1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát lỗi ngữ âm, từ vựng của học sinh trường THPT vân nham, hữu lũng, lạng sơn

122 131 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Làm thế nào để giải quyết tình trạng ấy, làm thế nào để giúp ngườihọc sử dụng đúng, tốt và hay tiếng Việt, đó là động lực, là mục tiêu chúng tôithực hiện luận văn mang tính ngôn ngữ học

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -TRẦN VÂN ANH

KHẢO SÁT LỖI NGỮ ÂM, TỪ VỰNG CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

VÂN NHAM, HỮU LŨNG, LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2019

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -TRẦN VÂN ANH

KHẢO SÁT LỖI NGỮ ÂM, TỪ VỰNG CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

VÂN NHAM, HỮU LŨNG, LẠNG SƠN

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60 22 02 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS.Nguyễn Ngọc Bình

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận vănchưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trần Vân Anh

Trang 4

Đặc biệt em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn NgọcBình đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.

Trong quá trình học tập và nghiên cứu, bản thân tác giả đã có nhiều cốgắng song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy côgiáo, bạn bè đồng nghiệp chỉ dẫn và góp ý

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!

Lạng Sơn, tháng 5 năm 2019

Tác giả

Trần Vân Anh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 10

6 Những đóng góp của luận văn 11

7 Cấu trúc luận văn 12

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 13

1.1 Cơ sở lý thuyết 13

1.1.1 Chuẩn ngôn ngữ 13

1.1.2 Quan niệm về lệch chuẩn ngôn ngữ 18

1.2.3 Quan niệm về lỗi trong sử dụng ngôn ngữ 19

1.2 Một vài thông tin về địa bàn khảo sát 25

1.2.1 Một số đặc điểm về địa bàn và nhà trường THPT Vân Nham - huyện Hữu Lũng - tỉnh Lạng Sơn 25

1.2.2 Một số đặc điểm về học sinh nhà trường 25

Tiểu kết chương 1 27

Chương 2 LỖI CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT VÂN NHAM 28

2.1 Thực trạng chung về lỗi chính tả của học sinh trên địa bàn 28

2.1.1 Số liệu tổng thể 28

2.1.3 Phân tích theo các nội dung lỗi cụ thể 35

2.1.4 Phân tích theo các đối tượng nghiên cứu 48

2.2 Phân tích nguyên nhân lỗi 61

Trang 6

2.2.1 Nguyên nhân từ lỗi khách quan 61

2.2.2 Nguyên nhân từ lỗi chủ quan 62

2.3 Đề xuất giải pháp 63

Tiểu kết chương 2 66

Chương 3 LỖI TỪ VỰNG CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT VÂN NHAM 67

3.1 Thực trạng và nguyên nhân gây lỗi từ vựng của học sinh trên địa bàn 67

3.1.1 Số liệu tổng thể 67

3.1.2 Phân tích số liệu chung 69

3.1.3 Phân tích theo các nội dung lỗi cụ thể 72

3.1.4 Phân tích lỗi từ vựng theo các đối tượng nghiên cứu 82

3.2 Đề xuất giải pháp 97

3.2.1 Đối với giáo viên 97

3.2.2 Đối với học sinh 97

Tiểu kết chương 3 99

KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC QUY ƯỚC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

1 Dt/dt: dân tộc

2 Dtts: dân tộc thiểu số

3 Kinh – dân tộc Kinh

4 Hs: học sinh

5 Nam Kinh: học sinh nam dân tộc Kinh

6 Nữ Kinh: học sinh nữ dân tộc Kinh

7 Nam dt: học sinh nam người dân tộc thiểu số

8 Nữ dt: học sinh nữ người dân tộc thiểu số

9 Phiếu/phiếu điều tra: Bài kiểm tra Ngữ văn dùng để khảo sát

10 THCS: cấp học trung học cơ sở

11 THPT: cấp học Trung học phổ thông

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Lỗi chính tả của học sinh toàn trường 29

Bảng 2.2: Số học sinh mắc lỗi chính tả 30

Bảng 2.3: Bảng tổng hợp số học sinh mắc lỗi chính tả chia theo dân tộc 50

Bảng 2.4: Bảng tổng hợp số học sinh mắc lỗi chính tả chia theo giới tính 54

Bảng 2.5: Bảng tổng hợp học sinh mắc lỗi chính tả theo khối lớp 58

Bảng 3.1: Lỗi từ vựng của học sinh toàn trường 68

Bảng 3.2: Bảng tổng hợp số học sinh mắc lỗi từ vựng chia theo dân tộc 83

Bảng 3.3: Bảng tổng hợp số học sinh mắc lỗi từ vựng chia theo giới tính 85

Bảng 3.4: Bảng tổng hợp số học sinh mắc lỗi từ vựng theo khối lớp 90

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu 2.1: Biểu đồ so sánh tỉ lệ mắc lỗi trong cấu trúc âm tiết 40

Biểu 2.2: Biểu đồ so sánh tỉ lệ mắc lỗi chính tả giữa các đối tượng học sinh 48 Biểu 2.3: Biểu đồ so sánh tỉ lệ học sinh Dtts và Kinh mắc lỗi chính tả 51

Biểu 2.4: Biểu đồ so sánh tỉ lệ học sinh nam và nữ mắc lỗi chính tả 55

Biểu 2.5: Biểu đồ so sánh học sinh mắc lỗi chính tả theo khối lớp 59

Biểu 3.1: Biểu đồ so sánh lỗi từ vựng 72

Biểu 3.2: Biểu đồ so sánh tỉ lệ học sinh Dtts và Kinh mắc lỗi từ vựng 84

Biểu 3.3: Biểu đồ so sánh tỉ lệ học sinh nam và nữ mắc lỗi từ vựng 86

Biểu 3.4: Biểu đồ so sánh tỉ lệ học sinh mắc lỗi từ vựng theo khối lớp 92

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Có thể nói, tiếng Việt là một ngôn ngữ giàu có, đa dạng và phong phú

về nhiều mặt Với vốn từ vựng được tích lũy từ lịch sử lâu đời của nguồn gốcbản địa Môn – Khơme, từ sự giao lưu tiếp xúc với ngôn ngữ Tày Thái, ngônngữ Nam Đảo, sự giao lưu tiếp xúc với tiếng Hán qua nhiều thời kì và tiếngPháp, Anh, Nga (ngôn ngữ phương Tây) sau này, tiếng Việt đã có được mộtlượng vốn từ vựng vô cùng phong phú, đáp ứng được nhu cầu giao tiếp và tưduy, phát triển của cộng động dân tộc Về phương diện ngữ pháp, không phảibỗng dưng có câu so sánh ví von “Phong ba bão táp không bằng ngữ phápViệt Nam” Nó cho thấy sự đa dạng của các cấu trúc câu và đặc biệt là cácphát ngôn trong tiếng Việt Riêng về mặt chữ viết, tiếng Việt đã có một quátrình sáng tạo và cải biên, từ bộ chữ tượng hình sang bộ chữ Latinh khiến choviệc đọc viết tiếng Việt trở nên đơn giản Tiếng Việt chính thức trở thành ngônngữ quốc gia từ khi Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lậpnăm 1945 và được ghi rõ trong Hiến pháp năm 2013 Tiếng Việt và vì thế tabiết, được dùng trong mọi hoạt động từ hành chính công vụ, ngoại giao, giáodục đến sáng tạo văn chương và trong đời sống hàng ngày của cộng đồngdân tộc Việt Nam, không chỉ trong mà còn ngoài nước

Tuy nhiên, có một thực trạng mà nhiều người, kể cả những người làmngôn ngữ (nhà nghiên cứu) hay không làm ngôn ngữ đều nhận thấy, do tính

đa dạng, phong phú của chính mình mà tiếng Việt không đơn giản Nói cáchkhác, trong việc thực hành sử dụng tiếng Việt, nhiều cá nhân còn mắc lỗitrong diễn đạt từ ngữ, tạo lập cấu trúc câu hay mắc lỗi trong ghi chép chính tảhoặc phát âm chưa đúng với chuẩn mực chung Không tính đến người nước

Trang 11

thứ hai nên gặp phải khó khăn mà ngay chính trong cộng đồng người Việt,học tiếng Việt là ngôn ngữ mẹ đẻ cũng nhiều khi mắc lỗi, túng lúng trong việclựa chọn từ ngữ hay chính tả thế nào cho đúng chuẩn Tỉ lệ mắc lỗi này đặcbiệt nhiều ở học sinh khiến những người làm giáo dục và nghiên cứu ngônngữ trăn trở Không chỉ ở cấp tiểu học, trung học cơ sở mà kể cả ở học sinhtrung học phổ thông thậm chí sinh viên các trường chuyên nghiệp cũng khôngtránh khỏi Làm thế nào để giải quyết tình trạng ấy, làm thế nào để giúp ngườihọc sử dụng đúng, tốt và hay tiếng Việt, đó là động lực, là mục tiêu chúng tôithực hiện luận văn mang tính ngôn ngữ học ứng dụng này.

