1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại trong BLTTHS năm 2015

13 135 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 41,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù vẫn còn hạn chế trong quy định về người được bảo vệ như đã phân tích trên, nhưng các quy định tại Chương XXXIV BLTTHS năm 2015 về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại, người tham gia tố tụng khác đã tạo khung pháp lý cơ bản để có thể triển khai trên thực tiễn các biện pháp bảo vệ cho các đối tượng có nguy cơ bị xâm hại. Các quy định này không chỉ góp phần bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự mà còn có vai trò thúc đẩy sự tham gia tích cực, chủ động của mọi người vào quá trình phát hiện và xử lý tội phạm. Trên đây là toàn bộ nội dung bài tập học kỳ của em, do khả năng, hiểu biết còn hạn chế nên bài làm không thể không mắc những sai sót. Rất mong nhận được những góp ý từ phía thầy (cô). Em xin cảm ơn

Trang 1

MỞ ĐẦU

Lần đầu tiên, trong Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2015, người tố giác tội phạm được quy định là người tham gia tố tụng và có quyền yêu cầu được bảo vệ Ngoài ra, người được bảo vệ còn bao gồm người làm chứng, bị hại, người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại Và để tìm hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật TTHS hiện hành về bảo vệ những chủ

thể này, em xin được lựa chọn đề tài số 12: “Quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại trong BLTTHS năm 2015” làm nội dung

cho bài tập học kỳ của mình

Trang 2

NỘI DUNG

1 Khái quát về người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại trong TTHS.

1.1 Người tố giác tội phạm

Người tố giác tội phạm là người đã phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết.1

BLTTHS năm 2015 không có định nghĩa về người tố giác mà chỉ quy định

về các quyền và nghĩa vụ của người tố giác cùng với người báo tin tội phạm, kiến nghị khởi tố tại điều 56 của Bộ luật này Theo đó, người tố giác tội phạm có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

+ Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giữ bí mật việc tố giác, báo tin về tội phạm, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ, người thân thích của họ khi bị đe dọa; + Được thông báo kết quả giải quyết tố giác tội phạm;

+ Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác;

+ Người tố giác tội phạm phải có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm, trình bày trung thực về những tình tiết

mà mình biết về sự việc

1.2 Người làm chứng

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 66 BLTTHS năm 2015 thì:

“Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.”

Trong TTHS người làm chứng có vai trò quan trọng bởi họ là những người biết các tình tiết có liên quan đến vụ án nhưng bởi vì họ không phải là người có quyền và lợi ích pháp lý liên quan đến vụ án nên lời khai của họ thường trung thực, khách quan, có ý nghĩa trong việc xác định sự thật của vụ án

1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Tô tụng Hình sự Việt Nam, Nxb Công an Nhân dân,

Hà Nội, 2018, tr.159 – 160.

Trang 3

Người làm chứng có thể trực tiếp biết các tính tiết có liên quan đến vụ án,

họ cũng có thể gián tiếp biết các tình tiết đó qua người khác Họ cũng tham gia

tố tụng để khai bảo những gì họ biết về vụ án nên họ phải trực tiếp tham gia tố tụng không thể thông qua người đại diện 2

BLTTHS năm 2015 cũng quy định về những trường hợp không được làm

chứng tại Khoản 2 Điều 66 bao gồm các trường hợp sau::

+ Người bào chữa của người bị buộc tội;

+ Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn

1.3 Bị hại

Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là

cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra

Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài dản hoa hành vi phạm tội gây ra hoặc đe dọa gây ra Thể chất, tinh thần, tài sản của họ phải là đối tượng của tội phạm Bị hại cũng có thể là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại

về tài sản, uy tín do hành vi phạm tội gây ra hoặc đe dọa gây ra; tài sản và uy tín của cơ quan, tổ chức đó phải là đối tượng của tội phạm

