1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đào tạo tiếng việt cho học viên quân sự quốc tế tại một số học viện, nhà trường quân đội”

96 167 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 287,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây làmột trong những lý do ảnh hưởng đến chất lượng học tập, đặc biệt là hạn chếnăng lực sử dụng từ ngữ tiếng Việt trong quá trình giao tiếp.Trong khi đó, tài liệu nghiên cứu về phương

Trang 4

hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Văn Phúc - giảng viên khoa Việt Nam học

và Tiếng Việt, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN Cáckết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là quá trình tìm hiểu, đúcrút ra trong học tập, nghiên cứu và làm việc của tôi Các trích dẫn nêu trongluận văn là trung thực và có chú thích rõ ràng

Tác giả luận vănĐàm Lê Duyên

LỜI CẢM ƠN

Trang 5

đồng nghiệp trong và ngoài trường

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban giám hiệutrường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Ban chủ nhiệm Khoa Việt Namhọc và tiếng Việt cùng toàn thể các thầy cô đã trang bị cho tôi những kiếnthức cần thiết trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới PGS.TS Nguyễn VănPhúc đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn Qua quá trình được thầyhướng dẫn, tôi đã học được phương pháp nghiên cứu khoa học, thái độ và tinhthần làm việc nghiêm túc, tỉ mỉ

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, cùng những người thânyêu nhất của tôi đã dành những tình cảm thương yêu, sự giúp đỡ tận tình, làchỗ dựa vững chắc để tôi tập trung thời gian học tập và nghiên cứu

Mặc dù đã rất cố gắng hoàn thành nhưng Luận văn của tôi vẫn khôngtránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô.Tôi xin chân thành cảm ơn !

Trang 7

I Biểu đồ

II Bảng

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Những năm gần đây, Việt Nam đã trở thành một điểm đến hấp dẫn,thu hút sự quan tâm của nhiều bạn bè quốc tế Nhu cầu tìm hiểu về văn hóaViệt Nam và học tiếng Việt cũng vì thế mà trở nên phổ biến hơn Trong bốicảnh đó, việc nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Việt là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi sự nỗ lực và phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, cácngành, trong đó có quân đội Những năm qua, Bộ Quốc phòng Việt Nam đãtập trung mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ nóichung và đào tạo tiếng Việt cho người nước ngoài nói riêng Điều này đượcthể hiện rõ nét qua Nghị quyết số 806/NQ - QUTW ngày 31-12-2013 củaQuân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm

2020 và Chỉ thị số 89/CT-BQP ngày 09-11-2016 của Bộ trưởng Bộ Quốcphòng về một số nhiệm vụ cấp bách nâng cao chất lượng dạy và học ngoạingữ trong hệ thống nhà trường quân đội Theo đó, việc dạy học tiếng Việt chohọc viên quân sự quốc tế được xác định là một nhiệm vụ trọng yếu, có tínhchiến lược, mang ý nghĩa chính trị, ngoại giao

Trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Việt, các học viện, nhà trường quânđội đã thực hiện đúng các quy định, hướng dẫn của Bộ giáo dục và đào tạocũng như của Cục Nhà trường, Bộ Tổng Tham mưu về đổi mới nội dung,chương trình và phương pháp giảng dạy Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế việcgiảng dạy và kết quả khảo sát công tác đào tạo tại các học viện, nhà trườngquân đội cho thấy các cơ sở đào tạo còn gặp những khó khăn nhất định dothiếu những giải pháp đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dụchiện nay

Đối tượng đào tạo của các học viện, nhà trường quân đội là học viênquân sự quốc tế đến từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới (gần 30 quốcgia) với phong tục tập quán khác nhau, phải sống tập trung trong các doanh

Trang 9

trại Quân đội, phải tuân thủ chặt chẽ theo kỷ luật của Quân đội nhân dân ViệtNam Điều này khiến cho môi trường thực hành tiếng Việt của họ bị thu hẹplại (học viên chỉ được thực hành tiếng Việt trong quân đội và ít có cơ hội đượcthực hành ở môi trường bên ngoài, với nhiều ngữ cảnh khác nhau) Đây làmột trong những lý do ảnh hưởng đến chất lượng học tập, đặc biệt là hạn chếnăng lực sử dụng từ ngữ tiếng Việt trong quá trình giao tiếp.

Trong khi đó, tài liệu nghiên cứu về phương pháp giảng dạy tiếng Việt

và đào tạo cho học viên quốc tế nói chung và học viên quân sự quốc tế nóiriêng cho đến thời điểm này còn hạn chế, chủ yếu là các đề tài hoặc bài viết

đề cập đến những khía cạnh riêng lẻ, chưa khái quát và chuyên sâu Hơn nữa,hiện nay các học viện, nhà trường lại chưa có sự thống nhất trong triển khaicác giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Việt

Chính vì những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài:“Đào tạo tiếng Việt cho học viên quân sự quốc tế tại một số học viện, nhà trường quân đội”.

Chúng tôi hi vọng, kết quả của đề tài sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích, bổsung vào hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Việt cho họcviên quân sự quốc tế tại các học viện, nhà trường quân đội nói chung và tạiHọc viện Khoa học Quân sự nói riêng

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trên thế giới, tiên phong cho lĩnh vực giảng dạy ngoại ngữ phải kể đếnchương trình đào tạo của Đại học Michigan do Charles Fries khởi xướng.Chương trình đào tạo này ngay lập tức đã tạo ra hiệu ứng tích cực và có sứclan tỏa mạnh mẽ đến nhiều quốc gia [30, tr.10]

Đối với việc giảng dạy tiếng Việt, cuốn tài liệu dạy tiếng Việt chongười nước ngoài đầu tiên ra đời từ hơn 100 năm trước, được biết đến trong

chương trình Giáo dục Pháp có tựa đề “Manuel de Conversation Tonkinois”- sách dẫn đàng nói chuyện bằng tiếng Phalangsa và tiếng Annam

Trang 10

Franco-do MM Bon (cố Bần) và Dronet (cố Ân) soạn, xuất bản năm 1889 [46].Những tác phẩm này có đề cập đến việc giảng dạy tiếng Việt như một ngônngữ thứ hai nhưng chưa chỉ ra vai trò của phương pháp giảng dạy đối với việcnâng cao chất lượng giảng dạy và học tập tiếng Việt và cũng như đưa ra cácphương pháp giảng dạy cụ thể Chỉ từ cuối thế kỷ XX, phương pháp giảngdạy tiếng Việt như một ngoại ngữ mới được các nhà sư phạm quan tâmnghiên cứu Các công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học tiếng như một

ngoại ngữ cũng được ra đời, tiêu biểu là: Chomsky N (Linguistic theory, Northeast Conference on the teaching of Foreign Language, 1996); Richards J.

C and T Roger (Approches and Methods in language Teaching, 1986); Ellis, R (Undersatanding second language acquisition, 1992); Laughin Mc, Robbins B (Theory of second Language Learning and Teaching, 1994) Đây được coi

như những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho việc nghiên cứu các phươngpháp dạy học tiếng với tư cách là một ngoại ngữ

Ở Việt Nam, nghiên cứu lịch sử dạy học tiếng Việt cho người nướcngoài, chúng tôi thấy rằng đến thời điểm này vẫn chưa có một giáo trìnhchính thống nào viết về phương pháp dạy học tiếng Việt cho người nướcngoài Những tài liệu mà chúng tôi thu thập được chỉ là những bài kỷ yếu,tham luận hay những đề tài nghiên cứu khoa học với các vấn đề nhỏ lẻ bàn về

phát âm, dạy từ hay rèn luyện các kỹ năng cơ bản như: “Dạy ngữ âm và từ ngữ tiếng Việt cho người nước ngoài” (Mai Ngọc Chừ, 1995), “Một số vấn

đề dạy ngữ âm và chữ viết tiếng Việt cho người nước ngoài” (Vũ Văn Thi,

1997) Trong các tài liệu này, các tác giả giới thiệu chữ viết, cách viết chữtiếng Việt, từ ngữ của tiếng Việt đồng thời chú trọng đến việc dạy phát âm saocho đúng đối với người nước ngoài

Ngoài ra còn hàng loạt những công trình nghiên cứu về phương pháp

chữa lỗi dùng từ, đặt câu, như:“Lỗi loại từ trong tiếng Việt của người nước

Trang 11

ngoài” (Nguyễn Thiện Nam, 2004) hay một vài luận án như : “Vấn đề lỗi của sinh viên nước ngoài học tiếng Việt: Lỗi phát âm của sinh viên nói tiếng Anh” (Nguyễn Văn Phúc, 1999), “Khảo sát lỗi ngữ pháp tiếng Việt của người nước ngoài và những vấn đề liên quan” (Nguyễn Thiện Nam, 2000)… Các công

trình này dựa trên số liệu khảo sát lỗi dùng từ, đặt câu của học viên nướcngoài từ đó đã đưa ra những phương pháp, thủ pháp chữa lỗi ở phạm vi cụ thểtrong so sánh, đối chiếu với ngôn ngữ đối tượng Những kết quả ấy đã gópphần tích cực vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập tiếng Việt ởViệt Nam Chúng tôi xem đây là những cơ sở khoa học bổ ích cho việc nghiêncứu đối tượng của luận văn

Tại các học viện, nhà trường quân đội việc biên soạn giáo trình tài liệu

và đề tài nghiên cứu khoa học về việc nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Việtcho học viên quân sự quốc tế đã được đặt ra từ lâu Tuy vậy, đến thời điểmnày, số lượng các công trình nghiên cứu liên quan đến giảng dạy tiếng Việtcho học viên quân sự nước ngoài có số lượng chưa nhiều, có thể kể đến một

số công trình tiêu biểu như:“Những lỗi phát âm cơ bản của học viên quân sự Lào ở giai đoạn thực hành tiếng Việt Nguyên nhân và giải pháp” (Nguyễn Thị Yến, 2008), “Xây dựng hệ thống bài tập điền từ trong dạy từ ngữ tiếng Việt cho học viên quân sự nước ngoài ở Học viện Khoa học Quân sự” (Nguyễn Thị Yến, 2006), “Phương pháp chữa lỗi dùng từ tiếng Việt của học viên quân sự nước ngoài ở Học viện Khoa học Quân sự” (Đào Thị Luyến, 2016), “Lỗi sử dụng hành vi khen và tiếp nhận hành vi khen của Học viên quân sự Lào ở Đoàn 871” (Nguyễn Thị Chính, 2016) Ngoài ra còn một số

bài báo, bài tham luận có liên quan

Điểm lại những công trình nghiên cứu kể trên, chúng tôi nhận thấyviệc nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Việt cho học viên quân sự quốc tếmới chỉ được tập trung giải quyết trên những khía cạnh cụ thể trong thực tế

Trang 12

giảng dạy như chữa lỗi về phát âm, về từ ngữ, ngữ pháp ở góc độ chuyên mônhẹp mà chưa đưa ra được hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chấtlượng đào tạo tiếng Việt.

