Có nhiều bài báo, sách đã được xuất bản bàn về nhà nước kiến tạo phát triển có thể kể đến những nghiên cứu sau: Tác giả Vũ Minh Khương với bài viết “Việt Nam trước thách thức xây dựng Nh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Minh Quân
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG
thạc sĩ khoa học
Hà Nội, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi
dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Minh Quân Các dẫn chứng
trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học, dựa trên
kết quả thu thập từ các tư liệu và tài liệu tham khảo có trích nguồn và có
xuất xứ rõ ràng!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Học viên
Nguyễn Thế Nam
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Học viên xin bày tỏ sự biết ơn trân trọng đến các thầy giáo, cô giáo và
cán bộ của khoa Khoa học Chính trị - Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội; đến PGS.TS Lê Minh Quân - Người
hướng dẫn khoa học của luận văn; đến người thân và bạn bè đã quan tâm,
giúp đỡ học viên trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này!
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Học viên
Nguyễn Thế Nam
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình hình nghiên cứu 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
5 Phương pháp nghiên cứu 14
6 Đóng góp của luận văn 15
7 Kết cấu của luận văn 15
Chương 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC KIẾN TẠO
PHÁT TRIỂN 16
1.1 Khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển 16
1.1.1 Quan niệm về nhà nước kiến tạo phát triển trên thế giới 16
1.1.2 Quan điểm về nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam 20
1.1.3 Khái niệm về nhà nước kiến tạo phát triển 22
1.2 Bản chất nhà nước kiến tạo phát triển 23
1.3 Phân loại nhà nước kiến tạo phát triển 26
1.3.1 Phân loại dựa trên tiêu chí về vị trí địa lý 26
1.3.2 Phân loại dựa trên tiêu chí về mức độ dân chủ 30
1.3.3 Phân loại dựa trên tiêu chí về mức độ thành công 31
Chương 2: NHỮNG CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ NHÀ NƯỚC KIẾN TẠO
PHÁT TRIỂN 34
2.1 Nhà nước kiến tạo phát triển ở một số nước trên thế giới 34
2.1.1 Nhà nước kiến tạo phát triển ở Nhật Bản 34
2.1.2 Nhà nước kiến tạo phát triển ở Hàn Quốc 40
2.1.3 Nhà nước kiến tạo phát triển ở Singapore 49
2.2 Nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam 58
2.2.1 Bối cảnh xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam 58
2.2.2 Thực tế xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam 66
Trang 6Chương 3: NHÀ NƯỚC KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN - MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG
CƠ BẢN 75
3.1 Nhà nước chủ động định hướng phát triển nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng những nguyên tắc, quy luật của thị trường 75
3.2 Nhà nước và tư nhân hợp tác chặt chẽ, nhà nước định hướng dẫn dắt tư nhân thông qua một cơ quan điều phối có quyền lực 81
3.3 Nhà nước do đội ngũ tinh hoa chính trị lãnh đạo, bộ máy hành chính
chuyên nghiệp, có thẩm quyền, độc lập tương đối và bảo đảm tính chính đáng chính trị thông qua hiệu quả hoạt động 83
3.4 Nhà nước phát triển và trọng dụng nhân tài, đầu tư vào các chính sách xã hội, thúc đẩy giáo dục, y tế và đảm bảo công bằng trong phát triển 88
3.5 Một số liên hệ về việc xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam
từ những đặc trưng của nhà nước kiến tạo phát triển và bối cảnh Việt Nam
hiện nay 92
3.5.1 Xây dựng bộ máy quản lý hành chính nhà nước chuyên nghiệp,
đủ năng lực theo hướng kiến tạo phát triển 93
3.5.2 Bảo đảm sự nhất quán giữa chính quyền trung ương và địa phương
trong việc chủ động dẫn dắt, triển khai các chiến lược phát triển 95
3.5.3 Xác định đúng vai trò của Nhà nước và của thi trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 95
3.5.4 Xây dựng xã hội vận hành dựa trên luật pháp, pháp luật phải trở thành phương tiện quyết định trong quản lý đời sống xã hội 97
3.5.5 Tăng cường trách nhiệm giải trình của Nhà nước trước nhân dân 98
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Sau hơn 30 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành tựu lớn, theo số liệu thống kê mới đây nhất của World bank [29, tr.9]: kinh tế Việt Nam đạt tăng trưởng quý I cao nhất trong thập kỷ qua Sau khi đạt thành tích 6,8 % trong năm 2017, GDP theo giá so sánh tăng gần 7,4 % (so với cùng kỳ năm trước) trong quý I năm 2018 Vị thế kinh tế đối ngoại của Việt Nam tiếp tục được cải thiện do kết quả xuất nhập khẩu và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vững mạnh Thu nhập bình quân đầu người tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2011-2017 đạt trên 5%, năm 2017 đạt cao nhất (7,6%), với mức 53,5 triệu đồng (tương đương với 2385 USD, tăng 170 USD so với năm 2016) Tỷ lệ lạm phát được khống chế ở mức thấp, thường xuyên ở mức dưới 5%, năm 2017 chỉ là 1,7%, tạo điều kiện để nâng cao mức thu nhập thực của dân cư Tỷ lệ nghèo đói vì thế giảm đi khá lớn Theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, tỷ lệ hộ nghèo năm
2017 ước tính chỉ còn 8% [20, tr.15] Những con số thống kê trên thật sự rất đáng mừng, là thành quả của quá trình điều hành kinh tế với những giải pháp mới và hữu hiệu của Chính phủ Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một thực tế rằng mức độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, theo báo cáo tham luận của GS.TS Ngô Thắng Lợi và PGS.TS Trần Thị Vân Hoa thuộc trường
Đại học Kinh tế Quốc dân tại hội thảo quốc gia “Kinh tế Việt Nam năm 2017
và triển vọng năm 2018, tháo gỡ rào cản đối với sự phát triển của doanh nghiệp” có tên “Những khoảng tối của bức tranh tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011 - 2017 và một số kiến nghị”, hai giáo sư cho rằng tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2017 dựa trên các ngành kinh tế gia công và các doanh nghiệp gia công đó lại chủ yếu là các doanh nghiệp
Trang 9FDI (doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) chứ không phải các doanh nghiệp Việt Nam, điều này cho thấy nền tảng sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn hiện nay còn phụ thuộc phần lớn vào doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, các ngành công nghiệp chế tạo, sản xuất dựa trên nguồn nguyên liệu đầu vào trong nước tăng trưởng thấp, chỉ bằng 1/3 so với ngành gia công, công nghiệp gia công chứ không phải công nghiệp chế tạo tăng trưởng cao ở Việt Nam phản ánh trình độ phát triển công nghệ ở Việt Nam còn rất thấp Bên cạnh đó là hiệu quả tăng trưởng còn không cao, năng suất lao động của người lao động Việt Nam so với các nước trong khu vực và quốc
tế còn thực sự thua kém
Trong suốt giai đoạn sau đổi mới tới nay, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng phần nhiều dựa trên nguồn vốn đầu tư nước ngoài (các nhà đầu tư nước ngoài đổ tiền vào Việt Nam do chính sách thu hút vốn của Chính phủ Việt Nam và nguồn nhân công đang ở giai đoạn vàng, đông đảo, giá rẻ) và xuất khẩu khoáng sản Sản xuất, chế tạo hàng hóa của các doanh nghiệp trong nước phát triển ì ạch, cốt lõi của nền sản xuất là yếu tố công nghệ còn ở trình
độ thấp
Đảng Cộng Sản và Nhà nước Việt Nam kêu gọi thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa và đặt mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, song đến nay mục tiêu này đã không thực hiện được, mốc thời gian năm 2020 được chuyển đến năm 2030 Việt Nam thậm chí đang phải đối mặt với nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới
Đứng trước bài toán với đầy rẫy những thách thức đã nêu trên, người ta bắt đầu nói về một mô hình nhà nước mà đã đưa nhiều quốc gia Đông Á cất cánh trở thành những con Rồng con Hổ về kinh tế của châu Á, một mô hình quản trị được xem là cần thiết và rất phù hợp với điều kiện của Việt Nam hiện nay, mô hình Nhà nước kiến tạo phát triển
Trang 10Vài năm trở lại đây khái niệm nhà nước kiến tạo xuất hiện với tần suất liên tục và nhiều chưa từng thấy ở Việt Nam Khái niệm này khởi nguồn đầu tiên từ bài phát biểu của nguyên Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng trong một hội nghị nhằm xác định nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ nhiệm
kỳ 2011 - 2016, trong bài viết này nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn
Dũng nhấn mạnh: “Phải chuyển mạnh từ nhà nước điều hành nền kinh tế sang nhà nước kiến tạo phát triển” như một cách thay đổi tư duy về mối quan
hệ giữa nhà nước và thị trường Và một khái niệm khác rất gần gũi với khái
