhân và thiết bị [3] 19

Hình 2.3: Kiến trúc tổng thể [3] 20

Hình 2.4: Các giao diện chuyển tiếp dành cho kết nối trực tiếp [3] 22

Hình 3.1: Sơ đồ khối quy trình sản xuất của Đài Truyền hình 26

Hình 3.2: Khối chức năng “Phát sóng” 28

Hình 3.3: Khối chức năng “Quản lý, điều hành các dịch vụ đồng hành” 31

Hình 3.4: Khối chức năng “Đồ họa” 33

Hình 3.5: Khối chức năng “Phát sóng” và “Đồ họa” cài đặt ở hai máy trạm làm việc khác nhau [9] 34

Hình 3.6: Khối chức năng “Phát sóng” và “Đồ họa” cài đặt trên cùng một máy trạm làm việc – Blackmagic Cards [9] 35

Hình 3.7: Khối chức năng “Phát sóng” và “Đồ họa” cài đặt trên cùng một máy trạm làm việc – Logic [9] 35

Hình 3.8 Mẫu đồ họa [9] 36

Hình 3.9 Tính năng xem trước (preview) mẫu đồ họa [9] 36

Hình 3.10: Mô hình vận hành thực tế – Hệ thống truyền hình tương tác sử dụng màn hình thứ hai dựa trên nền tảng hạ tầng viễn thông 38

Hình 4.1: Biểu đồ Use case “Bình chọn, thăm dò ý kiến” 40

Hình 4.2: Biểu đồ hoạt động “Bình chọn, thăm dò ý kiến” 42

Hình 4.3: Khối chức năng “Sản xuất nội dung đa màn hình” 43

Hình 4.4: Sơ đồ đấu nối thiết bị ProMedia Live & Package (PM 1200) 44

Hình 4.5: PM 1200 - Định dạng dữ liệu đầu ra 44

Hình 4.6: Mô hình thử nghiệm – Hệ thống truyền hình tương tác sử dụng màn hình thứ hai dựa trên nền tảng hạ tầng viễn thông 46

Hình 4.7: Ứng dụng Android – Vitamio 47

Hình 4.8: Ứng dụng Android – Vitamio – Mã nguồn 47

Hình 4.9: Ứng dụng Android – Thăm dò ý kiến 48

Hình 4.10: Ứng dụng Android – Thăm dò ý kiến – Mã nguồn 48

Hình 4.11: Ứng dụng điều khiển máy trạm đồ họa – Giao diện người sử dụng 49

Hình 4.12: Ứng dụng điều khiển máy trạm đồ họa – Mã nguồn 49

Hình 4.13: Máy chủ CasparCG 50

Trang 8

MỞ ĐẦU

Trong thời đại công nghệ số ngày càng phát triển, Internet đã gián tiếpdẫn đến sự kết thúc hàng loạt các báo giấy/các hãng thông tấn trên thế giới.Internet đã bắt đầu gây ảnh hưởng và lấn sân sang chiếm khách hàng của cáchãng truyền hình buộc các nhà đài phải thích nghi với sự phát triển như vũ bãocủa thiết bị di động, thiết bị số thông minh, điện thoại thông minh, dịch vụ videotheo yêu cầu, mạng xã hội, truyền hình tương tác để có thể giữ được lượng khángiả cùng các nhà quảng cáo Hãng nghiên cứu Forrester Research đánh giá:

"Khoảng trống giữa những gì người tiêu dùng muốn và ngành công nghiệptruyền hình mang lại đã trở nên rất lớn tới mức ngành công nghiệp truyền hìnhphải có một số động thái thay đổi" Xu hướng thưởng thức nội dung chươngtrình truyền hình trên đa màn hình cũng đòi hỏi khác biệt về mặt nội dung so vớitruyền hình truyền thống Người xem truyền hình không còn đơn thuần chỉ làxem các chương trình sẵn có trên truyền hình, mà họ còn muốn tương tác nhiềuhơn với nội dung mà họ yêu thích như “like”, chia sẻ cho bạn bè, bình luận, mờibạn bè cùng xem, hoặc ở một mức độ cao hơn có thể nhúng các chương trình họyêu thích vào một nội dung nào đó Xu thế của truyền hình sẽ là truyền hìnhtương tác, truyền hình đa phương tiện và cá thể hóa nội dung hiển thị

Các thay đổi về nội dung và công nghệ kéo theo những thay đổi về dịch

vụ cung cấp qua truyền hình và loại hình phân phối nội dung Các dịch vụ cungcấp qua truyền hình trở nên đa dạng hơn, có thể đơn giản như lịch phát sóngđiện tử (EPG - Electronic Program Guide), lựa chọn kênh tiếng, lựa chọn phụ

đề, v.v… đến phức tạp hơn như tương tác thời gian thực qua cả màn hình chính

và màn hình phụ (Second Screen) Việc sử dụng màn hình thứ hai (dual-screen)với 96% người dùng và màn hình thứ ba (triple-screen) với hơn 8/10 người dùngtạo ra cơ hội và thách thức đối với các nhà quảng cáo và chủ sở hữu phương tiệntruyền thông Nhiệm vụ trước mắt là các Đài truyền hình phải thu hút khán giảvới nội dung hấp dẫn giữ người xem Cơ hội cũng tồn tại cho những nhà pháttriển các chiến lược nền tảng thông minh có sử dụng các màn hình thứ hai và thứ

ba để tăng cường và bổ sung cho màn hình chính Sự phát triển mạnh mẽ củangành công nghệ thông tin cùng với sự đa dạng của công nghệ giải trí gia đình,thiết bị di động; xu hướng số hóa truyền dẫn, phát sóng đã mang đến nhiều cơhội cùng với những thách thức mới cho ngành truyền hình thế giới nói chung vàtruyền hình Việt Nam nói riêng Để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức, cácĐài truyền hình tại Việt Nam cần có sự điều chỉnh về xu hướng phát triển cũng

Trang 9

như tiếp cận và ứng dụng những công nghệ, kỹ thuật mới vào công tác của

mình Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu và triển khai hệ thống truyền hình tương tác sử dụng màn hình thứ hai dựa trên nền tảng hạ tầng viễn thông”.

Luận văn tập trung tìm hiểu các khái niệm nền tảng, tác nhân tham gia,thiết bị, các giao diện chuyển tiếp trong kiến trúc hệ thống truyền hình tươngtác Các giao diện chuyển tiếp được phân thành hai loại: (1) truyền hình tươngtác dựa trên nền tảng vô tuyến truyền hình – tương tác trực tiếp với dòng dữ liệutruyền hình, (2) truyền hình tương tác dựa trên nền tảng hạ tầng viễn thông –tương tác gián tiếp với dòng dữ liệu truyền hình Nhằm làm rõ mô hình hoạtđộng của hệ thống truyền hình tương tác dựa trên nền tảng hạ tầng viễn thông,chúng tôi áp dụng giao diện chuyển tiếp “Đường dẫn chuyển tiếp và kiểm soát

dữ liệu” (CSS-LP – Companion Screens and Streams-Link Proxy), giải quyếtbài toán “Bình chọn, thăm dò ý kiến” Trong đó, chúng tôi chỉ xem xét các thànhphần cơ bản của biểu đồ hoạt động: khối chức năng “Phát sóng”, khối chức năng

“Quản lý, điều hành các dịch vụ đồng hành”, khối chức năng “Đồ họa”, khốichức năng “Sản xuất nội dung đa màn hình” Cấu phần khối chức năng “Mạngphân phối nội dung” khó thực hiện ở ví dụ này chưa được xử lý Cấu trúc luậnvăn được tổ chức như sau:

- Chương 1: Thực trạng hệ thống truyền hình trên thế giới và ở Việt Nam

- Chương 2: Cơ sở lý luận về truyền hình tương tác

- Chương 3: Hiện trạng, kiến trúc triển khai và mô hình hoạt động

- Chương 4: Phân tích, thiết kế và triển khai hệ thống thử nghiệm

Trang 10

1 CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG TRUYỀN HÌNH TRÊN THẾ

GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

Chương này giới thiệu thực trạng hệ thống truyền hình trên thế giới và ởViệt Nam Mở đầu chương, chúng tôi trình bày về tổng quan hệ thống và thịtrường truyền hình thế giới, một số xu hướng quyết định sự thay đổi của hệthống sản xuất, phân phối nội dung Đồng thời, chúng tôi phân tích chương trình