Nghiên cứu và kế thừa những thành tựu khoa học của các tác giả kểtrên, bám sát vào yêu cầu thực tế, chúng tôi triển khai đề tài theo hướng đưa

ra một số giải pháp đồng bộ có ảnh hưởng trực tiếp đến quy trình đào tạonhằm nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Việt cho học viên quân sự quốc tếtrong các học viện, nhà trường quân đội; qua đó, góp phần giữ gìn và truyền

bá truyền thống văn hóa của người Việt Nam thông qua ngôn ngữ

3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Đối tượng được lựa chọn để khảo sát và nghiên cứu là:

- Công tác đào tạo tiếng Việt cho học viên quân sự quốc tế tại một số họcviện, nhà trường quân đội

Phạm vi thời gian: luận văn nghiên cứu công tác đào tạo tiếng Việttại một số học viện, nhà trường quân đội có đào tạo tiếng Việt cho ngườinước ngoài trong khoảng thời gian từ 2013 đến 2018 Đây là khoảng thờigian phù hợp để nghiên cứu những thay đổi trong công tác đào tạo tiếngViệt tại các học viện nhà trường quân đội sau khi Bộ Quốc phòng ra Nghịquyết số 806/NQ - QUTW về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng vào

Trang 13

năm 2013 Hơn nữa, khoảng thời gian 5 năm cho phép tác giả đánh giá đầy đủcác khóa học từ ngắn han, trung hạn đến dài hạn theo quy định của CụcNhà trường/ BTTM.

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp khảo sát thực tế

Thông thường, trước khi tìm đến với một kết luận, một nhận định haymột giả thuyết khoa học, người nghiên cứu cần phải qua các khâu tìm hiểu,khảo sát thực tế để nắm chắc đối tượng, đồng thời phát hiện những nội dungmang tính “thời sự” để tiến hành xem xét, giải quyết thì vấn đề đặt ra mới thuhút được sự chú ý của những người quan tâm

Từ ý nghĩa của việc làm đó, để đưa ra những kết luận cụ thể trong đề tàinày, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát thực tế Ngữ liệu thu được là đối tượngphân tích để chỉ ra thực trạng, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp phù hợpnhằm nâng cao hiệu quả đào tạo tiếng Việt cho học viên quân sự quốc tế trongcác học viện, nhà trường quân đội nói riêng và ở Việt Nam nói chung

5.2 Phương pháp thực nghiệm

Thực nghiệm là một trong những nội dung quan trọng, góp phần làm nênthành công của luận văn Chỉ có thực nghiệm mới có thể đánh giá được giá trịthực tiễn cũng như tính khả thi của luận văn Để thực nghiệm đạt hiệu quả,chúng tôi tập trung tiến hành các bước như sau:

- Xác định mục đích thực nghiệm, nội dung thực nghiệm, đối tượng thựcnghiệm và phạm vi thực nghiệm

- Xác định kế hoạch thực nghiệm

- Xây dựng các tiêu chí đánh giá thực nghiệm trên nguyên tắc trung thực,khách quan và chính xác

6 Đóng góp của luận văn

- Chỉ ra thực trạng của công tác đào tạo tiếng Việt cho học viên quân sựquốc tế tại một số học viện, nhà trường quân đội

Trang 14

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cho học viênquân sự quốc tế tại một số học viện, nhà trường quân đội

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văngồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết.

Chương 2: Thực trạng đào tạo tiếng Việt cho học viên quốc tế tại Việt

Nam và một số học viện, nhà trường quân đội; Thực nghiệm

Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Việt

cho học viên quân sự quốc tế tại một số học viện, nhà trường quân đội

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Phương pháp, phương pháp luận

Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu hai khái niệm: phương pháp (method)

và phương pháp luận (methodology)

[10, 228]

Các tác giả của từ điển này cho rằng:

“Các phương pháp dạy tiếng khác nhau như phương pháp trực tiếp, phương pháp nghe nhìn, phương pháp nghe nói, phương pháp ngữ pháp-dịch, phương pháp con đường im lặng, và phương pháp giao tiếp… là kết quả của những quan điểm khác nhau về:

a. Bản chất của ngôn ngữ

b. Bản chất của việc học ngôn ngữ

c. Mục đích và ĐỐI TƯỢNG giảng dạy

d. Các loại chương trình (SYLLABUS) được sử dụng

e. Vai trò của người dạy, người học và các tài liệu giảng dạy

f. Các kỹ thuật và thủ pháp được sử dụng” [10, 228]

1.1.2 Phương pháp luận

Nhóm Richard, cũng trong từ điển ngôn ngữ học ứng dụng nêu trên đãđịnh nghĩa như sau:

Trang 16

“Phương pháp luận - Methodology (trong dạy tiếng):

(1) là sự nghiên cứu việc luyện tập và thủ tục được sử dụng trong việc dạy

và những nguyên tắc và lòng tin có trong đó.

Phương pháp luận bao gồm:

(a) sự nghiên cứu bản chất của các KỸ NĂNG NGÔN NGỮ (như đọc, viết, nói nghe) và các cách/thủ tục để dạy chúng

(b) sự nghiên cứu việc chuẩn bị của KẾ HOẠCH BÀI GIẢNG, các tài liệu

và sách giáo khoa dùng để dạy các kỹ năng

(c) sự đánh giá và so sánh các PHƯƠNG PHÁP dạy tiếng (ví dụ: PHƯƠNG PHÁP NGHE NÓI)

(2) Bản thân những sự thực tập, những thủ tục, nguyên tắc và lòng tin Người ta có thể phê phán hay khen ngợi phương pháp luận của một chương trình học nào đó.

(3) (Trong nghiên cứu) Các thủ pháp được sử dụng để tiến hành khảo sát, điều tra, bao gồm những phương pháp được sử dụng để sưu tập và phân tích

dữ liệu.” [10, 228]

Thực ra, trong dạy tiếng, việc phân biệt rạch ròi giữa hai khái niệmnày là một việc không dễ Chúng ta có thể hiểu một cách giản dị quan niệmnày như sau: phương pháp là hệ thống các quan điểm về việc giảng dạy cònphương pháp luận thì xem xét các kỹ năng, kế hoạch liên quan đến bìnhdiện của lớp học, chú ý vào những hoạt động và nhiệm vụ của lớp học và

sự quản lý quá trình học Phương pháp luận cũng chính là sự đánh giá cácphương pháp dạy tiếng, như điểm c trong định nghĩa của nhóm Richard Ởđây chúng ta không bàn đến điểm 3 của phương pháp luận (trong nghiêncứu) tại định nghĩa của nhóm Richard Tuy nhiên, cũng có nhiều cách hiểuđồng nhất phương pháp và phương pháp luận, cho rằng cả hai đều chỉ là

“cách dạy” mà thôi [30]

Trang 17

Chúng ta xem xét phương pháp luận từ góc độ lớp học Sự tập trungchủ yếu là những nhiệm vụ và hoạt động trong lớp học và việc quản lý việchọc

Richards (1987) chỉ ra: mục đích của nhiều giáo viên dạy tiếng là tìm

được phương pháp đúng: “Lịch sử của nghề chúng ta trong hàng trăm năm qua đã ủng hộ một niềm tin rằng những sự cải tiến trong việc dạy tiếng chính

là kết quả của việc cải tiến các phương pháp và cuối cùng thì một phương pháp dạy tiếng hiệu quả sẽ ra đời” [6, 11] Ông tiếp tục cho rằng rất nhiều

năm, người ta tin rằng, lý thuyết ngôn ngữ học và ngôn ngữ học tâm lý đãphát hiện ra bí mật của việc thủ đắc ngôn ngữ thứ hai và rồi vấn đề dạy ngônngữ thứ hai như thế nào được giải quyết một lần cho tất cả

Về phương pháp, mặc dù có sự khác nhau, nhưng tất cả các phươngpháp có một điểm chung Chúng đều giả định rằng có một số những nguyêntắc riêng quyết định việc học có xảy ra hay không

Swaffar et al [13] thấy rằng: các giáo viên đã học một cách bài bảntrong một phương pháp nào đó thì lớp học thật sự của họ với hàng loạt hoạtđộng và tình huống, đã làm cho phương pháp đó gặp nhiều vấn đề Nghiêncứu của nhóm này lấy cứ liệu từ lớp học và học cho rằng những gì xảy ratrong lớp học là cứ liệu rất quan trọng Nó quan trọng hơn những gì giáo viênđược huấn luyện

1.2 Về khái niệm đào tạo giáo viên dạy tiếng

Thực tế việc giảng dạy tiếng Việt một cách chuyên nghiệp đòi hỏingười giáo viên phải có sự tích hợp cần thiết giữa sự thông minh, óc tưởngtượng, tri thức tổng hợp đa ngành, tri thức cơ bản về ngôn ngữ học, ngôn ngữhọc ứng dụng, tri thức cơ bản về tiếng Việt và kinh nghiệm về kỹ năng đứnglớp dạy tiếng tốt… Làm một giáo viên dạy tiếng tốt khác với một bác sĩ giảiphẫu, một luật sư, khác với cả một nhà ngôn ngữ học, tuy nhiên, cũng như bác

Trang 18

sĩ, luật sư, nhà ngôn ngữ học, để trở thành một giáo viên dạy tiếng chuyênnghiệp, cũng cần quá trình tuyển chọn, đào tạo đặc biệt và những kỹ năng cầnthiết trước khi được chấp nhận

Một đặc trưng của nghề dạy tiếng là chúng ta phải tiếp xúc với hàngloạt đối tượng người học khác nhau, với những điều kiện học, mục đích, lứatuổi, quốc tịch, tiếng mẹ đẻ… khác nhau Nói cách khác, chúng ta phải chú ýđến từng cá nhân một với những bối cảnh khác nhau Như vậy, về khía cạnh

lý thuyết, cùng lúc, chúng ta phải chú ý tới tất cả đồng thời cũng phải chú ýđến từng cá nhân một

Thực tế là trên thế giới đã có hẳn ngành dạy tiếng (language teaching)thuộc ngôn ngữ học ứng dụng (applied linguistics) và rất nhiều nhà ngôn ngữhọc ứng dụng đã xây dựng hẳn lý thuyết về giảng dạy và học tập ngôn ngữthứ hai, có thể kể ra hàng loạt tên tuổi như: Fries, C C., Lado, R.,Corder, S.P., Selinker, L M., Ellis, R., Littlewood, W T., Richards, J C., Krashen, S.D.,Long, M H., Larsen-Freeman, D.E., Bailey, N., Nunan, D.,

Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng và dạy tiếng của nhóm Richard, J nhàxuất bản Longman [10, 374] cho rằng: “Đào tạo giáo viên (teacher education)

là một lĩnh vực nghiên cứu đề cập tới sự chuẩn bị và phát triển nghề nghiệpcủa các giáo viên Trong lĩnh vực teachear education, thỉnh thoảng người taphân biệt hai khái niệm: teachear training – đào tạo giáo viên và teacherdevelopment - phát triển giáo viên

Teacher training đề cập tới những kỹ năng giảng dạy cơ bản trongchương trình tiền giảng dạy (preservice education), đặc biệt là đối với nhữnggiáo viên mới bập vào nghề (novice teachers) Những kỹ năng này bao gồmnhững bình diện của việc giảng dạy như việc chuẩn bị kế hoạch bài giảng,việc quản lý lớp học, việc dạy 4 kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết), các kỹ thuậtgiới thiệu và rèn luyện các đơn vị ngữ liệu, kỹ thuật chữa lỗi

Trang 19

Teacher development chú ý đến giai đoạn sau khi đã qua giai đoạn đàotạo đầu tiên và đề cập tới sự phát triển nghề nghiệp của các giáo viên, đặc biệt

là các chương trình tập huấn dành cho các giáo viên đang giảng dạy(Inservice Education).”

Chương trình này tập trung vào việc tự đánh giá của giáo viên, việc cácgiáo viên khảo sát về những bình diện khác nhau của tiến trình giảng dạy vàviệc kiểm tra cách tiếp cận đối với tiến giảng dạy của giáo viên Chương trìnhInservice programmes dành cho các giáo viên dạy tiếng cũng có thể được gọi

là “Continuing Education for Language Teachers (CELT) - Đào tạo tiếp tụcđối với giáo viên dạy tiếng

1.3 Các phương pháp dạy tiếng, phương pháp giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ.

Một trong những vấn đề trung tâm của nghề dạy tiếng là “phương phápdạy tiếng” Trong suốt thế kỷ 20, thế giới đã chứng kiến sự ra đời phát triểntàn lụi hay hồi sinh của rất nhiều các phương pháp

Chúng ta điểm qua khái niệm các phương pháp để có một tri thức tốithiểu về các phương pháp dạy tiếng

Hai nửa đầu cuối thế kỷ 19 là sự đổi ngôi của phương pháp ngữ phápdịch (Grammar-Translation Method) và phương pháp trực tiếp (DirectMethod) Giai đoạn từ những năm 1940 đến 1980 thường được coi như là thời

kỳ của các phương pháp Phương pháp dạy theo tình huống thịnh hành ở Anhquốc, trong lúc đó, một phương pháp gần giống như thế là phương pháp nghenói (ALM) thì nổi lên ở Mỹ Ở giai đoạn giữa là những phương pháp được coi

là kế thừa của phương pháp tình huống và nghe nói như: con đường im lặng,

ám thị, học ngoại ngữ cộng đồng (CLL), phương pháp phản ứng (TPR) Trongnhững năm 1980, những phương pháp này buộc phải nhường chỗ cho mộtphương pháp có vẻ tân kỳ và thuyết phục hơn từ cả cái tên của nó: phương

Trang 20

pháp giao tiếp (Communicative Language Teaching-CLT) hay một tiếp cậnmạnh hơn nữa theo hướng giao tiếp là phương pháp tự nhiên (NaturalApproach – NA)) của Krashen Tuy nhiên, CLT hay NA, cho dù rất mạnh mẽ

và sôi nổi cũng có sơ suất, và có những khuyết điểm tai hại mà sự ra đời củaFonF (Focus on Form), một phương pháp tích hợp những ưu điểm của CLT vàcác phương pháp truyền thống sẽ khắc phục được những khiếm khuyết đó.Thậm chí vào cuối những năm 90 của thế kỷ trước và từ năm 2000, đã bắt đầuxuất hiện khái niệm hậu phương pháp (post method)

1.3.1 Phương pháp dịch - ngữ pháp (The Grammar-Translation Method)

Phương pháp dịch - ngữ pháp được xem như là phương pháp giảng dạyngoại ngữ cổ điển Mục đích của phương pháp này giúp người học ngoại ngữđọc được những tài liệu và những tác phẩm văn học bằng ngôn ngữ đích.Giáo viên giữ vai trò tuyệt đối điều hành trong lớp, trong khi đó học viên chỉ

là người thụ động tiếp nhận thông tin từ giáo viên Giáo viên chỉ sử dụngngôn ngữ nguồn trong việc giảng dạy và hướng dẫn Một bài học tiêu biểu củaphương pháp này bao gồm sự trình bày công thức ngữ pháp, danh sách các từmới và bài tập dịch

1.3.2 Phương pháp trực tiếp (The Direct Method)

Phương pháp trực tiếp còn được gọi là phương pháp tự nhiên (Naturalmethod) vì phương pháp này bắt chước cách tiếp thu ngôn ngữ tự nhiên củacon người Phương pháp này có những đặc điểm như sau:

- Chỉ có ngôn ngữ đích được dùng trong lớp học

- Ý nghĩa được gắn liền trực tiếp với ngôn ngữ đích bằng cách liên kếthình thức ngôn ngữ với hoạt động, đối tượng bắt chước, cử chỉ và tình huống

- Việc dạy đọc và viết phải tiến hành sau việc dạy nói

- Ngữ pháp được lĩnh hội bằng con đường quy nạp

Trang 21

1.3.3 Phương pháp Nghe - Nói (Audiolingual Method)

Phương pháp nghe nói hay còn gọi là phương pháp quân đội (Armymethod) Phương pháp này gần giống với phương pháp trực tiếp Gồm cónhững điểm chính sau đây:

- Nhấn mạnh dạy nghe và nói trước việc dạy đọc và viết

- Sử dụng các bài hội thoại và luyện tập

- Không khuyến khích việc dùng tiếng mẹ đẻ trong lớp học

- Thường sử dụng thao tác phân tích, đối chiếu

Phương pháp Nghe - Nói chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ học cấu trúc vàchủ nghĩa hành vi

1.3.4 Phương pháp con đường im lặng (The silent way)

Đây là phương pháp do C.Gattegno đề xướng Phương pháp này sửdụng cử chỉ, bắt chước lẫn nhau, tức là những tấm thẻ gỗ có chiều dài và màusắc khác nhau mà giáo viên dùng để giúp học viên nói Phương pháp này cótên như vậy là do sự im lặng tương đối của giáo viên sử dụng những kỹ thuậtnày Nguyên tắc cơ bản của phương pháp “con đường im lặng” là “Việc dạy làphụ trợ cho việc học”

1.3.5 Phương pháp phản ứng (The total physical response)

Phương pháp này do Asher đưa ra, thuộc một cách tiếp cận mới đối vớiviệc dạy tiếng và có tên gọi là: “Cách tiếp cận hiểu” (The comperhensionapproach) Nó được gọi như thế bởi vì tầm quan trọng mà nó dành cho việc nghehiểu (Listening comprehension) Trong phương pháp phản ứng các học viênnghe và phản xạ lại những yêu cầu bằng lời trong ngôn ngữ đích của giáo viên.Các đơn vị được giới thiệu bằng ngoại ngữ là các mệnh lệnh, yêu cầu và chỉ dẫn,đòi hỏi một sự đáp lại bằng hành động thể chất của người học (Ví dụ : “Hãy mởcửa sổ” hoặc “Hãy đứng dậy”)