Dẫu biết, phạm vi người mắc lỗi trong sử dụng tiếng Việt rất nhiều, rấtrộng và các loại lỗi cũng rất đa dạng, nhiều kiểu, nhưng do không thể baoquát hết mọi vấn đề trong giới hạn một luận văn thạc sĩ, vì vậy chúng tôi xinphép được chọn một đối tượng nghiên cứu cụ thể đó là học sinh trường THPTVân Nham – huyện Hữu Lũng – tỉnh Lạng Sơn và chọn hai vấn đề là chính tả(trong luận văn chúng tôi khảo sát ngữ âm qua việc viết chính tả, vì vậy từđây về sau sẽ dùng thuật ngữ chính tả thay cho ngữ âm trong toàn luận văn)

và từ vựng để nghiên cứu Thông qua việc miêu tả và phân tích kĩ các loại lỗichính tả và từ vựng của học sinh ở đây, từ ấy đưa ra được những giải pháphữu ích cho vấn đề Cũng mong rằng công trình nghiên cứu của chúng tôi cónhững đóng góp nhất định, trên phương diện thực tiễn cũng như đề xuất đượcmột vài cách giải quyết cho không chỉ học sinh ở đây mà còn ở những nơi cóđặc điểm con người, kinh tế, giáo dục, xã hội tương tự

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong nghiên cứu về lỗi khi sử dụng tiếng Việt nói chung, nghiên cứu

về lỗi chính tả và từ vựng nói riêng, cho đến nay đã có khá nhiều công trìnhnghiên cứu Có thể kể đến theo hai dạng là nghiên cứu về lỗi của người nướcngoài khi học tiếng Việt và lỗi của chính người Việt khi học tiếng Việt Ở đây,

Trang 12

trong phạm vi đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi chỉ xin đi tìm hiểu vềlịch sử nghiên cứu của dạng thứ hai – lỗi của chính người Việt trong sử dụngtiếng Việt về chính tả và từ vựng, đặc biệt các công trình nghiên cứu đối vớiđối tượng là học sinh.

Đối với lịch sử nghiên cứu về lỗi từ vựng, ngay từ những năm 70 củathế kỉ XX, nhóm các tác giả Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp trongcuốn “Tiếng Việt thực hành” in năm 1997 [28] đã đề cập đến các loại lỗi về từvựng rất cụ thể Cùng với việc phân loại lỗi, các tác giả còn đưa ra một hệthống bài tập thực hành chữa lỗi hiệu quả Cũng trong năm ấy, các tác giả BùiMinh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng cũng cho ra đời cuốn “Tiếng Việt thực hành”(1997) [29] với những nội dung và mục đích giúp người học rèn luyện kĩnăng nhận diện, phân tích và nắm được cách chữa lỗi cho sinh viên về dùng

Đối với lịch sử nghiên cứu lỗi chính tả, tác giả Phan Ngọc có công trình

“Chữa lỗi chính tả cho học sinh Hà Nội” (Nxb Giáo dục) in năm 1984 [21].Sau đó năm 2005, tác giả Lê Trung Hoa có “Lỗi chính tả và cách khắc phục”(Nxb Khoa học Xã hội) [14]…

Có thể nói, cùng với các công trình nghiên cứu dầy dặn như trên vànhiều bài nghiên cứu liên quan được đăng tải trên tạp chí Ngôn ngữ, tạp chíNgôn ngữ và Đời sống việc nghiên cứu về lỗi trong sử dụng tiếng Việt nóichung có được sự quan tâm nhất định của các nhà Việt ngữ học Những công

Trang 13

tôi tiếp tục và nâng cao hơn nội dung nghiên cứu của mình Và điều đó cũngcho thấy, ý nghĩa, giá trị, tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu bởi, ngôn ngữ

là phương tiện quan trọng nhất để giao tiếp và tư duy Việc viết đúng, dùngđúng từ ngữ sẽ khiến cho việc giao tiếp và tư duy diễn ra mạch lạc, trongsáng, nó không chỉ góp phần phát triển năng lực giao tiếp, tư duy của riêngmỗi cá nhân mà còn góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Thông qua việc khảo sát khách quan, khoa học, luận văn hướng tớinhững mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

3.1 Nhiệm vụ

- Thống kê các lỗi về chính tả của học sinh trường THPT Vân Nham

- Thống kê các loại lỗi về từ vựng của học sinh nhà trường

- Phân tích các nguyên nhân lỗi về chính tả

- Phân tích các nguyên nhân lỗi về từ vựng

- Đề ra một số biện pháp khắc phục lỗi chính tả dựa trên tri thức vềngôn ngữ học và đặc điểm, điều kiện có thể áp dụng tại địa bàn

- Đề ra một số biện pháp khắc phục lỗi từ vựng dựa trên tri thức vềngôn ngữ học và đặc điểm, điều kiện có thể áp dụng tại địa bàn

3.2 Mục đích

- Đóng góp thêm cơ sở ngữ liệu cho việc nghiên cứu về lỗi từ vựng vàchính tả ở đối tượng học sinh THPT trên một địa bàn miền núi, nơi có sự đanxen giữa các đối tượng người dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh và điều kiện vềviệc tiếp xúc nâng cao khả năng thực hành tiếng Việt qua sách báo cũng cònnhiều hạn chế

- Tìm ra những nguyên nhân chính dẫn đến việc gây lỗi, đặc biệt là cáclỗi phổ biến về chính tả và từ vựng, từ đó đề xuất được biện pháp khắc phục,góp phần thực sự nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinh nơi đâymang tính lâu dài và hệ thống

Trang 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn thạc sĩ là các lỗi chính tả và lỗi từvựng tiếng Việt của học sinh trường THPT Vân Nham huyện Hữu Lũng tỉnhLạng Sơn Phạm vi nghiên cứu là thực trạng nội dung các lỗi chính tả và từvựng cùng sự ảnh hưởng của các yếu tố giới tính, dân tộc và khối lớp đến vấn

tả của mình để tái hiện kiến thức trong bài thi Kết quả thu được so với việckhảo sát vở ghi và tổng thể các bài kiểm tra khác của học sinh tuy khôngphong phú được nhiều lỗi từ vựng và chính tả cụ thể nhưng con số khái quát,mang tính quy loại về lỗi thì vẫn đảm bảo chính xác, khách quan Bởi khi đãmắc những lỗi về sử dụng ngôn ngữ do năng lực sử dụng ngôn ngữ chưa cao,chưa chuẩn thì trong một bài viết học kì khoảng 800 – 2000 từ, học sinh sẽbộc lộ tương đối đầy đủ các loại lỗi về sử dụng ngôn ngữ mà mình đang mắc

5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

5.1 Miêu tả

Từ tư liệu nghiên cứu, chúng tôi áp dụng phương pháp miêu tả trong đó

có sử dụng cả các phương tiện miêu tả bằng lời và các biểu đồ để chính xác

Trang 15

5.2 Khảo sát, điều tra

Đây là phương pháp dùng để điều tra, thu thập thông tin và tìm hiểuviệc học tiếng Việt của học sinh nhà trường Thống kê các lỗi chính tả và từvựng trong sử dụng tiếng Việt đồng thời chúng tôi cũng tiến hành thực hiệnviệc phỏng vấn một số học sinh mắc lỗi để làm rõ nguyên nhân liên quan

5.3 Những phương pháp, thủ pháp nghiên cứu khác

Ngoài các phương pháp chính như trên, để thực hiện luận văn, chúngtôi còn sử dụng một số thủ pháp nghiên cứu khác như phương pháp lấy mẫutiêu biểu, thủ pháp thống kê, quy nạp, thủ pháp so sánh để có được sự nghiêncứu sâu sắc, tỉ mỉ và toàn diện đối với hai loại lỗi chính tả và từ vựng nghiêncứu tại luận văn

6 Những đóng góp của luận văn

- Lần đầu tiên lỗi trong thực hành tiếng Việt về chính tả và từ vựng củahọc sinh THPT Vân Nham nói riêng, học sinh tại tỉnh miền núi Lạng Sơn nóichung được khảo sát, nghiên cứu, phân tích và đánh giá nguyên nhân

- Luận văn xuất phát với hướng nghiên cứu của ngôn ngữ học ứng dụngkhông chỉ góp phần cung cấp nguồn ngữ liệu chính xác, phong phú cho cácnhà nghiên cứu làm về lĩnh vực lỗi trong thực hành ngôn ngữ nói chung, tiếngViệt và chính tả, từ vựng tiếng Việt nói riêng mà còn đóng góp trong việc đưa

ra ít nhiều biện pháp khắc phục hiệu quả, phù hợp với diện đối tượng này

- Về lâu dài, sự đóng góp của luận văn này nói riêng và các công trìnhnghiên cứu về lỗi trong sử dụng tiếng Việt nói chung (đã, đang và sẽ có) sẽgóp phần thay đổi hiện trạng; góp phần giúp các cá nhân tham gia hoạt độngngôn ngữ được hiệu quả hơn và sau nữa, góp phần giữ gìn sự trong sáng củatiếng Việt, làm cho tiếng Việt ngày càng phát huy là ngôn ngữ Quốc gia, ngônngữ dân tộc, ngôn ngữ văn hóa giàu và đẹp

Trang 16

7 Cấu trúc luận văn

Luận văn được chia thành ba phần chính: Mở đầu, nội dung và kết luậntrong đó đóng góp chính của luận văn là ở phần nội dung Đây là những khảosát, tổng hợp, phân tích và lý giải nguyên nhân của các loại lỗi học sinh ở đâymắc phải và đề xuất giải pháp khắc phục Phần này gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 2: Lỗi chính tả của học sinh trường THPT Vân Nham

