1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những thay đổi chủ yếu của luật các tổ chức tín dụng năm 2010

33 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 381 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khác với Luật Các TCTD năm 1997 “hoạt động ngânhàng” được hiểu phải bao gồm cả hoạt động huy động vốn, sử dụng vốn huy động để cấp tín dụng và làm dịch vụ thanh toán, Luật 2010 quy định

Trang 1

Những thay đổi chủ yếu của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010

Luật các tổ chức tín dụng 2010 đã được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2010 và sẽ có hiệulực thi hành từ ngày 01/01/2011 Để góp phần làm rõ hơn các quy định của Luật các tổchức tín dụng mới, bài viết dưới đây xin giới thiệu một số thay đổi chủ yếu của Luật các

tổ chức tín dụng 2010 (sau đây gọi tắt là Luật 2010) so với Luật Các tổ chức tín dụng

1997

1 Về phạm vị điều chỉnh

Điều 1 của Luật 2010 xác định rõ phạm vi điều chỉnh bao gồm việc thành lập, tổchức, hoạt động, kiểm soát dặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng (TCTD); thànhlập, tổ chức, hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện củaTCTD nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng

Thay đổi quan trọng của Luật 2010 là đã xác định lại phạm vi điều chỉnh trên cơ

sở thay đổi khái niệm “hoạt động ngân hàng” và sử dụng khái niệm này làm tiêu chí để

xác định thế nào là một TCTD Khác với Luật Các TCTD năm 1997 (“hoạt động ngânhàng” được hiểu phải bao gồm cả hoạt động huy động vốn, sử dụng vốn huy động để cấp

tín dụng và làm dịch vụ thanh toán), Luật 2010 quy định “hoạt động ngân hàng” là hoạt

động kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ: (i) nhận tiền gửi;(ii) cấp tín dụng; và (iii) cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản (khoản 12 Điều 4).Theo đó, tùy theo loại hình hoạt động, TCTD có thể thực hiện một hoặc một số hoặc cả

ba hoạt động ngân hàng nêu trên khi được NHNN cấp Giấy phép thành lập và hoat động

Khắc phục bất cập cơ bản của Luật Các tổ chức tín dụng 1997, phạm vi điềuchỉnh của Luật 2010 đã bỏ các quy định về "các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng".Điều này có nghĩa là, để được cấp phép hoạt động ngân hàng, các tổ chức phải đượcthành lập như là một TCTD Những tổ chức không phải là một TCTD đang có hoạt độngngân hàng đều phải được tổ chức lại dưới hình thức là một TCTD hoặc phải chấm dứthoạt động này

2 Về phân biệt các loại hình TCTD

2.1 Phân biệt ngân hàng và TCTD phi ngân hàng

Trong Luật các TCTD 2010, tiêu chí phân biệt giữa ngân hàng và các TCTD phingân hàng đã được quy định rõ hơn trên cơ sở phạm vi hoạt động của hai loại hình này

Theo đó, các TCTD phi ngân hàng không được phép nhận tiền gửi của cá nhân, không được cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng Quy định này phù

hợp hơn với thông lệ áp dụng tại hầu hết các nước và tạo điều kiện để một mặt giảm bớtrủi ro cho hệ thống TCTD, mặt khác cho phép các TCTD phi ngân hàng được mở rộngphạm vi cung ứng các dịch vụ ngân hàng khác của mình do các quy định về an toàn sẽđược áp dụng ở mức độ thấp hơn so với các ngân hàng thương mại là những tổ chức nhậntiền gửi của dân cư và tham gia vào hệ thống thanh toán

2.2 Phân biệt giữa TCTD hoạt động kinh doanh và TCTD hoạt động chính sách

Để bảo đảm các quy định của Luật áp dụng linh hoạt hơn đối với các ngân hàngchính sách (như Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Phát triển Việt Nam ), lànhững ngân hàng có nhiều điểm đặc thù khác hẳn với các ngân hàng thương mại thôngthường, Luật các TCTD 2010 quy định trao cho Chính phủ thẩm quyền hướng dẫn cụ thể

về tổ chức và hoạt động của những đối tượng này (Điều 17) Tuy nhiên, Điều 17 của Luật

Trang 2

cũng quy định ngân hàng chính sách phải thực hiện kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ;xây dựng, ban hành quy trình nội bộ về các hoạt động nghiệp vụ; thực hiện chế độ báocáo thống kê, báo cáo hoạt động và hoạt động thanh toán theo quy định của Ngân hàngNhà nước nhằm đảm bảo việc sử dụng vốn của nhà nước được minh bạch, công khai, antoàn Như vậy, về cơ bản các quy định của Luật sẽ chỉ áp dụng đối với các loại hình tổchức hoạt động trên cơ sở thị trường, không có sự hỗ trợ từ Chính phủ và các cơ quankhác Điều này cũng bảo đảm để các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành tiếp tục được

áp dụng đối với các ngân hàng chính sách

2.3 Về mô hình ngân hàng đầu tư, nghiệp vụ ngân hàng đầu tư và mô hình ngân hàng thương mại trong Luật

Hiện nay, ở Việt Nam chưa có mô hình ngân hàng đầu tư (investment bank) Vềbản chất, xét về phạm vi và nội dung hoạt động, ngân hàng đầu tư không phải là mộtTCTD, mà là một định chế tài chính thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán

Do đó, loại hình này sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật về chứng khoán Kế thừa các quyđịnh của Luật Các TCTD 1997 và bài học rút ra từ khủng hoảng tài chính toàn cầu, Luậtmới quy định mô hình ngân hàng thương mại ở Việt Nam là mô hình ”ngân hàng thươngmại đa năng hạn chế”, theo đó các NHTM được thực hiện các hoạt động ngân hàngtruyền thống (như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán) và tùytheo mức độ rủi ro thị trường của từng nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, các ngân hàngthương mại được phép trực tiếp (Điều 107) hoặc gián tiếp (thông qua công ty con, công

ty liên kết) thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng đầu tư (Điều 103)

2.4 Về hình thức pháp lý và loại hình hoạt động

Về hình thức pháp lý, Điều 6 Luật các TCTD 2010 quy định TCTD được tổ chức

theo các hình thức pháp lý của Luật Doanh nghiệp (hoặc Luật Hợp tác xã), cụ thể: Ngân

hàng thương mại trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần (trừ ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ); TCTD phi ngân hàng trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn; TCTD 100% vốn nước ngoài, TCTD liên doanh được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn; Ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân được thành lập, tổ chức dưới hình thức hợp tác xã; Tổ chức tài chính vi mô được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn Như vậy, các quy định về quản trị,

điều hành, kiểm soát được phân loại theo hình thức pháp lý của TCTD (công ty cổ phần,công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã)

