Người đồng tính thường được liên tưởng tới các tệ nạn xã hội như nghiện ngập, lừa đảo, giết người cướp của, là nguyên nhân của các bệnh tình dục như HIV/AIDS, giang mai…Do thiếu thông ti
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đặng Thị Thu Hương – Viện trưởng Viện đào tạo Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Các số liệu, kết quả nghiên cứu được nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Học viên
Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện luận văn này, lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS.TS Đặng Thị Thu Hương, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi, giúp tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình tìm kiếm tài liệu, cũng như trình bày luận văn Từ khi lên ý tưởng đến khi triển khai đề tài, tôi đã nhận được nhiều sự góp ý của cô để bổ sung, sửa chữa và hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa, các giảng viên của Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại Khoa
Tôi xin gửi lời cảm ơn và biết ơn đến gia đình, các anh, chị và bạn bè
đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN iii
BẢNG TỪ VIẾT TẮT, TỪ NƯỚC NGOÀI vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn đề tài 9
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN THÔNG VỀ NGƯỜI LGBT 11
1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 11
1.2 Một số vấn đề về cộng đồng LGBT hiện nay 16
1.3 Đặc trưng, đặc điểm của báo in và vai trò của báo in trong việc thông tin về cộng đồng LGBT 26
Tiểu kết chương 1 35
Chương 2: VẤN ĐỀ CỘNG ĐỒNG LGBT TRÊN NHỮNG TỜ BÁO TRONG DIỆN KHẢO SÁT 36
2.1 Giới thiệu về những tờ báo được lựa chọn nghiên cứu 36
2.2 Tần suất thông tin về cộng đồng LGBT trên báo in 41
2.3 Đặc điểm nội dung thông tin các tác phẩm về cộng đồng LGBT trên báo in 44
Trang 62.4 Đặc điểm hình thức trong các tác phẩm về cộng đồng LGBT trên báo in 63 2.5 Sự khác biệt và nguyên nhân của sự khác biệt trong các tác phẩm về cộng đồng LGBT năm 1997 và 2017 80Tiểu kết chương 2 81
CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN VỀ HÌNH ẢNH NGƯỜI LGBT 84
3.1 Thành công và hạn chế trong việc thông tin về cộng đồng LGBT 82 3.2 Các vấn đề đặt ra trong truyền thông về cộng đồng LGBT 90 3.3 Giải pháp để nâng cao chất lượng tuyên truyền về cộng đồng LGBT 99 Tiểu kết chương 3 105
KẾT LUẬN 106 TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 7CSAGA
Trung tâm Nghiên cứu & Ứng dụng khoa học
về Giới, Gia đình, Phụ nữ và Vị thành niên
và chuyển giới Việt Nam Trans/transgender Người chuyển giới
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
LGBT (hay đồng tính luyến ái, cách gọi chung của đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới) là hiện tượng đã tồn tại từ rất lâu Các tài liệu về xã hội học đã chỉ ra, tình yêu, tình dục đồng giới từng được coi là có thể chấp nhận được ở nhiều thể chế xã hội thời xưa như La Mã cổ đại (thế kỷ thứ 8 TCN – thế kỷ 5 SCN), Châu Âu thời Phục hưng (thế kỷ XV – XVII), Trung Quốc thời kỳ phong kiến (thế kỉ thứ 2 TCN – thế kỷ 17 SCN) Trong cuốn sách của tác giả Dover, K.J viết về hiện tượng đồng tính luyến ái thời kỳ
Hy Lạp có nói rằng: Mối quan hệ giữa một người đàn ông lớn tuổi và một cậu trai chưa có râu trở nên là một mẫu mực lý tưởng của truyền thống Mối quan
hệ trên có lợi cho cả hai Người đàn ông lớn tuổi sẽ chăm sóc, giáo huấn, bảo
vệ, yêu thương và là một tấm gương cho người yêu trẻ, trong khi người yêu trẻ thì dâng hiến sắc đẹp, sự trẻ trung, niềm ngưỡng mộ, và tình yêu [43] Những cuộc vận động cho quyền của người đồng tính cũng làm dấy lên một
số tranh cãi, song còn rất yếu ớt Suốt một thời gian dài, nhìn chung, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xếp đồng tính là bệnh tâm thần, là một thứ tội lỗi khủng khiếp Trong xã hội, người đồng tính bị lên án, bị bắt nhốt, đi tù nhiều năm, thậm chí xử tử hình Trên báo chí, câu chuyện về họ thường được coi là một dạng “chuyện lạ”, chuyện đáng kì thị
Ngày 17 tháng 05 năm 1990, Tổ chức Y tế thế giới WHO đã chính thức loại đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách bệnh tâm thần Đây là một bước ngoặt đối với cộng đồng LGBT Từ đây, họ mạnh mẽ cất lên tiếng nói của cộng đồng mình, nhằm xóa bỏ quan niệm sai lầm trong xã hội và hưởng quyền được sống bình đẳng như những người dị tính Tuyên bố năm 1990 của WHO cũng trở thành một dấu mốc đối với báo chí trong việc tiếp nhận và chuyển tải thông tin về cộng đồng LGBT Nó cung cấp cơ sở khoa học vững
Trang 9chắc để báo chí đào sâu khai thác, tìm hiểu, nhằm cung cấp kiến thức, thông tin chính xác, dần thay đổi quan niệm sai lầm của công chúng về một “hiện tượng” gây tranh cãi Báo chí đã cùng đồng hành với cộng đồng LGBT trong nhiều cuộc vận động, đấu tranh vì quyền bình đẳng, tự do Nhiều thông tin khoa học về tâm sinh lý của người đồng tính đã được đăng tải Những tài năng, nghị lực sống mạnh mẽ, câu chuyện cảm động nhận được sự đồng cảm
và trân trọng từ xã hội Không ít ngôi sao nổi tiếng, các chính trị gia thẳng thắn thừa nhận xu hướng tính dục của mình, trở thành tấm gương để nhiều người trong cộng đồng LGBT tự tin bước ra “ánh sáng”, thể hiện con người mình Đổi lại, sự cởi mở của người đồng tính đối với truyền thông mang lại cho báo chí nguồn chất liệu phong phú Càng được tiếp cận đúng người, hiểu
