ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ---o0o---NGUYỄN THỊ SEN HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI SỞ GIAO DỊCH CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -NGUYỄN THỊ SEN
HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI SỞ GIAO DỊCH CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -NGUYỄN THỊ SEN
HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI SỞ GIAO DỊCH CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM CHI
Hà Nội - 2016
Trang 3MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt i
Danh mục bảng ii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 6
1.2 Cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 8
1.2.1 Khái niệm về tín dụng 8
1.2.2 Bản chất của tín dụng 9
1.2.3 Chức năng của tín dụng 11
1.2.4 Vai trò của tín dụng 12
1.2.5 Khái quát vê ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 13
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI SỞ GIAO DỊCH CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 39
2.1 Khái quát về Sở giao dịch của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam .39 2.1.1 Cơ cấu tổ chức tại Sở giao dịch của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 41
2.1.2 Về hoạt động huy động vốn 44
2.1.3 Về các hoạt động tín dụng 43
2.1.4 Về các hoạt động khác 46
2.2 Chính sách tín dụng đối với khách hàng được xếp hạng tín dụng nội bộ tại Sở giao dịch của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 49
Trang 42.2.1 Xếp hạng khách hàng tại Hệ thống xếp hạng tín dụng nội
bộ tại Sở giao dịch của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 49 2.2.2 Chính sách chung áp dụng đối với khách hàng 52
2.3 Thực trạng phân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay tại Sở giao dịchcủa Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 59
2.3.1 Vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp trong quy trình cho vay .59 2.3.2 Các phương pháp được sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp tại Sở giao dịch của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam 61 2.3.3 Thông tin được sử dụng trong phân tích Tài chính doanh nghiệp tại Sở giao dịch của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 62 2.3.4 Quy trình phân tích 64 2.3.5 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 64 2.3.6 Minh họa phân tích tài chính doanh nghiệp tại Sở giao dịch của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 69
2.4 Đánh giá hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp tại Sở giao dịch củaNgân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 78
2.4.1 Những kết quả đạt được 78 2.4.2 Những hạn chế trong phân tích Tài chính doanh nghiệp tại Sở giao dịch của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 81 2.4.3 Nguyên nhân 84
2.5 So sánh hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp tại Sở giao dịch củaNgân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam với Ngân hàng thương mại cổ phầnNgoại Thương Việt Nam- chi nhánh Hoàn Kiếm 87
2.5.1 Những điểm mạnh của Sở giao dịch của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam so với Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam - chi
Trang 52.5.2 Những điểm hạn chế của Sở giao dịch của Ngân hàng Đầu
tư và Phát triển Việt Nam với Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngoại Thương Việt Nam - chi nhánh Hoàn Kiếm 91
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG CHO VAY TẠI SỞ GIAO DỊCH CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 99
3.1 Định hướng hoạt động cho vay tại Sở giao dịch của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 99
3.2 Hệ thống các giải pháp 99
3.2.1 Nhóm giải pháp về quy trình nghiệp vụ 99
3.2.2 Nhóm giải pháp về công nghệ 110
3.2.3 Nhóm giải pháp về con người 111
3.3 Kiến nghị 113
3.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 113
3.3.2 Kiến nghị với chính phủ, Ngân hàng nhà nước 116
3.3.3 Kiến nghị với các doanh nghiệp 118
KẾT LUẬN 119
Tài liệu tham khảo 120
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 2.1 Cơ cấu vốn huy động của Sở giao dịch – Ngân
hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 43
3 Bảng 2.3 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu dịch vụ 46
4 Bảng 2.4 Kết quả hoạt động thanh toán quốc tế giai đoạn
5 Bảng 2.5 Kết quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ giai đoạn
7 Bảng 2.7 Chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp 77
12 Bảng 2.12 Bảng các khoản phải trả của doanh nghiệp 95
13 Bảng 2.13 Bảng phương án kinh doanh cho năm 2015 96
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử ra đời và phát triển của Ngân hàng thương mại gắn liền với quá trìnhphát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa, trước hết nó đáp ứng các nhu cầu vềvốn của các cá nhân và tập thể, muốn phát triển sản xuất kinh doanh nhưng lại thiếuvốn, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các Ngân hàng thương mạingày càng xâm nhập sâu sắc hơn vào mọi hoạt động của nền kinh tế, trở thành mộttrung gian tài chính quan trọng bậc nhất của mọi nền kinh tế
Trong các hoạt động của Ngân hàng thì tín dụng đóng vai trò quan trọng Tíndụng là tài sản chiếm tỷ trọng cao nhất, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạtđộng mang lại rủi ro nhất Vì thế, đảm bảo và nâng cao chất lượng hoạt động tíndụng vừa là mục tiêu vừa là nhân tố quan trọng để cạnh tranh và phát triển của mỗiNgân hàng thương mại Trước mỗi quyết định tài trợ, Ngân hàng luôn phải cân nhắc
kỹ lưỡng, ước lượng khả năng rủi ro và sinh lời dựa trên phân tích các khía cạnh tàichính, phi tài chính theo một quy trình nghiệp vụ nghiêm ngặt, mang tính khoa họccao, phân tích tài chính khách hàng là một trong những nội dung đó
Như vậy, quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng (đặc biệt là cácDoanh nghiệp) ngày càng gắn bó, tương tác lẫn nhau Khách hàng không trả được
nợ đến hạn, doanh thu của Ngân hàng giảm, ảnh hưởng đến việc cho khách hàngvay vốn, ảnh hưởng đến sự tồn tại của Ngân hàng Để tránh được những rủi ro tíndụng này, trong quá trình thẩm định cho vay, Ngân hàng cần nâng cao chất lượngkhâu phân tích đánh giá tình hình tài chính đối với khách hàng-khâu quyết định xemkhách hàng có đủ điều khiện để vay vốn của Ngân hàng không
Đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam, hoạt động cho vay luôn chiếm
tỷ trọng từ 85%-95% doanh thu, tuy nhiên công tác phân tích tín dụng, trong đó cóphân tích tình hình tài chính của khách hàng vẫn còn nhiều bất cập dẫn đến hiệu quảcho vay chưa cao, tỷ lệ nợ quá hạn còn cao…Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Trang 9cũng như giám sát khách hàng sau khi cho vay, phân tích tài chính doanh nghiệp làmột khâu rất quan trọng, quyết định đến chất lượng cho vay của mỗi ngân hàng Xuất phát từ tầm quan trọng của việc phân tích tài chính doanh nghiệp khiquyết định cho vay cũng như thực tiễn công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tại
Sở giao dịch Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam còn nhiều hạn chế, phân tíchtài chính doanh nghiệp cũng được Sở giao dịch quan tâm đặc biệt và luôn tìm cách
cải tiến, hoàn thiện hơn Chính vì vậy, đề tài: "Hoàn thiện phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng tại Sở giao dịch của Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam" đã được lựa chọn làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng hoạt động tín dụng là hoạt độngchủ yếu nhất và cũng gặp nhiều rủi ro nhất, đòi hỏi ngân hàng phải thường xuyênquản lý chặt chẽ hoạt động này Do đó việc phân tích tình hình tài chính đối vớidoanh nghiệp là việc làm cần thiết để tìm ra những mặt mạnh, yếu kém với nguyênnhân của doanh nghiệp này trên cơ sở đó đề xuất giải pháp kiến nghị nhằm hoànthiện hoạt động cho vay tại Sở giao dịch của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển ViệtNam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khi tiến hành phân tích tài chính của doanh nghiệp luận văn sẽ tập trung vàonhũng vấn đề sau:
+ Hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp+ Phân tích thực trạng công tác phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt độngthẩm định tín dụng tại Sở giao dịch của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam + Xây dựng hệ thống những giải pháp, đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện phântích tài chính doanh nghiệp trong cho vay tại Sở giao dịch của Ngân hàng Đầu tư vàPhát triển Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 10Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình phân tích tài chính của doanhnghiệp trong hoạt động tín dụng (trên khía cạnh cho vay) tại Sở giao dịch của Ngânhàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại Sởgiao dịch của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