Đối với hoạt động của TCTD, Luật các TCTD 2010 quy định phạm vi hoạt độngcủa từng TCTD phụ thuộc vào loại hình hoạt động của chính TCTD, như ngân hàngthương mại, ngân hàng hợp tác xã, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chứctài chính vi mô, quỹ tín dụng nhân dân

3 Về quản trị, điều hành

Thực tiễn quản lý hoạt động của các TCTD cho thấy, TCTD là những đối tượngcần được quản lý chặt chẽ, vì đây là những doanh nghiệp có các hoạt động ảnh hưởng lớnđến sự ổn định xã hội, kinh tế đất nước và là những tổ chức có được quyền lực rất lớntrong việc sử dụng, phân bổ nguồn vốn huy động từ xã hội Việc quản lý thiếu chặt chẽ,

Trang 3

sự lạm dụng quyền lực trong nội bộ của một TCTD thường là những nguyên nhân dẫnđến khủng hoảng, gây ra sự mất lòng tin trong dân cư và đe doạ sự mất ổn định của cả hệthống TCTD Do đó, một số các quy định về tổ chức quản lý đối với các TCTD thườngđược thiết kế chặt chẽ hơn so với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế Đây cũng làmột thông lệ chung được thừa nhận rộng rãi trên bình diện quốc tế So với Luật cácTCTD 1997, Luật các TCTD 2010 đã bổ sung nhiều quy định đặc thù liên quan đến quảntrị, điều hành của TCTD (60 điều so với 6 điều trong Luật các TCTD 1997) Các quyđịnh này chủ yếu là các quy định được luật hóa từ các quy định của Nghị định số59/2009/NĐ-CP, Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN và các văn bản quy phạm pháp luậtkhác do NHNN ban hành, có tham khảo “25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hànghiệu quả của Ủy ban Basel” nhằm bảo đảm hoạt động của TCTD được an toàn, hiệu quả.Những thay đổi chủ yếu về quản trị, điều hành của TCTD so với Luật các TCTD 1997bao gồm:

Thứ nhất, giảm bớt các thủ tục hành chính: Luật các TCTD 2010 bỏ quy định

chuẩn y sau các chức danh quản lý, điều hành, kiểm soát Thay vào đó, NHNN sẽ chấpthuận trước danh sách dự kiến bầu, bổ nhiệm các chức danh thành viên Hội đồng quảntrị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc Quy định này ngoài việc đáp ứng đượcyêu cầu về cải cách hành chính còn xóa được bất cập về khoảng trống pháp lý hiện naykhi các chức danh nói trên đã được Đại hội đồng cổ đông bầu nhưng chưa có hiệu lựcpháp lý vì chưa được NHNN chuẩn y Đồng thời Luật các TCTD 2010 cũng bỏ thủ tụcchuẩn y Điều lệ của TCTD (TCTD chỉ phải đăng ký Điều lệ với NHNN sau khi được cơquan có thẩm quyền của TCTD thông qua); giảm bớt các thay đổi cần phải chấp thuậntrước của NHNN so với quy định của Luật các TCTD 1997

Thứ hai, nâng cao yêu cầu đối với người quản lý, điều hành của TCTD: Luật

các TCTD 2010 bổ sung các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với người quản lý,người điều hành, thành viên Ban kiểm soát (Điều 50), các quy định về tiêu chuẩn đối vớithành viên độc lập của Hội đồng quản trị Theo đó, Hội đồng quản trị của TCTD là công

ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phải có ít nhất một thành viên độc lập Thànhviên độc lập của Hội đồng quản trị phải bảo đảm tính độc lập (không là nhân viên, ngườiquản lý, thành viên Ban kiểm soát, không nhận lợi ích khác, bản thân không sở hữu quá1% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết của TCTD, bản thân và người cóliên quan không sở hữu quá 5% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết củaTCTD, không có người liên quan tham gia quản trị, điều hành TCTD) Hội đồng quản trịcủa TCTD tối thiểu phải có ½ tổng số thành viên Hội đồng quản trị là thành viên độc lập

và thành viên không phải là người điều hành TCTD Đồng thời Luật 2010 bổ sung quyđịnh về các trường hợp không cùng đảm nhiệm chức vụ (Điều 34) nhằm tránh xung độtlợi ích, lạm dụng quyền ảnh hưởng của mình để ra những quyết định xung đột với lợi íchcủa tổ chức tín dụng Ngoài ra, Luật 2010 cũng bổ sung quy định cụ thể về quyền, nghĩa

vụ của người quản lý, điều hành TCTD, trách nhiệm công khai các lợi ích liên quan(Điều 38, 39)

Thứ ba, khẳng định chính sách đại chúng hóa các NHTM cổ phần: Luật các

TCTD 2010 thay đổi mức giới hạn sở hữu cổ phần (Điều 55) đối với cổ đông là cá nhân

từ 10% xuống 5%; cổ đông là pháp nhân từ 20% xuống 15% (trừ trường hợp sở hữu cổphần theo quyết định của Ngân hàng Nhà nước để xử lý tổ chức tín dụng gặp khó khăn,bảo đảm an toàn hệ thống tổ chức tín dụng; sở hữu cổ phần nhà nước tại các tổ chức tín

Trang 4

dụng cổ phần hóa; sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài) Cổ đông và những người

có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ của một tổchức tín dụng Các tỷ lệ sở hữu nêu trên bao gồm cả phần vốn uỷ thác cho các tổ chức, cánhân khác mua cổ phần Theo định hướng này, Nhà nước không cho phép thành lập ngânhàng thương mại tư nhân tại Việt Nam

Thứ tư, các quy định đặc thù về quản trị, điều hành được xây dựng theo hình thức pháp lý của TCTD Theo đó, Luật chỉ quy định các vấn đề đặc thù về quản trị điều

hành của TCTD Các nội dung khác về quản trị, điều hành không được quy định trongLuật sẽ được thực hiện theo quy định chung của Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã Vềkết cấu, các quy định về quản trị, điều hành của Luật 2010 được chia thành các quy địnhchung áp dụng chung cho tất cả các TCTD và các quy định riêng áp dụng cho TCTD theotừng hình thức pháp lý

Thứ năm, yêu cầu cao hơn đối với hoạt động kiểm toán độc lập: Các quy định

khác về kiểm toán nội bộ, kiểm soát nội bộ, kiểm toán độc lập cũng được quy định cụ thểtại Luật 2010, trong đó đáng chú ý là quy định về việc lựa chọn kiểm toán độc lập phảiđược thực hiện trước khi năm tài chính được kiểm toán bắt đầu vì theo thông lệ quốc tế

và yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán, tổ chức kiểm toán phải tham dự các cuộc họp củaHội đồng quản trị, Ban Kiểm soát để nắm bắt tình hình kinh doanh của TCTD suốt nămtài chính Ngoài ra, để bảo đảm đánh giá trung thực, chính xác tình hình hoạt động củaTCTD, Luật 2010 yêu cầu báo cáo kiểm toán không được có ý kiến ngoại trừ (qualifiedopinion); trường hợp có ý kiến ngoại trừ, TCTD phải thực hiện kiểm toán lại để đảm bảobáo cáo kiểm toán không có ý kiến ngoại trừ