niệm nhà nước kiến tạo là Chính phủ kiến tạo (ở Việt Nam khi nhắc đến Nhà
nước, người ta thường nghĩ đến nhiều nhất là bộ máy hành pháp-Chính phủ)
đã xuất hiện trong phiên họp thường kỳ tháng 4 năm 2016 của Chính phủ, nơi người đứng đầu Chính phủ nhiệm kì kế tiếp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc
khẳng định: Chính phủ đẩy mạnh việc chuyển phương thức chỉ đạo điều hành
từ mệnh lệnh hành chính sang Chính phủ kiến tạo và phục vụ
Cho đến nay nhà nước kiến tạo phát triển vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam còn chưa thống nhất quan điểm về nhà nước kiến tạo phát triển, chưa nói đến là xây dựng được một hệ thống lý thuyết phù hợp với điều kiện Việt Nam Các nghiên cứu ở Việt Nam phần lớn là các bài viết đăng trên các tạp chí nghiên cứu, các tham luận tại các hội thảo khoa học và các bài báo trích dẫn các ý kiến của các chuyên gia, nhà lãnh đạo chính trị; hiếm hoi có một công trình nghiên cứu lớn nhưng lại tập trung
vào các giải pháp thể chế là “Báo cáo từ nhà nước điều hành sang nhà nước
kiến tạo phát triển” do Nhà xuất bản Tri thức ấn hành năm 2016
Vậy “nhà nước kiến tạo phát triển” là gì và có nguồn gốc từ đâu? Nhà nước kiến tạo phát triển có những đặc trưng gì? Làm thế nào để Việt Nam xây dựng thành công nhà nước kiến tạo phát triển? Để góp phần giải đáp những
câu hỏi trên, học viên lựa chọn đề tài “Về những đặc trưng cơ bản của nhà
nước kiến tạo phát triển” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ chính trị
Trang 11học của mình Lựa chọn nghiên cứu đề tài này, tác giả mong muốn góp phần tạo nên sự thống nhất nhận thức về nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam, bởi chỉ khi có sự thống nhất về nhận thức mới có sự thống nhất về hành động, nhận thức và hành động thống nhất từ đó mới có thể tập trung ý chí của giới nghiên cứu, giới hoạt động chính trị thực tiễn và các tầng lớp nhân dân khác nhằm quyết tâm thực hiện các mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh
2 Tổng quan tình hình hình nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển không còn là mới
mẻ, người khởi đầu cho khái niệm này là Chalmers Johnson trong cuốn sách
MITI and the Japanese Miracle; The Growth of Industrial Policy 1925-1975,
xuất bản năm 1982 để nói về sự kỳ diệu của Nhật Bản Cuốn sách bàn về nền kinh tế Nhật Bản, đặc biệt là về vai trò của Bộ Thương mại và Công nghiệp (MITI), cơ quan nhà nước giữ vai trò hàng đầu trong nền kinh tế Mặc dù MITI không phải là tác nhân quan trọng duy nhất ảnh hưởng đến nền kinh tế nhưng tốc độ, hình thức và hiệu quả tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản có sự đóng góp rất lớn của MITI
Tiếp theo đó có nhiều nhà nghiên cứu nối tiếp Chalmers Johnson như
Adrian Leftwich với bài tạp chí “Bringing Politics Back in:Towards a Model
of the developmental state”, xuất bản ở The Journal of Development Studies Tác giả khác là Peter Evans trong cuốn “Embedded Autonomy, State and industrial transformation”, do nhà xuất bản đại học Princeton University
Press xuất bản đã phân tích các trường hợp phát triển kinh tế thần kỳ của Đài Loan và Hàn Quốc
Các báo cáo của UNDP và một số tổ chức của Liên hợp quốc xuất bản
về chủ đề này như báo cáo “Democratization in a Developmental State: The Case of Ethiopia-Issuaes, Challenges, and Prospects” Báo cáo “Economic
Trang 12Report on Africa (2011): Governing Development in Africa- the Role of the State in Economic Tranformation” do Hội đồng kinh tế Châu phi của Liên
hợp quốc và Liên minh Châu Phi cùng nghiên cứu và xuất bản đều có những bàn thảo đến mô hình Nhà nước kiến tạo phát triển và là những cơ sở lý luận cho các nghiên cứu sau này ở Việt Nam
Tác giả Ha Joon Chang với bài viết “How to “do” a developmental state: Political, Organizational, and Human Resource Requirements for the Developmental State” Tạm dịch “Làm thế nào để “làm” một nhà nước phát triển: Các yêu cầu về nguồn lực chính trị, nguồn lực tổ chức, và nguồn nhân lực cho Nhà nước phát triển” Bài viết này được O Edigheji biên soạn trong cuốn sách “Constructing a Democratic Developmental State in South Africa - Potentials and Challenges” (Human Science
Research Council Press, Cape Town, 2010) Bài viết đề cập đến các hoạt động tranh luận về chi phí cạnh tranh, điều phối, quản lý xung đột cũng như thảo luận về phát triển kinh tế Đông Á hiệu quả, về khuyến khích các chính sách công nghiệp, công nghiệp hóa gắn với đổi mới thể chế, vấn đề chế độ sở hữu trí tuệ ở Nhật Bản và Hàn Quốc
Cuốn sách “Globalisation, Economic Development and the Role of the State” xuất bản bởi Zed Books (2003) Trong cuốn sách, Ha Joon Chang đã
đánh giá vai trò của nhà nước trong kinh tế và phát triển, ông đánh giá các lý thuyết và sự can thiệp thực tế của nhà nước đối với phát triển trong hơn hai thế kỷ của chủ nghĩa tư bản hiện đại Ông đã phát triển một phương pháp tiếp cận thể chế về vai trò của nhà nước trong sự thay đổi kinh tế, và xem xét các vấn đề liên quan đến các sắp xếp cụ thể bao gồm cả chính sách công nghiệp, chính sách thương mại, quyền sở hữu trí tuệ, quy định, và các chiến lược đối với các tập đoàn xuyên quốc gia
Báo cáo “Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi” (Báo cáo về
tình hình phát triển thế giới 1997) của WB, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc
Trang 13gia phát hành đã cung cấp cho người đọc tư liệu nghiên cứu và tham khảo về tình hình thế giới, đặc biệt là vai trò và chức năng hoạt động của một số nhà nước trên thế giới Trọng tâm của báo cáo tập trung vào vấn đề: Nhà nước cần phải làm gì và làm như thế nào để đạt hiệu quả trong tình hình một thế giới đang có những chuyển đổi sâu sắc Báo cáo đã đưa ra những ví dụ điển hình
về một số nhà nước hoạt động có hiệu quả cũng như một số nhà nước kém hiệu quả, từ đó đề xuất chiến lược hai phần để nhà nước đạt hiệu quả
Bên cạnh đó còn nhiều các bài viết, các công trình nghiên cứu liên quan khác
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Hiện nay chủ đề về nhà nước kiến tạo phát triển đang là vấn đề lý thuyết được tranh luận rộng rãi và sôi nổi, giới khoa học Việt Nam nói chung chưa thống nhất một cách hiểu cố định nào về nhà nước kiến tạo phát triển, những người lãnh đạo mà nổi bật là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thường xuyên nhắc đến vấn đề nhà nước kiến tạo phát triển hay chính phủ kiến tạo phát triển, chính phủ liêm chính, hành động, nhưng Chính phủ cũng chưa đưa
ra một khái niệm đầy đủ nào hay một tập hợp những đặc trưng nào về nhà nước kiến tạo phát triển trên văn bản giấy tờ hay một tuyên bố chính thức Có nhiều bài báo, sách đã được xuất bản bàn về nhà nước kiến tạo phát triển có thể kể đến những nghiên cứu sau:
Tác giả Vũ Minh Khương với bài viết “Việt Nam trước thách thức xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển” được đăng tải trên TuanVietnamnet năm
2009, các bài viết trao đổi, bình luận về chủ đề này của nghiên cứu sinh Phạm Hưng Hùng (nghiên cứu sinh tại Đại học Birmingham - Vương Quốc Anh),
Bàn thêm về mô hình nhà nước kiến tạo phát triển; Nhà nước kiến tạo phát triển phải từ quyết tâm chiến lược cùng được đăng tải trên TuanVietnamnet
Tác giả Nguyễn Chính Tâm trong “Thông điệp của Thủ tướng và bước ngoặt 2014” đã nêu về ba đặc tính tiền phong của mô hình nhà nước kiến tạo
Trang 14phát triển, bao gồm: (1) Chuyển từ chức năng kiểm soát sang quản trị và kiến tạo; (2) Nhà nước sẽ mạnh khi mỗi người dân cảm thấy đây là thiết chế đại diện cho mình; và (3) Quản trị rủi ro (hơn là giải quyết sự việc khi đã rồi)
Báo cáo “Từ nhà nước điều hành sang Nhà nước kiến tạo phát triển” là
sản phẩm của nhóm các chuyên gia nghiên cứu độc lập đến từ bốn cơ quan nghiên cứu và tư vấn kinh tế có uy tín tại Hà Nội - Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM), Viện Kinh tế Việt Nam (VIE), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) thuộc trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội công
bố năm 2016 Báo cáo cung cấp những luận cứ khoa học, cả lý thuyết lẫn kinh nghiệm thực tiễn, để xây dựng những thể chế chính thức theo hướng thúc đẩy