- Thời gian: từ năm 2009 đến 2014
Giai đoạn từ năm 2009-2011: là những năm nền kinh tế trong nước gặnhiều
khó khăn, tỷ lệ lạm phát cao buộc chính phủ phải thực hiện chính sách tiền tệ chặtchẽ, chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công Tốc độ tăng GDP năm
2010 đạt 7,7% năm 2011 chỉ đạt 5,9% Điều này ảnh hưởng đến mục tiêu tăngtrưởng nói chung của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh, xây dựng Do vậyviệc xem xét, phân tích kỹ lưỡng báo cáo tài chính của các các doanh nghiệp trướckhi quyết định có cho vay hay không là việc vô cùng quan trọng đối với các ngânhàng thương mại
Giai đoạn từ năm 2012-2014:từ năm 2012, chính sách kinh tế nước ta đã
chuyển sang mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, sứcmua chung của nền kinh tế suy giảm tạo nên vòng luẩn quẩn: sức mua giảm - tồnkho tăng- sản xuất giảm - nợ xấu tăng – tín dụng giảm Điều này dẫn tới tăng truởngGDP bình quân 4 năm 2011- 2014 chỉ đạt 5,7%/năm, khá thấp so với mục tiêu Đạihội XI đề ra bình quân 7-7,5%/năm và thấp hơn mức điều chỉnh theo Nghị quyếtcủa Quốc hội 6,5-7%/năm (tốc độ tăng GDP bình quân giai đoạn 2006-2010 là 7%/năm) Có thể nói giai đoạn 2011-2014 là thời kỳ nền kinh tế tang trưởng dưới tiềmnăng và mục tiêu quan trọng nhất của chính sách Nhà nước là vĩ mô, khắc phục tìnhtrạng bất ổn kéo dài
Trong 3 năm 2012-2014, hệ quả của các biện pháp giảm tổng cầu đã tácđộng kiềm hãm sức mua của thị trường và tốc độ tăng trưởng kinh tế Số lượngdoanh nghiệp ngừng hoạt động, phá sản, giải thể có xu hướng tăng nhanh từ năm
Trang 11Vì thế, trong suốt năm 2013 và 2014 nền kinh tế vẫn đối diện với 4 thách thức:
Một là: nguy cơ tái lạm phát cao kèm theo sự trì trệ của thị trường đã thu hẹp
dư địa của các chính sách tài khóa và tiền tệ
Hai là: tình hình nợ xấu chưa được cải thiện nên dòng tín dụng vẫn bị tắc
nghẽn, nền kinh tế không hấp thụ được vốn.Tình trạng thừa tiền thiếu vốn còn kéodài.Khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp vẫn còn khó khăn, nhất là DN nước ngoài
Ba là: do lạm phát kỳ vọng cả năm 6,5-7%, nên kéo giảm lãi suất tiết kiệm
tiền gửi bị hạn chế và lãi suất cho vay dù đã kéo giảm nhiều lần nhưng vẫn còn khácao, đặc biệt lãi suất trung-dài hạn , nên không kích thích được DN đang có thịtrường mở rộng đầu tư và vẫn là nguy cơ làm tăng nợ xấu đối với những DN đang
nợ lực phục hối sản xuất
Bốn là: những nỗ lực để làm ấm thị trường bất động sản chưa mang lại nhiều
kết quả, nên thanh khoản của thị trường này ít được cải thiện
Cho đến thời điểm cuối năm 2014, có thể nói những khó khăn của nền kinh
tế đã được cải thiện phần nào Theo đó, GDP năm 2014 tăng 5,93%; lạm phát đượckiểm soát (tăng 1,86%), thấp nhất trong 10 năm qua Đặc biệt hàng tồn kho ngànhcông nghiệp chế biến chỉ tăng 9,4% so với mức tăng 21,5% cùng kỳ 2013; thanhkhoản ngân hàng thương mại (NHTM) có sự ổn định hơn so với các năm trước;thành quả nổi bật là kinh tế vĩ mô ổn định hơn, lạm phát được kiểm soát, lãi suấtgiảm, tỷ giá ổn định…
4 Những đóng góp mới của luận văn
Phân tích tài chính doanh nghiệp luôn là nội dung quan trọng nhất của quátrình cung cấp tín dụng cho khách hàng Ngân hàng chỉ có thể đảm bảo được mụctiêu an toàn tín dụng khi thực hiện nghiêm túc và có chất lượng công tác phân tíchtài chính khách hàng nói riêng Qua nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tế hoạtđộng phân tích TCDN tại Sở giao dịch của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển ViệtNam, luận văn đã đưa ra một số giải pháp và kiến nghị chủ yếu với hy vọng giảiquyết phần nào những vướng mắc nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chínhdoanh nghiệp tại Sở giao dịch của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Luậnvăn có những đóng góp mới sau:
Trang 12- Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn về hoạt động chovay, công tác phân tích tài chính doanh nghiệp trong quá trình cho vay của ngânhàng thương mại Luận văn cũng đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến công tác phântích tài chính trong cho vay của ngân hàng thương mại
- Phân tích thực trạng phân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay tại Sởgiao dịch của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Từ đó rút ra những vấn đềtồn tại, những vấn đề cần phải tiếp tục xử lý và nguyên nhân ảnh hưởng tới công tácphân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay của Sở giao dịch Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam
- Luận văn đã đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện phântích tài chính doanh nghiệp trong cho vay tại Sở giao dịch Ngân hàng Đầu tư vàPhát triển Việt Nam Các giải pháp đều có tính khoa học và thực tiễn, có tính khảthi nhằm phục vụ cho công tác phân tích tài chính doanh nghiệp tại Sở giao dịchNgân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3chương lớn như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sơ lý luận của phân tích báo
cáo tài chính doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng phân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay tại Sở
giao dịch Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện phân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay
tại Sở giao dịch Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
Với mỗi quốc gia ngân hàng là một trung gian tài chính có vai trò như chiếccầu nối giữa các chủ thể trong nền kinh tế Hoạt động tài chính của ngân hàng lànhận tiền gửi và cho vay, nghĩa là chuyển quyền sử dụng của người có tiền sangngười cần vốn Trong đó hoạt động tín dụng trong hệ thống ngân hàng thương mại
có vai trò rất quan trọng, nó là hoạt động chủ yếu và chiếm tỷ trọng cao nhất trongcác dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng Tuy nhiên bản thân hoạt độngtín dụng cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro gây ra những tổn thất đáng kể cho ngânhàng mà một trong những lý do chính là chất lượng tín dụng giảm sút Như cựu Chủ
tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED), P Volkerđã cho rằng: “Nếu ngân hàng không
có những khoản nợ xấu thì đó không phải là hoạt động kinh doanh” Điều đó cho
thấy rủi ro tín dụng luôn tồn tại và nợ xấu là một thực tế hiển nhiên ở bất cứ ngânhàng nào, kể cả các ngân hàng hàng đầu trên thế giới bởi có những rủi ro nằm ngoàitầm kiểm soát của con người Trên thế giới đã có nhiều quốc gia lâm vào tình trạngkhủng hoảng vì tình trạng nợ xấu Một trong số đố là bài học kinh nghiệm của nước
Mỹ về rủi ro tín dụng từ quý IV/2008 lan tỏa dẫn đến khủng hoảng kinh tế tài chính,kinh tế toàn cầu đến nay dư âm vẫn chưa hết là một bài học kinh nghiệm không chỉriêng cho một quốc gia nào
Dưới đây là tóm lược một số nghiên cứu chính ở Việt Nam trong một số lượngrất lớn các nghiên cứu về hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại mà tác giảnhận thấy có liên quan trực tiếp đến chủ đề nghiên cứu của luận văn
- Luận án tiến sĩ kinh tế: “ Hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước ở nước ta hiện nay” , tác giả Lê Đức Thọ (2005) đã đề cập
đến thực trạng hoạt động tín dụng của nhà nước và những tác động tới quá trìnhphát triển kinh tế xã hội Việt Nam
Trang 14- Tác giả Liễu Thu Trúc và Võ Thành Danh trên Tạp chí khoa học 2012 với
bài viết: “Phân tích hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại
cổ phần Việt Nam”, bài viết nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của hệ
thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn chịu nhiều tác động
từ những ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.Trong đó, các ngân hàng quy mô nhỏ chịu ảnh hưởng nhiều nhất và khả năng phụchồi cũng chậm nhất so với các ngân hàng quy mô lớn và vừa
- Lê Nguyễn Phương Ngọc có bài: “ Quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh” Mục tiêu nghiên cứu của
bài viết là tìm hiểu, phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vaydoanh nghiệp vừa và nhỏ tại Techcombank Hồ Chí Minh Từ đó, đề ra các giải phápnhằm giúp cho hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ đạt hiệu quả cao
Ngoài ra, còn một số sách và bài viết tập trung phân tích, đánh giá báo cáotài chính của doanh nghiệp trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
như: tác giả Huỳnh Hữu Trọng “ Phân tích tình hình hoạt động tín dụng tại ngân hàng Sài Gòn- Hà Nội chi nhánh Cần Thơ”; Tác giả Nguyễn Huyền Trang: “ Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam- Chi nhánh Quang Trung”; Tác giả Nguyên Tiến Dũng: “ Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính tại Eximbank Vinh”; Tác giả Đường Nguyên Hưng: “ Hoàn thiện công tác phân tich báo cáo tài chính doanh nghiệp vay tín dụng tại Ngân hàng Nam Việt- Chi nhánh Đà Nẵng”.