4 Về phạm vi hoạt động kinh doanh của TCTD

Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện; những điều kiện đểđược hoạt động ngân hàng đều rất chặt chẽ, từ tổ chức bộ máy đến quản lý nội bộ, quảntrị rủi ro; những điều kiện này thông thường các tổ chức khác không phải là TCTD đềukhông đáp ứng được Các thay đổi căn bản về phạm vi hoạt động của TCTD của Luật

2010 bao gồm:

4.1 Về Giấy phép và phạm vi hoạt động kinh doanh: Luật 2010 quy định rõ mỗi

TCTD sẽ được cấp duy nhất một Giấy phép thành lập và hoạt động, trong đó xác định rõphạm vi hoạt động của từng TCTD trên cơ sở nhu cầu và khả năng đáp ứng các điều kiệncủa từng TCTD Trong quá trình hoạt động, TCTD có thể mở rộng hoặc thu hẹp phạm vihoạt động và sẽ được NHNN chấp thuận bằng Quyết định sửa đổi, bổ sung Giấy phép;Quyết định này sẽ là một bộ phận không tách rời của Giấy phép thành lập và hoạt động

Luật 2010 cũng đã quy định rõ phạm vi hoạt động kinh doanh của từng loại hình

tổ chức tín dụng và không chỉ giới hạn trong khuôn khổ các hoạt động ngân hàng mà cònbao gồm các hoạt động kinh doanh khác (Chương IV) Tuy nhiên, cần phân biệt giữa kháiniệm “hoạt động ngân hàng” là các hoạt động chỉ có thể được thực hiện bởi các TCTD vàkhái niệm “các hoạt động kinh doanh khác của các TCTD” là các hoạt động không chỉTCTD mà các tổ chức khác cũng có thể được thực hiện Theo cách tiếp cận này, cácnghiệp vụ tư vấn tài chính, môi giới tiền tệ, lưu ký chứng khoán, kinh doanh vàng lànhững nghiệp vụ mà TCTD được phép thực hiện nhưng không phải là “hoạt động ngânhàng” Để tăng quyền chủ động kinh doanh cho các TCTD, Luật đã có bước cải cách

Trang 5

quan trọng giảm đáng kể yêu cầu xin chấp thuận, xin giấy phép ”con” Theo đó ngânhàng thương mại (NHTM) có thể thực hiện ngay 20 nhóm hoạt động kinh doanh sau khiđược cấp Giấy phép thành lập và hoạt động; chỉ có 6 nhóm hoạt động kinh doanh cónhiều rủi ro thì NHTM phải xin phép để được hoạt động

4.2 Về cơ chế xác định phí, lãi suất của TCTD (Điều 91): TCTD và khách hàng

có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTDtheo quy định của pháp luật, trừ trường hợp cần thiết, để bảo đảm an toàn của hệ thốngTCTD, Ngân hàng Nhà nước có quyền quy định cơ chế xác định phí, lãi suất trong hoạtđộng kinh doanh của TCTD

4.3 Về yêu cầu ban hành quy định nội bộ (Điều 93): Luật các TCTD 2010 quy

định TCTD phải xây dựng và ban hành các quy định nội bộ đối với mọi hoạt động nghiệp

vụ của tổ chức tín dụng (bao gồm: Quy định về cấp tín dụng, quản lý tiền vay; Quy định

về phân loại tài sản có, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro; Quy định về đánh giá chấtlượng tài sản có và tuân thủ tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu; Quy định về quản lý thanh khoản;Quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và cơ chế kiểm toán nội bộ; Quy định về hệ thốngxếp hạng tín dụng nội bộ; Quy định về quản trị rủi ro trong hoạt động của tổ chức tíndụng; Quy định về quy trình, thủ tục để ngăn ngừa hành vi rửa tiền, tài trợ khủng bố vàtội phạm khác; Quy định về phương án xử lý các trường hợp khẩn cấp) nhằm bảo đảmTCTD hoạt động an toàn, liên tục Các quy định nội bộ của TCTD sau khi ban hành phảiđược gửi cho NHNN

4.4 Về góp vốn, mua cổ phần của NHTM (Điều 103): NHTM chỉ được dùng vốn

điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần vào các doanh nghiệp khác Để hoạt độngtrong các lĩnh vực chứng khoán (gồm bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứngkhoán; quản lý, phân phối chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán; quản lý danh mục đầu tưchứng khoán và mua, bán cổ phiếu), cho thuê tài chính và bảo hiểm, NHTM phải thànhlập công ty con, công ty liên kết Đối với các lĩnh vực quản lý tài sản bảo đảm, kiều hối,kinh doanh ngoại hối, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ

hỗ trợ thanh toán, NHTM có thể lựa chọn trực tiếp thực hiện các hoạt động này hoặc giántiếp thực hiện thông qua thành lập công ty con, công ty liên kết Tuy nhiên, việc góp vốn,mua cổ phần của NHTM phải tuân thủ các giới hạn quy định tại Điều 129 của Luật Việcmua, nắm giữ cổ phiếu của NHTM, công ty con của NHTM trong các TCTD khác đượcthực hiện theo quy định (về giới hạn và điều kiện) của NHNN

4.5 Về kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối, sản phẩm phái sinh của NHTM

(Điều 105): Sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận, NHTM được kinh doanh,cung ứng dịch vụ cho khách hàng ở trong nước và nước ngoài các sản phẩm ngoại hối;phái sinh về tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ và tài sản tài chính khác theo quy định củapháp luật về ngoại hối NHNN quy định cụ thể về phạm vi kinh doanh, điều kiện, trình

tự, thủ tục chấp thuận cho NHTM thực hiện cung ứng các dịch vụ này

Ngoài ra, các NHTM được trực tiếp thực hiện một số hoạt động kinh doanh khác(Điều 107) như quản lý tiền mặt, tư vấn tài chính, quản lý, bảo quản tài sản, cho thuê tủ,két an toàn, tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua, bán, hợp nhất, sáp nhập doanhnghiệp, tư vấn đầu tư, mua, bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, môi giớitiền tệ Đối với các nghiệp vụ như lưu ký chứng khoán, kinh doanh vàng và các hoạtđộng kinh doanh khác liên quan đến hoạt động ngân hàng, NHTM sẽ được thực hiện sau

Trang 6

khi được NHNN cho phép.