Chương 3: Lỗi từ vựng của học sinh trường THPT Vân Nham

Trang 17

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý thuyết

Để có thể đi xác định lỗi về chính tả và từ vựng của học sinh trườngTHPT Vân Nham, chúng tôi dựa trên các cơ sở lý thuyết thế nào là lỗi Đểlàm sáng tỏ khái niệm thế nào là lỗi, chúng tôi dựa trên các cơ sở lý thuyết vềchuẩn và lệch chuẩn ngôn ngữ Mọi hiện tượng lệch chuẩn ngôn ngữ theohướng tiêu cực sẽ bị coi là lỗi Trên cơ sở lý thuyết chuẩn và lệch chuẩn ngônngữ nói chung, chúng tôi tìm hiểu chuẩn và lệch chuẩn về chính tả và về từvựng tiếng Việt nói riêng

1.1.1 Chuẩn ngôn ngữ

1.1.1.1 Các quan niệm về chuẩn ngôn ngữ nói chung

Chuẩn ngôn ngữ là một vấn đề trọng tâm trong nghiên cứu ngôn ngữhọc Nói (sử dụng ngôn ngữ) như thế nào là đúng, lấy tiêu chí gì làm chuẩnchưa hẳn đã đơn giản như Toán học một cộng một bằng hai Bởi lẽ, ứng vớimỗi điểm nhìn của mình, từ ý nghĩa của câu, của từ tự thân hay ý nghĩa theovăn cảnh, ý nghĩa theo dụng ý nghệ thuật, hàm ý, ngữ dụng… mà một phátngôn, một từ có thế đúng/ chuẩn ở phương diện này mà lại sai ở phương diện

khác Ví dụ câu ca dao “Một giọt máu đào hơn ao nước lã” nếu không hiểu

theo nghĩa tu từ ẩn dụ, chỉ quan hệ họ hàng hơn quan hệ người dưng thì câu

đó hoàn toàn sai về logic, sai về nghĩa đen bởi, một giọt máu đào làm sao có

thể (nhiều) hơn một ao nước Các cụm từ “một giọt”, “một ao” cho phép

người ta liên tưởng đến sự so sánh về số lượng nhiều/ ít vậy thì, câu trên hoàn

toàn sai về nghĩa logic Tương tự, khi một người trả lời câu hỏi “Anh vẫn

khỏe chứ?” bằng câu trả lời “Vưỡn ” Về mặt ngữ âm, từ này là mắc lỗi khi

phát âm nguyên âm chính /ǎ/ thành /ɯɤ/ nhưng người nghe vẫn hiểu và lĩnhhội có thể thêm một hai nghĩa tính thái khác đi kèm ngữ điệu hoặc nét mặthoặc chuyện gì (ngữ cảnh) đã diễn ra trước đó

Trang 18

Như vậy, chuẩn ngôn ngữ là một khái niệm không đơn giản và cònnhiều ý kiến chưa thống nhất Trong luận văn thạc sĩ về “Khảo sát lỗi từ vựng

và ngữ pháp của sinh viên Lào và Campuchia học tiếng Việt tại trường HữuNghị 80” [30], Đinh Lê Huyền Trâm trích hệ thống hóa về chuẩn ngôn ngữcủa tác giả Vũ Quang Hào như sau: 1) Nhóm các nhà khoa học Nga Xô viết

(U-sa-cốp, Ô-giê-cốp…) nhấn mạnh đến tính chất xã hội của chuẩn ngôn

ngữ, xem tính chất chuẩn là một hiện tượng xã hội và phát triển có tính lịch

sử 2) Cô-sê-ri-a (Tiệp Khắc cũ) thì cho rằng chuẩn ngôn ngữ là tổng hợp

những thể hiện các yếu tố trong cấu trúc ngôn ngữ đã được tách ra và củng cố trong sử dụng thực tế 3) Trường phái ngôn ngữ học Pra-ha lại xem chuẩn là một hiện tượng bên trong của cấu trúc ngôn ngữ, còn việc thể hiện chuẩn là một hiện tượng ngoài ngôn ngữ, có tính chất xã hội Họ phân

biệt chuẩn với quy phạm vốn là những sự thể hiện của chuẩn bằng các quy tắc(chẳng hạn trong từ điển, sách giáo khoa, sách ngữ pháp…) Trường phái nàykhông chấp nhận có một cái chuẩn chung “tổng hợp” vì không thể đánh giáđồng đều những biểu hiện ngôn ngữ bằng những tiêu chuẩn định sẵn mà phảidựa trên những chức năng hoạt động của các yếu tố ngôn ngữ trong từng bốicảnh giao tiếp cụ thể 4) Quan điểm của Kô-xtô-ma-rốp Lê-on-chép cho rằng

chuẩn ngôn ngữ chỉ có thể xác định trong từng bối cảnh giao tiếp cụ thể.

Họ đề xuất về “tính hợp lí trong giao tiếp” với tiêu chí đòi hỏi phải lựa chọnđược những phương tiện ngôn ngữ có hiệu suất cao nhất trong từng bối cảnh

giao tiếp và 5) Hầu hết những nhà Việt ngữ học cho rằng chuẩn ngôn ngữ là

mẫu ngôn ngữ đã được đánh giá, lựa chọn và sử dụng Trong “Từ điển

thuật ngữ ngôn ngữ học” của tác giả Diệp Quang Ban: chuẩn ngôn ngữ là sửdụng ngôn ngữ đúng, trong sáng Chuẩn ngôn ngữ thể hiện rõ nhất trong ngônngữ nhà trường, thứ ngôn ngữ quy phạm, gồm những quy tắc đã được địnhsẵn mà mọi sự sai chệch với chúng đều bị coi là không chuẩn Theo Nguyễn

Trang 19

chỉnh lí, đáp ứng được nhu cầu giao tiếp đa dạng và phúc tạp của cộng đồngnói năng để thục hiện hiện đại hóa” còn Vũ Quang Hào cho rằng; “Chuẩnmực ngôn ngữ được xem xét trên hai phương diện: Chuẩn mực mang tính quyước xã hội tức là phải được xã hội chấp nhận và sử dụng Mặt khác, chuẩnmực phải phù hợp với quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ trong từng giaiđoạn lịch sử” Trong giáo trình Tiếng Việt và Tiếng việt thực hành của nhómtác giả Lã Thị Bắc Lý, Phan Thị Hồng Xuân và Nguyễn Thị Thu Nga có viết

về chuẩn mực ngôn ngữ: “Chuẩn mực ngôn ngữ là toàn bộ các phương tiệnngôn ngữ được sử dụng cũng như toàn bộ các quy tắc sử dụng chúng đã đượcmọi người thừa nhận, coi là đúng, là mẫu mực, trong một xã hội nhất định vàtrong một thời đại nhất định [29, tr 11-13]

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu có nhiều cấp độ, vì vậy chuẩn ngônngữ có nhiều nội dung và được phân thành các cấp độ Cụ thể có chuẩn ngữ

âm và chuẩn chữ viết (chính tả); chuẩn từ vựng (được ghi trong từ điển); vàchuẩn ngữ pháp (được ghi trong ngữ pháp phổ thông) Mỗi cấp độ lại có rấtnhiều nội dung mà các tiêu chí để phân định thế nào là chuẩn cũng còn khóthống nhất Người ta chỉ có thể lựa chọn một hay một vài tiêu chí cho nộidụng này mà phải châm trước hay bỏ qua một vài tiêu chí khác Đối vớichúng tôi, từ tổng hợp các quan điểm trên, chúng tôi thống nhất chuẩn ngônngữ là việc sử dụng ngôn ngữ phù hợp với đánh giá của xã hội, tức là nómang tính cộng đồng, được cộng đồng quy ước và chấp nhận (trở thành cácquy tắc mà mọi cá nhân sử dụng ngôn ngữ phải theo) Bên cạnh đó, chuẩnngôn ngữ còn phải được xem xét trong những bối cảnh giao tiếp cụ thể bởi tấtnhiên, sự đánh giá, lựa chọn đó không thể đạt đến sự nhất trí hoàn toàn trênmọi phương diện và ngữ ngôn luôn luôn động chứ không tĩnh, do vậy tínhchất bắt buộc cũng như tính chất ổn định của chuẩn chỉ là tương đối Đâychính là cơ sở để chúng tôi khảo sát, xác định thể nào là lỗi từ vựng trên bài

Trang 20

kiểm tra của học sinh còn về phần lỗi chính tả thì những quy ước chung (trongmột thời kì nhất định) là bất biến, không xét ngữ cảnh.

1.1.1.2 Quan niệm về chuẩn chính tả tiếng Việt

Theo “Từ điển tiếng Việt” của Hoàng Phê: chính tả là “cách viết chữ

được coi là chuẩn” [23, tr 173] Như vậy, theo nghĩa gốc của từ này, chính tả

là phép viết đúng, là cách viết hợp với chuẩn và những quy định mang tínhquy ước xã hội, được mọi người trong một cộng đồng chấp nhận và tuân thủ.Khác với từ ngữ và ngữ pháp, chính tả là sự quy định có tính chất xã hội bắtbuộc gần như tuyệt đối, nó không cho phép con người vận dụng quy tắc mộtcách linh hoạt có tính chất sáng tạo cá nhân Cụ thể:

- Chính tả được hiểu là quy tắc viết từ (từ thường, từ hoa, từ vaymượn, từ viết tắt, số từ, con số ngày, giờ, tháng, năm, v.v hay cách thức dùngdấu chấm câu (dấu: chấm, phẩy, than, hỏi, chấm hỏi, chẩm lửng, hai chấm, bachấm (chấm lửng); dấu ngoặc: đơn, kép, vuông; dấu gạch: ngang, dưới, chéo

và cách thức ghi dấu thanh như thanh ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng.Chuẩn chính tả được hiểu là chuẩn áp dụng cho văn phong quy phạm, đượcdùng làm thước đo trong ngôn ngữ nhà trường, áp dụng chính thống trongngôn ngữ truyền thống và ngôn ngữ của các văn bản quản lí nhà nước

- Chuẩn chính tả bao gồm chuẩn viết các âm (phụ âm, nguyên âm, bánnguyên âm) và các thanh; chuẩn viết tên riêng (viết hoa); chuẩn viết phiên

âm từ và thuật ngữ vay mượn

Có thể thấy trong tiếng Việt, chuẩn chính tả thường đi liền với chuẩnngữ âm vì tiếng Việt là ngôn ngữ ghi âm Tuy vậy trong luận văn của mình,

do phạm vi nghiên cứu là các bài kiểm tra của học sinh không có phần đọcchép nên chúng tôi chỉ đi vào chuẩn chính tả mà thôi

Về quy tắc chuẩn chính tả trong tiếng Việt, có rất nhiều tác giả đi trước

Trang 21

Ngọc [21, 22], Võ Xuân Hào [11], Hoàng Tuyến Linh và Vũ Xuân Lương[18] đã liệt kê viết chính tả như thế nào là chuẩn, về viết hoa, dấu câu, các

âm vị trong âm tiết Đối với ngành giáo dục, Bộ GD&ĐT đã có những quyđịnh như quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt được áp

dụng theo Quyết định 240/QĐ của Bộ Giáo dục năm 1984, riêng cách viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa được áp dụng theo Quyết định

07/2003/QĐ-BGDĐT Ở đây, chúng tôi xin không đi liệt kê lại mà trên cơ sở

các công trình đi trước và quy định về chính tả của Bộ GD&ĐT sẽ áp dụngvào việc khảo sát của mình, từ đó xác định lỗi, nguyên nhân và định hướngkhắc phục cụ thể Trong các trường hợp cụ thể, để minh chứng cho vấn đềmới xin trích dẫn quy tắc vào phần trình bày của mình

1.1.1.3 Quan niệm về chuẩn từ vựng tiếng Việt

Theo nhóm các tác giả Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng trong cuốn

“Tiếng Việt thực hành” do Nxb Giáo dục in năm 2002 [28], chuẩn mực về từngữ (từ vựng) của tiếng Việt như sau: khi sử dụng từ ngữ (dùng từ và lĩnh hộitừ) phải đạt được những yêu cầu về các phương diện: âm thanh, hình thức cấutạo, kết hợp ngữ pháp, nội dung ngữ nghĩa, màu sắc phong cách… Đồng thờinhiệm vụ giữ gìn trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ còn đòi hỏi pháttriển vốn từ tiếng Việt sao cho vừa giàu có, vừa phong phú, lại vừa giữ gìnbản sắc tinh hoa của tiếng Việt, tránh lạm dụng từ ngữ nước ngoài một cáchtùy tiện, không cần thiết, tránh phiên âm tiếng nước ngoài một cách thiếu nhấtquán, thiếu thống nhất

Trong việc chuẩn hóa ngôn ngữ thì chuẩn hóa từ vựng là phức tạp nhất

do đặc điểm của hệ thống từ vựng: hệ thống mở, gồm một số lượng đơn vị vôcùng lớn lại luôn luôn biến đổi Ranh giới giữa chuẩn – không chuẩn khôngphải lúc nào cũng rõ ràng, lại luôn luôn di động, từ chuẩn thành không chuẩn

và ngược lại có thể diễn ra vì vậy việc xác định thế nào là chuẩn từ vựng cần

Trang 22

căn cứ vào không chỉ yếu tố nội tại như đúng ngữ nghĩa, ngữ cảnh, ngữ pháp

mà còn phải nhìn rộng ra bối cảnh xã hội mà ngôn ngữ ấy tồn tại để xác định

Như vậy có thể thấy, định nghĩa thế nào là chuẩn từ vựng là điều khôngđơn giản Thay vì đi giải quyết một câu hỏi có phần bế tắc ấy, chúng tôi xinđưa ra một số những quan điểm và cách hiểu của mình về lệch chuẩn từ vựng

Và trong luận văn của mình, chúng tôi xin đi giới hạn một phần của lệchchuẩn từ vựng, đó là lệch chuẩn tạo ra lỗi, gây khó hiểu và sai lệch nội dungdiễn đạt trong các bài kiểm tra của học sinh trường THPT Vân Nham

1.1.2 Quan niệm về lệch chuẩn ngôn ngữ

1.1.2.1 Quan niệm về lệch chuẩn ngôn ngữ và lỗi sử dụng ngôn ngữ nói chung.

Ở trên chúng tôi đã đề cập đến thế nào là chuẩn ngôn ngữ Chuẩn ngônngữ là mẫu ngôn ngữ đã được xã hội đánh giá, lựa chọn và sử dụng Cũng cóthể nói, ngôn ngữ chuẩn mực trước hết là những thói quen giao tiếp ngôn ngữđược định hình về mặt xã hội và được chấp nhận trong cảm thức ngôn ngữcủa người bản ngữ Nó là cơ sở cho người nói hay người viết tạo lập lời nóihay tạo lập văn bản, cũng là cơ sở cho người nghe hay người đọc lĩnh hộiđược lời nói hay văn bản đó

Vậy thì ngôn ngữ lệch chuẩn là gì? Lệch chuẩn chính là cách sử dụngngôn ngữ của cá nhân vi phạm các chuẩn mực nêu trên Xảy ra hai trườnghợp:

- Thứ nhất lệch chuẩn theo hướng tích cực: Ta biết, ngôn ngữ khôngmang tính tĩnh mà động, đó là sự vận dụng vốn ngôn ngữ chung vào lời nóicủa mỗi cá nhân trong quá trình giao tiếp, tư duy cũng như sáng tạo ngôn từ

Vì vậy ngay cả chuẩn ngôn ngữ cũng không mang tính ổn định, nó biến đổiphù hợp với quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ cũng như xã hội, con

Trang 23

chuẩn lại là việc sử dụng ngôn ngữ có tính sáng tạo của cá nhân gắn liền vớicách nhìn, quan điểm của người nói và được xã hội chấp nhận Sự lệch chuẩn

ở đây chính là sự sáng tạo ngôn ngữ chứ không phải là sự vi phạm chuẩn mựcchung của ngôn ngữ dân tộc Bởi những sáng tạo ấy vẫn tuân thủ những quyluật nhất định, có cơ sở khoa học Ta có thể gặp trường hợp này trong các tácphẩm văn học, báo chí và trong có khi trong cả ngôn ngữ sinh hoạt Ở đó, cáctác giả với cá tính và sự sáng tạo ngôn ngữ riêng của mình đã làm cho ngônngữ phát triển về ngôn từ, cách thức diễn đạt Với tiếng Việt, có thể kể đếncác tác giả như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Tuân… Sự lệch chuẩn ngôn ngữ đaphần chỉ có được ở những nhà văn lớn, những nhà văn có phong cách và với

sự lệch chuẩn tối đa về ngôn ngữ so với chuẩn mực ngôn ngữ xã hội, tác giả

đã làm co giãn ý nghĩa, cấu trúc của ngôn từ, giúp chúng sinh sôi bất tận, giúptiếng Việt giàu đẹp hơn

- Thứ hai, lệch chuẩn theo hướng tiêu cực: Đó là việc sử dụng sai cácquy tắc về chuẩn mực ngôn ngữ và làm cho phát ngôn méo mó, khó hiểu,thiếu trong sáng Đây chính là trường hợp gây nên lỗi trong phát ngôn và làđối tượng nghiên cứu của đề tài

1.2.3 Quan niệm về lỗi trong sử dụng ngôn ngữ

1.2.3.1 Quan niệm về lỗi ngôn ngữ nói chung

Lỗi ngôn ngữ là sự thể hiện ngôn ngữ làm người tiếp nhận thông tinhiểu sai, không hiểu hoặc không chấp nhận Bởi vì nó không phù với tư duycủa con người cũng như không phù hợp với chuẩn mực chung mà cộng đồng

đã lựa chọn và thừa nhận

Theo từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học của Diệp Quang Ban [1], lỗi chỉ

một sự thất bại có tính chất hệ thống đối với việc thụ đắc thụ ngôn ngữ; chỉ sự

sử dụng không thích hợp một quy tắc nào đó của cái ngôn ngữ đang được học

Theo quan niệm chung về lỗi mà nhiều từ điển ngôn ngữ học ứng dụng và dạy

Trang 24

tiếng sử dụng thì lỗi (mà người học trong khi nói hoặc viết một ngôn ngữ, có

thể là tiếng mẹ đẻ, ngôn ngữ thứ hai hay một ngoại ngữ) là tính trạng ngườihọc sử dụng một đơn vị ngôn ngữ (chẳng hạn viết một từ, một đơn vị ngữpháp, thực hiện một hoạt động nói năng…) theo cách mà người bản ngữ hoặcngười giỏi thứ tiếng đó cho là sai hoặc cho là chưa đầy đủ với chuẩn đã đượccộng đồng nói thứ tiếng đó chấp nhận và tôn trọng

Nói đến lỗi ngôn ngữ, trước hết là nói đến năng lực sử dụng ngônngữ hạn chế, không đúng chuẩn mực và cũng có thể do sự hiểu biết củangười truyền đạt thông tin kém Khi năng lực ngôn ngữ của người phát tinkém, mặc dù trong ý nghĩ của người phát tin là đúng mà không truyền đạtđược hết những điều cần thông báo, làm cho người nghe hiểu sai, hoặckhông hiểu được nội dung thì đó là lỗi ngôn ngữ Nó phá vỡ nguyên tác 1– 1 giữa mã hóa

Khi xác định lỗi ngôn ngữ phải dựa trên những đặc trưng về phongcách chức năng, tức tu từ học chuẩn mực một cách không cứng nhắc, rậpkhuân Mỗi phong cách chức năng khác nhau lại có cách viết, cách sử dụng từkhác nhau Lỗi ngôn ngữ có liên quan đến nhiều mặt của ngôn ngữ học nhưphong cách học, từ vựng học, ngữ pháp học… Mỗi mặt đều có hệ thốngchuẩn mực riêng cho phép người ta nhận định đâu là lỗi

Như vậy, lỗi là sự lệch chuẩn ngôn ngữ do năng lực ngôn ngữ của

người sử dụng chưa đạt chuẩn hoặc nhiều nguyên nhân khác dẫn đến thế hiện

sai nội dung Có thể định nghĩa, lỗi là việc sử dụng ngôn ngữ lệch chuẩn,

gây nên sự khó hiểu, thiếu chuẩn mực và không trong sáng cho nội dung giao tiếp nói riêng và ngôn ngữ nói chung

Trong khi đi khảo sát, chúng tôi nhận định có hai kiểu mắc lỗi của họcsinh THPT Vân Nham như sau: Thứ nhất, mắc lỗi do viết ẩu, viết vội mà

Trang 25

các ”, thiếu chữ “y” trong “Thúy Kiều”, “i” trong “thiếu nữ”… Thứ hai,

mắc lỗi do năng lực về ngôn ngữ hạn chế Đó là việc học sinh không phânbiệt được chính tả đúng của từ; không sử dụng, lựa chọn đúng từ ngữ cần biểuđạt dẫn đến nội dung thiếu chính xác, khó hiểu và hiểu sai nội dung muốn nói.Xét về bản chất, chúng tôi thấy kiểu mắc lỗi thứ nhất chỉ mang tính tạm thời,

bề ngoài, không phản ánh đúng năng lực ngôn ngữ của học sinh nên trongluận văn của mình không xét tới Trong việc đi khảo sát lỗi về chính tả và từvựng của học sinh ở đây, chúng tôi chỉ đi vào những lỗi mang tính “hệ thống”– tức là học sinh mắc lỗi từ trong tư duy, do năng lực ngôn ngữ chưa đạtchuẩn để từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục

1.1.3.2 Các lỗi thường gặp về chính tả tiếng Việt

Trong cuốn “Chữa lỗi chính tả cho học sinh Hà Nội” (Nxb Giáo dục innăm 1984) tác giả Phan Ngọc [21] xác định: lỗi chính tả là lỗi viết sai chuẩnchính tả và bao gồm những vấn đề sau đây:

- Lỗi viết hoa: Lỗi viết hoa là một trong những lỗi chính tả xuất hiện rấtnhiều trong bài viết của học sinh Lỗi viết hoa bao gồm hai kiểu lỗi nhỏ:

+ Viết hoa sai quy định chính tả: Là viết hoa hay không viết hoa theođúng quy định chính tả: Danh từ riêng, đầu đoạn văn, không viết hoa sau dấuchấm (.)

+ Viết hoa tùy tiện: Là viết hoa những đơn vị từ vựng bình thường,

không nằm trong quy định chính tả về viết hoa Ví dụ: Phan BỘi CHâu là

Nhà yêu Nước

- Lỗi viết tắt: Lỗi viết tắt bao gồm hai kiểu:

+ Viết tắt sai quy định chính tả: Là viết tắt không theo đúng quy địnhchính tả về viết tắt Tuy nhiên cho đến nay, quy định về việc viết tắt tên nướcngoài, tên cơ quan đơn vị vẫn có nhiều điều chưa thống nhất, gây khó vớinhiều người chứ không chỉ học sinh nên chúng tôi không đi xét lỗi này Ví dụ

Trang 26

“đồng chí”, có văn bản viết ĐC, văn bản khác lại đ/c

+ Viết tắt tùy tiện: Là dùng các ký hiệu viết tắt mang tính chất cá nhânvào bài viết chính thức Ví dụ: ngta (người ta), phg pháp (phương pháp), tìnhthg (tình thương), xlc (xâm lược), nd (nội dung) Hiện tượng viết tắt tùy tiệnnày ngày càng có xu hướng gia tăng, đã trở thành thói quen của nhiều họcsinh do các em viết tắt trong vở, viết tắt khi nhắn tin điện thoại, trên mạng xãhội để tiết kiệm thời gian Hệ lụy là khi làm bài kiểm tra, các em theo thóiquen mà viết tắt tùy tiện trong bài

- Lỗi dùng số và chữ biểu thị sổ: Kiểu lỗi chính tả này có hai biểu hiệnchính: lẫn lộn giữa hai loại số và lẫn lộn giữa số với chữ biểu thị số

+ Lẫn lộn hai loại số: Trường hợp phải biểu đạt bằng số khi đề cập đếnngày, tháng, năm, thế kỉ Theo quy định chính tả, tùy trường hợp mà dùng số

Ả Rập, còn gọi là số thường (1,2,3 ) hay số La Mã (I, II, III ) Do khôngnắm đúng quy định chính tả, nên học sinh thường sử dụng lẫn lộn hai loại số

Ví dụ: thế kỉ 10, theo quy định chính tả phải viết bằng số La Mã: thế kỷ X

+ Lẫn lộn số và chữ biểu thị số: Theo quy định chính tả, khi viết ngàytháng hoặc số phải viết bằng số thường (1, 2, 3 ); trường hợp khi biểu thị sốchỉ số lượng, thứ tự, phải viết bằng chữ Do không nắm rõ quy định chính tảhọc sinh dễ lẫn lộn giữa số và chữ biểu thị số Ví dụ: Ngày 8, tháng hai; 1cuộc sống; cuộc gặp gỡ thứ I, 1 bức tranh

- Lỗi chính tả âm vị: Là hiện tượng vi phạm diện mạo ngữ âm của từthể hiện trên chữ viết Nó là hiện tượng chữ viết ghi sai từ Dựa vào cấu trúccủa âm tiết tiếng Việt, có thể chia lỗi chính tả âm vị thành hai kiểu nhỏ sau:

+ Lỗi chính tả âm vị siêu đoạn tính: Là loại âm vị không được định vịtrên tuyến thời gian khi phát âm, mà được thể hiện lồng vào các âm vị đoạntính Đó chính là lỗi ở phần thanh điệu Ví dụ: Lảng mạng, nỗi bật, (khác)

Trang 27

+ Lỗi chính tả âm vị đoạn tính: Là các âm vị được phân bố nối tiếpnhau trên tuyến thời gian khi phát âm Trong âm tiết tiếng Việt, âm vị đoạntính gồm có âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối Lỗi chính tả âm vị đoạntính là hiện tượng chữ viết ghi sai các âm vị trên Trong luận văn của mình,chúng tôi gọi đó là lỗi chính tả trong cấu trúc âm tiết.

1.1.3.3 Các lỗi thường gặp về từ vựng tiếng Việt

Theo tác giả Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp trong “Tiếng Việtthực hành" (1997) [27] có đưa ra các lỗi về dùng từ như sau:

“- Lỗi lặp từ: có thể lặp nguyên vẹn một từ hoặc lặp từ do sử dụngnhững từ đồng nghĩa

- Dùng từ không đúng nghĩa: Có thể do người viết không nắm đượcnghĩa của từ, nhất là các từ Hán Việt các thuật ngữ khoa học; Do người viếtnhầm lẫn các từ gần âm, gần nghĩa với nhau; Do dùng từ không hợp phongcách ngôn ngữ chức năng, thể loại văn bản hoặc nhầm lẫn giữa ngôn ngữ nóivới ngôn ngữ viết.”

Còn đối với nhóm tác giả Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng [28] thìngười viết có thể mắc các lỗi về dùng từ như sau:

“- Lỗi về âm thanh và hình thức cấu tạo của từ: sai chính tả dẫn đến sai

về từ

- Lỗi về nghĩa của từ:

+ Thường xảy ra lỗi giữa những từ gần nghĩa, những từ có cấu tạo hìnhthức ngữ âm gần giống nhau

+ Lỗi về nghĩa biểu thái, nghĩa biểu cảm: dùng từ phải vừa đúng nghĩa

sự vật, vừa đúng về nghĩa biểu thái, biểu cảm Có những trường hợp dùng từđúng về nghĩa sự vật, sự việc nhưng không đúng về nghĩa biểu thái, ví dụ,

không thể dùng “Quân ta đã ngoan cố chống lại kẻ địch” mà phải dùng

“Quân ta đã ngoan cường chống lại kẻ địch” bởi nghĩa sự việc hai từ “ngoan

Trang 28

cố” và “ngoan cường” là như nhau, đều chỉ sự cố gắng chiến đấu đến tận

cùng nhưng nghĩa tình thái khác nhau “Ngoan cố” mang nét nghĩa tiêu cực nên không thể đi với chủ ngữ “quân ta”, ngược lại “ngoan cường” mang nét tích cực, ngợi ca nên dùng với chủ ngữ “quân ta” là chính xác, chuẩn mực.

+ Lỗi dùng từ chuyển nghĩa không phù hợp với đối tượng được nói đếntrong câu

- Lỗi về kết hợp từ:

+ Các kết hợp từ với nhau không đúng với bản chất ngữ pháp củachúng dẫn đến sai lạc về nghĩa

+ Các từ phối họp với nhau không đúng quan hệ ngữ nghĩa

+ Có khi việc dùng thiếu hụt từ lại làm cho các từ khác kết hợp vớinhau không đúng

+ Có trường hợp dùng thừa các quan hệ từ, không đúng với đặc điểmkết hợp của các từ

- Lỗi về phong cách: Những câu phạm lỗi về phong cách là những câu

có cấu tạo không phù hợp với phạm vi lĩnh vực giao tiếp.”

1.1.3.4 Các lỗi chính tả và từ vựng được xác định trong luận văn

Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi thống nhất với cách xác định lỗichính tả của tác giả Phan Ngọc Riêng về lỗi từ vựng, trên cơ sở tổng hợp hainhóm tác giả trên và lập luận của mình, chúng tôi xác định có ba loại lỗi từvựng là lỗi lặp từ; lỗi về nghĩa của từ và lỗi dùng từ không đúng về phong

cách Đối với loại lỗi về âm thanh và hình thức cấu tạo của từ, chúng tôi xác

định đây là lỗi chính tả dẫn đến sai về từ Ví dụ sai giữa “tr” và “ch” trong

từ “chí” của “chí làm trai” thành “trí làm trai” và sẽ kết hợp trong khi phân tích lỗi chính tả nên không nghiên cứu tại phần lỗi từ vựng Riêng với loại lỗi

về kết hợp từ, quan điểm của chúng tôi cho rằng đây là loại lỗi có liên quan

Trang 29

khảo sát lỗi từ vựng của mình, chúng tôi không đi nghiên cứu các trường hợp

lỗi về kết hợp từ như nhóm tác giả Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng đưa ra.

1.2 Một vài thông tin về địa bàn khảo sát

1.2.1 Một số đặc điểm về địa bàn và nhà trường THPT Vân Nham - huyện Hữu Lũng - tỉnh Lạng Sơn

Huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn là một huyện miền núi phía Bắc đấtnước Là một huyện đa dân tộc, đời sống cơ bản bằng nông nghiệp trồng rừng

và kinh doanh nhỏ lẻ Mấy năm trở lại đây, với sự phát triển chung của cảnước, cuộc sống của đồng bào đã ổn định hơn, tuy nhiên so với miền xuôi thìcòn nhiều thiếu thốn; sự giao lưu, phát triển kinhtế, văn hóa, giáo dục so vớingay địa phương lân cận là huyện Lạng Giang của tỉnh Bắc Giang còn hạnchế hơn nhiều

Nằm ở xã Vân Nham, cách trung tâm huyện Hữu Lũng 16km về phíaTây, trường THPT Vân Nham là nơi tập trung con em các dân tộc 9 xã: Thiện

Kị, Tân Lập, Yên Bình, Hòa Bình, Thanh Sơn, Đồng Tiến, Đô Lương, MinhTiến và Vân Nham về theo học Xa trung tâm huyện, địa bàn xã Vân Nhamnói chung và học sinh nhà trường nói riêng gặp nhiều khó khăn hơn nhữngnơi khác Điều kiện để các em học tập cũng còn nhiều thiếu thốn, chất lượnggiảng dạy trung bình khá so với các trường khác cùng cấp trên địa bàn

1.2.2 Một số đặc điểm về học sinh nhà trường

Trường THPT Vân Nham hàng năm có trung bình 1000 học sinh, lứatuổi từ 15 – 19 theo học Đông nhất là dân tộc Nùng, Kinh, Tày; thiểu số hơn

có Cao Lan, Mông, Dao Trong năm học 2018 – 2019, toàn trường có 948 họcsinh chia thành 24 lớp thuộc 3 khối 10, 11,12 Do đặc điểm là một huyệnmiền núi, tập trung đông đồng bào người dân tộc thiểu số nên học sinh trongtrường phần lớn là học sinh người dân tộc thiểu số Qua thực tế giảng dạy, tôinhận thấy, dù các em đã học tới trình độ THPT nhưng việc thực hành tiếngViệt về chính tả, về từ vựng cũng như cách đặt câu, liên kết câu, đoạn văn

Trang 30

khi viết bài còn rất nhiều lỗi Đây là lý do khiến chúng tôi thực hiện bài khảosát hiện trạng thực hành tiếng Việt ở học sinh nhà trường, qua đó mong tìm rađược nguyên nhân và các biện pháp khắc phục Tuy nhiên, với dung lượngcủa một luận văn thạc sĩ, chúng tôi không thể tham vọng đi hết các vấn đề vềlỗi thực hành tiếng Việt học sinh ở đây mắc phải mà chỉ đi sâu vào hai vấn đề

là chính tả và từ vựng trong nhà trường Các vấn đề khác về ngữ pháp, ngữdụng hi vọng sẽ có các công trình nghiên cứu đầy đủ tiếp theo của các họcviên, nghiên cứu sinh và các nhà nghiên cứu khác

Trang 31

3 Địa bàn nghiên cứu là một trường miền núi còn nhiều khó khăn vềkinh tế, văn hóa, giáo dục ; có sự đan xen nhiều dân tộc và chịu ảnh hưởngcủa các yếu tố vùng cư trú, giới tính, lứa tuổi khá rõ nét, ảnh hưởng đến quátrình thụ đắc ngôn ngữ, gây nên nhiều lỗi trong sử dụng tiếng Việt Vì vậythông qua nghiên cứu, chúng tôi muốn tìm ra nguyên nhân và đề xuất đượcnhững biện pháp chữa lỗi thiết thực, giúp các em học tập tốt hơn cũng nhưthành công hơn trong việc sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp cộng đồng Cụthể là ở phương diện viết đúng chính tả và sử dụng đúng từ ngữ trong tạo lậpcâu/phát ngôn.

Trang 32

Chương 2 LỖI CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT

VÂN NHAM

Ở chương này, chúng tôi trình bày thực trạng lỗi chính tả của học sinhtrường THPT Vân Nham nói chung và phân tích theo từng tiêu chí giới tính,lứa tuổi (khối lớp học) và dân tộc nói riêng Từ đó tìm ra nguyên nhân nguyênnhân và đề xuất giải pháp chữa lỗi chính tả cho học sinh ở đây

2.1 Thực trạng chung về lỗi chính tả của học sinh trên địa bàn

2.1.1 Số liệu tổng thể

Như đã trình bày phần đối tượng nghiên cứu, để tiến hành khảo sát lỗichính tả của học sinh nhà trường thu được kết quả khách quan, chúng tôi đãtiến hành khảo sát với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên 300 bài kiểm trahọc kì 1 năm học 2018 – 2019 của 300/948 học sinh nhà trường Cụ thể:

Lớp 10: 100 bài/100 học sinh trong đó nữ Dtts 42 em; nam Dtts 44; nữdân tộc Kinh (nữ Kinh) 8 em và nam dân tộc Kinh (nam Kinh) 6 em

Lớp 11: 100 bài/100 học sinh trong đó nữ Dtts 49 em; nam Dtts 39; nữKinh 6 em và nam Kinh 6 em

Lớp 12: 100 bài/100 học sinh trong đó nữ Dtts 52 em; nam Dtts 29; nữKinh 9 em và nam Kinh 10 em

Qua đó rút ra kết quả như sau:

Trang 33

Bảng 2.1: Lỗi chính tả của học sinh toàn trường

STT Số lượng Hs

Lỗi viết hoa

Lỗi chính tả trong âm tiết

Viết tắt

Lỗi giữa

số và chữ

Tổng lỗi

Viết hoa tự do

Lỗi không viết hoa Đầu

dòng

Sau dấu chấm

Danh

từ riêng

Âm đầu

Âm đệm

Âm chính

Âm cuối

Thanh điệu

Trang 34

Bảng 2.2: Số học sinh mắc lỗi chính tả

STT Số lượng Hs

Lỗi viết hoa Lỗi chính tả trong âm tiết

Viết tắt

Lỗi giữa

số và chữ

Viết hoa

Danh

từ riêng

Âm đầu

Âm đệm

Âm chính

Âm cuối

Thanh điệu

Trang 35

2.1.2 Phân tích số liệu chung

- Trên cơ sở khảo sát từng lỗi cụ thể của học sinh và căn cứ quy tắcchính tả tiếng Việt hiện hành, chúng tôi tổng hợp và chia ra thành 4 dạngchính, 11 kiểu nhỏ các lỗi như sau:

+ Dạng lỗi về viết hoa Bao gồm viết hoa tùy tiện và không viết hoađúng quy tắc chính tả Trong đó viết hoa không đúng quy tắc chính tả chia ra

ba loại cụ thể: không viết hoa đầu dòng; không viết hoa sau dấu chấm vàkhông viết hoa danh từ riêng

+ Dạng lỗi viết tắt trong đó cơ bản là các em viết tắt tùy tiện như “ko” (không), “ng`” (người), “tg” (tác giả), “nd” (nội dung)

+ Dạng lỗi viết lẫn lộn giữa số và chữ như “2 câu thơ đầu”, “Nguyễn

Trãi là 1 người yêu nước”

+ Dạng lỗi chính tả âm vị (lỗi trong cấu trúc âm tiết) Trong đó chia ranăm loại cụ thể tương ứng với năm thành phần trong âm tiết gồm lỗi ở âmđầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu

- Qua tổng hợp kết quả khảo sát, chúng tôi rút ra một số kết luậnnhư sau:

+ Trong tổng số 300 bài kiểm tra của 300 học sinh, tỉ lệ các em mắc lỗichính tả chiếm tới 92% (276/300 em) Đây là một con số cho thấy tỉ lệ mắclỗi rất cao Đối với đối tượng là học sinh cấp ba, đây quả thật là một vấn đềđáng nói

+ Nhìn vào nội dung các lỗi, ta thấy số lượng lớn nhất rơi vào mắc lỗi ởphụ âm đầu (219/300 em); tiếp đến mắc lỗi với việc không viết hoa danh từriêng (167 em); mắc lỗi không viết hoa đầu dòng (119 em) và mắc lỗi do viếthoa tự do, không theo quy tắc (114 em) Cũng trong 300 bài kiểm tra khảo sát,chúng tôi thấy hiện tượng các em viết lẫn lộn số sang chữ cao, chiếm gần30% (90 em) Các lỗi khác về nhầm lẫn âm cuối, âm chính, âm đệm trong âmtiết và viết tắt trong bài kiểm tra ít hơn Riêng lỗi về thanh điệu tuyệt nhiên

Trang 36

không mắc Kết hợp với việc nghe phát âm của học sinh tại đây, chúng tôinhận định tại địa bàn nghiên cứu, việc phát âm sáu thanh điệu tiếng Việt củahọc sinh ở đây tốt, không diễn ra hiện tượng nhập thanh, lẫn lộn giữa thanhngã với thanh hỏi như một số nơi hoặc một số cộng đồng người dân tộc thiểu

số khác, dẫu rằng, học sinh nhà trường đa phần là người Nùng, Tày, Cao Lan

+ Khi nhìn vào thống kê số lỗi cụ thể trên từng học sinh, chúng tôi nhậnthấy, số các em mắc cùng một lúc nhiều lỗi chính tả (3 lỗi trở lên) là rất cao,

cá biệt có những em mắc đến 7/10 loại lỗi được thống kê Theo chúng tôi, đây

là vấn đề đáng để đặt câu hỏi vì các em đã ở cấp học lớn, và ở vấn đề cơ bản

là chính tả còn như vậy thì vấn đề thực hành từ vựng đúng ngữ nghĩa, chứcnăng, ngữ cảnh; vấn đề diễn đạt toàn văn bản bao gồm đặt câu, viết đoạn,triển khai ý, chuyển ý, trình bày rõ ràng, mạch lạc các nội dung sẽ như thếnào Hai ví dụ đưa ra có cả học sinh nam và học sinh nữ, vậy thì, không chỉ cóyếu tố giới tính (ví dụ như nam nghịch hơn, thiếu tập trung hơn nữ hoặc thiên

về các môn tự nhiên hơn mà học kém các môn xã hội nói chung, Ngữ văn nóiriêng ) mà phải kết luận rằng các em đã rỗng kiến thức, kĩ năng về thực hànhtiếng Việt chính tả ở cấp dưới dẫn đến hiện trạng trên Một đề xuất có thể thấyngay ở phần này, đó là, trong việc giảng dạy cũng như thiết kế chương trìnhcác cấp học dưới, thay vì một dung lượng khá lớn cho các văn bản văn học,nên chăng tăng các giờ thực hành chính tả và từ vựng Theo ý kiến cá nhâncủa chúng tôi, đây mới là nền cốt để tạo lập cũng như tiếp thu văn bản Cáihay, cái ý nghĩ sâu xa của các tác phẩm văn học nói riêng hay ý nghĩa hiểnngôn của các loại văn bản nói chung đều phải được xác lập trên việc viết đúng

và hiểu đúng, từ chính tả đến từ ngữ rồi đến câu, đoạn văn và toàn bộ tácphẩm (văn bản)

- Tiếp theo, có một nhận xét chung rằng số liệu khảo sát trên của chúngtôi là chính xác nhưng chưa bao quát được toàn bộ vấn đề sử dụng tiếng Việt

Trang 37

Vì số mẫu cơ bản 1/3 số đối tượng (300/948 Hs) có thể đảm bảo tính phổ quátnhưng mới chỉ khảo sát được trên 300 bài kiểm tra, tức là mỗi em được khảosát 01 bài Hơn nữa, vì cùng là 01 bài thi học kì 1, có đề giống nhau do vậylượng từ ngữ được các học sinh sử dụng cũng khá tương đồng nhau Trongthực tế, còn những từ ngữ khác, trong những ngữ cảnh khác mà học sinh sửdụng bị mắc lỗi chính tả mà chúng tôi chưa thống kê được, vì vậy, nhữngnghiên cứu khảo sát tại luận văn này chỉ mang tính kết luận cho các lỗi cụ thể,không đại diện cho tất cả các lỗi mà học sinh mắc phải trong quá trình sửdụng tiếng Việt của mình Dẫu vậy, nhìn trong tổng thể lỗi chung mà các côngtrình nghiên cứu đi trước đã làm, chúng tôi nhận định được lỗi về chính tả củacác học sinh ở đây, đặc biệt là về phụ âm đầu là khá phố biến và giống với lỗi

ở nhiều nơi, nhiều đối tượng đã được các tác giả trước khảo sát mắc phải.Điều đó đặt ra một câu hỏi nghiên cứu, tại sao những lỗi ấy lại hay gặp nhiềuthế? Và phải làm thế nào để khắc phục những lỗi trên?

- Đối với cách tính lỗi để thống kê, phân tích số liệu, chúng tôi có haicách tính như sau:

+ Đối với lỗi viết hoa, lỗi viết tắt và nhầm lần giữa số và chữ, chúng tôitính theo số lượng học sinh bởi vì, đối với dạng lỗi về viết hoa, với viết hoatùy tiện (tự do), các biến thể của lỗi là rất lớn và không theo quy luật nhấtđịnh Nhiều học sinh tùy hứng có thể viết hoa tự do bất cứ chữ cái nào và ở vịtrí nào Nó thể hiện sự không ý thức về lỗi sai này và vì vậy, cách tính củachúng tôi đối với dạng lỗi này quy về số học sinh mắc lỗi ấy chứ không điđếm theo biến thể Đối với dạng lỗi không viết hoa theo quy tắc, với khôngviết hoa đầu dòng và không viết hoa sau dấu chấm, khi khảo sát trên bài kiểmtra (phiếu) chúng tôi thấy, có em luôn không viết hoa tại những vị trí đó, có

em lúc viết lúc không Như vậy, xét về quy tắc phải viết hoa tại những vị trí

đó, chúng tôi đều quy là lỗi và cách tính là theo số lượng học sinh mắc chứ

Trang 38

không đếm theo số lượng có bao nhiêu lỗi cụ thể ấy trên 300 phiếu Theochúng tôi, đây là cách tính khoa học, không làm rối số liệu vì cái chúng ta cầnkhảo sát là có bao nhiêu học sinh mắc lỗi này, còn dù mắc lỗi theo hệ thốnghay lúc mắc lúc không, cũng thể hiện các em thực hành chính tả tiếng Việtkém, chưa nắm được quy tắc căn bản ấy Riêng đối với loại lỗi không viết hoadanh từ riêng, chúng tôi nhận thấy rằng, bên cạnh những học sinh không viếthoa danh từ riêng một cách hệ thống (do không nắm được quy tắc) còn cónhững học sinh lúng túng trong việc xác định đâu là danh từ riêng Điều nàydẫn đến hệ quả là bên cạnh những danh từ riêng như tên người, tên địa danh các em đã xác định được và viết hoa đúng quy tắc thì có những danh từ riêng

như “Đảng”, “Trung ương” hoặc tên riêng tác phầm các em lúng túng, lúc viết hoa lúc không, lúc viết hoa toàn bộ chữ cái đầu (ví dụ “đoạn trích Trao

Duyên”) lúc viết hoa chữ cái đầu (“đoạn trích Trao duyên”)… Tuy vậy, việc

xác định số lượng các danh từ riêng không được viết hoa là một tổng khôngxác định, vì thế, để cho khoa học, chúng tôi không chạy theo các danh từriêng cụ thể bị viết lỗi mà quy về 01 lỗi cho mỗi học sinh mắc lỗi này Nóicách khác, ở đây chúng tôi tính số học sinh mắc phải những loại lỗi trên chứkhông đi tính số lỗi cụ thể trong từng bài Sau này, khi đi phân tích cụ thểtừng dạng, loại lỗi, chúng tôi sẽ tiếp tục làm sáng tỏ vấn đề và cố gắng tìm ragiải pháp Đối với dạng lỗi viết tắt và nhầm lẫn giữa số và chữ tình hình cũngvậy, chúng tôi thống kê số học sinh mắc hai lỗi này, chỉ ra nguyên nhân vàcách khắc phục phù hợp với tình hình nhà trường