sự phát triển một nền kinh tế thị trường đẩy đủ cho Việt Nam Những chính thể chính thức này, một khi được hình thành, sẽ đóng vai trò xương sống để tạo dựng ra một nhà nước kiến tạo phát triển như các nhà lãnh đạo của Việt Nam mong muốn Báo cáo này nhằm cung cấp cơ sở lý thuyết cũng như kinh nghiệm thực tiễn của nhiều quốc gia trên thế giới để giúp Việt Nam có thể lựa chọn một cách duy lý con đường phát triển của riêng mình, chọn cách xây dựng những thể chế góp phần hình thành cái gọi là nhà nước kiến tạo phát triển, tức là giúp nhà nước Việt Nam thay đổi chức năng của mình với nền kinh tế và với thị trường, từ vị thể điều hành trực tiếp bằng các mệnh lệnh hành chính, sang kiến tạo một môi trường phù hợp để nuôi dưỡng thị trường phát huy hết sức mạnh của mình Báo cáo này tiếp cận vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường dựa trên khung khổ lý thuyết về mô hình nhà nước kiến tạo phát triển từ góc nhìn kết hợp của lý thuyết kinh tế học thể chế mới và lý thuyết phát triển năng lực của Sen (1991, 2001) Khác với cách tiếp cận khác, cách tiếp cận từ lý thuyết thể chế kinh tế mới và phát triển năng lực được xem như là phiên bản mềm hơn về nhà nước kiến tạo phát triển được Jonhson đưa ra năm 1982, sau khi nghiên cứu mô hình của Nhật Bản và một
Trang 15số học giả khác tiếp tục nghiên cứu như Amsden (1989) Wade (1990) Evans (1995) Cách tiếp cận của báo cáo này nhìn nhận thị trường, nhà nước, và xã hội dân sự như các hệ thống thể chế song hành bổ trợ lẫn nhau Vai trò nhà nước là phải tạo dựng được các thể chế song hành bổ trợ cho các khiếm khuyết của các thể chế thị trường và xã hội dân sự, chứ không phải thay thế,
đè nén kiểm soát sự phát triển của các thể chế này Đặc biệt đối với các nước đang phát triển, nơi các thị trường yếu tố sản xuất còn kém phát triển, nhà nước cần phải đứng ra làm trung gian để kết nối các nguồn lực trong thời gian đợi các yếu tố thị trường sản xuất hình thành
Kỷ yếu hội thảo khoa học “Xây dưng nhà nước kiến tạo phát triển trong thực tiễn Việt Nam” do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh công
bố năm 2017 Kỷ yếu bao gồm 18 bài tham luận của các học giả, nhà khoa học đến từ nhiều trường đại học và viện nghiên khác nhau trong cả nước Các tham luận bàn bạc về nhiều vấn đề đang được quan tâm hiện nay trong chủ đề chung là Nhà nước kiến tạo phát triển, tham luận bàn về lĩnh vực văn hóa - xã hội như “ Vai trò kiến tạo phát triển của nhà nước trong lĩnh vực Văn hóa - xã hội” của tác giả Vũ Hoàng Công thuộc Tạp chí Lý luận Chính trị, tham luận bàn về thể chế chính trị có “Nhà nước kiến tạo phát triển và các rào cản chủ yếu cho tăng trưởng kinh tế” của tác giả Phạm Sỹ An thuộc viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam; “Đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước kiến tạo ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Minh Phương thuộc Đại học Nội Vụ Hà Nội; “Hoàn thiện thể chế để xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam” của tác giả Vũ Công Giao thuộc Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội; Ngoài ra còn nhiều bài viết bàn về vai trò kiến tạo của nhà nước trên các lĩnh vực giáo dục phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo an sinh xã hội, phát triển bền vững
Cuốn sách “Nhà nước kiến tạo phát triển, lý luận trên thế giới và thực tiễn ở Việt Nam” do hai tác giả Trịnh Quốc Toản, Vũ Công Giao đồng chủ
Trang 16biên, sách do nhà xuất bản Lý luận Chính trị xuất bản năm 2017 Cuốn sách là tập hợp của 27 bài tham luận chất lượng, nghiên cứu công phu kĩ lưỡng của nhiều tác giả đến từ nhiều đơn vị khác nhau Các tham luận cũng bàn thảo nhiều vẫn đề khoa học liên quan đến Nhà nước kiến tạo phát triển, từ các vấn
đề về nguồn gốc đặc điểm của Nhà nước kiến tạo phát triển trong bài viết của tác giả Vũ Công Giao, Nguyễn Sỹ Dũng, bài viết của tác giả Nguyễn Sĩ Dũng được trích dẫn khá nhiều khi nói về nhà nước kiến tạo phát triển, ngoài ra còn nhiều các bài nghiên cứu có giá trị khác của các tác giả uy tín khác Có thể nói cho đến nay (tháng 12/2018) đây được đánh giá là công trình nghiên cứu
có giá trị khoa học và chất lượng học thuật thuộc nhóm hàng đầu ở Việt Nam
về Nhà nước kiến tạo phát triển
Bài viết của tác giả Lê Minh Quân có nhan đề “Nhà nước kiến tạo phát triển” được đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị thứ 5 ngày 16 tháng 3 năm
2017, trong bài viết này tác giả cho rằng nhà nước kiến tạo phát triển là mô hình phù hợp nhất với Việt Nam hiện nay, lý giải cho nhận định đó tác giả đã nêu lên 5 đặc trưng cơ bản của nhà nước kiến tạo phát triển dựa trên các tiêu chí chức năng, nhiệm vụ, phương thức tổ chức và hoạt động, cách thức sử dụng các nguồn lực nhất là nhân lực của Nhà nước Các đặc trưng cơ bản đó là: Nhà nước xây dựng chiến lược, tạo dựng môi trường và điều kiện cho phát triển xã hội; Nhà nước dự báo, chia sẻ và hướng dẫn trong phát triển xã hội; Nhà nước tiết kiệm và mang tinh thần kinh doanh trong quản lý phát triển xã hội; Nhà nước tinh gọn, minh bạch và hiệu lực, hiệu quả đối với phát triển xã hội; Nhà nước phát triển và trọng dụng nhân tài Đây là một bài viết được nhiều học giả đánh giá cao vì đã đưa ra được những đặc trưng cơ bản định hình nên một nhà nước thúc đẩy sự phát triển với các chức năng nhiệm vụ rõ ràng, bài viết thể hiện góc nhìn riêng của tác giả đồng thời cũng là các quan điểm được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã tổng kết qua các trường hợp Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore
Trang 17Bài báo của nhóm tác giả Nguyễn Sĩ Dũng, Nguyễn Minh Phong, Hoàng Gia Minh, Hồ Quang Phương đăng trên Báo Quân đội nhân dân số ra
ngày 03/05/2017 với nhan đề: Nhà nước kiến tạo phát triển tại Việt Nam
Trong bài trình bày của mình, các tác giả đã nêu lên nguồn cội đầu tiên của khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển, đồng thời nhóm tác giả cũng khẳng định nhà nước kiến tạo phát triển vẫn là một mô hình đầy tiềm năng, phù hợp với điều kiện văn hóa, kinh tế, xã hội, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia Nhóm tác giả cũng cho rằng kiến tạo phát triển chính là tạo
ra những cải cách đột phá, Nhà nước phải tạo ra được hệ thống khuyến khích
để các nguồn lực của xã hội được tập trung đầu tư cho các mục tiêu phát triển; Nhà nước cần tìm mọi cách để cung cấp các dịch vụ công chất lượng, giá rẻ cần thiết cho sự phát triển năng lực và việc làm ăn của các doanh nghiệp, của những người dân; Nhà nước phải biết tạo ra cạnh tranh lành mạnh để tất cả mọi chủ thể trong xã hội đều phải vươn lên và để thu hút được người tài Kết thúc bài viết, nhóm tác giả nêu lên yêu cầu cần phải nhanh chóng xác định khung lý thuyết rõ ràng về nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam
Bài viết “Nhà nước kiến tạo phát triển và xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam” của hai tác giả Đinh Ngọc Thắng, Nguyễn Văn Quân
đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số tháng 3/2017, trong bài viết này, hai tác giả đã nêu lên một cách ngắn gọn những nhận định tổng quan về nhà nước kiến tạo,
đó là một nhà nước nằm giữa hai mô hình, một là mô hình nhà nước theo chủ thuyết tân tự do với sự can thiệp tối thiểu của nhà nước vào thị trường, một là
mô hình nhà nước kế hoạch hóa tập trung dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước đối với nền kinh tế Hai tác giả trình bày quan điểm về nhà nước kiến tạo của Jonhson và Adrian Leftwith Hai tác giả cũng trình bày về đặc trưng của nhà nước kiến tạo phát triển so với các mô hình nhà nước khác trong chính sách công nghiệp Phần cuối cùng, hai tác giả đưa ra các gợi ý cho Việt Nam xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển Các gợi ý để xây dựng nhà nước
Trang 18kiến tạo phát triển mà hai tác giả nêu lên bao gồm: Một là, nhà nước phải nắm vai trò trung tâm trong phát triển kinh tế Hai là, nhà nước kiến tạo phát triển phải hài hòa giữa các chính sách kinh tế và sự vận động tự nhiên của nền kinh
tế Ba là, xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển công nghiệp có tính lâu dài, nhất quán Bốn là, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp hiệu quả dựa trên chế độ tuyển dụng nhân tài Năm là, xây dựng hệ thống chính sách và pháp luật hoàn chỉnh
Bài viết của hai tác giả Ngô Huy Đức, Nguyễn Thị Thanh Dung với
nhan đề “Nhà nước kiến tạo phát triển - Khái niệm và những yếu tố thành công”, hai tác giả đã nêu lên nguồn gốc khởi thủy của khái niệm nhà nước
kiến tạo, so sánh phân tích nhà nước kiến tạo dựa trên khái niệm với nhà nước
tư bản chủ nghĩa và nhà nước xã hội chủ nghĩa, nội hàm của khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển được hai tác giả nêu lên bao gồm: Một là, nhà nước kiến tạo phát triển phải là một mô hình nhà nước pháp quyền, dân chủ; Hai là, các cơ quan nhà nước hoạt động công khai, minh bạch và có trách nhiệm giải trình; đội ngũ công chức viên chức được tuyển chọn cạnh tranh, công bằng,