4.6 Về phạm vi hoạt động của công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính: Theo

quy định của Luật các TCTD 2010, công ty tài chính có thể thực hiện một (công ty tàichính chuyên doanh) hoặc một số các hoạt động ngân hàng (công ty tài chính tổng hợp)(Điều 108) tùy theo nhu cầu hoạt động của mình Luật giao quyền cho Chính phủ quyđịnh cụ thể về điều kiện (vốn, địa bàn hoạt động ) để công ty tài chính thực hiện cáchoạt động ngân hàng theo quy định (một hoạt động - công ty tài chính chuyên doanh hoặcmột số hoạt động - công ty tài chính tổng hợp) Công ty tài chính cũng được thực hiệnmột số hoạt động kinh doanh khác (Điều 111) và được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ đểgóp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp, quỹ đầu tư Công ty tài chính chỉ được thànhlập, mua lại công ty con, công ty liên kết hoạt động trong các lĩnh vực bảo hiểm, chứngkhoán, quản lý tài sản bảo đảm sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng vănbản Đặc biệt, như đã đề cập ở phần trên, Luật 2010 quy định các TCTD phi ngân hàng(công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính) chỉ được nhận tiền gửi của tổ chức vàkhông được cung cấp dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng

Đối với công ty cho thuê tài chính, Luật 2010 quy định rõ công ty cho thuê tàichính là loại hình công ty tài chính có hoạt động kinh doanh chủ yếu là hoạt động chothuê tài chính Ngoài ra, công ty cho thuê tài chính được cho vay bổ sung vốn lưu độngđối với bên thuê tài chính; cho thuê vận hành với tổng giá trị tài sản cho thuê vận hànhkhông vượt quá 30% tổng tài sản có của công ty cho thuê tài chính và được thực hiện cáchình thức cấp tín dụng khác sau khi NHNN cho phép Công ty cho thuê tài chính đượcthực hiện một số hoạt động kinh doanh khác theo quy định tại Điều 116 của Luật 2010nhưng không được góp vốn, mua cổ phần, thành lập công ty con, công ty liên kết dướibất cứ hình thức nào

5 Các quy định về bảo đảm an toàn trong hoạt động TCTD

Luật 2010 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm thực hiện nguyên tắc coi bảo đảm an toàn hệ thống trong hoạt động ngân hàng là một trong những mục tiêu hàng đầu

5.1 Các quy định về tăng cường quản lý, ngăn chặn sự lũng loạn

Luật 2010 bổ sung quy định chặt chẽ về điều kiện của cổ đông sáng lập, thànhviên sáng lập TCTD, điều kiện, tiêu chuẩn đối với người quản lý, điều hành, yêu cầucông khai lợi ích liên quan có liên quan đến TCTD, giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần nhằmbảo đảm điều kiện tài chính, năng lực quản trị, điều hành của cổ đông, thành viên sánglập, người quản lý, người điều hành TCTD, ngăn ngừa khả năng lũng đoạn hoạt độngngân hàng của các cá nhân tổ chức là cổ đông lớn và hạn chế xung đột lợi ích tiềm tàng.Đồng thời, Luật 2010 bổ sung quy định chặt chẽ về điều kiện khai trương hoạt động củaTCTD để bảo đảm TCTD khi khai trương hoạt động có đầy đủ các điều kiện về bộ máynhân sự, cơ sở vật chất, quy trình quản lý, kiểm soát nội bộ, kiểm soát rủi ro

5.2 Về trường hợp cấm, hạn chế cấp tín dụng

Luật 2010 (Điều 126) quy định cụ thể về những trường hợp không được cấp tíndụng Theo đó, TCTD không được cấp tín dụng hoặc nhận bảo đảm để cấp tín dụng hoặc

Trang 7

thực hiện việc bảo đảm để TCTD khác cấp tín dụng đối với:

(i) Thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, TổngGiám đốc, Phó Tổng Giám đốc của TCTD, pháp nhân là cổ đông có người đại diện phầnvốn góp là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát của TCTD cổ phần, pháp nhân làthành viên góp vốn, chủ sở hữu của TCTD;

(ii) Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên HĐQT Hội đồng quản trị, Hội đồngthành viên, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc của TCTD

Ngoài ra, Luật còn cấm TCTD không được cấp tín dụng cho doanh nghiệp hoạt

động trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán mà TCTD nắm quyền kiểm soát; khôngđược cấp tín dụng trên cơ sở cầm cố bằng cổ phiếu của chính TCTD hoặc công ty concủa TCTD; không được cho vay để góp vốn vào một TCTD khác trên cơ sở nhận tài sảnbảo đảm bằng cổ phiếu của chính TCTD nhận vốn góp

Để đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng của TCTD, chi nhánh ngân hàngnước ngoài và nhằm tránh xung đột lợi ích, Điều 127 Luật 2010 quy định về nhữngtrường hợp hạn chế cấp tín dụng Theo đó, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

không được cấp tín dụng không có bảo đảm, cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi đối với

tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nướcngoài; thanh tra viên đang thanh tra tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; kế toántrưởng của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; cổ đông lớn, cổ đông sáng lập, thànhviên góp vốn; doanh nghiệp có một trong những đối tượng bị cấm cấp tín dụng theo quyđịnh tại khoản 1 Điều 126 sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó; người thẩmđịnh, xét duyệt cấp tín dụng; công ty con, công ty liên kết của TCTD hoặc doanh nghiệp

mà TCTD nắm quyền kiểm soát

Luật cũng quy định các giới hạn về tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với các đốitượng nêu trên nhằm bảo đảm an toàn cho TCTD, tránh trường hợp TCTD bị ảnh hưởngkhi công ty con, công ty liên kết của TCTD hoặc doanh nghiệp mà TCTD nắm quyềnkiểm soát gặp rủi ro hoặc sự cố

5.3 Về giới hạn cấp tín dụng (Điều 128)

Về cơ bản, các giới hạn cấp tín dụng là các quy định kế thừa từ Luật các TCTDnăm 1997 Tuy nhiên, khái niệm cấp tín dụng đã được làm rõ hơn, bao gồm tất cả cácnghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng vàcác nghiệp vụ cấp tín dụng khác Ngoài ra, tổng mức giới hạn cấp tín dụng còn gồm cảtổng mức đầu tư vào trái phiếu do khách hàng là doanh nghiệp phát hành Đối với các chinhánh ngân hàng nước ngoài, các giới hạn cấp tín dụng sẽ được tính trên vốn tự có củachi nhánh ngân hàng nước ngoài

Một quy định mới khác so với Luật các TCTD năm 1997 là tổng mức dư nợ cấptín dụng đối với một khách hàng và tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một khách hàng

và người có liên quan áp dụng đối với tổ chức tín dụng phi ngân hàng được quy định caohơn so với các mức áp dụng đối với ngân hàng thương mại (các tỷ lệ tương ứng 25% và50% vốn tự có của tổ chức tín dụng phi ngân hàng so với 15% và 25% vốn tự có củangân hàng thương mại) Vấn đề này cũng đã được đề cập ở trên, quy định này phù hợpvới thông lệ quốc tế và thực tiễn hoạt động của các TCTD vì các TCTD phi ngân hàng

Trang 8

không nhận tiền gửi của cá nhân và cung cấp dịch vụ thanh toán qua tài khoản của kháchhàng nên mức độ rủi ro ảnh hưởng đến hệ thống TCTD thấp hơn nhiều so với các ngânhàng thương mại Ngoài ra, quy định này sẽ tạo điều kiện cho các TCTD phi ngân hàngphát triển và hoạt động hiệu quả hơn.