Tuy nhiên, nhìn chung những công trình nghiên cứu trên mới chỉ nghiên cứu tớimột khía cạnh nào đó báo cáo tài chính doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng củangân hàng thương mại chứ chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, đầy
đủ và nêu bật được những ưu nhược điểm của việc phân tích báo cáo tài chính củadoanh nghiệp và đăc biệt chưa có sự so sánh giữa các ngân hàng thương mại với nhau
Trang 151.2 Cơ sở lý luận về phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
Khái niệm tín dụng trên đây được hiểu theo ba mặt cơ bản sau đây:
+ Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sangngười khác
+ Sự chuyển giao mang tính chất tạm thời
+ Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm theomột lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức Một quan hệ được gọi là tín dụng phải đầy
đủ cả ba mặt
Tín dụng ra đời rất sớm gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất hànghóa Cơ sở ra đời của tín dụng xuất phát từ:
- Có sự tồn tại và phát triển của hàng hóa
- Có nhu cầu bù đắp thiếu hụt khi gặp biến cố nhằm đảm bảo sản xuất kinhdoanh, đảm bảo cuộc sống bình thường
Có nhiều định nghĩa khác nhau về tín dụng, tùy thuộc vào giác độ tiếp cận
mà tín dụng có thể được hiểu là:
Sự trao đổi cac tài sản hiện tại để được nhận các tài sản cùng loại trongtương lai Hoặc có thể định nghĩa tín dụng như là quan hệ kinh tế, theo đó mộtngười thỏa thuận để người khác được sử dụng số tiền hay tài sản của mình trongmột thời gian nhất định với điều kiện có hoàn trả
Trong đời sống, tín dụng hiện diện dưới nhiều hình thái khác nhau Tín dụngthương mại là một doanh nghiệp thỏa thuận bán chịu hàng hóa cho khách hàng Tín
Trang 16dụng ngân hàng là việc các ngân hàng thương mại huy động vốn của khách hàng đểsau đó lại cho khách hàng khác vay với mục đích kiếm lời.
Ngoài ra, việc chính phủ hay những doanh nghiệp phát hành trái phiếu rangoài công chúng để vay tiền của các tổ chức, cá nhân cũng được xem là nhữnghình thức tín dụng
Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, nghiệp vụ cho thuê tài chính
do những công ty cho thuê tài chính thực hiện đối với khách hàng là các doanhnghiệp cũng được xem là một hình thức tín dụng đặc thù của nền kinh tế thị trường
1.2.2 Bản chất của tín dụng
Về mặt hình thức, tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng
giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng và khi đến hạn, người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn Khoản giá trị dôi ra này được gọi là lợi tức tín dụng.
Hoạt động tín dụng đã xuất hiện từ thời kỳ cuối của xã hội cộng sản khi xãhội có phân công lao động, sản xuất và trao đổi hàng hóa với hình thức sơ khai làhoạt động cho vay nặng lãi Do lực lượng sản xuất phát triển, chế độ tư hữu ra đời
đã dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo trong nội bộ công xã Người giàu tập trungtrong tay của cải và tiền tệ, người nghèo vì thiếu tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạtnên phải đi vay người giàu và chịu lãi nặng Cho vay nặng lãi là hình thức đặc biệttrong lịch sử của tín dụng, đặc trưng của chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phongkiến và các quan hệ tư bản chủ nghĩa chưa phát triển
Cho vay nặng lãi thích ứng với nền sản xuất nhỏ Trong điều kiện này, ngườicho vay nặng lãi chiếm hầu hết sản phẩm thặng dư của người nông dân và thợ thủcông dưới hình thức lợi tức Vì thế tín dụng nặng lãi làm bần cùng hóa phạm virộng lớn những người sản xuất nhỏ và góp phần làm xuất hiện phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa Tuy vậy, khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa pháttriển, việc cho vay nặng lãi đã trở thành chướng ngại cho sự phát triển của chủ
Trang 17chống nạn cho vay nặng lãi thông qua những luật lệ của nhà nước tư bản và nhữngđiều răn đe cấm hoặc kết tội của nhà thờ, nhưng chủ yếu bằng những biện pháp kinh
tế như lập ra các ngân hàng, xây dựng chế độ tín dụng tư bản chủ nghĩa
Trong nền kinh tế thị trường, đồng tiền phản ánh quan hệ cung cầu và quy luậtgiá trị Mọi vận hành kinh tế đều được tiền tệ hóa Mỗi chủ thể tham gia nền kinh tếđều cần nguồn vốn để hoạt động trên thị trường hoặc nhằm thỏa mãn nhu cầu củamình Tuy nhiên nguồn vốn tự có thường không đủ, trong khi đó, ở một nơi khác lại cóngười đang có vốn nhàn rỗi Sự tương tác giữa các chủ thể kinh tế giúp các khoản vốnđược luân chuyển từ nơi thừa vốn tới nơi thiếu vốn, giúp cho người thừa vốn sử dụngnguồn vốn dư thừa của mình sao cho có lợi nhất, đồng thời người thiếu vốn tìm cách
bù đắp được sự thiếu hụt vốn của mình với chi phí thấp nhất Vì vậy, tín dụng trở thànhmột yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy xã hội loài người đi tới văn minh thịnh vượngtrong nền kinh tế thị trường dựa trên nền sản xuất lớn hiện đại
Ẩn dưới sự di chuyển các luồng vốn tạm thời từ người có vốn và người cần vốn
là quan hệ vay mượn Hay nói rõ hơn, bản chất của tín dụng là quan hệ vay mượn giữa người cho vay và người đi vay Họ là những người khác nhau trong nền kinh tế,
gặp nhau ở điểm cân bằng giữa nhu cầu vay vốn tiền tệ và khả năng đáp ứng nhu cầunày theo những tổ chức của pháp luật và những nguyên tắc tín dụng tương ứng
Vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hàng hóa Quá trìnhvận động của vốn tín dụng có thể được khái quát qua ba giai đoạn sau:
• Giai đoạn 1: Phân phối vốn tín dụng dưới hình thức cho vay Ở giai đoạnnày, vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tư hàng hóa được chuyển từ người cho vay sang đivay Đây là đặc điểm cơ bản khác với việc mua bán hàng hóa (giao ngay) thôngthường Trong quan hệ mua bán hàng hóa thì giá trị chỉ thay đổi hình thái tồn tại.Người bán nhượng đi giá trị hàng hóa, nhưng lại nhận lại giá trị tiền tệ Người muanhượng đi giá trị tiền tệ nhưng nhận lại giá trị hàng hóa Còn trong việc cho vay, chỉ
có một bên nhận được giá trị và cũng chỉ một bên nhượng đi giá trị mà thôi
• Giai đoạn 2: Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất Sau khinhận được giá trị vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng giá trị đó để thỏa
Trang 18mãn một mục đích nhất định Ở giai đoạn này, vốn được sử dụng trực tiếp nếu vaybằng hàng hóa; hoặc vốn vay được sử dụng để mua hàng hóa nếu vay bằng tiền đểthỏa mãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của người đi vay Tuy nhiên, người đivay không có toàn quyền sở hữu giá trị đó, mà chỉ được quyền sử dụng trong mộtthời gian nhất định.