+ Đối với các loại lỗi trong cấu trúc âm tiết, khi đi khảo sát, chúng tôinhận thấy rằng, cùng một loại lỗi (ở âm đầu chẳng hạn) nhưng học sinh có thểmắc tại rất nhiều phụ âm Vì vậy ở đây, bên cạch việc thống kê số lượng họcsinh mắc lỗi, chúng tôi thấy rằng cần phải quy ra các kiểu nhỏ trong từng loại

Trang 39

tự như thế, ở âm đệm, âm chính và âm cuối, cần phải xem xét và phân tíchtrên các âm tiết cụ thể chứ không thể quy chung theo vị trí Đối với phần này,việc đi đếm cụ thể các lỗi trên hay mắc ở những từ nào, tần số của các từ haymắc trên tổng học sinh được khảo sát rất có ý nghĩa, góp phần tìm ra đượcnguyên nhân và đề ra giải pháp sửa lỗi phù hợp Trong một số trường hợp

nhất định, các lỗi âm vị còn liên quan tới lỗi từ vựng ví dụ như viết “ý trí” thay cho “ý chí” không chỉ liên quan tới sai phụ âm đầu “ch/tr” mà còn vì

nhiều em không phân biệt được nghĩa của hai từ “chí” và “trí”

Sau đây xin đi phân tích, lí giải nguyên nhân mắc lỗi đối với từng nộidung lỗi cụ thể mà học sinh trường THPT Vân Nham mắc

2.1.3 Phân tích theo các nội dung lỗi cụ thể

2.1.3.1 Lỗi đối với việc viết hoa trong tiếng Việt

- Theo quy định của Bộ GD&ĐT cũng như “Từ điển chính tả tiếng

Việt” (1995) của Nguyễn Trọng Báu [3] thì người dùng phải viết hoa đầu

dòng (bắt đầu một văn bản, đoạn văn); viết hoa sau dấu chấm; viết hoa tất cảcác từ là danh từ riêng chỉ tên người, tên địa lý ; viết hoa chữ cái đầu tiên têntác phẩm ; tên các danh hiệu vẻ vang, tên huân huy chương Như vậy việckhông tuân theo các quy tắc trên là mắc lỗi và ngược lại, việc viết hoa tùy ý,

tự do tại các vị trí khác cũng tức là mắc lỗi chính tả

- Bằng cách tính, cứ mắc lỗi về viết hoa được tính là 01 lỗi, ta có sốlượng tổng bằng số lượng học sinh mắc, như vậy có đến 144/300 học sinhđược khảo sát mắc lỗi viết hoa tùy tiện; 119/300 học sinh khảo sát mắc lỗikhông viết hoa đầu dòng; 167/300 học sinh mắc lỗi không viết hoa danh từriêng và 43/300 học sinh mắc lỗi không viết hoa sau dấu chấm Trong từngbài kiểm tra cụ thể, điều ấy được thể hiện khá đa dạng Ví dụ, có em khôngphải lúc nào cũng không viết hoa đầu dòng hoặc danh từ riêng, mà có lúc viếtlúc không; có em lại thành hệ thống trong toàn bài đều như vậy Đối với viết

Trang 40

hoa tự do cũng vậy, có những em thành hệ thống ở các chữ cái “H, T, Đ, K, S,

C, X ” thì luôn viết hoa dù ở vị trí nào trong từ (ví dụ: THúy Kiều KHông

nHững là người Con Có Hiếu ); có những chữ thì được viết hoa tùy hứng (ví

dụ: Thúy Kiều kHông Những là người con Có hiếu ) So sánh với quy tắc viết

hoa và không viết hoa chính tả hiện hành, chúng tôi đều quy đây là lỗi hìnhthành trong tư duy, do các em chưa nắm rõ quy tắc khi nào cần viết hoa khinào không hoặc bản thân không phân biệt quy tắc viết danh từ riêng trong

từng trường hợp (vì dụ đoạn trích Trao duyên chỉ viết hoa chữ cái đầu “T” nhưng rất nhiều em viết hoa cả hai chữ cái đầu thành Trao Duyên) mà dẫn đến

lúng túng, khi viết hoa cả hai, khi chỉ viết hoa một chữ cái đầu

- Đối với viết hoa tự do, viết hoa đầu dòng và sau dấu chấm, việc khắcphục lỗi có lẽ không quá khó, vì các thầy cô luôn nhắc nhở; trong các văn bảncác em đọc cũng luôn thể hiện đúng quy tắc, chỉ là các em có ý thức thực hànhhay không Đôi khi trong chính tả, chúng tôi nhận thấy các em viết hoa tự dotrở thành thói quen (đặc biệt với việc viết hoa tự do một số chứ cái quen thuộcnhư “T, H, N ”; những từ các em không biết viết chữ thường bằng cách hạ độcao như “X, C, S ” Theo thống kê, có tới 70% học sinh lớp 10 mắc lỗi ấynhưng lên lớp 11, 12, con số này đã giảm đi, còn dưới 40%, tuy vậy vẫn là khácao, cần viết đúng Việc viết hoa đầu dòng và sau dấu chấm, qua khảo sátchúng tôi thấy có hai trường hợp, một do các em không nắm quy tắc, luôn mắclỗi tại mọi vị trí tương đương trong bài Trường hợp thứ hai do các em viết vộinên sơ ý Trường hợp hai mắc nhiều với học sinh 12, do bài kiểm tra dài, khóhơn lớp 10, 11, dẫn đến đôi khi vì nội dung mà không tập trung vào chính tả.Qua khảo sát bài, chúng tôi thấy trong bài, có những lúc các em viết đúng tạihai vị trí trên, đôi khi viết thường, dù tính là lỗi nhưng nhưng không mang tính

hệ thống, không phải do không nắm quy tắc và có thể sửa nếu tập trung

- Riêng đối với lỗi không viết hoa danh từ riêng, chúng tôi nhận thấy tỉ

Ngày đăng: 07/12/2019, 09:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2010), Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
2. Nguyễn Đại Bàng (2006), Quy luật âm nghĩa và những đơn vị gốc tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy luật âm nghĩa và những đơn vị gốc tiếngViệt
Tác giả: Nguyễn Đại Bàng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2006
3. Nguyễn Trọng Báu (1995), Từ điển chính tả tiếng Việt, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển chính tả tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Trọng Báu
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1995
4. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (1993), Đại cương ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 1993
5. Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữ học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
6. Trường Chinh (1998), Giải thích các từ gần âm, gần nghĩa dễ lầm lẫn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải thích các từ gần âm, gần nghĩa dễ lầm lẫn
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 1998
7. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiêu, Hoàng Trọng Phiến (2003), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngônngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiêu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
8. Trần Trí Dõi (1997), Bài tập tiếng Việt thực hành, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập tiếng Việt thực hành
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
9. Phạm Văn Đồng (1980), Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 1980
10. Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (2002), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
11. Võ Xuân Hào (2007), Dạy học chính tả cho học sinh Tiều học theo vùng phương ngữ, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học chính tả cho học sinh Tiều học theo vùngphương ngữ
Tác giả: Võ Xuân Hào
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
12. Trịnh Đức Hiển (2006), Từ vựng tiếng Việt thực hành, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng tiếng Việt thực hành
Tác giả: Trịnh Đức Hiển
Nhà XB: Nxb Đại học Quốcgia
Năm: 2006
13. Lê Trung Hoa chủ biên (2002), Các lỗi chính tả, từ vựng, ngữ pháp và cách khắc phục (Qua bài viết trong nhà trường và trên các phương tiện truyền thông), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lỗi chính tả, từ vựng, ngữ pháp vàcách khắc phục (Qua bài viết trong nhà trường và trên các phương tiệntruyền thông)
Tác giả: Lê Trung Hoa chủ biên
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2002
14. Lê Trung Hoa (2009), Lỗi chính tả và cách khắc phục, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗi chính tả và cách khắc phục
Tác giả: Lê Trung Hoa
Nhà XB: Nxb Khoa học Xãhội
Năm: 2009
15. Vũ Bá Hùng (1994), “Chuẩn mực ngữ âm và vấn đề dạy tiếng Việt trong nhà trường”, Tạp chí Ngôn ngữ (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn mực ngữ âm và vấn đề dạy tiếng Việt trongnhà trường”, "Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Vũ Bá Hùng
Năm: 1994
16. Hồ Lê, Trần Thị Ngọc Lang, Tô Đình Nghĩa (2005), Lỗi từ vựng và cách khắc phục, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗi từ vựng và cáchkhắc phục
Tác giả: Hồ Lê, Trần Thị Ngọc Lang, Tô Đình Nghĩa
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2005
17. Hồ Lê (2009), Lỗi từ vựng và cách khắc phục, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lỗi từ vựng và cách khắc phục
Tác giả: Hồ Lê
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2009
18. Hoàng Tuyền Linh, Vũ Xuân Lương (1995), Từ điển chính tả mini, Nxb Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển chính tả mini
Tác giả: Hoàng Tuyền Linh, Vũ Xuân Lương
Năm: 1995
19. Nguyễn Văn Lợi (2000), Ngôn ngữ chữ viết và chính sách ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (Đề tài độc lập cấp Nhà nước), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ chữ viết và chính sách ngôn ngữ cácdân tộc thiểu số ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Lợi
Năm: 2000
20. Hà Quang Năng (2007), Từ điển lỗi dùng từ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển lỗi dùng từ
Tác giả: Hà Quang Năng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w