đủ năng lực, tầm nhìn và tài năng để hoạch định chính sách phát triển, xây dựng các thể chế phát triển, phục vụ phát triển; Ba là, nhà nước không can thiệp sâu vào đời sống kinh tế-xã hội của người dân và doanh nghiệp, chuyển
từ vai trò quản lý, điều hành sang vai trò kiến tạo phát triển, như định hướng phát triển, hỗ trợ phát triển và quản trị rủi ro trong phát triển; Bốn là, phi tập trung hóa quyền lực nhà nước, phân quyền và phân cấp rõ ràng, tạo điều kiện
để các cơ quan nhà nước các cấp có khả năng độc lập, sáng tạo và tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước; Năm là, quan hệ chặt chẽ với doanh nghiệp và người dân, tận tụy phục vụ nhu cầu phát triển của doanh nghiệp và người dân, tạo ra các điều kiện để mọi doanh nghiệp, mọi người dân được bình đẳng và tham gia sáng tạo vào quá trình tìm kiếm phúc lợi cho bản thân trên cơ sở làm bất cứ việc gì pháp luật
Trang 19không cấm; Bên cạnh đó, tác giả nêu lên các yếu tố thành công của Nhà nước kiến tạo phát triển bao gồm: Nhà nước kiến tạo phát triển phải có tầm nhìn phát triển nhất quán và xuyên suốt; Bộ máy quản lý, hành chính hiệu quả và trung lập; Quan hệ công - tư hòa hợp; Quản trị hiệu quả và công bằng
Như vậy, có thể nhận thấy các nghiên cứu về nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam mới chỉ bắt đầu gần đây, về mặt lý thuyết khái niệm này được đặt ra bởi một nhà nghiên cứu người Mỹ khi xem xét trường hợp thần
kỳ của kinh tế Nhật Bản, nối tiếp ông đã có thêm nhiều nhà nghiên cứu khác nghiên cứu về vai trò của nhà nước trong sự vươn lên thần kỳ của các quốc gia Đông Á Các nghiên cứu này xây dựng nên một hệ thống lý thuyết khá hoàn chỉnh về nhà nước kiến tạo phát triển Giới nghiên cứu ở Việt Nam chấp nhận những lý thuyết đã được nghiên cứu này và hầu như ít có những bổ sung khác biệt với các lý thuyết đã được tổng kết Nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu liên quan đến áp dụng mô hình quản trị nhà nước này đối với Việt Nam hiện nay Những nghiên cứu ở nước ta thường tập chung làm rõ:
- Các vấn đề lý luận xung quanh khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển
đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới tổng kết trước đó, như bản chất, đặc điểm, phân loại nhà nước kiến tạo phát triển, môi trường có thể nuôi dưỡng sự thành công của mô hình nhà nước kiến tạo phát triển
- Đánh giá mức độ thích hợp của Việt Nam với mô hình quản trị này trên nhiều góc độ như luật pháp, văn hóa, môi trường chính trị, cách quản trị hiện hành
- Đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện thành công mô hình nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam phù hợp với điều kiện hiện tại của Việt Nam
và bối cảnh chung trên thế giới trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm của các quốc gia từng xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển thành công
Xây dựng “nhà nước kiến tạo phát triển” đã và đang thu hút sự chú ý của dư luận xã hội, sự quan tâm của các nhà khoa học, giới chuyên gia, điều
Trang 20đó là một tín hiệu đáng mừng thể hiện sự lan tỏa của thông điệp mà giới lãnh đạo chính trị phát đi, đồng thời nó thể hiện sự quan tâm của giới tri thức đối với vấn đề hệ trọng của quốc gia Điều đó dẫn đến sự cần thiết phải xây dựng một khuôn khổ lý thuyết thống nhất, đúng đắn, phù hợp và đầy đủ về nhà nước kiến tạo phát triển nhằm cắt nghĩa nguồn gốc khái niệm, làm rõ những đặc điểm chính và cách thức để thực hiện thành công mô hình nhà nước kiến tạo phát triển Trên cơ sở đó rút ra những giá trị tham chiếu cho quá trình xây dựng thực tế nhà nước kiến tạo phát triểnở Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết về nhà nước kiến tạo phát triển đã được công bố trên thế giới và các nhà nước kiến tạo phát triển thực tiễn ở Đông Á, luận văn làm rõ những đặc trưng cơ bản của nhà nước kiến tạo phát triển và có một số liên hệ với Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn thực hiện 3 nhiệm vụ:
1) Trình bày khái quát một số cơ sở lý luận về nhà nước kiến tạo phát triển
2) Trình bày khái quát một số cơ sở thực tiễn về nhà nước kiến tạo phát triển (thông qua một số mô hình nhà nước kiến tạo phát triển ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore)
3) Nêu các đặc trưng cơ bản của nhà nước kiến tạo phát triển và một số liên hệ với việc xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm:
1) Một số vấn đề lý luận về nhà nước kiến tạo phát triển (Khái niệm, nguồn gốc, bản chất, phân loại nhà nước kiến tạo phát triển, v.v.)
Trang 212) Mô hình nhà nước kiến tạo phát triển ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore (Bối cảnh hình thành, nhân tố chính trị ảnh hưởng, chính sách cụ thể của các nhà nước kiến tạo phát triển)
3) Những đặc trưng cơ bản của nhà nước kiến tạo phát triển
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những đặc trưng cơ bản của nhà nước kiến tạo phát triển dựa trên các lý thuyết đã được công bố trước đó như của Chalmers Johnson, Adrian Leftwich, Ha Joon Chang…và những nghiên cứu khái quát về một số mô hình nhà nước kiến tạo phát triển ở Đông Á; luận văn nghiên cứu về các mô hình nhà nước kiến tạo phát triển trên thực tế ở khu vực Đông Á trong những thập kỷ gần đây
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp (Số lượng các công trình
nghiên cứu về chủ đề nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam tuy còn ít nhưng trên thế giới thì rất đa dạng với những nhà nghiên cứu khác nhau, dước các góc độ tiếp cận khác nhau, vì thế trong luận văn tác giả sẽ sử dụng phương pháp tổng hợp để tổng hợp các kết quả nhà nghiên cứu, những phân tích, lý giải về vấn đề nhà nước kiến tạo phát triển dưới góc độ mà tác giả tiếp
cận); Phương pháp so sánh (Nghiên cứu về các nhà nước kiến tạo phát triển
khác nhau từ trong quá khứ như nhà nước kiến tạo phát triển ở Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore Thông qua đó, so sánh các nhà nước kiến tạo phát triển này để phát hiện những điểm giống, khác biệt, phát hiện các nhân tố chi phối đến sự hình thành và phát triển của nhà nước kiến tạo phát triển, từ đó rút ra những kết luận quan trọng về đặc trưng của Nhà nước kiến tạo phát triển);
Phương pháp kết hợp lô-gíc và lịch sử (Sử dụng phương pháp lịch sử để xác
định tính lịch sử cụ thể của nhà nước kiến tạo phát triển, đó là bối cảnh lịch sử của sự ra đời nhà nước kiến tạo phát triển, các quyết định chiến lược phát triển nói chung và những quyết định chính sách nói riêng của các nhà nước kiến tạo phát triển này trong các giai đoạn lịch sử cụ thể)
Trang 226 Đóng góp của luận văn
Làm rõ một cách khái quát các cơ sở lý luận và thực tiễn về nhà nước kiến tạo phát triển (Khái niệm, bản chất, phân loại nhà nước kiến tạo phát triển; nhà nước kiến tạo phát triển thực tế ở một số quốc gia…)
Nêu và phân tích được những đặc trưng cơ bản của nhà nước kiến tạo phát triển một cách khái quát, cập nhật, thực tiễn
Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo, phục vụ cho sinh viên nghiên cứu và học tập chính trị học
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của Luận văn gồm 3 Chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nhà nước kiến tạo phát triển
Chương 2: Một số vấn đề thực tiễn về nhà nước kiến tạo phát triển Chương 3: Một số đặc trưng cơ bản của nhà nước kiến tạo phát triển
Trang 23Chương 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ NHÀ NƯỚC KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN 1.1 Khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển
1.1.1 Quan niệm về nhà nước kiến tạo phát triển trên thế giới
Nhà nước kiến tạo phát triển về mặt ngôn ngữ không có từ gốc trong tiếng Anh, từ được sử dụng trong tiếng Anh để thể hiện ý nghĩa của nó là
“Developmental state”, khái niệm này được các học giả quốc tế nói đến khi nhắc đến mô hình phát triển mang tính đặc thù của một số quốc gia Đông Á,
mà người đại diện và được đông đảo cộng đồng khoa học công nhận là người
đầu tiên đề cập là Chalmers Johnson trong cuốn sách MITI and the Japanese Miracle; The Growth of Industrial Policy 1925-1975 xuất bản năm 1982
Trong cuốn sách của mình, Chalmers Jonhson đã phân tích các nhân tố dẫn đến sự phát triển thần kì của Nhật Bản đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế sau chiến tranh thế giới thứ II khi nước này còn lại chỉ là một đống đổ nát Trong nghiên cứu của mình, ông đã sử dụng thuật ngữ “Developmental state” để nói
