ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---VŨ YẾN HÀ MẠNG LƯỚI XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH TÌM KIẾM VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN NGHIÊN CỨU TRƯỜ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-VŨ YẾN HÀ
MẠNG LƯỚI XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH TÌM KIẾM VIỆC LÀM
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CỰU SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN TỐT NGHIỆP NĂM 2015)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-VŨ YẾN HÀ
MẠNG LƯỚI XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH TÌM KIẾM VIỆC LÀM
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CỰU SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN TỐT NGHIỆP NĂM 2015)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01Người hướng dẫn khoa học:PGS TS Nguyễn Tuấn Anh
Hà Nội - 2018
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình luận văn thạc sĩ do tôi thực hiện Các tài liệu, trích dẫn, kết quả nêu trong đề tài luận văn tốt nghiệp đều có nguồn gốc rõ ràng và trung thực Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Học viên
Vũ Yến Hà
Trang 4Lời cảm ơn
Trên thực tế, không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở trường đến nay, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy cô, gia đình và bạn bè.
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh, người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện
đề tài Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Xã hội học đã dạy dỗ và truyền đạt những tri thức quý báu trong suốt những năm qua, để tôi có thể hoàn thành tốt khóa học của mình.
Tôi cũng muốn nói lời cảm ơn chân thành đến các đồng nghiệp trường Đại học Công đoàn, các cựu sinh viên trường Đại học Công đoàn tốt nghiệp năm 2015 Luận văn sẽ không thể hoàn thành tốt vấn đề thu thập dữ liệu nếu thiếu sự giúp đỡ nhiệt tình, đặc biệt là sự cởi mở trong chia sẻ về việc sử dụng mạng lưới xã hội trong quá trình tìm kiếm việc làm.
Xin chân thành cảm ơn gia đình đã luôn ở bên cạnh, là động lực to lớn giúp tôi không ngừng cố gắng học tập để hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến các cán bộ Khoa Xã hội học – trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Sự hỗ trợ đầy trách nhiệm của họ đã giúp tôi thực hiện quá trình bảo vệ luận văn một cách thuận lợi, tốt đẹp.
Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng vì thời gian có hạn, trình độ năng lực của bản thân còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được góp ý của các thầy cô để tôi được rút kinh nghiệm và hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Học viên
Vũ Yến Hà
Trang 5MỤC LỤC
Trang 6Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các từ viết tắt
MỤC LỤC
Danh mục bảng
Danh mục biểu
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa nghiên cứu 4
6 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu 5
1.1.1 Những nghiên cứu về mạng lưới xã hội nói chung: 5
1.1.2 Những nghiên cứu về tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi ra trường 10
1.2 Khái niệm công cụ của đề tài 14
1.2.1 Khái niệm mạng lưới xã hội 14
1.2.2 Khái niệm việc làm 17
1.2.3 Khái niệm quá trình tìm kiếm việc làm 19
1.2.4 Khái niệm sinh viên tốt nghiệp 19
1.3 Lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu 20
1.3.1 Thuyết lựa chọn duy lý 21
1.3.2 Lý thuyết mạng lưới xã hội: 22
Trang 71.4 Địa bàn nghiên cứu 24
1.5 Phương pháp nghiên cứu 26
1.5.1 Phương pháp phân tích tài liệu 26
1.5.2 Phương pháp trưng cầu ý kiến 27
1.5.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 27
Tiểu kết chương 1 29
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN SỬ DỤNG MẠNG LƯỚI XÃ HỘI TRONG QUÁ TRÌNH TÌM KIẾM VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG ĐOÀN 31
2.1 Thực trạng tìm kiếm việc làm của sinh viên trường Đại học Công đoàn 31
2.2 Sinh viên tìm kiếm việc làm thông qua các mối quan hệ trong gia đình, họ hàng 45
2.3 Sinh viên tìm kiếm việc làm thông qua các mối quan hệ bạn bè 49
2.4 Sinh viên tìm kiếm việc làm thông qua thầy cô giới thiệu 54
2.5 Sinh viên tìm kiếm việc làm thông qua các tổ chức (CLB, đội nhóm…) 58
Tiểu kết chương 2 63
CHƯƠNG 3: HỆ QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG MẠNG LƯỚI XÃ HỘI ĐẾN QUÁ TRÌNH TÌM KIẾM VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN 64
3.1 Hệ quả của việc sử dụng những mối quan hệ trong gia đình, họ hàng đến quá trình tìm kiếm việc làm của sinh viên 72
3.2 Hệ quả của việc sử dụng những mối quan hệ bạn bè đến quá trình tìm kiếm việc làm của sinh viên 75
3.3 Hệ quả của việc sử dụng những mối quan hệ do thầy cô giới thiệu đến quá trình tìm kiếm việc làm của sinh viên 78
Trang 83.4 Hệ quả của việc sử dụng những mối quan hệ trong tổ chức (CLB, đội
nhóm…) đến quá trình tìm kiếm việc làm của sinh viên 81
Tiểu kết chương 3 83
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84
PHỤ LỤC 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Danh mục bảng
Trang 9Bảng 1.1 Cơ cấu mẫu 29Bảng 2.1 Sự hài lòng đối với công việc hiện tại (N=179) 42Bảng 2.2 Tương quan giữa thời gian có được công việc và mạng lưới xã hội sửdụng (N=76) 46Bảng 2.3 Tương quan giữa thời gian có được công việc và mạng lưới xã hội sửdụng (N=44) 51Bảng 2.4 Tương quan giữa thời gian có được công việc và mạng lưới xã hội sửdụng (N=43) 57Bảng 2.5 Số lượng cựu sinh viên tham gia các tổ chức (CLB, đội nhóm…)(N=43) 59Bảng 2.6 Tương quan giữa thời gian có được công việc và mạng lưới xã hội sửdụng (N=16) 62Bảng 3.1 Hệ quả mạng lưới xã hội đem lại trong quá trình tìm kiếm việclàm(N=189) 65Bảng 3.2 Sự đồng ý với những nhận định đưa ra 70Bảng 3.3 Sự hài lòng đối với công việc hiện tại khi sử dụng mạng lưới quan hệtrong gia đình 73Bảng 3.4 Sự hài lòng đối với công việc hiện tại khi sử dụng mạng lưới quan hệbạn bè 75Bảng 3.5 Sự hài lòng đối với công việc hiện tại khi sử dụng mối quan hệ dothầy cô giới thiệu 78Bảng 3.6 Sự hài lòng đối với công việc hiện tại khi sử dụng mối quan hệ trong
tổ chức (CLB, đội nhóm…) 81
Trang 10Danh mục biểu
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ sinh viên hiện nay đang có việc làm 32
Biểu đồ 2.2: Thời gian có được việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp 34
Biểu đồ 2.3 Mức lương bình quân hiện nay (N= 179) 35
Biểu đồ 2.4 Sử dụng mạng lưới xã hội nào để có công việc hiện tại (N=179) 38
Biểu đồ 2.5 Tỷ lệ sinh viên các ngành sử dụng mối quan hệ trong gia đình, họ hàng 47
Biểu đồ 2.6 Tỷ lệ sinh viên các ngành sử dụng mối quan hệ trong gia đình, họ hàng theo giới tính 48
Biểu đồ 2.7 Tỷ lệ sinh viên các ngành sử dụng mối quan hệ bạn bè 52
Biểu đồ 2.8 Tỷ lệ sinh viên các ngành sử dụng mối quan hệ bạn bè theo giới tính 53
Biểu đồ 2.9 Tỷ lệ sinh viên các ngành sử dụng mối quan hệ thầy cô giới thiệu 55
Biểu đồ 2.10 Tỷ lệ sinh viên các ngành sử dụng mối quan hệ trong tổ chức (CLB, đội nhóm…) bản thân đã tham gia 61
Biểu đồ 3.1 Khả năng tìm kiếm được công việc hiện tại không sử dụng mạng lưới xã hội 67
Biểu đồ 3.2 Có bắt buộc phải sử dụng mạng lưới xã hội không 68
Trang 11Tỷ lệ thất nghiệp là một trong những chỉ tiêu phản ánh thực trạng kinh tế
- xã hội của đất nước, làm cơ sở để hoạch định chính sách phát triển kinh tế, bảođảm an sinh xã hội Thất nghiệp là vấn đề phổ biến với hầu hết các quốc gia.Việt Nam cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Việc sinh viên không có việclàm, hoặc không tìm đươc việc làm sau khi tốt nghiệp đã gây ra ảnh hưởng nhấtđịnh đến các mặt của kinh tế, xã hội