• Giai đoạn 3: Sự hoàn trả của tín dụng Đây là giai đoạn kết thúc một vòngtuần hoàn của tín dụng Sau khi vốn tín dụng đã hoàn thành nhiệm vụ sản xuất hoặctiêu dùng thì vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay
Sự hoàn trả của tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của tín dụng, là dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù kinh tế khác Mặt
khác, sự hoàn trả của tín dụng là quá trình quay trở về của giá trị Hình thái vật chấtcủa sự hoàn trả là sự vận động dưới hình thái hàng hóa hoặc giá trị Tuy nhiên, sựvận động đó không phải với tư cách là phương tiện lưu thông, mà với tư cách mộtlượng giá trị được vận động Sự hoàn trả trong tín dụng luôn luôn phải được bảo tồn
về mặt giá trị và có phần tăng thêm dưới hình thức lợi tức tín dụng
1.2.3 Chức năng của tín dụng
Trong nền kinh tế hàng hóa tiền tệ, tín dụng thực hiện ba chức năng cơ bản sau:
- Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn trả
Tín dụng thu hút đại bộ phận tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phốilại vốn đó dưới hình thức cho vay nhờ đó điều hòa vốn tín dụng từ nơi thừa vốn đếnnơi thiếu vốn Sự điều hòa mang tính chất tạm thời và phải trả lãi
Việc phân phối lại vốn tiền tệ dưới hình thức tín dụng được thực hiện bằnghai cách: Phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp
+ Phân phối trực tiếp là việc phân phối vốn từ chủ thể có vốn tạm thời chưa
sử dụng sang chủ thể trực tiếp sử dụng vốn đó cho sản xuất kinh doanh và tiêudùng Phương pháp phân phối này được thực hiện trong quan hệ tín dụng thươngmại và việc phát hành trái phiếu của các công ty
Trang 19+ Phân phối gián tiếp là việc phân phối vốn được thực hiện thông qua các tổchức tài chính trung gian như, ngân hàng, công ty tài chính
- Chức năng tiết kiệm tiền mặt
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng ngày càng mở rộng và pháttriển đa dạng, từ đó đã thúc đẩy việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt vàthanh toán bù trừ giữa các đơn vị kinh tế Điều này sẽ làm giảm được khối lượnggiấy bạc trong lưu thông, làm giảm được chi phí lưu thông giấy bạc ngân hàng,đồng thời cho phép nhà nước điều tiết một cách linh hoạt khối lượng tiền tệ nhằmđáp ứng kịp thời nhu cầu tiền tệ cho sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển
- Chức năng giám đốc các hoạt động của nền kinh tế
Trong việc thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ nhằmphục vụ yêu cầu tái sản xuất, tín dụng có khả năng phản ánh một cách tổng hợp vànhạy bén tình hình hoạt động của nền kinh tế, do đó, tín dụng còn được coi là mộttrong những công cụ quan trọng của nhà nước để kiểm soát, thúc đẩy quá trình thựchiện các chiến lược phát triển kinh tế
Mặt khác, trong khi thực hiện chức năng tiết kiệm tiền mặt, gắn liền với việcphát triển thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế, tín dụng có thể phảnánh và kiểm soát quá trình phân phối sản phẩm quốc dân trong nền kinh tế
1.2.4 Vai trò của tín dụng
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, tín dụng có các vai trò sau:+ Thứ nhất: Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất được liên tụcđồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế
Việc phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nềnkinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục Tín dụng còn là cầu nốigiữa tiết kiệm và đầu tư Nó là động lực kích thích tiết kiệm đồng thời là phươngtiện đáp ứng nhu cầu về vốn cho đầu tư phát triển
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, tín dụng là một trong những nguồn vốnhình thành vốn lưu động và vốn cố định của doanh nghiệp, vì vậy tín dụng đã góp
Trang 20phần động viên vật tư hàng hoá đi vào sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuậtđẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội.
+ Thứ hai: Thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất.Hoạt động của ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng, trên cơ sở
đó cho vay các đơn vị kinh tế Mặt khác quá trình đầu tư tín dụng được thực hiệnmột cách tập trung, chủ yếu là cho các xí nghiệp lớn, những xí nghiệp kinh doanhhiệu quả
+ Thứ ba: Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển vàngành kinh tế mũi nhọn
Trong thời gian tập trung phát triển nông nghiệp và ưu tiên cho xuất khẩu… Nhànước đã tập trung để tài trợ phát triển các ngành đó, từ đó tạo điều kiện phát triểncác ngành khác
+ Thứ tư: Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tếcủa các doanh nghiệp
Đặc trưng cơ bản của vốn tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và cólợi tức, nhờ vậy mà hoạt động của tín dụng đã kích thích sử dụng vốn có hiệu quả.Bằng cách tác động như vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp khi sử dụng vốn tín dụngphải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăngvòng quay của vốn, tạo điều kiện nâng cao doanh lợi của doanh nghiệp
+ Thứ năm: Tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài.Trong điều kiện kinh tế “mở”, tín dụng đã trở thành một trong những phương tiệnnối liền các nền kinh tế các nước với nhau
1.2.5 Khái quát về ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.5.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
Khái quát về Ngân hàng thương mại:
NHTM đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sựphát triển của kinh tế hàng hóa, Sự phát triển hệ thống NHTM đã có tác động rất
Trang 21tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thìNHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chínhkhông thể thiếu được.
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM: Ở Mỹ:NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạtđộng trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “ NHTM là những
xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúngdưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó chochính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”
Ở Việt Nam, định nghĩa NHTM: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ màhoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với tráchnhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu vàlàm phương tiện thanh toán
Ngoài ra, theo Luật Tổ chức các tín dụng năm 2010:
“Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”.
“Ngân hàng thương mại: là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
NHTM giống các tổ chức kinh doanh khác là hoạt động nhằm mục đích thulợi nhuận nhưng là tổ chức kinh doanh đặc biệt vì đối tượng kinh doanh là tiền tệtrong đó hoạt động tín dụng (hoạt động cho vay) là hoạt động chủ yếu được thựchiện bằng cách thu hút vốn trong xã hội để cho vay nhằm mục tiêu lợi nhuận caonhất và rủi ro thấp nhất
Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại:
- Khái niệm cho vay:
Trang 22Với NHTM hoạt động chủ yếu của ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền
tệ, hay cũng có thể nói rằng Ngân hàng đi vay để cho vay Cho vay (hay còn gọi làtín dụng) là hoạt động quan trọng của Ngân hàng, là hoạt động đem lại cho Ngânhàng một khoản lợi nhuận rất lớn, khoản mục cho vay chiếm 1 tỷ trọng lớn trong tàisản của Ngân hàng (70%) với quy mô như vậy cho vay ảnh hưởng đến nhiều chiếnlước hoạt động của Ngân hàng như dự trữ, vay, đầu tư Để hiểu rõ hơn về hoạtđộng cho vay của NHTM trước hết ta phải tìm hiểu về khái niệm cho vay
Trong quy chế cho vay của Luật tổ chức tín dụng năm 2010 đối với kháchhàng thì cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho kháchhàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏathuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi
Hoạt động cho vay của Ngân hàng là tiền huy động được trong nền kinh tế,Ngân hàng dùng tiền đó để cho vay khoản tiền này là khoản nợ đối với cá nhânhoặc tổ chức nhận món tiền vay nhưng là tài sản có đối với Ngân hàng và nó manglại thu nhập cho Ngân hàng Trong các hoạt động của Ngân hàng thì cho vay là hoạtđộng đóng vai trò quan trọng và nó mang lại lợi nhuận chủ yếu cho Ngân hàng,trang trải cho mọi hoạt động của Ngân hàng, cân đối giữa đầu vào và đầu ra hay cóthể nói cho vay có vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàngthương mại
- Nguyên tắc cho vay:
Hoạt động cho vay của NHTM dựa trên các nguyên tắc cho vay chủ yếu sau:
· Sử dụng vốn vay đúng mục đích theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng:mục đích sử dụng tín dụng của khách hàng phải hợp pháp, không vi phạm pháp luậtphù hợp với quy định của Ngân hàng nhà nước cũng như quy định riêng của Ngânhàng cấp tín dụng
· Hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn đã thỏa thuận: đây là nguyên tắc quantrọng khi tiến hành cho vay trên cơ sở tạo lợi nhuận, do vậy chỉ khách hàng có khảnăng trả nợ ngân hàng mới có thể cấp tín dụng Nếu khách hàng không có khả năng
Trang 23· Phải có phương án kinh doanh có hiệu quả trong tương lai
Thực chất nguyên tắc thứ ba này là sự phát triển của nguyên tắc thứ hai vìchỉ khi khách hàng có được phương án sản xuất kinh doanh tốt, có khả năng manglại hiệu quả cao thì mới có nguồn trả nợ ngân hàng đầy đủ và đúng hạn Tuy nhiên,xác định hiệu quả của dự án đôi khi không chính xác do ảnh hưởng từ nền kinh tếthị trường, vì vậy để giảm thiểu rủi ro tín dụng của ngân hàng khi cho vay, ngânhàng có thể yêu cầu khách hàng có các tài sản đảm bảo như các khoản thế chấp,cầm cố Giá trị c của các tài sản đảm bảo phụ thuộc vào giá trị của các khoản tíndụng và mức độ rủi ro của dự án
- Phân loại cho vay:
Mục đích sử dụng vốn vay:
- Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xâydựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thươngmại và dịch vụ
- Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốnlưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
- Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuấtnhư phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiênliệu,
- Cho vay các định chế tài chính: Bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng,công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và cácđịnh chế tài chính khác
- Cho vay cá nhân: Là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng nhưmua sắm các vật dụng đắt tiền, và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thôngthường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng
- Cho thuê: Cho thuê của các định chế tài chính bao gồm hai loại cho thuê vậnhành và cho thuê tài chính Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản,trong đó chủ yếu là máy móc - thiết bị
Căn cứ vào thời hạn cho vay:
Trang 24- Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và được sửdụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động Của các doanh nghiệp và các nhu cầu chitiêu ngắn hạn của cá nhân
- Cho vay trung hạn: Có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm chủ yếu được sửdụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ,
mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới, có quy mô nhỏ và thời gianthu hồi vốn nhanh Trong nông nghiệp, chủ yếu cho vay trung hạn để đầu tư vào cácđối tượng sau: Máy cày, máy bơm nước, xây dựng các vườn cây công nghiệp như
cà phê, điều,
Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn hìnhthành vốn lưu dộng thường xuyên của các doanh nghiệp dặc biệt là những doanhnghiệp mới thành lập
- Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa
có thể lên đến 20-30 năm, một số trường hợp cá biệt cá thể lên đến 40 năm
Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dàihạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựngcác xí nghiệp mới
Căn cứ theo phương thức hoàn trả:
- Cho vay có thời hạn: là loại vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo
hợp đồng Cho vay có thời hạn bao gồm các loại sau:
+ Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ cụ thể (cho vay phi trả góp)
+ Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể (cho vay trả góp)
+ Cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể
- Cho vay không có thời hạn cụ thể: đối với các loại cho vay không có thờihạn thì ngân hàng có thể yêu cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào,nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, thời gian này có thể được thỏa thuậntrong hợp đồng
Căn cứ vào xuất xứ tín dụng:
Trang 25- Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng
thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng
- Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lạicác khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán
Các NHTM cho vay gián tiếp theo các loại sau:
+ Chiết khấu thương mại
+ Mua các phiếu bán hàng tiêu dùng và máy móc nông nghiệp trả góp
+ Nghiệp vụ thanh tín
1.2.5.2 Phân tích tài chính của doanh nghiệp trong cho vay của Ngân hàng thương mại
Khái niệm phân tích tài chính của doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một khâu quan trọng, không thể thiếu củangân hàng khi xem xét cấp tín dụng cho khách hàng Có nhiều cách hiểu về phân tích tàichính doanh nghiệp, mỗi cách hiểu lại cho ta một khái niệm để nhận biết, cụ thể như sau:
“Phân tích tài chính bao gồm việc đánh giá các điều kiện tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai” (Quản trị tài chính căn bản – TS
Nguyễn Quang Thu, NXB Thống kê 2005) Như vậy theo khái niệm này, phân tíchtài chính là cả một quá trình, đòi hỏi người phân tích phải theo dõi tình hình tàichính của doanh nghiệp trong một lượng thời gian thích hợp, tuy nhiên khái niệmnày chưa cho ta thấy rõ nguồn thông tin cần phân tích được lấy từ đâu và mục tiêucủa phân tích tài chính là gì
Theo quan điểm của TS Nguyễn Minh Kiều trong “Nghiệp vụ ngân hàng
thương mại” – NXB Thống kê 2005, “Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình sử dụng các báo cáo tài chính của doanh nghiệp để phân tích và đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp” Khái niệm này đã chỉ rõ nguồn thông tin cần
phân tích là các thông tin kế toán của doanh nghiệp, tuy nhiên trong thực tế, có thểdựa vào nhiều nguồn thông tin khác phục vụ cho quản lý để tiến hành phân tích tàichính doanh nghiệp
Trang 26Một khái niệm khác được nêu trong giáo trình Tài chính doanh nghiệp (Chủbiên: TS Lưu Thị Hương – Khoa Ngân hàng Tài chính – ĐH Kinh tế quốc dân) như
sau: “Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó” Khái niệm này có thể được
coi là khái niệm đầy đủ nhất về phân tích tài chính Tuy nhiên, với khuôn khổ củaluận văn là tập trung vào phân tích tài chính dưới giác độ của ngân hàng thươngmại, nên khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp có thể được hiểu như sau:
“Phân tích tài chính doanh nghiệp là việc thu thập, phân tích các thông tin kế toán
và thông tin khác về quản lý để đánh giá thực trạng và xu hướng tài chính, khả năng tiềm lực của doanh nghiệp nhằm mục đích đảm bảo an toàn vốn tín dụng”.
Với sự phát triển của nền kinh tế, việc phân tích tài chính doanh nghiệp ngàycàng được áp dụng rộng rãi và ngày càng hoàn thiện Đặc biệt, sự phát triển ngàycàng mạnh mẽ của thị trường tài chính, trong đó có ngân hàng và các khách hàngquan trọng của nó là các doanh nghiệp đã tạo nhiều cơ hội để phân tích tài chínhchứng tỏ tính hữu ích và cần thiết của mình
Mục đích phân tích tài chính doanh nghiệp trong cho vay của Ngân hàng thương mại
Phân tích tài chính của doanh nghiệp không chỉ hữu ích đối với bản thândoanh nghiệp mà còn hữu ích đối với những đối tượng có liên quan như nhà đầu tư,nhà cung cấp, bạn hàng, chủ nợ Tình hình tài chính lành mạnh của doanh nghiệp
là cơ sở để các nhà đầu tư, đặc biệt ngân hàng có nên đầu tư vào doanh nghiệp.Việc xem xét báo cáo tài chính có lành mạnh hay không đòi hỏi phải phân tích tàichính doanh nghiệp để có cái nhìn đúng đắn về thực trạng tài chính của doanhnghiệp, từ đó các đối tượng trên có thể đưa ra quyết định chính xác và mức độ tiếpcận và hợp tác doanh nghiệp
Để có quyết định cho vay, các NHTM phải xác định được mức độ vốn vay
Trang 27là người cho vay, việc doanh nghiệp vay vốn có hoàn trả lãi và gốc đúng hạn haykhông rất quan trọng vì nó tác động trực tiếp đến thu nhập, vốn và hoạt động củangân hàng Việc hoàn trả gốc và lãi đúng hạn phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng tàichính của doanh nghiệp Những doanh nghiệp có năng lực sản xuất kinh doanh yếukém, chất lượng hoạt động không ổn định, tài chính kém lành mạnh sẽ rất khó tiếpcận được với nguồn vốn của ngân hàng Những vấn đề này chỉ có được phát hiệnthông qua việc phân tích tài chính của doanh nghiệp Do vậy, phân tích tài chính làbước quan trọng cần được thực hiện đầu tiên trong quy trình xét cấp tín dụng củaNHTM nào Kết quả của quá trình phân tích này là cơ sở để NHTM đưa ra quyếtđịnh cấp tín dụng một cách đúng đắn.