Xét về mặt hình thức, người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc

cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do hành vi phạm tội gây ra hoặc đe dọa gây ra chỉ trở thành người bị hại trong TTHS khi họ dược cơ quan có thẩm quyền công nhận là bị hại (thông qua giấy triệu tập bị hại) Trong các trường hợp hành vi phạm tội không bị phát hiện và xử lý hoặc trường hợp không xác định được người bị thiệt hại mặc dù trên thực tế có thiệt hại về vật chất, tài sản, tinh thần do hành vi phạm tội gây ra thì người đó cũng không trờ thành bị hại trong

vụ án hình sự.3

2 Quy định của BLTTHS năm 2015 về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại trong TTHS.

2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Tô tụng Hình sự Việt Nam, Nxb Công an Nhân dân,

Hà Nội, 2018, tr.161.

3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Tô tụng Hình sự Việt Nam, Nxb Công an Nhân dân,

Hà Nội, 2018, tr.148-149.

Trang 4

2.1 Chủ thể được bảo vệ.

Khoản 1 Điều 484 BLTTHS năm 2015 quy định chủ thể được bảo vệ trong

tố tụng hình sự tránh nguy cơ bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe danh dự, nhân phẩm, tài sản, lợi ích hợp pháp khác bao gồm:

+ Người tố giác tội phạm;

+ Người làm chứng;

+ Bị hại;

+ Người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại Lần đầu tiên, người tố giác tội phạm được quy định là người tham gia tố tụng và họ có quyền yêu cầu được bảo vệ (Điều 56) Bên cạnh người tố giác tội phạm, người được bảo vệ còn bao gồm người làm chứng, bị hại, người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại Như vậy, BLTTHS năm 2015 đã mở rộng diện chủ thể được bảo vệ và quy định có tính hệ thống hơn trước đây, không chỉ bảo vệ người làm chứng và người thân thích của người làm chứng

Những người được bảo vệ theo quy định của BLTTHS năm 2015 không chỉ

có quyền yêu cầu, đề nghị được bảo vệ như BLTTHS năm 2003 mà còn được ghi nhận thêm các quyền tố tụng khác được quy định ở khoản 2 Điều 484:

+ Đề nghị được bảo vệ;

+ Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ;

+ Được biết về việc áp dụng biện pháp bảo vệ;

+ Đề nghị thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ;

+ Được bồi thường thiệt hại, khôi phục danh dự, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp trong thời gian bảo vệ

+ Người được bảo vệ có quyền đề nghị, yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo

vệ bằng văn bản hoặc trình bày trực tiếp hoặc thông qua phương tiện thông tin liên lạc nhưng sau đó vẫn phải thể hiện yêu cầu, đề nghị bằng văn bản4

Các quy định này tạo điều kiện cho người được bảo vệ có thể đưa ra yêu cầu, đề nghị đến cơ quan có thẩm quyền nhanh chóng, khẩn trương đồng thời lựa chọn được biện pháp bảo vệ phù hợp với mình nhất

Cùng với quyền yêu cầu, đề nghị được bảo vệ thì khoản 3 Điều 487 BLTTHS năm 2015 quy định về nghĩa vụ của những người được bảo vệ:

4 Xem khoản 1, 2 Điều 487 BLTTHS năm 2015.

Trang 5

+ Chấp hành nghiêm chỉnh các yêu cầu của cơ quan bảo vệ liên quan đến việc bảo vệ;

+Giữ bí mật thông tin bảo vệ;

+ Thông báo kịp thời đến cơ quan có trách nhiệm bảo vệ về những vấn đề nghi vấn trong thời gian được bảo vệ

Quy định về các nghĩa vụ này bảo đảm sự phối hợp giữa người được bảo vệ

và cơ quan có trách nhiệm bảo vệ nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ tốt nhất

2.2 Người có quyền yêu cầu, đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ

Chủ thể được yêu cầu bảo vệ là những người có tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm có thể bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại do việc cung cấp chứng cứ, tài liệu, thông tin liên quan đến tội phạm như: Người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại, người chứng kiến, người phiên dịch, người dịch thuật

Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân các cấp nếu xét thấy cần áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ Trong trường hợp vụ việc, vụ

án hình sự do Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự Trung ương thụ lý, giải quyết, điều tra nếu xét thấy cần áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ thì báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Trung ương Viện trưởng có văn bản đề nghị với Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra hình sự, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ 5

2.3 Thẩm quyền, thủ tục quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ

Mặc dù, người được bảo vệ có thể đưa ra yêu cầu, đề nghị tại bất cứ thời điểm nào của quá trình giải quyết vụ án hình sự khi thấy cần thiết, nhưng thẩm quyền ra quyết định áp dụng các biện pháp bảo vệ được tập trung cho Cơ quan điều tra của Công an nhân dân và Quân đội nhân dân tùy thuộc vụ án được thụ

5 Xem khoản 3 Điều 485 BLTTHS năm 2015;

Trang 6

lý, giải quyết tại cơ quan điều tra nào Thẩm quyền cụ thể thuộc về Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra6

BLTTHS năm 2015 tập trung thẩm quyền cho cơ quan điều tra vì đây là cơ quan có đủ khả năng chuyên môn, nghiệp vụ để kiểm tra căn cứ, đánh giá tính xác thực của đề nghị, yêu cầu bảo vệ Ngoài ra, đây cũng chính là cơ quan sẽ quyết định biện pháp bảo vệ cũng như phương án bảo vệ cụ thể hoặc thay đổi các biện pháp bảo vệ trong quá trình bảo vệ

Về thủ tục, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ Quyết định gồm các nội dung chính: Số, ngày, tháng, năm; địa điểm ra quyết định; chức vụ của người ra quyết định; căn cứ ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được bảo vệ; biện pháp bảo vệ và thời gian bắt đầu thực hiện biện pháp bảo vệ

Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ được gửi cho người yêu cầu bảo vệ, người được bảo vệ, Viện kiểm sát, Tòa án đã đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ

và cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan đến việc bảo vệ 7

Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ phải lập hồ sơ bảo vệ Hồ sơ bảo vệ gồm: Văn bản đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ; biên bản về việc đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ; kết quả xác minh

về hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ; tài liệu về hậu quả thiệt hại đã xảy ra (nếu có) và việc xử lý của cơ quan có thẩm quyền; văn bản yêu cầu, đề nghị thay đổi,

bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ; quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ; tài liệu phản ánh diễn biến quá trình áp dụng biện pháp bảo vệ; văn bản yêu cầu, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp bảo vệ; báo cáo kết quả thực hiện biện pháp bảo vệ; quyết định chấm dứt biện pháp bảo vệ; các văn bản, tài liệu khác có liên quan đến việc bảo vệ

6 Xem khoản 1, 2 Điều 485 BLTTHS năm 2015;

7 Xem khoản 1, 2 Điều 488 BLTTHS năm 2015.

Trang 7

2.4 Các biện pháp bảo vệ và việc chấm dứt các biện pháp bảo vệ

Lần đầu tiên các biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ được chính thức ghi nhận cụ thể trong BLTTHS Điều 486 quy định gồm các biện pháp sau:

- Bố trí lực lượng, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng vũ khí, công

cụ hỗ trợ và các phương tiện khác để canh gác, bảo vệ;

- Hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ để bảo đảm an toàn cho họ;

- Giữ bí mật và yêu cầu người khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người được bảo vệ;

- Di chuyển, giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập; thay đổi tung tích, lý lịch, đặc điểm nhân dạng của người được bảo vệ, nếu được họ đồng ý;

- Răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật;

- Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật

Cơ quan điều tra có thẩm quyền áp dụng phải tổ chức thực hiện ngay biện pháp bảo vệ sau khi ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ Trường hợp cần thiết có thể phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân để thực hiện việc bảo vệ Việc áp dụng, thay đổi các biện pháp bảo vệ quy định không được làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ

Khi xét thấy căn cứ xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ không còn, Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ phải ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo vệ Quyết định chấm dứt áp dụng các biện pháp bảo

vệ phải được gửi cho người được bảo vệ, cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ và cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan đến việc bảo vệ

3 Bình luận các quy định của BLTTHS năm 2015 về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại trong TTHS

Trang 8

3.1 Những ưu điểm trong các quy định của BLTTHS năm 2015 về bảo

vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại trong TTHS.