“Nhân tố bí ẩn” của hãng Sky Italia làm minh chứng rõ ràng cho một hệ sinhthái các nội dung dịch vụ trên đa dạng màn hình và đa dạng chủng loại thiết bịđầu cuối, sử dụng một nền tảng dùng chung Về hệ thống truyền hình ở ViệtNam, các dịch vụ tương tác vẫn còn tương đối đơn giản, chủ yếu là hình thứcthủ công, chưa kết nối và sử dụng dữ liệu tự động từ các hệ thống sản xuất hiệntại Những xu hướng như quảng cáo tương tác, truyền hình dữ liệu, v.v… đềuchưa được ứng dụng tại hầu hết các Đài Truyền hình ở Việt Nam

1.1 Tổng quan hệ thống và thị trường truyền hình thế giới

Tính đến thời điểm hiện tại, quá trình định hướng truyền hình đã trải qua

ba giai đoạn chủ chốt:

- Media 1.0: Đặc trưng bởi việc tạo và phân phối các nội dung đã được sảnxuất làm sẵn đến khán giả theo mô hình quảng bá tuyến tính, theo lịchphát sóng cố định

- Media 2.0: cung cấp sự tiện lợi và linh hoạt hơn cho người dùng bằng cácdịch vụ xem theo yêu cầu, tăng cường sự kiểm soát của người dùng vàonội dung chương trình yêu thích và không lệ thuộc vào lịch phát sóng(pay-per-view, VOD, PVR, Time-Shifted, v.v…)

- Media 3.0: đặc trưng bởi tính tương tác và cá thể hóa (Interactive &Personalize TV) cho phép khán giả tương tác nhiều hơn với nhau và vớinội dung muốn xem Media 3.0 cung cấp các tùy biến dựa trên cơ sở thuthập thông tin hành vi người dùng về sở thích, thói quen, v.v… trên cơ sởtích hợp chặt chẽ với Internet và mạng xã hội, đồng thời không gắn chặthành động nghe/nhìn vào một thiết bị hay không gian cụ thể nào (Truyềnhình đa phương tiện, truy cập mọi nơi, mọi lúc, trên mọi thiết bị)

Cùng với sự gia tăng nhanh chóng về mức độ tiêu thụ thiết bị công nghệ

và thời gian cho việc lên mạng, thói quen sử dụng thiết bị công nghệ để xem các

Trang 11

nội dung số của người tiêu dùng cũng có sự thay đổi Người dùng muốn tìmnguồn nội dung mà họ muốn theo cách thức đơn giản, thuận tiện; phụ thuộckhông còn là hành vi của đại đa số người dùng phương tiện truyền thông nữa.

Họ muốn có sự lựa chọn một cách chủ động về cách thức, thời gian và địa điểm

mà họ có thể thu được nội dung, thông tin và trải nghiệm Điều này được thểhiện không chỉ bằng việc sở hữu ngày càng tăng và sử dụng các thiết bị phươngtiện mới mà còn trong hành vi người tiêu dùng Bởi vậy, xu hướng cùng mức độ

sử dụng các dịch vụ nội dung số (Media Content) của người tiêu dùng đã có sựthay đổi nhanh chóng trong thời gian gần đây, theo một bản báo cáo do công tyNielsen cung cấp [6], mức độ sở hữu các thiết bị có kết nối của người tiêu dùngtrên thế giới đang gia tăng nhanh chóng Điều này giúp cho người sử dụng cóthể vừa lái xe vừa lắng nghe thông tin, truy cập các dịch vụ nội dung số vào bất

cứ khi nào và ở bất cứ nơi đâu Báo cáo cũng gợi mở các xu hướng chính có tácđộng đến thói quen tiêu dùng của những người sử dụng kỹ thuật số trong khuvực: tính kết nối ngày càng tăng lên; gia tăng nhu cầu về quyền lựa chọn vàkiểm soát nội dung thông tin; và sự tăng trưởng mạnh mẽ về nhu cầu xem cácnội dung số trực tuyến

Hiện nay các dịch vụ truyền hình sử dụng đầu giải mã set-top box đangdần trở nên lỗi thời do chi phí cũng như độ tiện lợi không cao, chỉ sử dụng đượctrên TV và màn hình máy tính Xu hướng mới là “TV Everywhere” (xem Hình

1 1), một người chỉ cần có thiết bị kết nối Internet là có thể xem được truyềnhình, điển hình trên thế giới có thể kể đến Netflix(https://www.netflix.com/vn/),Hulu(http://www.hulu.com/), v.v… Các nhà cung cấp này cung cấp ứng dụngxem truyền hình trên cả 4 loại màn hình: TV, PC, Smartphone, Tablet, thậm chítrên cả các máy chơi game như Xbox, PS4, v.v… Ngoài ra, xu hướng còn tiếptục tích hợp truyền hình tương tác với các mạng xã hội, người xem có thể vừaxem truyền hình đồng thời vừa có thể bàn luận trên các trang mạng xã hội, nhàđài qua đó có thể biết được ý kiến của người xem tốt hơn

Trang 12

Những xu hướng về thói quen theo dõi, sử dụng nội dung của người dùngdẫn đến sự thay đổi về mô hình sản xuất, phân phối nội dung của các tổ chứcphát thanh truyền hình trên thế giới Chúng tôi có thể kể ra một số xu hướngquyết định sự thay đổi của hệ thống sản xuất, phân phối nội dung như sau đây(nội dung toàn văn được trình bày ở tài liệu [2]):

- Toàn bộ quy trình sản xuất dịch chuyển sang File-based và IP-based: Đây

là bước phát triển theo quy luật của quy trình sản xuất, từ tín hiệu tương

tự (Analog) sang tín hiệu số (SD-HD-SDI), chuyển sang toàn bộ based và IP-based Đây sẽ là điểm khởi đầu cho bước tiếp theo là chuyển

Filed-từ sản xuất phát sóng trên một nền tảng (cho TV) sang sản xuất phân phối

đa định dạng, đa nền tảng

- Hình thành một nền tảng xuyên suốt từ quá trình sản xuất, phân phối nộidung của các Đài Truyền hình tới thiết bị đầu cuối của người xem: Điềunày giúp cho việc tương tác của người dùng với các nội dung của đàitruyền hình được dễ dàng hơn, người xem được coi là trung tâm, trở thànhmột phần của chương trình, có thể tương tác, chia sẻ nội dung trên cácloại phương tiện khác nhau Dữ liệu đặc tả (Metadata) đóng vai trò quyếtđịnh trong việc hình thành nền tảng này Sử dụng chung chuẩn dữ liệu đặc

tả cho phép đồng bộ dữ liệu giữa các hệ thống sản xuất và phân phối nộidung; kết nối, đồng bộ hóa lớp ngữ cảnh truyền hình với ngữ cảnh củangười xem, đồng bộ dữ liệu giữa các màn hình của người xem, v.v…

Hình 1.1: Tương lai của truyền hình

Trang 13

- Sản xuất một lần, xuất bản mọi nơi (Create Once, Pulish COPE): Với xu hướng COPE, nội dung được tạo ra, chia sẻ và tái sử dụngmột cách dễ dàng trong cả hệ thống sản xuất, phân phối của đài truyềnhình Tiếp đó các nội dung được phân phối trên mọi nền tảng khác nhau