Phân tích tài chính doanh nghiệp là khâu vô cùng quan trọng trong quá trìnhcấp tín dụng của ngân hàng, và phải được thực hiện một cách xuyên suốt từ trước,trong và sau khi cho vay, nhằm đảm bảo an toàn và khả năng sinh lời cho khoản tíndụng của ngân hàng
Thông tin được sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, việc xác định và thu thập đượcnguồn thông tin cần thiết dùng cho phân tích có ý nghĩa rất quan trọng bởi toàn bộnhững đánh giá của ngân hàng về doanh nghiệp đều dựa trên những thông tin này
Do vậy nguồn thông tin cần đầy đủ, đa dạng và chính xác Để có được thông tin cầnthiết, ngân hàng có thể thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, từ khách hàng, từ cácphương tiện thông tin đại chúng và từ kho dữ liệu của ngân hàng, cụ thể như sau:
- Thông tin từ khách hàng cung cấp:
Thông tin do khách hàng cung cấp là nguồn thông tin đầu tiên mà ngân hàng
có thể có được Ngân hàng có được nguồn thông tin này từ quá trình tiếp xúc trựctiếp với khách hàng hay những thông tin do khách hàng cung cấp trong hồ sơ vayvốn Những thông tin về tài chính chủ yếu mà ngân hàng có được từ hồ sơ vay vốncủa khách hàng gồm các báo cáo tài chính qua một số năm, các kế hoạch tài chínhtrong tương lai Ngoài ra thông tin khác cũng quan trọng không kém là phương án
Trang 28vay vốn của khách hàng với sự phản ánh chi tiết về sử dụng tiền vay và kế hoạch trả
nợ của khách hàng
Thông tin kế toán là thông tin cơ sở để phân tích tình hình tài chính củadoanh nghiệp và được phản ánh khá đầy đủ trong các báo cáo tài chính, báo cáotổng hợp nhất về tình hình tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tìnhhình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Các báo cáo tài chínhđược sử dụng chủ yếu trong phân tích tài chính doanh nghiệp là: Bảng cân đối kếtoán, Báo cáo kết quả kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính củamột doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó, thường là cuối tháng, cuốiquý hoặc cuối năm Đây là một báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối vớimọi đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh, quan hệ quản lý với doanhnghiệp Thông thường bảng cân đối kế toán được trình bày dưới dạng bảng cân đối
số dư các tài khoản kế toán: một bên phản ánh tài sản và một bên phản ánh vốn củadoanh nghiệp
Bên tài sản của Bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện
có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp: đó
là tài sản cố định, tài sản lưu động Bên vốn (nợ và vốn chủ sở hữu) phản ánh sốvốn để hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo: đó làvốn chủ sở hữu và các khoản nợ
Về mặt kinh tế bên tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài sản, bênvốn phản ánh cơ cấu tài trợ, cơ cấu vốn cũng như khả năng độc lập về tài chính củadoanh nghiệp
Kết cấu của Bảng cân đối kế toán thường ở dạng như sau:
Trang 29 Báo cáo kết quả kinh doanh
Một thông tin không không kém phần quan trọng được sử dụng để phân tíchtài chính doanh nghiệp là thông tin phản ánh trong Báo cáo kết quả kinh doanh.Khác với Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh cho biết sự dịch chuyểncủa tiền trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng
Trang 30hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Báo cáo kết quả kinh doanh cũng giúpnhà phân tích so sánh doanh thu với số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hoá, dịchvụ; so sánh tổng chi phí phát sinh với số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanhnghiệp Trên cơ sở doanh thu và chi phí, có thể xác định được kết quả sản xuất –kinh doanh, lãi hay lỗ trong kỳ Như vậy Báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kếtquả sản xuất kinh doanh, phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong mộtthời kỳ nhất định Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sửdụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất, kinhdoanh của doanh nghiệp.
Những khoản mục chủ yếu được phản ánh trên Báo cáo kết quả kinh doanh baogồm: doanh thu từ hoạt động kinh doanh, doanh thu từ hoạt động tài chính, doanh thu
từ hoạt động bất thường và các chi phí tương ứng với từng loại hoạt động đó
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Để đánh giá một doanh nghiệp có đảm bảo khả năng chi trả hay không, cầntìm hiểu Báo cáo lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp.Báo cáo lưu chuyển tiền tệthường được xác định cho thời gian ngắn hạn, thường là từng tháng Báo cáo lưuchuyển tiền tệ thường được lập theo hai phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp
Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực nhập quỹ (thu ngân quỹ) bao gồm: dòngtiền nhập quỹ từ hoạt động kinh doanh (từ bán hàng hoá dịch vụ), dòng tiền thực nhậpquỹ từ hoạt động đầu tư, tài chính, dòng tiền thực nhập quỹ từ hoạt động bất thường
Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực xuất quỹ (chi ngân quỹ) bao gồm: dòngtiền xuất quỹ thực hiện sản xuất kinh doanh, dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt độngđầu tư tài chính, dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt động bất thường
Trên cơ sở dòng tiền nhập quỹ và xuất quỹ, nhà phân tích thực hiện cân đối ngânquỹ với số dư ngân quỹ đầu kỳ để xác định số dư ngân quỹ cuối kỳ.Từ đó, có thể thiết lậpmức ngân qũy dự phòng tối thiểu cho doanh nghiệp nhằm mục tiêu đảm bảo chi trả
Tóm lại, để phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp, cán bộ phântích tài chính doanh nghiệp cần phải đọc và hiểu được toàn bộ các con số, khoảnmục trên các báo cáo tài chính và nhận biết được sự thay đổi trong từng con số,
Trang 31khoản mục đó Ngoài ra, cần phải sử dụng kết hợp các báo cáo tài chính với nhautrong quá trình phân tích để đem lại hiệu quả cao nhất.
- Thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng:
Thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng là nguồn thông tin bổ sungcần thiết cho quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp Thông tin này bao gồm cácthông tin chung, thông tin về ngành kinh doanh hay các thông tin về pháp lý, kinh tếđối với doanh nghiệp
Thông tin chung là những thông tin về tình hình phát triển kinh tế, tiến bộkhoa học kỹ thuật, những thay đổi trong chính sách kinh tế (chính sách thuế, chínhsách đầu tư…), những thông tin về các biến số kinh tế vĩ mô như lãi suất, tỷ giá,…,các thông tin thị trường, cơ hội kinh doanh… nhằm đánh giá cơ hội và khó khăn củadoanh nghiệp ở hiện tại và tương lai Các thông tin về chỉ số giá cả, lạm phát cũngcần được sử dụng để đánh giá tốc độ tăng trưởng thực tế của doanh nghiệp
Thông tin về ngành kinh doanh: đây là thông tin cần thiết để đánh giá hiệntrạng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp cùng ngành vàtiềm năng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai Đó có thể là thông tin về vịtrí, tầm quan trọng của ngành trong nền kinh tế, cơ cấu, sản phẩm của ngành, trình
độ công nghệ, quy mô của thị trường, khả năng cạnh tranh, tính độc quyền…
Thông tin về pháp lý, kinh tế đối với doanh nghiệp có thể hiểu là các thôngtin mà doanh nghiệp báo cáo cho các cơ quan quản lý như: tình hình quản lý, kiểmtoán, kế hoạch lợi nhuận, kế hoạch phân phối và sử dụng kết quả kinh doanh…
- Thông tin từ kho dữ liệu của ngân hàng:
Đây là nguồn thông tin đáng tin cậy vì hầu hết các thông tin này đã đượcsàng lọc ở mức độ nhất định Thông tin này bao gồm những thông tin về môitrường, lĩnh vực ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp, mức độ quan hệ giữangân hàng và doanh nghiệp, độ tín nhiệm của doanh nghiệp mà ngân hàng đã tíchluỹ được trong quá trình giao dịch trước đó với khách hàng hoặc khách hàng tương
tự Nguồn thông tin này tuy đáng tin cậy để sử dụng nhưng chất lượng của nguồnthông tin này lại phụ thuộc rất nhiều vào quá trình lưu trữ và xử lý thông tin củangân hàng
Trang 32 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại
- Phân tích các khoản mục trong bảng cân đối kế toán doanh nghiệp
Phân tích các khoản mục trong bảng cân đối kế toán doanh nghiệp thực chất
là đánh giá tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp, để:
+ Đánh giá tài sản:
Trong Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, phần tài sản phản ánh số dưgiá trị tài sản tại một thời điểm Các thông tin về tài sản cho biết quy mô, chất lượngtài sản cũng như khả năng quản lý tài sản của doanh nghiệp Ngoài ra nó còn quyếtđịnh đến quy mô tài trợ cũng như khả năng thu hồi nợ của ngân hàng trong trườnghợp xảy ra rủi ro nếu doanh nghiệp sử dụng tài sản để đảm bảo cho khoản vay Vìvậy, những thông tin về tài sản của doanh nghiệp khá quan trọng đối với quyết địnhcho vay của ngân hàng
Tiền và các tài sản tương đương tiền: là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ
số tiền mặt có thể huy động ngay từ ngân quỹ của doanh nghiệp, bao gồm tiền mặt,tiền gửi ngân hàng và chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao
Các khoản phải thu: thông tin về quy mô, thời gian và các nguồn trong khoảnmục này rất quan trọng, cán bộ tín dụng cần kiểm tra danh sách toàn bộ các khoảnphải thu để phân loại theo chất lượng, thời hạn của từng khoản để đánh giá chínhxác giá trị của khoản mục này bằng việc loại trừ các khoản khó hoặc không có khảnăng thu hồi hay đã bán lại cho bên thứ ba Các khoản tín dụng ngắn hạn như chovay tài trợ vốn lưu động sẽ liên quan chặt chẽ tới tình hình ngân quỹ và các khoảnphải thu của khách hàng, đặc biệt là kỳ hạn cho vay hoặc kỳ hạn trả tiền có thể tínhtoán dựa trên số ngày của vòng quay các khoản phải thu
Hàng tồn kho: là khoản mục khá quan trọng trong quá trình xem xét đánh giátài sản của khách hàng Lượng hàng tồn kho nhiều hay ít cho biết mức độ sản xuất,
dự trữ và tiêu thụ của doanh nghiệp, từ đó có thể đánh giá được phần nào về doanhthu và chi phí tồn kho, hay nói cách khác là đánh giá được phần nào hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 33Tài sản cố định: tài sản cố định của doanh nghiệp bao gồm tài sản cố địnhhữu hình (đất đai, nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải ) và tài sản cốđịnh vô hình (uy tín, bằng phát minh sáng chế, nhãn hiệu thương mại, quyền sởhữu…) Tài sản cố định được định giá trên cơ sở nguyên giá trừ đi giá trị khấu haoluỹ kế Cần quan tâm đến giá trị thị trường của tài sản, là mức giá mà tài sản có thểđược bán ngay trên thị trường Việc so sánh giá trị thị trường với giá trị sổ sách củatài sản cho biết chất lượng và hiện trạng của tài sản, phục vụ cho hoạt động tài trợtrung dài hạn của ngân hàng.