về mô hình mà chính phủ Nhật Bản áp dụng trong giai đoạn 1925-1975 Từ
đó thuật ngữ “Developmental state” trở thành một thuật ngữ phổ biến trong nghiên cứu, phân tích chính sách kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới trong thời kì hiện đại [11, tr.20-22] Chalmers Jonhson cho rằng
“Developmantal state” là “cách viết tắt của một mạng lưới liền mạch về chính trị, quan chức, và uy thế của tiền bạc giúp tạo nên đời sống kinh tế ở các nền
tư bản Đông Bắc Á” [11, tr.21] Một trong những mục đích ban đầu và chính yếu được Chalmers Jonhson thừa nhận khi ông mở đầu ý tưởng về nhà nước kiến tạo phát triển là “nhằm vượt qua sự tương phản giữa nền kinh tế Hoa Kỳ (điển hình của mô hình kinh tế tư bản thị trường tự do) và Liên bang Xô Viết (điển hình của mô hình kinh tế kế hoạch tập trung)” [11, tr.22] Đây chính là
cơ sở để nhiều học giả cho rằng Nhà nước kiến tạo phát triển dùng để chỉ một
Trang 24mô hình quản trị nằm giữa hệ thống kinh tế tư bản và hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung
Theo Jonhson nhà nước kiến tạo phải bao gồm những đặc điểm sau [45, tr.73-89]:
1) Tồn tại những quy tắc ổn định vững chắc do giới tinh hoa chính trị quan liêu thiết lập nên, tương đối độc lập trước các sức ép chính trị có thể gây tổn hại tới tăng trưởng kinh tế
-2) Có sự hợp tác chặt chẽ giữa khu vực công và tư Sự hợp tác được thể chế hóa này do một cơ quan kế hoạch hóa mang tính chiến lược giám sát (ví
dụ ở Nhật bản là bộ ngoại thương và công nghiệp MITI)
3) Có sự đầu tư mạnh mẽ và liên tục cho giáo dục kết hợp với một số chính sách nhằm phân chia công bằng của cải
4) Có một chính phủ nắm rõ và tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường Ngoài ra chính quyền phải mạnh, thậm chí là chuyên chế
Tiếp tục trong một bài viết khác, Chalmers Jonhson nêu lên các đặc trưng của nhà nước kiến tạo phát triển ở Nhật Bản gồm những đặc trưng sau [44, tr.32]:
1) Nhật Bản có một bộ máy hành chính gọn nhẹ nhưng hiệu quả, có nhiệm vụ xác định và lựa chọn các ngành công nghiệp để phát triển và những phương thức tốt nhất để phát triển nhanh chóng những ngành công nghiệp đã lựa chọn; đồng thời giám sát sự cạnh tranh trong các ngành chiến lược đã thiết
kế nhằm bảo đảm hiệu năng của nền kinh tế;
2) Nhật Bản có một hệ thống chính trị mà nền hành chính được trao quyền đầy đủ, có năng lực đưa ra những ý tưởng và vận hành một cách hiệu quả, ít bị ràng buộc bởi hai nhóm quyền lực còn lại là lập pháp và tư pháp, hai nhánh quyền lực này chỉ còn đóng vai trò như một chiếc “van an toàn”;
3) Nhà nước Nhật Bản có các biện pháp can thiệp phù hợp vào thị trường, thông qua các thiết chế tài chính, tiền tệ và các hướng dẫn hành chính
Trang 25(các hướng dẫn này tồn tại giúp nhà nước không phải ban hành các luật quá chi tiết mà có thể trói buộc nền hành chính sáng tạo);
4) Có một cơ quan, tổ chức là Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế Nhật Bản để kiểm soát chính sách công nghiệp Cơ quan này có cơ cấu tinh gọn, chỉ có chức năng “tư vấn”, không nắm giữ hay trực tiếp điều hành nguồn ngân sách, nhưng được trao quyền để quản lý theo chiều dọc việc thực hiện các chính sách công nghiệp ở cấp độ vi mô
Nhà nghiên cứu Adrian Leftwith định nghĩa mô hình nhà nước này thông qua 6 đặc trưng sau [48, tr.400-407]:
1) Tồn tại tầng lớp quan liêu tinh hoa gần gũi với Nhà nước, giới tinh hoa trong nhà nước kiến tạo phát triển có số lượng nhỏ, những người này gần gũi với chính quyền, tạo thành hạt nhân vững chắc và đoàn kết hỗ trợ cho Nhà nước Có nhiều quân nhân giữ vị trí quan trọng trong chính quyền, các chính sách phát triển chịu ảnh hưởng của tầng lớp quan liêu ưu tú này;
2) Tính độc lập tương đối của Nhà nước: Nhà nước độc lập tương đối trước các nhóm áp lực (giai cấp tầng lớp quyền lực mang tính địa phương) và đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích của nhóm áp lực này;
3) Điều phối kinh tế và phát triển được một số thiết chế chuyên biệt đảm trách (ví dụ như một bộ chịu trách nhiệm tổ chức các tương tác giữa Nhà nước và nền kinh tế) Các thiết chế này có thực quyền và năng lực kĩ thuật trong xây dựng và áp dụng các chính sách phát triển;
4) Xã hội yếu, chính quyền mạnh và kiểm soát chặt chẽ xã hội ở giai đoạn đầu;
5) Nhà nước kiến tạo phát triển và lợi ích kinh tế: Nhà nước ít chịu ảnh hưởng bới các lợi ích kinh tế tư nhân Điều này xuất phát từ quyền lực và sự độc lập của nhà nước được củng cố trước khi giới tư bản trở thành một thế lực ảnh hưởng Các lợi ích tư nhân chưa có một sức mạnh đáng kể vào thời điểm thiết lập Nhà nước;
Trang 266) Các quyền dân sự: Trong các Nhà nước theo mô hình kiến tạo phát triển, các quyền dân sự bị hạn chế, đây thường là các quốc gia phi dân chủ và
có mức độ chuyên chế cao Nhưng nhà nước lại có được tính chính danh từ nhân dân nhờ các lợi ích từ tăng trưởng kinh tế được phân phối tốt
Chương trình phát triển của liên hợp quốc UNDP thì cho rằng, “Nhà nước kiến tạo phát triển hiểu theo nghĩa giản dị, đó là một nhà nước đóng vai trò mạnh mẽ trong nền kinh tế quốc gia với mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế” [51, tr.7] UNDP cũng đưa ra các đặc điểm cụ thể của Nhà nước kiến tạo phát triển bao gồm [51, tr.8]:
1) Bộ máy quan liêu mạnh, có thẩm quyền, không bị chính trị hóa, được tách biệt và không bị ảnh hưởng bới các cuộc bầu cử và các áp lực kinh doanh;
2) Giới lãnh đạo mạnh mẽ, có tầm nhìn xa trông rộng, có khả năng (không nhất thiết phải là độc đoán, chuyên chế) và có cam kết lớn;
3) Kế hoạch phát triển quốc gia hiệu quả;
4) Khả năng điều phối các hoạt động kinh tế và các nguồn lực;
5) Hỗ trợ tầng lớp doanh nhân quốc gia mà sẽ phát triển trở thành tầng lớp tư sản quốc gia;
6) Tập trung vào nâng cao năng lực con người bằng cách đầu tư vào các chính sách xã hội, để thúc đẩy giáo dục, chăm sóc sức khỏe, nhà ở, các cơ
sở hạ tầng kinh tế xã hội khác;
7) Có niềm tin và sự tự tin vào việc xây dựng các định chế và tiêu chuẩn như pháp quyền, công lý, ổn định chính trị, và hòa bình để đảm bảo “sự tin tưởng thị trường” (market trust)
Hội đồng kinh tế Châu Phi của Liên hợp quốc và Liên minh châu Phi đưa ra một mẫu hình như sau: “Nhà nước kiến tạo phát triển là một nhà nước
mà, ngoài những điều khác, có tầm nhìn và khả năng thực hiện một chủ thuyết phát triển (leadership with a developmentalist ideology); có kế hoạch phát triển quốc gia mạnh; có tính tự chủ tương đối với các lực lượng trong xã hội;
Trang 27bộ máy hành chính quan liêu mạnh; và có cam kết nâng cao năng lực con người; có sự ổn định về chính trị; tuân thủ nguyên tắc pháp quyền; và hoạt động của chính quyền có thể dự báo trước” [52]
Qua các định nghĩa nêu trên về nhà nước kiến tạo phát triển, có thể thấy các nhà nghiên cứu tiếp cận khái niệm dựa trên hai góc độ, một là góc độ mục tiêu của nhà nước hay ý thức hệ hướng tới sự phát triển, hai là góc độ về cấu trúc thể chế hay cơ cấu bộ máy hành chính để hiện thực hóa các chính sách của nhà nước [11, tr.27-28] UNDP thì cho rằng đây là hai đặc điểm cơ bản của Nhà nước kiến tạo phát triển, đó là: 1) (có hoặc dựa trên) một tư tưởng về
sự phát triển; 2) (có hoặc dựa trên) những sắp xếp thể chế với các nguyên tắc
và tiêu chuẩn mà có thể hỗ trợ các quá trình phát triển
1.1.2 Quan điểm về nhà nước kiến tạo phát triển ở Việt Nam
Ở Việt Nam Nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là người đã gợi mở
về Nhà nước kiến tạo phát triển, trong bài viết xác định nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ nhiệm kỳ 2011-2016, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận định:
“Phải chuyển mạnh từ nhà nước điều hành nền kinh tế sang nhà nước kiến tạo phát triển… Trong nhà nước kiến tạo phát triển, chức năng của nhà nước
là xây dựng quy hoạch phát triển theo một chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đúng đắn; tạo môi trường và điều kiện cho các thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng trong môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế; tăng cường giám sát để phát hiện các mất cân đối có thể xảy ra, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn hệ thống” [24] Bắt đầu từ đó thuật ngữ “nhà
nước kiến tạo phát triển” được sử dụng khá phổ biến trong các thông điệp điều hành của Chính phủ Việt Nam và nhận được sự quan tâm đặc biệt của các diễn đàn học thuật, trở thành chủ đề chính trong nhiều nghiên cứu và các hoạt động khoa học trong nước
Sau khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói về Nhà nước kiến tạo phát triển, hai nhà nghiên cứu Ngô Huy Đức, Nguyễn Thị Thanh Dung của Viện Chính trị học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã công bố nghiên
Trang 28cứu của mình, trong đó nêu lên nội hàm của khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển bao gồm các đặc điểm sau [10]:
1) Nhà nước kiến tạo phát triển phải là một mô hình nhà nước pháp quyền, dân chủ;
2) Các cơ quan nhà nước hoạt động công khai, minh bạch và có trách nhiệm giải trình; đội ngũ công chức viên chức được tuyển chọn cạnh tranh, công bằng, đủ năng lực, tầm nhìn và tài năng để hoạch định chính sách phát triển, xây dựng các thể chế phát triển, phục vụ phát triển;
3) Nhà nước không can thiệp sâu vào đời sống kinh tế - xã hội của người dân và doanh nghiệp, chuyển từ vai trò quản lý, điều hành sang vai trò kiến tạo phát triển, như định hướng phát triển, hỗ trợ phát triển và quản trị rủi
ro trong phát triển;
4) Phi tập trung hóa quyền lực nhà nước, phân quyền và phân cấp rõ ràng, tạo điều kiện để các cơ quan nhà nước các cấp có khả năng độc lập, sáng tạo và tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước;
5) Quan hệ chặt chẽ với doanh nghiệp và người dân, tận tụy phục vụ nhu cầu phát triển của doanh nghiệp và người dân, tạo ra các điều kiện để mọi doanh nghiệp, mọi người dân được bình đẳng và tham gia sáng tạo vào quá trình tìm kiếm phúc lợi cho bản thân trên cơ sở làm bất cứ việc gì pháp luật không cấm
Trong một lần chất vấn của Đại biểu Quốc hội Vũ Tiến Lộc, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thái Bình vào Kỳ họp thứ IV Quốc hội Khóa XIV đối với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc về chính phủ kiến tạo phát triển, người đứng đầu Chính phủ và là người đang có những nỗ lực mạnh mẽ nhằm xây dựng
1 Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trả lời chất vấn ở Quốc Hội 18/11/2017 Có thể xem tại
https://www.youtube.com/watch?v=lSPcOkXEQcs
Trang 29Thứ 1: Chủ động thiết kế chính sách và pháp luật để đất nước phát triển, không để rơi vào thế bị động, mà Đảng cho rằng thể chế, pháp luật là điểm nghẽn của sự phát triển, thì hiện nay chúng ta phải chủ động tốt hơn
Thứ 2: Nhà nước không làm thay thị trường, nhân dân, nhân dân xã hội làm tốt điều gì thì để nhân dân xã hội làm
Thứ 3: Chính phủ phải kiến thiết được một môi trường kinh doanh thuận lợi, để môi trường kinh doanh không chỉ là nhóm đầu của khu vực ASEAN mà cần phải vươn lên nhóm các nước phát triển OECD
Thứ 4: Nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, để phục vụ người dân, nói chung một Chính phủ kiến tạo phải phục vụ người dân tốt nhất bằng an sinh
xã hội, bằng phúc lợi xã hội mà trước hết là y tế, giáo dục, thể thao, văn hóa
Thứ 5: Chính phủ kiến tạo là Chính phủ hành động, nói đi đôi với làm,
đề cao trách nhiệm cá nhân, thiết lập kỷ cương và đặc biệt phải thay thế ngay theo thẩm quyền những cán bộ không đáp ứng được yêu cầu
1.1.3 Khái niệm về nhà nước kiến tạo phát triển
Như vậy, thông qua việc nêu ra các quan niệm bằng cách khái quát đặc điểm về nhà nước kiến tạo phát triển của nhiều tác giả, bao gồm cả những học giả trong nước và quốc tế, thậm chí cả những nhà cầm quyền, có thể thấy rằng không có một quan niệm thống nhất về nhà nước kiến tạo phát mặc dù trong các định nghĩa có nhiều điểm tương đồng Nhà nước kiến tạo phát triển ở những quốc gia khác nhau mang những đặc điểm khác nhau, những đặc điểm khác nhau đó tạo ra những đặc trưng của nhà nước kiến tạo phát triển ở quốc gia đó, bởi vì điều kiện hoàn cảnh thực tế ở mỗi quốc gia không hề giống nhau, không có một hình mẫu chung nào cho một mô hình nhà nước kiến tạo phát triển trên thế giới, thay vào đó các quốc gia sẽ phải dựa trên điều kiện hoàn cảnh thực tế của đất nước mình mà có những giải pháp phù hợp để xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển Tuy nhiên, khi nhắc về nhà nước kiến tạo phát triển, người ta vẫn có những hình dung về những đặc điểm chung mà bất
Trang 30cứ quốc gia nào đã từng xây dựng đều có, dựa trên những nghiên cứu của nhiều tác giả, cộng với nghiên cứu các mô hình nhà nước kiến tạo phát triển trong thực tế, cá nhân tác giả đề xuất một khái niệm về nhà nước kiến tạo phát triển bằng cách liệt kê các đặc trưng như sau:
1) Nhà nước chủ động định hướng phát triển nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng những nguyên tắc, quy luật của thị trường;
2) Nhà nước và tư nhân hợp tác chặt chẽ, nhà nước định hướng dẫn dắt
tư nhân thông qua một cơ quan điều phối có quyền lực;
3) Nhà nước do đội ngũ tinh hoa chính trị lãnh đạo, bộ máy hành chính chuyên nghiệp có thẩm quyền, độc lập tương đối và chứng minh tính chính đáng chính trị của mình qua hiệu quả hoạt động;
4) Nhà nước phát triển và trọng dụng nhân tài, đầu tư vào các chính sách xã hội, thúc đẩy giáo dục, y tế và đảm bảo công bằng trong phát triển
1.2 Bản chất nhà nước kiến tạo phát triển
Như đã trình bày trên phần các quan niệm về Nhà nước kiến tạo phát triển, một trong những mục đích ban đầu và chính yếu được Chalmers Jonhson thừa nhận khi ông mở đầu ý tưởng về nhà nước kiến tạo phát triển là nhằm vượt qua sự tương phản giữa nền kinh tế Hoa Kỳ (điển hình của mô hình kinh tế tư bản thị trường tự do) và Liên bang Xô Viết (điển hình của mô hình kinh tế kế hoạch tập trung) Trong suốt một thời kỳ dài của chiến tranh lạnh có hai mô hình kinh tế thường xuyên là đối tượng nghiên cứu so sánh của các nhà nghiên cứu kinh tế là mô hình của Liên Xô - Đông Âu và mô hình của Mỹ - Tây Âu, nhưng mô hình của Nhật Bản không nằm trong bất cứ mô hình nào trong hai mô hình kể trên dù mang trong mình một số đặc điểm của
cả hai mô hình Như vậy có thể thấy rằng, bản chất của Nhà nước kiến tạo phát triển không phải là một kiểu nhà nước, kiểu nhà nước mà chủ nghĩa Mác nhắc đến dựa trên lý thuyết về hình thái kinh tế xã hội, nhưng nhìn từ góc độ quản trị quốc gia thì nhà nước kiến tạo phát triển có thể được xem là một mô
Trang 31hình nhà nước hay chính xác hơn là một mô hình quản trị nhà nước Từ mô hình Nhật Bản, Chalmers Jonhson chỉ ra mô hình Nhà nước kiến tạo phát triển mặc dù về cơ bản cũng đi theo mô hình nhà nước điều tiết và dân chủ phương Tây, lại thể hiện sự khác biệt mà như ông mô tả là dù “nhà nước không phải đóng vai trò thống soái như trong các nước xã hội chủ nghĩa, nhưng cũng không chỉ đóng vai trò thụ động “điều chỉnh” như ở các nước Anh, Mỹ mà có một vai trò lớn hơn nhiều, đặc biệt trong việc định hướng và tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực kinh tế trọng tâm một cách nhất quán và trong dài hạn “Mô hình nhà nước này khác với “các nhà nước xã hội chủ nghĩa” dù gần gũi về tính chất chỉ huy, định hướng kế hoạch phát triển Mặt khác, nó cũng khác với “nhà nước điều chỉnh” (Regulatory state) cho dù đều coi trọng thị trường và sở hữu tư nhân Nó là mô hình nhà nước đóng vai trò chủ đạo dẫn dắt sự phát triển kinh tế trong nền kinh tế thị trường, nó nằm giữa
2 thái cực: nền kinh tế chỉ huy tập trung và nền kinh tế thị trường tự do” [10]
Có một số nhà nghiên cứu khác thì cho rằng Nhà nước kiến tạo phát triển là một mô hình nhà nước can thiệp (interventionist state) “Đây là mô hình gần với mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa và đối lập với nhà nước thị trường tự do; ở những mô hình như này, nhà nước can thiệp vào các hoạt động kinh tế để “sửa chữa” những khiếm khuyết của thị trường, thúc đẩy sự công bằng và phúc lợi của các nhóm xã hội” [49] Theo nhà nghiên cứu Loriaux, nguyên nhân mà nhà nước kiến tạo phát triển mang bản chất của nhà nước can thiệp vì nó: “… là sự biểu hiện của một tiêu chuẩn hoặc khát vọng đạo đức sử dụng quyền lực can thiệp của nhà nước để hướng dẫn đầu tư theo
cách thúc đẩy tầm nhìn liên kết nhất định nền kinh tế quốc gia” [46, tr.24]
Nhà kinh tế học Hàn Quốc Ha-Joon Chang thi cho rằng nhà nước kiến tạo phát triển mang bản chất can thiệp đơn giản là bởi phát triển kinh tế là cốt lõi của một nhà nước kiến tạo phát triển, và yếu tố đó “… đòi hỏi nhà nước cần tạo ra và điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế và chính trị mà có thể hỗ trợ sự
Trang 32công nghiệp hóa liên tục” [37, tr.45] Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định rằng mức độ can thiệp của nhà nước kiến tạo phát triển vào thị trường tự do không giống như cách mà mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa điều hành nền kinh tế, mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa vốn còn được gọi là mô hình kinh tế
kế hoạch hóa tập trung, xóa bỏ hoàn toàn thị trường thay vào đó là các kế hoạch sản xuất tiêu dùng mà nhà nước xây dựng, còn nhà nước kiến tạo phát triển mặc dù có can thiệp vẫn chấp nhận thị trường tự do, nhà nước chỉ can thiệp để khắc phục những khiếm khuyết và hỗ trợ nền kinh tế đúng vào quỹ đạo phát triển Chalmers Jonhson thì cho rằng mục đích của sự can thiệp là
“nhằm phối hợp, liên kết giữa thành phần kinh tế tư nhân với nhà nước, điều này được nhấn mạnh thêm khi ông đưa ra định nghĩa về “Developmantal state”, ông cho rằng nhà nước kiến tạo phát triển là “cách viết tắt của một mạng lưới liền mạch về chính trị, quan chức, và uy thế của tiền bạc giúp tạo nên đời sống kinh tế ở các nền tư bản Đông Bắc Á” [11, tr.21] Sở dĩ sự can thiệp của nhà nước nhằm thúc đấy mối liên hệ và tạo ra một mạng lưới liền mạch là bởi trong nhà nước kiến tạo phát triển, kinh tế tư nhân là một chủ thể quan trọng, là đối tác của chính quyền, thậm chí là động lực trụ cốt trong sự phát triển Tuy chấp nhận thị trường tự do và xem kinh tế tư nhân là động lực phát triển của nền kinh tế, nhưng rõ ràng mô hình quản trị kiểu nhà nước kiến tạo phát triển không thể coi là mô hình quản trị theo chủ nghĩa tân tự do, bởi
sẽ thật khó để đạt được các mục tiêu phát triển lớn trong ngắn hạn mà nền kinh tế vận hành trên nguyên lý của chủ nghĩa tự do, nơi mà quyền lực của nhà nước thường rất bị giới hạn trong hoạch định chính sách và gây ảnh hưởng đến các thiết chế, doanh nghiệp và cộng đồng để họ để họ đi theo một chiến lược phát triển toàn diện nhất định được vạch ra bởi nhà nước trước đó [36, tr.05-111]
Đến đây có thể kết luận rằng, bản chất của nhà nước kiến tạo phát triển
là một mô hình quản trị quốc gia, nó không phải là một kiểu nhà nước, trong
Trang 33mô hình đó nhà nước thực hiện vai trò của mình nhằm “sửa chữa” các khiếm khuyết của thị trường, hỗ trợ quỹ đạo phát triển cho quốc gia Đây là mô hình quản trị tồn tại những đặc điểm tương đồng của cả hai mô hình quản trị kinh
tế ra đời trước đó là mô hình kinh tế điều chỉnh mà đại diện là Hoa Kỳ và mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung mà đại diện là Liên bang Xô viết Tuy có những đặc điểm gần gũi của hai mô hình nói trên, nhưng nhà nước kiến tạo phát triển được xem là mô hình ở giữa kết hợp được những yếu tố tích cực và loại bỏ những hạn chế của hai mô hình kinh tế trên
1.3 Phân loại nhà nước kiến tạo phát triển
Nhà nước kiến tạo phát triển lần đầu xuất hiện trong nghiên cứu của Chalmers Jonhson về mô hình nhà nước của Nhật Bản sau đó nó tiếp tục xuất hiện trong các nghiên cứu về mô hình nhà nước của Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore là các nước ở khu vực Đông Á Có nguồn gốc từ Đông Á, song ngày này nhiều nhà nghiên cứu lại cho rằng tồn tại nhiều mô hình nhà nước kiến tạo phát triển khác ngoài mô hình ở Đông Á, các học giả này dựa trên những đặc điểm lý thuyết về nhà nước kiến tạo phát triển đã được nhiều nghiên cứu công bố kể từ sau khi Chalmers Jonhson khởi đầu về ý tưởng nhà nước kiến tạo phát triển Do mỗi quốc gia có những điều kiện kinh tế - xã hội, khu vực địa lý và nền tảng văn hóa khác nhau, nên mô hình nhà nước kiến tạo phát triển mỗi quốc gia, mỗi khu vực lại có những đặc trưng riêng biệt Có thể nêu ra một số mô hình sau đây dựa trên các nhóm tiêu chí cụ thể
1.3.1 Phân loại dựa trên tiêu chí về vị trí địa lý
Phân loại nhà nước kiến tạo phát triển theo khu vực và quốc gia dựa trên quan điểm của nhà kinh tế học Hàn Quốc Ha Joon Chang, ông cho rằng
nhà nước kiến tạo phát triển theo nghĩa chung nhất là “nhà nước có sự can thiệp chủ động để đẩy mạnh phát triển kinh tế”, theo định nghĩa này Ha Joon
Chang cho rằng sẽ có 3 kiểu nhà nước kiến tạo phát triển đã từng có trong các giai đoạn lịch sử khác nhau:
Trang 34a) Nhà nước kiến tạo phát triển ở Đông Á
Nhà nước kiến tạo phát triển của Đông Á là điển hình của mô hình nhà nước kiến tạo phát triển trên toàn thế giới, chính Đông Á là nơi sản sinh ra nhà nước kiến tạo phát triển, sau đó mô hình này được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới như ở Đông Nam Á, một số nước Châu Phi và Mỹ lating Ở
mô hình Đông Á, Nhật Bản là ví dụ kinh điển nhất về nhà nước kiến tạo phát triển trong thời kỳ 1950 - 1980, khi mà chính phủ Nhật Bản có những chính sách tác động trực tiếp và sâu rộng vào nền kinh tế Tuy nhiên không phải mô hình nhà nước kiến tạo phát triển nào ở Đông Á cũng vận hành như nhau, mỗi quốc gia đều có những đặc điểm khác biệt, ví dụ về Hàn Quốc trong những năm 1960 - 1980, chính phủ nước này đã sử dụng một cơ quan thí điểm có
quyền lực rất lớn là cơ quan điều phối siêu bộ (EPB - Ủy ban Kế hoạch Kinh
tế) để chủ động dẫn dắt sự phát triển, thông qua các chính sách đột phá (lựa chọn một vài ngành công nghiệp mũi nhọn và tập trung rất nhiều nguồn lực
để phát triển), bên cạnh đó Hàn Quốc thực hiện sở hữu nhà nước đối với toàn
bộ khối ngân hàng [39] Đó là những đặc điểm khác biệt mà nhà nước kiến tạo phát triển Nhật Bản không có Mô hình Đài Loan cũng có sự khác biệt so với mô hình của Nhật Bản và Hà Quốc, chính phủ Đài Loan không có những định hướng mạnh mẽ hay dùng quyền lực kiểm soát để dẫn dắt nền kinh tế, ở Đài Loan đa phần các doanh nghiệp là vừa và nhỏ, không có các doanh nghiệp đại quy mô như ở Nhật hay Hàn Quốc, và do vậy nhà nước cũng không cho rằng cần các can thiệp định hướng mạnh đối với khu vực tư Không như chính phủ của hai quốc gia trên, chính phủ Đài Loan chú trọng cung cấp nguồn tài chính cho các công ty thực hiện các hoạt động nghiên cứu
và phát triển, khuyến khích các hoạt động R&D của các doanh nghiệp
Mặc dù nhà nước kiến tạo phát triển chủ yếu được thiết lập từ nhu cầu của các nước đang phát triển, nhưng một số nước phát triển cũng đã từng áp dụng mô hình này bằng việc thực thi một số các công cụ của nhà nước kiến
Trang 35tạo phát triển, ví dụ như nước Pháp, nhà nước thông qua Ủy ban Kế hoạch (Commissariat Général du Plan) để chủ động định hướng, dẫn dắt các đầu tư
và sử dụng sức mạnh của các doanh nghiệp nhà nước là đầu tàu [9, tr.51]
b) Mô hình nhà nước kiến tạo phát triển Bắc Âu
Các mô hình nhà nước Bắc Âu hay còn gọi là Scandinavia có những đặc điểm của nhà nước kiến tạo phát triển như các định hướng chủ động trong các chính sách phát triển các ngành công nghiệp, cho dù không ở phạm vi rộng như các nước Đông Á Nhà nước Thụy Điển đã từng tập trung đột phá vào các ngành như luyện kim (giữa thế kỷ 18), đường sắt (1850), thủy điện (1890) v.v thông qua sự hợp tác và chủ động dẫn dắt khối doanh nghiệp tư nhân Đầu những năm thế kỷ XX, nhà nước Thụy Điển cũng thông qua các chính sách bảo vệ các ngành công nghiệp nặng của mình Nhà nước Đan Mạch cũng đã từng can thiệp vào các chính sách ưu tiên định hướng cho sự phát triển xuất khẩu nông sản của mình, và là động lực tăng trưởng chính trong những năm 1930 [9, tr.52]
Các nước Scandinavia có sự chủ động trong đầu tư cho các hướng nghiên cứu phát triển, làm nền tảng cho các ngành công nghiệp được lựa chọn
và ưu tiên Cho đến nay, các viện và trung tâm nghiên cứu và phát triển lớn ở các nước này phần lớn là của nhà nước chứ không phải của khối tư nhân Các chính sách phúc lợi cũng được định hướng để thúc đẩy sự biến đổi cơ cấu kinh tế và do vậy làm giảm sức ép chính trị đối với các đợt tái cơ cấu kinh tế
do nhà nước chủ động dẫn dắt Mô hình của các nước Scandinavia cho thấy
có thể có nhiều cách thức khác nhau mà không nhất thiết phải quá nhấn mạnh vai trò thống trị của nhà nước một cách thái quá như ở các mô hình Đông Á,
và nhà nước kiến tạo có thể được thực hiện thông qua nhiều công cụ khác nhau như chính sách phúc lợi, R&D v.v tùy thuộc vào bối cảnh chính trị xã hội và điều kiện phát triển
Trang 36c) Mô hình nhà nước kiến tạo từng tồn tại ở Mỹ
Nước Mỹ mặc dù được xem là “đối cực” của nhà nước kiến tạo hiện nay, cũng đã là nơi phát kiến các ý tưởng và thực hiện các chính sách của nhà nước kiến tạo Một trong các ý tưởng cốt lõi của nhà nước kiến tạo là việc bảo vệ các ngành công nghiệp non trẻ (Infantry industry) chính là xuất phát
từ Bộ trưởng Tài chính đầu tiên Alexander Hamilton năm 1791 Từ những năm 1830 cho đến Chiến tranh thế giới thứ II, Mỹ là nước có chính sách bảo
hộ mậu dịch mạnh mẽ nhất Sự bảo hộ đó không phải là bảo vệ chung chung
mà có định hướng của nhà nước đối với đường sắt, nông nghiệp, giao thông thủy v.v Bên cạnh đó, nhà nước cũng chủ động ưu tiên khu vực R&D
Ngay cả sau Chiến tranh thế giới thứ II, khi đã nắm giữ các địa vị thống trị và bắt đầu kêu gọi “tự do hóa thương mại và đầu tư”, Mỹ vẫn ẩn giấu các đặc điểm của nhà nước kiến tạo phát triển theo cách đặc biệt, đó là
sự chủ động tạo lập mạng lưới giữa các chuyên gia trong và ngoài nhà nước,
để áp dụng các thành tựu khoa học - công nghệ mới vào kinh tế một cách nhanh và có lợi nhất Block gọi đây là kiểu “Nhà nước mạng lưới phát triển” (Developmantal network state), khác biệt với “Nhà nước hành chính phát triển” (Developmental bureaucratic state) của các nước Đông Á Ở Mỹ thì không có thể chế hành chính kiểu một siêu cơ quan điều phối định hướng đầu tư, vốn là đặc điểm chung cho các nhà nước kiến tạo phát triển ở Đông
Á Các định hướng của nhà nước thường được che giấu dưới các kế hoạch tài trợ cho R&D trong quốc phòng, hay y tế cộng đồng, mà các kết quả cuối cùng cũng được thương mại hóa và giúp Mỹ chiếm thượng phong trên thị trường thế giới
Dù có thể còn nhiều tranh cãi, nhưng thực tế là rất nhiều ngành công nghiệp của Mỹ có được lợi thế cạnh tranh do chính các định hướng, các đơn đặt hàng và đầu tư của nhà nước mà các ví dụ nổi bật là công nghiệp máy tính điện tử, dược phẩm, công nghệ gen v.v [9, tr 53]
Trang 371.3.2 Phân loại dựa trên tiêu chí về mức độ dân chủ
Dạng thứ nhất là các nhà nước kiến tạo phát triển xuất hiện vào giai đoạn nửa sau thể kỷ XX, mà đặc trưng là “những con Rồng châu Á” như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore đều được xếp vào những mô hình nhà nước kiến tạo cổ điển có xu hướng độc tài chuyên chế Mức độ chuyên chế ở các quốc gia này có khác nhau và được xem là cần thiết để tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển Ở các mô hình Đông Á quyền lực nhà nước được tập trung cao độ nhằm huy động nguồn lực phục vụ cho các nhu cầu ưu tiên mà chính phủ có sự tập trung quyền lực đó
đã xác định, đồng thời giảm bớt các lực cản khi ban hành chính sách và quyết định chính trị Đội ngũ công chức hành chính có không gian tương đối rộng
và ít bị ràng buộc hơn về mặt tư pháp để có đủ sự độc lập để sáng tạo và hoàn thành công việc Trong mô hình Đông Á, một nền chính trị thiếu dân chủ chỉ
là điều kiện cần thiết để xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển, có những mục đích lớn lao phải thực hiện và thiếu dân chủ bị xem như là công cụ nhằm đạt được mục tiêu đó Sự thật lịch sử đã cho thấy rõ điều đó, ví dụ điển hình là nhà nước Hàn Quốc ngày nay, sau khi đạt được những mục tiêu phát triển lớn
đề ra khi bắt tay xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển, giờ đây Hàn Quốc đã hoàn toàn từ bỏ một nền chính trị vận hành thiếu dân chủ, nền kinh tế Hàn Quốc hiện tại là một nền kinh tế theo chủ nghĩa Tân tự do Thông thường các nền dân chủ thường sẽ rất khó để đạt được các mục tiêu lớn trong một thời gian ngắn như Hàn Quốc đã từng làm được, các thể chế của chủ nghĩa tự do thường xuyên gây quá nhiều cản trở hoặc làm chậm chễ các quá trình ra quyết định của chính phủ và làm mất đi các thời cơ phát triển hoặc làm cho các chính sách bị đứt đoạn, thiếu nhất quán và xuyên suốt
Dạng thứ hai dựa trên mức độ dân chủ là dạng nhà nước kiến tạo phát triển mới nổi có tính chất dân chủ và mới chỉ được thực hiện ở thế kỷ XXI như ở Botswana, Mauritius [51, tr.13] Các mô hình này xuất hiện là một sự
Trang 38chuyển đổi và nó không làm mất đi quan niệm về nhà nước kiến tạo phát triển
cổ điển, nó chỉ đem đến một cách hiểu mới một sự thay đổi để phù hợp hơn với bối cảnh hiện tại Các mô hình nhà nước kiến tạo phát triển mới nổi ra đời
có sự dung hợp các nguyên tắc dân chủ, quản trị tốt, pháp quyền trong khi vẫn giữ được đặc trưng cốt lõi nhất của nhà nước kiến tạo phát triển Như mô hình
mà UNDP đề xuất, một mô hình quản trị vẫn mang các thuộc tính của nhà nước kiến tạo phát triển truyền thống như sự dẫn dắt của giới tinh hoa, tự chủ của nhóm công chức, gắn kết giữa chính quyền và doanh nghiệp kết hợp với việc tạo lập các liên minh rộng rãi với xã hội và bảo đảm sự tham gia của người dân vào quá trình quản trị và chuyển đổi Cho dù mô hình nhà nước kiến tạo phát triển dung hợp này dưới hình thức chính quyền nào thì nó cũng cần phải đảm bảo trách nhiệm giải trình, sự ổn định, đồng thuận, sự tham gia của quần chúng và không ai bị loại trừ khỏi quá trình phát triển [39, tr.22]
1.3.3 Phân loại dựa trên tiêu chí về mức độ thành công
Theo UNDP, trong khi hầu hết các nhà nước kiến tạo phát triển ở Đông
Á và một số nước ở châu lục khác, đạt được thành công cao trong phát triển kinh tế nhờ vào áp dụng các biện pháp như tạo ra sự ổn định kinh tế vĩ mô, tập trung nguồn lực vào một số ngành công nghiệp trọng điểm và hướng tới xuất khẩu, thúc đẩy phúc lợi xã hội, phát triển cơ sở hạ tầng Trường hợp Nhật Bản có một số yếu tố được nhấn mạnh mà theo Chalmers Jonhson sự thần kỳ của nước này có được có nguyên nhân chủ yếu từ văn hóa của người Nhật đã giúp họ cộng tác với nhau trong mọi trường hợp, cũng như trong việc duy trì chất lượng sản phẩm Chalmers Jonhson cho rằng, đóng góp quan trọng nhất từ phương diện văn hóa vào đời sống kinh tế của Nhật Bản là sự đồng thuận giữa chính phủ, các đảng chính trị, những người lãnh đạo các ngành công nghiệp và cả người dân Nhật Bản, về mục tiêu và cách thức thực hiện các mục tiêu kinh tế của quốc gia [11, tr.32] Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc cũng có những công thức của riêng mình để đạt được sự thành công
Trang 39thần kỳ, vượt bậc, làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế như ngày nay của các quốc gia này
Trái lại ở Châu Phi và Mỹ Lating, mặc dù cũng đã có những thành công nhất định trong giai đoạn đầu xây dựng, nhưng về cơ bản ở những khu vực này nhà nước kiến tạo phát triển bị đánh giá là thiếu hiệu quả do còn tồn tại một bộ máy cồng kềnh, kém hiệu quả, thiếu tính chuyên nghiệp và bị chi phối bởi các lợi ích nhóm; các doanh nghiệp nhà nước được hy vọng sẽ tạo ra những thay đổi để kéo nền kinh tế đi lên nhưng đã không đạt được kỳ vọng vì hoạt động kém hiệu quả; cơ sở hạ tầng không đủ tốt dù có đầu tư công [53, tr10-11]
Tiểu kết chương 1
Khái niệm nhà nước kiến tạo phát triển ra đời lần đầu tiên sau năm
1982 khi Chalmers Jonhson công bố nghiên cứu của mình về sự phát triển của Nhật Bản Chalmers Jonhson gọi mô hình nhà nước đó của Nhật Bản là
“Developmental State”, một khái niệm mà khi dịch sang tiếng Việt có thể bị nhầm lẫn với khái niệm quốc gia phát triển trong sự phân biệt với các quốc gia lạc hậu, khái niệm này được dịch sang tiếng Việt là “nhà nước kiến tạo phát triển”
Nhà nước kiến tạo phát triển là mô hình nằm giữa hai thái cực: mô hình nhà nước điều chỉnh của phương Tây và mô hình chỉ huy của Liên Xô và các nước Xã hội Chủ nghĩa, mặc dù bản chất vẫn là kiểu nhà nước điều chính kiểu phương Tây, nhưng nhà nước kiến tạo phát triển không chỉ đóng vai trò thụ động “điều chỉnh” như ở các nước Anh, Mỹ mà có một vai trò lớn hơn nhiều, đặc biệt trong việc định hướng và tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực kinh tế trọng tâm một cách nhất quán và trong dài hạn, nhưng nó cũng không phải đóng vai trò thống soái như trong các nước xã hội chủ nghĩa Nhà nước kiến tạo phát triển được cho là ra đời ở Đông Á từ sau chiến tranh thế giới thứ II
Trang 40khi mà các quốc gia ở khu vực này bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, đất nước nghèo đói kiệt quệ và tài nguyên thiên nhiên hầu như không có gì Tuy nhiên nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nhà nước kiến tạo theo một số tiêu chí của Chalmers Jonhson thậm chí còn ra đời sớm hơn trước đó, ở các nước Bắc
Âu là một ví dụ [9, tr.52] Dựa trên các tiêu chí cụ thể mà nhà nước kiến tạo phát triển được phân loại theo nhiều dạng khác nhau Dựa trên tiêu chí địa lý
có mô hình nhà nước kiến tạo phát triển kiểu Đông Á, kiểu Bắc Âu Dựa trên tiêu chí về mức độ dân chủ thì có mô hình nhà nước kiến tạo phát triển cổ điển ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan đều được xem là kiểu mô hình nhà nước thiếu dân chủ, có xu hướng chuyên chế Một số mô hình nhà nước kiến tạo phát triển được thiết kế gần đây đã cố gắng dung nạp các yếu tố dân chủ như trách nhiệm giải trình, xã hội dân sự… cho phù hợp với bối cảnh mới, đó là mô hình thứ hai theo tiêu chí về mức độ dân chủ, có thể kể đến một
số nước ở Mỹ Lating và Châu Phi Dựa trên tiêu chí về mức độ thành công thì
có nhà nước kiến tạo phát triển thành công như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, ngược lại tồn tại các nhà nước kiến tạo phát triển kém hiệu quả như ở châu Phi và Mỹ Lating