Luật cũng quy định mở đối với các trường hợp đặc biệt, để thực hiện nhiệm vụkinh tế - xã hội mà khả năng hợp vốn của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoàichưa đáp ứng được yêu cầu vay vốn của một khách hàng thì Thủ tướng Chính phủ có thểquyết định mức cấp tín dụng tối đa vượt quá các giới hạn quy định đối với từng trườnghợp cụ thể Tuy nhiên, tổng các khoản cấp tín dụng vượt giới hạn không vượt quá 04 lầnvốn tự có của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

5.4 Về giới hạn góp vốn, mua cổ phần (Điều 129)

Các giới hạn về góp vốn, mua cổ phần được quy định chặt chẽ hơn và thực tếđược xây dựng trên cơ sở các quy định của các văn bản dưới luật hiện hành (Quyết định457) Trong đó, tỷ lệ giới hạn góp vốn, mua cổ phần của các TCTD được tính trên cơ sởhợp nhất (bao gồm cả phần góp vốn, mua cổ phần của công ty con, công ty liên kết theo

tỷ lệ sở hữu tương ứng) Theo mức độ rủi ro đối với hệ thống, Luật 2010 quy định tỷ lệgiới hạn góp vốn, mua cổ phần của công ty tài chính cao hơn so với NHTM Đồng thờiLuật cũng có quy định cấm TCTD góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp, TCTDkhác là cổ đông, thành viên góp vốn của chính TCTD (cấm sở hữu chéo)

5.5 Về các tỷ lệ bảo đảm an toàn

Luật 2010 quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn mà TCTD phải duy trì, bao gồm:

tỷ lệ khả năng chi trả, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (8% hoặc cao hơn, theo Thông tư 13 là9%), tỷ lệ tối đa của vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn Các tỷ lệ bảo đảm an toàn mớiđược bổ sung gồm: trạng thái ngoại tệ, vàng tối đa so với vốn tự có; tỷ lệ dư nợ cho vay

so với tổng tiền gửi và các tỷ lệ tiền gửi trung, dài hạn so với tổng dư nợ cho vay trung,dài hạn NHNN sẽ quy định cụ thể các tỷ lệ bảo đảm an toàn nói trên đối với từng loạihình TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Ngoài ra, Luật 2010 còn bổ sung quy địnhNHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàngquốc gia phải nắm giữ số lượng tối thiểu giấy tờ có giá được phép cầm cố tại Ngân hàngNhà nước theo quy định của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ

Luật 2010 cũng quy định rõ tổng số vốn của một TCTD đầu tư vào TCTD khác,công ty con của TCTD dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần và các khoản đầu tư dướihình thức góp vốn, mua cổ phần nhằm nắm quyền kiểm soát các doanh nghiệp hoạt động

trong lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán phải trừ khỏi vốn tự có khi tính các tỷ

lệ an toàn

Luật còn trao quyền cho NHNN áp dụng các biện pháp cần thiết khi các TCTD,chi nhánh ngân hàng nước ngoài không duy trì được hoặc có khả năng không duy trìđược tỷ lệ bảo đảm an toàn theo quy định, bao gồm cả việc hạn chế phạm vi hoạt động,

xử lý tài sản của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhằm bảo đảm để TCTD, chinhánh ngân hàng nước ngoài đạt tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu

5.6 Về kinh doanh bất động sản

Theo Điều 132, TCTD không được kinh doanh bất động sản, trừ trường hợp

Trang 9

TCTD mua, đầu tư, sở hữu bất động sản để sử dụng làm trụ sở kinh doanh, địa điểm làmviệc hoặc cơ sở kho tàng phục vụ trực tiếp cho các hoạt động nghiệp vụ TCTD đượcphép cho thuê một phần trụ sở kinh doanh chưa sử dụng hết thuộc sở hữu của TCTD.Trường hợp TCTD nắm giữ bất động sản do việc xử lý nợ vay thì trong thời hạn 03 năm

kể từ ngày quyết định xử lý tài sản bảo đảm là bất động sản, TCTD phải bán, chuyểnnhượng hoặc mua lại bất động sản này để đảm bảo thực hiện đúng tỷ lệ đầu tư vào tài sản

cố định và mục đích sử dụng tài sản cố định

5.7 Về nhóm công ty mẹ - công ty con

Luật 2010 bổ sung quy định về quyền và trách nhiệm của công ty kiểm soát(những công ty mà theo định nghĩa quy định tại Luật các TCTD 2010, nắm giữ, sở hữutrực tiếp hoặc gián tiếp trên 20% vốn điều lệ của một NHTM) nhằm hạn chế các quan hệtín dụng, hùn vốn, góp vốn chéo (góp vốn, mua cổ phần lẫn nhau) giữa TCTD với cáccông ty có quan hệ về vốn liếng, tránh rủi ro cho các NHTM do sự can thiệp quá mức củacác công ty kiểm soát Để đạt được mục đích này, Luật đưa ra các quy định buộc phảiminh bạch hoá các quan hệ giữa công ty kiểm soát với các NHTM, giữa NHTM với cáccông ty con của mình; quy định không cho phép NHTM và các công ty con, liên kết củacùng một công ty kiểm soát được sở hữu chéo cổ phần; công ty con, công ty liên kết củacùng một TCTD không được góp vốn, mua cổ phần của TCTD; TCTD là công ty con,công ty liên kết của công ty kiểm soát không được góp vốn, mua cổ phần của công tykiểm soát Ngoài ra, Điều 141 cũng có quy định yêu cầu các công ty con, công ty liên kếtcủa TCTD phải gửi báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động của mình cho NHNN khi đượcyêu cầu

5.8 Về kiểm soát đặc biệt

Để chủ động xử lý các TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năngthanh toán, bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD, trên cơ sở kế thừa các quy địnhpháp luật hiện hành, các nội dung về kiểm soát đặc biệt đã được quy định đầy đủ, chi tiếthơn và tăng thẩm quyền cho NHNN áp dụng các biện pháp cần thiết khi TCTD được đặttrong tình trạng kiểm soát đặc biệt Ngoài các trường hợp kế thừa từ Luật các TCTD năm