sử dụng để thực hiện các nghĩa vụ trả nợ của mình…
Các khoản vay ngắn hạn: chủ yếu là nợ ngân hàng Cán bộ tín dụng cần phảitìm hiểu về những mối quan hệ tín dụng của doanh nghiệp Muốn làm được điềunày cán bộ tín dụng cần có danh sách về các giấy nhận nợ của doanh nghiệp (hợpđồng vay vốn) ghi rõ số tiền vay từng chủ nợ và tài sản nào của doanh nghiệp đãđược dùng làm tài sản đảm bảo
Ngoài những khoản mục trên, cán bộ tín dụng cũng cần xem xét tình hìnhthực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên, các khoản thuế
Trang 34phải nộp ngân sách… để có được những đánh giá xác thực hơn về tình hình công nợcủa doanh nghiệp.
Nợ dài hạn: là những khoản nợ có thời gian thanh toán trên một năm gồmvay dài hạn, nợ dài hạn, phát hành trái phiếu Nợ dài hạn luôn gắn với việc đầu tưmua sắm tài sản cố định của doanh nghiệp
Vốn chủ sở hữu: vốn chủ sở hữu được thể hiện dưới hình thức vốn góp banđầu, lợi nhuận để lại, các quỹ của doanh nghiệp… Xem xét vốn chủ sở hữu giúp cán
bộ tín dụng đánh giá được mức độ đầu tư, khả năng tự chủ về mặt tài chính củadoanh nghiệp Về lý thuyết vốn chủ sở hữu là một khoản đảm bảo để chống lạinhững tổn thất tiềm năng đối với người cho vay Trong trường hợpcác điều kiệntương đương nhau, rõ ràng một doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu lớn hơn sẽ có cơhội cao hơn để tiếp cận với khoản tín dụng của ngân hàng
- Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ thể hiện lưu lượng tiền tệ vào, ra của doanhnghiệp trong một chu kỳ kinh doanh Kết quả phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
sẽ xác định được lượng tiền do các hoạt động kinh doanh mang lại trong kỳ và dựđoán các dòng tiền trong tương lai, đánh giá khả năng thanh toán nợ vay và khảnăng trả lãi cổ phần bằng tiền, chỉ ra mối lien hệ giữa lãi lỗ ròng và việc thay đổitiền của doanh nghiệp
Bản chất của sự vận động như sau:
+ Nguồn thu tăng do giảm tài sản này hay tăng nợ phải trả và vốn chủ sở hữu+ Nguồn chi tăng do tăng tài sản, trả các khoản nợ đến hạn cho đồng sở hữu vốn.+ Tiền mặt đầu kỳ + tiền phát sinh trong kỳ = tiền mặt cuối kỳ
Sự vận động của dòng tiền thể hiện qua ba hoạt động:
+ Dòng tiền từ hoạt động SXKD: là hoạt động chủ yếu của DN Dòng tiềnnày>= 0 do: Doanh thu tăng, bán chịu ít, tốc độ tăng doanh thu bằng tiền lớn hơntốc độ tăng sản phẩm được sản xuất ra, tăng phải thu kì trước Đây là dấu hiệu sảnxuất kinh doanh ổn định, phát triển Dòng tiền < 0 do nguyên nhân ngược lại
Trang 35+ Dòng tiền từ hoạt động đầu tư: Dòng tiền này >0 do thu lãi đầu tư, thu tiềnbán TSCĐ, thu hồi đầu tư không có hiệu quả, tăng vốn chủ sở hữu, tìm nguồn hoạtđộng từ bên ngoài Dòng tiền này< 0 do: DN mới đầu tư vào tài sản hay đầu tư rangoài DN, cán bộ tín dụng phải xem xét nguồn vốn để đầu tư, nếu không phải làvốn chủ sở hữu hay vốn dài hạn thì chứng tỏ DN đã đầu tư bằng nguồn vốn ngắnhạn như vậy tiềm ẩn rủi ro tín dụng.
+ Dòng tiền từ hoạt động tài chính: Dòng tiền này liên quan tới vốn chủ sởhữu, vay vốn, nhận vốn liên doanh, phát hành cổ phiếu Dòng tiền nay =< 0 do trảlãi, chủ sở hữu rút vốn, trường hợp > 0 tăng vay vốn, góp thêm vốn
- Phân tích các chỉ số tài chính
Phân tích các chỉ số tài chính cho nhà phân tích cái nhìn rõ hơn về tình hìnhtài chính của doanh nghiệp bởi nó đưa ra các yếu tố định lượng một cách cụ thểthông qua việc tính toán và phân tích những tỷ số khác nhau sử dụng những số liệu
từ các báo cáo tài chính, từ đó giúp nhà phân tích đánh giá được điểm mạnh, điểmyếu của doanh nghiệp Nhà phân tích (cán bộ tín dụng) cần tìm ra được các mốilien hệ giữa các tỷ số tính toán được để có thể đưa ra những kết luận chính xác vềtình hình tài chính của doanh nghiệp Muốn vậy, cần nhìn nhận, đánh giá những tỷ
số này một cách toàn diện Các chỉ số tài chính được phân thành bốn nhóm chínhgồm: các chỉ số về khả năng thanh toán, các chỉ số về khả năng cân đối vốn, các chỉ
số về khả năng hoạt động và các chỉ số về khả năng sinh lời
Nhóm chỉ số về khả năng thanh toán: giúp cán bộ tín dụng đánh giá được khảnăng thanh toán (tính lỏng) của doanh nghiệp Các chỉ tiêu này sẽ đo lường khảnăng chuyển đổi các loại tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn thành tiền để thanhtoán các khoản nợ ngắn hạn Nhu cầu tiền mặt hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện,lĩnh vực và đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp, khó cóthể đưa ra mức chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp Nhìn chung các tỷ sốnày càng cao thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng tốt (tuy nhiên nên ởmức vừa phải để đảm bảo hiệu quả sinh lợi) Thực tế cho thấy nếu tỷ số này quá caohoặc quá thấp (dự trữ tiền mặt quá nhiều hoặc quá mỏng so với nhu cầu thực tế của
Trang 36doanh nghiệp) đều không tốt vì sẽ gây ứ đọng vốn hoặc thiếu tiền để thanh toán.Thường các chỉ số về khả năng thanh toán được chia làm ba loại như sau:
Khả năng thanh toán hiện
và đầu tư ngắn hạn với nợ ngắn hạn về mặt tuyệt đối Nếu hai doanh nghiệp có cùng
tỷ số về khả năng thanh toán hiện hành thì để so sánh được khả năng thanh toánthực tế, ngân hàng phải kết hợp với chỉ tiêu vốn lưu động ròng
Vốn lưu động ròng = TSLĐ và đầu tư ngắn hạn - Nợ ngắn hạn
Đây là bộ phận tài sản ngắn hạn được tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn.Vốn lưuđộng ròng có ý nghĩa là bộ phận tài sản ngắn hạn có khả năng chuyển đổi thành tiềncao được tài trợ từ nguồn dài hạn và không bị sức ép thanh toán.Như vậy trongtrường hợp này, doanh nghiệp nào có vốn lưu động ròng lớn hơn sẽ có khả năngthanh toán thực tế cao hơn
Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán nợ ngắn hạn bằng các tài sản
có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, không phụ thuộc vào việc bán hàng hoá
dự trữ.Trong toàn bộ phần tài sản ngắn hạn thì hàng tồn kho là khoản mục có tínhthanh khoản kém nhất và khi bán dễ bị thua lỗ nhất nên không được đưa vào trong
tỷ số này
Khả năng thanh toán tức thời =
Nợ ngắn hạn Tiền và các khoản tương đương tiền
Trang 37Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng nợ đến hạn được thanh toán bằng baonhiêu tiền mặt tại quỹ Chỉ tiêu này nên được duy trì ở một mức độ hợp lý bởi nếuchỉ tiêu này quá cao sẽ phản ánh việc dự trữ tiền mặt tại quỹ của doanh nghiệp là dưthừa, nếu chỉ tiêu này quá thấp phản ánh nguy cơ phá sản do không đáp ứng đượckhả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp.