Khắc phục hạn chế của BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung một chương (Chương XXXIV) trong phần thứ bảy (Thủ tục đặc biệt) quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác

Trong chương này đã quy định một cách cụ thể, rõ ràng các vấn đề sau: Những người được bảo vệ; cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ; các biện pháp bảo vệ; đề nghị, yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ; quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ; chấm dứt việc bảo vệ; hồ sơ bảo vệ

3.2 Những hạn chế trong các quy định của BLTTHS năm 2015 về bảo

vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại trong TTHS

Tuy nhiên, các quy định của BLTTHS năm 2015 về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác vẫn còn một

số điểm chưa đầy đủ, chưa thống nhất cần được cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, hướng dẫn

Quy định chưa đầy đủ về những người được bảo vệ

Điều 484 BLTTHS năm 2015 quy định những người được bảo vệ chỉ gồm: (1) Người tố giác tội phạm; (2) Người làm chứng; (3) Bị hại; (4) Người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại Tuy nhiên, với quy định tại các điều 57, 67, 70 Bộ luật này thì người báo tin về tội phạm, người chứng kiến, người phiên dịch, người dịch thuật và người thân thích của họ cũng thuộc đối tượng được bảo vệ Cụ thể như sau:

- Tại điểm a khoản 1 Điều 57 Bộ luật này quy định cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giữ bí mật việc tố giác, báo tin về tội phạm, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ, người thân thích của họ khi bị

đe dọa

- Tại điểm b khoản 3 Điều 67 Bộ luật này quy định một trong các quyền của người chứng kiến là yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tuân thủ quy định của pháp luật, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản

Trang 9

và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa

- Tại điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật này quy định người phiên dịch, người dịch thuật có quyền đề nghị cơ quan yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa

Quy định chưa thống nhất về người được đề nghị, yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ

Theo quy định tại Điều 487 BLTTHS năm 2015 thì chỉ người được bảo vệ mới có quyền làm văn bản đề nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ, còn người đại diện của họ thì không có quyền này Vậy thì ngay cả người được bảo vệ là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần cũng phải tự mình yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ Như vậy chưa đáp ứng được yêu cầu bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi.8

Trong khi Điều 487 BLTTHS năm 2015 quy định chỉ bị hại mới có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ thì tại điểm l khoản 2 Điều 62 Bộ luật này lại quy định cả bị hại và người đại diện của bị hại đều có quyền này

3.3 Một số kiến nghị, đề xuất hoàn thiện các quy định của BLTTHS năm 2015 về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại trong TTHS.

- Cần bổ sung người chứng kiến, người phiên dịch, người dịch thuật vào diện những người được bảo vệ quy định tại khoản 1 Điều 484 BLTTHS năm 2015:

“Điều 484 Người được bảo vệ

1 Những người được bảo vệ gồm:

a) Người tố giác, báo tin về tội phạm;

b) Người làm chứng;

c) Bị hại;

d) Người chứng kiến;

đ) Người phiên dịch, người dịch thuật;

8 Bất cập trong quy định của về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại,

https://baomoi.com/bat-cap-trong-quy-dinh-ve-bao-ve-nguoi-to-giac-toi-pham-nguoi-lam-chung-bi-hai/c/27297769.epi, ngày 15/8/2018.

Trang 10

e) Người thân thích của người tố giác, báo tin về tội phạm, người làm chứng, bị hại, người chứng kiến, người phiên dịch, người dịch thuật.

2…”

- Đồng thời, cần quy định bổ sung cho người đại diện của người được bảo

vệ là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần quyền

đề nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ

Ngày đăng: 08/12/2019, 15:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w