Everywhere-và sử dụng chung chỉ một hạ tầng, tài nguyên Việc này làm giảm chi phíđầu tư của các đài truyền hình, vốn chịu sức ép lớn từ việc luôn phải mởrộng hệ thống lưu trữ trong khi các dữ liệu nội dung bị trùng lặp rất nhiềutrong các hệ thống riêng lẻ Từ đó hình thành một khái niệm nội dung mớidành cho truyền hình tương tác, với những đặc tính của một sản phẩm nộidung có khả năng lan truyền, tạo động lực hành động Đây là dạng sảnphẩm nội dung gồm lớp thông tin chính và đa dạng các lớp dữ liệu, ứngdụng liên quan, có thể tương tác với nội dung chính và tương tác lẫn nhau.Các lớp dữ liệu được hiển thị theo sở thích của người dùng hoặc theo khảnăng của thiết bị đầu cuối Các lớp dữ liệu có thể là dạng văn bản (Text),hình ảnh, video, web-object, v.v… có liên quan về mặt ngữ cảnh với nộidung truyền thống đang phát Nội dung của các dữ liệu này có thể là cácthông báo của chính quyền (Government Access Television - GATV), các

dữ liệu quảng cáo, các thông tin địa dư, thông tin báo chí, v.v… và đượccung cấp bởi các đài truyền hình hoặc các đối tác thứ ba

- Sự thay đổi về kiến trúc thiết kế của hệ thống MAM (Media AssetManagement): Vốn là xương sống của toàn bộ hoạt động quản lý sảnxuất, phát sóng của một Đài truyền hình, đến nay hệ thống MAM đã cónhững thay đổi về mặt cơ bản để đáp ứng được nhu cầu mở rộng của hệthống sản xuất, phân phối nội dung đa nền tảng Hệ thống MAM đượcthiết kế lại với kiến trúc hướng dịch vụ (SOA – Service-orientedArchitecture) để sẵn sàng tích hợp ở mức dịch vụ với các hệ thống khácnhư hệ thống quản trị quy trình (BPM - Business Process Management),

hệ thống theo dõi, báo cáo, hệ thống phân phối đa nền tảng, v.v…

- Các hệ thống quản lý, phân tích hành vi người dùng, hệ thống quản lýquảng cáo khả chuyển (cross-platform): Mọi hành vi của người dùng trên

hệ thống sẽ được thu thập, lưu trữ và phân tích nhằm nắm được thói quen

sử dụng của cá nhân, từ đó sẽ đưa ra các gợi ý về nội dung, các quảng cáohướng đối tượng, phân nhóm người dùng, v.v… Bên cạnh đó, các chiếndịch quảng cáo cho các mặt hàng, sản phẩm cũng sẽ được quản lý tậptrung nhằm đưa ra các hình thức quảng cáo phù hợp cho từng đối tượng,từng thời điểm, khu vực địa lý và từ đó khai thác được tối đa lợi thế của

Trang 14

các đài truyền hình là quảng bá, phân phối trên đa phương tiện, đa nềntảng.

- Xu hướng ảo hóa, điện toán đám mây (Cloud Computing): Trước đây,một đài truyền hình là một tổ hợp khổng lồ của các loại thiết bị với cáckết nối rất phức tạp Tuy nhiên, với mô hình quản lý, phân phối hiện naynhư của Netflix, Hulu, v.v… thì một tổ chức phát thanh truyền hình hoàntoàn đã có thể dịch chuyển sang mô hình ảo hóa và điện toán đám mây.Thậm chí, có những tổ chức hoàn toàn không có hạ tầng phần cứng màtoàn bộ đi thuê, chỉ tập trung vào việc phát triển các sản phẩm và dịch vụnội dung với khách hàng

- Xu hướng về dịch vụ, phân phối nội dung: Việc phân phối nội dungkhông còn chỉ trên các hình thức truyền thống như sóng vô tuyến truyềnhình - truyền hình số mặt đất, truyền hình cáp hữu tuyến, truyền hình số

vệ tinh, mà tập trung phân phối trên các nền tảng internet như IPTV,OTT, Webcast, v.v… để tiếp cận được với người dùng mọi nơi, mọi lúc

và trên mọi thiết bị Các xu hướng phân phối mới nổi bật là phân phối nộidung qua các mạng xã hội, phân phối cho các thiết bị cầm tay, tối ưu hóatìm kiếm cho người dùng và tận dụng sức mạnh của các nền tảng Videophổ biến như Youtube, Vimeo, v.v…

Sự thay đổi chuỗi giá trị trong sản xuất truyền hình tương tác đa phươngtiện cũng như đưa ra những gợi ý từ giải pháp tổ chức sản xuất nội dung và dịch

vụ cho truyền hình tương tác đa phương tiện đã được triển khai với chương trình

“Sky Italia's X Factor” của Italy Lần đầu tiên, khái niệm mạng xã hội truyền

hình được hiện thực hoá bằng chính những thử nghiệm giải pháp tương tác khángiả với mô hình dữ liệu động, cung cấp nội dung theo nhu cầu và thói quen xemtruyền hình của người dùng qua phương thức "máy học" - hệ trí tuệ nhân tạo chophép tìm hiểu, phân tích hành vi khán giả Sky Italia's X Factor là minh chứng rõràng cho:

- Một hệ sinh thái các nội dung dịch vụ trên đa dạng màn hình và đa dạngchủng loại thiết bị đầu cuối

Trang 15

o thống nhất quản lý xuất bản trực tuyến (nội dung, dịch vụ, địnhdạng, kênh phân phối, v.v…)

o đồng bộ chính sách giám sát kiểm soát chất lượng trên đa mạngtheo thời gian thực

Chương trình “Nhân tố bí ẩn” (The X Factor) là một trong những địnhdạng truyền hình thành công nhất trong 10 năm trở lại đây Hàng năm, trướcthời điểm khởi tạo chương trình vài tháng, Sky Italia đưa ra một loạt các phần

mở rộng trực tuyến để thu hút sự tham gia của khán giả và mở rộng việc tiếp cậnchương trình theo hướng đa màn hình, đa nền tảng – Tivi truyền thống, Website,thiết bị di động – tại các thời điểm trước, trong và sau khi phát sóng

Thứ năm hàng tuần vào lúc 21:00, trước mỗi số phát sóng của “Nhân tố bíẩn”, Sky Italia xuất bản trên Website riêng của mình những nội dung độc quyềnliên quan đến chương trình như "Web Factor" và "Xtra Factor" (xem Hình 1 2).Trong "Web Factor", tồn tại một hệ thống tương tác trực tiếp với những ngườitham gia hậu trường chỉ vài phút trước khi phát sóng trực tiếp, nhằm bật mí mộtvài thông tin liên quan đến nội dung chuẩn bị lên sóng Trong "Xtra Factor", họthu thập và xuất bản những bức hình có chủ đề về ấn tượng đầu tiên của cácthành viên ban giám khảo, ngay sau khi chương trình kết thúc việc thu hình.Ngoài ra, "Xtra Factor" còn thiết lập tính năng như một mạng xã hội, nơi chia sẻ

ý kiến cũng như cảm xúc của các thành phần tham gia: khán giả, đội ngũ sảnxuất chương trình, khách mời đặc biệt, v.v…

Hình 1.2: Chương trình “Nhân tố bí ẩn” – Sky Italia

Trang 16

- Ứng dụng cho điện thoại thông minh và máy tính bảng: Sky Italia xâydựng ứng dụng chính thức của chương trình “Nhân tố bí ẩn” dành chothiết bị di động, được phát hành trên hai nền tảng phổ biến hiện nay làiOS và Android Ứng dụng tạo ra sự gắn kết của khán giả với chươngtrình thông qua các loại hình trò chơi: người xem có thể đạt được điểmbằng cách tham gia bình chọn, thăm dò ý kiến, giải đố và đoán kết quảcủa các vòng đấu sắp tới Chia sẻ hoạt động trên phương tiện truyền thông

xã hội (mạng xã hội) cũng giúp người xem/người chơi đạt được điểm

- Ứng dụng X Factor Radio: liên quan đến việc cung cấp danh sách lựachọn và nội dung độc quyền trong khoảng thời gian diễn ra chương trìnhtrên Sky Một số chức năng khác của ứng dụng này bao gồm mảng tin tức

đa phương tiện, hồ sơ cá nhân chi tiết của tất cả những người thamgia/ứng viên: hy vọng, ước mơ và cuộc sống đời thường của họ; xuất bảncác phóng sự ảnh và những thước phim nổi bật từ chương trình