Như vậy, thông qua việc phân tích và đánh giá các chỉ số về khả năng thanhtoán, ngân hàng có thể bước đầu đánh giá được thực trạng tài chính của doanhnghiệp và qua đó biết được phần nào về xu hướng phát triển của doanh nghiệp Nếutình hình tài chính tốt, doanh nghiệp sẽ ít công nợ, khả năng thanh toán được đảmbảo, do vậy sẽ ít đi chiếm dụng vốn Điều này tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủđộng về vốn, đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh thuận lợi; ngược lại, chỉ số khảnăng thanh toán thấp, doanh nghiệp gặp khó khăn trong thanh toán dẫn đến tìnhtrạng nợ nần dây dưa, ảnh hưởng đến sản xuất và có khả năng phá sản
Nhóm chỉ số về khả năng cân đối vốn: nhóm chỉ số này dùng để đo lườngphần vốn góp của các chủ sở hữu doanh nghiệp so với phần tài trợ của các chủ nợđối với doanh nghiệp, do vậy có ý nghĩa quan trọng trong phân tích tài chính Các tỷ
số phản ánh khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp bao gồm:
Chỉ tiêu này phản ánh có bao nhiêu phần trăm tài sản được tài trợ bởi nguồn
nợ vay Nếu doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, việc sử dụng nợ có tác dụng đòn bẩy tàichính, ngược lại nó có thể làm gia tăng thua lỗ Thông thường, đối với ngân hàng,một doanh nghiệp có cơ cấu vốn an toàn khi hệ số này bằng 0,5 vì như vậy có ítnhất một nửa tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ vốn chủ sở hữu Tuynhiên nên xem xét tỷ số này tuỳ vào ngành nghề hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp và mối tương quan với các tỷ số khác
Tỷ số nợ trên tổng tài sản (hệ số nợ) =
Tổng nợ Tổng tài sản
Nợ dài hạn
=
Tỷ số nợ dài hạn
Vốn chủ sỡ hữu
Trang 38Chỉ tiêu này phản ánh cơ cấu vốn của doanh nghiệp.Chỉ tiêu này càng thấpcàng cho thấy khả năng độc lập về tài chính của doanh nghiệp trong việc mua sắm,đầu tư vào các tài sản dài hạn.Nếu chỉ tiêu này quá lớn hàm chứa khả năng bị phásản khi các khoản nợ dài hạn đến hạn thanh toán.
Tỷ số này phản ánh mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp.Thông thường, các doanh nghiệp hoạt động chủ yếu bằng các nguồn vốn như: vốnchủ sở hữu, vốn vay và vốn tín dụng thương mại Như vậy chỉ tiêu này đánh giámức độ tự đảm nhiệm vốn trong hoạt động doanh nghiệp Do đó tỷ số này càng cao,doanh nghiệp càng được đánh giá cao
Tỷ số này cho biết một đồng chi phí trả lãi được tài trợ bởi bao nhiêu đồnglợi nhuận trước thuế và lãi vay.Tỷ số này càng lớn càng cho thấy khả năng sử dụng
nợ vay hiệu quả
Nhóm chỉ số về khả năng hoạt động: khả năng hoạt động của doanh nghiệpđược đánh giá thông qua hiệu quả kinh doanh, cái phản ánh trình độ sử dụng cácnguồn lực sẵn có của doanh nghiệp về lao động, vốn, vật tư để đạt kết quả cao nhấtvới chi phí thấp nhất Nhóm chỉ số về khả năng hoạt động được sử dụng để đánh giáhiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp, bao gồm các tỷ số sau:
Đây là chỉ tiêu quan trọng được các nhà quản trị cũng như các nhà đầu tư vàchủ nợ quan tâm bởi chỉ tiêu này đo lường khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanhnghiệp, cho biết bình quân một đơn vị sản phẩm hàng hoá dự trữ tham gia vào quátrình kinh doanh thì thu được bao nhiêu đồng giá vốn Hệ số này càng cao càngphản ánh hoạt động kinh doanh tốt và ngược lại có nghĩa là có sự bất hợp lý trongkhâu dự trữ, sản xuất làm hàng hoá kém chất lượng hay khâu tiêu thụ gặp yếu kém
Tỷ số tự tài trợ = Vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Hàng tồn kho bình quân Khả năng thanh toán lãi vay = Lãi vay trước thuế và lãi vay hữu hạn
Chi phí trả lãi
Trang 39Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ kinh doanh vốn lưu động được quay bao nhiêuvòng.Số vòng quay càng lớn, hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại.
Kỳ thu tiền bình quân được sử dụng để đánh giá khả năng thu tiền trongthanh toán trên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu bình quân một ngày Nếu kỳthu tiền bình quân cao chứng tỏ doanh nghiệp bị ứ đọng vốn ở các khoản phải thuhoặc doanh thu bình quân một ngày nhỏ do hàng hoá không tiêu thụ được Nếu tỷ
số này thấp chứng tỏ khả năng thu hồi vốn nhanh
Chỉ tiêu này cho biết bình quân một đồng tài sản cố định tham gia vào quátrình kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Doanh nghiệp cầnchú ý đến chỉ tiêu này để đánh giá mức độ cần thiết cho việc đầu tư vào tài sản cốđịnh có tạo ra doanh thu lớn hay không để có hướng nâng cấp hay mua sắm mới
Chỉ tiêu này còn được gọi là vòng quay tổng tài sản, cho biết một đồng tàisản đem lại bao nhiêu đồng doanh thu Nhìn vào chỉ tiêu này, các đối tượng quantâm có thể thấy tổng quát về năng lực hoạt động của doanh nghiệp từ đó hỗ trợ choviệc ra quyết định
Nhóm chỉ số về khả năng sinh lời: khi phân tích tài chính doanh nghiệp, việcđánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp là rất quan trọng Khả năng sinh lờicủa công ty quyết định đến việc sống còn của công ty và liên quan trực tiếp đến khả
Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu
Doanh thu bình quân
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định =
Doanh thu thuần Tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần
Tổng tài sản
Trang 40năng trả nợ của công ty Tuy nhiên, đánh giá khả năng sinh lời không chỉ căn cứtrên lợi nhuận sau thuế mà doanh nghiệp đạt được bởi nếu chỉ sử dụng chỉ tiêu này
mà bỏ qua các yếu tố khác như tổng tài sản dùng để đầu tư, mức lợi nhuận trên tổngdoanh thu thì con số doanh lợi cao chưa phản ánh được đầy đủ chất lượng của lợinhuận Do vậy cần đánh giá khả năng sinh lời thông qua một nhóm các chỉ số, đượcđánh giá là nhóm tỷ số trọng yếu trong phân tích tài chính doanh nghiệp, là nhữngchỉ tiêu tổng hợp nhất về tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính củadoanh nghiệp, bao gồm các tỷ số sau:
Chỉ tiêu này phản ánh trong một đồng doanh thu thu về có bao nhiêu đồnglợi nhuận sau thuế Tỷ số này càng lớn, chứng tỏ khả năng sinh lợi của vốn càng cao
và hiệu quả kinh doanh càng lớn Tuy nhiên tỷ số này lớn chỉ tốt khi việc tăng lợinhuận là do giảm chi phí sản xuất, nếu tỷ số này tăng lên là do doanh nghiệp tănggiábán tại giai đoạn phân tích thì sẽ không tốt vì trực tiếp gây ra nguy cơ sụt giảm lợinhuận trong tương lai
ROA cho biết mức sinh lợi trên một đồng vốn đầu tư, phản ánh một đồngđầu tư vào tài sản của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Tỷ sốROA cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào loại hình kinh doanh của doanh nghiệp.Chỉ tiêu này ổn định và có xu hướng tăng cho thấy tình hình kinh doanh của doanhnghiệp trong kỳ đánh giá càng tốt và ngược lại Tuy nhiên, khi đánh giá cần xem xét
so sánh với các kỳ trước đó và với mặt bằng chung của ngành
Hệ số sinh lời của tài sản (ROA) =
Tổng tài sản Lợi nhuận sau thuế
Hệ số sinh lời của vốn chủ sơ hữu (ROE) =
Vốn chủ sở hữu Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu = Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu