1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mảnh đất và con người nam bộ trong truyện ngắn nguyễn ngọc tư dưới góc nhìn địa văn hóa

113 279 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 535 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất thân từ Nam Bộ, nhiều nhà văn đã viết về quê hương vớitình yêu máu thịt, tiêu biểu như Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam,Đoàn Giỏi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng,…Sáng tác của họ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-BÙI VĂN KHÔI

MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƯỜI NAM BỘ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ

DƯỚI GÓC NHÌN ĐỊA- VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-BÙI VĂN KHÔI

MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƯỜI NAM BỘ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ

DƯỚI GÓC NHÌN ĐỊA- VĂN HÓA

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Văn Đức

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn do tôi thực hiện Những kết quả từ những tác giả trước mà tôi sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng, cụ thể Không có bất kỳ sự không trung thực nào trong các kết quả nghiên cứu Nếu có gì sai trái, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Học viên

Bùi Văn Khôi

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS TS Hà Văn Đức, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, chu đáo và luôn động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Sự chỉ bảo tận tâm của thầy đã mang lại cho tôi hệ thống các phương pháp, kiến thức cũng như kỹ năng hết sức quý báu để có thể hoàn thiện đề tài một cách tốt nhất

Tôi xin được cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, quý thầy giáo, cô giáo Phòng Đào tạo Sau đại học và thầy giáo, cô giáo khoa Văn học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là các thầy cô giáo bộ môn Văn học Việt Nam, khoa Văn học – những người mà trong thời gian qua đã dạy

dỗ, truyền thụ kiến thức khoa học, giúp tôi từng bước trưởng thành

Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân, gia đình và bạn bè – những người đã hỗ trợ, tạo điều kiện để tôi có thể học tập đạt kết quả tốt và thực hiện thành công luận văn này

Cuối cùng tôi xin cảm ơn các bạn học viên lớp Cao học Văn học Việt Nam (khóa học 2017- 2019) đã luôn chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và cảm xúc trong những ngày tháng tôi học tập tại mái trường Khoa học xã hội & Nhân văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Học viên

Bùi Văn Khôi

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Những đóng góp của luận văn 7

7 Cấu trúc luận văn 7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊA - VĂN HÓAVÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 8

1.1 Văn hóa và văn học 8

1.1.1 Văn hóa 8

1.1.2 Quan hệ giữa văn hóa và văn học 11

1.2 Địa- văn hóa và văn học 13

1.2.1 Địa - văn hóa 13

1.2.2 Địa - văn hóa trong nghiên cứu văn học 15

1.3 Những yếu tố hình thành dấu ấn địa- văn hóa trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư 16

1.3.1 Điều kiện địa lí tự nhiên và xã hội của vùng đất Nam Bộ 16

1.3.2 Tiểu sử con người nhà văn 19

1.4 Hành trình và quan điểm sáng tác của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư 20

1.4.1 Hành trình sáng tác 20

1.4.2 Quan điểm sáng tác 21

Chương 2 DẤU ẤN ĐỊA - VĂN HÓA VỀ MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƯỜI NAM BỘ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ 25

2.1 Dấu ấn địa – văn hóa về mảnh đất Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 25

Trang 6

2.1.1 Văn hóa miệt vườn 25

2.1.3 Văn hóa ẩm thực 32

2.1.4 Sinh hoạt văn hóa và tín ngưỡng 37

2.2 Dấu ấn địa – văn hóa về con người Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 41

2.2.1 Con người bộc trực, thẳng thắn, rạch ròi trong ứng xử 41

2.2.2 Con người trọng nhân nghĩa, thủy chung: 43

2.2.3 Con người nghĩa hiệp, hào phóng, hòa đồng, hiếu khách 47

2.2.4 Con người có tâm hồn nghệ sĩ, cô đơn 50

2.3 Nguy cơ xâm thực văn hóa Nam Bộ 53

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ TỪ GÓC NHÌN ĐỊA- VĂN HÓA 63

3.1 Biểu tượng văn hóa 63

3.1.1 Khái niệm biểu tượng văn hóa 63

3.1.2 Một số biểu tượng văn hóa trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 64

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 72

3.2.1 Xây dựng nhân vật qua miêu tả ngoại hình 73

3.2.2 Xây dựng nhân vật qua mô tả hành động, lời nói 76

3.2.3 Khắc họa nội tâm nhân vật………78

3.2.4 Đặt nhân vật vào tình huống lưu lạc, phân li………82

3.2.5 Mờ hóa, tẩy trắng tên nhân vật………87

3.3 Nghệ thuật sử dụng ngôn từ 88

3.4 Giọng điệu 94

3.4.1 Giọng trữ tình, khắc khoải, xót thương 94

3.4.2 Giọng dân dã, tự nhiên 96

3.4.3 Giọng triết lí bình dân 97

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Vùng đất Nam Bộ với tư cách là một vùng văn hóa đặc sắc đã mangđến cho nền văn học Việt Nam hiện đại những mảng đề tài phong phú và vôcùng hấp dẫn Xuất thân từ Nam Bộ, nhiều nhà văn đã viết về quê hương vớitình yêu máu thịt, tiêu biểu như Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam,Đoàn Giỏi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng,…Sáng tác của họ phản ánh sâusắc hiện thực đời sống mảnh đất và con người của vùng đất phương Nam,được xem như là những tư liệu văn hóa đặc sắc về vùng đất Nam Bộ Gầnđây, Nguyễn Ngọc Tư là cái tên được nhắc đến nhiều nhất khi nói đến vănhọc Nam Bộ hiện đại Cùng viết về mảnh đất và con người Nam Bộ nhưngchị đã tạo cho mình một lối đi riêng không lẫn với một ai khác Bằng tài năngvăn chương thiên bẩm, trái tim giàu trắc ẩn, Nguyễn Ngọc Tư sâu sắc, tinh tếkhi viết về mảnh đất và con người Nam Bộ với những dấu ấn địa- văn hóa đặctrưng, riêng có Tình yêu quê hương xứ sở, nhu cầu được là chính mình, khaokhát sống một cuộc đời có ý nghĩa, hướng đến giá trị chân, thiện, mĩ đã thôithúc chị viết Dòng cảm hứng sáng tác được khơi nguồn từ những chất liệuvốn có của đời sống hiện thực Nam Bộ đã giúp chị cũng như những nhân vậtcủa chị không bị bứng khỏi cội rễ, lạc điệu với truyền thống của dân tộc, bảnsắc văn hóa của vùng đất tân lập

Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Ngọc Tư đã có hàng trămtruyện ngắn, tùy bút, tản văn Tác phẩm của chị không chỉ phổ biến trongnước mà còn được nhiều độc giả quốc tế quan tâm, nghiên cứu Có thể cónhiều hướng nghiên cứu về hiện tượng Nguyễn Ngọc Tư, với luận văn này,chúng tôi triển khai từ góc nhìn địa- văn hóa Tìm hiểu tác phẩm văn học từgóc nhìn địa- văn hóa là việc chúng ta đặt tác phẩm đó trở lại với hiện thực

Trang 8

đời sống đã sản sinh ra nó để nhận thấy được mối quan hệ hai chiều giữa tácphẩm văn học với đời sống hiện thực mà nó phản ánh Từ tác phẩm vănchương, ta sẽ hiểu hơn về một vùng đất và từ những hiểu biết về địa – văn hóacủa vùng đất đó, chúng ta cũng sẽ hiểu được sâu sắc hơn giá trị nội dung và

nghệ thuật của tác phẩm Vì thế chúng tôi chọn đề tài “Mảnh đất và con người Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư dưới góc nhìn địa- văn hóa” để có thêm một cái nhìn về văn chương của chị.

2 Lịch sử vấn đề

Vào những năm đầu thế kỉ XX, nghiên cứu văn học dưới góc nhìn vănhóa đã được quan tâm với các công trình nghiên cứu của Đào Duy Anh, Đặng

Thai Mai, Hoài Thanh Trong cuốn Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận

đại (Nxb Giáo dục, 1999), tác giả Trần Đình Hượu đã chỉ ra sự tác động của

Nho giáo đối với văn học Việt Nam trung đại và cận đại Tiếp đó, Trần NgọcVương cụ thể hơn hướng nghiên cứu này bằng cái nhìn loại hình học trong

công trình Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam (Nxb Giáo dục 1995) Tác giả Trần Nho Thìn trong cuốn Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa

(Nxb Giáo dục, 2003) cũng đề cập tới vấn đề tiếp cận văn học từ góc nhìn vănhóa Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa còn được vận dụng để nghiên

cứu một tác giả văn học như: Đỗ Lai Thúy với công trình Hồ Xuân Hương,

hoài niệm phồn thực (Nxb Văn hóa thông tin, 1999), Đỗ Thị Ngọc Chi với Văn chương Vũ Bằng dưới góc nhìn văn hóa (Luận án tiến sĩ, 2013),… Điểm

qua lịch sử nghiên cứu có thể thấy nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa làmột hướng nghiên cứu quan trọng và đã có nhiều thành tựu, góp phần bổ sungthêm những cái nhìn mới đầy đủ và sâu sắc hơn về văn chương

Nếu như tiếp cận văn hóa – văn học đã trở nên quen thuộc trong nghiêncứu văn học thì tiếp cận địa - văn hóa- văn học chưa được nhiều học giả quantâm Việc nghiên cứu văn học từ góc nhìn địa - văn hóa góp phần bổ sungthêm một cái nhìn liên ngành đa dạng hơn khi chúng ta đặt tác phẩm văn học

Trang 9

trở lại với môi trường sản sinh ra nó để có cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về

giá trị nội dung và nghệ thuật Trong cuốn Việt Nam cái nhìn Địa– Văn hóa

(Nxb Văn hóa dân tộc, 1998), Trần Quốc Vượng đã chỉ ra mối quan hệ giữađiều kiện tự nhiên, môi trường sống của các cộng đồng dân tộc Việt Namtrong việc hình thành nên các vùng văn hóa trong cả nước Những thành tựu

đó sau này được Đặng Hiển vận dụng để nghiên cứu văn học trong cuốn Văn

học dưới góc nhìn Địa– Văn hóa (Nxb Hội nhà văn, 2016).

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư được đông đảo độc giả yêu mến vì các sángtác của chị mang đậm dấu ấn địa- văn hóa của vùng đất Nam Bộ Khi tập

truyện đầu tay Ngọn đèn không tắt đoạt giải của Hội Liên hiệp văn học nghệ

thuật Việt Nam, cái tên Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu được các nhà văn lớp trướcnhư Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang Sáng, Chu Lai, Dạ Ngân, Hữu Thỉnh, HồAnh Thái để ý đến và dành cho chị nhiều ngợi khen Nhà văn NguyễnQuang Sáng, trong lời tựa tập truyện “Ngọn đèn không tắt” (Nxb Trẻ, 2000,

tr.03), đã có nhận xét: “Với giọng văn mộc mạc bình dị, với ngôn ngữ đời

thường, Nguyễn Ngọc Tư đã tạo nên một không khí rất tự nhiên về màu sắc, hương vị của mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc – mũi Cà Mau ” Không

ngần ngại, Chu Lai khẳng định: “Nguyễn Ngọc Tư là cây bút tiêu biểu của

miền Tây Nam Bộ, một tài năng văn học hiếm có hiện nay của văn học Việt Nam” (HàLinh – “Chia sẻ cùng Nguyễn Ngọc Tư và Cánh đồng bất tận”,

http://www.vnexpress.net, 2006) Huỳnh Công Tín với bài viết “Nguyễn

Ngọc Tư, một nhà văn trẻ Nam Bộ” đánh giá: “Nhân vật trong tác phẩm của

chị mang những tâm tư, nguyện vọng hết sức đời thường …vùng đất và con người Nam Bộ trong sáng tác của chị được dựng lại bằng chính chất liệu của

nó là ngôn từ và văn phong nhiều chất Nam Bộ của chị”[41] Trong một cuộc

trao đổi cùng Chu Lai và Trung Trung Đỉnh về tập truyện ngắn “Cánh đồng

bất tận”, Hữu Thỉnh nhấn mạnh:“Cánh đồng bất tận viết về những con người

Nam Bộ với tính cách đặc thù: chân thực, chất phác, hồn nhiên và bản năng”

Trang 10

(Hà Linh - “Chia sẻ cùng Nguyễn Ngọc Tư và Cánh đồng bất tận”,

http://www.vnexpress.net, 2006)

Tiêu biểu và đáng kể nhất phải nói tới các bài viết của Trần Hữu Dũng(Giáo sư kinh tế Đại học Wright State tại Dayton, Ohio, Mỹ) trên websiteriêng Viet-studies, ông thiết kế để đăng tải các bài viết và tác phẩm củaNguyễn Ngọc Tư Ông nghiên cứu rất sâu giá trị nội dung và nghệ thuật cáctác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư Ông đề cao sự tài tình trong việc sử dụngngôn ngữ Nam Bộ của Nguyễn Ngọc Tư làm chất liệu sáng tác và cho đó lànét rất riêng, sự khác biệt của Nguyễn Ngọc Tư với các nhà văn khác Ông

cho rằng văn chương Nguyễn Ngọc Tư là “đặc sản miền Nam”.

Không chỉ dừng lại ở đó, hiện tượng Nguyễn Ngọc Tư cùng vănchương của chị còn là đề tài hấp dẫn của các công trình, đề tài khoa học Tiêubiểu như:

- Luận văn Thạc sĩ văn học Việt Nam của Lương Thị Kim Thoa, Đạihọc KHXH&NV Hà Nội, năm 2008 với đề tài “ Tiếp cận sáng tác củaNguyễn Ngọc Tư và Đỗ Bích Thúy từ phương diện văn học- văn hóa”;

- Luận văn thạc sĩ văn học của Hoàng Thị Hà, Đại học Sư phạm Hà Nội,năm 2013 với đề tài “Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư dưới góc nhìn văn hóa”;

- Luận án Tiến sĩ văn học của Nguyễn Thanh Hồng, Đại họcKHXH&VN Hà Nội, 2016 với đề tài “Những cách tân nghệ thuật trongtruyện ngắn của một số cây bút nữ từ 1986 đến nay (Nguyễn Thị Thu Huệ,Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy)”;

- Luận án Tiến sĩ văn học của Phạm Thị Thu Thủy, Đại học Sư phạm

Hà Nội, năm 2017 với đề tài “Con người Nam Bộ trong sáng tác văn xuôi HồBiểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và Nguyễn Ngọc Tư”

Như vậy, điểm qua lịch sử nghiên cứu có thể thấy, nghiên cứu tác phẩmvăn học dưới góc nhìn địa- văn hóa, đặc biệt là trong truyện ngắn NguyễnNgọc Tư chưa được chú ý đến Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập

Trang 11

đến một số phương diện về nội dung và nghệ thuật trong sáng tác NguyễnNgọc Tư, tuy nhiên phần lớn các công trình nêu trên mới chỉ tiếp cận sáng tácNguyễn Ngọc Tư trong mối liên hệ với nhóm nhà văn hoặc có nghiên cứutrực tiếp về Nguyễn Ngọc Tư nhưng chưa có công trình nào khai thác vềmảnh đất và con người Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư dưới gócnhìn địa- văn hóa.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Nhận diện một cách khái quát con đường văn nghiệp của nhà vănNguyễn Ngọc Tư cũng như vị thế của chị trong văn học Việt Nam hiện đại

- Đi sâu vào tìm hiểu mảnh đất và con người Nam Bộ trong truyệnngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn địa – văn hóa trên cả hai phương diện nộidung và nghệ thuật, từ đó thấy được dấu ấn địa- văn hóa về mảnh đất và conngười Nam Bộ trong truyện ngắn của chị

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Mảnh đất và con người Nam Bộ trong truyệnngắn Nguyễn Ngọc Tư dưới góc nhìn địa- văn hóa

- Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi đề tài của luận văn này, chúng tôitập trung khảo sát một số tập truyện ngắn sau của Nguyễn Ngọc Tư:

+ Khói trời lộng lẫy (Tập truyện ngắn, tái bản lần thứ nhất, NXB

Trẻ, 2017);

+ Gió lẻ và chín câu chuyện khác (Tập truyện ngắn, tái bản lần thứ 14,

NXB Trẻ, 2017);

+ Giao thừa (Tập truyện, tái bản lần thứ 20, NXB Trẻ, 2017);

+ Ngọn đèn không tắt (tập truyện ngắn, tái bản lần thứ 13, NXB Trẻ, 2017); + Cánh đồng bất tận (Tập truyện, tái bản lần thứ 41, NXB Trẻ, 2018); + Đảo (Tập truyện, tái bản lần thứ 5, NXB Trẻ, 2017);

Trang 12

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Tìm hiểu các tài liệu, lí luận khácnhau về địa- văn hóa và văn chương Nguyễn Ngọc Tư, từ đó phân tích chúngthành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc hơn về vấn đề địa văn hóa- văn học.Tổng hợp thông tin đã được phân tích để đưa ra những đánh giá, nhận xét vềđối tượng

- Phương pháp so sánh: So sánh sáng tác của một số nhà văn đươngthời và lớp trước với các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, từ đó chỉ ra nhữngđặc điểm giống nhau cũng như những nét riêng, đặc sắc về địa- văn hoá vùngđất Nam Bộ trong sáng tác của chị, đồng thời khẳng định vị thế của chị trongdòng chảy văn học Việt Nam hiện đại

- Phương pháp thống kê, phân loại: Sắp xếp các tài liệu theo từng loại

có cùng dấu hiệu bản chất Thống kê các hiện tượng lặp lại ở một số các yếu

tố thuộc về nội dung và nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư, căn

cứ vào số lần xuất hiện của chúng để khái quát và hệ thống hóa thành nhữngđặc điểm cụ thể dưới góc nhìn địa- văn hóa.

- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Lấy con người làm trung tâm, tiếpcận nội dung văn học qua các mối quan hệ của con người với thiên nhiên, với

xã hội và với chính bản thân mình Phương pháp này giúp ta hiểu sâu vấn đềđịa- văn hóa trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư khi nghiên cứu con ngườitrong văn học từ các góc nhìn của văn hóa chính trị, văn hóa ứng xử với cảmxúc, văn hóa ứng xử giới, văn hóa ứng xử với cộng đồng…của con ngườiNam Bộ

- Phương pháp xã hội học: Tìm hiểu mối quan hệ giữa bối cảnh lịch sử

xã hội và văn chương Nguyễn Ngọc Tư, qua đó thấy được sự tác động của thểchế, cơ cấu, phân tầng xã hội kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩađối với sự hình thành quan điểm sáng tác và quan niệm nghệ thuật về conngười của Nguyễn Ngọc Tư

- Phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học từ lý thuyết tự sự học: Dướiánh sáng của lý thuyết tự sự học, đi sâu phân tích cấu trúc tự sự bên trong,

Trang 13

xem xét những vận động có tính quy luật của các yếu tố tự sự trong truyệnngắn của Nguyễn Ngọc Tư, thấy được những vận động, đổi mới trong vănchương của chị để khắc phục những giới hạn của nghiên cứu văn học trướcđổi mới thường nặng về miêu tả các dữ kiện bề ngoài như niên đại, bối cảnhlịch sử xã hội, tiểu sử tác giả, nội dung phản ánh, chủ nghĩa nhân đạo, chủnghĩa hiện thực…qua đó, giúp người đọc ý thức hơn về việc tiếp nhận vănchương như tư cách là lịch sử nghệ thuật ngôn từ và lịch sử văn hóa.

Ngoài các phương pháp nêu trên, luận văn còn sử dụng một số phươngpháp liên ngành như: phương pháp hệ thống, phương pháp phân tâm học… đểtìm hiểu và khám phá một cách thấu triệt nhất vấn đề nghiên cứu

6 Những đóng góp của luận văn

Luận văn là công trình khảo sát về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ gócnhìn địa- văn hoá Hi vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đem lại mộtcái nhìn khái quát hơn, đầy đủ hơn về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư dưới gócnhìn địa- văn hóa, mang đậm dấu ấn địa lí và bản sắc văn hóa của vùng quêNam Bộ… Từ đó thấy được những giá trị nội dung và nghệ thuật, những tìmtòi, đổi mới, vận động và phát triển của văn chương Nguyễn Ngọc Tư trongdòng chảy chung của văn học Nam Bộ và văn học Việt Nam hiện đại Cáchhiểu và đánh giá của luận văn về mảnh đất và con người Nam Bộ trong truyệnngắn Nguyễn Ngọc Tư dưới góc nhìn địa- văn hóa hi vọng sẽ trở thành tư liệutham khảo cho những người yêu thích truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, đồngthời giúp tác giả luận văn có thêm kinh nghiệm trong cảm thụ và đánh giá tácphẩm văn học

7 Cấu trúc luận văn

Chương 1: Những vấn đề chung về địa- văn hóa và sự nghiệp sáng tác

của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

Chương 2: Dấu ấn địa - văn hóa về mảnh đất và con người Nam Bộ

trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc

nhìn địa- văn hóa

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊA - VĂN HÓA

VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ

1.1 Văn hóa và văn học

1.1.1 Văn hóa

Văn hoá vốn là là một khái niệm đã có từ rất lâu đời và lại có nội hàm

vô cùng rộng Trong cuốn Văn hóa cái nhìn phân tích về khái niệm và định

nghĩa hai học giả A.L Kroeber và C.L Kluckhohn thống kê trên thế giới ở

thời điểm nghiên cứu đã có hơn 200 định nghĩa về văn hóa Trong cuốn sách

Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán các khái niệm và định nghĩa

(Culture, a critical review of concept anddefinitions)- Alfred Kroeber vàClyde Kluckhohn - hai nhà nhân loại học người Mỹ cũng đã thống kê có tới

164 định nghĩa khác nhau về văn hóa Nhà ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu văn

hóa Việt Nam- Phan Ngọc, cho rằng: “tính đến hiện nay trên thế giới đã có

hơn 400 định nghĩa về văn hóa” [25, tr 7] Sở dĩ số lượng định nghĩa văn hóa

phong phú như vậy vì một phần văn hóa là một phạm trù hết sức rộng lớn;phần khác, mỗi nhà nghiên cứu xuất phát từ mục đích và phương pháp nghiêncứu của mình đều có quyền đưa ra một định nghĩa thích hợp theo quan niệmcủa riêng mình

Ở phương Đông (thời kỳ cổ đại của Trung Quốc), văn hóa được xemnhư là cách thức điều hành xã hội Giai cấp thống trị dùng văn hóa và giáohóa, dùng cái hay, cái đẹp để giáo dục và cảm hóa ý thức con người trong xãhội phong kiến Nghĩa gốc của từ “văn hóa” theo Hán văn là tổng hợp của

“văn trị” và “giáo hóa” Còn ở phương Tây, từ “văn hóa” trong tiếng Đức là(Kultur), tiếng Anh và tiếng Pháp là (culture), có hai nghĩa: một là “ giữ gìn,chăm sóc, tạo dựng trong trồng trọt”; hai là “ cầu cúng”

Các nhà khoa học phương Tây đã dựa trên trên mối quan hệ giữa tồn tại

xã hội và ý thức xã hội hay hình thái kinh tế - xã hội và nguyên tắc hoạt động

Trang 15

thực tiễn để nêu lên những định nghĩa khác nhau về văn hóa (triết học Mác).R.C.Pađôlưi và Iu.V.Brômlây trong một công trình nghiên cứu về văn hóa của

mình đã khẳng định: “Văn hóa trong ý nghĩa rộng rãi nhất của từ này, đó là

tất cả những cái đã và đang được tạo ra bởi nhân loại” [43].