- Ứng dụng X Factor Community Game: Sky Italia quảng bá chương trình

“Nhân tố bí ẩn” lên Facebook bằng cách tung ra "XF Community", mộttrò chơi mạng xã hội được phát triển bởi Hyper TV Trò chơi có địnhdạng như sau: người tham gia có thể ghi điểm bằng cách tham gia vào cáccâu đố và các cuộc thăm dò ý kiến, dự đoán người chiến thắng, bỏ phiếucho ứng viên dự thi, hoặc chia sẻ hoạt động của họ trên các mạng xã hội.Tweeting sử dụng HashTag #XF6, mỗi lần sử dụng quy ra giá trị là 1điểm; đạt được 3 điểm nếu hành động thực hiện trong quá trình phát sóngtrực tiếp Hành động nào của người sử dụng cũng liên quan đến việc thuthập điểm và có cơ hội để giành giải thưởng riêng từ Sky và một máy tínhbảng nhãn hiệu Sony

Tính năng bỏ phiếu bình chọn trên Twitter, một trong những xu hướngchủ đạo cho các chương trình tìm kiếm tài năng, đã được áp dụng trước đó trongphiên bản cuối cùng của "Nhân tố bí ẩn" tại Mỹ trên kênh FOX Tương tự nhưvậy, các ứng dụng khác có tính năng liên quan đến nội dung độc quyền đều đãđược phát hành trước đó ở Đức, Đan Mạch và Pháp Sky Italia học hỏi kinhnghiệm từ các phiên bản tiên phong và ứng dụng mở rộng của chương, hợp nhấtcác tính năng này hoạt động dựa trên một nền tảng dùng chung Kết quả nhậnđược từ Sky Italia đã thúc đẩy chiến lược truyền thông trực tuyến theo hướngtích cực, với hơn 750.000 lượt bình chọn - gần bằng tổng số lượt bình chọn ởcác chương trình truyền hình khác cũng của Sky Italia Lấy ví dụ sau đây để có

sự so sánh khách quan, Song Festival Sanremo, một trong những sự kiện truyền

Trang 17

hình được xem nhiều nhất của truyền hình Ý trên RAI, cũng chỉ có 1 triệu phiếubầu trong tổng số năm đêm lưu diễn Một mặt, chiến lược truyền thông trựctuyến nêu trên của Sky Italia, cũng như các chương trình khác của các đài truyềnhình Ý, đã thể hiện phương thức tận dụng các sáng kiến mà các đài truyền hìnhquốc tế khác đã sử dụng trong quá khứ, bổ sung phân phối nội dung đa nền tảng

và một số tính năng phù hợp với đại bộ phận khán giả và bối cảnh truyền hình

Ý Mặt khác, đây cũng là minh chứng rõ rệt cho vấn đề kịch bản ứng dụng mởrộng trực tuyến định dạng quốc tế như “Nhân tố bí ẩn”, giờ đã trở thành mộtphần không thể thiếu của chương trình truyền hình, mang tầm quốc tế và thíchnghi trên nhiều vùng lãnh thổ

Như để khẳng định cho xu hướng Media 3.0, tại NAB Show 2015 - mộttrong những sự kiện lớn nhất thế giới về công nghệ, truyền thông và côngnghiệp giải trí vừa được tổ chức tại Las Vegas (Mỹ), những hệ thống thiết bịphát sóng, những dây chuyền sản xuất đồ sộ dành cho điện ảnh và truyền hình

đã ít hơn nhiều so với các năm trước Thay vào đó, được giới thiệu và thảo luậnnhiều là các giải pháp phân phối nội dung đa màn hình hay công nghệStreaming, MDP Được chăm chút trong những sảnh trưng bày khổng lồ khôngcòn là OBVAN, MCR, Production Solution (những hệ thống truyền hình lớn),v.v… mà là những chiếc màn hình nhỏ từ 5 đến 9 inch từ điện thoại thông minh,máy tính bảng Các hội thảo chuyên đề vẫn còn đâu đó câu chuyện của 4K, 8K

và Pay TV nhưng được quan tâm nhất là chủ đề làm thế nào để các đài truyềnhình trên thế giới tồn tại được trong thời của truyền thông xã hội

1.2 Hiện trạng sản xuất chương trình tương tác tại các Đài Truyền hình

ở Việt Nam

“Mô hình phát sóng đi” đang mất dần khán giả do khách hàng lại là phía

bị động khi chỉ xem được chương trình cố định theo khung giờ phát sóng Trongkhi đó, “mô hình tham gia vào” ngày càng phát triển bởi sự gắn kết toàn diệnvới khán giả, trao quyền cho khán giả Với mô hình này, khách hàng tự do tìmkiếm nội dung chất lượng họ muốn có, tìm kiếm tin tức họ có thể sử dụng; đồngthời nội dung được tiêu thụ, chia sẻ, củng cố khắp nơi Đồng thời “mô hình thamgia vào” cho phép khán giả tương tác phản hồi với chương trình thông qua các

hệ thống màn hình thứ hai (2nd screen) bằng các thiết bị di động (Smartphone,Tablet, v.v…) hay máy tính (Desktop PCs, Laptop, v.v…)

Trang 18

Tính đến thời điểm hiện tại, nội dung phát sóng hàng ngày bao gồm tinbài phóng sự, chuyên đề, gameshow, sự kiện trực tuyến, v.v… đã và đang thuhút sự quan tâm của đông đảo khán giả màn ảnh nhỏ Tầm ảnh hưởng củachương trình vẫn chưa lớn vì chương trình chưa được quảng bá thương hiệurộng rãi đến khán giả, mặc dù sự tương tác của khán thính giả đối với chươngtrình đã bắt đầu hình thành Các chương trình truyền hình tương tác đang là xuthế được quan tâm tại các Đài truyền hình trên thế giới và Đài THVN cũngkhông nằm ngoài xu thế này Các chương trình truyền hình tương tác được ứngdụng các mô hình tương tác với khán giả qua các hình thức cơ bản như SMSGateway, Native App, Social Network, Website, v.v… Điển hình có các chươngtrình như “Bữa trưa vui vẻ” của Ban Thanh thiếu niên có tương tác trực tiếp vớikhán giả qua FanPage của chương trình hoặc “Gala Thay đổi cuộc sống” củaBan Khoa giáo tương tác khán giả trực tiếp qua mạng xã hội Facebook, đồngthời sử dụng Second-Camera truyền hình trực tiếp những góc quay khác củachương trình trên Youtube và cung cấp những thông tin bên lề bổ trợ cho nộidung đang phát sóng trên truyền hình Ngoài ra, công ty cổ phần Truyền hìnhtương tác Việt Nam - VTVlive, trực thuộc Tổng Công ty Truyền hình cáp ViệtNam – VTVcab đã phát hành sản phẩm VTVplay Ứng dụng cung cấp kho phimđặc sắc cùng chất lượng hình ảnh âm thanh sắc nét, tuyển tập phim ngắn chọnlọc với nội dung phong phú, kho video đồ sộ - những khoảnh khắc ấn tượngtrong tất cả các bộ môn thể thao như bóng đá, quần vợt, v.v… và một số dịch vụđồng hành theo sự kiện Tuy nhiên, nhìn chung các dịch vụ tương tác vẫn còntương đối đơn giản, chủ yếu là thủ công, chưa kết nối, sử dụng dữ liệu tự động

từ các hệ thống sản xuất hiện tại Những xu hướng như quảng cáo tương tác,truyền hình dữ liệu, v.v… đều chưa được ứng dụng tại hầu hết các Đài Truyềnhình ở Việt Nam

Trang 19

2 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN HÌNH TƯƠNG TÁC

Chương này giới thiệu về cơ sở lý thuyết cho luận văn Ở chương này,chúng tôi trình bày định nghĩa, đặc điểm, các khái niệm nền tảng, tác nhân thamgia, thiết bị sử dụng, các giao diện chuyển tiếp và tiêu chí phân loại của kiếntrúc truyền hình tương tác