1997, Luật 2010 bổ sung thêm hai trường hợp mà NHNN sẽ xem xét, đặt TCTD vàokiểm soát đặc biệt là: (i) TCTD hai năm liên tục bị xếp loại yếu kém theo quy định củaNHNN; (ii) khi TCTD không duy trì được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định trongthời hạn một năm liên tục hoặc tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu thấp hơn 4% trong thời hạn 06tháng liên tục

Ngoài ra, nhằm tạo điều kiện để NHNN có thể chủ động can thiệp sớm hơn khiphát hiện thấy những yếu kém cơ bản của một TCTD với mục đích giảm bớt khả năng rủi

ro cho hệ thống do không có sự can thiệp kịp thời của cơ quan quản lý, Luật các TCTD

2010 quy định NHNN có quyền yêu cầu chủ sở hữu tăng vốn, bắt buộc sáp nhập, hợpnhất, mua lại; trực tiếp hoặc chỉ định TCTD khác góp vốn, mua cổ phần của TCTD đượckiểm soát đặc biệt trong trường hợp TCTD được kiểm soát đặc biệt không có khả năngthực hiện yêu cầu tăng vốn của NHNN hoặc khi NHNN xác định số lỗ lũy kế của TCTD

đã vượt quá giá trị vốn điều lệ và các quỹ dự trữ của TCTD được kiểm soát đặc biệt

5.9 Về giải thể, thanh lý

Để tạo điều kiện cho việc xử lý phá sản một TCTD có thể được thực hiện nhanh

Trang 10

chóng, hạn chế tác động đến hệ thống TCTD, Luật các TCTD 2010 quy định: khi xử lýphá sản TCTD, Toà án có thể áp dụng ngay thủ tục thanh lý tài sản sau khi NHNN đã cóvăn bản chấm dứt áp dụng kiểm soát đặc biệt hoặc chấm dứt áp dụng, không áp dụng cácbiện pháp phục hồi, mà TCTD vẫn lâm vào tình trạng phá sản Như vậy, quá trình phụchồi theo trình tự phá sản các doanh nghiệp thông thường không cần phải áp dụng đối vớicác TCTD đã được NHNN kiểm soát đặc biệt (thực chất là để phục hồi) nhưng đã xácđịnh không còn khả năng thanh toán./.

Đoàn Thái Sơn -PC

Luật Ngân hàng (sửa đổi) và Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi)

Luật Ngân hàng sửa đổi và Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi hy vọng sẽ mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và người dân

Hai luật ngân hàng và Luật Các tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2011

Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sửa đổi) có những nội dung được chỉnh sửa bao gồm về chính sách tiền tệ quốc gia và thẩm quyền quyết định chính sách tiền tệ quốc gia;

về việc Ngân hàng Nhà nước góp vốn thành lập doanh nghiệp đặc thù; về lãi suất; về tiền gửi Kho bạc Nhà nước…

Luật các Tổ chức tín dụng (sửa đổi) cũng có những điều chỉnh như thay đổi về giới hạn

sở hữu cổ phần quy định tại các ngân hàng; về phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng; về vấn đề mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài; các vấn đề liên quan đến quản trị điều hành các ngân hàng thương mại; phạm vi hoạt động được phép của tổ chức tín dụng phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng; hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại; về việc cấm ngân hàng thương mại mua, nắmgiữ cổ phiếu của tổ chức tín dụng khác; về các hạn chế bảo đảm an toàn…

Nói và làm: 'Chợ' ngân hàng - đạo đức

và kỷ luật kinh doanh

Trang 11

TIN LIÊN QUAN

 Lập lại trật tự sau cuộc chiến ngân hàng

 Lời 'sấm' cho các ngân hàng thương mại

 Vướng lãi suất, ngân hàng, doanh nghiệp đều kêu lỗ

 Nói và làm: Không dễ 'xử' ngân hàng

TRONG MỤC NÀY (Đọc thêm)

 Nói và làm: Hạ lãi suất, mong đừng chậm nữa

 Nói và làm: Đầu tư phong trào, chết theo dây chuyền

 Nói và làm: Tạo niềm tin để dân bỏ vốn làm ăn

 Nói và làm: Khi lãi suất không thèm chấp lạm phát

vì đạo đức kinh doanh đang bị xuống cấp nghiêm trọng Vi phạm phổ biến, nhưng chỉ

xử lý những trường hợp "không may bị lộ".

Cuối cùng, Ngân hàng Nhà nước đã chính thức thừa nhận hầu hết các ngân hàng đều có vi phạm trần lãi suất huy động Còn nhìn vào thực tế này, cả những người ngoài cuộc lẫn người trong ngành đều thừa nhận, kinh doanh ngân hàng thời gian qua như một cái "chợ"

Và trong cái "chợ" đó mọi kỷ luật kinh doanh đều có thế dễ dàng bị bỏ qua và ngang nhiên vi phạm Cũng trong cái chợ đó đạo đức kinh doanh của các ngân hàng cũng cho thấy một bản chất đáng buồn và sẵn sàng được đánh đổi bởi những đồng lợi nhuận.

Tuần qua, Ngân hàng Nhà nước đã liên tiếp có những động thái quyết liệt chưa từng có để lập lại trật tự kinh doanh trong ngành ngân hàng Đó là những yêu cầu về việc thực hiện ngiêm chỉ tiêu tín dụng tăng không quá 20% và đặc biệt là chỉ thị về việc thực hiện đúng trần lãi suất huy động 14%.

Thực ra, những yêu cầu này không hề mới, chỉ tiêu tăng tín dụng 20% và trần lãi suất huy động 14% đề ra từ đầu năm và nay vẫn tiếp tục được yêu cầu thực hiện đúng Tuy nhiên,

Trang 12

điểm mới và gây chấn động nhất đối với các ngân hàng chính là các biện pháp kỷ luật được công bố rõ ràng và được chính người đứng đầu ngân hàng tuyên bố thẳng trước các ngân hàng thương mại là sẽ làm thật, làm nghiêm dưới sự giám sát của 3 bên: cơ quan quản lý, các ngân hàng tự giám sát, người dân và thị trường.

Sau động thái này, nhất loạt các ngân hàng đều đồng thuận giảm lãi suất, chỉ một ngày sau thông báo của Ngân hàng Nhà nước, hầu hết các ngân hàng đã có những văn bản chỉ đạo trong toàn hệ thống về việc chấp hành đúng quy định về trần lãi suất huy động Đi kèm đó là các yêu cầu thực hiện nghiêm và biện pháp giám sát và xử lý việc chấp hành quy định lãi suất của riêng mình mạnh và cụ thể hơn yêu cầu của cơ quan quản lý.