E.B Taylor (1832-1917) nhà nhân học văn hóa người Anh đã đưa ra một

khái niệm văn hóa được rất nhiều người đồng tình Theo E.B Taylor “văn hóa

một tổng thể phức hợp bao gồm kiến thức, nghệ thuật, tín ngưỡng, đạo đức, phong tục luật lệ và tất cả những khả năng và thói quen mà con người đạt được với tư cách là một thành viên trong xã hội” (Primitive culture- Văn hóa

nguyên thủy) Kroibơ (A.L.Kroeber) và Klúchôn (C.L.Kluckhohn), hai nhà dântộc học người Mĩ vào năm 1952 đã trích dẫn được khoảng 300 định nghĩa màcác tác giả khác nhau của nhiều nước từng phát ra từ trước nữa cho đến lúc bấygiờ Tổng kết lại, hai ông quan niệm rằng văn hóa là một loại hành vi rõ ràng

và ám thị đã được loài người đúc kết và truyền lại bằng biểu tượng

UNESCO- Tổ chức khoa học và giáo dục Liên hợp quốc - cũng có định

nghĩa về văn hoá: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng

biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới

mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [63].

Tuy vấn đề văn hóa được đặt ra có muộn hơn ở Việt Nam nhưng cũng cókhông ít học giả đã tìm hiểu và đưa những khái niệm khác nhau về văn hóa

Trang 16

Nhà sử học, nhà khảo cổ học nổi tiếng Trần Quốc Vượng cho rằng “Văn hóa

là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một thái độ tổng quát của con người đối với vũ trụ, thiên nhiên

và xã hội, là cái vai trò của con người trong vũ trụ đó, với hệ thống những chuẩn mực, những giá trị, những biểu tượng, những quan niệm…tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người” [58, tr 35,36].

Trên cơ sở phân tích các định nghĩa về văn hóa ở Việt Nam và trên thế

giới, Trần Ngọc Thêm quan niệm “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá

trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và

xã hội của mình.”[34, tr 25]

Còn nhà ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc quan niệm:

“Văn hoá là quan hệ Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hoá khác nhau là độ khúc xạ” [25, tr 27] Trong cuốn sách Văn hoá Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hoá (NXB Văn hoá Thông tin), tác giả Đỗ Lai

Thuý cho rằng:“Văn hoá là tất cả những gì phi tự nhiên” Đây có thể xem là

định nghĩa khái quát nhất, rộng lớn nhất (theo quan niệm của ông)

Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về văn hoá, nhưng tóm lại, vănhoá có những đặc điểm cơ bản là: Văn hoá là một hoạt động sáng tạo, mangtính lịch sử riêng có của con người Con người trở nên khác biệt so với nhữngsinh vật khác là nhờ có văn hóa Do được chi phối bởi môi trường tự nhiên và

xã hội cùng với những nét tính cách của cộng đồng dân tộc nên văn hóa ở mỗicộng đồng dân tộc và ở mỗi quốc gia có những đặc trưng riêng Với cách tiếpcận như đã nêu ở trên thì đến đây chúng ta có thể khẳng định:văn hóa là sảnphẩm do con người sáng tạo ra trong quá trình lao động sản xuất, đấu tranh

Trang 17

với thiên nhiên, đấu tranh xã hội… nhằm mục đích sinh tồn vàvăn hóa là nấcthang cao nhất đưa con người vượt lên trên những loài động vật khác Trongphạm vi đề tài “Mảnh đất và con người Nam Bộ trong truyện ngắn củaNguyễn Ngọc Tư” được đề cập trong luận văn này, chúng tôi tán đồng cáchhiểu văn hoá theo định nghĩa của UNESCO và Trần Ngọc Thêm.

1.1.2 Quan hệ giữa văn hóa và văn học

Văn học cùng với chính trị, triết học, đạo đức, tôn giáo, phong tục tậpquán những thành tố hợp thành cấu trúc tổng thể là văn hoá, do đó văn học

là một thành tố bộ phận của văn hoá Vì vậy, văn học chịu sự chi phối trực

tiếp “từ môi trường văn hóa của một thời đại và truyền thống văn hóa độc

đáo của một dân tộc” [5] Văn học chịu chi phối của văn hóa với tư cách là

yếu tố cấu thành chịu sự chi phối của hệ thống Đây là quan hệ bất khả kháng.Tuy nhiên, văn học là một yếu tố năng động Nó luôn có xu hướng “vẫyvùng” để thoát ra ngoài hệ thống Trong khi đó văn hóa là hệ thống có xuhướng ổn định Điều này dẫn đến sự xung đột, sự chống lại của văn học đốivới văn hóa, nhờ thế mà văn học luôn có tính sáng tạo Văn học luôn khaokhát sáng tạo những giá trị mới cho bản thân nó và cho cả nền văn hóa củamột đất nước, một dân tộc Nếu văn học có những sáng tạo to lớn mang tínhđột phá thì nó có thể dẫn tới sự thay đổi của cả một nền văn hóa

Vì chỉ là một bộ phận của văn hóa nên văn học không thể tác động trựctiếp đến xã hội mà phải gián tiếp thông qua văn hóa Do vậy, dù cho văn học

có chức năng phản ánh hiện thực đời sống xã hội nhưng nó không thể phảnánh một cách trực tiếp mà phản ánh gián tiếp thông qua sự tinh lọc của cácgiá trị văn hóa Nhờ thế mà nó tránh được sự phản ánh hiện thực đời sống mộtcách trần trụi mà là phản ánh có nghệ thuật- một lối phản ánh đặc trưng của

văn học Về vấn đề này, Phương Lựu cho rằng: “Nếu nghệ thuật là một loại

văn hoá đặc biệt, thì lấy ngôn ngữ với tư cách là biểu hiện đầu tiên, cơ bản,

Trang 18

vĩ đại của văn hoá nhân loại làm chất liệu, văn học chính là gương mặt tiêu biểu cho văn hoá tinh thần của mỗi dân tộc”[21].

Văn học suy cho cùng là sự tự ý thức văn hóa Trong môi trường vănhóa riêng của một cộng đồng dân tộc, văn học tự giác tiếp nhận và thể hiệnnhững giá trị bản sắc văn hóa dân tộc đó.Thêm vào đó, mỗi một nhà văn luônđược sinh ra và đều thuộc về một cộng đồng dân tộc nhất định, do vậy mà nhàvăn - chủ thể sáng tác văn học - luôn chịu sự chi phối, ảnh hưởng văn hóa củacộng đồng dân tộc, đất nước mình không chỉ về đề tài, tư tưởng, thể loại mà

cả về tư duy nghệ thuật Nhà văn dù có sáng tạo tới đâu đi chăng nữa, dù cóchịu ảnh hưởng của luồng tư tưởng văn hóa của cộng đồng dân tộc khác thìtác phẩm của anh ta vẫn luôn ẩn chứa mạch nguồn văn hóa của dân tộc mình,của quê hương mình, của vùng đất nơi mình được sinh ra, lớn lên và gắn bómáu thịt

Khi đọc và tìm hiểu văn học nước ngoài, chúng ta không thể bỏ quayếu tố văn hóa Muốn hiểu sâu sắc được giá trị nội dung và nghệ thuật của tácphẩm văn học nước ngoài, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu ýnghĩa của lớp vỏ ngôn ngữ hay thông qua hành động của các nhân vật, từ đóđưa ra các nhận định mang tính chủ quan, phiến diện mà chúng ta phải đặt tácphẩm văn học đó vào trong môi trường văn hóa của cộng đồng dân tộc - nơi

mà nhà văn đã được sinh ra, sống và viết, phải hiểu cho tường tận thấu đáophong tục, tập quán, mô thức tư duy và tâm thái văn hóa của cộng đồng dântộc ấy, trên cơ sở đó mới có thể giải được mã văn hóa mà nhà văn kí thác vàotrong tác phẩm Nói cách khác, muốn hiểu sâu một tác phẩm văn học nướcngoài không chỉ dừng lại ở việc biết tiếng nước ngoài mà còn cần phải tìmhiểu cả nền văn hóa nước ấy thì mới có thể hiểu được thấu đáo nền văn họccủa họ Tìm hiểu và giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học là hết sức cầnthiết cho cả việc nghiên cứu văn học trong nước và nước ngoài Đó là việc

Trang 19

chúng ta đặt tác phẩm văn học vào bối cảnh của văn hóa của một đất nướchay một cộng đồng dân tộc, từ đó làm nổi bật những sắc thái văn hóa của đấtnước ấy, cộng đồng ấy được nhà văn thể hiện trong tác phẩm văn học; trên cơ

sở kiến thức về văn hóa mà lí giải ý nghĩa của những tín hiệu, biểu tượng vănhóa hàm ẩn sau lớp vỏ bề mặt của ngôn ngữ văn chương Có làm như vậychúng ta mới có thể đánh giá hết được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học

và ý nghĩa xã hội của nó

Tóm lại, mối quan hệ giữa văn học và văn hoá là không thể tách rời.Văn học là một thành tố bộ phận quan trọng của văn hoá Mọi sự biểu hiệncủa văn học tựu trung lại đều là sự thể hiện của văn hoá Do vậy việc tìm hiểutác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hoá là một hướng đi quan trọng, manglại nhiều hiệu quả thiết thực trong nghiên cứu văn chương

1.2 Địa- văn hóa và văn học

1.2.1 Địa - văn hóa

Hoàn cảnh địa lí, khí hậu luôn có sự chi phối đáng kể đến văn hóa văn hóa là sự kết hợp giữa hai ngành địa lí học với văn hóa học để hình thànhmột khái niệm mới Hai ngành khoa học tưởng chừng không liên quan này lạiđược kết hợp trong một hướng nghiên cứu hiện nay đang được nhiều nhànghiên cứu quan tâm Khái niệm địa - văn hóa trước hết được đề cập đếntrong lĩnh vực địa lí, là một phương pháp nghiên cứu liên ngành trong địa líhọc Nhà địa lí học người Pháp, Joel Bonnemaison rất quan tâm đến cách tiếp

Địa-cận địa - văn hóa trong nghiên cứu địa lí Trong công trình “Culture and

Space” (Văn hóa và địa lí) bằng tiếng Pháp, tác giả đã cho rằng “ba chiều kích

của không gian cảnh quan” trong địa- văn hóa gồm: lãnh thổ, môi trường địa

lí và biểu tượng địa lí Các nghiên cứu của ông phản ánh mối liên hệ giữakhông gian văn hóa và địa lí Ông đặc biệt chú ý đến những đặc trưng khônggian địa lí điển hình ảnh hưởng tới đời sống văn hóa của cư dân.Theo ông, nói

Trang 20

về văn hóa, không thể bỏ qua khía cạnh địa- văn hóa, trong đó, thiên nhiên vàcon người, địa lí và văn hóa có sự tương tác qua lại với nhau, tạo nên nhữngđặc điểm tính cách, ứng xử văn hóa khác nhau Những nét tính cách chungcủa cộng đồng dân cư của một vùng đất hay của cả một dân tộc sẽ chìmxuống hay trội lên tùy thuộc vào hoàn cảnh địa lí và điều kiện tự nhiên như:núi non, sông ngòi, khí hậu, đất đai,