Ngoài những nguyên nhân ảnh hưởng đến vấn đề tìm được việc làm đãđược nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra như sinh viên chưa chủ động trong việc tìmkiếm, hay trình độ của sinh viên khi mới ra trường không đáp ứng được nhữngyêu cầu của các nhà tuyển dụng, hoặc do các kiến thức sinh viên được đào tạotrong nhà trường không sát với thực tế; trong những năm gần đây các nhà khoahọc cũng nhận ra thêm một yếu tố cũng có ảnh hưởng đến quá trình tìm việc củasinh viên sau khi ra trường Yếu tố đó bao gồm những mạng lưới quan hệ xã hội,
sự tham gia của các cá nhân vào các hoạt động
Vấn đề về mạng lưới xã hội hiện đang là chủ đề thu hút được sự quan tâmcủa rất nhiều nhà nghiên cứu Đã có rất nhiều nghiên cứu về tác động hoặc ảnhhưởng của mạng lưới xã hội tới những hoạt động của những nhóm dân cư cụthể Tuy nhiên về vấn đề sinh viên vận dụng mạng lưới xã hội trong tìm kiếmviệc làm thì đây còn là lĩnh vực khá mới mẻ Cũng đã có những nghiên cứu chỉ
ra ảnh hưởng của mạng lưới xã hội đối với việc tìm kiếm việc làm của sinh viên
Trang 12nhưng cũng chưa đi sâu vào tìm hiểu cụ thể những hệ quả mà mạng lưới xã hộiđem lại
Xuất phát từ những lý do trên,tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Mạng
lưới xã hội trong quá trình tìm kiếm việc làm của sinh viên trường Đại học Công đoàn (Nghiên cứu trường hợp cựu sinh viên trường Đại học Công đoàn tốt nghiệp năm 2015).” Trong bối cảnh hiện nay, những yếu tố thực tiễn
có tác động đến mạng lưới xã hội của sinh viên sau khi tốt nghiệp ra sao? Họ cótận dụng được những nguồn mạng lưới xã hội đó? Và qua nghiên cứu mạnglưới xã hội với tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp sẽ làm rõmạng lưới xã hội bao gồm những gì, những hệ quả do mạng lưới xã hội đem tớitrong quá trình tìm kiếm việc làm của sinh viên
2 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Mạng lưới xã hội trong quá trình tìm kiếm việc làm của sinh viên trườngĐại học Công đoàn
2.2 Khách thể nghiên cứu:
Các cựu sinh viên đã tốt nghiệp đại học hệ chính quy trường Đại họcCông đoàn năm 2015
2.3 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: Trường Đại học Công đoàn
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/ 2016 – 8/ 2017
- Nội dung nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc sử
dụng mạng lưới xã hội trong tìm kiếm việc làm của các sinh viên đại học hệchính quy các ngành học khác nhau tốt nghiệp năm 2015, xem xét thực tế họ đã
sử dụng mạng lưới nào để tìm kiếm công việc, cũng như một số hệ quả của việc
sử dụng mạng lưới xã hội tới việc tìm kiếm việc làm của họ
Trang 133 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là mở rộng sự hiểu biết về thực trạng sửdụng mạng lưới xã hội trong tìm kiếm việc làm của sinh viên trường Đại họcCông đoàn sau khi ra trường, và kết quả sinh viên đạt được khi sử dụng cácmạng lưới đó
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Mô tả thực trạng sử dụng mạng lưới xã hội để tìm kiếm việc làm củasinh viên trường Đại học Công đoàn sau khi tốt nghiệp
- Tìm hiểu hệ quả của việc khi sinh viên trường Đại học Công đoàn sửdụng các mạng lưới xã hội.trong khi tìm kiếm việc làm
4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Mạng lưới xã hội được sử dụng trong quá trình tìm kiếm việc làm củasinh viên đã tốt nghiệp như thế nào ?
- Việc sử dụng mạng lưới xã hội có giúp cho sinh viên đã tốt nghiệp tìmkiếm được những công việc phù hợp hay không ?
- Việc sử dụng mạng lưới xã hội đem lại những hệ quả như thế nào đốivới kết quả tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Phần lớn sinh viên đã tốt nghiệp đều sử dụng mạng lưới xã hội để tìmkiếm được việc làm
- Việc sử dụng mạng lưới xã hội đã đem lại cho sinh viên tốt nghiệpnhững công việc phù hợp
- Việc sử dụng mạng lưới xã hội trong tìm kiếm việc làm của sinh viênmang lại những hệ quả khác nhau đối với quá trình tìm kiếm việc làm
Trang 145 Ý nghĩa nghiên cứu
5.1 Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu này được vận dụng một số khái niệm, lý thuyết như lý thuyết
về mạng lưới xã hội, lý thuyết sự lựa chọn duy lý, khái niệm mạng lưới xã hội,khái niệm việc làm, khái niệm tìm kiểm việc làm để tìm hiểu và giải thíchnhững khía cạnh của mạng lưới xã hội: mạng lưới xã hội bao gồm những yếu tố
gì, nó mang lại hệ quả gì đến vấn đề tìm kiếm việc làm của sinh viên
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu được thực hiện nhằm góp phần phác họa khía cạnh liên quanđến việc sử dụng mạng lưới xã hội trong tìm kiếm việc làm của sinh viên tốtnghiệp Những kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài liệu thamkhảo cho các cá nhân, tổ chức quan tâm khi nghiên cứu về việc làm của sinhviên sau khi tốt nghiệp
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, phần Nội dung chính của luận văngồm có 3 chương:
Chương 1 – Cơ sở lý luận, địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiêncứu
Chương 2 – Thực tế sử dụng mạng lưới xã hội trong quá trình tìm kiếmviệc làm của cựu sinh viên trường Đại học Công đoàn
Chương 3– Hệ quả của việc sử dụng mạng lưới xã hội tới quá trình tìmkiếm việc làm của cựu sinh viên trường Đại học Công đoàn
Công cụ khảo sát của luận văn gồm có bảng hỏi định lượng được trìnhbày trong phần Phụ lục
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu về mạng lưới xã hội nói chung:
Mạng lưới xã hội hiện nay đang là lĩnh vực nghiên cứu được rất nhiềungười quan tâm ở Việt Nam Những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu
về mạng lưới xã hội đã xuất hiện với nhiều chiều hướng nghiên cứu và cách tiếpcận khác nhau Trong những nghiên cứu này, có những nghiên cứu thiên về mặt
lý thuyết, trong đó giới thiệu, giải thích những nhân tố cấu thành nên mạng lưới
xã hội; và đưa ra những phương pháp nghiên cứu về mạng lưới các quan hệ xãhội Bên cạnh đó, cũng bắt đầu có những nghiên cứu thực nghiệm về việc ápdụng mạng lưới xã hội vào những lĩnh vực cụ thể trong đời sống và những hiệuquả đạt được
Trong những năm 2008 Emmanual Pannier đã nghiên cứu về mạng lưới
xã hội qua :“ Phân tích mạng lưới xã hội, các lý thuyết, khái niệm và phương
pháp nghiên cứu” Trong bài viết này, tác giả chủ yếu bàn về khía cạnh lý
thuyết và phương pháp luận của phân tích mạng lưới xã hội bằng cách đặt ra cáccâu hỏi để khu biệt phân tích mạng lưới với các phân tích vốn có trong xã hộihọc và nhân học[19]
Bài viết “Vốn xã hội và sự cần thiết nghiên cứu vốn xã hội ở nông thôn
Việt Nam hiện nay”của tác giả Nguyễn Tuấn Anh tại hội thảo Quốc tế “Đóng
góp của khoa học xã hội- nhân văn trong phát triển kinh tế- xã hội” đã đưa ralược sử khái niệm và những quan niệm khác nhau về vốn xã hội của các nhàkhoa học Bourdieu, Coleman và Fukuyama ; chỉ ra bản chất hai mặt của vốn xãhội cũng như đưa ra những quan điểm cụ thể về việc nghiên cứu vốn xã hội ởViệt Nam Ngoài ra, tác giả cũng đề cập rất cụ thể tới ự cần thiết nghiên cứuvốn xã hội ở nông thôn Việt Nam [3]
Trang 16Bài viết “Vốn xã hội, mạng lưới và những phí tổn” của tác giả Hoàng Bá
Thịnh, in trên tạp chí Xã hội học (số 1, 2009) đưa ra những quan niệm về vốn
xã hội trong mạng lưới xã hội của những tác giả khác nhau; chỉ ra cấu trúc vàchức năng của vốn xã hội; đưa ra những phí tổn để duy trì vốn xã hội và mạnglưới xã hội Tuy bài viết thể hiện sự nghiên cứu của tác giả về vốn xã hội,nhưng chúng ta cũng không thể bỏ qua những đóng góp của tác giả về mạnglưới xã hội trong đó.Vì mạng lưới xã hội là một nhân tố giúp cấu thành nên vốn