2.1 Giới thiệu và đặc điểm của truyền hình tương tác

2.1.1 Giới thiệu truyền hình tương tác

Truyền hình tương tác là một dạng truyền hình cho phép người xem thamgia, điều khiển các chương trình truyền hình Với dạng truyền hình truyền thống,đường truyền truyền hình là một chiều Các nhà đài cho phép khán giả xem gì,vào giờ nào, trên kênh nào là quyền của họ Với truyền hình tương tác, khán giảđược trực tiếp tham gia vào chương trình đang phát sóng Khán giả ở đây lànhững người đang xem TV chứ không phải là những người trong trường quay

Ví dụ, chương trình "Ai là triệu phú" đang phát sóng, nó sẽ là chương trìnhtruyền hình tương tác nếu như khán giả (những người đang ở trước TV) đượcphép trả lời thông qua đường điện thoại hoặc đường phản hồi nào khác Truyềnhình tương tác có thể hiểu là hình thức tiếp nhận và trao đổi thông tin tích cực,

đa chiều Tại đó, người xem và Đài truyền hình có thể trao đổi thông tin vớinhau thường xuyên trong quá trình chương trình được thực hiện Điều này đãgiúp cho mối quan hệ giữa người xem và Đài truyền hình liên tục, cùng nhauhợp tác để có các chương trình hấp dẫn Đạo diễn và biên tập của chương trình

sẽ căn cứ vào ý kiến đóng góp của khán giả để xây dựng các chương trình tiếptheo đạt hiệu quả Chính vì vậy, những chương trình truyền hình theo hình thứcnày đang rất được khán giả đón nhận và yêu thích Trong Truyền hình quảng bá,người xem theo dõi các chương trình truyền hình một cách thụ động, khôngđược phép lựa chọn nội dung thông tin (nội dung toàn văn được trình bày ở tàiliệu [3])

Đối với một số người, truyền hình tương tác cho phép khán giả tương tác

với nội dung nhận được, gửi đi ý kiến của họ trong các buổi tranh luận hoặc

tham gia vào các trò chơi, trả lời các câu hỏi điều tra Một số khác lại cho rằng,truyền hình tương tác đồng nghĩa với các dịch vụ truyền hình theo yêu cầu Đốivới các nhà công nghệ, truyền hình tương tác lại hoàn toàn có nghĩa là sự hội tụcủa truyền hình với mạng thông tin toàn cầu (Internet), thay đổi đáng kể cáchthức chúng ta trải nghiệm những chương trình TV Điều này được phát triển

Trang 20

theo hai hướng Hướng thứ nhất, truy cập vào dòng dữ liệu truyền hình nhờ việc

sử dụng một thiết bị giải mã, bộ điều khiển từ xa, bàn phím Hướng thứ hai, việctruy cập vào dòng dữ liệu truyền hình thông qua hạ tầng viễn thông Khái niệmtruyền hình tương tác dẫn ta tới rất nhiều khái niệm khác Đó là một phươngpháp thị giác mới của truyền hình, là một cuộc cách mạng công nghệ sử dụng rấtnhiều công nghệ tiên tiến

2.1.2 Đặc điểm của truyền hình tương tác

Truyền hình tương tác khác biệt với truyền hình truyền thống ở chỗ,truyền hình truyền thống chỉ truyền đi theo một chiều từ nhà đài đến khán giả;trong khi đó truyền hình tương tác cần một đường truyền thông tin từ khán giảtới nhà đài Vậy một chương trình nhận được phản hồi từ khán giả thông quanhững bức thư, điện thoại, tin nhắn có phải là truyền hình tương tác không (Ví

dụ chương trình dự đoán kết quả trận đấu bóng đá, khán giả nhắn tin gửi tới nhàđài)? Đây không phải là truyền hình tương tác bởi vì sự phản hồi này không tứcthời, thường thì sau khi chương trình phát sóng xong khán giả mới gửi ý kiến.Bởi vậy nó không ảnh hưởng đến nội dung đã phát sóng Tương tự, việc dự đoánkết quả bóng đá không ảnh hưởng đến trận đấu bóng đá đang diễn ra trên TVnên không thể coi là tương tác Về mặt cấu trúc, mỗi TV ngoài việc thu nhận tínhiệu truyền hình, nó còn có chức năng phản hồi tín hiệu tới nhà đài một cách tứcthì Từ khi có mạng Internet, máy thu hình trở thành đường phản hồi tốt nhấtkhiến truyền hình tương tác phát triển rầm rộ Đối tượng tương tác của khán giảbao gồm hai loại:

- Tương tác giữa khán giả và nội dung chương trình

- Tương tác giữa khán giả với cộng đồng

Khán giả không chỉ xem nội dung mà còn chia sẻ những gì họ đang trảinghiệm, những thông tin hữu ích, quảng cáo hay những nội dung đặc sắc đểphản hồi với chính nhà cung cấp dịch vụ Truyền hình tương tác đem đến chokhán giả các tiện ích như sau:

- Người xem truyền hình có quyền lựa chọn và yêu cầu phát sóng cácchương trình mình yêu thích trên thiết bị thu hình tại gia đình, không phảichờ đợi hay lựa chọn các chương trình phát sóng hàng ngày Số lượngkênh chương trình rất nhiều và phong phú Khán giả có thể lựa chọn vàgửi chương trình cho các bạn của mình ở khắp nơi trên thế giới

Trang 21

- Người xem truyền hình có thể gửi thư điện tử cho bạn bè, qua máy thuhình sẽ nhìn thấy hình ảnh của nhau, nghe thấy những lời chúc tốt lành vàđặc biệt là có thể xem các hình ảnh trong cuộc sống.

- Khán giả có thể đóng góp ý kiến với Đài truyền hình về các chương trìnhtruyền hình Căn cứ vào đó Đài truyền hình sẽ quyết định tiếp tục pháthay không phát các chương trình, hay thay đổi kịch bản

- Đặc biệt người xem truyền hình có thể mua hàng qua điện thoại (HomeShopping), việc thanh toán có thể thực hiện ở nhà qua thẻ ATM Ngườixem có thể chơi các trò chơi điện tử giao lưu trên các kênh truyền hình

2.2 Giới thiệu đa màn hình (multi-screen)

Xem truyền hình đối với đa số mọi người là bật Tivi lên và xem các kênhtruyền hình sẵn có một cách thụ động Tuy nhiên, công nghệ truyền hình tươngtác đa màn hình ra đời đã đem lại bước ngoặt hoàn toàn cho trải nghiệm củangười dùng dịch vụ Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của Internet băng thôngrộng đã kéo theo sự nở rộ mạnh mẽ của các dịch vụ chạy trên nền Internet, sựphát triển mạnh mẽ nhất là các dịch vụ Video và truyền hình tương tác là mộttrong những số đó Truyền hình qua giao thức IP - IPTV là một dạng đầu tiênkhi mọi người nhắc đến Người dùng IPTV thông thường có thể chọn ghi lạichương trình muốn xem, tua lại chương trình đang xem, mua phim theo yêu cầu

và tận hưởng các dịch vụ khác theo yêu cầu Tại Việt Nam, Viettel, VNPT vàFPT là 3 nhà mạng đang cung cấp dịch vụ này Tuy nhiên, công nghệ tương tác

đa màn hình trên truyền hình đem tới những tính năng ưu việt vượt trội hơn hẳn,mang lại những trải nghiệm chưa bao giờ xuất hiện tại Việt Nam Người dùngtruyền hình tương tác đa màn hình có thể sử dụng những tính năng ưu việt của

hệ thống Thử tưởng tượng bạn đang xem một bộ phim trên TV, bạn có việc bậnphải đi ra ngoài Trên ô tô, bạn thoải mái xem tiếp bộ phim đó trên thiết bị diđộng tại đúng thời điểm vừa tạm dừng trên TV Bạn đang xem một trận bóngthật là hay trên TV, nhưng bạn không thể nhớ nổi tên cầu thủ, ấn một nút trênmáy tính bảng, thông tin cầu thủ đang trên màn hình sẽ hiển thị rõ cho bạn thấy.Bạn xem phim thấy nhân vật ưa thích của mình có chiếc áo thật là đẹp, ấn mộtnút trên điện thoại di động, bạn chia sẻ lên tài khoản Facebook, Twitter hay G+của mình Thậm chí bạn có thể tìm kiếm và mua ngay được chiếc áo đó bằngmột vài thao tác trên thiết bị di động Trên đây là một số tính năng điển hình củacông nghệ truyền hình tương tác đa màn hình Với truyền hình tương tác đa mànhình, bạn thoải mái xem truyền hình theo nhu cầu của cá nhân, thể hiện cá tính