Ở Việt Nam, Trần Quốc Vượng đã vận dụng hướng nghiên cứu này

trong nghiên cứu văn hóa với công trình Việt Nam cái nhìn địa văn hóa Ông

đã tìm hiểu và làm rõ đặc trưng văn hóa nhiều vùng đất, địa danh khác nhautrong cả nước như: Phú Thọ, Cao Bằng, Gia Lâm, Hà Nội, Bắc Ninh,…theohướng tiếp cận địa- văn hóa Nhìn chung, nơi nào có khí hậu thất thường, địathế hiểm trở, núi non trùng điệp, sông sâu nước xiết, lắm thác nhiều ghềnh, thì con người thường có tính cách quyết liệt, sâu sắc, mạnh mẽ, quyết đoán;nơi nào có khí hậu thuận hòa, địa hình bằng phẳng, thì con người thường cótính cách hiền hòa, nhu nhuyễn Nơi có thiên nhiên khắc nghiệt, đất đai cằncỗi con người mang nét tính cách chắt chiu, tiết kiệm, nguyên tắc Nơi cóthiên nhiên ưu đãi, tài nguyên phong phú, đất đai màu mỡ con người mangnét tính cách khoáng đạt, dễ dãi…

Như vậy, chúng ta có thể hiểu địa - văn hóa là hướng nghiên cứu liênngành, xem xét mối quan hệ giữa đời sống văn hóa của con người và cảnhquan địa lí Các yếu tố địa lí, khí hậu, điều kiện tự nhiên sẽ tác động đến việchình thành cung cách sinh hoạt, quan hệ ứng xử của con người và ở chiềungược lại, con người cũng sẽ có thái độ ứng xử với cảnh quan, môi trườngsống của riêng mình Nhìn từ hướng nghiên cứu này chúng ta có thể thấyđược vị trí của con người trong tự nhiên cũng như những tác động qua lạigiữa thiên nhiên và con người trong mối quan hệ khá hài hòa, chặt chẽ

Trang 21

1.2.2 Địa - văn hóa trong nghiên cứu văn học

Địa - văn hóa còn là một khái niệm tương đối mới, chưa được ứng dụngphổ biến, vì vậy chưa có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này trong lĩnh

vực văn học Bài viết đăng trên tạp chí nghiên cứu văn học Đặc điểm truyện

cổ tích Khmer Nam Bộ tiếp cận từ lí thuyết địa – văn hóa của Phạm Tiết

Khánh đã áp dụng hướng nghiên cứu địa- văn hóa trong nghiên cứu văn họcdân gian Ông đã dùng lí thuyết địa - văn hóa để giải thích những tác phẩmvăn học dân gian của các dân tộc thuộc các quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhaunhưng vẫn có cốt truyện giống nhau là do các cộng đồng dân cư có sự tươngđồng về điều kiện địa lí tự nhiên, môi trường sống, tập quán canh tác Ngoài

ra, trường phái Phần Lan cũng đã áp dụng lí thuyết địa - văn hóa khi xem xéttác phẩm văn học dân gian từ góc nhìn địa lí - lịch sử và đã mang lại nhiềuthành tựu trong ngành folklore

Cuốn tiểu luận Văn học dưới góc nhìn Địa - văn hóa của tác giả Đặng

Hiển có cái nhìn cụ thể hơn khi ứng dụng góc nhìn địa - văn hóa trong nghiêncứu văn học Mỗi nhà văn đều sống gắn bó và viết về một vùng đất máu thịtnhất định và hầu hết những yếu tố địa- văn hóa của vùng đất đó đều đã tácđộng mạnh mẽ đến nhà văn để tạo nên những nét riêng, độc đáo trong nội dung

và nghệ thuật của tác phẩm mà họ sáng tác Hoàng Cầm gắn bó với Kinh Bắc,Nam Cao với làng Đại Hoàng, Tú Xương gắn bó với Thành Nam hay SơnNam, Bình Nguyên Lộc gắn bó với vùng đất Nam Bộ… Mỗi vùng đất với điềukiện địa lí tự nhiên và văn hóa vật thể, phi vật thể đã nuôi dưỡng tâm hồn vănchương của nhà văn để từ đó nhà văn thổi hồn mình vào trong tác phẩm và tácphẩm thấm đẫm hơi thở đời sống hiện thực mà nhà văn đã gắn bó và trải

nghiệm Theo tác giả Đặng Hiển trong cuốn Văn học dưới góc nhìn Địa– Văn

hóa (Nxb Hội nhà văn, 2016), dấu địa - văn hóa trong văn học được thể hiện ở

những yếu tố sau: Một là, cảnh sắc thiên nhiên đi vào thơ văn thành những hìnhtượng đẹp, sắc nét và có hồn Hai là, ngôn ngữ chung điểm xuyết ngôn ngữ địa

Trang 22

phương cùng với những yếu tố nghệ thuật truyền thống như hình tượng, thểđiệu…vào văn học Ba là, con người địa phương Bốn là, hiện thực địa phương.Năm là, truyền thống văn hóa nghệ thuật của vùng văn hóa.

Vốn sống của tác giả, những hiểu biết của tác giả về vùng đất chính là

cơ sở để làm nên những giá trị địa- văn hóa cho tác phẩm Tuy nhiên, điều đókhông có nghĩa là những nhà địa lí, những nhà văn hóa học sẽ làm tốt hơn nhàvăn ở điểm này, bởi lẽ, địa - văn hóa trong văn học còn là sự thẩm thấu củavùng đất ấy vào trong tâm hồn của nhà thơ, nhà văn, trở thành những hìnhtượng, cảm xúc Địa - văn hóa trong văn học cũng không có nghĩa là khu biệtnền văn học về phạm vi của những địa phương nhỏ hẹp, bởi cái chất chung,cái nền văn hóa chung của quốc gia, dân tộc đã trở thành gốc rễ của bản thânmỗi con người

1.3 Những yếu tố hình thành dấu ấn địa- văn hóa trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

1.3.1 Điều kiện địa lí tự nhiên và xã hội của vùng đất Nam Bộ

1.3.1.1 Đặc điểm tự nhiên Nam Bộ

Nam Bộ là vùng đất có đặc điểm địa lí tự nhiên riêng biệt Nam Bộnằm gọn trong lưu vực của 2 con sông Đồng Nai và Cửu Long, là vùng châuthổ giáp biển Nam Bộ có 2 mùa: mùa mưa và mùa khô, vòng quay thiênnhiên đã tạo ra vòng quay mùa vụ ở đây với những nét khác biệt so với cácvùng khác, vì thế nó cũng tạo ra đặc trưng văn hóa tiêu biểu.Tuy nhiên xét vềkhông gian và thời gian văn hoá, có thể thấy Nam Bộ có hai vùng văn hoá rõrệt: vùng Đông Nam Bộ và vùng Tây Nam Bộ Trong số các nhà nghiên cứuphân vùng văn hoá Việt Nam kể trên, Huỳnh Khái Vinh và Nguyễn Thanh

Tuấn đã xem “Tây Nam Bộ” là một vùng văn hoá với tên gọi là Vùng văn hoá

Cửu Long hay vùng Văn hoá Đồng bằng sông Cửu Long; còn vùng chúng ta

hay gọi là Đông Nam Bộ thì Huỳnh Khái Vinh và Nguyễn Thanh Tuấn gọi là

vùng Đồng Nai – Gia Định Đây là cách phân vùng có cơ sở khoa học Tuy

Trang 23

nhiên, Huỳnh Khái Vinh và Nguyễn Thanh Tuấn chỉ xem việc phân vùng của

mình để giúp cho việc “hình dung đại thể”, “một cách trực quan cảm tính” [56], chưa có nêu rõ tiêu chí, đặc điểm Vùng văn hoá Cửu Long và các tiểu

vùng của nó Vùng đất Nam Bộ với chằng chịt kênh rạch, sông nước mênhmông Các lưu dân người Kinh, Hoa, Chăm tới đây khai hoang đã nhanhchóng hòa nhập với thiên nhiên và cuộc sống của cư dân bản địa (ngườiKhmer, người Mạ, người Xtiêng, người Chơro, người Mnông)

Tây Nam Bộ (trong đó có Cà Mau- quê hương của nhà văn NguyễnNgọc Tư), trước hết là một không gian địa lí liền kề liên tục Đây là vùngđồng bằng cùng một vài dãy núi thấp ở miền Kiên Giang, Tây An Giang, phíatây giáp Campuchia, phía nam giáp vịnh Thái Lan, phía bắc giáp vùng ĐôngNam Bộ, phía đông giáp Biển Đông, hiện gồm 13 tỉnh thành: An Giang, VĩnhLong, Trà Vinh, Tiền Giang, Sóc Trăng, Long An, Bạc Liêu, Thành phố CầnThơ, Hậu Giang, Kiên Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Cà Mau Diện tích tựnhiên của Tây Nam Bộ khoảng 40.000 km vuông, được hình thành từ trầmtích phù sa và được bồi đắp dần dần qua thay đổi mực nước biển Khí hậunhiệt đới, gió mùa cận xích đạo có đặc điểm: nóng, nhiệt độ cao Đất đai rộnglớn với những cánh đồng trải dài phì nhiêu, có nhiều giồng cát ven sông, venbiển, có cả đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp Được hình thành vàchịu tác động trong một không gian địa lí và điều kiện tự nhiên nhưvậynênvùng văn hóa Tây Nam Bộ có những đặc điểm văn hóa riêng và độcđáo Đây chính là vùng đất có quê hương Cà Mau đã sinh ra nhà văn NguyễnNgọc Tư, nơi chị lớn lên đang sống và gắn bó với tình yêu máu thịt đồng thờiđây cũng là không gian địa- văn hóa được phản ánh trong các sáng tác của chịqua những dấu ấn đậm nét về mảnh đất và con người nơi đây

So với các vùng địa lí khác trong cả nước thì Nam Bộ còn là vùng đất

mới, được khai phá cách đây khoảng hơn 300 năm Trước đây “Nam Bộ là

một vùng đất gần như hoang hoá, có rất nhiều cá sấu và thú dữ Vì thế có thể

Trang 24

nói nơi đây vẫn còn lưu giữ được nhiều nét tự nhiên, ít chịu sự tác động của con người” [59] Với một vị trí địa lí thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi, Nam

Bộ có nhiều nguồn tài nguyên phong phú: đất đai rộng lớn, phì nhiêu; nguồnnước dồi dào; khí hậu ấm nóng quanh năm, lại ít có thiên tai Nói tới Nam Bộ

là nói tới những cánh đồng trải dài tít tắp tận chân trời; khung cảnh thiênnhiên nhiên rộng lớn, sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, mênh mang rừngđước, rừng tràm Bên cạnh những thuận lợi kể trên, Nam Bộ cũng có không ítkhó khăn, người dân nơi đây thường xuyên phải vật lộn, chống chọi với nước

lũ, sự yếu kém về kết cấu hạ tầng, đói nghèo, lạc hậu… Những thuận lợi vàkhó khăn của tự nhiên Nam Bộ không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trìnhlao động mà còn tác động đến đời sống văn hoá tinh thần của người dân Tất

cả những yếu tố này đã góp phần quan trọng định hình cuộc sống, tính cách

và văn hoá ứng xử của con người nơi đây

1.3.1.2 Đặc điểm cư dân Nam Bộ

Nam Bộ là vùng đất được mới được khai phá nên phần lớn dân cư ởđây vốn là những người lưu lạc Họ đến đây từ rất nhiều vùng miền trong cảnước: miền Bắc, miền Trung Một bộ phận người dân nơi đây là bà con dântộc Khơmer có nguồn gốc từ Cămpuchia Số ít thuộc dân tộc Hoa (nguồn gốcTrung Quốc) và một số dân tộc thiểu số khác Mỗi bộ phận dân di cư đếnvùng đất mới đều mang theo những nét văn hoá riêng, đặc trưng của dân tộcmình Trong quá trình sinh sống, giữa các cộng đồng tộc người không hề bàitrừ nhau mà ngược lại luôn có sự giao lưu, tiếp biến lẫn nhau về văn hoá.Điều đó đã tạo cho vùng văn hóa Nam Bộ có sự phong phú, đa dạng và độcđáo Do có rất nhiều sông ngòi, kênh rạch chằng chịt nên sự phân bố dân cư

Nam Bộ có nét rất riêng: “Làng Nam Bộ là loại hình làng khai phá tụ cư,

thường trải dài theo những đoạn tuyến sông, tuổi đời ít hơn làng Bắc Bộ và cấu trúc cũng lỏng lẻo hơn” [17] Quan hệ làng xã trong cộng đồng cư dân

Nam Bộ thiếu chất kết dính chặt chẽ trong quan hệ thân tộc như cộng đồng

Trang 25

làng xã Bắc Bộ hay các vùng miền khác Do đó, quan hệ của cá nhân vớicộng đồng dân cư ở Nam Bộ có tính chất dân chủ và bình đẳng hơn nhiều Sợidây liên kết gắn bó con người với con người trong cộng đồng chủ yếu là cáinghĩa, cái tình Trong quá trình đấu tranh chinh phục tự nhiên để sinh tồn, họluôn biết cách gắn bó với nhau để tạo nên sức mạnh đoàn kết, vượt qua khókhăn, thử thách

1.3.2 Tiểu sử con người nhà văn

Mỗi một nhà văn đều là con của một vùng đất, một quê hương, một giađình May mắn cho ai đó có một vùng đất để sống chết, gắn bó gan ruột, trởthành chất liệu chính cho sáng tác của mình Tuy nhiên để viết thành công vềquê hương thì không phải ai cũng làm được Nguyễn Ngọc Tư là một trong số

ít những người cầm bút làm được điều đó

Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 ở Bạc Liêu trong một gia đình nôngdân nghèo Năm lên 4 tuổi, gia đình chị chuyển về sống tại xã Tân Duyệt,huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau Nguyễn Ngọc Tư vừa được sống ở quê gốc nơi

có những miệt vườn xum xuê cây trái (Bạc Liêu), vừa được sống ở vùng đấtmới với những cánh đồng mênh mông, bất tận và chằng chịt những con rạch,con kênh, dòng sông uốn khúc (Cà Mau) Đây là mảnh đất ươm mầm tàinăng, cung cấp nguồn chất liệu quý báu cho các tác phẩm văn chương của chị

Từ thế hệ nội, ngoại, ba mẹ trong gia đình Nguyễn Ngọc Tư đều thamgia cách mạng (kháng chiến chống Mỹ) Cha đẻ của Nguyễn Ngọc Tư- ôngNguyễn Thái Thuận là người đam mê văn chương hay viết báo, làm thơ Có lẽ

vì thế, văn nghiệp với chị dường như là do định mệnh sắp đặt Không đượcmay mắn như các bạn cùng trang lứa, tuổi thơ của Nguyễn Ngọc Tư có nhiềusóng gió Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn: ông ngoại bệnh nặng, kinh tế giađình eo hẹp, neo người; chị phải nghỉ học giữa chừng khi đang học lớp 9.Không được tiếp tục đến trường, phải ở nhà phụ giúp bố mẹ và chăm sóc ôngngoại Nếm trải nhọc nhằn từ tấm bé nên chị có cái nhìn đằm sâu hơn với cuộc

Trang 26

đời Có lẽ, vì thế mà chị viết nhiều, viết hay về số phận của những con ngườimộc mạc, chân chất, sống nghèo khổ nhưng rất nhân hậu và cao thượng?

Nguyễn Ngọc Tư là người năng khiếu văn chương từ nhỏ, chị đã từngđạt giải nhì cuộc thi học sinh giỏi môn văn lớp 9 tỉnh Cà Mau Không đượcđào tạo cơ bản về nghề viết văn nhưng Nguyễn Ngọc Tư luôn nỗ lực tự học.Cùng với đó là khả năng quan sát tinh tế, nhạy bén trước cuộc đời và một tìnhyêu quê hương tha thiết luôn bỏng cháy trong tim Sự hòa quyện giữa óc quansát tinh tế, cái nhìn sắc sảo và trái tim nồng ấm yêu thương đã thôi thúc chịcầm bút để rồi tất cả những gì thân thuộc nhất của quê hương Nam Bộ dấuyêu đã đi vào các sáng tác của chị một cách rất tự nhiên và có sức cuốn hút lạthường Những ai chưa từng một lần đặt chân tới vùng đất Nam Bộ chỉ cầnđọc truyện của Nguyễn Ngọc Tư thôi thì cũng có thể khám phá và cảm nhậnđược rất rõ về con người, thiên nhiên nơi đây Nắng gió, sông nước, cánhđồng, đất trời, con người vùng đất phương Nam là những “mạch nước ngầm”chảy mãi trong văn chương của chị

1.4 Hành trình và quan điểm sáng tác của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

1.4.1 Hành trình sáng tác

Nguyễn Ngọc Tư là một cây bút trẻ của Văn học Việt Nam hiện đại

Dù là cây bút trẻ nhưng Nguyễn Ngọc Tư đã tạo cho mình một phong cáchvăn chương đặc sắc, mang đậm chất Nam Bộ với khối lượng tác phẩm vănhọc được xuất bản, tái bản khá nhiều Từ khi tham gia văn đàn văn học Việtnam hiện đại, dường như năm nào chị cũng có tác phẩm mới, các tác phẩmcủa chị cứ nối tiếp nhau được giới thiệu với công chúng yêu văn học và liên

tiếp gây được tiếng vang : Ngọn đèn không tắt (2000); Ông ngoại (2001);

Biển người mênh mông (2003); Giao thừa (2003, tái bản 2012); Nước chảy mây trôi (2004); Cái nhìn khắc khoải, Đau gì như thể (2005); Sống chậm thời

@ (2006); Sầu trên đỉnh Puvan (2007); Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (2008); Biển của mỗi người (2008); Yêu người ngóng núi (2009); Khói trời lộng lẫy (2010); Gáy người thì lạnh (2012); Bánh trái mùa xưa (2012);

Trang 27

Sông (2012); Chấm (2013); Đảo (2014); Trầm tích (2014); Đong tấm lòng (2015); Không ai qua sông (2016).

Với khối lượng sáng tác đáng nể và những tác phẩm nổi tiếng củamình, chị đã đạt được nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế như:Tập

truyện ngắn Ngọn đèn không tắt ( Giải Nhất trong Cuộc vận động sáng tác

Văn học tuổi 20 lần thứ 2; Giải B Hội nhà văn Việt Nam; Giải thưởng của Ủyban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn Học - Nghệ thuật Việt Nam).Tập truyện

ngắn Cánh đồng bất tận, Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 2006.Ngoài

ra, chị còn vinh dự được bầu chọn là một trong "Mười nhân vật trẻ xuất sắctiêu biểu của năm 2002" và được tặng thưởng Giải thưởng văn học ASEANnăm 2008

1.4.2 Quan điểm sáng tác

Nguyễn Ngọc Tư vốn là có trái tim đa sầu đa cảm, nhân hậu, vị tha vàmột người sống rất giản dị ở ngoài đời thực Chị yêu du lịch, thích đi nhiềunơi để khám phá thế giới xung quanh, trau dồi vốn sống để mở mang tầm mắt

và thu thập tư liệu để viết Nét tính cách và sở thích ấy đã ảnh hưởng rất lớnđến những sáng tác văn học của chị

Khác với lớp nhà văn Nam Bộ trước đó như Sơn Nam, Đoàn Giỏi, AnhĐức, Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng , Nguyễn Ngọc Tư thuộc thế hệ nhàvăn sinh ra trong thời bình, khi đất nước đang có những chuyển mình mạnh mẽ

từ nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường, đô thị phát triển

Do vậy mà những tác phẩm của chị thường đề cập đến các vấn đề nóng hổi củacuộc sống thời kì đổi mới Mặt trái của kinh tế thị trường và xã hội hiện đại cónhững tác động không nhỏ đến đời sống nông thôn Nam Bộ Đề tài này đãđược Nguyễn Ngọc Tư khai thác khá nhiều trong các tác phẩm của mình

Quê hương đối với Nguyễn Ngọc Tư luôn là nguồn mạch yêu thương,

là điểm tựa cho văn chương của chị: “Từ nơi này, tôi đã nhìn được rất xa, đã

sống với nhiều nơi, làm bạn với nhiều người, vậy cũng hạnh phúc lắm rồi”

[55] Hiện thực đời sống xung quanh chị là chất liệu dồi dào để chị đưa vào

Trang 28

trang viết, có lần trả lời phỏng vấn, Nguyễn Ngọc Tư nhận rằng nếu phải rời

khỏi môi trường sống hiện nay chị sẽ “giãy chết như con cá bị bắt ra khỏi

nước” (Phỏng vấn nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, Báo văn nghệ trẻ 06/11/2005).

Những trang văn của Nguyễn Ngọc Tư chinh phục người đọc nhờ chị đã thực

sự sống bằng những điều chị viết Đằng sau giọng văn nhẹ nhàng, người tathấy nỗi niềm, cuộc sống nhọc nhằn, lam lũ của con người Nam Bộ Chị đã,đang và sẽ viết về quê hương, thương cái nghèo, cái khó, cái mộc mạc chân sơcủa nơi mình sinh ra, lớn lên, nơi mình húp những ngụm nước mưa trong lành

ở cái lu nước đầu ngõ, nơi mình hâm nồi cơm nguội buổi chiều, nướng khô cálóc, cá sặt, nhấp li rượu cay mà thương quê đến nao lòng

Nguyễn Ngọc Tư luôn viết theo cảm xúc của chính mình Điều quantrọng nhất với chị vẫn là cảm xúc cho dù chị viết về đề tài hay thể loại nào

cũng vậy Nguyễn Ngọc Tư từng chia sẻ: “Sáng tác thì cứ lúc nào thấy xúc

động, đủ cảm xúc,có suy nghĩ về cái mình trải qua, có nhu cầu phải viết, nếu không viết chắc…tự tử mất thì Tư viết thôi” (Phỏng vấn nhà văn Nguyễn

Ngọc Tư, Báo Tuổi trẻ 04/12/2005) Văn chương của chị dung dị mà khôngkém phần sâu sắc bởi nó được viết từ những cảm xúc thôi thúc trong lòng,không viết ra thì không chịu được, đó là nhu cầu tự bộc lộ cảm xúc, nhu cầuđược là chính mình Sáng tác là nhu cầu tự nhiên, do cảm xúc thôi thúc trong

lòng không thể ép buộc Chị trải lòng: “Bao giờ khi bắt tay vào viết, tôi cũng

nghĩ thoáng qua tác phẩm mới này ai sẽ khen và biết vài khuôn mặt những người chê Lần nào cũng nghĩ nhưng lần nào cũng viết như cảm xúc của mình bởi trước khi viết cho ai đó thì tôi viết cho mình” (Phỏng vấn nhà văn Nguyễn

Ngọc Tư, Báo Tuổi trẻ 04/12/2005).Ở một chỗ khác chị khẳng định: “Trong

văn chương, tôi thường không có kế hoạch gì, tùy vào cảm hứng” (Phỏng vấn

nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, Báo Người lao động 2006) “Tôi là đứa viết văn

không chuyên,dựa vào cảm xúc mà viết” (Phỏng vấn nhà văn Nguyễn Ngọc

Tư, Báo Tiền phong 31/01/2006) Những quan niệm này thấm nhuần vào ngòibút của Nguyễn Ngọc Tư làm nên những trang văn giản dị, tự nhiên đầy ắp

Trang 29

cảm xúc Văn chương của chị làm xúc động người đọc bởi nó xuất phát từtình cảm chân thật tự đáy lòng nhà văn.

Bên cạnh đó, Nguyễn Ngọc Tư cũng tự nhận mình là người cô đơn và

sự cô đơn là cần thiết cho hành trình sáng tạo văn chương Khi được hỏi:

“Chị đã sống trong tâm trạng như thế nào cùng các nhân vật của mình trong

suốt hành trình câu chuyện Cánh đồng bất tận?”, Nguyễn Ngọc Tư đã trả lời:

“Trong cõi văn chương, tôi là đứa cực kì cô đơn Tôi cũng như những con

người trong Cánh đồng bất tận, sống giữa nhiều người, giữa cộng đồng, sống giữa biển người nhưng có cảm giác như bị bỏ rơi” (Phỏng vấn nhà văn

Nguyễn Ngọc Tư, Báo Tiền phong 21/01/2006)

Nguyễn Ngọc Tư mới bước vào làng văn, lại chủ yếu chỉ mới dừng lại

ở địa hạt truyện ngắn, những vấn đề đặt ra trong tác phẩm của chị thường lànhững câu chuyện về gia đình, xã hội đương thời, gắn với không gian nhỏ hẹpcủa một vài làng, xã, huyện Nhưng với một năng lực viết tốt chị lại có thểkhái quát được những vấn đề gia đình, xã hội nhức nhối để cô đọng nó vàotrong một truyện ngắn Ở Nguyễn Ngọc Tư, con người văn chương luônthống nhất với con người đời thực Tác phẩm của chị đã đem đến cho độc giảnhững trang văn sống động, tài hoa nhưng cũng rất chân thật và gần gũi nhưnhững thước phim quay lại ở ngoài đời Là nhà văn không chạy theo xuhướng đám đông, không lựa theo thị hiếu của độc giả để sáng tác, NguyễnNgọc Tư luôn giữ cho mình một cá tính sáng tạo độc lập, một quan niệmthẩm mĩ riêng Tư duy nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư thể hiện tâm trạng côđơn và hoài nghi, cách nhìn cuộc sống đa chiều, mang tính phản biện xã hộikhá sâu sắc và đậm chất nhân văn

Trang 30

Tiểu kết chương 1:

Vốn sống của tác giả, những hiểu biết của tác giả về vùng đất chính là

cơ sở để làm nên những giá trị địa- văn hóa cho tác phẩm Tuy nhiên, điều đókhông có nghĩa là những nhà địa lí, những nhà văn hóa học sẽ làm tốt hơn nhàvăn ở điểm này, bởi lẽ, địa - văn hóa trong văn học còn là sự thẩm thấu củavùng đất ấy vào trong tâm hồn của nhà thơ, nhà văn, trở thành những hìnhtượng, cảm xúc Địa - văn hóa trong văn học cũng không có nghĩa là khu biệtnền văn học về phạm vi của những địa phương nhỏ hẹp, bởi cái chất chung,cái nền văn hóa chung của quốc gia, dân tộc đã trở thành gốc rễ của bản thânmỗi con người

Sinh ra và lớn lên ở Nam Bộ, Nguyễn Ngọc Tư chịu ảnh hưởng củađiều kiện địa lí, môi trường thiên nhiên, đời sống văn hóa, tâm lí, tính cáchcủa con người nơi đây Lối sống gắn bó với thiên nhiên, đồng ruộng, vườntược, sông rạch, ghe thuyền đã hình thành nên những nét văn hóa rất Nam

Bộ trong sáng tác của chị Nguyễn Ngọc Tư được đông đảo độc giả, đặc biệt

là độc giả miền Nam yêu mến nhờ “chất Nam Bộ” trong các sáng tác củamình Cái “chất Nam Bộ” ấy sẽ được chúng tôi đi sâu khám phá trong toàn bộchương 2: Dấu ấn địa- văn hóa về mảnh đất và con người Nam Bộ trongtruyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

Trang 31

Chương 2 DẤU ẤN ĐỊA - VĂN HÓA VỀ MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƯỜI NAM BỘ

TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ 2.1 Dấu ấn địa – văn hóa về mảnh đất Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

2.1.1 Văn hóa miệt vườn

Điều trước tiên nói về mảnh đất Nam Bộ đó là văn hóa miệt vườn Nhà

khảo cứu văn hóa, nhà văn Sơn Nam còn gọi đây là “Văn minh miệt vườn” và

ông đã có hàng loạt bài khảo cứu, tác phẩm văn học chứng minh cho điềunày Văn hóa miệt vườn có thể chia thành nhiều ngành nghề như: Nghề biển,nghề trồng lúa nước và hoa màu, nghề trồng vườn,…Từ những kinh nghiệm

sống của người dân Nam Bộ, Phạm Xuân Thảo đã khái quát: “Cư dân Việt

sống bằng nghề vườn là một thái độ ứng xử thông minh trước thiên nhiên vùng đất xa lạ”… [24].

Người Nam Bộ rất thông minh trong việc phân bổ quy mô nhà ruộng vườn; họ tận dụng mọi không gian để trồng trọt chăn nuôi Nếu như phíatrước nhà là sân thì sau nhà thường là ao cá, mương tôm và trên là chuồng trạichăn nuôi Với cách phân bổ này, họ có thể tận dụng được tất cả những thức

-ăn cho cá, tôm, nước tưới vườn và phân bón trồng trọt

Trong Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức đã nhận thấy Nam

Bộ là vùng đất trù phú, tiềm năng phát triển nông nghiệp và dự báo khả năngphát triển thương nghiệp Còn Sơn Nam thì miêu tả vùng đất này như sau:

“Gần hết cả vùng là bụi rậm của rừng thấp, những cửa rộng của con sông

lớn chảy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành những chỗ trú xum xuê” [23] Nơi đây bao trùm là:

“Rừng bạt ngàn, bưng láng nước đọng, sông ngòi chằng chịt đến những vùng

đất bồi lắng phù sa, cha ông ta đã kiến tạo nên một đồng bằng bao la với đồng ruộng cò bay thẳng cánh, những miệt vườn xum xuê cây trái ”[23].

Trang 32

Xét về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên, vùng Tây Nam Bộ - nơi có quêhương Cà Mau của Nguyễn Ngọc Tư- có hệ sinh thái đa dạng: mặn, ngọt, lợđan xen Đây là vùng bình nguyên tương đối thấp và là vùng phù sa được bồiđắp qua nhiều kỷ nguyên đổi thay của mực nước biển Vùng Tây Nam Bộ cónhiều giồng cát trải dài chạy dọc ven biển, ven sông; vùng trũng thấp thì chủyếu đất phèn và đầm mặn do ảnh hưởng của môi trường biển và nước lợ, hệsinh thái đất ngập nước với rừng ngập mặn dày đặc cũng tạo nên cho TâyNam Bộ sắc thái nổi bật.

Đặc điểm cảnh quan môi trường sinh thái của vùng Tây Nam Bộ đãhình thành các loại hình khai thác kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp và quyếtđịnh các phương pháp khai thác tài nguyên thiên nhiên và cách thức tác độngvào thiên nhiên của con người, từ đó tạo nên đặc trưng văn hóa vùng TâyNam Bộ Những nơi đất phèn, có nước ngọt thì cư dân ở đây trồng 2 - 3 vụlúa và họ trồng 1 vụ lúa nơi đất mặn ven biển Trước kia nói đến đồng bằngsông Cửu Long là người ta nói đến văn minh lúa nổi - lúa trời: Từ thời xaxưa, ở vùng châu thổ có các đồng lúa nổi Người ta gọi đồng lúa nổi là lúatrời vì cư dân lúc bấy giờ không phải gieo cấy Cây lúa lớn mạnh theo từngcon lũ trong khi các cây cỏ khác bị chết ngộp không theo kịp nước và về cuốimỗi mùa lụt thì chúng đơm bông, kết hạt cứng chắc, nặng trĩu, sẵn sàng cho

vụ thu hoạch Nơi có những giồng cát trải dài chạy dọc ven sông, ven biểnhoặc nơi có gò đất cao thì cư dân nơi đây trồng cây trái

Nét đặc thù của thiên nhiên miệt vườn đã khơi nguồn cảm hứng sángtác cho các nhà văn Nam Bộ Quá trình hình thành miệt vườn không chỉ đemlại lợi ích kinh tế mà còn tạo ra những yếu tố văn hóa tinh thần phù hợp vớiđặc điểm tự nhiên và tư duy sáng tác văn chương Sáng tạo đó đã góp phầnphát triển văn học Nam Bộ nói riêng và làm phong phú, đa dạng bản sắc vănhóa dân tộc Việt Nam nói chung Mảnh đất Nam Bộ trong truyện ngắnNguyễn Ngọc Tư hiện ra thật đẹp và rộng lớn với dấu ấn văn hóa miệt vườn

Trang 33

đậm nét Nam Bộ hiện lên trong những trang văn của Nguyễn Ngọc Tư vớinhững vùng đồng bằng mênh mông, những cánh đồng lúa trải dài vô tận Ở

đó, những người nông dân làm nghề trồng lúa sống gắn bó với ruộng đồnghoặc suốt đời sống cuộc đời du mục, lang bạt rong ruổi với nghề nuôi vịt chạyđồng Mảnh đất Cà Mau nói riêng, Nam Bộ nói chung còn nổi tiếng vớinhững miệt vườn rộng lớn, bao la, xum xuê cây trái với rất nhiều loại trái câyđặc sản như: sầu riêng, xoài cát, ổi, mít Tố Nữ Văn minh miệt vườn là mộttrong những nét đặc trưng văn hóa tiêu biểu cho vùng đất Nam Bộ

Quê hương Cà Mau của Nguyễn Ngọc Tư được hình thành từ cái nôivăn hóa miệt vườn đồng bằng sông Cửu Long với những vườn cây trái xum

xuê trải dài một màu xanh mênh mông, bất tận“Ông Tư Mốt chỉ cái dải xanh

mù mù trong mưa, bảo cù lao Mút Cà Tha kìa Văn ờ, nói thấy xa quá chú ha Ông cười gạt ngang, xa gì, đây tới đó mấy hồi Rồi chiếc xuồng máy nhỏ mỏng manh rập rờn đi trong giông gió Người thành phố ngồi ngấm cái “mấy hồi” của ông già, mừng tủi thấy màu xanh cây cỏ cù lao đã thẫm trước mắt…

Từ mé rừng mắm chống lở đất bên nầy, đi hết vườn cây nầy gặp được một căn nhà thì lại tiếp đến một vườn cây trái khác.”[49, tr 17].

Đó còn là hình ảnh miệt vườn bên sông Trèm Trẹm ở miệt Năm Căn hiện lên trong tâm trí của chị khi miêu tả chợ nổi ở Cà Mau “Cầm lòng được

sao với cái mầu đỏ thanh tao của trái đu đủ chín cây, đỏ au của chôm chôm, vàng ươm của khóm, xoài, xanh riết của cóc, ổi, tím của cà Giữa chợ nổi

Cà Mau, cảm giác như gặp được những khu vườn của miệt sông Tiền, sông Hậu, như nhìn thấy những rẫy khóm, rẫy mía miên man dọc trên miền sông Trẹm quê mình”[51] Là khu vườn của nội với đủ loại cây trái ngọt thơm đặc

trưng cho miền Tây Nam Bộ “Bà nội dẫn tôi ra vườn, cái nắng sau mưa

nồng ngả vàng pha sắc đỏ, những giọt nước còn đọng lại trên tán lá non Ở đây cái gì cũng chín, từ trái mít, trái đu đủ, trái chanh đến cả buồng cau Trái chín đỏ lừ bên bông cau trắng muốt ”[46].

Trang 34

Rặng dừa soi bóng bên dòng kinh cùng sắc hoa sen, hoa súng, bôngbụp, bông điên điển điểm tô như những nét chấm phá càng làm cho quê

hương của chị hiện ra trong từng trang văn thêm sinh động nên thơ: “Một

hàng dừa nước bên sông nghiêng mình soi đáy Những ngày gió chướng về, nước trong vằng vặc như thấy rành rạnh từng sớ lá Trên bờ kinh, dây choại mọc đầy, đọt choại xanh non nhuốt líu ra líu ríu níu bước chân người Hàng bông bụp trước sân nhà nở đỏ…”[47, tr 165].

Đọc truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, ta cũng sẽ hiểu thêm về văn minhmiệt vườn với nghề “nuôi vịt chạy đồng” trên những cánh đồng mênh mông,

bạt ngàn, “cò bay thẳng cánh” rất đặc trưng ở vùng sông nước Nam bộ:“Mùa

gặt năm nào anh cũng xuôi ghe chở bầy vịt chạy đồng về xóm rạch giồng này Rồi cất cái chòi bằng lá chuối, quây lưới cầm vịt trên khúc đê trồng so đũa Từ chỗ này, mỗi ngày anh lang thang lùa vịt đi ăn khắp cả vạt đồng, qua tới vườn xóm lung Tới khi người ta bừa đất chuẩn bị sạ vụ mới, Sáng lại ra đi…”[47].

Miệt vườn Nam Bộ còn có nét đặc trưng của rừng biển giao hòa Rừng ởNam Bộ cũng mang một đặc điểm riêng biệt Không giống như rừng Tây Bắc,hay rừng miền Trung và Tây Nguyên, rừng ở đây là rừng ngập mặn, rừng tràm.Rừng tràm còn là hệ sinh thái khá phổ biến của vùng trũng ngập nội địa Chính

hệ sinh thái này đã mang tới một sắc thái địa - văn hóa tiêu biểu của vùng đấtNam Bộ, cư dân ở đây sống gần gũi, gắn bó, thân thiện với rừng vì rừng tạo rasinh kế và đem lại nguồn sống cho họ Thiên nhiên ở đây thật hùng vĩ và hàophóng với những sản vật phong phú, mùa nào thức ấy dành tặng cho con người

“Tháng tám hội khía.Tháng chín mùa cua lên bãi Tháng mười hội cá đường Rừng dày rậm rạp, rừng chồm sát mé kinh để níu kéo chút hơi ấm con người…”[51].

2.1.2 Văn hóa sông nước

Người Nam Bộ khi khai thác vùng châu thổ sông Cửu Long trước hết làphải thích nghi với môi trường sinh thái ở đây và học tập tri thức và kinh

Trang 35

nghiệm của cư dân bản địa, trong đó đặc biệt phải kể đến nhóm cư dân Namđảo và Môn - Khơmer, những người thầy tài ba không chỉ trong công cuộcchinh phục mặt nước mà còn biết tận dụng và khai thác tối ưu mặt nước Nhờvậy, cư dân vùng châu thổ sông Cửu Long thực sự đã tạo ra một cấu trúc mớicho văn minh sông nước ở vùng này Không lấy trị thủy làm trọng, cư dânvùng này rất chú ý đến việc làm thủy lợi kết hợp với mở mang giao thôngđường thủy Có lẽ cấu trúc của nền văn minh này là tận thủy - thủy lợi: tậndụng và khai thác tối ưu mặt nước tạo nên một nền văn minh sông nước độcđáo Từ nền văn minh nước lũ và chống lũ, người Nam Bộ lại tạo ra nên vănminh nước nổi và sống chung với nước nổi

Ở Nam Bộ khi xưa, việc thu hoạch lúa trời diễn ra vào cuối mỗi mùanước lũ nên người dân nơi đây phải kết gỗ làm thành bè để vận chuyển lúatheo những dòng nước nhất định tạo thành các luồng lạch, tạo tiền đề cho việchình thành hệ thống kênh rạch Về sau, người dân tập trung ở đông đúc tạothành các trung tâm cư trú thì người ta đào sông nối thẳng các đường nướcthành hệ thống giao thông thủy rất thuận lợi cho việc đi lại và tạo ra các bếnnước làm nơi thuyền bè tụ họp trao đổi hàng hóa sản vật trên chợ nổi Vănminh kênh rạch sau này cũng hình thành từ những yếu tố đó

Vào đầu thế kỷ XIX, khi miêu tả vùng đất Nam Bộ, Trịnh Hoài Đức đã

dẫn: “Đất Gia Định nhiều sông, kênh, cù lao và bãi cát Trong 10 người đã có 9

người quen việc chèo thuyền, biết nghề bơi nước Chỗ nào cũng có ghe thuyền hoặc dùng thuyền làm nhà ở hoặc để đi chơi, đi thăm người thân thích, chở gạo, củi buôn bán rất tiện lợi” Còn Lê Bá Thảo trong một công trình nghiên cứu của

mình, ông đã ước tính Nam Bộ có khoảng 5700 km kênh rạch [31]

Bao trùm các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư là hiện thực cuộc sống conngười trên mảnh đất Nam Bộ với cánh đồng ngập nước mênh mông, những

bờ kênh, con mương có cầu dừa vắt vẻo và vô số những đầm, đìa, rạch,xẻo Và những dòng sông, những dòng nhớ của Tư vẫn cứ tuôn chảy miệt

Trang 36

mài, len lỏi trong khắp cùng ngõ ngách Hậu Giang Cuối cùng, dòng nhớ biến

thành một nỗi nhớ mong khắc khoải Nhớ sông, truyện ngắn cuối cùng trong tập Giao thừa Mà không nhớ sao được, khi cả cuộc đời ba, cả cuộc đời má,

cả cuộc đời hai con mình đều gắn bó bền chặt với sông nước “Bây giờ hỏi

lại, Giang nói không có con kinh, con rạch nào mà ghe chưa đi qua, không có đường ngang ngõ tắt nào mà ông Chín không biết Xuôi dòng, ngược dòng, con nước kém, con nước rong Không ai nói với ai, nhưng cả nhà ông đều nghĩ, chắc là sống như vầy hoài, như vầy mãi thôi Chị em Giang đùa nhau, sau này lấy chồng ra riêng, ba cho mỗi đứa một chiếc ghe” [47, tr 156].

Giang tự nó nghĩa là sông, cái tên như một định mạng trói buộc từ đời

nào với rạch ngòi: “Giang không hiểu sao mình nhớ hoài, nhớ ràng ràng cái

ngày đó Cho nên qua vàm lần nào, Giang đều kéo con Thủy ra, Giang chỉ, má chết chỗ này nè” [47, tr 156] Má trợt sào té đầu đập vào cái gờ sắt, đôi chân

còn bíu vào ghe, rồi cả thân người hụp vào lòng sông, chìm lĩm Vợ chết, ôngChín vẫn tiếp tục chở hai đứa con gái đi bán hàng bông xuôi ngược trên khắp

các ngả sông ngòi Thủy mê đất từ hồi nhỏ, từ thuở còn bồng “Giang nhắc, ờ

phải em ham đất lắm, hồi nhỏ ghe đậu bến nào chế cũng coi em bắt mệt, cứ

xoay lưng là em chổng mông cạp đất ăn ngon lành” [47 tr 159]

Cư dân Nam Bộ có tập quá cư trú ven sông Loại hình cư trú này xuấtphát từ điều kiện địa lí tự nhiên Nam Bộ nhiều kênh rạch, sông ngòi, chằngchịt, thuận lợi cho việc di chuyển bằng đường thủy Các luồng lạch cứ thếmỗi năm một lấn sâu vào cánh đồng lúa nổi mênh mông giữa vùng ngậpnước Cư dân bắt đầu kết cây tạo thành những nơi cất trữ hạt lúa ở ngay giữavùng thu hái, lâu dần tạo ra kiểu nhà sàn vừa để cư trú vừa làm kho lẫm tíchtrữ lương thực cho đến vụ sau Nhà sàn được dựng ở nơi thế đất cao bên cạnhđường nước nên trong các mùa lụt làm nơi tránh lũ Văn minh nhà sàn vượt lũcũng bắt đầu từ đó Nơi ở gần sông như thế khá thoáng mát, phục vụ tiện íchcho cuộc sống sinh hoạt đời thường: tắm giặt, đánh bắt thủy hải sản, buôn

Trang 37

bán, trao đổi hàng hóa Nhà sàn, loại nhà nửa trên bờ nửa dưới nước, dựngtrên những chân cột rắn rỏi đóng chặt xuống lòng sông, sàn lót bằng ván Nhàsàn rất phổ thông ở vùng sông nước đồng bằng Cửu Long, như Bạc Liêu, CàMau, Cần Thơ, Vĩnh Long, Mỹ Tho…Bước vào tạp văn của Nguyễn Ngọc

Tư, Trăm năm bến cũ con đò ta bắt gặp chiếc võng đưa và mái nhà sàn ở

miệt phù sa của Tư “Cửa sau nhà tôi trông ra sông Tôi thường ví đó là một

khung tranh, có lúc nó hiện lên những chiếc tàu cao nghệu, hùng hục đi qua, che khuất cả dãy nhà sàn bên kia sông…[51, tr 163] “Chỗ tôi ngồi có chiếc võng con giăng ngang căn chòi de ra mép nước” [51, tr 165].

Với một địa hình có nhiều sông ngòi, kênh rạch nên ở Nam Bộ, chỗ nàocũng có ghe, thuyền, tắc ráng, vỏ lãi, Đây là những phương tiện giao thôngphổ biến nhất của cư dân vùng này Loại hình giao thông đường thủy, xuấthiện rất nhiều trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư Ghe xuồng để chở lúagạo, đi chợ, ghe xuồng buôn bán trên chợ nổi Có thể nói hầu hết mọi sinhhoạt của con người nơi đây đều gắn bó với sông, với nước, ghe thuyền Do

đó, văn minh chợ nổi cũng là nét đặc trưng trong văn hóa sông nước của Nam

Bộ Hiện thực đời sống sông nước Nam Bộ trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc

Tư chủ yếu được nhìn từ chỗ đứng thể hiện niềm tự hào của những người dânquê Tự hào vì trong “bức tranh” hiện thực ấy là những giá trị văn hóa bao đờicủa cha ông Với Nguyễn Ngọc Tư làng quê nông thôn tuy nghèo khó nhưng

rất thân tình và ấm áp Trong tản văn Chợ nổi Cà Mau chút tình sông nước,

Nguyễn Ngọc Tư tái hiện cảnh sinh hoạt của chợ nổi - một nét văn hóa rất đặc

trưng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long:“Tôi thường đứng trên cầu Gành

Hào, nhìn về chợ nổi, ở đó có thể trông thấy một dãy ghe rập rờn xao động

cả mặt sóng, những cái chân vịt gác chỏng lên loang loáng dưới mặt trời Mỗi chiếc ghe là một ngôi nhà nhỏ, ngang hai mét, dài năm bảy mét Nhỏ bé, chật hẹp Nhưng có một cái gì đó thật khác thường, thế giới đó hẹp đến nỗi chỉ vừa xoay lưng, để nằm co, để cúi người…mà cũng dài cũng rộng vô

Trang 38

phương bởi cuộc sống rày đây mai đó, lênh đênh cuối bãi đầu ghềnh.” [51].

Người đọc hiểu thêm về chợ nổi ở Nam Bộ, hay hiểu thêm về những gia đình,những con người cả đời phải bươn chải, mưu sinh trên những chiếc ghe theotừng con nước lớn, ròng được chị tái hiện rất chân thật, sinh động

Ghe thuyền còn dùng để làm nhà ở gắn với cuộc đời lênh đênh sông

nước của người dân Nam Bộ“ Lúc đó con Thủy còn mềm xèo nhỏ xíu như con

mèo mướp Hệt như Giang, nó lớn lên trên ghe Lúc buôn bán, lúc nấu cơm, ông Chín không bồng được, Giang buộc sợi dây dù vô chân nó, đầu kia Giang buộc vô mui ghe Con Thủy bò chán bò chê rồi nằm ngửa ra, ngó những trái cà, trái khóm, trái bí, bầu ông Chín treo lúc lỉu trên nhánh chà đằng mui ghe.”[47].

Ngoài ra, với vị thế ba mặt tiếp giáp biển, Nam Bộ có một ưu điểm mà

khó có vùng nào có“Đất mũi chỉ có bùn sình, rừng thẳm và biển Dẫu biển

không xanh ngàn ngặt mà đục ngầu phù sa nhưng ở đây nhiều biển lắm Biển đằng trước, biển đằng sau, biển bên phải, biển bên trái Bình minh mặt trời

từ biển quẩy nước ngoi lên rồi khi chiều về mặt trời chín đỏ già nua lại ngụp

về biển sau một ngày tự cháy…”[51] Đây là một môi trường rất thuận lợi cho

phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa

2.1.3 Văn hóa ẩm thực

Văn hóa ẩm thực là một trong những phản ánh rõ nhất lối sống củacon người Nam Bộ Nếu như người Bắc Bộ thường tỉ mẩn trong những bữa

ăn thì người Nam Bộ có vẻ thoáng hơn trong cách chế biến món ăn Ở đây là

có nhiều sình lầy, kênh rạch, rừng rậm nên nguồn thức ăn vô cùng phong phú

và đa dạng Những món ăn này không chỉ đi vào tiềm thức của mỗi người dânnơi đây mà còn được đi vào những tác phẩm văn học của Sơn Nam, BìnhNguyên Lộc như một phần không thể thiếu

Nói đến văn hóa ẩm thực Nam Bộ không thể không nhắc tới nhữngmón khô, như: mực, cá, tôm và cả thịt rừng hay mắm Trong những mùa nước

Trang 39

nổi đánh bắt được nhiều cá, tôm họ thường phơi khô hoặclàm mắm dành lúcuống rượu, nghe đờn ca tài tử cùng bạn bè trong những mùa trăng Trong bữacơm của người dân Nam Bộ món ăn xuất hiện nhiều nhất là mắm, họ có nhiềucách chế biến khác nhau, làm gia vị của nhiều món ăn khác nhau mang đặctrưng riêng của từng vùng miền.

Với nguồn nguyên liệu thuỷ sản đa dạng, các loại rau trái phong phú,người Nam Bộ đã sử dụng kỹ thuật nấu nướng khác nhau như luộc, nướng,chưng, hấp, xào, kho, khô, mắm để tạo ra nhiều loại món ăn khác nhau cónhững hương vị độc đáo Người dân Nam Bộ không chỉ dùng những động,thực vật do mình nuôi trồng mà còn tận dụng những sản phẩm của thiên nhiênnhư: Bông điên điển, bông bí rợ, đọt cây vừng, rau đắng, con chuột, cóc, dơi,

le le, cách lựa chọn này không chỉ cho thấy sự thích ứng với thiên nhiên

mà còn cho thấy bản sắc văn hóa của người dân nơi đây Nguồn thực phẩm ởđây đa dạng nênhọthường có nhiều cách chế biến mang đặc trưng của từngvùng Người dân Nam Bộ thường sử dụng hoa trái: dừa, thơm, xoài, me,bôngsúng kết hợp trong chế biến để tạo thành những món ăn hết sức độc đáo chỉriêng có ở Nam Bộ như: canh chua cá lóc nấu với bông súng, canh cua nấubông điên điển, lươn xào xả ớt, mắm lóc chưng dừa, cá rô đồng kho đọt me,cháo cá rau đắng, cá lóc hấp bầu, bún mắm Đồng Tháp, bánh canh TrảngBảng… Nếu người miền Bắc thích ăn nhạt, người miền Trung ăn mặn thìngười gốc Hoa lại thích ăn ngọt Những món ăn từ bông bí, bông điên điểnmang đặc trưng Nam bộ không chỉ đi vào thơ ca, âm nhạc mà dư vị của nócòn theo mỗi người suốt cả cuộc đời, bởi đó không đơn giản chỉ là món ăn

mà còn ẩn chứa cả văn hóa của vùng đất Nam Bộ Như vậy, những món ăncủa người dân Nam Bộ không chỉ hấp dẫn người ăn theo kiểu “lạ miệng” màcòn là sản phẩm văn hóa vùng miền Văn hóa ẩm thực Nam Bộ chính là kếthợp giữa sự thích ứng với thiên nhiên và sự nhạy bén, sáng tạo của conngười Nam Bộ

Trang 40

Trong truyện ngắn Của nhớ và xa Nguyễn Ngọc Tư đã viết :“Ngó

nghiêng hoài bạn nghe đói bụng, mới phát hiện ra Cà Mau có món bún nước lèo ngon lạ, chỗ khác người ta gọi bún mắm, dân bản xứ kêu bún nước lèo, cũng như ở đây cầu Cũ mới hơn cầu Mới, hơi sức đâu mà bạn cãi, với lại tô bún bưng ra đặt trước mặt rồi, ăn cái đã Vị mắm U Minh mặn mà, trong tô bún chỉ tịnh mấy miếng cá lóc trắng bong hay chục con tôm đất lột vỏ đỏ au cạnh mớ ớt băm cay xé, dĩa rau giá đặt cạnh, thêm cái đầu cá lóc còn nguyên

bộ lòng béo quá xá Mùi mắm sẽ phảng phất theo bạn hoài, ám ảnh bạn cho đến khi bạn… rửa sạch bộ râu Bạn nhận ra đây không phải là món bún mắm

mà bạn đã từng ăn ở đâu đó có mùi mắm bò hóc của người Khmer, hay vị của thịt heo quay Cà Mau còn một món tôm khô làm quà nịnh…ông già vợ cũng hay Tôm khô Cà Mau dùng để nhậu lai rai là hết sẩy, nổi tiếng ngọt thịt, vừa miệng, tôm sông lên màu đỏ tự nhiên không dùng phẩm nhuộm nhìn vẫn ưa mắt.”[48].

Được biết đến như một “Đặc sản miền Nam”, Nguyễn Ngọc Tư đã cócách thể hiện một cách đặc sắc nền văn hóa ẩm thực đặc thù của người Nam

Bộ Một vùng đất kinh rạch chằng chịt, nhiều bưng, hồ, búng, láng không

nơi nào không có cá, tôm, rắn, cua, rùa, ếch “Thằng Ba ngồi ở một góc

khác lặng lẽ, chắt lưỡi hít hà với mấy con cá trê vàng nướng, nó ngồi trở cá, mắt lom lom vô con cá bóng nhẫy, mỡ nhỏ xèo xèo trên bếp lửa, tô nước mắm gừng để tum hum trong lòng “ Con Tư chê cá rô, cá trê, ghét cá lóc (hồi năm tuổi, nó nhào vô cái lu đang rộng cá nên bị cá lóc phóng trúng, con mắt sưng như trái ổi, xanh dờn), nó lăng xăng làm cá sặc nấu cơm mẻ, nó nói cái tạng nó nghèo khó, nhăn nhó nên chỉ hợp với cá sặc thôi Anh chị nó cười ha

ha ha, ui cha, ba má ơi, nó nói vậy chớ ở thành phố bây giờ ăn cá sặc là sành điệu lắm, nhiều bữa muốn ăn cá sặc kho sả ớt mà kiếm không ra, thèm muốn rớt nước mắt luôn vậy đó” [48].Tâm hồn của một bà mẹ quê thuần

chất: “Má ngồi nhìn con cháu đang cười đùa ăn uống, nhớ thằng Út vừa vào

Ngày đăng: 07/12/2019, 10:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan An (2012), Người Nam Bộ, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội 2. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Nam Bộ", Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội2. Lại Nguyên Ân (2004), "150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Phan An (2012), Người Nam Bộ, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội 2. Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 2004
9. Hà Minh Đức (2003), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
10.Lê Bá Hán- Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữvăn học
Tác giả: Lê Bá Hán- Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1999
12.Đặng Hiển (2016), Văn học dưới góc nhìn địa văn hóa, Nxb Hội nhà văn 13.Dương Phú Hiệp (2012), Cơ sở lí luận và phương pháp luận nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dưới góc nhìn địa văn hóa", Nxb Hội nhà văn13.Dương Phú Hiệp (2012)
Tác giả: Đặng Hiển (2016), Văn học dưới góc nhìn địa văn hóa, Nxb Hội nhà văn 13.Dương Phú Hiệp
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn13.Dương Phú Hiệp (2012)
Năm: 2012
16.Trần Đình Hượu (1999), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
17.Nguyễn Thừa Hỷ (2001), Văn hoá Việt Nam truyền thống một góc nhìn, NxbVăn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam truyền thống một góc nhìn
Tác giả: Nguyễn Thừa Hỷ
Nhà XB: NxbVăn hóa thông tin
Năm: 2001
19.Ngô Văn Lệ (2003), Một số vấn đề văn hóa tộc người ở Nam Bộ và Đông Nam Á, Nxb ĐHQG TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề văn hóa tộc người ở Nam Bộ và ĐôngNam Á
Tác giả: Ngô Văn Lệ
Nhà XB: Nxb ĐHQG TPHCM
Năm: 2003
20. L.Iô-nhin (1998), Những định nghĩa về văn hóa trong văn hóa học, (Hoàng Vinh dịch), Giáo trình đại học Matxcova Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những định nghĩa về văn hóa trong văn hóa học
Tác giả: L.Iô-nhin
Năm: 1998
21.Phương Lựu (2010), Giáo trình Lí luận văn học, tập I, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Đại học Sưphạm
Năm: 2010
22.Nguyễn Đăng Mạnh (2005), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật củanhà văn
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2005
23.Sơn Nam (2007), Nói về miền Nam, cá tính miền Nam, phong tục tập quán miền Nam, Nxb Trẻ TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nói về miền Nam, cá tính miền Nam, phong tục tậpquán miền Nam
Tác giả: Sơn Nam
Nhà XB: Nxb Trẻ TPHCM
Năm: 2007
24.Sơn Nam- Phạm Xuân Thảo (2004), Một thoáng Việt Nam, Nxb Trẻ TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thoáng Việt Nam
Tác giả: Sơn Nam- Phạm Xuân Thảo
Nhà XB: Nxb TrẻTPHCM
Năm: 2004
25.Phan Ngọc (1998), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Phan Ngọc
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1998
34.Trần Ngọc Thêm (1997), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb TPHCM
Năm: 1997
35.Trần Nho Thìn (2007), Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn vănhóa
Tác giả: Trần Nho Thìn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
37.Đỗ Lai Thúy (1999), Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực
Tác giả: Đỗ Lai Thúy
Nhà XB: Nxb Văn hóathông tin
Năm: 1999
38.Đỗ Lai Thúy (2010), Phê bình văn học từ hệ thống văn hóa, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học từ hệ thống văn hóa
Tác giả: Đỗ Lai Thúy
Nhà XB: Nxb Hội Nhàvăn
Năm: 2010
7. Trần Hữu Dũng, Nguyễn Ngọc Tư – đặc sản miền Nam, http://viet- studies.net, 11/7/2018 Link
8. Trần Hữu Dũng, Về Cà Mau thăm Nguyễn Ngọc Tư, http://viet-studies.net, 15/8/2018 Link
36.Ngô Đức Thịnh, Một sốvấn đề lý luận nghiên cứu hệ giá trị văn hóa truyền thống trong đổi mới và hội nhập, http://www.vanhoahoc.vn, 17/10/2018 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w