Nhân dịp này, các ngân hàng đều "tung" ra ngoài để cho thấy việc nghiêm túc của mình để thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý Tất cả tạo nên một "làn sóng" như để thấy được

nỗ lực, đóng góp và cả hy sinh lợi ích vì mục tiêu chung cho ổn định thị trường và phát triển kinh tế Trong những thông báo, những tuyên bố và trả lời báo chí, ngân hàng nào cũng tốt

và sẵn sàng đi đầu, vượt khó để chia sẻ với DN, với thị trường và nền kinh tế.

Tuy nhiên, nhìn lại chặng đường vất vả gần một năm thực hiện Nghị quyết 11 về chống lạm phát và ổn định vĩ mô thì thấy có nhiều điều không hẳn như đã thấy và đã nói.

Các chỉ tiêu về tăng trưởng tín dụng và trần lãi suất là một phần cực kỳ quan trọng để đáp ứng yêu cầu về chống lạm phát và ổn định vĩ mô Các chỉ tiêu này được ghi rõ trong các nghị quyết điều hành của chính phủ, của Ngân hàng Nhà nước và thậm chí đã được luật hóa Đi cùng đó là những yêu cầu về thực hiện và cảnh báo xử lý nếu vi phạm.

Tuy nhiên, điều này đã không được thực hiện một cách đầy đủ và nghiêm túc Kỷ luật và cao hơn là pháp luật kinh doanh đã bị phá vỡ và lạ thay, tất cả các ngân hàng đều cùng nhau vi phạm, cùng nhau báo cáo dối và coi đó như "chuyện thường ngày ở huyện" và không lo sợ kỷ luật đã đề ra

Trang 13

Với "cây gậy" mới của Ngân hàng Nhà nước, liệu trật tự thị trường ngân

hàng có thực sự được lặp lại? Ảnh minh hoạ: VnEconomy

Chính ngân hàng Nhà nước thừa nhận, hầu hết các ngân hàng đều huy động vượt trần Còn trước đó, thì có ít nhất khoảng gần một chục ngân hàng không đảm bảo chỉ tiêu tín dụng phi sản xuất theo yêu cầu Nhưng tất cả cũng coi đó là chuyện thường Trên thực tế, không ai

bị xử lý nên các ngân hàng càng nhờn, các ngang nhiên vi phạm Vì lợi nhuận cao nhất họ sẵn sàng bỏ qua và thách thức các quy định.

Nhìn lại thời gian qua, các ngân hàng đã thường xuyên không tuân thủ và đáp ứng các quy định, từ chuyện lớn như: tăng vốn điều lệ, tuân thủ tăng trưởng chi tiêu tín dụng đến chuyện nhỏ hơn là cho vay bất động sản chứng khoán cao, thu lệ phí ngoài quy đinh, cho vay sai đối tượng tín dụng ưu đãi Xảy ra nhiều nhưng xử lý chỉ là "ai không may bị lộ", còn lại đều

có lý do để khách quan, thậm chí là không tìm thấy chứng cứ để xử lý Kỷ luật và pháp luật kinh doanh bị phá vỡ và coi thường.

Không chỉ là vấn đề chấp hành pháp luật trong kinh doanh và sâu hơn, nhìn vào thực trạng này, lãnh đạo cơ quan giám sát tài chính đã nhiều lần ngao ngán cho biết "chợ đen" đang xâm lấn và hình thành ngay trong lòng ngân hàng Đó là một điều đáng sợ vì đạo đức kinh doanh đang bị xuống cấp nghiêm trọng Vị lãnh đạo này cho rằng, bên cạnh pháp luật, đạo đức kinh doanh là yếu tố vô cùng quan quan trọng.

Nước Mỹ với một thị trường tài chính lâu năm, hệ thống quản lý dày đặc và tình vi nhưng vẫn để xảy ra khủng hoảng mà nguyên nhân sâu xa nhất chính là do rủi ro đạo đức Chính

vì lợi nhuận mà người ta đã sẵn sánh đánh giá tốt cho các khoản nợ để tạo điều kiện chứng

Trang 14

khoán hóa và đẩy nó ra thị trường chứng khoán Từ đó, tạo ra những nguy cơ dẫn đến sự sụp đổ hàng loạt các định chế tài chính gây ra khủng hoảng.

Thực tế, dù ở đâu, có nhiều cơ chế kiểm soát nhưng cuối cùng vẫn phụ thuộc vào còn người Dưới góc độ này, đạo đức kinh doanh chính là điểm quyết định và cốt lõi Thực tế ở Việt Nam có thể thấy, những chuyện ngân hàng sẵn sàng vì lợi nhuận, bất chấp mọi quy định và lợi ích chung để làm điều mình muốn.

Có thể thấy, khi thị trường có nhu cầu cao, họ sẵn sàng bán USD với giá cao hơn quy định

để "ăn chặn" của DN, từ đó khiến cho cả thị trường ngoại tệ náo động và tăng lên, gây sức

ép cho quản lý ngoại hối; sẵn sàng huy động vượt trần để hút vốn, bấp chấp những hậu quả gây ra cho sự ổn định của tiền tệ và gây ra khó khăn cho cộng đồng DN khi cho vay với lãi suất quá cao Thậm chí, để lách luật và kiếm thêm lợi họ sẵn sàng bày ra đủ thứ phí ngoài quy định để kiếm lời Họ vận dụng nhiều thủ thuật cao cấp trong kinh doanh tài chính để dồn

ép doanh nghiệp, lách luật đối phó với cơ quan nhà nước để cuối cùng vui mừng công bố những mức lợi nhuận ngàn tỷ, cổ phiếu cao giá mà quên đi những hệ lụy để lại cho thị trường tiền tệ, các DN và cả nền kinh tế.

Nói về thực tế thời gian qua, lãnh đạo một ngân hàng quốc doanh lớn đã thừa nhận thực tế

"như cái chợ vỡ" không tuân theo một tiêu chí nào cả của các ngân hàng Ông này hy vọng, những biện pháp mạnh mẽ đánh vào quyền lợi trực tiếp của các ngân hàng, cá nhân người điều hành thì sẽ lập lại được trật tự Ai cũng sợ và ai cũng lo cho mình mà không dám làm sai nữa.

Dưới góc độ nào đó, có thể thấy những biện pháp mới đã có hiệu quả khi khiến các ngân hàng phải sợ mà theo Nhưng nhìn rộng hơn, ngân hàng là một trong những cộng đồng kinh doanh đòi hỏi sự nhiều tiêu chuẩn cao, giám sát chặt cả về pháp lý và đạo đức Vì thế, người ta gọi ngân hàng là một hệ thống quan trọng của nền kinh tế.