Trang 22

của mình, tận hưởng cảm giác dẫn đầu về công nghệ Tuy nhiên, Multi-Screen

TV là một khái niệm không chỉ mới tại Việt Nam mà còn khá mới mẻ trên thếgiới Hiện tại, mới chỉ có một số nước có khả năng cung cấp Multi-Screen TVnhư Mỹ (AT&T, Verizon) hay Hàn Quốc (Korean Telecom)

Đa màn hình (Multi-Screen) được hiểu một cách chung nhất là cung cấpdịch vụ truyền hình trên tất cả các thiết bị cho phép: máy thu hình, máy tính,thiết bị di động Ở thời điểm hiện tại, tính năng màn hình thứ hai (SecondScreen) và chiến lược 4 màn hình (Four Screens) là hai dạng của công nghệtương tác đa màn hình Khái niệm màn hình thứ hai liên quan đến việc sử dụngmột thiết bị điện tử (thường là thiết bị di động, như máy tính bảng hoặc điệnthoại thông minh) nhằm tăng cường trải nghiệm xem nội dung trên thiết bị khác,

ở đây là thiết bị truyền hình Tivi; nói cách khác khán giả sẽ làm việc gì đó trênmàn hình phụ trong khi xem nội dung chương trình trên màn hình thứ nhất –Tivi Đặc biệt, thuật ngữ màn hình thứ hai thường được đề cập đến việc sử dụngcác thiết bị như vậy để cung cấp các tính năng tương tác trong nội dung “tuyếntính”, ví dụ chương trình truyền hình, phục vụ một ứng dụng đặc biệt hoặc cácđoạn phim nổi bật theo thời gian thực trên các ứng dụng mạng xã hội nhưFacebook và Twitter Công nghệ tương tác màn hình thứ hai cung cấp nhữngnhững thông tin bên lề (qua một màn hình nhỏ khác – picture in picture, capture

in capture) bổ trợ cho nội dung đang phát sóng trên truyền hình Màn hình phụnày có thể hiển thị cùng với màn hình chính, hoặc hiển thị ở các thiết bị di độngthông qua ứng dụng

Chiến lược 4 màn hình được trình bày ở tài liệu [5] Nhắc đến chiến lược

4 màn hình, khái niệm cần biết đến trước tiên là “Bảng ký hiệu kỹ thuật số” (DS– Digital Signage): một hệ thống gửi thông tin, quảng cáo và thông điệp khác tớicác thiết bị điện tử (ví dụ: màn hình, dàn âm thanh, v.v…) theo thời gian trongngày và vị trí của màn hình, hoặc tùy vào hành động của khán giả Nội dung vàthông tin có liên quan như lịch biểu trình chiếu được phân phối qua hạ tầngmạng DS dự kiến sẽ nổi lên như là phương tiện màn hình thứ tư sau Tivi, máytính và thiết bị di động Vị trí và phương thức cung cấp thông tin của từng loạiphương tiện màn hình được minh họa ở Hình 2 3

Trang 23

Hình 2.3: Vị trí và phương thức cung cấp thông tin của bốn loại phương tiện màn hình

Bảng ký hiệu kỹ thuật số hướng tới đối tượng khách hàng ở ngoài nhà(out-of-home) với hình thức phân phối chủ yếu là đẩy (push) nội dung DS cóvai trò quan trọng ở ngữ cảnh hiển thị thông tin cho người sử dụng trong mộtkhông gian công cộng và cũng có vai trò kinh doanh như sau:

- Cải thiện sự hài lòng của khách hàng: tăng cường sức hấp dẫn và lưulượng truy cập Website

- Đo lường hiệu quả quảng cáo: điều tra các mối quan hệ của nội dung hiểnthị và doanh số bán hàng, phân tích được hiệu quả từ số liệu thống kê

- Khuyến mại: thúc đẩy doanh số bán hàng bằng cách cung cấp các khuyếnnghị vào thông tin nhận được ban đầu

2.3 Thiết kế tổng quan hệ thống truyền hình tương tác

- phim, dữ liệu phụ trợ và dữ liệu cá nhân Nội dung phụ trợ này có thể là thôngtin thường thấy như dữ liệu đặc tả, âm thanh vòm hay sự nâng cao trực quan về

Trang 24

mặt chất lượng âm thanh; cũng nhiều khi là nội dung tương tác (trò chơi, cuộcthi đố vui những câu hỏi về kiến thức tổng hợp theo các chủ đề như khoa học,địa lý, thể thao và âm nhạc; v.v…) Bất kỳ nội dung nào nêu trên đều có thểhoặc không phải là nội dung có gắn dữ liệu thời gian; nội dung có thể không có,

có một hoặc nhiều dòng thời gian mô tả quá trình trình chiếu

2.3.1.2 Dòng thời gian (timeline)

Dòng thời gian đại diện cho phương thức mô tả tiến trình hiển thị của nộidung hoặc một vị trí/thời điểm nằm trong nội dung, do đó dòng thời gian chophép thực hiện đồng bộ hóa với nội dung Nội dung sẽ có nhiều dòng thời gian,tùy thuộc vào các thời điểm khác nhau trong quá trình sản xuất và phân phối [3].Trong quá trình chuẩn bị chương trình, người biên tập viên quản lý nhóm sẽphải thường xuyên lập kế hoạch cho chương trình - tham chiếu tới ít nhất mộtdòng thời gian biên tập, và có thể cần nhiều hơn cho các phân cảnh nào đó.Những dòng thời gian phụ trợ này đôi khi mang tính trừu tượng, dù vậy luôn cóđặc thù là liên kết tới dòng thời gian được sử dụng trong phiên bản chính thứccủa chương trình, được phân phối từ nhóm sản xuất đến nhóm phát sóng Nộidung chủ đạo sau đó có thể được biên tập, phục vụ việc phát sóng; ví dụ: chèncác đoạn quảng cáo, căn chỉnh thời gian theo ràng buộc hay tuân theo luật phápcủa Đơn vị/nước sở tại; việc làm này sẽ khởi tạo thêm một dòng thời gian nữa.Sau đó, nội dung này được phân phối thông qua nhiều đường đi, phương tiệnkhác nhau như phát sóng qua kết nối vệ tinh, truyền hình số mặt đất và qua dịch

vụ “catch-up” Dịch vụ “catch-up” là một bộ đệm (buffer) đủ lớn để chuyển đổi

dữ liệu các chương trình trực tiếp (VTV1, VTV2, v.v…) thành các tập tin videođược lưu trữ trong hệ thống Điều này cho phép bạn dễ dàng xem lại bất kỳchương trình truyền hình nào đã phát trước đó mà không cần phải chờ Đàitruyền hình phát lại Giả sử có trận bóng đá hấp dẫn lúc 15h trên kênh VTV3,nhưng đó lại là thời gian trong giờ làm việc không xem được, tuy nhiên hệ thống

đã lưu nó như một tập tin trong bộ đệm và người dùng có thể xem lại bất kỳ lúcnào sau khi hết giờ làm việc

Mỗi một phương thức truyền dẫn khác nhau sẽ có giá trị về dòng thời giankhác nhau, hay các kiểu dòng thời gian khác nhau Việc liên kết giữa các dòngthời gian bằng cách cung cấp thông tin sắp xếp là điều cần thiết Ở ví dụ nêutrên, dòng thời gian của người biên tập viên không phụ thuộc vào dòng thời gianđược sử dụng trong việc phân phối nội dung tới thiết bị thu hình của khán giả

Trang 25

Sau đó, thông tin liên kết được sử dụng để biên dịch từ dòng thời gian phân phốisang dòng thời gian biên tập Tương tự, khả năng điều độ dòng thời gian có thểđược sử dụng để đồng bộ giữa hai đối tượng của nội dung có gắn dữ liệu thờigian, liên kết giữa hai dòng thời gian, hay thường xuyên hơn như việc liên kết