Trang 22

1.3.6 Phương pháp giao tiếp (Communicative Language Learning/ Communicative Approach)

Phương pháp giao tiếp do các nhà ngôn ngữ học ứng dụng người Anh

đề xướng Phương pháp này nhấn mạnh: Mục đích của việc học ngoại ngữ (ởđây là tiếng Việt) là năng lực giao tiếp (Communitive Competence), nghĩa là,muốn cho học viên giao tiếp bằng ngôn ngữ đích Có rất nhiều nhà phươngpháp luôn nhấn mạnh đến các cấu trúc ngôn ngữ hoặc từ vựng Các nhà sưphạm chủ trương phương pháp giao tiếp đều hiểu rằng cấu trúc ngôn ngữ và

từ vựng là quan trọng Tuy nhiên, họ nhận thấy rằng việc chuẩn bị cho sự giaotiếp sẽ không đạt kết quả tốt nếu chỉ dạy cho học viên những điều trên Họcviên có thể biết được một số công thức các cách dùng ngôn ngữ chứ khôngthể dùng ngôn ngữ Trong giao tiếp chúng ta dùng ngôn ngữ để thực hiện một

số chức năng như tranh luận, thuyết phục, hứa hẹn, v.v… Những chức năngnày được tiến hành trong cuộc sống hàng ngày Khi thực hiện giao tiếp, ngườinói sẽ chọn cách riêng để thể hiện việc tranh luận của mình Người nói khôngchỉ dựa vào ý định hoặc tình cảm riêng của mình mà còn tùy thuộc vào đốitượng mà mình đang giao tiếp và quan hệ với đối tượng giao tiếp Chúng tabiết giao tiếp là một tiến trình, học viên chỉ đạt được một phần tri thức về cáchình thức, ý nghĩa, chức năng của ngôn ngữ Học viên phải có khả năng ápdụng những tri thức này đúng với ý nghĩa giao tiếp Thông qua sự trao đổigiữa người nói với người nghe hoặc người đọc với người viết, ý nghĩa của nó

sẽ trở nên rõ ràng Khi người nghe trao cho người nói sự phản hồi (feedback),thì chứng tỏ người nghe hiểu hoặc không hiểu cái điều người nói đã nói Bằngcách này người nói có thể nhận thức lại điều mình đã nói và cố gắng truyềnđạt lại điều đó, nếu cần thiết Nhiệm vụ chính của những giáo viên sử dụngphương pháp này là làm thế nào để học viên có năng lực giao tiếp(Communitive Competence) Với yêu cầu này, cũng là mục đích của nhiều

Trang 23

phương pháp khác, thì ở phương pháp giao tiếp khái niệm năng lực giao tiếpđược đặc biệt quan tâm và mở rộng hơn

Giáo viên giữ vai trò như một người cố vấn cũng như là người thúc đẩyviệc học của học viên, trong khi đó học viên là người giao tiếp Giáo viênđược xem như người quản lý những hoạt động trong lớp và học viên đượcxem như là người tự quản lý có trách nhiệm về việc học của mình Ngôn ngữnguồn gần như không có vai trò riêng trong lớp học mà ngôn ngữ đích đượcxem như là công cụ để giao tiếp chứ không phải là chủ đề để học Ngôn ngữđích được giáo viên và học viên sử dụng cho những hoạt động, hướng dẫn vàgiải thích Sự tương tác giữa học viên với học viên xảy ra rất thường xuyêntrong những hoạt động nhóm, cặp, trong thảo luận Bốn kỹ năng ngôn ngữđược giảng dạy từ khi học viên mới bắt đầu học Chương trình học được thiết

kế chủ yếu dựa vào hoàn cảnh và mục đích cụ thể của người sử dụng ngônngữ trong bối cảnh đó Ngôn ngữ được giảng dạy bằng phương pháp này chủyếu dành cho việc giao tiếp và những chủ đề văn hóa tập trung vào cuộc sốngthường ngày của người nói ngôn ngữ đích Từ vựng được giảng dạy chủ yếubằng cách dạy nghĩa của từ thông qua những công cụ nghe nhìn, những môhình, những vật thể thực sự và dạy từ vựng chủ yếu qua văn cảnh hoặc nhữngtrò chơi Phương pháp này chủ yếu nhấn mạnh vào việc phát triển kỹ năngnghe - nói - đọc - viết mà ít chú ý đến kiến thức từ vựng Điều này dẫn đếntình trạng học viên có kỹ năng giao tiếp tốt nhưng sẽ cảm thấy hơi khó khăntrong việc giao tiếp vì thiếu hụt một số lượng từ vựng

Học viên có thể phần nào khắc phục tình trạng này bằng cách tăngcường, thực hiện các cuộc giao tiếp và thảo luận với nhiều chủ đề đa dạng.Phương pháp này có ưu điểm là dạy từ vựng gắn liền với văn cảnh và trò chơi.Học viên có thể nắm vững được cách sử dụng từ trong từng tình huống cụ thể.Hơn nữa, học viên có thể hình dung được những từ cụ thể thông qua nhữngminh họa trực quan và sinh động

Trang 24

1.3.7 Phương pháp Hậu phương pháp (Post method)

Thực tế thì từ cuối những năm 1990, sau năm 2000 cho đến nay, người

ta không giới thiệu phương pháp nào nữa và các nhà giáo dục ngoại ngữ bắtđầu nói đến một thuật ngữ mới: Hậu phương pháp (Post Method) Cách gọinày có liên tưởng tới cách gọi của chủ nghĩa Hậu hiện đại Khi nói đến hậuphương pháp tức là người ta không còn nói đến một phương pháp cụ thể nàonữa Từ năm 2000 đến nay, các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục ngoại ngữthường bàn đến những thủ pháp, những kỹ năng, những chiến lược được tổnghợp từ những ưu điểm của các phương pháp trước đây Kỳ thực thì phươngpháp tích hợp (FOCUS on FORM) mà chúng ta vừa tìm hiểu trên chính làmột biểu hiện của Hậu phương pháp trong giảng dạy ngoại ngữ

Học theo nhiệm vụ là một tiếp cận hướng vào nghĩa, tựa như nhữnghoạt động được tiến hành trong lớp học nhưng không tính toán đến ngữ pháp.Đây là một trong những cách mà phương pháp giao tiếp, phương pháp tựnhiên thường sử dụng nhằm giúp người học thực hiện những hoạt động giốngnhư cuộc sống thật và thủ pháp này vẫn được sử dụng nhiều trong giai đoạn

“hậu phương pháp” này Một số nhiệm vụ thông thường là: gọi điện thoại, hỏiđường, vẽ bản đồ, gặp bác sĩ, gửi thư ở bưu điện, ăn tối ở tiệm, hãy nói vềngày cuối tuần, hoặc trình độ cao hơn: hãy so sánh tính cách của mẹ và bốmình, hãy nói về cách làm nem rán,…

Như vậy, chúng ta có thể thấy, việc dạy theo nhiệm vụ là tạo nên những

cơ hội sử dụng ngôn ngữ vì mục đích giao tiếp (meaning –focused languageuse) Nói cách khác, việc người học thực hiện các nhiệm vụ sẽ không chỉ lànói để chỉ luyện tập một cấu trúc mới như là một bài luyện tập cấu trúc tronggiáo trình hoặc đặt những hội thoại sử dụng những mẫu câu, mẫu câu hỏi mớihọc, và sẽ không chỉ là viết để thể hiện tri thức về các hiện tượng ngôn ngữ.Việc thực hiện các bài tập cấu trúc ngôn ngữ không phải là nhiệm vụ mà đó là

Trang 25

các bài tập của các hoạt động hướng vào ngữ pháp (form focus activity) nhằmrèn luyện các tri thức ngữ pháp đã được trình bày trước đó.

Người học thực hiện nhiệm vụ sẽ được tự do sử dụng bất cứ hình thứcngôn ngữ nào phù hợp để đạt được mục đích của nhiệm vụ

Tóm lại, chúng tôi kết hợp các phương pháp trên và rút ra những ưuđiểm Để chọn một phương pháp dạy tối ưu nhằm thông qua hoạt động củangôn ngữ mà đất nước, con người và văn hóa Việt được giới thiệu với bạn bèkhắp năm châu Để nắm vững và áp dụng đúng theo yêu cầu của phương phápnày, chúng ta nên phân biệt giữa tiếng nói và chữ viết vì phân biệt giữa tiếngnói và chữ viết giúp cho việc giảng dạy đúng với nhu cầu giao tiếp của ngônngữ Hệ thống tiếng nói là một hệ thống phát âm và thu nhận âm; có nghĩa làmột hệ thống mô tả và phân tích giữa người nói với người nghe Muốn giaotiếp bằng tiếng nói ta phải nói được và nghe được, hiểu được Đây là hai kỹnăng phải được trau dồi để học viên có thể dùng ngôn ngữ trong giao tiếp Hệthống chữ viết là một hệ thống ký hiệu để ghi lại âm thanh của hệ thống tiềngnói Ký hiệu đó gọi là chữ viết Muốn giao tiếp bằng chữ văn bản (chữ viết),học viên phải được trau dồi kỹ năng đọc hiểu và viết Dạy ngôn ngữ là dạy 4

kỹ năng: nghe - nói - đọc - viết Đối với phương pháp giao tiếp, kỹ năng nghe

và nói được chú trọng nhất vì hoạt động chính của ngôn ngữ là nghe và nói.Tuy vậy phương pháp này cũng không xem nhẹ các kỹ năng còn lại, chúngđược giáo viên rèn luyện cho học viên suốt trong quá trình học

Tiểu kết chương 1

Nghiên cứu về giảng dạy tiếng Việt, phương pháp giảng dạy tiếng Việtnhư một ngoại ngữ cho đến nay đã thu được những thành tựu đáng kể Trênthế giới cũng như trong nước đã có nhiều công trình đề cập đến vấn đề này.Không ai có thể phủ nhận được vai trò của các phương pháp giảng dạy cũng

Trang 26

như tầm quan trọng của việc kết hợp với các yếu tố khác Phương pháp giảngdạy phù hợp sẽ giúp người dạy và người học được thực hành tiếng trong môitrường giao tiếp giả định, qua đó rút ra được những kinh nghiệm, hình thànhthói quen sử dụng từ ngữ chính xác, lối ứng xử linh hoạt trong các tình huốnggiao tiếp thực Trong chương này, chúng tôi đã đưa ra cơ sở lý thuyết từ đólàm cơ sở nghiên cứu thực trạng, thực nghiệm cũng như đề xuất các giải phápnhằm nâng cao chất lượng đào tạo và giảng dạy tiếng Việt cho học viên quân

sự quốc tế tại các học viện, nhà trường quân đội nói chung và tại Học việnKhoa học Quân sự nói riêng