xã hội Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra khái niệm về mạng lưới xã hội,thuyết mạng lưới xã hội, các cấp độ khác nhau của mạng lưới xã hội và ảnhhưởng của mạng lưới xã hội trong quá trình gây dựng danh tiếng cho con người[44]
Tác giả tiếp theo là Lê Ngọc Hùng với bài viết “Vốn xã hội, vốn con
người và mạng lưới xã hội qua một số nghiên cứu ở Việt Nam” trên Tạp chí
Nghiên cứu con người, Số 4 (37) năm 2008 Trong bài viết này, tác giả chỉ ravốn xã hội từ góc nhìn kinh tế học, quan điểm của Coleman về vốn xã hội,Quan niệm của Bourdieu về vốn xã hội; đưa ra mô hình tổng hợp về vốn xã hội,vốn con người và mạng lưới xã hội Cuối cùng, tác giả đưa ra một số phát hiện
về vốn xã hội, vốn người và mạng lưới xã hội ở Việt Nam và chỉ ra một sốnhững hướng cần tiếp tục nghiên cứu [26]
Bài viết “Tổng quan phương pháp phân tích mạng lưới xã hội trong
nghiên cứu xã hội” của tác giả Lê Minh Tiến đăng trên Tạp chí Khoa học Xã
hội, số 09-2006 đã đưa ra một cách tổng quan về phương pháp phân tích mạnglưới xã hội; hay nói cụ thể hơn là việc tác giả cố làm sáng tỏ câu hỏi thế nào làphương pháp phân tích mạng lưới xã hội và đâu là những khác biệt của nó sovới lối phân tích tương quan giữa các "biến số" thường được sử dụng trong cácnghiên cứu xã hội học thực nghiệm [45]
Trang 17Từ những năm 1998, đã có những nghiên cứu về mạng lưới xã hội Trong
bài viết “Vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di cư” của tác giả Đặng
Nguyên Anh trong tạp chí Xã hội học (số 2, 1998) đưa ra những khái niệm;nguồn số liệu về thu nhập, điều kiện sống của người di cư, số lượng người dân
di cư trong từng năm, sự trợ giúp của những người xung quanh với người di cưtrong vấn đề tìm kiếm công việc Tác giả cũng lồng ghép trong đó lý thuyết vềmạng lưới xã hội để làm rõ thêm vấn đề [1,tr17]
Bài báo “Quy mô lõi mạng lưới quan hệ xã hội của người Việt Nam và
một số yếu tố ảnh hưởng” của tác giả Nguyễn Quý Thanh, Cao Thị Hải Bắc đã
đặt vấn đề về những lý thuyết về xã hội hóa, mạng lưới xã hội, đưa ra quanđiểm về bản chất của mạng lưới quan hệ xã hội Ở đây, thay vì quan tâm đếnnhững yếu tố cấu thành mạng lưới xã hội, thì các tác giả lại tập trung đo lườngqui mô của mạng lưới xã hội, đưa ra 3 phương pháp đo lường qui mô mạng lưới
xã hội chính Và vận dụng những phương pháp đó vào trả lời các câu hỏi: Qui
mô lõi mạng lưới quan hệ xã hội của người Việt Nam hiện nay như thế nào, haynói cách khác, người Việt Nam có bao nhiều người bạn thân? Qui mô lõi mạnglưới quan hệ xã hội có sự khác biệt như thế nào trong các phân nhóm dân cưchính và những yếu tố nào ảnh hưởng đến qui mô lõi mạng lưới quan hệ xã hộicủa người Việt Nam? [14,tr.31]
Cũng của 2 tác giả trên, trên tạp chí Xã hội học số 1 (129), 2015, bài viết
“Nguyên lý đồng dạng: nghiên cứu khám phá cơ chế định hình mạng lưới xã hội của người Việt Nam” đã đưa ra những bằng chứng cho thấy quy mô lõi
mạng lưới quan hệ xã hội của người Việt Nam (thể hiện qua số lượng bạn thân)khá lớn khi so sánh với một số quốc gia khác như Hàn Quốc hay Hoa Kỳ, và chỉ
ra cơ chế chọn bạn của các chủ thể rất đa dạng Họ có thể chọn bạn có nhữngđặc tính giống mình, hoặc chọn bạn có những đặc tính bổ khuyết cho mình,
Trang 18hoặc họ có thể kết hợp cả hai cơ chế này trong việc xây dựng mạng lưới bạn bènói riêng, quan hệ xã hội nói chung [42].
Bài viết “Mạng lưới xã hội trong phát triển kinh tế hộ gia đình nông thôn
hiện nay: phác thảo từ kết quả nghiên cứu định tính tại hai xã đồng bằng sông Hồng” của Nguyễn Đức Chiện, đăng trên tạp chí Xã hội học số 4 (132), 2015
tập trung vào tìm hiểu sự tồn tại các loại hình tổ chức và mạng lưới xã hội ởnông thôn như gia đình, dòng họ, phường hội … Đồng thời chỉ ra nghiên cứu xãhội học thực nghiệm gần đây có nhiều nỗ lực trong việc đề cập trực tiếp đến vấn
đề mạng lưới xã hội ở nông thôn Tác giả chỉ ra các nghiên cứu này quan tâmđến quan hệ mang tính tình cảm và tương trợ sản xuất trong cộng đồng Tuynhiên, các nghiên cứu chưa khai thác sâu liên kết mạng lưới xã hội trong pháttriển kinh tế của hộ gia đình ở cộng đồng nông thôn Vì vậy, trong bài viết, tácgiả tập trung tìm hiểu về những loại hình mạng lưới xã hội đang tồn tại ở nôngthôn đồng bằng sông Hồng, và chỉ ra các liên kết mạng lưới xã hội ảnh hưởngthế nào đối với phát triển kinh tế của các nhóm hộ gia đình trong bối cảnh ViệtNam đang chuyển đổi và ngày càng hội nhập sâu rộng ra thế giới bên ngoài[10]
Trong luận án tiến sĩ của mình: “ Vốn xã hội với tìm kiếm việc làm của
sinh viên sau khi tốt nghiệp (Nghiên cứu trường hợp cựu sinh viên trường Đại học KHXH & NV), tác giả Phạm Huy Cường đã mô tả thực trạng việc làm và
nhận diện thực tế vốn xã hội của sinh viên sau khi tốt nghiệp Bên cạnh đó, tácgiả tìm hiểu sự vận dụng vốn xã hội trong tìm kiếm tìm kiếm việc làm của sinhviên sau khi tốt nghiệp, trong đó có sự xuất hiện của mạng lưới xã hội cũng cóảnh hưởng tới quá trình tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp Vàcuối cùng, tác giả xem xét liệu rằng có tồn tại mối liên hệ giữa mạng lưới xã hội
và các dạng vốn khác trong quá trình các cựu sinh viên tốt nghiệp trường Đạihọc Khoa học xã hội và nhân văn tìm kiếm việc làm hay không [12]
Trang 19Ở một nghiên cứu sâu hơn về mạng lưới xã hội của tác giả Phạm HuyCường đăng trên tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, tập 30, số 4 năm 2014
với tên gọi “Mạng lưới quan hệ xã hội với việc làm của sinh viên tốt nghiệp” đã
chỉ ra mạng lưới quan hệ xã hội có vai trò quan trọng trong quá trình tìm kiếmviệc làm của mỗi cá nhân Mạng lưới quan hệ xã hội trước tiên có vai trò lantruyền các luồng thông tin về việc làm Các kết quả nghiên cứu xác nhận mốiliên hệ giữa mạng lưới quan hệ xã hội với các khía cạnh kinh tế và phi kinh tếcủa công việc Về thu nhập, các công việc có được thông qua các mối quan hệ
xã hội có thu nhập thấp hơn so với các công việc có được thông qua các kênhchính thức Tuy nhiên bất lợi này có liên hệ với các mối quan hệ trong gia đìnhnhiều hơn Ở khía cạnh phi kinh tế, tìm kiếm việc làm thông qua các mối quan
hệ xã hội hướng sinh viên tốt nghiệp tới các công việc thuộc khu vực công, có
sự phù hợp với chuyên môn cao hơn Tuy nhiên những người tìm kiếm côngviệc nhờ vào các mối quan hệ lại gặp bất lợi về chi phí thời gian Các kết quảthu được cũng khẳng định và gợi mở rằng khi nghiên cứu về mạng lưới quan hệ
xã hội trong thị trường lao động, cần có những phân tích rất cụ thể đặc điểm củacác mối quan hệ xã hội và đặc điểm cũng như quy mô các nguồn lực mà mạnglưới quan hệ xã hội tạo cơ hội cho mỗi cá nhân có thể huy động để đạt đượcmục đích cá nhân của mình Chỉ có như vậy các phân tích kết quả nghiên cứumới nhận thức được đầy đủ mỗi liên hệ giữa mạng lưới quan hệ xã hội với quátrình tìm kiếm và các kết quả tìm kiếm việc làm [11]
Nhìn chung, vấn đề về mạng lưới xã hội đã có nhiều các công trình nghiêncứu Trên đây là một số công trình nghiên cứu về mạng lưới xã hội nói chung.Những nghiên cứu được tác giả tập trung bàn rất nhiều về những yếu tố liên quanhay những quan điểm về mạng lưới xã hội của các tác giả khác nhau Bên cạnh
đó, định hướng giá trị văn hóa của thanh niên, trong các mối quan hệ giao tiếptrong gia đình, trong xã hội cũng được nói đến Đây là nguồn tài liệu giúp tác giả
Trang 20có thể tiếp thu, kế thừa khi xây dựng cơ sở lý luận và quá trình thực tiễn nghiêncứu để hoàn thiện luận văn của mình
1.1.2 Những nghiên cứu về tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi ra trường.
Nghiên cứu về việc làm của sinh viên sau khi ra trường là vấn đề quantâm của nhiều cơ sở đào tạo, do đó, một số cơ sở đào tạo cũng tiến hành nhiềunghiên cứu khảo sát về vấn đề này Từ năm 2002 được sự trợ giúp của Quỹ tàitrợ đổi mới giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai dự án điềutra sinh viên tốt nghiệp cho 10 trường đại học tham gia kiểm định đợt 1 và 20trường tham gia kiểm định đợt 2… Lần đầu tiên tại Việt Nam xuất hiện mộtkhái niệm mới “Khảo sát việc làm sinh viên sau tốt nghiệp”, và được đông đảocác trường đại học hưởng ứng tham gia, tích cực…Nhiều phát hiện quan trọng
về vấn đề việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp đã được nhiều nghiên cứucủa các trường chỉ ra, trong đó có ba nội dung quan trọng: thứ nhất, tỷ lệ sinhviên sau khi tốt nghiệp ra trường có việc làm có tỷ lệ tương đối cao, tuy nhiênnhiều sinh viên chấp nhận làm không đúng với ngành nghề đào tạo, thậm chí lànhững công việc giản đơn, thu nhập thấp; thứ hai, có nhiều khó khăn, rào cảntrong quá trình tìm việc làm của sinh viên như việc thiếu các kỹ năng mềm,tiếng anh, vi tính, sự thiếu chủ động trong quá trình tìm việc làm của sinh viên,việc thiếu hụt các thông tin tuyển dụng… Thứ ba, mạng lưới xã hội, vốn xã hộicủa sinh viên có vai trò quan trọng trọng quá trình tìm kiếm việc làm của sinhviên sau khi tốt nghiệp
Nghiên cứu “Đánh giá khả năng thích ứng với công việc của sinh viên
ngành du lịch trường Đại học Cửu Long” do Nguyễn Quốc Nghi, Huỳnh Thị
Tuyết Anh…đăng trên tạp chí Khoa học và xã hội số 8 tháng 3/ 2013, với mụctiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng thích ứng với công việc của sinhviên ngành Kinh doanh Du lịch Trường Đại học Cửu Long Số liệu nghiên cứu
Trang 21được thu thập từ 100 sinh viên tốt nghiệp ngành Kinh doanh Du lịch đang làmviệc tại các doanh nghiệp, đơn vị đào tạo, cơ quan hành chính nhà nước và 18đơn vị tuyển dụng các sinh viên này Các phương pháp thống kê mô tả, kiểmđịnh độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) được
sử dụng trong nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy, số sinh viên sau khi tốtnghiệp ra trường có việc làm tương đối cao, trên 80%; khả năng thích ứng vớicông việc của sinh viên ngành Kinh doanh Du lịch Trường Đại học Cửu Longđược đánh giá là tốt Mức độ hoàn thành công việc của sinh viên được người sửdụng lao động đánh giá ở mức tốt cho đến rất tốt Kết quả nghiên cứu còn chothấy, các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thích ứng với công việc của sinh viênngành Kinh doanh Du lịch là ý chí cầu tiến, kiến thức chuyên môn và kỹ nănggiải quyết vấn đề Trong đó, kỹ năng giải quyết vấn đề là nhân tố có ảnh hườnglớn nhất đến khả năng thích ứng với công việc của sinh viên ngành kinh doanh
du lịch [33]
Nghiên cứu của Phạm Thị Lan Phượng với đề tài “Khảo sát kết quả việc
làm của sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh”
năm 2014 đã cho thấy thực trạng vấn đề việc làm của sinh viên sau khi ratrường, gần 90% sinh viên tốt nghiệp Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minhđang làm việc trong ngành giáo dục, sinh viên tốt đa số là yêu nghề giáo viên
Đa số sinh viên tốt nghiệp chọn yếu tố đặc điểm nhân cách cá nhân khi được hỏi
về lý do chọn công việc, trong đó sở thích, hứng thú và hình dung về nghề giáoviên do truyền thống gia đình và ảnh hưởng của thầy, cô giáo là các lý do đểchọn việc làm phổ biến Nghiên cứu này đã cho thấy các đặc điểm nhân cách cánhân hình thành từ rất sớm và được củng cố, hoàn thiện cùng với quá trìnhtrưởng thành của con người, vì thế có thể định hướng nghề nghiệp ngay từ bậctiểu học qua tích hợp nội dung trong các môn học Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệploại giỏi của Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh không làm nghề giáo
Trang 22viên khá cao, kết quả học tập và lĩnh vực làm việc có mối liên hệ rất chặt chẽ.
Từ đó, tác giả đề xuất, Nhà nước và ngành giáo dục và đào tạo cần có chínhsách tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ riêng đối với sinh viên tốt nghiệp loại giỏi
để thu hút được nhân tài làm giáo viên Nếu không thì chất lượng giáo dục phổthông sẽ vẫn tiếp tục làm nhức nhối phụ huynh học sinh và cả xã hội Sinh viênquê quán ở vùng nông thôn, trong đó có sinh viên cựu sinh viên thuộc dân tộcthiểu số, sau khi tốt nghiệp có xu hướng di chuyển đến vùng thành thị và ít trở
về quê hương phục vụ cộng đồng Vì vậy, không nên thực hiện tuyển sinh ưutiên để thu hút học sinh dân tộc thiểu số vào trường đại học hàng đầu như Đạihọc sư phạm trọng điểm thành phố Hồ Chí Minh [38]
Nghiên cứu của Huỳnh Lê Uyên Minh - Khoa Sư phạm Toán-Tin,
Trường Đại học Đồng Tháp về “Vấn đề việc làm sau khi tốt nghiệp của sinh
viên ngành tin học, ứng dụng khóa 2010”, tiến hành năm 2015 chỉ ra tỷ lệ sinh
viên tốt nghiệp sau khi ra trường tìm được việc làm là rất cao, tỷ lệ chưa tìmđược việc là ít và có một bộ phận sinh viên tiếp tục học tập nâng cao trình độ.Một bộ phận không nhỏ sinh viên làm việc trái chuyên ngành, các lĩnh vực nàyphần lớn là tiếp thị sản phẩm, nhân viên bán hàng ở các cửa hàng thiết bị côngnghệ, và một bộ phận nhỏ làm nhân viên kế toán ở các cửa hàng nhỏ Một tỷ lệkhông nhỏ sinh viên chấp nhận làm những việc không cần bằng cấp tạm thời đểchờ cơ hội tìm kiếm việc làm khác Vì thế, có không ít sinh viên đã chọn giảipháp là học tiếp, học liên thông hay học văn bằng hai với hi vọng sẽ kiếm mộtcông việc tốt hơn Các việc làm tại địa phương – nơi sinh sống của sinh viênthuộc lĩnh vực như là giáo dục, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng với mứclương khiêm tốn (dưới 3 triệu), một số ít phụ trách kỹ thuật cho các cửa hàngnhỏ lẻ ở địa phương Việc làm gần nơi đào tạo phần lớn thuộc các lĩnh vực kỹthuật viên, lập trình viên, các bạn có mơ ước tìm kiếm cơ hội việc làm tốt hơnmuốn học tiếp để nâng cao trình độ, một số sinh viên muốn làm việc gần nơi
Trang 23học tập nên chấp nhận làm các công việc trái lĩnh vực Ngoài ra, một bộ phậnkhông nhỏ sinh viên muốn tìm kiếm cơ hội việc làm với thu nhập cao hơn ở cácthành phố lân cận và thành phố lớn, đối với những nơi thành thị chỉ một số ítsinh viên tìm được việc làm đúng chuyên ngành, còn lại số đông sinh viên phảichấp nhận công việc khác để kiếm tiền ở lại thành phố rồi tìm việc ổn định vềsau Từ đó tác giả đi tới kết luận, giải pháp tìm kiếm việc làm cho sinh viên saukhi tốt nghiệp là vấn đề cấp thiết, đòi hỏi khoa và nhà trường cần tạo nhiều mốiliên kết giữa các doanh nghiệp hoặc với các địa phương để thu thập thông tin vềnhu cầu tuyển dụng Đồng thời, mỗi sinh viên cần phải có ý thức tự giác chủđộng trong việc học tập nhằm tích lũy các kiến thức chuyên môn và kỹ năngmềm trong việc tìm kiếm việc làm trước khi tốt nghiệp [32].
Nghiên cứu “Thực trạng việc làm của ngành Việt Nam học tốt nghiệp tại
Đại học Cần Thơ” của các tác giả Nguyễn Trọng Nhân, Nguyễn Mai Quốc
Việt, Lý Mỹ Tiên – Khoa Khoa học Xã hội, Đại học Cần Thơ năm 2014 đăngtrên tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ cho thấy, cũng như những ngànhnghề khác, sinh viên ngành Việt Nam học làm việc trong nhiều lĩnh vực thuộcnhiều thành phần kinh tế khác nhau Thời gian sinh viên tìm được việc làm rấtthuận tiện, hầu hết có được việc làm trước khi nhận bằng tốt nghiệp và sau khinhận bằng tốt nghiệp một khoảng thời gian ngắn Thông báo của nhà tuyểndụng và sự giới thiệu của người quen là những kênh thông tin rất hữu ích đốivới sinh viên tìm việc Mức độ sinh viên sử dụng kiến thức và kỹ năng họcđược từ Trường vào công việc chỉ ở mức trung bình Chức vụ có ảnh hưởng tíchcực đến thu nhập Thu nhập có tác động đến mức độ yêu nghề và sự hài lòngđối với ngành nghề Giao tiếp và đàm phán là những kỹ năng rất cần thiết đốivới sinh viên; các kỹ năng thuyết trình, hoạt náo, tổ chức sự kiện, quản lý, làmviệc nhóm, lãnh đạo thì cần thiết Một số yếu tố liên quan đến ngành đào tạomới chỉ ở mức trung bình và hơi tốt Một số ít sinh viên chưa có việc làm và
Trang 24nguyên nhân chính xuất phát từ năng lực của các em Tính chất công việc,lương bổng cũng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng[34].
Đề tài thạc sĩ “Việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp” của tác giả Bùi
Thị Lan (2009) đã đưa ra thực trạng việc làm của sinh viên sư phạm sau tốtnghiệp từ đó đề xuất những biện pháp giúp sinh viên sư phạm có cơ hội tìm kiếmviệc làm phù hợp Đề tài đưa ra các khó khăn của sinh viên gặp phải khi đi tìmviệc chủ yếu là khó khăn về khả năng ngoại ngữ, tin học và khả năng trả lờiphỏng vấn Hầu hết số người được khảo sát đều cho rằng để có thể làm việc đượckhông chỉ cần kiến thức chuyên môn mà còn phải cần kiến thức xã hội nói chung[30]
Nhìn chung, những nghiên cứu về mạng lưới xã hội trong tìm kiếm việclàm của sinh viên sau khi ra trường được đề cập ở mức độ nhất định Nhiều vấn
đề liên quan đến mạng lưới xã hội đối với sinh viên nói chung và sinh viêntrường Đại học Công đoàn nói riêng còn chưa được nghiên cứu Chính vì thế,việc nghiên cứu đề tài: “Mạng lưới xã hội với tìm kiếm việc làm của sinh viênsau khi tốt nghiệp (Nghiên cứu trường hợp cựu sinh viên trường Đại học Công
đoàn )” là rất cần thiết.
1.2 Khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1 Khái niệm mạng lưới xã hội
Mạng lưới xã hội là một khái niệm đã được nhiều nhà nghiên cứu nhữngngành khoa học nói chung và xã hội học nói riêng tìm hiểu Chính vì vậy, chúng
ta có những cách tiếp cận, các cách hiểu và nhiều khái niệm khác nhau về mạnglưới xã hội
Khái niệm mạng lưới xã hội dùng để chỉ phức thể các mối quan hệ xã hội
do con người xây dựng, duy trì và phát triển trong cuộc sống thực của họ với tưcách là thành viên trong xã hội [3]
Trang 25Năm 1974, Granovetter công bố công trình “Tìm kiếm việc làm: Nghiêncứu về các mối quan hệ và sự nghiệp” (Getting a job: A Study of Contacts andCareer), đây là một trong những công trình quan trọng đầu tiên lý giải cách thứccác cá nhân tìm kiếm các công việc thông qua các mối quan hệ xã hội Ý tưởngchủ đạo của Granovetter được tóm tắt thành ba luận điểm Thứ nhất, ông chorằng nhiều người tìm được công việc của mình thông qua các quan hệ xã hộichứ không chỉ thông qua các kênh chính thức Thứ hai, ý nghĩa của các mạnglưới xã hội là cho phép những người tìm kiếm việc làm tập hợp được nhữngthông tin tốt hơn về tính khả dụng của công ăn việc làm cũng như các đặc điểmcủa công việc Thứ ba là giả thuyết rằng các liên kết yếu (weak ties) có thểmang lại những thông tin hữu ích hơn các liên kết mạnh (strong ties)[4,tr.3]
“Nhiều người đã tham gia vào những tổ chức và mạng lưới xã hội khácnhau Chúng ta là bạn bè, là đồng nghiệp Chúng ta có thể thuộc một tổ chức xãhội hay nghề nghiệp ngoài nơi làm việc Trong thời gian rỗi, chúng ta có thểchơi thể thao với một nhóm riêng biệt nào đó hay một câu lạc bộ, trở thànhthành viên của một nhóm có lợi ích cơ bản khác, như những nhóm chứngkhoán, buôn bán bất động sản, hoặc nhóm tín dụng Chúng ta cũng có thể thuộc
về một tổ chức chính trị - xã hội Và trong cuộc sống gia đình, chúng ta là mộtphần của gia đình, chúng ta có mối quan hệ láng giềng, v.v Những mạng lướihàng ngày, bao gồm rất nhiều các loại quy chế, khế ước xã hội mà việc địnhnghĩa chúng và thực hiện chúng chính là những ý nghĩa mà chúng ta nói về vốn
xã hội”.[44]
Trang 26Mạng lưới xã hội là một cấu trúc xã hội hình thành bởi những cánhân (hay những tổ chức), các cá nhân được gắn kết bởi sự phụ thuộc lẫn nhauthông những nút thắt như tình bạn, quan hệ họ hàng, sở thích chung, trao đổi tàichính, quan hệ tình dục, những mối quan hệ về niềm tin, kiến thức và uy tín[44].
Mạng lưới xã hội có thể chia theo những cấp độ khác nhau (vi mô, trunggian,vĩ mô) và mạng lưới xã hội của các cá nhân cũng có thể khác nhau Điềunày tuỳ thuộc vào vốn xã hội và vốn con người của cá nhân như thế nào, ví dụ:mạng lưới xã hội của Chủ tịch Hội đồng quản trị một tập đoàn kinh tế sẽ khácvới mạng lưới xã hội của một giáo sư xã hội học, tương tự mạng lưới xã hội củangười dân nông thôn cũng có những khác biệt so với người dân đô thị Ở tầmquốc tế, mạng lưới xã hội của Bill Gate sẽ khác xa với mạng lưới xã hội củamột người theo thuyết nữ quyền, v v[44]
Đơn giản hơn, mạng lưới xã hội là đồ thị những mối quan hệ xác định, ví
dụ như tình bạn Các nút thắt gắn kết cá nhân với xã hội chính là những mối liên
hệ xã hội của cá nhân đó Những khái niệm này thường được biểu thị trong biểu
đồ mạng xã hội, trong đó các nút thắt chính là các điểm và các mối quan hệ lànhững đường kẻ
Trên bình diện xã hội học, khái niệm mạng lưới xã hội dựa trên cơ sở lýthuyết hệ thống và tương tác xã hội Mạng lưới xã hội là một tập hợp liên kếtgiữa các cá nhân hay giữa các nhóm dân cư nhất định Thông qua những mốiliên hệ , cũng như quyền lợi và trách nhiệm chi phối những mối liên hệ đó,mạng lưới xã hội được sử dụng nhằm đạt được mục đích nhất định [1,tr.20]
Ở đây, tác giả quyết định triển khai đề tài theo hướng tiếp cận về nhữngloại mạng lưới xã hội mà sinh viên tốt nghiệp năm 2015 đã từng sử dụng trongquá trình tìm kiếm việc làm của mình để thu được cái nhìn tổng quát nhất vềhiện trạng sử dụng cũng như những hệ quả mà những mạng lưới này đem lại
Trang 27Tác giả tiến hành phân tích những khía cạnh trên theo từng loại mạng lưới xãhội khác nhau Cụ thể là mạng lưới quan hệ xã hội trong gia đình, họ hàng;mạng lưới quan hệ bạn bè; mạng lưới quan hệ xã hội của thầy cô và mạng lướiquan hệ xã hội trong những tổ chức (CLB, đội nhóm…) mà cá nhân đã tham giatrong quá trình học tập tại trường.
1.2.2 Khái niệm việc làm
Khái niệm việc làm được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau nhưkinh tế, xã hội học, lịch sử và pháp lý Khi nghiên cứu dưới góc độ lịch sử thìviệc làm liên quan đến phương thức lao động, kiếm sống của con người và xãhội loài người Các nhà kinh tế coi sức lao động thông qua quá trình thực hiệnviệc làm của người lao động là yếu tố quan trọng của đầu vào sản xuất và xemxét vấn đề thu nhập của người lao động từ việc làm Trong thống kê, điều tra xãhội, người ta quan tâm đến tỷ lệ người có việc làm và thất nghiệp, nhu cầu việclàm của xã hội Thông qua đó, các nhà quản lý nắm được tình trạng việc làm,tương quan cung - cầu lao động, sự phân bổ nguồn lực để đưa ra biện phápgiải quyết việc làm Pháp luật lại chủ yếu quan tâm đến tính hợp pháp của việclàm và giải quyết việc làm, các nội đung bảo vệ việc làm hợp pháp.[36]
Trên thế giới, quan niệm về việc làm được đưa ra dưới nhiều góc độ, vớinhững phạm vi rộng, hẹp khác nhau Giáo sư N.Y.Asuda (Nhật Bản) cho rằngviệc làm là những tác động của người lao động vào vật chất sinh ra lợi nhuận
[7,tr.9] Còn cố vấn văn phòng lao động Quốc tế Giăng Mutê đưa ra quan điểm:
Việc làm như một tình trạng, trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do
có một sự tham gia tích cực có tính chất cả nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất[7,tr.9] Theo đó, việc làm phải có yếu tố trả công trong khi sự trả công thôngthường chỉ được thực hiện trong quan hệ làm công
Ở Việt Nam, dưới góc độ ngôn ngữ học, việc làm được hiểu là: "Công
việc được giao cho làm và được trả công”[9,tr.436] Dưới góc độ pháp lý, trước
Trang 28khi có Bộ luật lao động (2012), khái niệm việc làm ở Việt Nam được hiểu thôngqua khái niệm người có việc làm Theo tài liệu của Tổng cục thống kê, sử dụngcho việc điều tra dân số (1989) thì “những người được coi là có việc làm là
những người làm việc có thu nhập, không bị pháp luật cấm” Khái niệm này
tương đối thống nhất vói quan niệm việc làm trong Bộ luật lao động hiện nay,Điều 13 Bộ luật Lao động đã định nghĩa: “mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập
và không bị pháp luật cấm, đều được thừa nhận là việc làm”. Theo định nghĩanày, các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm:
* Tất cả các hoạt động tạo ra của cải vật chất hoặc tinh thần, không bịpháp luật cấm, được trả công dưới dạng tiền hoặc hiện vật;
* Những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thunhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc không được trả côngbằng tiền hoặc hiện vật
Khái niệm việc làm theo Bộ luật Lao động bao gồm một phạm vi rấtrộng: từ những công việc được thực hiện trong các nhà máy, công sở, đến cáchoạt động hợp pháp tại khu vực phi chính quy (vốn trước đây không được coi làviệc làm), các công việc nội trợ, chăm sóc con cái trong gia đình, đều được coi
là việc làm.
Tồ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa việc làm gồm những ngườitrên một độ tuồi xác định nào đó, trong một khoảng thời gian cụ thể, có thể làmột tuần hoặc một ngày, làm việc được trả lương hay tự trả lương cho mình Vìvậy, họ là những người: Làm một số công việc được trả tiền công hoặc tiềnlương bằng tiền mặt hoặc hiện vật Có thỏa thuận lao động chính thức nhưng
tạm thời không làm việc trong thời gian được đề cập Làm một số công việc vì
lợi nhuận hoặc vì lợi ích cho gia đình dưới dạng tiền mặt hoặc hiện vật Đã làmcho một doanh nghiệp chẳng hạn như một cơ sở kinh doanh, trang trại hoặc dịch
vụ nhưng tạm thời đang không làm việc trong khoảng thời gian được đề cập đến
Trang 29vì một lý do cụ thể nào đó, được hiểu là ‘được thuê làm việc không nên gọi làviệc làm mà là những công việc hay những việc cụ thể [8]
Tóm lại, việc làm là mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị phápluật cấm, là những hoạt động được trả lương, trả công của những người trongmột độ tuổi xác định nào đó và trong khoảng thời gian cụ thể
1.2.3 Khái niệm quá trình tìm kiếm việc làm
Theo định nghĩa trong ISO 9000 thì quá trình - process được định nghĩa
là "tập hợp các hoạt động có quan hệ lẫn nhau hoặc tương tác để biến đổi đầuvào thành đầu ra" [8]
Phân tích kỹ hơn, khái niệm "quá trình" thường được dùng để chỉ các
"hoạt động" có quan hệ hoặc tương tác Ví dụ, quá trình "tuyển dụng" ám chỉmột loạt các hoạt động nhằm biến đổi "đầu vào" như nhu cầu tuyển dụng (sốlượng, năng lực, trách nhiệm, quyền hạn, chế độ đãi ngộ ), ngân sách tuyểndụng, các kênh tuyển dụng sẵn có trên thị trường, sức lao động của bộ máytuyển dụng thành "đầu ra" là ứng viên thỏa mãn các yêu cầu tuyển dụng đượctuyển Nói đến "quá trình" là nói đến các hoạt động liên quan và các đầu vàotham gia, đầu ra được tạo ra [8]
Như vậy, quá trình tìm kiếm việc làm ở đây muốn đề cập tới các hoạtđộng liên quan đến vấn đề làm thế nào để có được việc làm của các cựu sinhviên trong thời gian sau khi tốt nghiệp Họ sử dụng những vốn xã hội có sẵn củabản thân mình (và cụ thể ở đây là mạng lưới xã hội) với hy vọng sẽ tìm đượcmột công việc nào đó để làm
Trong nội dung của luận văn, quá trình tìm kiếm việc làm của các cựusinh viên tốt nghiệp trường Đại học Công đoàn năm 2015 được chia ra thànhnhững mốc thời gian từ sau khi họ tốt nghiệp Từ 1 đến 3 tháng, từ 3 đến 6tháng, từ 6 đến 12 tháng và trên 12 tháng Khía cạnh này sẽ được lồng ghépphân tích vào trong những phần sau
Trang 301.2.4 Khái niệm sinh viên tốt nghiệp
Thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ tiếng Latinh “students”, có nghĩa làngười làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm và khai thác tri thức Sinhviên là người làm việc nhưng nói chung vẫn chưa là một lao động độc lập trong
xã hội Họ chỉ là những người đang trong quá trình tích lũy phẩm chất, tri thức,
kỹ năng vv về nghề để đáp ứng yêu cầu của xã hội trong tương lai Để có thểthực hiện được điều này thì bản thân người sinh viên phải tự nỗ lực, khắc phụckhó khăn học tập, rèn luyen dưới sự hướng dẫn của giảng viên [28]
Theo các nhà tâm lý học, sinh viên, những người thuộc lứa tuổi từ 18 đến
25, đã đạt đến mức độ trưởng thành cơ bản của con người cả về thể chất lẫn tinhthần Chính sự hoàn thiện này cho phép sinh viên có thể chọn lựa và thực hiệnnhững gì có ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của họ một cách độc lậpnhư chọn nghề sau khi kết thúc học tập ở trường phổ thông, xác định lý tưởng…
vv B.G.Ananhev đã nhận định, sinh viên có khả năng lập kế hoạch và thực hiệnhoạt động một cách độc lập, có sự biến đổi mạnh mẽ về động cơ, về thang giátrị xã hội có liên quan đến nghề nghiệp, xác định con đường sống tích cực, nắmvững nghề nghiệp tương lai, bắt đầu thể nghiệm mình trong mọi lĩnh vực củacuộc sống [28]
Từ những đặc điểm đó, tác giả có thể rút ra khái niệm “sinh viên tốtnghiệp” trong đề tài này dùng để chỉ nhóm đối tượng là người học đã hoànthành chương trình đào tạo đại học ở trường Đại học Công đoàn và được cấpbằng tốt nghiệp chính quy đồng thời có nhu cầu tham gia vào thị trường laođộng Đồng thời họ đã đạt đến mức độ trưởng thành cơ bản của con người về cảthể chất lẫn tinh thần, và bắt đầu thể nghiệm mình trong mọi lĩnh vực của cuộcsống
Trang 311.3 Lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu
Mạng lưới xã hội là một phương tiện để giúp cho các cựu sinh viên tốtnghiệp trường Đại học Công đoàn năm 2015 tìm kiếm được việc làm Để cóđược một nghề nghiệp trong tương lai đúng với mong muốn, họ đã được đưa racho bản thân những sự lựa chọn công việc Mặt khác, sự tương tác của các mốiquan hệ xã hội cũng có ảnh hưởng tới việc tìm kiếm việc làm của các cựu sinhviên sau khi ra trường
1.3.1 Thuyết lựa chọn duy lý
Thuyết lựa chọn duy lý trong xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tếhọc và nhân học vào thế kỷ VIII, XIX Một số nhà triết học đã cho rằng bảnchất con người là vị kỷ, luôn tìm đến sự hài lòng, sự thoả mãn và lảng tránh nỗikhổ đau
Thuyết này gắn với tên tuổi của rất nhiều nhà xã hội học tiêu biểu như:George Homans, PeterBlau, JamesColeman…Thuyết lựa chọn duy lý dựa vàotiền đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ
để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quảtối đa với chi phí tối thiểu Tiêu biểu là định đề duy lý của Homans, cá nhân sẽlựa chọn hành động nào mà giá trị của kết quả hành động đó và khả năng đạtđược kết quả đó là lớn nhất Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnhviệc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng loại phương tiện hay cáchthức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức hiện có để đạt được mục tiêutrong điều kiện khan hiếm các nguồn lực Phạm vi của mục đích đây không chỉ
có yếu tố vật chất (lãi, lợi nhuận, thu nhập) mà còn có cả yếu tố lợi ích xã hội vàtinh thần “Sự lựa chọn chỉ hợp lý trên cơ sở đánh giá các yếu tố, các điều kiệnkhách quan của hành động từ phía bản thân chủ thể, từ góc độ chủ quan củangười ra quyết định chứ khó có thể dựa vào những tính toán chính xác” [2, tr366- 367]
Trang 32Thuyết lựa chọn duy lý được vận dụng trong mạng lưới xã hội để giúpchúng ta tìm hiểu trong những thuận lợi, khó khăn, những điều kiện sẵn có củathực tế xã hội, những mối quan hệ của các bạn cựu sinh viên sẽ đưa ra suy nghĩ
và tính toán sao cho sự lựa chọn của mình là tốt nhất, phù hợp với năng lực vànguyện vọng của các bạn cựu sinh viên
Con người luôn có xu hướng hành động dựa trên cơ sở của việc tính toánthiệt hơn Việc tìm kiếm được một việc làm cũng như vậy Trong vô vàn nhữnglựa chọn được gia đình, người thân, bè bạn đưa ra hiện nay, cựu sinh viên sẽ sẽ lựachọn những công việc nào mà có thể giúp họ thỏa mãn được nhu cầu của mình
Những tiêu chí lựa chọn, tìm kiếm công việc của các cựu sinh viên mặc
dù mang tính cá nhân nhưng nó không còn là đơn thuần hành vi mang tính cánhân mà chính là những chuẩn mực được thừa nhận bởi nhóm nhỏ, giúp quátrình tìm kiếm công việc của các bạn được trở nên thuận tiện hơn Áp dụng lýthuyết sự lựa chọn duy lý vào trong đề tài này, ta thấy việc sử dụng mạng lưới
xã hội trên thực tế được bắt nguồn từ việc các cá nhân lựa chọn trao đổi nhữnglợi ích (về vật chất hoặc tinh thần) với nhau, từ đó hình thành nên các quan hệ.Những quan hệ này dần dần được hình thành một mạng lưới, và được coi nhưvốn xã hội
1.3.2 Lý thuyết mạng lưới xã hội:
Thuyết mạng lưới xã hội là một nhánh của khoa học xã hội đã được ứngdụng cho một phạm vi rộng của tổ chức con người, từ những nhóm nhỏ cho đếntoàn bộ quốc gia Thuật ngữ “mạng lưới” liên quan đến chuỗi các vật thể, điểmmấu chốt, và một bản đồ miêu tả về mối quan hệ giữa các vật thể Theo cáchthức của mạng lưới xã hội thì các vật thể liên quan đến con người hoặc nhữngnhóm người Ví dụ, một mạng lưới có thể bao gồm một con người và quan hệcủa người đó với mỗi một người bạn cũng như người thân của anh/chị đấy Mốiquan hệ đó có thể có định hướng một chiều hoặc hai chiều [44]
Trang 33Do vậy, có thể định nghĩa một cách đơn giản, mạng lưới bao gồm tập hợpcác đối tượng (trong toán học: giao điểm) và một lược đồ hoặc sự miêu tả củamối quan hệ giữa các đối tượng đó Mạng lưới đơn giản nhất bao gồm hai đốitượng, A và B và một mối quan hệ kết nối giữa chúng, khi có nhiều hơn mộtmối quan hệ, mạng lưới xã hội được gọi theo thuật ngữ là quan hệ đa thànhphần Một trong những lý do mà thuyết về mạng lưới xã hội được nghiên cứu làbằng sự hiểu biết về mối quan hệ giữa một cá nhân đối với người khác, chúng ta
có thể đánh giá được vốn xã hội của cá nhân đó Bởi vì, vốn xã hội liên quanđến vị trí mạng lưới của khách thể và bao gồm khả năng đạt được các nguồn lực
có trong các thành viên của mạng xã hội đó Nói cách khác, mạng lưới các quan
hệ là sản phẩm của các chiến lược đầu tư, của các cá nhân hoặc tập thể, có ýthức hay không có ý thức nhằm thiết lập hoặc tái tạo các quan hệ xã hội được sửdụng trực tiếp trong giai đoạn ngắn hạn hoặc lâu dài[44]
Lý thuyết về mạng lưới xã hội được dùng trong các nghiên cứu về xã hộihọc, nhân học và nhiều chuyên ngành khoa học xã hội Mạng lưới xã hội là mộtcách tiếp cận mới với công cụ nghiên cứu được xây dựng trên 4 định đề cơ bản[2]
Các cá nhân cá thể hoá trong các mối quan hệ
Các kinh nghiệm được sử dụng và mang ý nghĩa trong các hệ thống cácmối quan hệ
Các mối quan hệ quyết định một phần các kinh nghiệm thực tế và cácbiểu hiện của nó
Nghiên cứu các mối quan hệ giúp ta hiểu được các hiện tượng xã hội.Các phân tích bằng thuyết mạng lưới xã hội xuất hiện lần đầu tiên năm
1954 trong bài viết của John A Barnes, nhà xã hội học thuộc trường pháiManchester, công bố trên tạp chí “Quan hệ con người” Những tư tưởng tiênphong xuất hiện trong triết học xã hội của Georg Simmel (đầu thế kỷ XX), tư
Trang 34tưởng tâm lý xã hội của Moreno (đầu những năm 30), nhân học cấu trúc chứcnăng của Radcliffe Brown, nhân học cấu trúc của Claude Levis-Strauss, ngônngữ học của Roman Jakobson và các lý thuyết toán học (đại số tuyến tính, matrận và các lý thuyết về đồ thị) Nghiên cứu mạng lưới hoàn chỉnh và dựa vào lýthuyết về biểu đồ và ma trận để thể hiện và phân tích các dữ liệu về quan hệnhằm làm rõ các đặc tính cấu trúc mạng lưới Đặc điểm về mặt cấu trúc của mộtmạng lưới xã hội dựa trên các yếu tố: đặc điểm của mối quan hệ (loại tương tác)định hướng – không định hướng, đối xứng – phi đối xứng, trực tiếp gián tiếp,tính đồng nhất: sự tương đồng về đặc điểm giữa các nhân tố trong mối quan hệ,sức mạnh của các quan hệ, tần xuất tương tác v.v và đặc điểm của cấu trúc:kiểu quan hệ, mật độ của các mạng lưới, khoảng cách giữa các thành viên trongmạng lưới, các dạng thức tập trung, những lỗ hổng cấu trúc v.v… [2].
Qua việc áp dụng lý thuyết mạng lưới xã hội vào đề tài, ta nhận thấy rằngnhững mối quan hệ trong mạng lưới xã hội đều đóng vai trò trong việc hìnhthành nên vốn xã hội Mạng lưới xã hội ở đây có thể là các mối quan hệ sinhviên đã ra trường có được qua người thân, bạn bè, hoặc do chính bản thân sinhviên đã tự tạo ra cho mình trong quá trình học tập hoặc tham gia các hoạt độngkhi còn ở trong nhà trường
1.4 Địa bàn nghiên cứu
Ngày 15 tháng 5 năm 1946, lớp đào tạo cán bộ Công vận đầu tiên đượckhai giảng tại đình Khuyến Lương, xã Trần Phú, huyện Thanh Trì, thành phố
Hà Nội Sự kiện này đã mở đầu cho lịch sử 70 năm xây dựng và trưởng thànhcủa Trường Đại học Công đoàn Việt Nam 70 năm qua, dưới sự lãnh đạo củaĐảng, Nhà nước, sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
và sự hướng dẫn, giúp đỡ của Bộ Giáo dục - Đào tạo, các thế hệ cán bộ, giảngviên, công nhân viên và sinh viên nhà trường đã đoàn kết, phấn đấu xây dựngtrường trở thành trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trung tâm nghiên cứu lý
Trang 35luận của tổ chức Công đoàn Việt Nam, thành viên của hệ thống giáo dục - đàotạo quốc gia, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhấtđất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [17].
Ngày 19/05/1992 Trường Cao cấp Công đoàn được Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ra quyết định đổi tên thành TrườngĐại học Công đoàn Trường Đại học Công đoàn là trường đại học đa ngành, đacấp trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và chịu sự quản lý vềchuyên môn của Bộ Giáo dục - Đào tạo Từ năm 1992 đến nay, trường Đại họcCông Đoàn Việt Nam vừa thực hiện chức năng đào tạo cán bộ cho tổ chứcCông đoàn (chỉ tiêu do Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Namgiao), vừa góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội (theo chỉ tiêu Nhà nướcgiao), từng bước khẳng định vị trí và uy tín của Nhà trường trong xã hội [17]
Đào tạo sau đại học của Nhà trường bắt đầu từ tháng 10 năm 2007 Hiệnnay, Trường đã có:
01 chuyên ngành đào tạo trình độ tiến sỹ Quản trị nhân lực;
05 chuyên ngành Thạc sĩ (Quản trị nhân lực, Quản trị Kinh doanh, Quản
lý An toàn và sức khỏe nghề nghiệp, Xã hội học và Kế toán);
09 ngành đào tạo trình độ đại học, đào tạo bằng 2 và đào tạo song ngành(Quan hệ lao động, Quản trị kinh doanh, Quản trị nhân lực, Kế toán, Tài chínhngân hàng, Bảo hộ lao động, Xã hội học, Công tác xã hội, Luật);
03 ngành đào tạo cao đẳng (Quản trị kinh doanh, Kế toán, Tài chính ngânhàng), đào tạo liên thông từ trung cấp, cao đẳng lên đại học
Tổng quy mô sinh viên hệ chính quy và không chính quy hàng năm củaTrường là hơn 10.000 sinh viên Cùng với đào tạo chính quy, đào tạo sau đạihọc, Trường tiếp tục đào tạo hệ vừa làm vừa học, đào tạo liên thông các ngành
Để góp phần vào nhiệm vụ chiến lược xây dựng giai cấp công nhân và tổchức Công đoàn Việt Nam ngày càng vững mạnh, Trường Đại học Công đoàn
Trang 36tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho phong trào côngnhân, cho tổ chức Công đoàn Việt Nam Chương trình đào tạo Đại học phần lýluận và nghiệp vụ công đoàn được bắt đầu từ năm 1996 Bằng việc phối hợp vớiLiên đoàn Lao động các tỉnh, thành phố, Công đoàn ngành Trung ương, côngđoàn các tổng công ty, nhà máy xí nghiệp, các lớp bồi dưỡng tập huấn đã được
mở ra, thu hút hàng vạn lượt người tham gia, góp phần vào nhiệm vụ tuyêntruyền, giáo dục của công đoàn Việt Nam
Hiện nay, nhà trường mở các lớp đào tạo về Bảo hộ lao động, Kế toán,Luật, Tài chính ngân hàng… cho nhiều tỉnh và tập đoàn kinh tế trong cả nước.Nhà trường đào tạo các lớp văn hóa quần chúng cho cán bộ công đoàn; tổ chứcđào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học ứng dụng cho các đối tượng có nhu cầu,nhà trường tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn theo chuyên đề cho cán bộ côngđoàn các cấp [17]
Tuy hiện tại nhà trường có 9 ngành đào tạo, nhưng ngành quan hệ laođộng mới được mở vào năm 2015.Vì vậy, trong năm 2015 chỉ có 8 ngành cócựu sinh viên tốt nghiệp Cụ thể, trong đó có 243 sinh viên tốt nghiệp ngànhquản trị kinh doanh, 221 sinh viên tốt nghiệp ngành tài chính ngân hàng, 198sinh viên tốt nghiệp ngành kế toán, 99 sinh viên tốt nghiệp ngành xã hội học,96sinh viên tốt nghiệp ngành quản trị nhân lực, 96 sinh viên tốt nghiệp ngành côngtác xã hội, 93 sinh viên tốt nghiệp ngành luật và 90 sinh viên tốt nghiệp ngànhbảo hộ lao động [17]
Trải qua 70 năm xây dựng và trưởng thành, trường Đại học Công đoàn đãđạt được kết quả trên các mặt hoạt động, và đang ngày càng khẳng định được vịthế của mình trong xã hội
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Trang 37Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu khái quát những vấn đề liênquan đến nội dung nghiên cứu của đề tài thông qua các bài viết trên sách, báo,tạp chí chuyên ngành, các công trình nghiên cứu về mạng lưới xã hội, về vấn đềtìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi ra trường Đồng thời, qua đó có sự sosánh, đối chiếu làm phong phú nội dung đang tiến hành tìm hiểu Các thông tinthu thập được tác giả kế thừa và sử dụng một cách có chọn lọc, sáng tạo.
1.5.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp này giúp cho tác giả có những lý giải sâu hơn về vấn đềnghiên cứu thông qua việc làm rõ hơn động cơ, mục đích cũng như bản chất củavấn đề Cụ thể như tại sao lại sử dụng loại mạng lưới xã hội đó trong tìm kiếmcông việc hiện tại, hoặc những hệ quả mà mạng lưới xã hội đem lại trong quátrình tìm kiếm việc làm Trong đề tài này tác giả thực hiện 05 phỏng vấn sâu.Trong đó gồm: 01 phỏng vấn sâu cựu sinh viên khoa Xã hội học, 01 phỏng vấnsâu cựu sinh viên khoa kế toán, 01 phỏng vấn sâu cựu sinh viên tài chính ngânhàng, 01 phỏng vấn sâu cựu sinh viên quản trị kinh doanh và 01 phỏng vấn sâucựu sinh viên khoa bảo hộ lao động
1.5.3 Phương pháp trưng cầu ý kiến
Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi là phương pháp nghiên cứuchủ đạo để thu thập thông tin cho nghiên cứu này Tác giả tiến hành trưng cầu ýkiến các cựu sinh viên để thu được các câu trả lời vào các phiếu thu thập thôngtin Câu trả lời của cựu sinh viên được hỏi chính là nguồn thông tin đáng giácho đề tài
Công cụ thu thập thông tin là phiếu hỏi – bảng hỏi được thiết kế sẵn.Bảng hỏi sau khi thu về sẽ được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS để xử
lý ra số liệu sử dụng cho quá trình viết báo cáo
Bên cạnh đó, việc chọn mẫu điều tra cho đề tài được tính theo công thứcsau:
Trang 38Tổng số sinh viên tốt nghiệp của trường Đại học Công đoàn trong năm
2015 là 1136 sinh viên Từ đó, để được mẫu đại diện tác giả sử dụng cách tínhmẫu tỷ lệ theo công thức sau [40]:
n = Nt² x pq
N² + t² pqTrong đó: n: Dung lượng mẫu cần chọn
N: Tổng thể nghiên cứut: Hệ số tin cậy của thông tin
: Phạm vi sai số chọn mẫuPq: Phương sai của tiêu thức thay phiên (0,25)
Sau khi thu thập thông tin bằng bảng hỏi, tác giả đã thống kê được cơ cấu mẫu của đề tài như sau:
Trang 39Bảng 1.1 Cơ cấu mẫu
ra, một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu trường Đại học Công đoàn đã giúp
Trang 40tác giả lý giải, phân tích cho việc đưa ra những hệ quả của mạng lưới xã hội đếnviệc tìm kiếm việc làm của các cựu sinh viên tốt nghiệp năm 2015.