Việc giải mã những giá trị của biểu tượng này trong các sáng tác vănchương về đề tài lịch sử nói chung, về nhân vật Quang Trung – Nguyễn Huệnói riêng một mặt sẽ bổ sung cho những nghiên
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-ĐẶNG THU HÒA
QUANG TRUNG – NGUYỄN HUỆ: TỪ NHÂN VẬT LỊCH
SỬ ĐẾN HÌNH TƯỢNG VĂN CHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Trang 2Hà Nội - 2019
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-ĐẶNG THU HÒA
QUANG TRUNG – NGUYỄN HUỆ: TỪ NHÂN VẬT LỊCH
SỬ ĐẾN HÌNH TƯỢNG VĂN CHƯƠNG
Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Xuân Thạch
Trang 4Hà Nội - 2019
Trang 5Để có những kết quả trong luận văn, không thể không nhắc đếnPGS.TS Phạm Xuân Thạch – Trưởng khoa Văn học, trường Đại học Khoahọc Xã hội và Nhân văn Thầy là người đã gợi mở đề tài và cho tôi những chỉdẫn quý báu cũng như tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận vănthạc sĩ này
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến T.S Trần Đăng Trung của bộmôn Lý luận Văn học, người thầy đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm kiếm tưliệu, giúp tôi tiếp cận được các tư liệu quý báu không thể thiếu trong luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, đồng nghiệp– những người đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi suốt quá trình học tập, nghiêncứu và hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 6 năm 2019
Học viên thực hiện
Đặng Thu Hòa
Trang 6MỤC LỤC
1.1.1 Mối quan hệ giữa sự thật lịch sử và văn học 13
1.1.2 Mối quan hệ giữa văn học - văn hóa - ý thức hệ trong quá trình
CHƯƠNG 2: THÂN THẾ VÀ NGOẠI HÌNH CỦA NHÂN VẬT QUANG
2.1 Nguồn gốc, lai lịch nhân vật Quang Trung dưới góc nhìn lịch sử và văn
Trang 72.2 Ngoại hình nhân vật Quang Trung từ sử liệu đến văn học 1900 - 1945
32
2.4 Cái chết của Quang Trung – Nguyễn Huệ và những sáng tạo huyền
CHƯƠNG 3: TÍNH CÁCH, NỘI TÂM VÀ VAI TRÒ LỊCH SỬ CỦA
3.1.2 Tấm lòng kính đãi hiền sĩ và những bậc anh hùng 59
3.1.3 Nghiêm khắc, kỷ cương nhưng thấu hiểu lòng người 61
3.1.4 Những cảm xúc nội tâm đời thường của một vị anh hùng 633.2 Sở đoản – đặc điểm hoàn thiện bức tranh về nhân vật anh hùng 653.3 Vai trò lịch sử của nhân vật dưới đánh giá của sử gia và nhà văn 67
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ khi ra đời cho đến nay, lịch sử và văn học có một mối quan hệ gắn
bó không thể tách rời Trong khi văn học phản ánh, soi chiếu xã hội hiện thực
và con người thì lịch sử cung cấp những dữ kiện và là căn cứ cho những sángtác nghệ thuật Lúc này đây, văn chương và lịch sử vận hành theo các quy tắcnội tại riêng cho nên không tránh khỏi sự giao thoa lẫn xung đột Lịch sử
trong chính bản thân của nó cũng chỉ là một hiện thực được kể lại theo cái
nhìn của người chép sử cho nên dù là những bộ sử khách quan nhất cũng phảichịu sự chi phối của vai trò mà tác giả đang đảm nhiệm [85] Sự phức tạptrong chính mỗi lĩnh vực đã khiến vấn đề hiện thực và hư cấu trong tác phẩmvăn học viết về lịch sử nảy sinh, đến nay vẫn chưa có được câu trả lời thỏađáng
Nói về những nhân vật lịch sử được văn học nghệ thuật khai thác,Quang Trung – Nguyễn Huệ và nhà Tây Sơn là sự kiện nằm giữa những lằnranh tranh cãi Được biết đến như một thủ lĩnh dẫn dắt cuộc khởi nghĩa chấmdứt tình trạng Lê – Trịnh phân tranh, cuộc đời thực và giai thoại về “vị anh
hùng áo vải cờ đào” luôn đan xen Dưới thời vua Tự Đức, Đại Nam liệt truyện (tài liệu chính sử của Sử quán triều Nguyễn) khi viết về các vị vua
triều đại Tây Sơn, nhóm tác giả sử dụng nhan đề “Ngụy Tây liệt truyện”
(Truyện về sự tiêu vong của ngụy triều Tây Sơn), coi Quang Trung – Nguyễn
Huệ là kẻ “ngụy triều” Nhưng cũng một tài liệu sử đặc biệt khác dưới triều
Nguyễn là Hoàng Lê Nhất thống chí, trong những chương hồi chép về nhà
Tây Sơn lại gọi Nguyễn Huệ là Vua Quang Trung và ghi chép không ít cônglao đánh phá quân Thanh, dẹp yên đất nước
Sự khác biệt từ cấp độ nhỏ nhất như cách gọi đến lớn hơn là nhữngđánh giá riêng của người chép trong các bộ sử cho thấy sự không nhất quán
về quan điểm qua từng giai đoạn khác nhau Chiến công và chất hư – thực về
Trang 9Quang Trung – Nguyễn Huệ được ghi chép lại trong các tài liệu chính sử, dã
sử trong quá khứ đã trở thành chất liệu cho các tác phẩm văn chương về nhânvật này ra đời Đến ngày nay, Quang Trung – Nguyễn Huệ đã trở thành mộtđại diện lịch sử được giảng dạy ở nhiều cấp bậc như một biểu tượng của anhhùng chống giặc ngoại xâm, được đặt tên cho nhiều di tích lịch sử, tên đường
và được lập đền thờ Quá trình thay đổi cục diện nhận thức và quan điểm nhìn
nhận về một nhân vật trong quá khứ khiến chúng tôi nảy sinh câu hỏi: Qua lăng kính văn học, nhân vật Quang Trung – Nguyễn Huệ đã được bồi đắp thêm những đặc điểm nào mà ở lịch sử không có? Điều gì đã chi phối
và quyết định đến sự khác nhau trong cách đánh giá, nhìn nhận về Nguyễn Huệ trong hệ thống các tác phẩm văn chương Việt Nam?
Quá trình đưa nhân vật từ lịch sử bước vào trang văn thực chất là hànhtrình tạo dựng giá trị tinh thần mang tính biểu tượng của dân tộc Cơ sở cho
sự hình thành những “thần tượng” (idol) này là các nhân vật lịch sử có thậthoặc không có thật Bản thân các idol mang trong mình các mã văn hóa, chứađựng giá trị văn hóa, ý thức hệ có chức năng cố kết cộng đồng Có nhiều công
cụ để kiến tạo nên những hình tượng/ idol đó trong đó sử học và văn học lànhững công cụ quan trọng Nó vừa kiến tạo vừa có sức tác động mạnh mẽ tớicộng đồng, làm nên sự đồng thuận và gắn kết cộng đồng
Việc giải mã những giá trị của biểu tượng này trong các sáng tác vănchương về đề tài lịch sử nói chung, về nhân vật Quang Trung – Nguyễn Huệnói riêng một mặt sẽ bổ sung cho những nghiên cứu đã có về mối quan hệgiữa sự thật lịch sử và sáng tạo văn học; một mặt cho thấy những thay đổitrong quan niệm của từng thế hệ nhà văn Từ câu chuyện chống ngoại xâmcủa Quang Trung, có thể thấy những cách hình dung về anh hùng dân tộc quatừng thời kỳ lịch sử khác nhau Qua đó, gợi mở cho các hướng tiếp cận tiếptheo về sự kiện, nhân vật lịch sử khác
Trang 10Theo khảo sát, đến nay cách tiếp cận về nhân vật Quang Trung –Nguyễn Huệ theo hướng này vẫn chưa có một nghiên cứu mang tính chất hệ
thống và tập trung Do đó, chúng tôi chọn đề tài Quang Trung – Nguyễn Huệ từ nhân vật lịch sử đến hình tượng văn chương với mong muốn đi tìm
dấu vết của nhân vật trong giai đoạn văn học từ năm 1900 – 1945 Bản thân
đề tài đã cho thấy đối tượng tập trung là văn chương (với các thể loại: tiểuthuyết, truyện ngắn, thơ, bài báo) nhưng rất cần sự tham chiếu với lịch sử bởi
lẽ, lịch sử vẫn là thứ tiệm cận nhất với những gì đã diễn ra trong hiện thực
2 Lịch sử vấn đề
Mặc dù là nhân vật lịch sử được nhiều tác giả quan tâm nhưng chưa cócông trình nào so sánh Quang Trung – Nguyễn Huệ trong sự chuyển hóa từcon người lịch sử đến con người văn học Cụ thể có thể kể đến các công trìnhlấy nhân vật - hình tượng Quang Trung làm đối tượng nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, các nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử, nhân vật lịch sử trong
văn học nói chung với hàng loạt bài viết chỉ ra tính đặc biệt của sự thật lịch sử
khi đưa vào thể loại này Đầu tiên là luận án tiến sĩ ngữ văn Tiểu thuyết lịch
sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 của NCS Bùi Văn Lợi, trường
Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1999 [36] Tác giả chỉ ra diện mạo của thể loạithông qua những nghiên cứu về mặt nội dung và nghệ thuật Trên cơ sở đó,luận án xác lập vị trí và vai trò của tiểu thuyết lịch sử trong tiến trình văn họcViệt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 Đây là một trong những côngtrình mang tính khái quát về thể loại, các tác phẩm viết về Quang Trung –Nguyễn Huệ cũng được nhắc tới nhưng ở cấp độ khái quát bên cạnh các đốitượng nghiên cứu khác
Đến năm 2003 nhà văn Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Xuân Khánh vàNgô Văn Phú trả lời một bài phỏng vấn trên http://www.vietbao.com với tựa
đề Viết tiểu thuyết lịch sử cũng cần hư cấu Bài viết ghi nhận quan điểm của
Trang 11ba nhà văn khi cho rằng hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử là cần thiết và khôngphải lúc nào nhân vật lịch sử được chọn cũng phải là “ông hoàng bà chúa”
Cũng bàn về “sự thật lịch sử” trong các thể loại tự sự đặc biệt này, nhà
nghiên cứu Phạm Xuân Thạch dành hai bài viết: Tiểu thuyết Việt Nam đương đại, suy nghĩ từ những tác phẩm mang chủ đề lịch sử và Quá trình
cá nhân hóa hư cấu (Tự sự đương đại Việt Nam về đề tài lịch sử giữa truyền thống và hiện đại) trên website cá nhân để chỉ ra tính chất đặc biệt của
những tư liệu lịch sử (tính không đầy đủ, tính khả tín) Tác giả cũng cho rằngviệc nghiên cứu một thể loại thuộc về quá khứ cần phải “khôi phục được cáilôgich chi phối sự ra đời, sự hình thành của hiện tượng văn học đó” [63] Đây
là cơ sở chúng tôi làm tiền đề để thực hiện đề tài này
Ngoài ra, còn có Luận án tiến sĩ ngữ văn Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thập niên đầu thế kỉ XXI của NCS Lê Thị Thu
Trang trường ĐH Huế năm 2017 [66] Công trình đưa ra đánh giá tổng quan
về diện mạo tiểu thuyết lịch sử những năm đầu thế kỷ XXI Từ đó phân tích
ba phương thức tự sự của tiểu thuyết lịch sử (người kể chuyện, điểm nhìn trầnthuật, diễn ngôn trần thuật) và so sánh với giai đoạn trước đó
Những công trình vừa kể trên tập trung làm rõ các khía cạnh khác nhaucủa tiểu thuyết lịch sử nói chung như: nghệ thuật hư cấu, hình tượng nhân văntrong một giai đoạn văn chương, ảnh hưởng của văn hóa – lịch sử tới tiểuthuyết lịch sử hay quá trình cá nhân hóa lịch sử….Cấp độ khái quát mộtkhuynh hướng của những công trình này là cơ sở cho chúng tôi phát triển luậnvăn nghiên cứu riêng về nhân vật lịch sử Quang Trung – Nguyễn Huệ
Thứ hai, vấn đề hình tượng Quang Trung trong văn học cũng đã có
một số tác giả quan tâm đến Năm 2012, tác giả Linh San viết bài Hình tượng Quang Trung – Nguyễn Huệ trong văn học Việt Nam đăng trên Tạp
chí Bình Định số 50 [50] Bài viết bước đầu đã thống kê những phiên bản vănhọc xây dựng nhân vật lịch sử này tuy nhiên mới chỉ ở mức liệt kê các tác
Trang 12phẩm đồng thuận với quan điểm tích cực về Nguyễn Huệ mà bỏ qua một số
nghiên cứu mang tính chất phản đề như trong Đại Nam thực lục.
Năm 2017, bài viết Dấu ấn văn hóa Việt trong hình tượng nhân vật Quang Trung – Nguyễn Huệ (khảo sát Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác) của tác giả Đoàn Thị Huệ đăng trên Tạp chí Khoa học đại học
Đồng Nai, số 05 [24] đã tập trung làm rõ hình tượng Quang Trung trong vănhóa Việt nhưng bài viết mới chỉ dừng ở phạm vi thống kê một tác phẩm nhấtđịnh mà chưa đưa ra sự bao quát theo các giai đoạn văn học hoặc với các tácphẩm trái chiều khác
Ngoài ra còn có các nghiên cứu dừng lại ở việc phân tích đặc trưngnghệ thuật tiểu thuyết lịch sử của một số tác giả có đề cập đến hình tượng
Quang Trung - Nguyễn Huệ như: Luận văn thạc sĩ Hình tượng nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử hiện đại Việt Nam của Nguyễn Văn Sang năm
2013 [50] tập trung vào những khía cạnh của nhân vật anh hùng và cách xâydựng nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử, hình tượng Quang Trung – NguyễnHuệ chỉ chiếm một phần nhỏ trong số những dẫn chứng của luận văn
Ngoài các bài nghiên cứu về văn học viết, một số tác giả còn phân tíchcác vở kịch, tuồng, chèo về Quang Trung – Nguyễn Huệ như: tác giả Mịch
Quang với bài Vài suy nghĩ về vở kịch Nguyễn Huệ (Báo Văn nghệ ngày
10/7/1970) [68] phân tích vở kịch cùng tên do Đoàn Bài Chòi Liên khu 5
diễn Nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Lộc với bài viết Sân khấu tuồng Nghĩa Bình (Tạp chí Văn học nghệ thuật tháng 7 năm 1978) [34] Tác giả giới thiệu hai vở tuồng về phong trào Tây Sơn (Tây Sơn tụ nghĩa và Quang Trung) của
Đoàn tuồng Nghĩa Bình dàn dựng và công diễn Bàn về hình tượng Nguyễn
Huệ ở thể loại sân khấu, Nguyễn Văn Xuân có bài: Quang Trung trên sân khấu Việt Nam? Hay vấn đề nguỵ tà trong thời Gia Long – Minh Mạng
đăng trên Tạp chí Bách khoa 1972 số 365) [78] Tác giả phân tích các vởtuồng được diễn dưới thời Gia Long – Minh Mạng và tìm hình bóng Quang
Trang 13Trung được thể hiện ra sao trên sân khấu thời đó Còn có bài phân tích Hình tượng người anh dùng dân tộc Nguyễn Huệ của nhà nghiên cứu Lưu Xuân
Thanh đăng Tạp chí Văn học nghệ thuật – tháng 9/1997 [64] Tất cả các bàinghiên cứu vừa kể trên đều chung một xu hướng là phân tích hình tượng nhânvật Quang Trung – Nguyễn Huệ ở loại hình diễn xướng Tuy nhiên, với dunglượng của một bài viết đăng báo chí, các bài viết nằm ở mức khái quát, nêu ranhững luận điểm chung chung về nhân vật trong từng tác phẩm sân khấu saunăm 1945
Với những công trình riêng về hình tượng Quang Trung trong văn họcvừa kể trên, luận văn này của chúng tôi kế thừa những kết luận về mặt tư liệucũng như giải mã nhân vật dưới góc nhìn văn hóa như một gợi mở về hướngnghiên cứu Tuy nhiên, hình tượng nhân vật Quang Trung xuất hiện ra saotrong các tác phẩm văn chương giai đoạn 1900 – 1945 vẫn chưa được đề cậpđến Đây cũng chính là “khoảng trắng” mà chúng tôi sẽ làm rõ trong luận vănnày
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đây là luận văn thuộc lĩnh vực văn học, vì vậy chúng tôi sẽ chỉ ra tiếntrình Quang Trung – Nguyễn Huệ từ lịch sử bước vào văn học Từ đó gópphần vào nghiên cứu hiện tượng thần tượng hóa một nhân vật lịch sử Vớithời lượng của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc khảo sát vàphân tích các tài liệu lịch sử, tiểu thuyết lịch sử, thơ tiêu biểu xây dựng hìnhtượng Quang Trung – Nguyễn Huệ trong giai đoạn văn học 1900 - 1945 Ở cảlịch sử và văn học, chúng tôi sẽ chỉ ra những chi tiết (xuất thân, ngoại hình,tính cách) mang tính chất tương đồng hoặc khác biệt để từ đó cho thấy từ lịch
sử đến văn học, nhân vật Quang Trung – Nguyễn Huệ có những đặc điểm gìkhác biệt, có những đặc điểm nào văn học sáng tạo mà lịch sử không có, đặcđiểm ấy được gán cho hay nhân vật sẵn có
Trang 14Cụ thể các tác phẩm chúng tôi nghiên cứu bao gồm:
Tư liệu lịch sử từ năm 1900 đến năm 1945: khảo sát các bộ sử và tài
liệu lịch sử bao gồm Đại Nam thực lục (Quốc Sử triều Nguyễn, 1820 – 1909),
Việt Nam quốc sử khảo (Phan Bội Châu, 1906), Việt Nam sử lược (Trần
Trọng Kim, 1919)
Tư liệu văn học từ năm 1900 đến năm 1945: Đầu tiên phải kể đến
các văn bản trần thuật hư cấu như tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện dài, thơ,…
được xuất bản từ năm 1900 đến năm 1945, bao gồm: Việt Thanh chiến sử (Nguyễn Tử Siêu), Tây Sơn thuật lược (Vô danh thị), Người đương đầu với
vua Gia Long khai sáng nhà Nguyễn: Nguyễn Huệ (Ngô Đình Chiến, Vua Quang Trung (Phan Trần Chúc), Vua Tây Chúa Nguyễn (Ngô Tất Tố), Kể chuyện vua Quang Trung (Nguyễn Huy Tưởng).
Ở các đối tượng nghiên cứu trên, trong khi lịch sử đứng trên hai quanđiểm đối lập: một là coi Quang Trung và Tây Sơn là sự hiện diện của “giặc”,
kẻ phản trắc, hai là thừa nhận triều đại Tây Sơn và những công lao của VuaQuang Trung trong quá trình thống nhất đất nước, đánh đuổi quân xâm lược;thì văn học về cơ bản đều theo khuynh hướng sử dụng chất liệu lịch sử vềnhân vật Quang Trung như một dẫn chứng để biểu trưng cho vị anh hùng dân
Trang 15tộc Đây chính là điểm mấu chốt để chúng tôi so sánh và làm rõ quá trình,nguyên nhân thay đổi về quan điểm từ lịch sử tới văn học.
Ngoài ra còn có các bài nghiên cứu lịch sử đăng trên báo chí Việt Nam từ năm 1900 – 1945 và có bài tập đọc tập đọc được biên soạn trong
Sách giáo khoa lịch sử nước nhà (bậc sơ học cải cách) năm 1907 dạy tại
trường Đông Kinh Hà Nội Đây là vùng giao thoa giữa văn và sử để đối chiếu
và so sánh bước chuyển mình của nhân vật Các tư liệu thuộc phân loại này
bao gồm: Các bài tập đọc được trích từ chương IV: Thời đại thống nhất
Trung Cổ, tiết 30 đến tiết 33 trong Sách giáo khoa lịch sử nước nhà (bậc sơ
học cải cách), Lê cung phi tiết liệt tiểu sử (N.T.H, 1927), Ai là bậc anh
hùng đệ nhất nước nhà? (Hoài Lê, 1930), Diễn ca Lịch sử nước ta (Hồ Chí Minh, 1941), Nguyễn Huệ lấy hiệu là “Tây Sơn” (Tiện Sơn Hồ Uyển, 1941), Quang Trung, Nguyễn Huệ, anh hùng dân tộc 1788 – 1792 (Hoa Bằng
Hoàng Thúc Trâm, 1944)
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tiếp cận liên ngành: Đề tài lựa chọn hướng tiếp cận liên
ngành, đặt hình tượng Quang Trung - Nguyễn Huệ trong sự tương quan, liên
hệ chặt chẽ giữa lịch sử và văn học
Phương pháp văn hóa học và xã hội học văn học: Nhằm lý giải sự
khác biệt giữa các phiên bản văn chương về hình tượng Quang Trung –Nguyễn Huệ
Phương pháp loại hình học: Nhằm phân tích và chỉ ra nghệ thuật xây
dựng nhân vật trong các tác phẩm văn học về hình tượng Quang Trung
Phương pháp so sánh: Đặt tác phẩm văn học viết về Quang Trung –
Nguyễn Huệ cạnh những nhân vật khác của tiểu thuyết lịch sử như HoàngHoa Thám, Nguyễn Hoàng Diệu, Trần Quang Khải…để thấy điểm tươngđồng và khác biệt cũng như sự thay đổi trong tư tưởng của nhà văn
Trang 16Ngoài ra, chúng tôi kết hợp thực hiện các thao tác như: phân tích, tổnghợp, so sánh…
5 Đóng góp của luận văn
Đây là công trình khoa học chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu về cácphiên bản của Quang Trung – Nguyễn Huệ trong văn chương (tập trung chủyếu vào văn học viết), đặt trong sự tương tác với nguồn sử liệu Việt Nam.Mối quan hệ giữa hư cấu văn chương và sự thật lịch sử đến nay vẫn là đề tàichưa có điểm kết Từ việc nghiên cứu trường hợp Quang Trung – NguyễnHuệ, chúng tôi góp thêm một ý kiến một mặt làm rõ hơn vấn đề này, mặt khácmong muốn đưa ra cách biện giải mới về “sự thật lịch sử” Thêm vào đó, luậnvăn sẽ chỉ ra những khác biệt trong chính các nhà văn giai đoạn 1900 – 1945viết về Quang Trung – Nguyễn Huệ để cho thấy sự phát triển đa dạng của thểtài và tìm ra nguyên nhân của sự khác biệt
6 Cấu trúc luận văn
- Chương 1: Những cơ sở lý luận và thực tiễn
- Chương 2: Thân thế và ngoại hình của nhân vật Quang Trung –
Nguyễn Huệ
- Chương 3: Tính cách, nội tâm và vai trò lịch sử của nhân vật Quang
Trung - Nguyễn Huệ
Trang 17NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Văn học và lịch sử là một cặp phạm trù song hành Sự giao thoa giữahai lĩnh vực này đã tạo nên những “điểm mờ”, “khoảng trống” trong nhữngsáng tác về đề tài lịch sử Một trong những vấn đề đó là mức độ hư cấu sựkiện, quá khứ đã diễn ra trong các tác phầm văn học Ở chương 1, chúng tôilần lượt làm rõ mối quan hệ giữa sự thật văn học mà cụ thể là thể loại tiểuthuyết lịch sử với sự thật lịch sử; mối quan hệ giữa văn hóa, văn học và ý thức
hệ Bên cạnh đó, chương 1 của luận văn cũng sẽ điểm lại một cách khái quát
sử liệu, tác phẩm văn học về nhân vật Quang Trung – Nguyễn Huệ từ năm
1900 – 1945 và giai đoạn sau năm 1945 để thấy sự thay đổi trong cách nhìnnhận của thế hệ tác giả sáng tác nghệ thuật
1.1 Cơ sở lý thuyết
1.1.1 Mối quan hệ giữa sự thật lịch sử và văn học
Cuộc tranh cãi sự thật và hư cấu lịch sử trong văn chương từ khi nảysinh cho đến nay vẫn là một vấn đề chưa có hồi kết Đối với các tác phẩm vănhọc, việc hư cấu lịch sử là điều cần thiết Mỗi nhà văn khi sáng tác điều quantrọng không phải là yếu tố hư cấu hay sự thật lịch sử mà là cách đánh giá củaanh ta về lịch sử, diễn giải lịch sử ấy qua lăng kính của bản thân như thế nào.Nhưng hư cấu đến đâu lại là vấn đề còn nhiều bàn cãi Cùng một đề tài lịch sử
về nhân vật Quang Trung – Nguyễn Huệ, tác giả Nguyễn Mộng Giác với tác
phẩm Sông Côn mùa lũ được đón nhận nhưng Nguyễn Huy Thiệp viết Phẩm tiết lại làm dấy lên làn sóng phản đối, phê phán mạnh mẽ Nguyễn Mộng Giác
tái hiện một thời kỳ vàng son của dân tộc – bức tranh kháng chiến chống quânxâm lược đã quen thuộc với dân tộc Việt Đó là chiến công lừng lẫy củaNguyễn Huệ cùng các tướng sĩ Tây Sơn, thay đổi sơn hà, thống nhất nonsông Hình tượng vị anh hùng áo vải cờ đào cũng được xây dựng rõ nét thôngqua các tình huống, sự việc khác nhau, từ đó toát lên khí chất của người anh
Trang 18hùng đời thường nhưng cũng hết sức vĩ đại Nhưng Quang Trung – NguyễnHuệ của Nguyễn Huy Thiệp lại trở nên gần gũi như một người đàn ông bìnhthường, rất đời và rất người.
Sự khác nhau về quan điểm của hai nhà văn, rộng hơn là giữa những cánhân sáng tác về đề tài lịch sử là do những tác động của quy luật xã hội Khi ýthức xã hội phát triển, con người có nhu cầu thẩm định lại các thang giá trị thìvăn học là nơi cho thấy những biến số ấy Sự thay đổi trong lập trường sángtác, quan điểm nghệ thuật sẽ dẫn tới những thay đổi trong quan niệm về conngười và cả quá khứ Nhân vật lịch sử bước từng bước từ quá khứ vào vănchương với hình hài, đặc điểm của một con người bình thường Đó có thể làmột con người nguyên mẫu như lịch sử nhắc tới, hoặc có thể là một con ngườilớn lao với các phẩm chất nằm ngoài lịch sử, thậm chí là một con người tráingược với lịch sử đã miêu tả
Trong triết học, Henri Bergson định nghĩa sự thật không do dự: “SựThật, là điều mà triết học chưa bao giờ thẳng thắn chấp nhận khả năng sángtạo liên tục những mới lạ không thể dự báo” [77] Vậy sau cùng, hư cấu về đề
tài lịch sử là “một cái đinh để tôi treo các bức họa của tôi mà thôi” [34, tr 12] như lời của Alexande Dumas hay phải là một tác phẩm thuận theo sự thật
lịch sử? Xét về bản chất, không có cái gọi là sự thực lịch sử nguyên bản màchỉ có cái tiệm cận với sự thực lịch sử, nên việc đi tìm nó, đặc biệt, trong văn
chương là bất khả Các trần thuật hư cấu về lịch sử, theo nghĩa đó không phải
kể lại lịch sử mà là quá trình sáng tạo những diễn ngôn mới về lịch sử, đem
đến cách tiếp cận mới, góc nhìn mới và gợi mở những khả năng mới [54, tr 455] Những chi tiết mang tính phi lịch sử chủ yếu tập trung ở đời tư của nhân
vật lịch sử, là chi tiết không quan trọng và đảm bảo không sai lạc bản chất củahiện tượng lịch sử Nhưng chính các chi tiết hư cấu, sáng tạo này lại là nhữngyếu tố làm hoàn thiện bức tranh về nhân vật bước từ thời đại lịch sử qua thờiđại văn học Đây cũng là cơ sở cho việc ở chương sau chúng tôi tập trung làm
Trang 19rõ sự bổ khuyết của các tác phẩm hư cấu lịch sử về mặt tâm lý, nội tâm, tìnhcảm của nhân vật Quang Trung - Nguyễn Huệ từ lịch sử đến văn học.
1.1.2 Mối quan hệ giữa văn học - văn hóa - ý thức hệ trong quá trình huyền thoại hóa nhân vật lịch sử
Để xác định mối quan hệ giữa văn học và ý thức hệ, nhà nghiên cứu
Trần Đình Sử trong bài viết đăng trên trang Văn hóa Nghệ An [55] cho rằng
“cần làm rõ đặc trưng của văn học cũng như nội hàm của khái niệm ý thức
hệ, sau đó mới xem xét mối quan hệ của chúng với nhau” Cũng theo tác giả,
không tồn tại khái niệm văn học “thuần túy”, “đích thực” vì những chuẩn mựcđược gọi là thuần túy, đích thực được khái quát từ hệ thống tác phẩm chọn lọcmang tính điển hình Do đó, trong thời đại ngày nay, không thể định nghĩavăn học là gì chỉ với một câu trả lời cố định và cũng không cần thiết cố gắngkhái quát hóa, khái niệm hóa nó Hơn nữa, văn học trong hiện tại được hiểunhư là một thứ diễn ngôn, vì vậy không thể tránh khỏi mang tính chất của ýthức hệ nào đó
Khái niệm ý thức hệ tính đến nay có tới 16 định nghĩa khác nhau (theo
thống kê của T Eagleton) Đối với văn học, tác giả Trần Đình Sử xác định
chức năng của ý thức hệ bao gồm: Chức năng tạo thế giới quan; chức năng
chỉ phương hướng hành động; chức năng động viên xã hội, kêu gọi hành động; chức năng tạo thành hệ thống diễn ngôn có sức ảnh hưởng, tác động rộng lớn trong xã hội [55] Như vậy, thực chất vai trò của ý thức hệ đã thấm
nhuần trong các tác phẩm văn học từ lâu và đã được cụ thể hóa thông qua các
chức năng của văn học: chức năng nhận thức, chức năng thẩm mỹ, chức năng
giáo dục và chức năng giao tiếp
Quay trở lại với tiểu thuyết lịch sử, thể loại này đã tồn tại trong một hệquy chiếu phức tạp, cộng đồng tiếp nhận các tác phẩm này dưới một lăng kính
so sánh sát sao, luôn luôn đối chiếu với chính nó trong nguyên mẫu Nhữngcuộc tranh luận về nhân vật của tiểu thuyết lịch sử trong dòng chảy văn học
Trang 20về bản chất cũng là sự đối chiếu liên tục những phiên bản Câu chuyện lớnhơn xung quanh hệ quy chiếu này là vấn đề nhà văn đối diện với ý thức cộngđồng như thế nào khi viết về đề tài lịch sử Xuất phát từ những quan niệm vềnghiên cứu diễn ngôn trong văn học, trách nhiệm của nhà văn nằm ở chỗ lựachọn những sự thật ra sao, lựa chọn cách làm dày thêm ý thức có sẵn về lịch
sử hay thay đổi cách nhìn của cộng đồng Những quyết định này có thể đượctác động bởi thời đại anh ta đang sống, ý thức hệ anh ta chịu ảnh hưởng, môitrường văn hóa nuôi dưỡng anh ta Điều này giống như những gì Foucaulttừng hoài nghi ý niệm về sự sáng tạo Ông cho rằng người ta hiếm khi nóiđược cái gì hoàn toàn mới, thậm chí khi một ý tưởng mới được trình chánh thì
nó cũng được hình thành bên trong sự cưỡng chế của những gì đã được tư duytrước đó [86, tr 52-78] Cái gọi là “nhân tố khác ngoài trí tuệ” ở đây chính lànhững tích tụ thụ động hoặc chủ động bên trong ý thức của người sáng tác Hơn nữa, đối với những tác giả sáng tác tiểu thuyết lịch sử, yếu tố sự thậtkhông phải là tất cả mà là sự chọn lọc và có định hướng Nhà văn Hà Ân từngcho rằng người sáng tác cần xem xét các tài liệu lịch sử nhưng vẫn cần cókiến giải riêng Sử cũ chép công tích của nhân dân nhưng đôi khi không côngbằng, nhiệm vụ của nhà văn là đọc ra những điểm bất công và trả nó về chođúng sự thật, đúng người, đúng việc trong sáng tác văn học Nhà văn cũngnhấn mạnh hư cấu cũng là đang tái hiện lịch sử nhưng mục đích của hư cấu
lại không phải là nhằm tái hiện lịch sử [4, tr 87] Bàn về bộ ba truyện ngắn lịch sử Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết của Nguyễn Huy Thiệp, nhà nghiên
cứu Thụy Khuê cũng đưa ra nhận xét cùng quan điểm về việc lựa chọn sự thật
lịch sử trong các tác phẩm hư cấu: “Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh của Nguyễn
Huy Thiệp không nằm khô đét trên bài vị bàn thờ, không mốc meo trong sử viện, cũng không ăn vạ trong các bài sử lãnh cảm mà học trò không chịu học” [34, tr 160] Nguyễn Huệ và Nguyễn Anhs của Nguyễn Huy Thiệp
được sống cuộc đời của một con người vừa xưa cũ vừa hiện đại, họ nói ngôn
Trang 21ngữ của người đương thời, họ “di động, gian trá, xảo quyệt, lừa bịp, nói tục vànhổ bậy…” như bất kỳ một cá nhân nào đang tồn tại Nếu trong lịch sử họ đãnằm yên trong lớp đất dày thì trong tác phẩm văn chương, họ được sống qua
mỗi lần độc giả lật giở trang viết “Ở đây họ hèn như chúng ta, trong sử họ
hùng không giống ta Ở đây họ là người, trong sử họ là ma, và ở tha ma, họ chỉ là hài cốt, đôi khi còn bị đào mồ, sọ xương bị “kẻ thù” hành tội, xỉ nhục”
[34, tr 160] Ý kiến của nhà văn Hà Ân và nhà nghiên cứu Thụy Khuê một
lần nữa khẳng định vai trò của nhà văn trong các sáng tác tiểu thuyết lịch sử.Vai trò đó càng lớn càng cho thấy sự chi phối của ý thức hệ trong việc kiếngiải lịch sử và quá trình đánh giá lại về những nhân vật vốn được đóng khungtrong các định kiến
Trong văn học và lịch sử, huyền thoại hóa là một trong những cách ýthức hệ tác động đến con người Lịch sử tồn tại không chỉ để thỏa mãn nhucầu hiểu biết quá khứ mà còn là một cách biện minh cho tính chính đáng củamột chế độ Sự ra đời hay mất đi của một triều đại mang tính chất huyền bí làmột cách giải thích gián tiếp cho “vâng mệnh trời”, tạo ra sự tin tưởng củalòng dân đối với một vương triều Huyền thoại hóa lịch sử lúc này chịu sự chiphối của ý thức hệ và quyền lực chính trị Đến văn học, các tác phẩm có thểlàm dày thêm những huyền thoại sẵn có hoặc giải huyền thoại, khoác thêmcho nhân vật lịch sử các lớp áo mới nhằm thể hiện quan điểm của tác giả.Những chi tiết phi sự thật trong các câu chuyện về lịch sử thường xuất hiệntrong các câu chuyện về một cá nhân như anh hùng, vua hiền, tướng giỏi cócông với đất nước Đến cuối cùng, ý nghĩa của lịch sử hay văn học không còn
là ý nghĩa do một cá nhân cụ thể nào đó quyết định mà nó chịu sự chi phốicủa quyền lực chính trị, của những ảnh hưởng xã hội đến cá nhân đại diệnchép sử, sáng tác văn chương
Việc tháo dỡ những ký hiệu – biểu tượng tưởng chừng như bền vữngtrong các tiểu thuyết lịch sử thực chất là quá trình truy tìm dấu vết của sự thật
ẩn giấu đằng sau hình thức ngụy tín của nó Sự thật này từ trước tới nay được
Trang 22cộng đồng tin tưởng là của dân gian nhưng bản chất lại là tập hợp những ý đồcủa một loại hình diễn ngôn của kẻ chiến thắng, kẻ thống trị mà Foucault từnggọi là diễn ngôn quyền lực Huyền thoại đóng vai trò xác lập tín ngưỡng, nótồn tại bền vững và hai mặt: một mặt đẹp đẽ, cao cả để gắn kết cộng đồngtưởng tượng, một mặt mang theo sự toan tính và mưu toan của các thiết chế
xã hội
1.2 Cơ sở thực tiễn
Thế kỷ XX không chỉ là thế kỷ của hệ tư tưởng mà còn là sự đánh dấucho cuộc trỗi dậy của chủ nghĩa tư tưởng Sau khi chủ nghĩa dân tộc ra đờivào cuối thế kỷ XIX, nó đã trở thành ngọn cờ đầu khởi sinh cho những phongtrào chính trị - xã hội, góp phần tạo dựng bộ mặt mới cho các quốc gia, dântộc trên toàn thế giới
Chiến tranh thế giới kết thúc, các “nhà nước dân tộc” (hay chính xácphải gọi là “nhà nước sắc tộc”) mới đã hình thành Chính vì thế, đây cũng làtiền đề cho sự phát triển của tiểu thuyết lịch sử thế kỷ XX Đây là một hiệntượng văn học mang trong mình sứ mệnh đặc biệt Mỗi khi đời sống xã hội cóbiến động, nảy sinh những vấn đề nhức nhối thì tiểu thuyết lịch sử hay rộnghơn là những trần thuật hư cấu về lịch sử là nơi “trú ẩn” để người ta tìm về,khai thác những vấn đề bị bỏ quên, phai nhạt hoặc đẩy ra ngoại biên Chính vìthế giai đoạn lịch sử đầu thế kỉ XX khi vận mệnh đất nước đang trong cơnbiến loạn lớn, tiểu thuyết lịch sử đã nở rộ Đây cũng là tiền đề để chúng tôi lýgiải sự phát triển của tiểu thuyết lịch sử nói riêng, văn chương về lịch sử nóichung lấy Quang Trung – Nguyễn Huệ làm nhân vật trung tâm trong giaiđoạn đầy biến động này
1.2.1 Khái quát sử liệu về Quang Trung – Nguyễn Huệ giai đoạn
1900 - 1945
Trong số những ghi chép về các triều đại Việt Nam xuất bản trước năm
1945, có thể nói giai đoạn Nguyễn Huệ và cuộc khởi nghĩa Tây Sơn là thời kỳ
Trang 23có số lượng tài liệu lịch sử ít ỏi Sau Cách Mạng Tháng Tám, nhân vậtNguyễn Huệ trở thành vấn đề được nghiên cứu và bàn luận nhiều, một số
công trình khảo cứu riêng như Việt Nam thời bành trướng: Tây Sơn của
Nguyễn Phương xuất bản năm 1967 hay như Tập San Sử Địa dành hẳn ba sốchủ đề bàn về nhà Tây Sơn và Vua Quang Trung Tuy nhiên, trước năm 1945nếu kiểm đếm các tài liệu lịch sử về nhân vật này thì chỉ tồn tại vài bộ sử viếtbằng chữ Hán in dưới triều nhà Nguyễn, sử liệu nhà Thanh, sau này thế kỷ
XX có thêm sử gia Trần Trọng Kim viết bằng chữ Quốc ngữ Mãi đến năm
1944, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm là tác giả đầu tiên nghiên cứu riêng về
Quang Trung – Nguyễn Huệ trong công trình hai tập Quang Trung, Nguyễn Huệ, anh hùng dân tộc 1788 – 1792 năm 1944 Tác giả coi cuộc khởi nghĩa
Tây Sơn là cuộc chiến chính nghĩa và khẳng định vị thế của Quang Trungtrong lịch sử và nhất là trong lòng người
Với số lượng tư liệu lịch sử như vậy, khi khảo sát, chúng tôi phân loại
sử liệu viết về Quang Trung – Nguyễn Huệ thành hai nguồn chính: Thứ nhất
là nguồn thông tin được ghi chép trong những tài liệu lịch sử thành văn củaViệt Nam Trước năm 1945, sử liệu ghi chép sớm nhất về Quang Trung và
nhà Tây Sơn là Đại Nam nhất thống chí (Quốc Sử triều Nguyễn, 1882) Bộ
sách dư địa chí (địa lý – lịch sử) này được chép theo hệ thống các tỉnh địa lýViệt Nam thời điểm đó, mỗi tỉnh ngoài các thông tin về hành chính địa lý còn
có thêm phần tiểu truyện danh nhân và liệt nữ Quang Trung – Nguyễn Huệxuất hiện trong quyển chép về Bình Định và được miêu tả về ngoại hình
Cùng thời điểm đó, sử gia triều Nguyễn biên soạn Khâm định Việt sử Thông giám cương mục Đây là bộ chính sử do Quốc sử triều Nguyễn biên
soạn dưới chỉ dụ của vua Tự Đức thứ 8 vào khoảng năm 1856–1884 Bộ sử
này được viết bằng thể biên niên do Phan Thanh Giản làm chủ biên Khâm định Việt sử Thông giám cương mục soạn ra trên cơ sở Đại Việt sử ký tục biên, Đại Việt sử ký toàn thư và tham khảo một số tư liệu lịch sử Trung Hoa
Trang 24khác Trong số 53 quyển, nhóm tác giả chia thành ba phần: một quyển đầutiên (quyển thủ) ghi chép các sự kiện sắp xếp theo ngày tháng năm, chép lạicác văn bản hành chính như chỉ dụ, tấu nghị,… 52 quyển còn lại (5 tiền biên
và 47 chính biên) chép về tiểu sử các nhân vật có kèm rải rác lời phê của vua
Tự Đức Trong bộ sử này, những dữ kiện ghi chép về Quang Trung và cuộckhởi nghĩa Tây Sơn thuộc quyển thứ 46, 47 của phần chính biên Sử gia triềuNguyễn tập trung thuật lại sự việc Nguyễn Hữu Chỉnh bỏ nhà Lê đi theo baanh em Nguyễn Huệ ra sao, từ đó cho rằng việc Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc,đánh đuổi vua Lê Chiêu Thống là hành động “cướp phá Vị Hoàng”, phê phánđây là việc làm trái với đạo lý với lờ lẽ tiêu cực như cách gọi “bọn NguyễnVăn Huệ”, “giặc Tây Sơn” Các tư liệu cũng chép lại trận chiến của NguyễnHuệ với nhà Thanh và dừng lại bàn luận về sự kết thúc của nhà Lê Như vậy,Quang Trung – Nguyễn Huệ chỉ xuất hiện với tư cách một nhân vật, sự kiệnthêm vào của giai đoạn nhà Lê mạt vận và không được xếp riêng thành mộttriều đại
Sử gia triều Nguyễn cũng biên soạn thêm bộ Đại Nam Liệt truyện năm
1889 chép lại các sự kiện về gia phả nhà Nguyễn, bao gồm các tích truyện,công trạng công thần, liệt nữ, danh tăng…Bộ sách gồm 87 cuốn chia thành
tiền biên và chính biên Đại Nam Liệt truyện dành quyển 30 – Truyện chép
về Ngụy Tây để thuật lại các sự kiện lịch sử, truyện kể về triều đại này Đây là
nguồn sử liệu với những miêu tả kĩ về Nguyễn Huệ qua các chi tiết về xuất
thân, ngoại hình và quá trình dẹp yên nhà Thanh như: “tiếng nói như tiếng
chuông lớn, mắt sáng nhoáng nhoáng như chớp, giảo hoạt khôn ngoan, hay đánh nhau, người đều sợ cả” [74, tr.331] Tuy nhiên, với tính chất là tác
phẩm về gia phả nhà Nguyễn nên quan điểm của nhóm tác giả về NguyễnHuệ và Tây Sơn không mấy thiện cảm
Cùng thời, sử gia triều Nguyễn biên soạn bộ Đại Nam thực lục – biên
niên sử về triều đại các chúa Nguyễn và các vua nhà Nguyễn từ năm 1820 đến
Trang 25năm 1909 thì hoàn thành Tây Sơn và Quang Trung xuất hiện trong cả phần
tiền biên và chính biên, liên quan đến thời của vua Nguyễn Ánh Đại Nam thực lục không đi vào miêu tả ngoại hình của Nguyễn Huệ mà tập trung vào
các sự kiện trong cuộc chiến với Nguyễn Ánh Tác giả cũng đứng trên lậptrường nhà Nguyễn gọi Nguyễn Huệ là “giặc”
Đại Nam thực lục và Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng
là hai bộ chính sử bằng chữ Hán đề cập đến Quang Trung và khởi nghĩa TâySơn dù với tư cách một nhân vật lịch sử phụ trong tiến trình lịch sử mà nhómtác giả ghi chép Bước sang thế kỷ XX, Việt Nam trải qua những thay đổi lớn
cả về văn hóa, chính trị xã hội Nổi bật nhất là phong trào Đông Kinh nghĩathục (1905) làm thay đổi diện mạo văn học và xã hội thời điểm bấy giờ.Trong số các cuốn sử liệu về Quang Trung – Nguyễn Huệ giai đoạn này phải
kể đến Việt Nam quốc sử khảo (1906) của Phan Bội Châu Đây là một trong
những tác phẩm tuyên truyền cách mạng với mười chương, vạch trần bộ mặttàn bạo của thực dân Pháp và kêu gọi lòng yêu nước, ý chí đoàn kết chốnggiặc ngoại xâm của dân tộc
Đến năm 1919, công trình Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim ra
đời và là cuốn sách lịch sử Việt Nam đầu tiên viết bằng chữ Quốc ngữ Sựkiện Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc, lên ngôi vua và đánh tan quân Thanh đượcnhắc đến ở quyển Tự Chủ Thời Đại (Thời kỳ nam bắc phân tranh) trong năm
chương: chương VIII – Vận suy trung của chúa Nguyễn, chương IX – Họ
Trịnh mất nghiệp Chúa, chương X – Nhà Hậu Lê mất ngôi vua, chương XI – Nhà Nguyễn Tây Sơn và chương XII – Nguyễn Vương Nhất Thống Nước Nam Đây là cuốn sách sử trình bày sự kiện theo niên đại thời gian, bên cạnh
các chi tiết lịch sử có thêm các thông tin về chính trị, xã hội, địa lý Trong cácnguồn sử liệu trước năm 1945 về Quang Trung – Nguyễn Huệ, Trần TrọngKim là tác giả đầu tiên đặt nhân vật và nhà Tây Sơn thành một chương độclập, ngang bằng với các triều đại khác Khi đề cập đến Nguyễn Huệ và nhà
Trang 26Tây Sơn, bên cạnh những chi tiết lịch sử nằm rải rác liên quan đến các
chương về Chúa Trịnh và vua Lê thì riêng trong chương Nhà Nguyễn Tây
Sơn, Trần Trọng Kim trình bày quá trình hình thành một vương triều ra sao,
nhận xét về vua Quang Trung và những cải cách quan trọng trong giai đoạnnày Có thể nói, cách chép sử như vậy cho thấy sự thay đổi ở cách nhìn nhận,đánh giá về Quang Trung – Nguyễn Huệ cũng như triều đại Tây Sơn trongtiến trình lịch sử dân tộc
Nguồn sử liệu thứ hai mà chúng tôi muốn đề cập đến ở đây là bộ sửđược viết dưới triều nhà Thanh có đề cập tới Quang Trung – Nguyễn Huệ và
trận chiến với quân Thanh - Đại Thanh lịch triều thực lục Đại Thanh lịch triều thực lục hay còn gọi là Thanh thực lục, Đại Thanh Thực lục Thực lục
là sách chép sử theo dạng biên niên, ghi lại những sự kiện lớn nhỏ trong thờigian trị vì của một hoàng đế, đồng thời trong cuốn sử liệu chép dưới dạng này
thường có thêm những tiểu truyện về văn thần võ tướng của triều vua ấy Đại Thanh Thực lục gồm 11 thực lục (4433 quyển), ghi chép những sự kiện xảy
ra trong 267 năm trị vì của triều Thanh (1644 – 1911) Cuộc chiến giữa TâySơn và nhà Thanh được đề cập đến trong tổng cộng 209 đoạn văn bản, nằmrải rác ở các ghi chép về thời Càn Long (Cao Tông, Hoằng Lịch, 1736 –
1795) – Cao Tông thực lục Ngoài sự kiện chính, các thư từ, văn kiện ngoại
giao giữa Tây Sơn và nhà Thanh, cũng được chép lại trong phần này Một sốchi tiết về Nguyễn Huệ như tên gọi, ngày giờ mất được đề cập đến một cách
sơ lược Ngoài ra còn có thêm các tài liệu thư từ của giáo sĩ phương Tâynhưng không được đưa vào phạm vi nghiên cứu
Như vậy, điểm lại các tài liệu lịch sử trước năm 1945 về Quang Trung
và triều đại Tây Sơn tồn tại hai quan điểm: các bộ sử thành văn bằng chữHán, Nôm của nước ta đều dành cái nhìn không thiện cảm về Nguyễn Huệ vàcuộc khởi nghĩa Tây Sơn Trong khi đó, các công trình viết bằng chữ quốcngữ của Trần Trọng Kim và Hoa Bằng đặt nhân vật ngang bằng với các
Trang 27vương triều khác của Việt Nam Đây cũng chính là điểm mấu chốt bởi khi đặtcạnh các tác phẩm văn học trước năm 1945 viết về nhân vật lịch sử NguyễnHuệ có sự khác biệt lớn về mặt tư tưởng
1.2.2 Tổng quan về tác phẩm văn học viết về Quang Trung – Nguyễn Huệ từ năm 1900 đến 1945
Triều đại Tây Sơn sụp đổ không bao lâu thì nhân vật Quang Trung vàcuộc chiến chống quân Thanh đã đi vào văn chương Trong hệ thống các tácphẩm viết về Quang Trung – Nguyễn Huệ, có thể chia thành hai nhóm: Một là
nhóm các sáng tác bằng chữ Hán Đầu tiên là tiểu thuyết lịch sử Hoàng Lê nhất thống chí của nhóm tác giả Ngô gia văn phái in lần đầu năm 1804 Đây
là tác phẩm mang số phận đặc biệt bởi nó là sự giao thoa giữa lịch sử và văn
học Hoàng Lê nhất thống chí được kết cấu theo lối chương hồi, chép lại sự
kiện lịch sử từ khi Tây Sơn diệt Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê đến khi triềuTây Sơn bại dưới tay Nguyễn Ánh, nhà Nguyễn ra đời, thống nhất đất nước
Trong Hoàng Lê nhất thống chí có đến12 hồi (từ hồi thứ 4 đến hồi thứ 15) đề
cập đến Tây Sơn và quá trình Nguyễn Huệ tiến ra Bắc, lên ngôi vua, đánh nhàThanh và sụp đổ Nguyễn Huệ được gọi với tên “Chúa Tây Sơn” để phân biệtvới Vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc Các tác giả bên cạnh việc chép lại các sựkiện lịch sử có thêm phần miêu tả ngoại hình, nhận xét về Quang Trung như:
“Người thông minh quyết đoán” [44, tr 43], “lúc Nguyễn Huệ vào kinh đô Thăng Long, vua Lê sai các quan lần lượt đến yết kiến Thấy thần sắc của Bắc Bình Vương rực rỡ, nghiêm nghị, ai cũng run sợ, hãi hùng” [44, tr 43]
Sau Hoàng Lê nhất thống chí, các tác phẩm văn học viết về Quang
Trung – Nguyễn Huệ ngày càng phong phú hơn, nhất là khi phong trào ĐôngKinh Nghĩa thục ra đời với sự thay đổi về hệ tư tưởng Một loạt các khái niệmnhư chủng tộc, quốc gia – dân tộc hình thành trong thời kì này dẫn tới hệ tiêuchí quyền lợi dân tộc đánh giá nhân vật lịch sử cũng biến chuyển theo VuaQuang Trung và triều đại Tây Sơn cũng trở thành một trong những nhân vật
Trang 28được giảng dạy trong hệ thống giáo dục của Đông Kinh nghĩa thục Cụ thể, bộ
Quốc sử giáo khoa dành bốn tiết nói về vương triều này từ khi dấy binh khởi
nghĩa cho đến lúc tàn vong
Đến năm 1930, Tây Sơn thuật lược xuất hiện trên Nam Phong tạp chí
số 148 (1930) do Tạ Quang Phát dịch Đây là tác phẩm văn chương viết bằngthể loại tùng thoại (tuyển tập nhiều bài ký vụn vặn), chưa rõ năm và tác giảchính xác Quan điểm của người viết tương tự như các sử liệu triều Nguyễn,gọi triều Tây Sơn là ngụy Tây và khi nhắc đến Gia Long lời lẽ tán tụng, cungkính Chính vì vậy, có thể tạm thời kết luận tác phẩm này được biên soạn
dưới thời Nguyễn Tây Sơn thuật lược kể về thời Nguyễn Nhạc và Nguyễn
Huệ kéo quân ra đánh Phú Xuân năm 1777 (tức năm Cảnh Hưng thứ 38) Kếtthúc là sự kiện Gia Long đánh bại Tây Sơn năm 1802 (tức năm Bảo Hưng thứ2) Mặc dù còn nhiều sai sót về mặt thực sử và các mốc thời gian nhưng nhìnchung đây là tác phẩm văn học được chau chuốt, giọng điệu phong phú, kèmtheo nhiều lời bình chú của tác giả
Nếu như những tác phẩm trên thuộc về thể văn chương phong kiến với
yếu tố lịch sử là then chốt thì sau này thì Việt Thanh chiến sử (Nguyễn Tử Siêu), Vua Quang Trung (Phan Trần Chúc), Vua Tây Chúa Nguyễn (Ngô Tất Tố), Kể chuyện vua Quang Trung (Nguyễn Huy Tưởng), Lịch sử nước
ta (Hồ Chí Minh) là các tác phẩm văn chương trước 1945 viết về Quang
Trung mang đậm tính văn học hơn cả Trong số những bài thơ, tiểu thuyếtlịch sử này, tác giả hoàn toàn sử dụng chữ Quốc ngữ để sáng tác QuangTrung – Nguyễn Huệ cũng được xây dựng với các nét phác họa mang tính
tượng trưng Ngoài bài thơ Lịch sử nước ta thì Việt Thanh chiến sử, Vua Quang Trung, Vua Tây Chúa Nguyễn, Kể chuyện vua Quang Trung đều
lấy nhân vật lịch sử Nguyễn Huệ làm nhân vật chính Bởi vậy, hình tượngnhân vật được khắc họa rõ nét thông qua các chi tiết ẩn dụ (đôi mắt, chiếc áokhoác trong trận chiến với quân Thanh…)
Trang 29Tuy vậy, giai đoạn trước năm 1945, số lượng tác phẩm văn học viết vềQuang Trung không nhiều và đa phần vẫn thiên về kể các sự kiện Tác giảvẫn dừng lại ở mức khai thác chi tiết lịch sử bên ngoài, chưa tập trung nhiềuvào nội tâm nhân vật – đặc điểm khiến nhân vật lịch sử trở thành hình tượngvăn học Quan điểm về Quang Trung – Nguyễn Huệ cũng nằm trong sự nhấtquán, tư tưởng trong các tác phẩm vẫn là ngợi ca, cung kính
1.2.3 Điểm lại sử liệu và văn học viết về Quang Trung – Nguyễn Huệ sau năm 1945
Cách Mạng tháng 8 thành công, đất nước bước vào giai đoạn chuyểnmình mạnh mẽ, tình hình nghiên cứu học thuật và sáng tác văn học về đề tàilịch sử cũng trở nên sôi nổi, nhất là giai đoạn sau Đổi mới Quang Trung –Nguyễn Huệ lúc này trở thành đối tượng của cả lịch sử lẫn trần thuật hư cấu.Với lịch sử, có thể điểm đến các công trình nghiên cứu riêng về nhân vật như
Nguyễn Phương với cuốn Việt Nam thời bành trướng: Tây Sơn, Sài Gòn,
Nxb Khai Trí, 1967, loạt bài viết nhân kỉ niệm chiến thắng xuân Kỷ Dậu đăng
trên Tập san Sử Địa số 9 – 10, 13 năm 1968, 1969, Những khám phá về Hoàng Đế Quang Trung, Nxb Văn hóa thông tin, 2006 của Đỗ Bang hay Nguyễn Duy Chính với công trình Giở lại một nghi án lịch sử: “Giả vương nhập cận có thực người sang Trung Hoa là vua Quang Trung giả hay không?”, Nxb Văn hóa – Văn nghệ, 2016 Tinh thần chung của các đặc khảo
này là ngợi ca hình ảnh nhân vật và cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, biểu trưng chomột vị anh hùng chống giặc ngoại xâm trong lịch sử nước nhà Ngoài ra, cácnhà viết sử bắt đầu nhìn nhận Tây Sơn như một phong trào nông dân, cách
mạng ruộng đất như trong nghiên cứu Việt Nam văn hóa sử cương của Đào
Trang 30Nguyễn Huy Thiệp vì đề cập đến các khía cạnh con người (như dục vọng),thoát thai khỏi lối viết tiểu thuyết lịch sử truyền thống
Hiện nay, nhân vật Quang Trung – Nguyễn Huệ đã trở thành một trongnhững anh hùng lịch sử được tưởng nhớ và ngợi ca Trận đánh quân Thanh ởNgọc Hồi (Đống Đa) đã trở thành một quá khứ lẫy lừng cho ý chí độc lập,đánh lại giặc ngoại xâm và được giảng dạy trong sách giáo khoa lịch sử,truyện thiếu nhi Quang Trung cũng trở thành “vị thần” được lập tượng thờcúng tại quê nhà Bình Định và di tích lịch sử gò Đống Đa (Hà Nội) NguyễnHuệ hay Quang Trung được sử dụng để đặt tên đường ở các thành phố lớn tạiViệt Nam Một nhân vật lịch sử vốn bị tranh cãi trong quá khứ, bị gọi là ngụytriều đã không còn dấu vết trong đời sống sinh hoạt và văn hóa của ngườiViệt Ở thời hiện đại, ông trở thành một yếu tố của tinh thần dân tộc Chính vìthế, trong văn học khi các tác giả như Nguyễn Huy Thiệp, Trần Vũ sáng tác
về Nguyễn Huệ với những chi tiết đi khác biệt so với quan niệm đương thời
đã khiến nhà văn vấp phải niềm tin tín ngưỡng của độc giả hiện đại Chínhmâu thuẫn này đã làm nảy sinh câu hỏi: trong suốt chặng đường từ quá khứcho tới nay, Nguyễn Huệ đã từng bước trở thành “kẻ ngụy triều” đến “anhhùng áo vải cờ đào” như thế nào? Yếu tố nào ảnh hưởng tới quá trình này?Trong giai đoạn 1900 – 1945, nhân vật Quang Trung – Nguyễn Huệ thay đổi
ra sao từ lịch sử đến văn học? Đây cũng là cơ sở cho những luận điểm trongluận văn của chúng tôi phát triển
Trang 31Tiểu kết
Trong chương 1, chúng tôi lần lượt đưa ra hệ thống cơ sở lý thuyết vàthực tiễn sẽ vận dụng cho luận văn này Đó là những vấn đề về lịch sử, thôngdiễn lịch sử; diễn ngôn và diễn giải sự thật lịch sử; mối quan hệ giữa văn hóa– văn học và ý thức hệ Về mặt thực tiễn, chúng tôi thống kê những tài liệulịch sử, văn học trước năm 1945 viết về Quang Trung – Nguyễn Huệ Đâycũng là đối tượng mà luận văn sẽ nghiên cứu
Bản thân những trang lịch sử tồn tại không phải là sự thật khách quan mà
nó đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của người chép sử Do đó, nóluôn cần được làm lại, cần được so sánh, đối chiếu để tìm ra đáp án chính xácnhất về quá khứ Quá trình viết sử thực chất là quá trình tái diễn dải lịch sửbởi nó phụ thuộc nhiều vào thế giới quan, trình độ thẩm mỹ và quan điểm củatừng thời kỳ Bởi vậy, cùng một triều đại như Tây Sơn trong lịch sử tồn tạinhiều cách chép sử khác nhau
Các tác phẩm văn học viết về đề tài lịch sử là những hư cấu, bởi vậy việctôn trọng lịch sử và không được làm khác đi lịch sử là vấn đề mà những ngườicầm bút phải đương đầu Lớn hơn câu chuyện tác giả sẽ viết gì và cái gì là sựthật trong những hư cấu lịch sử đó là cái gì sẽ chi phối việc lựa chọn sự thậtcủa tác giả? Tại sao anh ta chọn chi tiết này thay vì chi tiết khác? Đây cũngchính là câu hỏi mà chúng tôi đặt ra trong hành trình tìm kiếm chân dungnhân vật Quang Trung – Nguyễn Huệ từ lịch sử tới văn học 1900 – 1945
Trang 32CHƯƠNG 2: THÂN THẾ VÀ NGOẠI HÌNH CỦA NHÂN VẬT
QUANG TRUNG – NGUYỄN HUỆ
Đối với lịch sử, khi các thời đại đã qua đi thì những gì thuộc về quá khứđều không còn là sự thật nguyên bản nữa mà chúng được sao chép, phóng dụqua nhiều lớp kính thời gian Chép sử vốn là công việc đòi hỏi sự khách quantuy nhiên những nhà làm sử thường giữ chức quan trong triều đình, vua saicoi việc chép sử Cho nên, chép sử cuối cùng lại trở thành công việc (hoặcthậm chí công cụ) chịu sự áp chế của quyền lực, các sự kiện vì thế cũng sẽđược chọn lọc mà ghi lại Trên cơ sở đó, trong tất cả các chương của luận vănnày, chúng tôi sẽ liên tục đối chiếu giữa lịch sử và văn chương để thấy sựgiống - khác nhau khi cùng nhìn nhận, đánh giá về nhân vật Quang Trung,triều đại Tây Sơn Để tạo dựng hình ảnh, “hồ sơ” hoàn chỉnh của nhân vật,thay vì đi từ góc độ lịch sử nói ra sao rồi tới văn học miêu tả như thế nào,chúng tôi chọn cách từng bước chỉ rõ các đặc điểm của Quang Trung Hìnhảnh đó bao gồm: 1) những đặc điểm bên ngoài (mà chúng tôi sẽ trình bàytrong chương 2); 2) tính cách, nội tâm và tài năng của nhân vật (chương 3)
2.1 Nguồn gốc, lai lịch nhân vật Quang Trung dưới góc nhìn lịch sử và văn học 1900 – 1945
Trước khi đi sâu vào những đánh giá của các nhà nghiên cứu về nhânvật cần phải xác định những đặc điểm về danh tính, trong đó cụ thể nhất phải
kể đến xuất xứ, quê quán Trong cuốn Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, ở
mục từ về Nguyễn Huệ cho biết đây là: “Anh hùng dân tộc, nhà cải cách lớn,
em của Nguyễn Nhạc, anh của Nguyễn Lữ, gốc họ Hồ, thở nhỏ học với Giáo Hiến” và ngợi ca tài năng: “cuối năm 1775, Nguyễn Huệ mới 22 tuổi, lần đầu tiên chỉ huy một đạo quân tập kích vào Phú Yên đánh tan quân Tống Phước Hiệp, buộc Hiệp phải lui về Vân Phong [32, tr 202-204] Tuy nhiên, đó là cái
nhìn của những nhà nghiên cứu hiện đại nhìn về một nhân vật lịch sử trongquá khứ Để được công nhận như một vị anh hùng dân tộc, số phận nhân vật
Trang 33Nguyễn Huệ đã trải qua nhiều “cuộc bể dâu”, có rất nhiều ý kiến tranh cãingay từ nguồn gốc, xuất thân
Về thân thế của nhân vật Quang Trung, các tài liệu lịch sử đến trướcnăm 1945 chia làm hai thái cực: 1) Coi nhân vật là kẻ phản quốc (chủ yếutrong các sử liệu nhà Nguyễn); 2) Ghi nhận công lao ở việc chấm dứt tìnhtrạng Trịnh – Nguyễn phân tranh và chiến thắng trong cuộc chiến với nhà
Thanh (như Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim) Tuy nhiên, cũng trong
chính các tài liệu sử dưới triều Nguyễn nhiều cuốn sách ghi chép về NguyễnHuệ không mấy thiện cảm nhưng cũng phải thừa nhận đặc điểm khác thườngcủa nhân vật
2.1.1 Tổ tiên và quê quán
Trong các tài liệu lịch sử có thể kể đến từng bước phác họa các thôngtin về quê quán và tổ tiên nhân vật như sau: Nguyễn Huệ sinh vào khoảng
1753 trong gia đình có tổng cộng 7 người con trong đó ba anh em trai là
Nhạc, Lữ, Huệ Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược cũng cho rằng
Nguyễn Huệ sinh năm Quý Dậu tức năm 1753 niên hiệu Cảnh Hưng thứ 13dưới triều vua Lê Hiển Tông nhà Hậu Lê Ông còn có tên là Quang Bình, Văn
Huệ (theo Đại Việt sử ký tục biên, quyển XXII, Hiển Tông Vĩnh hoàng đế)
hay Hồ Thơm Sau này, người dân địa phương thường gọi ông là Đức ôngBình hoặc Đức ông Tám
Vào nửa thế kỷ 17, nước ta phải trải qua thời binh biến, họ Trịnh ởngoài Bắc kéo vào Nam đánh họ Nguyễn, thời bấy giờ hay còn được gọi làTrịnh - Nguyễn phân tranh, nội chiến Đàng Trong Đàng Ngoài trong các sửliệu Vào thời Thịnh đức nhà Lê (1653 - 1677) chiến tranh đã vượt ra khỏi địaphận sông Gianh, quân chúa Nguyễn thắng thế ra Nghệ An chiếm được bảyhuyện ở đó kể cả huyện Hưng Nguyên Nhưng vì có sự bất bình giữa haitướng lĩnh (Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật) mà chúa Nguyễn phải triệt
Trang 34hồi, rút về đó, nhiều người Nghệ an bị bắt vào theo, trong đó có tổ tiên của baanh em Nguyễn Huệ
Khi xem xét các sử liệu thành văn trước năm 1945, duy nhất Việt Nam
sử lược của Trần Trọng Kim đề cập tới quê quán và tổ tiên của nhân vật
Nguyễn Huệ Cụ thể như sau: “Nguyên ông tổ bốn đời của Nguyễn Nhạc là
họ Hồ cùng một tổ với Hồ Quý Ly ngày trước, người ở huyện Hưng Nguyên, đất Nghệ An, gặp lúc chúa Trịnh, chúa Nguyễn đánh nhau, bị bắt đem vào ở
ấp Tây Sơn (Ấp Tây Sơn nay là đất thôn An Khà và thôn Cửu An thuộc phủ Hoài Nhân Vì anh em Nguyễn Nhạc khởi nghiệp ở chỗ ấy, nên mới gọi là Tây Sơn) thuộc đất Quy Nhơn Đến đời ông thân sinh là Hồ Phi Phúc dời nhà sang ở ấp Kiên Thành, nay là làng Phú Lạc, huyện Tuy Viễn, sinh được 3 người con: trưởng là Nhạc, thứ là Lữ, thứ ba là Huệ” [25, tr 281-282] Như
vậy, theo tài liệu lịch sử mà Trần Trọng Kim chép, ba anh em Nguyễn Huệ có
tổ tiên với Hồ Quý Ly, quê gốc ở Nghệ An, sau vì binh biến Trịnh – Nguyễn
mà chuyển về Tây Sơn, Quy Nhơn
Những dữ kiện này hoàn toàn trùng khớp với các chi tiết mà các nhàvăn sử dụng trong tác phẩm văn học trước năm 1945 về Nguyễn Huệ Đầu
tiên là theo Hoàng Lê nhất thống chí, cha ông của anh em Tây Sơn thuộc về
dòng dõi họ Hồ của Hồ Quý Ly, đến đời người tên Phúc họ Hồ còn được giữ,
ba anh em Nguyễn Huệ “tổ tiên nguyên là người Nghệ An” [45, tr 50] Năm
1905, Quốc sử giáo khoa của phong trào Đông Kinh nghĩa thục đã sớm đưa
Nguyễn Huệ và cuộc khởi nghĩa Tây Sơn vào thành một tiết học dành cácbậc Tác giả dành riêng phần nói về Quang Trung và nhà Tây Sơn trong
chương IV: Thời đại thống nhất Trung Cổ và dạy trong tổng cộng bốn tiết (từ
tiết 30 đến tiết 33) Nội dung của tiết 30 (Lãnh thổ của Bản triều thuộc về họ
Trịnh và Tây Sơn) đề cập đến “Nguyễn Huệ là người làng Tây Sơn, Quy
Nhơn (nay thuộc Bình Định)” dấy binh phất cờ khởi nghĩa, đánh đâu thắng
đấy và lấy phía nam Quảng Ngãi đến tận Bình Thuận làm căn cứ [63, tr 537]
Trang 35Sau này, Ngô Tất Tố khi xây dựng tiểu thuyết lịch sử về Nguyễn Huệ và giaiđoạn lịch sử này đã đưa ra một vài nét phác họa về tổ tiên của ba anh em Tây
Sơn chi tiết hơn: “vốn họ Hồ, quán làng Thái Bảo, huyện Hưng Nguyên xứ
Nghệ An ( ) ông thân Nhạc thì tên là Hồ Phi Phúc” [64, tr 98] và rất giàu
có được nhân dân trại Tây Sơn phục theo tôn làm chủ trại
Trong truyện lịch sử Vua Quang Trung, Phan Trần Chúc tiếp tục kế
thừa dữ liệu từ lịch sử, tác giả viết rằng Tây Sơn là do người chủ trại họ Hồ,
“gốc ở làng Thái Lão, huyện Hưng Nguyên xứ Nghệ An” [13, tr 9] Đến
Nguyễn Tử Siêu, mặc dù không sử dụng dữ liệu quê quán là Nghệ An nhưng
nếu đối chiếu theo Việt Nam sử lược thì những chi tiết tác giả nhắc đến trong Việt Thanh chiến sử không mâu thuẫn với quan điểm của các nhà văn trước
đó Ông cho biết Nguyễn “vốn người ở Ấp Tây Sơn, thuộc đất Quy Nhơn” [12, tr 440] Tây Sơn theo tác giả chú thích là đất thôn An Khê và thôn Cửu
An thuộc phủ Hoài Nhân Chi tiết này trùng với chú thích của Trần TrọngKim khi nói về ấp Tây Sơn mà anh em Nguyễn Huệ xây dựng căn cứ
Như vậy, trong hồ sơ nhân vật Quang Trung – Nguyễn Huệ, sử liệu vàvăn học trước năm 1945 không có điểm sai khác Có thể khái quát lại ở mấyđặc điểm: Nguyễn Huệ là con trai của Hồ Phi Phúc, quê gốc ở Nghệ An sausinh sống ở Bình Định Nguyễn Huệ là một trong những chủ trại của ấp TâySơn do anh trai là Nguyễn Nhạc đứng đầu Chính xuất thân này là tiền đề cholực lượng của quân Tây Sơn sau này và là cơ sở cho các chi tiết mang tínhhình tượng “anh hùng áo vải cờ đào”
2.1.2 Học vấn
Trình độ học vấn của Nguyễn Huệ là một trong những thông tin khôngđược các tài liệu lịch sử trước năm 1945 đề cập đến và chỉ xuất hiện trong
sáng tác văn chương Đầu tiên là Tây Sơn thuật lược dưới triều Nguyễn chép:
“Huệ đặt quan Bi-thư, mỗi tháng 6 lần chầu để giảng giải kinh sử Huệ không
có học cho nên không biết thư sách” [43, tr 29-37] ý chỉ Nguyễn Huệ xuất
Trang 36phát từ nông dân, ít học nên là kẻ kém cỏi chữ nghĩa, phàm phu tục tử, khôngxứng ở vị trí thánh hiền, con trời Chính vì thế, khi Nguyễn Huệ hỏi quan Bithư từ xưa có ai đánh Tàu không, quan đáp đời xưa có Trần Hưng Đạo, LêThái Tổ nhưng đều là chống giặc mà chưa tiến sang đánh Tàu Nguyễn Huệ
bèn nói: “Ta nay sẽ đánh Tàu để ngươi xem” Câu nói của ông đặt trong hoàn
cảnh ở trên nói Nguyễn Huệ không có học, cho thấy tác giả cuốn tùng thoại
Tây Sơn thuật lược đánh giá việc đánh Tàu không xuất phát từ điều gì sâu xa
mà là do Nguyễn Huệ là người độc ác, tham tàn sát, chiến tranh, việc đánhnhau chỉ là để chứng minh cho người khác thấy
Tuy nhiên một mặt khác, sự việc này khi so sánh với các sử liệu kháccho thấy đây là vị vua có ý thức dân tộc tự chủ vô cùng lớn, mang hoài bãomong muốn mở mang bờ cõi đất nước Nguyễn Huệ mang trong mình ý thức
về tự chủ và về sự lớn mạnh, hoài bão chính trị vươn ra khỏi phạm vi quốc giadân tộc Trong lịch sử của dân tộc, không ít lần những người đứng đầu nướcViệt nuôi mưu đồ mở rộng lãnh thổ bằng cách tiến quân về phương Bắc thay
vì bị động chống giữ khi có xâm lăng Năm 1941, khi nói về trình độ học vấn
của Nguyễn Huệ, tác giả Ngô Đình Chiến trong tiểu thuyết dài kì Người đương đầu với vua Gia Long khai sáng nhà Nguyễn: Nguyễn Huệ viết:
“Văn Huệ về nhà (khi chia tay anh Nguyễn Nhạc ra đàng ngoài làm ăn) từ
đấy lưu ý trông nom vườn ruộng, lúc thủa nhàn lại cùng Văn Lữ luyện các món võ, chờ thời Mười tám ban võ nghệ, Huệ với Lữ đều tinh thạo hơn người Huệ thích dùng đôi chùy đồng nặng 50 cân ( ) Các bộ binh - thư của Khổng Minh, Văn Huệ đều xem hết” [10, tr 1-2] Xét theo tư liệu này thì trình
độ học vấn của Nguyễn Huệ có thể xếp vào loại uyên thâm, không những làbậc anh hùng hảo hán mà còn là người kiến văn, am hiểu sử sách, nhất là việcdùng mưu lược, trí dũng Mặc dù không có nhiều tài liệu nói rõ về trình độhọc vấn của Nguyễn Huệ ra sao, nhưng những thông tin ít ỏi cũng cho thấy baanh em Tây Sơn không được học hành nhiều cũng như không theo con đường
Trang 37học vấn bởi người duy nhất dạy học cho họ là một thầy giáo thất thế Tuynhiên qua những mưu kế và cách dùng binh, khiển tướng của Nguyễn Huệ đãthể hiện trí tuệ của một bậc anh hùng, thiên tài quân sự Đây cũng là cơ sở chonhững đặc điểm về tài năng mà chúng tôi sẽ trình bày trong chương 3 củaluận văn
Như vậy, về nguồn gốc lai lịch có thể thấy Nguyễn Huệ quê gốc ởNghệ An, cha là Hồ Phi Phúc sau này di chuyển vào vùng Bình Định sinhsống Khi vào Nghệ An ba anh em nổi bật hơn người nên được bầu làm chủtrại Tây Sơn Xem xét các tư liệu lịch sử và so sánh với văn học, có thể thấychi tiết về trình độ học vấn chỉ có ở những tác phẩm văn chương mà khôngđược chép trong các sử liệu Vốn là thủ lĩnh của một sơn trại nên việc NguyễnHuệ sau này được mệnh danh là anh hùng “áo vải cờ đào” trong các tác phẩmvăn học Và với lực lượng quân đội chính là những người nông dân, ngườidân tha hương nên sau này khi tập hợp, cuộc khởi nghĩa Tây Sơn được xem làcuộc khởi nghĩa nông dân đầu tiên Nguyễn Huệ vì thế cũng trở thành thủ lĩnhnông dân, gắn liền với hình ảnh anh hùng cứu nước mà chúng tôi sẽ phân tích
ở những chương sau
2.2 Ngoại hình nhân vật Quang Trung từ sử liệu đến văn học 1900 - 1945
Trong nhiều cuốn sử lẫn sáng tác và nghiên cứu văn học, ngoại hìnhcủa nhân vật Quang Trung vẫn còn là một bí ẩn Cả lịch sử lẫn văn học đềukhông tả đầy đủ ngoại hình nhân vật mà chỉ tập trung vào một vài chi tiếtmang tính chất tượng hình như đôi mắt, giọng nói Khi so sánh những đặcđiểm này từ văn tới sử có thể thấy các trần thuật hư cấu trước năm 1945 chưathoát thai khỏi lịch sử, các tình tiết truyện cũng không sáng tạo nhiều như giaiđoạn sau này Đọc các tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng, Phan Trần Chúc
hay Ngô Tất Tố và các cách chép sử của Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục không có mấy sự khác biệt Điểm khác biệt lớn nhất là quan điểm và
cách đánh giá của sử gia và nhà văn
Trang 38Có thể thấy điều này đầu tiên qua các tư liệu lịch sử, trong cuốn Đại Nam nhất thống chí, các sử gia của Quốc Sử triều Nguyễn khi nói về Nguyễn
Huệ miêu tả ngoại hình nhân vật đã sử dụng những từ ngữ phi thường, khác
lạ: Nguyễn Huệ “là em Nguyễn Văn Nhạc, tiếng nói như tiếng chuông lớn,
mắt sáng nhoáng nhoáng như chớp, giảo hoạt khôn ngoan, hay đánh nhau, người đều sợ cả” [69, tr 221] Nguyễn Huệ trong con mắt của các sử gia triều
Nguyễn là nhân vật có sức nặng Dù không miêu tả rõ nét ngoại hình chi tiếtnhưng những nét tả phác qua cũng đủ thấy thái độ vừa e dè, vừa thừa nhậnkhả năng của nhân vật Đây cũng là bộ sử duy nhất nhắc đến ngoại hìnhNguyễn Huệ và chép theo lối ước lệ thường thấy của thời kỳ Trung đại Đến
thời Trần Trọng Kim chép Việt Nam sử lược, các chi tiết về ngoại hình đều
đã lược bỏ mà chỉ tập trung chính vào những sự kiện lịch sử mang tính chấtthay đổi vận mệnh quốc gia Điều này cho thấy sự khác biệt giữa hai cáchchép sử của hai thời kỳ, một là trước năm 1900 bằng chữ Hán và hai là saunăm 1900 bằng chữ Quốc ngữ Lịch sử, lúc này dưới góc nhìn của Trần TrọngKim đã trở thành một tư liệu với ngôn ngữ khoa học, ngắn gọn, khúc chiếtthay vì lối văn nặng tính tượng trưng, so sánh Nếu như trong lịch sử, tư liệumiêu tả ngoại hình nhân vật Nguyễn Huệ vẫn là một ẩn số thì với văn học, sựhuyền bí ấy trở thành chất liệu cho các tác giả sáng tạo nên hình tượng vị anhhùng mang trên mình dung mạo khác thường
Đến văn học, các tác phẩm viết về ngoại hình của Nguyễn Huệ được
chia thành giai đoạn chính: Một là tiểu thuyết lịch sử viết bằng chữ Hán Lúc
này các tác phẩm vẫn mang nặng bút pháp truyền thống với cách miêu tả ước
lệ tượng trưng, lấy điểm tả diện Đầu tiên là vua Lê Chiêu Thống nhận xét vềNguyễn Huệ khi nói với mẹ về việc sang cầu nhờ nhà Thanh được nhóm Ngô
gia văn phái chép trong Hoàng lê nhất thống chí: “Không biết Nguyễn Huệ
là tay anh hùng lão luyện, dũng mãnh và có tài cầm quân, xem hắn ra Bắc vào Nam ẩn hiện như quỷ thần không ai có thể lường biệt Hắn bắt Nguyễn
Trang 39Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Võ Văn Nhậm như giết một con lợn Không một người nào dám nhìn thẳng vào mắt hắn, thấy hắn trở tay, đưa mắt, là ai nấy đã phách lạc hồn xiêu sợ hắn hơn sợ sấm sét, e rằng chẳng mấy lâu nữa hắn lại trở ra” [44, tr 1175] Sự sợ hãi của vua Lê Chiêu Thống hoàn toàn có
căn cứ Nhưng chính sự sợ hãi này lại cho thấy việc làm của Nguyễn Huệ khi
đó là hoàn toàn chính xác và tín nghĩa: đẩy lùi giặc ngoài, dẹp yên đất nước.Xét cho đến cùng, vua Lê Chiêu Thống là kẻ nhu nhược và đáng thương bởikhông thể giữ được đất nước, khi nhờ cậy sức mạnh từ bên ngoài lại biếnthành quân cờ bị coi khinh Một nhân vật đáng thương đặt cạnh một conngười phi thường, đó là sự nực cười nhưng cũng là bức tranh đối lập cho thấy
sự chuyển mình tất yếu của dân tộc trong thời đại đó
Cùng thời, Tây Sơn thuật lược cũng dùng bút pháp ước lệ để tả ngoại
hình Quang Trung – Nguyễn Huệ: “Năm ấy (tức năm Nhâm Tý - niên hiệu
Quang Trung thứ 5) Nguyễn Huệ mất, tóc của Huệ thì quăn, mặt thì đầy mụn,
có một con mắt nhỏ, nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, thì ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu, lúc lâm trận thì chế thắng, uy anh hùng lẫm liệt, cho nên mới bình định phương Bắc và dẹp yên phương Nam, hướng tới đâu thì không ai hơn được” [43, tr 17] Đây là một tác phẩm văn học viết
theo quan điểm chính thống của triều Nguyễn, coi nhà Tây Sơn và NguyễnHuệ là giặc, ca tụng công lao của Gia Long Tuy nhiên, trong nội dung vừa
được nói đến ở trên, mặc dù gọi triều đại Tây Sơn là Ngụy Tây nhưng khi
nhắc đến vị chủ tướng tác giả vẫn phải sử dụng kính ngữ “ngài” và thừa nhậnNguyễn Huệ mang theo dáng dấp của kẻ phi thường, “anh hùng lẫm liệt”
Các tác giả triều Nguyễn chú ý tới việc lột tả đặc điểm đôi mắt của
nhân vật Đó là đôi mắt có một mắt nhỏ nhưng “mắt sáng nhoáng nhoáng
như chớp”, “ban đêm ngồi không có đèn, thì ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu” Đôi mắt phản ánh cái tâm hơn người, phi thường khác lạ có thể dẫn
dắt trong đêm tối Lê Chiêu Thống cũng từng phải nhận xét về đôi mắt của
Trang 40Nguyễn Huệ: “Không một người nào dám nhìn thẳng vào mắt hắn, thấy hắn
trở tay, đưa mắt, là ai nấy đã phách lạc hồn xiêu sợ hắn hơn sợ sấm sét, e rằng chẳng mấy lâu nữa hắn lại trở ra” [46, tr 1175] Nói cách khác, hình
ảnh ước lệ, so sánh đôi mắt của Nguyễn Huệ trong các tác phẩm văn học viếtbằng chữ Hán cho thấy sự tinh tường hiếm có trong thiên hạ nhưng cũng vẫnkhông tránh khỏi hiềm khích triều đại khi cho rằng đó là ánh mắt của kẻ
“giảo hoạt khôn ngoan”.
Ngoài đôi mắt và giọng nói, ngoại hình của nhân vật Quang Trung Nguyễn Huệ còn được khắc họa qua những chi tiết trên trận chiến đánh Nam
-dẹp Bắc và khi đứng trước triều Lê Các tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí đều thừa nhận“lúc Nguyễn Huệ vào kinh đô Thăng Long, vua Lê sai các
quan lần lượt đến yết kiến Thấy thần sắc của Bắc Bình Vương rực rỡ, nghiêm nghị, ai cũng run sợ, hãi hùng” [45, tr 43] Sự đối lập giữa một bên
là cả một vua tôi văn võ nhà Lê với một bên là tướng soái lãnh đạo đội quâncàng cho thấy vận hạn và sự yếu kém của một triều đại chuẩn bị suy tàn.Nhưng cũng chính hình ảnh oai phong lẫm liệt của Nguyễn Huệ cho thấy tia
hi vọng của vận mệnh đất nước đang được đặt vào con người này Sự nghiêmnghị, anh hùng lẫm liệt của ông càng tô đậm thêm tư chất phi thường và dựbáo sự chuyển mình mạnh mẽ của đất nước kể từ sau cuộc gặp gỡ đó
Hai là nhóm các tác phẩm viết bằng chữ quốc ngữ Cũng cùng tả đôi
mắt nhưng các trần thuật hư cấu của thế kỷ XX lại có những so sánh mangtính hiện đại như Nguyễn Huy Tưởng khi miêu tả Nguyễn Huệ lâm trận hành
quân đánh tan nhà Thanh: “Trên lầu cao, Quang Trung ngồi im, đôi mắt sáng
như đèn, nhanh như chớp, đăm đăm nhìn trước mặt cuồn cuộn bụi hồng” hay
“trong đêm tối, tướng sĩ thấy đôi mắt Quang Trung như sao vằng vặc” [60, tr 704] Vẫn lại là hình ảnh đôi mắt được đặc tả với những so sánh ước lệ cho
thấy dụng ý tài năng thể hiện qua đôi mắt tinh tường khác thường Trong thipháp văn học trung đại, những hình ảnh thường mang tính chất phóng dụ, ước