Trang 27

Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO TIẾNG VIỆT CHO HỌC VIÊN QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ HỌC VIỆN, NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI;

THỰC NGHIỆM

2.1 Thực trạng đào tạo tiếng Việt cho học viên quốc tế tại Việt Nam

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, môn Tiếng Việt đã đượcđưa vào giảng dạy tại các cấp học ở Việt Nam Hơn 70 năm đã trôi qua cùngvới bao thăng trầm của lịch sử, tiếng Việt đã trở thành ngôn ngữ Nhà nướccủa Việt Nam và có nhiều phát triển theo biến đổi của tình hình thực tiễn

Trong xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam đang hội nhậptoàn diện về mọi mặt Song song với việc ngày càng có nhiều người Việt Nam

ra nước ngoài sinh sống, học tập, công tác, du lịch , số lượng người nướcngoài tìm đến Việt Nam cũng gia tăng mạnh mẽ trong những năm gần đây vớinhững lý do tương tự Ví dụ, trong lĩnh vực du lịch, từ năm 2014 đến năm

2018 số lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng gần gấp đôi (8 triệu tăng lêngần 15,5 triệu lượt).1 Tương tự, theo Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội(2018), số lượng lao động nước ngoài có xu hướng tăng, nhất là từ năm 2016đến đầu năm 2018 Hiện cả nước có trên 80.000 người lao động nước ngoàiđang sinh sống tại Việt Nam Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, không ít cácbạn sinh viên quốc tế lựa chọn tới Việt Nam để du học Ban đầu, số lượngsinh viên quốc tế tới Việt Nam du học còn rất hạn chế và tập trung chủ yếu làsinh viên của các nước láng giềng như Lào, Campuchia, Trung Quốc Trongkhoảng một vài năm trở lại đây, số lượng sinh viên quốc tế mà đặc biệt là sinh

1 Ngọc Quỳnh (2018), Năm 2018, Việt Nam đón gần 15,5 triệu lượt khách quốc tế

http://www.vnmedia.vn/du-lich/201901/nam-2018-viet-nam-don-gan-155-trieu-luot-khach-quoc-te-623702/

Trang 28

viên tới từ các nước phát triển như Canada, Úc, Pháp, Hàn Quốc theo họctại các trường đại học Việt Nam đang không ngừng tăng nhanh2 Thực tế nàycho thấy nhu cầu biết tiếng Việt, hiểu tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt nhưmột ngôn ngữ thứ hai của người nước ngoài cũng tăng theo

Tiếng Việt trở thành chìa khóa mở ra cánh cửa tri thức, lịch sử và vănhóa của đất nước Việt Nam một cách rõ ràng nhất Đội ngũ cán bộ giảngdạy Việt Nam học ngày càng tăng lên cả về lượng cũng như về chất Chươngtrình đào tạo ngày càng hiện đại, phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xãhội của đất nước; hệ thống giáo trình dần được bổ sung, đáp ứng ngày một tốthơn nhu cầu học tập và nghiên cứu khoa học của học viên quốc tế Tuy nhiên,bên cạnh những thành quả đã đạt được, công tác đào tạo tiếng Việt hiện naygặp không ít những khó khăn cần được giải quyết

2.1.1 Về chương trình dạy học và hệ đào tạo

2.1.1.1 Về chương trình dạy học

Hiện nay, khung chương trình đào tạo đã được phần lớn các trường xâydựng phù hợp với mã ngành Việt Nam học và tiếng Việt theo chương trìnhcủa Bộ GD&ĐT Các nhà trường đào tạo ngành Việt Nam học và tiếng Việt đãchủ động điều chỉnh, thêm hoặc bớt các môn học cho phù hợp với thế mạnhcủa trường và nhu cầu về ngành học ở khu vực đào tạo Tuy nhiên, còn nhiều

cơ sở chưa nhất quán trong chương trình đào tạo Một số cơ sở mở mã ngànhViệt Nam học nhưng chỉ đào tạo chuyên ngành du lịch, văn hóa, tiếng Việt chongười nước ngoài như: Đại học Hải Phòng, ĐH Hồng Đức (Thanh Hóa), Caođẳng Du lịch Hà Nội…; có cơ sở chỉ đào tạo ngôn ngữ (tiếng Việt) và một phầnvăn hoá, địa lý kinh tế Việt Nam cho các đối tượng sinh viên là người nước

2 Dare Adesanya John (2011), Vì sao sinh viên nước ngoài tới Việt Nam du học?

http://atlantic.edu.vn/vi-sao-sinh-vien-nuoc-ngoai-toi-viet-nam-du-hoc-1603/

Trang 29

ngoài như: ĐH KHXH&NV- Đại học Quốc gia Hà Nội, ĐH Hà Nội, ĐH ChuVăn An (Hưng Yên), Bộ môn Việt Nam học của ĐH Thăng Long - Hà Nội…;

có cơ sở chỉ đào tạo một số môn học mà nhà trường đã có giáo viên Kết quảđiều tra cho thấy trong 55 cơ sở đào tạo có tới 40 cơ sở đào tạo theo chươngtrình biên soạn của Bộ GD&ĐT, có chỉnh sửa cho phù hợp với hệ đào tạo củatrường, 11 cơ sở đào tạo thực hiện đúng theo chương trình của Bộ GD&ĐT,còn lại 4 cơ sở tự biên soạn chương trình đào tạo[18, tr.1]

Về chương trình đào tạo tín chỉ: Hiện nay chỉ có một số trường đại học,viện nghiên cứu đào tạo hệ cử nhân chính quy và thạc sĩ theo tín chỉ, còn cáctrường cao đẳng phần lớn vẫn đào tạo như cũ Nguyên nhân của tình trạngnày là do đội ngũ giáo viên, giảng viên, chương trình, giáo trình, cơ sở vậtchất… chưa phù hợp nên các trường chưa thể thực hiện đào đạo theo tín chỉ

2.1.1.2 Về hệ đào tạo

Hệ đào tạo Việt Nam học và tiếng Việt tại các trường khá phong phú.Trong tổng số 76 trường đại học, cao đẳng và viện nghiên cứu có 42 trườngđào tạo hệ cao đẳng Việt Nam học, 33 trường đào tạo hệ cử nhân, có 2 trườngđào tạo hệ thạc sĩ [18, tr.2] Một số trường Đại học đào tạo ngành Việt Nam họckhá bài bản, theo chương trình chuẩn của Bộ GD&ĐT như: ĐH Khoa học Xãhội và Nhân văn, ĐH Sư Phạm Hà Nội, ĐH Đà Lạt, ĐH Quốc gia thành phố

Hồ Chí Minh Nhìn chung, hệ đào tạo cao đẳng Việt Nam học hiện nay chiếm

tỷ lệ cao hơn so với hệ đào tạo cử nhân Hệ đào tạo Thạc sĩ được thực hiện ởViện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội và KhoaViệt Nam học và Tiếng Việt, trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đạihọc Quốc gia Hà Nội Hệ đào tạo Tiến sĩ hiện nay chưa được triển khai

2.1.2 Về giáo trình và tài liệu tham khảo

Các trường đại học hầu như đã có giáo trình giảng dạy phục vụ đào tạo

cử nhân tiếng Việt và tiếng Việt cơ sở Trong tổng số 55 cơ sở đào tạo, chỉ 5trường có giáo trình đầy đủ của các môn học, đảm bảo theo yêu cầu khung

Trang 30

chương trình của Bộ GD&ĐT, 29 trường có giáo trình nhưng chưa đầy đủ,còn lại 21 cơ sở đào tạo chủ yếu là các trường cao đẳng chưa có giáo trình chongành học này [18, tr.4] Đối với đào tạo ngành Việt Nam học, hiện còn nhiều

cơ sở sử dụng nguyên giáo trình của các ngành đào tạo khác để đào tạo ViệtNam học như: Văn hóa Việt Nam cho ngành Văn hóa, Kinh tế Việt Nam chongành kinh tế

Như vậy, có thể thấy rằng còn tồn tại sự thiếu đồng bộ, thiếu chuẩntrong đào tạo tiếng Việt cho người nước ngoài trong các cơ sở đào tạo tại ViệtNam Trong đó, hệ thống giáo trình chuẩn phục vụ các chuyên ngành đào tạođang là vấn đề mà các trường thực sự cần quan tâm nếu muốn việc giảng dạyđạt hiệu quả cao

2.1.3 Về phương pháp giảng dạy

Theo đánh giá chung, phần lớn các cơ sở đào tạo tiếng Việt đã nỗ lựcđổi mới phương pháp đào tạo nhưng còn một số cơ sở vẫn sử dụng phươngpháp truyền thống Cụ thể, giáo viên chủ yếu truyền đạt nặng về kiến thức lýthuyết và chưa chú trọng tới trang bị cho người học những kiến thức thực tiễnthông qua các dụng cụ trực quan cũng như tình huống thực tế

Hầu hết các cơ sở đào tạo đều thiếu giáo viên giảng dạy ngành ViệtNam học , tiếng Việt và phụ thuộc khá nhiều vào số giáo viên thỉnh giảng từcác cơ sở đào tạo khác Tính bình quân hiện nay mỗi giáo viên đảm nhiệmgiảng dạy từ 62 đến 100 sinh viên

2.1.4 Về đặc điểm của người dạy

Số lượng giảng viên được đào tạo chính quy ngành Việt Nam học vàtiếng Việt chưa cao, trong đó, giáo viên mới ra trường còn thiếu kinh nghiệmgiảng dạy Từ thực trạng này, đội ngũ giảng viên trong Khoa/Bộ môn ViệtNam học và tiếng Việt cần được bổ sung trong thời gian tới để đáp ứng nhucầu hiện nay của ngành học Hơn nưa, việc hợp tác quốc tế trong đào tạo còn

Trang 31

nhiều hạn chế Việc mời các giáo viên người nước ngoài đến giảng dạy cácmôn thuộc ngành Việt Nam học và tiếng Việt còn rất ít Theo số liệu điều tra,

có tới 45 cơ sở đào tạo chưa bao giờ mời các chuyên gia hay giáo sư nướcngoài về giảng dạy ngành này 7 cơ sở đào tạo ít khi có mời giáo viên nướcngoài thỉnh giảng tại khoa Chỉ có 3 cơ sở thường xuyên mời giáo viên ngườinước ngoài.[18, tr.6]

2.1.5 Về đặc điểm của người học

Số lượng người nước ngoài theo học tiếng Việt tại Việt Nam tăngmạnh những năm gần đây Đối với ngành Việt Nam học, dù số lượng học viên

và sinh viên nước ngoài theo học ngành này ngày càng tăng, nhưng chủ yếu làhọc tiếng Việt, còn lại số ít đang theo học hệ cử nhân và thạc sỹ Việt Nam học

ở các cơ sở đào tạo chính quy Số học viên, sinh viên nước ngoài ở các trường

có sự chênh lệch khá lớn, chủ yếu tập trung ở các trường Đại học lớn ở HàNội và thành phố Hồ Chí Minh (Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia

TP Hồ Chí Minh, Đại học Sư phạm HN, Đại học Hà Nội).[13], [14]

Tương quan số lượng sinh viên, học viên giữa các hệ đào tạo cũng có

sự khác nhau Số lượng sinh viên, học viên theo học hệ cao đẳng chiếm tỉ lệcao, năm 2007 hơn 3000 sinh viên theo học hệ đào tạo này và chủ yếu là họcngành văn hóa, hướng dẫn viên du lịch, hệ cử nhân hơn 1500 sinh viên, trongkhi đó hệ đào tạo bậc thạc sỹ chỉ có hơn 60 học viên [18, tr.7]

2.1.6 Về trang thiết bị dạy và học

Trong điều kiện hội nhập quốc tế về giáo dục - đào tạo, các trường phảiđổi mới, mở rộng và nâng cao chất lượng về cơ sở vật chất, các trang thiết bịhiện đại phục vụ giảng dạy Theo PGS.TSKH Nguyễn Đình Luận “Trên giảngđường đại học không thể nói chuyện chỉ có phấn trắng và bảng đen mà chấtlượng được Chương trình đào tạo tốt phải có cơ sở vật chất đi kèm như trang

Trang 32

thiết bị, hạ tầng cơ sở, giảng đường”3 Các điều kiện phục vụ cho lên lớp hoànthiện là yêu cầu quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục đại học Nhìnchung, các trường đều đã nhận thức rõ điều đó và có sự đầu tư nhất định cho

cơ sở vật chất, phương tiện kĩ thuật tuy nhiên tại nhiều nơi vẫn chưa đạt yêucầu Một số trường đại học, cao đẳng đã có nhiều cố gắng trong việc trang bịphương tiện kĩ thuật hiện đại để hỗ trợ cho việc đổi mới phương pháp giảngdạy như: trang bị máy chiếu, máy vi tính, nối mạng internet để cho người học

có thể nghiên cứu, sưu tầm tài liệu ở các thư viện hiện đại trong nước và trênthế giới… Tuy nhiên, diện tích giảng đường, phòng học, phòng làm việc,trung tâm thông tin thư viện, khu thi đấu thể thao, khu sinh hoạt văn hóa, khu

ký túc xá sinh viên… còn rất chật chội

2.2 Thực trạng đào tạo tiếng Việt cho học viên quân sự quốc tế tại các học viện, nhà trường quân đội

Trong những năm qua, triển khai thực hiện Nghị quyết 806 của QUTW,các học viện, nhà trường quân đội đã đào tạo được hàng nghìn lượt học viênquân sự nước ngoài từ nhiều quốc gia khác nhau với các trình độ đào tạo, cácngành đào tạo khác nhau như đào tạo học viên đối đẳng, Cử nhân Việt Namhọc, Thực hành tiếng Việt trong năm đầu tiên cho học viên quân sự quốc tếhọc các chuyên ngành ngoài chuyên ngành ngôn ngữ, Thực hành tiếng Việtnâng cao Công tác đào tạo học viên quân sự nước ngoài của các học viện,nhà trường quân đội nhìn chung đã đạt được nhiều kết quả quan trọng

Hiện nay, có rất nhiều Học viện, Nhà trường được Bộ Quốc phòng giaonhiệm vụ đào tạo tiếng Việt cho học viên quân sự quốc tế và tùy từng trường,từng chuyên ngành mà cơ sở đào tạo sẽ xây dựng chương trình học khác nhau

3 Nguyễn Đình Luận (2017), Ba yếu tố quan trọng nâng cao chất lượng đào tạo,

http://www.hanu.vn/vn/tin-tuc-va-su-kien/1176-.html

Trang 33

Để có thể đưa ra các đề xuất phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của việcđào tạo tiếng Việt trong các trường quân đội, chúng tôi đã tìm hiểu thực trạngcủa việc đào tạo tiếng Việt cho HVQSQT tại 8 Học viện, Nhà trường đó là:Học viện Khoa học Quân sự, Học viện Phòng không - Không quân, Học việnQuân y, Trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân sự Vinhempich, Trường Sĩ quan Lụcquân 1, Trường Sĩ quan Lục quân 2, Trường Đại học Chính trị, Đoàn 871-Tổng cục Chính trị (TCCT) và tổng hợp theo các nội dung chính đó là:chương trình giảng dạy và hệ đào tạo, giáo trình tài liệu, đặc điểm người dạy,đặc điểm người học, phương pháp giảng dạy và trang thiết bị dạy và học.

2.2.1 Về chương trình giảng dạy và hệ đào tạo

2.2.1.1 Về chương trình giảng dạy

Chương trình đào tạo tiếng Việt tại các Khoa Tiếng Việt ở các học viện,nhà trường quân đội hiện nay được thiết kế nhằm giúp học viên có kiến thứcchuyên sâu về ngôn ngữ Việt Nam cả lý thuyết và thực hành; cung cấp chohọc viên những kiến thức cơ bản về khoa học xã hội - nhân văn của Việt Nam,

về địa lý, kinh tế, chính trị, văn hóa Việt Nam, chú trọng tới việc trang bị chohọc viên những kiến thức sâu rộng về văn hóa giúp học viên tích lũy tri thức

và hiểu biết về quan hệ đối ngoại của Việt Nam, nắm được tình hình hiện tạicủa các quốc gia trong khu vực có quan hệ với Việt Nam, hướng tới việc trang

bị tri thức đa dạng về ngôn ngữ học đối chiếu, về biên, phiên dịch, về đàmphán quốc tế để kịp thời đáp ứng được xu thế phát triển chung của đất nướctrong thời kỳ hội nhập Bên cạnh đó, do đặc thù là đào tạo tiếng Việt cho họcviên quân sự quốc tế nên ngoài các kiến thức về Việt Nam nói chung, cácKhoa/Tổ bộ môn đặc biệt quan tâm đến các kiến thức về quân sự, trang bị chongười học lượng từ vựng và kiến thức quân sự tối đa, cần thiết phục vụ chocác nhiệm vụ của học viên sau này Các khóa học khác nhau đều được thiết kếnhững chương trình khác nhau nhằm đáp ứng tốt nhất những mục tiêu củangười học và người dạy

Trang 34

Hiện nay, chương trình giảng dạy tiếng Việt tại các học viện, nhàtrường quân đội là:

- Đào tạo tiếng Việt cấp độ cơ sở (trong 1 năm), sau đó các HVQSQT

sẽ theo học các chuyên ngành (chính trị - quân sự, y học, kỹ thuật, công nghệthông tin )

- Đào tạo tiếng Việt cấp độ nâng cao: tiếng Việt nâng cao (chỉ có tạiHọc viện Khoa học Quân sự)

Chương trình đào tạo tiếng Việt cấp độ cơ sở được áp dụng tại các Họcviện, Nhà trường từ năm 2015 trở về trước được xây dựng trên cơ sở chươngtrình khung của Cục Nhà trường, Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM) Theo chươngtrình này, thời lượng dành cho thực hành tiếng Việt cơ sở là 960 tiết học tươngđương 1 năm học Việc sắp xếp và chia kỳ học của môn tiếng Việt có sự khácbiệt giữa các trường Quân đội

Tại Học viện Khoa học Quân sự, Tiếng Việt thực hành 1 (tương đươngB1) cho đối tượng là học viên quân sự quốc tế học 1 năm được chia thành 4học phần, giảng dạy trong 2 học kỳ liên tiếp, tổng là 960 tiết theo khung đàotạo tiếng Việt cho học viên quốc tế của Cục Nhà trường, BTTM (thay mônGiáo dục Chính trị bằng 60 tiết ngoại khóa tìm hiểu về Lịch sử và Văn hóaViệt Nam) [23]

Tại Học viện Phòng không - Không quân, do tiếp nhận học viên quân

sự quốc tế đã được học tiếng Việt 1 năm bên Đoàn 871 nên sau khi về trường,học viên sẽ học thêm 180 tiết, chia làm 2 học phần; sau đó, học viên sẽ họcchuyên ngành về Phòng không - Không quân [24]

Tại Học viện Quân y, môn học này được học theo khung đào tạo tiếngViệt cho học viên quốc tế của Cục Nhà trường, BTTM, tuy nhiên có điều chỉnhcho phù hợp với đơn vị Theo đó, mỗi trình độ học viên sẽ học trong 180 tiết.Như vậy, học viên của Học viện này sẽ học môn tiếng Việt trong 540 tiết,tương đương với 3 học phần Sau đó học viên sẽ học chuyên ngành y [35]

Trang 35

Ngoài 3 Học viện nói trên, qua khảo sát một số Nhà trường Quân độikhác cho thấy:

Thời lượng dành cho môn tiếng Việt cho học viên quân sự quốc tế ởTrường Sỹ quan Lục quân 1 là 960 tiết theo khung đào tạo tiếng Việt của CụcNhà trường, BTTM, đào tạo trong một năm, sau đó HVQSQT sẽ tiếp tục đượcđào tạo các chuyên ngành: bộ binh, bộ binh cơ giới, trinh sát lục quân.[38]

Trường Sỹ quan Lục quân 2 có thời gian giảng dạy môn tiếng Việt choHVQSQT là 960 tiết theo khung đào tạo tiếng Việt của Cục Nhà trường,BTTM, đào tạo trong một năm và sau đó học viên sẽ học chuyên ngành Binhchủng hợp thành.[39]

Trường Đại học Chính trị có thời gian giảng dạy cho môn tiếng Việt là

240 tiết, chia làm 2 học phần cho đối tượng HVQSQT đã được học 1 năm tiếngViệt từ Đoàn 871 về Sau đó, học viên sẽ học chuyên ngành Chính trị [36]

Trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân sự Vinhempich, môn tiếng Việt củaHVQSQT được chia thành 4 học phần với 32 ĐVHT tương đương với 960tiết theo khung đào tạo tiếng Việt cho Học viên quốc tế của Cục Nhà trường,BTTM [37]

Đoàn 871, Tổng cục Chính trị, đơn vị đào tạo tiếng Việt đối với họcviên Lào và Campuchia cho một số học viện, nhà trường quân đội thì họcviên sẽ học trong 1 năm theo khung chương trình đào tạo tiếng Việt cho họcviên quốc tế của Cục Nhà trường, BTTM Theo đó chương trình đào tạo của

họ cũng gồm 4 học phần, 32 ĐVHT với tổng số tiết là 960 tiết [17]

Biểu đồ 2.1: Chương trình đào tạo tiếng Việt tại một số học viện, nhà trường quân đội

Trang 36

Kết quả phân tích số liệu điều tra tại 8 Học viện, Nhà trường được khảosát cho thấy có 01 trường đào tạo theo chương trình của Cục Nhà trường,BTTM, tuy nhiên có chỉnh sửa cho phù hợp là Học viện Quân y (12,5%), 5trường thực hiện đúng theo chương trình đào tạo của Cục Nhà trường, BTTM

là Học viện Khoa học Quân sự, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quanLục quân 2, Trường Sĩ quan Kỹ thuật Quân sự Vihempich, Đoàn 871- Tổngcục Chính trị (62,5%), còn lại 02 trường tự biên soạn chương trình dạy học(25%) là Trường Đại học Chính trị và Học viện Phòng không - Không quân Như vậy, chương trình đào tạo cho HVQSQT của các Học viện, Nhà trườngtrong quân đội chủ yếu dựa trên khung chương trình của Cục Nhà trường,BTTM, ngoài ra cũng có thể do cơ sở đào tạo tự biên soạn cho phù hợp vớiđặc điểm đặc điểm của đơn vị Các chương trình môn tiếng Việt được giảngdạy cho các đối tượng học viên đó là: học viên các khối ngành đào tạo khôngthuộc chuyên ngành ngôn ngữ tiếng Việt (Quân y, Phòng không - KhôngQuân, Đại học Chính trị ) và học viên chuyên ngành ngôn ngữ tiếng Việt(Học viện Khoa học Quân sự)

Ngoài chương trình đào tạo tiếng Việt cơ sở giống các Học viện, Nhàtrường trong quân đội, Học viện Khoa học Quân sự là nơi duy nhất trong toànquân có chương trình đào tạo tiếng Việt thực hành 2 (tương đương B2),chương trình đào tạo tiếng Việt nâng cao và chương trình đào tạo cử nhân ViệtNam học Trong đó, chương trình đào tạo tiếng Việt thực hành 2 được thiết kếdựa trên chương trình đào tạo ngành Việt Nam học của Bộ Giáo dục và Đàotạo về kiến thức tiếng Việt cơ bản cho học viên nước ngoài giai đoạn 2 (tươngđương B2), khối lượng kiến thức tương đương 30 tín chỉ, thời gian đào tạo là

01 năm, chia thành 2 học kỳ, tổng số tiết giảng dạy là 920 tiết; Chương trìnhđào tạo tiếng Việt nâng cao được thiết kế dựa trên chương trình đào tạo ngànhViệt Nam học của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho học viên nước ngoài giai đoạn

Trang 37

học chuyên ngành với 29 tín chỉ, thời gian đào tạo là 01 năm, chia thành 2 học

kỳ, tổng số tiết là 860 tiết; Chương trình đào tạo tiếng Việt cho cử nhân ViệtNam học là 4 năm, chia thành 8 học kỳ, với 200 đvht, tổng là 4310 tiết

2.2.1.2 Về hệ đào tạo

Tại các Học viện, Nhà trường trong quân đội, hệ đào tạo tiếng Việt kháphong phú, bao gồm: hệ đào tạo ngắn hạn (3 tháng, 6 tháng, 1 năm) và hệ đàotạo dài hạn

Đối với hệ đào tạo ngắn hạn, tập trung ở một số Học viện, Nhà trườngnhư: Học viện Khoa học Quân sự (3 tháng, 6 tháng, 1 năm), Trường Sĩ quanLục quân 1 (1 năm), Trường Sĩ quan Lục quân 2 (1 năm), Trường Sĩ quan Kỹthuật Quân sự Vinhempich (1 năm), Đoàn 871 - TCCT (3 tháng, 6 tháng, 1năm) Đặc điểm của hệ ngắn hạn 3 tháng, 6 tháng là bồi dưỡng và nâng caonăng lực sử dụng tiếng Việt cho đối tượng đã được học tiếng Việt Bên cạnhnhững thuận lợi khi đào tạo cho hệ ngắn hạn như: thời gian đào tạo nhanh,học viên có môi trường đào tạo tiếng là tiếp xúc với người Việt, tiếp cận vănhóa Việt Nam và làm việc trực tiếp với giáo viên người Việt, thì việc đào tạotrong thời gian ngắn cũng có những khó khăn nhất định Đó là việc chưa xâydựng được khung chương trình theo chuẩn của Cục Nhà trường, BTTM màchỉ tạm thời dựa trên khung năng lực về đào tạo tiếng Việt cho người nướcngoài của Bộ Giáo dục và Đào tạo để định lượng lượng kiến thức cơ bản, ápdụng cho đối tượng ngắn hạn Cụ thể: cung cấp cho người học tri thức cơ bản

về ngữ âm tiếng Việt; dạy người học cách phát âm tiếng Việt theo âm chuẩncủa người Hà Nội; cung cấp cho người học các mô hình cấu trúc câu đơngiản, các mẫu câu và từ vựng dùng trong giao tiếp hàng ngày; các kỹ năngnghe, nói, đọc, viết cơ bản Ngoài ra, do thời gian quá ngắn, học viên cũng

Trang 38

chưa kịp làm quen với khí hậu, phong tục tập quán, nếp sinh hoạt của ViệtNam… dẫn đến hiệu quả chưa cao.

Đối với hệ đào tạo dài hạn, do yêu cầu nhiệm vụ và sự phân công của CụcNhà trường, BTTM, Học viện Khoa học Quân sự là cơ sở duy nhất đào tạo cửnhân tiếng Việt cho học viên quân sự quốc tế trong số các học viện, nhà trườngquân đội Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo và đủ các điều kiện côngnhận tốt nghiệp, học viên được cấp bằng Đại học, ngành Việt Nam học Đối với

hệ đào tạo này, học viên quân sự quốc tế sẽ học 4 năm tại Học viện Phần lớnhọc viên khi sang Việt Nam học đều chưa biết tiếng Việt, chưa được làm quenvới văn hóa Việt Nam, học viên phải sinh hoạt và làm việc theo các chế độnghiêm ngặt của Quân đội Tuy nhiên, vì là hệ đào tạo dài hạn nên học viên cũng

sẽ có nhiều thời gian để làm quen với ngôn ngữ, văn hóa và con người Việt Namhơn so với hệ đào tạo ngắn hạn

Biểu đồ 2.2: Hệ đào tạo tiếng Việt tại một số học viện, nhà trường quân đội

Như vậy, theo khảo sát ở 8 học viện, nhà trường quân đội thì hệ đào tàongắn hạn 3 tháng, 6 tháng còn ít và không thường xuyên tại các học viện, nhàtrường quân đội do nhu cầu của các học viên quân sự quốc tế không nhiều(2/8 = 26%) Hệ đào tạo dài hạn (4 năm) thì chỉ có tại Học viện Khoa họcQuân sự nên chiếm tỉ lệ nhỏ, chỉ 7% Phần lớn các học viện, nhà trường trongquân đội đều đào tạo tiếng Việt hệ 1 năm (67%) và lấy đó làm nền tảng chođối tượng HVQSQT học 4, 5 năm đối với các chuyên ngành không thuộcchuyên ngành ngôn ngữ tiếng Việt mà thuộc các chuyên ngành như: Quân y,Phòng không - Không quân…

Trong năm học 2019 - 2020, Học viện Khoa học Quân sự sẽ mở mãngành đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học

Trang 39

Hiện nay, các học viện, nhà trường quân đội, đào tạo tiếng Việt chủ yếu

là hệ đào tạo Đại học, hệ đào tạo Thạc sĩ chỉ có tại Học viện Khoa học Quân

sự và chưa có hệ đào tạo Tiến sĩ

2.2.2 Về giáo trình và tài liệu tham khảo

Trên cơ sở những quy định chung và chương trình khung của Bộ Giáodục và Đào tạo, Bộ Quốc phòng, các trường quân đội triển khai xây dựngchương trình đào tạo, các Khoa/Tổ bộ môn xây dựng chương trình chi tiết,giảng viên sưu tầm, biên soạn tài liệu giảng dạy và lên kế hoạch đầu bài cụthể Nhìn chung, đối với môn tiếng Việt cơ sở, các đơn vị đào tạo đều có chủtrương thẩm định và lựa chọn khai thác các giáo trình, tài liệu dạy học như:

Thực hành tiếng Việt của Vũ Văn Thi [33],[34], Tiếng Việt cơ sở của Nguyễn Việt Hương [23], Thực hành tiếng Việt do Đoàn Thiện Thuật (chủ biên) [35,36,37], Tiếng Việt cơ sở do Nguyễn Văn Huệ (chủ biên) [22]… Nhìn

chung, các bộ giáo trình tiếng Việt này đều được các tác giả biên soạn rất cẩnthận, khoa học, chú trọng đến thực hành, rèn luyện bốn kỹ năng: nghe - nói -đọc - viết; các chủ đề, cấu trúc ngữ pháp được sắp xếp theo trình độ từ dễ đếnkhó, đơn giản đến phức tạp; nội dung bài học phong phú; các bài học đều cótranh, ảnh minh họa; các bài nghe được thu âm cẩn thận với chất lượng âmthanh tốt Vì vậy, khi học xong các giáo trình đó, học viên có thể tự tin khitham gia các tình huống giao tiếp thông thường

Tuy nhiên, đối với học viên quân sự quốc tế, họ không chỉ có mục đíchhọc giao tiếp thông dụng mà còn hướng đến mục đích sử dụng tiếng Việtthành thạo trong chuyên ngành của mình Giáo trình dạy học tiếng Việt chongười nước ngoài hiện nay, mặc dù cung cấp rất nhiều kiến thức cần thiết chohọc viên quốc tế nói chung nhưng lại chưa đáp ứng được nhu cầu của họcviên quân sự quốc tế Thuật ngữ quân sự trong các giáo trình này cũng chỉ

xuất hiện với tần suất ít, với các từ như chiến sĩ, lính, sỹ quan, bộ đội… Vì

Trang 40

vậy, trong lĩnh vực quân sự, các học viện, nhà trường quân đội chủ yếu là tựbiên soạn giáo trình và tài liệu tham khảo cho phù hợp với chuyên ngành đàotạo của cơ sở mình.

Qua khảo sát cho thấy, 05 học viện, nhà trường sử dụng giáo trình, tàiliệu thẩm định cho HVQSQT để đảm bảo theo chương trình của Cục Nhàtrường, BTTM (chiếm 62,5%) bao gồm: Học viện Khoa học Quân sự, Trường

Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Lục quân 2, Trường Sĩ quan Kỹ thuậtQuân sự Vihempich, Đoàn 871- Tổng cục Chính trị Có 01 trường sử dụnggiáo trình thẩm định kết hợp giáo trình tự biên soạn (chiếm 12,5%) là Họcviện Quân y, 02 trường sử dụng toàn bộ giáo trình tự biên soạn (chiếm 25%)

là Trường Đại học Chính trị và Học viện Phòng không - Không quân

Như vậy, các giáo trình, tài liệu tiếng Việt hiện đang được sử dụng đểgiảng dạy cho HVQSQT trong chương trình tiếng Việt cơ sở tại một số họcviện, nhà trường quân đội chủ yếu là các bộ giáo trình thẩm định và đưa vàogiảng dạy trên cơ sở đáp ứng được yêu cầu của môn học, giúp học viên có thểphát triển các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết Trong khi các giáo trình và tài liệutham khảo về lĩnh vực trong quân sự còn rất hạn chế

2.2.3 Về phương pháp giảng dạy

Các giảng viên tại các trường quân đội đều có trình độ đại học và sauđại học, được đào tạo chuyên sâu về kiến thức tại các trường Đại học trongnước và nước ngoài và được tiếp cận với nhiều phương pháp dạy học tiêntiến Theo kết quả khảo sát của chúng tôi đối với một số học viện, nhà trườngtrong quân đội, 90% số học viên được hỏi cho rằng trong quá trình giảng dạy,các giảng viên kết hợp các phương pháp giảng dạy, từ phương pháp truyềnthống đến phương pháp hiện đại theo đường hướng giao tiếp và đường hướnghành động, lấy người học làm trung tâm; 10% không có ý kiến Như vậy, cácgiảng viên đã tạo cơ hội tối đa để các học viên được thực hành, tự học, tự tìmtòi để thu nạp kiến thức và kỹ năng thực hành tiếng

Ngày đăng: 07/12/2019, 10:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (1996), Phương pháp dạy học tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt
Tác giả: Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
2. Vũ Thế Bình (2014), Góp phần nâng cao chất lượng học tập của các học viên trường sĩ quan , Tạp chí nhà trường Quân đội, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nâng cao chất lượng học tập của các họcviên trường sĩ quan
Tác giả: Vũ Thế Bình
Năm: 2014
4. Nguyễn Thị Chính (2016)“Lỗi sử dụng hành vi khen và tiếp nhận hành vi khen của Học viên quân sự Lào ở Đoàn 871”, Đoàn 871, Tổng cục Chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lỗi sử dụng hành vi khen và tiếp nhận hành vikhen của Học viên quân sự Lào ở Đoàn 871”
5. Nguyễn Minh Chính (2004) “ Về một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình học tiếng Việt của người nước ngoài. Tiếng Việt và phương pháp dạy tiếng”(Kỷ yếu Hội thảo khoa học), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trìnhhọc tiếng Việt của người nước ngoài. Tiếng Việt và phương pháp dạy tiếng”
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
6. Mai Ngọc Chừ (1995), “Dạy ngữ âm và từ ngữ tiếng Việt cho người nước ngoài”, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dạy ngữ âm và từ ngữ tiếng Việt cho người nướcngoài”, N
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Năm: 1995
7. Mai Ngọc Chừ (2002), Dạy tiếng Việt với tư cách một ngoại ngữ, Tạp chí Ngôn ngữ, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy tiếng Việt với tư cách một ngoại ngữ
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Năm: 2002
11. Nguyễn Hải Đạm, Lê Xuân Soạn, Hoàng Mai Thao(1995), Phương pháp dạy học môn tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương phápdạy học môn tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Hải Đạm, Lê Xuân Soạn, Hoàng Mai Thao
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
12. Đại học Quốc gia Hà Nội (1997), Tiếng Việt và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt và việc dạy tiếng Việt chongười nước ngoài
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 1997
19. GS.TS. Trương Quang Hải, CN. Bùi Văn Tuấn Viện (2008), “Thực trạng đào tạo ngành Việt Nam học ở Việt Nam hiện nay”, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạngđào tạo ngành Việt Nam học ở Việt Nam hiện nay”
Tác giả: GS.TS. Trương Quang Hải, CN. Bùi Văn Tuấn Viện
Năm: 2008
20. Cao Xuân Hạo (1994), “Dạy tiếng Việt cho người nước ngoài: hòn đá thử vàng của cách nghiên cứu và miêu tả tiếng Việt” (trích Kỷ yếu hội nghị,) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dạy tiếng Việt cho người nước ngoài: hòn đá thửvàng của cách nghiên cứu và miêu tả tiếng Việt”
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Năm: 1994
21. Trần Châu Hoàn (2003), Đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Việt thực hành, Học viện Khoa học Quân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Việtthực hành
Tác giả: Trần Châu Hoàn
Năm: 2003
22. Nguyễn Văn Huệ (1994), Tiếng Việt cơ sở, Tập 1-2, Nxb ĐHQG Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt cơ sở, Tập 1-2
Tác giả: Nguyễn Văn Huệ
Nhà XB: Nxb ĐHQG Tp HồChí Minh
Năm: 1994
23. Nguyễn Việt Hương (2010), Tiếng Việt cơ sở, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt cơ sở
Tác giả: Nguyễn Việt Hương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2010
28. Đào Thị Luyến (2016), “Phương pháp chữa lỗi dùng từ tiếng Việt của học viên quân sự nước ngoài ở Học viện Khoa học Quân sự”, Học viện Khoa học Quân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phương pháp chữa lỗi dùng từ tiếng Việt củahọc viên quân sự nước ngoài ở Học viện Khoa học Quân sự”
Tác giả: Đào Thị Luyến
Năm: 2016
29. Nguyễn Thiện Nam (2001), “Khảo sát lỗi ngữ pháp tiếng Việt của người nước ngoài và những vấn đề liên quan”, Luận án Tiến sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khảo sát lỗi ngữ pháp tiếng Việt của ngườinước ngoài và những vấn đề liên quan”
Tác giả: Nguyễn Thiện Nam
Năm: 2001
31. Nguyễn Văn Phúc (1999), “Vấn đề lỗi của sinh viên nước ngoài học tiếng Việt: Lỗi phát âm của sinh viên nói tiếng Anh”, Luận án Tiến sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đề lỗi của sinh viên nước ngoài học tiếngViệt: Lỗi phát âm của sinh viên nói tiếng Anh”
Tác giả: Nguyễn Văn Phúc
Năm: 1999
32. Nguyễn Văn Phúc (2007), Tiếng Việt cho người nước ngoài ‘Vietnamese for Foreigners’ (Chương trình cơ sở “Elementary Level”), Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt cho người nước ngoài ‘Vietnamese forForeigners’ (Chương trình cơ sở “Elementary Level”)
Tác giả: Nguyễn Văn Phúc
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2007
34. Vũ Văn Thi (1999), “Một số vấn đề dạy ngữ âm và chữ viết tiếng Việt cho người nước ngoài”, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số vấn đề dạy ngữ âm và chữ viết tiếng Việt chongười nước ngoài”
Tác giả: Vũ Văn Thi
Năm: 1999
35. Đoàn Thiện Thuật (2004), Tiếng Việt trình độ A, tập 1-2, Nxb Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt trình độ A, tập 1-2
Tác giả: Đoàn Thiện Thuật
Nhà XB: Nxb Thế Giới
Năm: 2004
36. Đoàn Thiện Thuật (2004), Tiếng Việt trình độ B, Nxb Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt trình độ B
Tác giả: Đoàn Thiện Thuật
Nhà XB: Nxb Thế Giới
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w