02 dòng thời gian thành một dòng thời gian chung

2.3.1.3 Ứng dụng màn hình đồng hành (CSA - Companion Screen Application)

Thiết bị di động có nhiệm vụ cung cấp trải nghiệm đồng hành bằng cáchchạy ứng dụng trên thiết bị đó Việc cải thiện hay mở rộng trải nghiệm nội dungđược phân phối qua thiết bị thu nhận tín hiệu Ứng dụng màn hình đồng hành(CSA) có thể được dành riêng cho một chương trình hay buổi biểu diễn cụ thể,cũng có thể được sử dụng chung ở một kênh truyền hình hoặc một tập hợp cáckênh Khái niệm CSA chỉ ra rằng ứng dụng kiểu này tận dụng các giao diệnđược cung cấp bởi tập hợp đặc tả nhằm mang lại trải nghiệm đồng hành ở mứcnâng cao, tuy nhiên không mong đợi gì ở việc ứng dụng CSA khai thác riêngmột giao diện bất kỳ, nghĩa là CSA rất thoải mái trong việc lựa chọn trải nghiệmnào mà CSA cung cấp, giao diện nào mà CSA dùng để hỗ trợ trải nghiệm đó [3]

2.3.2 Tác nhân tham gia

2.3.2.1 Đài Truyền hình

Vai trò của Đài Truyền hình là cung cấp nội dung, tức là hỗ trợ dịch vụphát sóng Trong ngữ cảnh này, Đài Truyền hình có khi lại không thực sự phátsóng nội dung (việc truyền dẫn nội dung tới khán giả nhiều khi lại được xử lýbởi vai trò của nhà cung cấp dịch vụ phân phối), hơn nữa nội dung không chỉđến với khán giả theo con đường vô tuyến truyền hình, ví dụ: nội dung có thểđược cung cấp như nội dung theo yêu cầu (CoD - Content on Demand) Cácứng dụng màn hình đồng hành có thể được cung cấp bởi Đài Truyền hình, hoặc

từ bên thứ ba Vai trò của Đài truyền hình bao gồm cung cấp các dịch vụ tớiCSA, hỗ trợ các dịch vụ đồng hành; có thể kể đến như dịch vụ liên kết dòng thờigian phân phối tới nội dung biên tập, cũng như dòng thời gian biên tập [3].Thông qua các dịch vụ đồng hành như vậy, Đài Truyền hình có thể cung cấp cácthông tin phụ trợ, bổ sung cho nội dung hay dòng thời gian

Trang 26

2.3.2.2 Nhà cung cấp dịch vụ phân phối (Delivery Service Provider)

Vai trò của nhà cung cấp dịch vụ phân phối là mang nội dung tới kháchhàng và phụ trách mảng công việc lớn về cung cấp dịch vụ Truyền hình(Television Service Providers), cung cấp dịch vụ Internet (Internet ServiceProviders) và mạng phân phối nội dung (CDN – Content Delivery NetworkService Providers) Trong nhiều trường hợp, Đài truyền hình sẽ đảm nhiệm luônvai trò của nhà cung cấp dịch vụ Dù thế nào đi nữa, trong mô hình tổng thể, Đàitruyền hình và nhà cung cấp dịch vụ phân phối là 02 tác nhân tham gia vào hệthống truyền hình tương tác, giữa 02 tác nhân này luôn duy trì những luồng dữliệu, thông tin trao đổi qua lại [3]

Một nhà cung cấp dịch vụ phân phối thường xuyên phụ trách việc cấpphát định danh được sử dụng trong phân phối nội dung, ví dụ như DVB (DigitalVideo Broadcasting) bộ nhận dạng sự kiện Các định danh này có thể được sửdụng vì một mục đích nào đó, do đó luôn phải bảo đảm rằng nhà cung cấp dịch

vụ có thể truyền tham số định danh tới Đài truyền hình trong trường hợp cầnthiết Tương tự, một vài dòng thời gian có thể chỉ được xuất hiện và được khởitạo trong khoảng thời gian truyền dẫn nội dung, có thể cần đến phương thứcgiao tiếp như trên Ngược lại, cũng có thể giả định rằng các định danh và dòngthời gian được khởi tạo bởi Đài Truyền hình tại thời điểm sản xuất nội dung, cóthể được chuyển tiếp tới nhà cung cấp dịch vụ phân phối, sử dụng khi cần thiết

Trong thực tế triển khai, có trường hợp nhiều nhà cung cấp dịch vụ nộidung cùng làm việc với một Đài Truyền hình; ngược lại, một nhà cung cấp dịch

vụ có thể cùng lúc làm việc với nhiều Đài Truyền hình Nói cách khác, một nhàcung cấp dịch vụ phân phối có thể hỗ trợ nhiều phương thức phân phối nội dung

số khác nhau, thí dụ như hỗ trợ đồng thời truyền hình số mặt đất và DASH(Dynamic Adaptive Streaming over HTTP) dựa trên dịch vụ “catch-up”

2.3.2.3 Khách hàng/Khán thính giả (Consumer)

Vai trò cuối cùng tham gia Truyền hình tương tác là khán thính giả, người

sở hữu thiết bị thu nhận tín hiệu và trình diễn nội dung, đồng thời sở hữu mộthoặc nhiều thiết bị đồng hành như máy tính bảng, điện thoại thông minh đangchạy CSA – một phần của việc nâng cấp trải nghiệm nội dung [3] Thôngthường, không có yêu cầu nào cho việc phải giả định khách hàng chỉ sở hữu duynhất một thiết bị TV Tuy nhiên, việc sử dụng nhiều TV đồng thời để trải

Trang 27

nghiệm một nội dung duy nhất nằm ngoài phạm vi của hệ thống Truyền hìnhtương tác, sử dụng 1 thiết bị TV và nhiều CSA trên đa dạng các thiết bị đồnghành mới nằm trong phạm vi nghiên cứu.

2.3.3 Thiết bị sử dụng

2.3.3.1 Thiết bị truyền hình (TV Device)

Thiết bị truyền hình làm nhiệm vụ nhận các tín hiệu tương tự, chuyển đổi

và hiển thị chúng thành hình ảnh Khái niệm thiết bị truyền hình có thể là Tivihay một thiết bị dạng đầu thu giải mã hóa (STB - Set-Top Box) được kết nối vớiTivi [3] Hiểu theo hướng khác, thiết bị truyền hình đại diện cho loại thiết bị chỉkết xuất một luồng tín hiệu đầu ra (single output), nghĩa là loại thiết bị này chỉtrình chiếu một tin tức đơn lẻ của nội dung tại một thời điểm Nếu có một thiết

bị vật lý hỗ trợ nhiều định dạng đầu ra khác nhau (ví dụ: set-top box đa địnhdạng), trường hợp này sẽ được xem như là nhiều thiết bị truyền hình vật lý khácnhau

2.3.3.2 Thiết bị đồng hành (Companion Device)

Thiết bị đồng hành là thuật ngữ chung dành cho thiết bị thuộc sở hữu củakhách hàng như điện thoại thông minh hay máy tính bảng (phạm vi đề cập đếnkhông chỉ giới hạn trong 02 thiết bị nêu trên; có thể kể thêm một số đại diện nữanhư máy tính để bàn – Desktop PCs, Laptop, v.v…) – thiết bị được khách hàng

sử dụng trong khi thưởng thức nội dung chương trình truyền hình Mô hình đượcnghiên cứu ở đây là thiết bị đồng hành sẽ kết nối tới hệ thống mạng Internettrong nội bộ hộ gia đình hay mạng viễn thông riêng của nhà mạng (3G, 4G,v.v…); từ đó đi ra ngoài mạng Internet, thực hiện việc trao đổi dữ liệu 02 chiều.Thiết bị đồng hành có thể được cài đặt, lưu trữ dữ liệu của một hay nhiều CSA[3] Sự khác biệt giữa thiết bị đồng hành và CSA là một thiết bị có thể cài đặtnhiều CSA và là tài sản cá nhân của khách hàng; trong khi đó các ứng dụng mànhình đồng hành được cung cấp từ Đài truyền hình hoặc bên thứ ba, đôi khi cóthể là hãng sản xuất thiết bị Tivi

Trang 28

2.3.4 Mối quan hệ giữa khái niệm, tác nhân và thiết bị

Mối quan hệ giữa khái niệm, tác nhân và thiết bị cùng kiến trúc tổng thểđược trình bày trong tài liệu [3] Hình 2 4 diễn tả các kết nối giữa các kháiniệm, các vai trò chức năng (và các dịch vụ vai trò đó cung cấp) cùng các thiết

bị đã được trình bày

Hình 2.4: Mối quan hệ giữa khái niệm, tác nhân và thiết bị [3]

Sơ đồ trên biểu diễn luồng luân chuyển của nội dung, bao gồm cả nộidung thông thường và nội dung có gắn dữ liệu thời gian, xuất phát từ dịch vụphát sóng của Đài Truyền hình Luồng dữ liệu nội dung được mang tới kháchhàng/khán thính giả bởi nhà cung cấp dịch vụ phân phối Luồng thông tin này cóthể được gắn kèm thông tin phụ trợ, như dữ liệu đặc tả (là những thông tin mô tảcác đặc tính của dữ liệu như nội dung, định dạng, chất lượng, điều kiện và cácđặc tính khác nhằm tạo thuận lợi cho quá trình tìm kiếm, truy cập, quản lý vàlưu trữ dữ liệu – từ các dịch vụ đồng hành cung cấp bởi Đài Truyền hình).Những thông tin kèm theo đó có thể được vận chuyển bởi các nhà cung cấp dịch

vụ phân phối khác nhau, ví dụ như các dịch vụ đồng hành được cung cấp quamạng Internet, trong khi đó nội dung có gắn dữ liệu thời gian lại được cung cấpbởi truyền hình số mặt đất

Trang 29

2.3.5 Kiến trúc tổng thể (General Architecture)

Khung kiến trúc tổng thể được mô tả ở Hình 2 5, minh họa các thànhphần chính của kiến trúc và luồng luân chuyển dữ liệu giữa các cấu phần Kiếntrúc này không biểu diễn vai trò của nhà cung cấp dịch vụ phân phối, kháchhàng hoặc thiết bị đồng hành; dù vậy các vai trò này đã được gợi ý gián tiếptrong kiến trúc So với Hình 2 4, kiến trúc này đã bổ sung 02 thành phần làmạng nội bộ gia đình (Home Network) và Link Proxy (đường dẫn làm nhiệm

vụ chuyển tiếp và kiểm soát dữ liệu) Vai trò của mạng nội bộ nhỏ là hỗ trợ giaotiếp giữa thiết bị truyền hình, thiết bị đồng hành và CSA chạy trên thiết bị đồnghành đó Trong phạm vi nghiên cứu, thiết bị truyền hình và thiết bị đồng hành sẽkhông kết nối trực tiếp qua mạng nội bộ, lúc này Link Proxy sẽ phụ trách việctrao đổi dữ liệu giữa CSA và thiết bị truyền hình

Hình 2.5: Kiến trúc tổng thể [3]

Quy trình nghiệp vụ chung của hệ thống, đầu tiên thiết bị truyền hình sẽtiếp nhận tín hiệu và hiển thị nội dung, nguồn tín hiệu có thể là sóng vô tuyếntruyền hình, dịch vụ nội dung theo yêu cầu, mạng Internet hoặc hệ thống lưu trữcục bộ (trong trường hợp sử dụng nội dung có sẵn, đã được ghi lại hay tải về từtrước) Ứng dụng màn hình đồng hành giao tiếp với thiết bị truyền hình bằng cả

Trang 30

02 cách, mạng nội bộ và Link Proxy, đồng thời tương tác với một hoặc nhiềudịch vụ đồng hành Sử dụng thông tin nhận được qua các kênh giao tiếp nêutrên, ứng dụng màn hình đồng hành có thể cung cấp trải nghiệm đồng hành tớikhách hàng, tận dụng nội dung phụ trợ/giá trị gia tăng lấy từ các dịch vụ đồnghành của Đài truyền hình hoặc đối tác bên thứ ba Sự tương tác qua lại giữa dịch

vụ màn hình đồng hành và thiết bị truyền hình cho phép CSA truy cập nhiềuphương diện của thông tin được mang tới bởi đài phát thanh truyền hình hoặcdịch vụ nội dung theo yêu Thông tin nhận được có thể không cung cấp đầy đủlượng dữ liệu hoặc nội dung cần thiết cho trải nghiệm đồng hành Do đó, mụcđích của các dịch vụ đồng hành là bổ sung dữ liệu đặc tả hay nội dung bất kỳ màCSA cần, đồng thời cung cấp các dịch vụ có khả năng bóc tách, phiên dịchthông tin chứa trong nội dung chương trình phát sóng

2.4 Phân loại Truyền hình tương tác

2.4.1 Truyền hình tương tác dựa trên nền tảng hạ tầng vô tuyến truyền hình – tương tác trực tiếp với dòng dữ liệu truyền hình (Direct Communication)

Truyền hình tương tác dựa trên nền tảng vô tuyến truyền hình được hiểutheo nghĩa khán giả sử dụng thiết bị đồng hành, như điều khiển từ xa, gửi dữ

liệu trực tiếp tới thiết bị truyền hình qua mạng nội bộ nhỏ Hình 2 6 minh họa

tất cả các giao diện chuyển tiếp được sử dụng trong truyền hình tương tác dựatrên nền tảng hạ tầng vô tuyến truyền hình Trong biểu đồ, nội dung chươngtrình, nội dung theo yêu cầu được truyền tải tới thiết bị truyền hình thông quamôi trường phát sóng hoặc mạng Internet

Các giao diện chuyển tiếp dành cho kết nối trực tiếp – tương tác dựa trênnền tảng hạ tầng vô tuyến truyền hình – được trình bày trong tài liệu [3] Danhsách các giao diện chuyển tiếp bao gồm:

- CSS-CII (Content Identification and other Information): Giao diện chuyểntiếp Nhận dạng nội dung và những thông tin khác

- CSS-MRS (Material Resolution Service): Giao diện chuyển tiếp Dịch vụphân tách tài liệu

- CSS-WC (Wall Clock): Giao diện chuyển tiếp Đồng hồ tường

- CSS-TS (Timeline Synchronisation): Giao diện chuyển tiếp Đồng bộ hóadòng thời gian

- CSS-TE (Trigger Event): Giao diện chuyển tiếp Sự kiện kích hoạt

Trang 31

Hình 2.6: Các giao diện chuyển tiếp dành cho kết nối trực tiếp [3]

Một số giao diện chuyển tiếp sẽ tham chiếu đến các tính năng năng đượccung cấp bởi giao diện khác Trong kiến trúc tổng quan, thiết bị truyền hình vàCSA được xem là có chứa các khối chức năng, hay còn gọi là các chức năng cơbản xử lý một số các tương tác trên giao diện Máy trạm WC (WC Client) vàmáy chủ WC (WC Server) sử dụng giao diện CSS-WC Máy chủ ứng dụng đồng

bộ hóa phương tiện truyền thông đại chúng (MSAS – Media SynchronisationApplication Server) và Máy trạm đồng bộ hóa (SC – Synchronisation Client) sửdụng giao diện CSS-TS CSA phát hiện, kết hợp với các thiết bị truyền hình vàbiết vị trí điểm cuối của tiến trình thực hiện dịch vụ dành cho CSS-CII, giaodiện được thực hiện bởi các thiết bị truyền hình

CSA sẽ nhận được đoạn mã định danh nội dung (Content Identifier) đểxác định nội dung có gắn dữ liệu thời gian được trình chiếu bởi các thiết bịtruyền hình thông qua giao diện CSS-CII Đồng thời, CSA lấy thông tin trạngthái và vị trí của điểm cuối (EndPoint) các giao diện khác thông qua giao diệnnêu trên CSA có thể biên dịch trực tiếp đoạn mã định danh nội dung, với mụcđích nhận dạng những nội dung biên tập đang được trình chiếu, mức độ quan

Ngày đăng: 08/12/2019, 22:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w