Nhưng tiếc thay, hệ thống đó đã bị phá vỡ nhiều mảng khi các ngân hàng không tôn trọng kỷ luật và xuống cấp về đạo đức như những biểu hiện của thời gian qua Hy vọng, những biện pháp mới này chỉ là sự khởi đầu cho quá trình kiên trì và quyết liệt để lập lại kỷ luật và nâng cấp đạo đức kinh doanh trong lĩnh vực này Đó có thể hy vọng là một quá trình cải cách và đổi mới cho hệ thống ngân hàng?

Trang 15

Trong 20 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng Việt Nam có sự đóng góp không nhỏvào sự phát triển kinh tế đất nước Bài biết dưới đây phân tích vài trò của ngânhàng Việt Nam trong giai đoạn đất nước đổi mới.

1 Những đóng góp quan trọng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế và quá trình đổi mới ở Việt Nam trong 20 năm qua

Đại hội Đảng lần thứ VI và những văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở đường cho công cuộc đổi mới đất nước theo hướng chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong 20 năm qua, công cuộc đổi mới nền kinh tế đã đạt được nhiều thành công, các chỉ số kinh tế cơ bản như GDP, xuất nhập khẩu, đầu tư, thu chi ngân sách nhà nước đều đạt cao và bền vững, tệ nạn xã hội được đẩy lùi, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt

Có được kết quả trên, ngoài sự đóng góp chung của cả nước, phải kể đến những nỗ lực của các ngành, các cấp, trong đó có ngành ngân hàng.Trong từng thời kỳ, đổi mới hoạt động ngân hàng được coi là đột phá khẩu và có những đóng góp tích cực cho quá trình đổi mới và phát triển kinh tế Việt Nam, thể hiện

ở những nội dung chính sau:

Thứ nhất, đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, từng bước duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền và tỉ giá, góp phần cải thiện kinh tế vĩ

mô, môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh;

Thứ hai, góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và hoạt động xuất nhập khẩu Đây là kết quả tác động nhiều mặt của đổi mới hoạt động ngân hàng, nhất là những cố gắng của ngành ngân hàng trong việc huy động các nguồn vốn trong nước cho đầu tư phát triển, trong việc đổi mới chính sách cho vay và cơ cấu tín dụng theo hướng căn cứ chủ yếu vào tính khả thi và hiệu quả của từng dự án, từng lĩnh vực ngành nghề để quyết định cho vay Dịch

vụ ngân hàng cũng phát triển cả về chất lượng và chủng loại, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh;

Thứ ba, tín dụng ngân hàng đã đóng góp tích cực cho việc duy trì sự tăng

trưởng kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên tục Với dư nợ cho vay nền kinh tế chiếm khoảng 35-37% GDP, mỗi năm hệ thống ngân hàng đóng góp trên 10% tổng mức tăng trưởng kinh tế của cả nước;

Thứ tư, đã hỗ trợ có hiệu quả trong việc tạo việc làm mới và thu hút lao động, góp phần cải thiện thu nhập và giảm nghèo bền vững Thông qua nguồn vốn tín dụng cho các chương trình và dự án phát triển sản xuất kinh doanh, hàng năm

hệ thống ngân hàng đã góp phần tạo thêm được nhiều việc làm mới, nhất là tại các vùng nông thôn Việc sử dụng nguồn vốn ngân hàng cho mục đích này ngày càng có tính chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả, nhất là từ khi tín dụng chínhsách được tách bạch với tín dụng thương mại và giao cho Ngân hàng Chính sách xã hội đảm nhiệm;

Trang 16

Thứ năm, góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo pháttriển bền vững Đóng góp này được thể hiện qua công tác thẩm định dự án, quyết định cho vay vốn ngân hàng cho các dự án và giám sát thực hiện một cách chặt chẽ sau khi cho vay, các TCTD luôn chú trọng yêu cầu các khách hàng đảm bảo an toàn và hiệu quả trong việc sử dụng vốn vay, tuân thủ các camkết quốc tế và các qui định về bảo vệ môi trường

2 Một số thành tựu trong xây dựng và phát triển của ngành ngân hàng trong 20 năm đổi mới

Sau 20 năm thực hiện đổi mới, bên cạnh những cố gắng hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ được giao để có đóng góp nhiều nhất cho sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong quá trình xây dựng và trưởng thành, cụ thể là:

- Đã hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp, nhờ đó đã thiết lập được một mạnglưới cung cấp dịch vụ ngân hàng phong phú, phục vụ mọi thành phần kinh tế Tính đến cuối năm 2005, hệ thống các TCTD Việt Nam bao gồm 5 NHTMNN, 1 Ngân hàng Chính sách xã hội, 25 NHTMCP đô thị, 11 NHTMCP nông thôn, 27 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 4 ngân hàng liên doanh, 44 văn phòng đại diện TCTD nước ngoài tại Việt Nam, 6 công ty tài chính, 9 công ty cho thuê tài chính, gần 900 quĩ tín dụng nhân dân

- Đáng chú ý, hai Luật ngân hàng có hiệu lực từ cuối năm 1998 là bước tiến mới

về củng cố, hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động ngân hàng Năng lực xây dựng và điều hành, quản lý tiền tệ – tín dụng – ngân hàng của NHNN đã được nâng lên một tầm cao mới, thực hiện tốt chính sách tiền tệ quốc gia và hoạt động

có hiệu quả;

- Các chỉ số về tiền tệ – ngân hàng đã được cải thiện đáng kể: Tổng phương tiệnthanh toán so với GDP tăng từ 26,5% năm 1991 lên 75,2% năm 2004; tỉ lệ tiền gửi so với GDP tăng từ 18,1% năm 1991 lên 60,3% năm 2004; tỉ lệ thanh toán bằng tiền mặt so với tổng phương tiện thanh toán giảm từ 31,6% năm 1991 xuống 20,6% năm 2004 và khoảng 18% năm 2005, v.v;

- Chính sách lãi suất đang từng bước được đổi mới, phù hợp với cơ chế thị trường Trên cơ sở lãi suất cơ bản do NHNN công bố, các TCTD chủ động ấn định lãi suất huy động và cho vay theo hướng đảm bảo các qui định an toàn và hiệu quả trong kinh doanh ngân hàng;

- Chính sách quản lý ngoại hối từng bước được tự do hóa; xóa bỏ nhiều loại giấyphép theo hướng phù hợp dần với thông lệ quốc tế và yêu cầu hội nhập quốc tế;bước đầu đã đáp ứng được yêu cầu của cải cách hành chính, của Luật Doanh nghiệp trong việc phân định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của doanh nghiệp; tạo ra

sự thông thoáng hơn cho hoạt động kinh tế đối ngoại Việc thực hiện chính sách quản lý ngoại hối đã được tiến hành theo hướng đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền quản lý để nâng cao tinh thần trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của các địa

Ngày đăng: 08/12/2019, 21:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w