họ một cách thấu đáo, báo chí càng chuyển tải thông tin đa chiều, chính xác hơn Có thể nói, báo chí đã trở thành kênh thông tin hiệu quả, góp tiếng nói mạnh mẽ thúc đẩy sự thay đổi một cách có hệ thống nhận thức của công chúng với cộng đồng LGBT Trên thế giới, nhiều quốc gia đã sửa đổi luật pháp, chính thức trao quyền cho người đồng tính Tới nay, đã có 23 quốc gia hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới
Tại Việt Nam, trước năm 2008, đồng tính là một khái niệm khá mơ hồ Phần đông công chúng trong giai đoạn này đều nhận định đây là hiện tượng bất thường, trái tự nhiên, bệnh hoạn Người đồng tính thường được liên tưởng tới các tệ nạn xã hội như nghiện ngập, lừa đảo, giết người cướp của, là nguyên nhân của các bệnh tình dục như HIV/AIDS, giang mai…Do thiếu thông tin khoa học, do sự né tránh của người đồng tính và các quan niệm xã hội, báo chí Việt Nam thường tập trung khai thác khía cạnh tiêu cực, các góc tối của cộng đồng những người đồng tính, tạo nên cái nhìn không thật sự đầy đủ về nhóm người này Chỉ có 1 số ít bài báo mạnh dạn đi ngược lại với suy nghĩ của số đông thời bấy giờ Tuy nhiên, những biến chuyển mạnh mẽ trong đời sống chính trị - xã hội thế giới đã ảnh hưởng tới đời sống chính trị - xã hội tại
Trang 10Việt Nam Hoạt động báo chí trong nước cũng không thể tách rời guồng quay của báo chí toàn cầu Bắt kịp thay đổi về mọi mặt đời sống trong và ngoài nước để chuyển tải thông tin chính xác – kịp thời, định hướng dư luận luôn là nhiệm vụ cơ bản của những người làm báo Tiếp nối hiệu ứng trên thế giới, cộng đồng LGBT tại Việt Nam bắt đầu có những bước đi mạnh dạn hơn Cùng lúc này, báo chí Việt Nam cũng trở thành cầu nối tin cậy giữa người đồng tính với xã hội Đặc biệt, sự bùng nổ của internet, của báo điện tử và các mạng xã hội giúp những người làm báo Việt Nam tiếp cận nhanh chóng với nguồn dữ liệu khoa học khổng lồ cũng như thông tin đã qua chọn lọc, kiểm chứng trên các phương tiện truyền thông thế giới Những thay đổi trong cách tiếp cận vấn đề và chuyển tải thông tin của báo chí Việt Nam đã góp phần làm thay đổi tư duy, nhận thức xã hội, khiến người đồng tính, từ chỗ bị kỳ thị, xa lánh, đến dần dần được chấp nhận
Ngày 19 tháng 6 năm 2014, Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2015 Trong
đó, Khoản 5 Điều 10 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định cấm kết hôn “giữa những người cùng giới tính” đã bị bỏ ra khỏi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Mặc dù cho đến hiện tại, Nhà nước Việt Nam chưa thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính, nhưng việc bỏ cấm kết hôn đồng giới cho thấy nhận thức ngày càng rõ của xã hội, dẫn đến việc các nhà lập pháp đã thay đổi quan điểm về vấn đề này Trong bài tham luận năm 2013 gửi về Bộ Tư pháp, PGS-TS Nguyễn Viết Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế đã đề xuất cho phép kết hôn đồng tính Theo Thứ trưởng Tiến, đứng ở góc độ y tế thì đồng tính không phải là một loại bệnh Tác giả luận văn đánh giá, cách thức truyền tải thông tin về người đồng tính trên các phương tiện thông tin đại chúng qua các thời kỳ là một ví dụ điển hình về đặc điểm, vai trò của báo chí cũng như tác động qua lại của nó với xã hội Nói cách khác, báo chí thể hiện năng lực nhận thức, trình độ phát triển của xã hội mà nó đại diện Nhưng
Trang 11đồng thời, báo chí cũng là ngọn cờ đầu trong việc tuyên truyền thông tin mới
mẻ, chính xác, định hướng dư luận hướng tới những điều tốt đẹp, đính chính, loại bỏ những quan niệm công chúng Với nội dung thông tin có định hướng đúng đắn, chân thật, có sức thuyết phục, báo chí có khả năng hình thành dư luận xã hội, dẫn đến hành động xã hội, phù hợp với sự vận động của hiện thực theo những chiều hướng có chủ định [30] Do đó, tác giả luận văn lựa chọn đề
tài “Hình ảnh cộng đồng LGBT trên báo in – Những khác biệt sau 2 thập kỷ”
để có cái nhìn cụ thể về hình ảnh những người đồng tính, song tính, chuyển giới trên phương tiện truyền thông đại chúng nói chung và báo in nói riêng Nghiên cứu này nhằm đánh giá, phân tích sự thay đổi của báo chí trong cách tiếp cận và đưa tin về đề tài này suốt 20 năm qua; qua đó, chỉ rõ đặc điểm, vai trò, hiệu quả của hoạt động báo chí
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Qua quá trình tìm hiểu về các luận văn, luận án, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tác giả nhận thấy, phần lớn các công trình về người LGBT tập trung chủ yếu ở các ngành Xã hội học, Luật học hay Công tác xã hội để phân tích thực trạng cộng đồng LGBT trong mối tương quan với xã hội, pháp luật hay quyền con người Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề giới và giới tính trên truyền thông có thể kể đến như sau:
Đề tài Bất bình đẳng giới trong các quảng cáo tuyển dụng trên báo in là nghiên cứu thực hiện năm 2006, phối hợp giữa Viện nghiên cứu về xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE) và Khoa Xã hội học - Học viện Báo chí và Tuyên truyền Nghiên cứu này đã khảo sát trên một số báo in nhằm xem xét vấn đề giới trong các quảng cáo tuyển dụng để từ đó đánh giá cơ hội việc làm
mà nhà tuyển dụng đưa ra đối với nam giới và nữ giới Kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng cách giới vẫn tồn tại ở một vài khía cạnh cụ thể Tuy vấn đề giới trong cơ hội tuyển dụng không có sự chênh lệch quá lớn nhưng vẫn tồn
Trang 12tại những định kiến giới theo hướng có lợi cho các ứng viên là nam giới hơn
nữ giới
Nghiên cứu "Định kiến giới trên báo chí Việt Nam" của tác giả Trần Thị Yến Minh - ThS Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế - Xã hội Đà Nẵng từ trang 47 đến trang 53 ThS Minh chỉ ra mức độ của định kiến giới trong những thông điệp báo chí có chứa đựng hình ảnh nữ qua việc khảo sát hình ảnh nữ trên các tờ báo in Tuổi trẻ, Đà Nẵng, Công an thành phố Đà Nẵng, Phụ nữ Việt Nam, Sinh viên Việt Nam trong quý I năm 2014 Qua khảo sát 381 số báo với 575 mẫu đề cập đến giới nữ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, tác giả nghiên cứu nhận thấy rằng bên cạnh những định hướng đúng đắn, hình ảnh giới, đặc biệt là chân dung nữ giới trên báo chí trong nhiều trường hợp vẫn còn bị miêu tả một chiều, năng lực và vị thế của nữ chưa được báo chí nhìn nhận đúng mức Nguyên nhân của hiện trạng này là do bức tranh bình đẳng giới trong thực tế vẫn còn tồn tại nhiều mảng tối màu Với tư cách người ghi chép một cách chân thực nhất, những người làm báo buộc phải phản ánh chân xác những chi tiết của hiện thực khách quan Tuy nhiên, không thể phủ nhận một thực tế là các đơn vị truyền thông chưa coi trọng mục tiêu truyền thông về giới, dẫn đến tần số xuất hiện của hình ảnh nữ trên báo chí còn khiêm tốn và phi định kỳ Việc thiếu góc nhìn giới cũng khiến thông điệp truyền thông về bình đẳng giới và
sự tiến bộ phụ nữ trong các tác phẩm báo chí cũng không rõ ràng và quyết liệt Đồng thời, bản thân phóng viên cũng tồn tại định kiến với giới nữ Nhiều phóng viên thuộc cả hai giới quan niệm sự phân vai nam - nữ là sự phân công lao động tự nhiên, phù hợp với quy luật của tạo hóa và xã hội Những mầm mống định kiến là nguyên nhân sâu xa của mảng màu bất bình đẳng trên bức
chân dung nữ giới trên báo chí hiện nay Chính vì vậy “truyền thông đóng vai
trò quan trọng trong việc cổ vũ cho những lựa chọn hướng về tiến bộ và phát triển của văn hóa, nhưng cũng có thể góp phần làm kìm hãm phát triển Khi
Trang 13hướng đến những giá trị tích cực, truyền thông đang tự làm mới và tôn vinh vị trí của mình trong xã hội và trong lòng người đọc” [21] Nghiên cứu mang
tên "Báo chí và định kiến giới đối với lãnh đạo nữ" của nhóm học giả ngành
truyền thông gồm TS Vũ Tiến Hồng; Thạc sỹ Dương Trọng Huế, TS Barbara Barnett và TS Tien-Tsung Lee nghiên cứu bằng ngân sách của tổ chức Oxfam tại Việt Nam thực hiện cuối năm 2015, đầu năm 2016 Báo cáo này chỉ ra rằng khi viết về nữ lãnh đạo, báo chí có xu hướng mô tả họ gắn liền với các vai trò truyền thống như chăm sóc gia đình, con cái, nội trợ Mặc dù
số bài báo đề cập đến nam lãnh đạo chiếm tỷ lệ nhiều hơn nhưng lượng bài đề cập đến các thông tin bên lề về họ rất ít Qua khảo sát các phóng viên, nhà báo, những người trực tiếp sản xuất thông tin thì nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng mọi hoạt động tác nghiệp thể hiện định kiến giới diễn ra một cách hoàn toàn “vô thức.” Nghĩa là kể cả những nhà báo đã từng tham dự tập huấn về bình đẳng giới đều không nhận ra rằng thông tin mà họ chọn lựa khi đưa tin
về nữ lãnh đạo thiếu yếu tố nhạy cảm giới
Liên quan trực tiếp đến người LGBT trên truyền thông, có một số nghiên cứu được thực hiện bởi các tổ chức xã hội hay trường đại học như:
Đề tài “Hình ảnh người đồng tính trên báo mạng và báo in”, nhóm
nghiên cứu của khoa Xã hội học - Học viện Báo chí và tuyên truyền thực hiện năm 2008 là một nghiên cứu trên một số tờ báo in và báo mạng Qua công trình nghiên cứu này thấy được số lượng các bài báo liên quan đến người đồng tính tăng dần theo thời gian Nghiên cứu cũng chỉ ra vấn đề về người đồng tính trên báo in và báo mạng trong thời gian khảo sát này thường xuất hiện như là chủ đề phụ trong bài viết hơn, rất ít các bài viết mà người đồng tính là chủ đề chính Trong nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ bài viết có ngôn từ, quan điểm thể hiện sự kỳ thị với nhóm người xu hướng tình dục thiểu số tương đối cao Đề tài này khá gần với đề tài mà tác giả chọn nghiên cứu nhưng thực hiện vào năm 2008 đã khá cũ so với tình hình xã hội hiện tại Đặc
Trang 14biệt, trong khoảng thời gian khoảng 10 năm trở lại đây, truyền thông đã có nhiều thay đổi trong cách nhìn nhận nhóm người LGBT Đáng chú ý nhất là các dự án tập huấn, các buổi hội thảo, workshop cung cấp thông tin, kiến thức
về người đồng tính, song tính, chuyển giới cho giới truyền thông, báo chí của Viện Nghiên cứu Kinh tế - Xã hội và Môi trường (iSEE) nhằm mục đích xóa
bỏ kỳ thị và định kiến của xã hội đối với người đồng tính tại Việt Nam Bên cạnh đó, đề tài của nhóm nghiên cứu khoa Xã hội học cũng chưa chỉ ra quá trình biến đổi của một giai đoạn, đi sâu phân tích các số liệu thu thập được
“Thông điệp truyền thông về đồng tính luyến ái trên báo in và báo mạng” là một nghiên cứu kết hợp giữa Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và
Môi trường (iSEE) và Khoa Xã hội học, Học viện Báo chí Tuyên truyền Nghiên cứu này đi sâu phân tích nội dung của các tác phẩm báo in và báo mạng nhằm tìm ra tính chất của những thông điệp về người đồng tính mà báo chí gửi tới xã hội Nghiên cứu này đã đánh giá về cách mà một số báo in, báo mạng đưa tin, bình luận về người đồng tính, phân tích sự thay đổi theo thời gian trong cách báo chí đưa tin về nhóm cộng đồng tình dục thiểu số này Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sơ bộ đánh giá về khả năng thông điệp báo chí gây
ra kỳ thị hoặc chống kỳ thị đối với người đồng tính Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chưa đi sâu phân tích các bài viết và lý giải nguyên nhân về sự thay đổi nội dung, thái độ đối với người đồng tính dựa trên cơ sở lý thuyết báo chí học Nghiên cứu khảo sát trên 502 bài báo về người đồng tính và các vấn đề liên quan đến đồng tính đăng trên 4 báo in vào năm 2004, 2006 và 2 quý đầu năm
2008 Khoảng thời gian nghiên cứu được thực hiện cách thời điểm hiện tại đã trên dưới 10 năm nên không còn mang tính thời sự, xã hội nữa Thời kỳ 10 năm trở lại đây, xã hội đang vận động mạnh mẽ theo chiều hướng tích cực, cởi mở hơn rất nhiều với cộng đồng LGBT Những bài báo mang văn phong, ngôn ngữ của sự kỳ thị người đồng tính đã giảm rất nhiều, thay vào đó là ngôn ngữ mang sắc thái trung tính và tích cực Những vấn đề này không có trong nghiên cứu thực hiện năm 2008 của Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế
Trang 15và Môi trường Đặc điểm của báo chí là luôn luôn song hành phản ánh một cách khách quan mọi hoạt động của xã hội, đồng hành cùng sự phát triển của văn hóa, tư tưởng của xã hội nói chung nên việc có một nghiên cứu mới hơn
về vấn đề người đồng tính trên truyền thông là rất cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài, luận văn tập trung nghiên cứu hình ảnh cộng đồng những người LGBT được khắc họa thông qua những bài báo trên các tờ báo in được chọn khảo sát; thông qua
đó chỉ ra sự thay đổi, khác biệt trong cách đưa tin về cộng đồng người LGBT sau thời gian 20 năm, từ đó đánh giá các thành công, hạn chế của các tờ báo
và đề xuất các giải pháp giúp cho các cơ quan báo chí thực hiện tốt hơn nhiệm
vụ của mình
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được các mục đích nêu trên, đề tài thực hiện các nhiệm vụ như sau:
Hệ thống hóa các lý luận liên quan đến đề tài
Nghiên cứu chân dung cộng đồng người LGBT qua những bài báo trên các tờ báo in được chọn khảo sát
Đưa ra những nhận định về sự thay đổi, khác biệt trong cách đưa tin về người LGBT trên báo in vào năm 1997 và 20 năm sau, năm 2017
Đề xuất các giải pháp giúp cho các cơ quan báo chí thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là Hình ảnh người LGBT trên
báo in – những khác biệt sau 2 thập kỷ
Trang 164.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn này nghiên cứu ở phạm vi các bài báo in có đăng tin về người LGBT trên 10 tờ báo in: Lao động, Tiền phong, Phụ nữ Việt Nam, Báo Thanh Niên, Gia đình Việt Nam, Giáo dục và thời đại, Công an nhân dân, Hà nội mới, Tuổi trẻ năm 1997 và năm 2017
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tài liệu để hệ thống hóa tất cả các văn bản, các nghiên cứu, các công trình khoa học đã công bố liên quan đến cộng đồng người LGBT
Phương pháp phân tích nội dung thông điệp để phân tích các bài báo viết về cộng động người LGBT trên các tờ báo trong diện khảo sát Tác giả lựa chọn các bài viết mà tiêu đề hoặc nội dung có chứa các từ khóa tương đối phổ biến trong xã hội khi nói về người đồng tính, song tính, chuyển giới gồm: đồng tính, đồng tính luyến ái, song tính, chuyển giới, tình dục đồng giới, mại dâm nam, pê đê, á nam, á nữ, ái nam, ái nữ, bóng, bóng lại cái, lại cái, lại đực, bóng kín, bóng lộ, gay, gay kín, gay lộ, les, lesbian, ô môi, lưỡng tính, đồng bóng, bóng cô, bóng cậu, thái giám, hoạn quan, thích người cùng giới, đồng tính giả, đồng tính thật, nam thích nam/đàn ông/bé trai, công khai giới tính
Phương pháp phỏng vấn sâu người làm báo, chuyên gia về giới, công chúng báo chí để từ đó thấy được sự nhìn nhận, đánh giá của họ về những gì đã được đăng tải trên báo chí, báo in nói chung và những tờ báo khảo sát nói riêng
6 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn vận dụng lý thuyết chức năng, lý thuyết hành vi để lý giải thực tế đưa tin về người LGBT được đăng tải trên báo in Từ đó đưa ra một số nhận xét về cách đưa tin, hình ảnh người LGBT hiện ra trên báo in
Trang 17là cơ hội để tác giả được nâng cao tầm hiểu biết, kiến thức của bản thân về vấn đề người đồng tính, song tính, chuyển giới
Trang 18CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
TRUYỀN THÔNG VỀ NGƯỜI LGBT 1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1 Khái niệm hình ảnh
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học nêu thì "hình ảnh" là
"Hình người, vật, cảnh tượng thu được bằng khí cụ quang học (như máy ảnh)
hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc" [38]
"Từ điển từ và ngữ Việt Nam" do NXB Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2000 định nghĩa rằng: "hình: dáng bên ngoài; ảnh: hình thu được", hình ảnh là "đường nét, màu sắc, dung mạo của người hay vật được phản
chiếu vào trong trí óc" [13]
Trong triết học, hình ảnh được coi là kết quả của sự phản ánh khách thể, đối tượng vào ý thức con người Ở góc độ cảm tính thì hình ảnh là những cảm giác, tri giác và biểu tượng Ở góc độ tư duy, hình ảnh là những khái niệm, phán đoán và suy luận Về mặt nguồn gốc, hình ảnh là khách quan, về cách nhận thức tồn tại, hình ảnh là chủ quan Hình thức thể hiện vật chất của hình ảnh là các hành động thực tiễn, ngôn ngữ, các mô hình ký hiệu khác nhau Khi chưa có chữ viết, con người dùng biểu tượng, hình vẽ làm phương tiện chuyển tải thông tin Đó là cách sơ khai nhất để lưu lại những hình ảnh trong tâm trí con người Sau này, khi có chữ viết, con người dùng chữ viết để khắc họa hình ảnh của sự vật, hiện tượng xã hội xung quanh Một chủ thể không chỉ được hiện lên qua những hình vẽ mà còn qua cách miêu tả bằng ngôn ngữ, chữ viết Hình ảnh còn phụ thuộc vào cách nhìn nhận, khía cạnh quan sát của đối tượng tiếp nhận, vì vậy, cùng một sự vật, hiện tượng nhưng mỗi đối tượng lại hình thành nên một hình ảnh khác nhau trong tâm trí Hình ảnh là khoa học và nghệ thuật mô phỏng, mô tả về một đối tượng nhất định; là những hình dung về con người, đồ vật, tổ chức được hình thành trong nhận
Trang 19thức công chúng với sự trợ giúp của các lĩnh vực như báo chí, truyền thông, quảng cáo Có thể nói, hình ảnh là sự quy tụ một cách cô đọng nhất bản chất con người, một sự vật, hiện tượng; là ấn tượng chung mà con người, tổ chức giới thiệu đến công chúng Từ những nghiên cứu trên, tác giả khái quát lại khái niệm hình ảnh là một ngôn ngữ đặc biệt được con người cảm nhận bằng các giác quan và ghi vào bộ não của mình về thế giới xung quanh thông qua các phương tiện vật chật cụ thể như loa, đài, máy quay, giấy, hệ thống máy tính mạng internet Đối với báo chí, hình ảnh sao chép, phản ánh một cách trung thực, khách quan bản chất sự việc chứ không tồn tại độc lập với đối tượng được phản ánh Từ khái niệm "hình ảnh", có thể liên hệ tới khái niệm
"hình ảnh cộng đồng LGBT" là những ấn tượng về người LGBT được khắc
họa nên, tạo ra thông qua diện mạo, công việc, cuộc sống, mối quan hệ với xã hội xung quanh
Trong luận văn này, hình ảnh cộng đồng LGBT bao hàm tất cả những
gì liên quan đến đối tượng người LGBT Hình ảnh đó là kết quả của những gì người LGBT được truyền thông phản ánh, khắc họa trên báo chí
1.1.2 Khái niệm báo chí, báo in
Báo chí ra đời và phát triển dưới sự tác động, chi phối của nhiều yếu tố, điều kiện như nhu cầu thông tin giao tiếp, sự phát triển của khoa học kỹ thuật
và công nghệ, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, chế độ chính trị - xã
hội của mỗi nước và mối quan hệ giao lưu quốc tế [32] Từ khi xuất hiện, báo
chí đã nhanh chóng trở thành một trong những lĩnh vực trọng điểm của đời sống xã hội bởi khả năng phản ánh hiện thực của nó Cũng như những hình thái ý thức xã hội khác, báo chí luôn lấy hiện thực khách quan làm đối tượng phản ánh
Trong hoạt động báo chí, có thể định nghĩa: “Thông tin là phần tri thức
được sử dụng để định hướng, tác động đến những hành động tích cực và quản
Trang 20lý xã hội, thực hiện mục đích giữ gìn những đặc điểm phẩm chất, sự hoàn thiện và sự phát triển hệ thống” [43] Báo in là một trong những loại hình của
báo chí, là phương tiện truyền thông không thể thiếu của đời sống xã hội sử dụng ngôn ngữ viết, hình ảnh tĩnh (ảnh đồ hình đồ hoạ) để chuyển tải các sự kiện vấn đề xảy ra trong đời sống xã hội, mang tính thời sự, chân thực khách quan, thông qua kỹ thuật in ấn
Theo Tiến sĩ Hà Huy Phượng, “Báo in là thuật ngữ chỉ một loại hình
báo chí định kỳ thông tin thời sự các sự kiện, các vấn đề trong đời sống xã hội thông qua việc sử dụng ngôn ngữ chữ viết và kỹ thuật in ấn để chuyển tải thông tin” Hay hiểu một cách đơn giản nhất, “Báo in là một loại hình báo chí, chuyển tải nội dung các vấn đề, sự kiện bằng văn bản, chữ viết, ký tự, hình ảnh thông qua trang giấy cung cấp thông tin cho độc giả” Theo GS.TS
Tạ Ngọc Tấn định nghĩa: "Báo in là những ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội
dung thông tin mang tính chất thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội" Báo in chuyển tải nội dung thông tin thông qua văn bản bao gồm chữ in,
hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ,… Toàn bộ nội dung thông tin của báo in xuất hiện đồng thời ngay trước mắt độc giả Việc tiếp nhận thông tin của công chúng đối với báo in chỉ qua thị giác của con người
1.1.3 Khái niệm về cộng đồng LGBT
Giới tính là khái niệm dùng để chỉ những đặc trưng sinh học của nam
và nữ Những đặc trưng sinh học dường như là bất biến và đó là cơ sở cho những chuẩn mực về vai trò giới sau này Sự chuyển đối giới tính có thể do sinh học, văn hóa, kinh tế Đặc điểm của giới tính là đặc trưng sinh học quy định hoàn toàn bởi gen qua cơ chế di truyền, bẩm sinh và đồng nhất vì đây là sản phẩm của sự tiến hóa sinh học nên không phụ thuộc vào không gian và thời gian
Trang 21Giới (Gender) là khái niệm dùng để chỉ những mối quan hệ xã hội của nam và nữ Khái niệm giới liên quan đến sự học hỏi hành vi xã hội và những trông đợi được tạo nên với hai giới tính Giới là một sản phẩm của xã hội và liên quan đến quá trình xã hội hóa Đặc điểm của giới một phần vẫn bị quy định bởi yếu tố sinh học của giới tính; Không mang tính di truyền, bẩm sinh
mà được hình thành qua quá trình học tập, xã hội hóa cá nhân; Đa dạng, phong phú về nội dung và hình thức do sự đa dạng của xã hội, nền văn hóa;
Có thể biến đổi
Xu hướng tính dục (Sexual orientation) là sự hấp dẫn có tính bền vững của một người về phía những người khác giới, cùng giới hoặc cả hai giới Những người chịu sự hấp dẫn của người khác giới gọi là người dị tính luyến ái; người chịu sự hấp dẫn của người cùng giới tính gọi là người đồng tính luyến ái; người chịu sự hấp dẫn bởi cả hai giới gọi là người lưỡng tính luyến ái
Bản dạng giới (Gender Identity) là cảm nhận, là cách mỗi người nhìn nhận về giới tính của mình là gì
Hành vi tình dục là những hành động như âu yếm, vuốt ve, hôn, giao hợp, v.v… nhằm thể hiện và thỏa mãn nhu cầu tình dục của mỗi cá nhân
Sigmund Freud (1856 - 1939) nhà khoa học người Áo, cha đẻ của ngành Phân tâm học cho rằng đồng tính luyến ái là một biến thể của chức năng tình dục do kìm hãm khát dục dẫn đến bị ức chế không đủ cho chức năng tình dục khác giới thông thường hoặc không đạt đến giai đoạn tâm lý tình dục cuối cùng của sinh lý do tắc nghẽn nguồn năng lực Theo Freud, con người khi sinh ra đã có bản năng tính dục nguyên thủy không tập trung, đồng tính luyến ái là một sự lệch lạc từ bản năng này Freud không bao giờ khẳng định sự giống nhau giữa quan hệ đồng tính và sự trụy lạc của tình dục khác giới Nhà khoa học người Áo hiểu rằng, đồng tính luyến ái là tình dục không mong muốn, nó được định hướng từ sự gợi tình ở người trưởng thành Qua rất
Trang 22nhiều nghiên cứu của chính mình và của các chuyên gia khác về tâm thần học, tình dục học, Freud kết luận đồng tính luyến ái không phải là bệnh lý và không được đối xử người đồng tính như người bị bệnh Trong khi đó, ở tài liệu “Định kiến và đồng tính”, Denman (1933) cho rằng: Đồng tính, khi không bị cho là tội phạm, thường bị các nhà phân tâm học cho là một dấu hiệu nghiêm trọng của sức khỏe tâm lý yếu Người đồng tính thường được mô
tả như người bệnh và đồi trụy Cùng quan điểm với Denman, Glasser (1986) quan niệm rằng: Đồng tính thường được mô tả như là một sự đồi trụy với những tiềm ẩn về cơ bản không khác gì so với những sự đồi trụy khác như sự trần truồng hoặc ấu dâm Người đồng tính, đặc biệt là những người lăng nhăng, thường xuyên được mô tả phải chịu những khiếm khuyết lớn đi kèm Krikler, năm 1988 đã đưa ra những đặc tính về nhóm người đồng tính nam gồm: kỳ dị, hoang tưởng, không thành thật, xa cách và tâm thần Nhóm tác giả gồm Simon Forrest, Grant Biddle và Stephen Clift năm 1977 đã đưa ra định nghĩa người đồng tính dưa trên ba tiêu chuẩn gồm: Có cảm giác tình dục với người cùng giới tính; Có hành vi tình dục với những người cùng giới tính;
Mô tả mình như người đồng tính
Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (APA) định nghĩa: “Đồng tính luyến ái, hay
đồng tính chỉ việc bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu hay tình dục hoặc việc yêu đương hay quan hệ tình dục giữa những người cùng giới tính với nhau, trong hoàn cảnh nào đó hoặc trong một thời gian nào đó Đồng tính luyến ái cũng chỉ sự tự nhận của cá nhân dựa trên những hấp dẫn đồng giới
và sự tham gia vào một cộng đồng cùng giới tính” Cuốn Từ điển Bách khoa
Việt Nam tập 1 do Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn đã đưa định nghĩa:
“Đồng tính luyến ái là quan hệ luyến ái, tình dục giữa những người cùng giới
tính, đều có bộ phận sinh dục phát triển bình thường” Trong từ điển cũng
cho rằng trên thực tế thường gặp đồng tính luyến ái giữa nam với nam, ít gặp
ở nữ hơn Đồng tính luyến ái tồn tại từ lâu ở các nước phương Tây, có nơi
Trang 23chấp nhận như hợp pháp Gần đây, được dư luận xã hội chú ý vì là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây lan tràn AIDS (hội chứng suy giảm miễn
Người song tính – Biexual: Dùng để chỉ những người có quan hệ tình dục với cả hai giới
Người chuyển giới – Transgenderist: Dùng để chỉ những người có hành
vi khác với giới của mình Như nam giới nhưng lại có cách ứng xử, suy nghĩ, trang phục như nữ giới và ngược lại
1.2 Một số vấn đề về cộng đồng LGBT hiện nay
1.2.1 Cộng đồng LGBT và vấn đề định kiến xã hội
Định kiến hay còn gọi là định kiến xã hội theo từ điển Tâm lý học được định nghĩa: "là quan niệm đơn giản, máy móc, thường không đúng sự thật thể hiện trong nhận thức hàng ngày về một khách thể xã hội nào đó" (Vũ Dũng,
2008, tr.174) Tương tự, từ điển Tâm lý học thì từ điển Xã hội học đưa ra khái niệm: "Định kiến là nhận thức hiện thực xã hội theo một sơ đồ nào đó có sẵn Cách đánh giá hiện thực của định kiến thường là một chiều và tiêu cực" (Nguyễn Khắc Viện, 1994, tr.96) Theo cả hai khái niệm này cho thấy định kiến chủ yếu mang tính tiêu cực hơn tích cực; không được phân tích, lập luận đầy đủ mà thường máy móc, dập khuôn, không đúng sự thật Định kiến có thể bắt nguồn từ một sự thật nhưng khi thực tế đã thay đổi mà những quan niệm
Trang 24mang tính định kiến chưa kịp thay đổi Tác giả Ngô Tuấn Dung thì cho rằng:
"Định kiến là tập hợp các quan niệm, ý kiến, niềm tin hoặc biểu tượng có tính chất rập khuôn và đơn giản hóa quá mức về thái độ và hành vi ứng xử của nhóm xã hội, dân cư, nam nay nữ" (Ngô Tuấn Dung, 2003, tr.16) Khái niệm này đã đề cập đến một số khía cạnh cấu thành định kiến, đó là tập hợp các quan niệm, ý kiến, niềm tin hoặc biểu tượng có tính chất rập khuôn về đối tượng Như vậy, khi những quan niệm, ý kiến, niềm tin hoặc biểu tượng này
là khách quan và linh động trước các đối tượng được đánh giá thì đó không phải là định kiến Nhiều nghiên cứu trước đó đã chỉ ra rằng, có rất nhiều yếu
tố ảnh hưởng đến định kiến đối với người LGBT Tuy nhiên, có một số yếu tố chính có ảnh hưởng như: Truyền thông đưa tin về người LGTB; Các giá trị đạo đức gia đình và truyền thống về vai trò giới; Các yếu tố xã hội và quy định của pháp luật về hôn nhân đồng giới
Yếu tố đầu tiên và lớn nhất ảnh hưởng đến định kiến người LGBT là các giá trị truyền thống về vai trò giới và giá trị đạo đức gia đình Lý thuyết
hệ thống niềm tin giới cho rằng xã hội có những khuôn mẫu cụ thể, có chuẩn mực xã hội và vai trò giới nhất định cũng như có những đặc điểm thể chất mà
xã hội cho là thích hợp đối với nam giới và nữ giới (Kite & Deaux, 1987) Định kiến đối với người LGBT được cho là bắt nguồn từ sự ủng hộ vai trò giới truyền thống; bởi vì những người đồng tính nam và đồng tính nữ được coi là giống với các giới khác trong việc thể hện về vai trò giới, bao gồm cả
sự mong đợi đặc tính nam và đặc tính nữ Trong hệ thống niềm tin giới này, nam giới và nữ giới được cho là lần lượt mang tính nam và tính nữ Trên thực
tế, tính nam và tính nữ là phân cực và tính nam cơ bản được xem là những thuộc tính hoặc vai trò mà không phải là tính nữ (Wilkinson, 2004) Vì thế những người nam luôn thể hiện những đặc tính và vai trò của giới nam Đối với nam giới, vai trò giới tính phù hợp với truyền thống của người Việt Nam
đó là người chủ - người trụ cột gia đình và là người có quyền đưa ra những
Trang 25quyết định thể hiện đặc điểm và uy quyền nhất định Nam giới luôn được mặc định sẵn với những đặc điểm như mạnh mẽ, cạnh tranh, thể thao và chủ động
về đời sống tình dục Đối với nữ giới, vai trò giới truyền thống dường như chỉ xoay quanh việc sinh đẻ, nuôi dưỡng và chăm sóc gia đình (Trần Thị Minh Đức, 2006) Điều này dẫn đến một sự kỳ vọng giới, đó là nữ giới phải nhẹ nhàng, giàu cảm xúc và vị tha Vì thế những người nam giới và phụ nữ không phải hợp với các khuôn mẫu sẽ bị coi là "khác thường", là "pê - đê", hay "ái nam ái nữ" Xuất phát từ quan điểm truyền thống của người Việt Nam Á Đông đó là "hôn nhân là việc xác lập mối quan hệ giữa nam giới và nữ giới"
Do đó, đồng tính bị coi là sai lầm bởi mối quan hệ này vi phạm vai trò giới tính tự nhiên chỉ có nam và nữ của con người Thêm nữa, trong xã hội Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại một niềm tin cho rằng đồng tính là không tự nhiên Một số người cho rằng việc hai người cùng giới tính yêu và chung sống với nhau là điều "không bình thường" vì mối quan hệ này không dẫn đến sinh sản
- một chức năng quan trọng của gia đình truyền thống Việt Nam Mặt khác, quan điểm của người Việt là "đã lập gia đình thì phải sinh con" thậm chí "phải sinh con trai để nối dõi tông đường" (Marie - Eve Blanc, 2005) Nhiều người cho rằng "hành vi đồng tính" là sai lầm vì không thực hiện chức năng sinh sản, là sự suy đồi về đạo đức, gây ảnh hưởng đến giới trẻ Chính vì vậy, quan niệm "người LGBT là ích kỷ, adua, bệnh hoạn vì không phát triển được giống loài, không thực hiện được chức năng sinh sản" được coi là yếu tố ảnh hưởng sâu sắc đến định kiến đối với người LGBT
Tiếp theo, truyền thông là một trong những yếu tố tác rất lớn đến việc gây ra định kiến với người LGBT Trong nghiên cứu mang tên "Thông điệp truyền thông về đồng tính luyến ái trên báo in và báo mạng" của iSEE kết hợp với Học viện Báo chí và tuyên truyền đã chỉ ra một thực tế đang tồn tại ở Việt Nam là chủ đề đồng tính được sử dụng trong các bài báo là chi tiết để gây sự chú ý cho người đọc Truyền thông lạm dụng ngôn ngữ giật gân nhằm thu hút
Trang 26công chúng, tác động tiêu cực đến hình ảnh người LGBT, gây ra cách hiểu không đúng và định kiến xã hội với nhóm người này Do đó, để giảm bớt định kiến đối với người LGBT cần cung cấp cho mọi người, đặc biệt những người làm công tác truyền thông, báo chí thêm kiến thức về người LGBT Kiến thức
đó bao gồm các khía cạnh, thông tin có cơ sở khoa học như xu hướng tình dục không phải là bất thường, bệnh, là trái tự nhiên và không lây như nhiều người nghĩ Khi những người làm công tác truyền thông, báo chí hiểu được bản chất vấn đề về người LGBT thì họ sẽ cung cấp, chuyển tải những thông tin khách quan, khoa học đến với công chúng bạn đọc và tạo cơ sở cho xã hội có cái nhìn đúng đắn hơn, bớt định kiến hơn về người LGBT Ngược lại, khi những thông tin mang nặng định kiến hay thiếu tính khoa học về người LGBT được chuyển tải đến công chúng sẽ góp phần tạo ra những nhận thức sai lệch và thái độ kỳ thị của xã hội dành cho người LGBT
Ngoài các yếu tố giá trị truyền thống về vai trò giới, giá trị đạo đức, truyền thông thì các quy định của pháp luật cũng ảnh hưởng không nhỏ đến định kiến giới đối với người LGBT Hiện nay, quan điểm về việc có nên thừa nhận hôn nhân đồng giới hay không vẫn là vấn đề gây tranh cãi gay gắt (Bộ tư pháp, 2012) Xuất phát từ quan niệm quan hệ hôn nhân giữa hai người cùng giới tính là không phù hợp với chức năng xã hội như đã nói nên hiện nay pháp luật Việt Nam vẫn chưa chấp nhận hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới Mặt khác, các vấn đề pháp lý về quyền của người LGBT cũng là yếu tó ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ xã hội đối với người LGBT Bên cạnh đó là yếu tố tin ngưỡng tôn giáo tạo ra định kiến về người LGBT Hầu hết các giáo lý và tôn giáo đều dạy rằng đồng tính là sai (Lisa M.Jewell, 2007) Đạo Phật phản đối đồng tính luyến ái, coi đồng tính là "tà hạnh" Đạo thiên chúa chỉ ra ràng quan
hệ đồng tính phải bị lên án Mặt khác, nhiều khía cạnh khác nhau của tôn giáo như định hướng tôn giáo, tính chính thống việc kết tội và chủ nghĩa trào lưu
Trang 27cũng có tương quan với thái độ tiêu cực đối với nhóm tình dục thiểu số (Cunningham, 2012)
1.2.2 Người LGBT với vấn đề phân công khai giới tính
Thuật ngữ “công khai” (coming out) là việc một người LGBT nói với một hoặc một vài người về xu hướng tính dục của bản thân hoặc bộc lộ rộng rãi về việc mình thích người cùng giới; hoặc có những yếu tố, dấu hiệu để nhận ra trong cộng đồng đồng tính của mình Theo một nghiên cứu y tế của Stonewall - tổ chức phi chính phủ tại Anh, hoạt động vì quyền của cộng đồng LGBT cho thấy rất ít người đồng tính, song tính, chuyển giới công khai xu hướng tình dục của mình với các chuyên gia sức khỏe và tâm lý Trong tổng
số những người LGBT là nhân viên chăm sóc sức khoẻ và chăm sóc xã hội thì
có đến 25% từng bị bắt nạt hoặc lạm dụng và 20% nhân viên đã chứng kiến những nhận định tiêu cực về người chuyển giới tại nơi làm việc 10% nhân viên y tế đã chứng kiến các đồng nghiệp bày tỏ niềm tin rằng ai đó có thể được "chữa khỏi" lesbian, gay hoặc lưỡng tính 25% các nhân viên chăm sóc sức khoẻ và chăm sóc xã hội chưa bao giờ nhận được sự đào tạo về bình đẳng
và đa dạng giới Khảo sát về chỉ số bình đẳng của nhân viên trong các công ty năm 2014 của Stonewall chỉ ra rằng chỉ có 65% người song tính có thể “sống thật” tại nơi làm việc, trong khi con số đó ở người đồng tính nam và nữ là 84% và 82% Theo kết quả điều tra của iSEE năm 2009 với đối tượng là người đồng tính nam, chỉ có 2,5% số người được hỏi là công khai hoàn toàn
về thiên hướng tính dục của mình và 5% thì gần như là công khai Trong khi
đó có 32,5% đang bí mật về thiên hướng tính dục của mình và 35% thì hoàn toàn bí mật Số 25% còn lại thì lúc bí mật, lúc công khai tùy thuộc vào môi trường, hoàn cảnh Có tới 90% người đồng tính nam tham gia khảo sát cho rằng họ cảm thấy xã hội có thái độ tiêu cực với người đồng tính Từ đó có đến 86% trong số họ phải che giấu chuyện tính dục của mình với mọi người xung
Trang 28quanh Hầu hết họ gặp phải sự định kiến và kỳ thị của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Trong 1800 người tham gia trả lời, vì việc họ đồng tính mà 20%
số người đó nói họ đã mất bạn, 15% bị gia đình mắng nhiếc, 6.5% mất việc, 4.5% bị đánh và 4.1% bị đuổi ra khỏi nhà Ngoài ra, các nghiên cứu của các
tổ chức iSEE, CCIHP, CSAGA cũng chỉ ra những hình thức bạo lực dựa trên
cơ sở xu hướng tính dục và bản dạng giới phổ biến nhất là: bạo lực thể xác, bạo lực tâm lý, bạo lực tình dục, và các hình thức ép người đồng tính đi chữa bệnh tâm thần
1.2.3 Những trở ngại cộng đồng LGBT gặp phải trong cuộc sống
Mặc dù từ năm 1990, Tổ chức Y tế Thế giới WHO đã công nhận đồng tính luyến ái không phải là bệnh nhưng việc công khai là người đồng tính cho tới ngày nay vẫn còn gặp phải nhiều vấn đề từ phía gia đình, nhà trường, công
sở, xã hội Các nhà khoa học trên thế giới cũng đã thống nhất và đưa ra quan điểm rằng ở nhiều người thiên hướng tính dục được hình thành từ rất sớm do tác động qua lại phức tạp của các yếu tố sinh học (yếu tố chính và cơ bản), tâm lý và môi trường sống Trong đó yếu tố tâm lý và môi trường sống chỉ là yếu tố phụ, góp phần thể hiện rõ ràng hơn thiên hướng tính dục, còn yếu tố sinh học vẫn là yếu tố cơ bản quyết định thiên hướng tính dục ở mỗi người Như vậy, nguyên nhân làm cho một người yêu một người cùng giới tính cũng chính là nguyên nhân làm cho một người yêu người khác giới tính, nghĩa là đồng tính, song tính hay dị tính đều là thiên hướng tính dục tự nhiên, bình thường của con người Có nhiều trường hợp đã cố gắng thay đổi thiên hướng tính dục từ đồng tính sang dị tính trong nhiều năm nhưng không thành công Điều đó có thể thấy thiên hướng tính dục không được coi là sự lựa chọn có ý thức mà người ta có thể tùy ý thay đổi được mà đó là bản chất tự nhiên, vốn
có của mỗi con người từ khi sinh ra Tuy nhiên, tại Việt Nam, quan điểm sai lầm cho rằng đồng tính là biểu hiện lệch lạc về tâm lý, lối sống sa đọa đã gây
Trang 29nên sự kỳ thị, cô lập, phân biệt đối xử cho người LGBT Chính những định kiến, kỳ thị mà xã hội gây ra đã ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý của những người LGBT Họ cảm thấy mặc cảm, bối rối, lạc lõng khi là nhóm người thiểu
số và không dám công khai xu hướng tính dục của mình thậm chí chối bỏ bản thân Kết quả nghiên cứu năm 2011 của tổ chức iSEE về hiểu biết của xã hội
về đồng tính ở bốn địa phương là Thành phố Hà Nội, Hà Nam, Thành phố Hồ Chí Minh và An Giang thì một phần lớn người dân đang có kiến thức sai về đồng tính hoặc có thái độ tiêu cực về đồng tính như được trình bày ở bảng dưới đây:
Ở xã hội Việt Nam các giá trị gia đình được đề cao đồng thời với sự phục tùng ý muốn của bố mẹ Với nhiều phụ huynh thì sự cố gắng ngăn cản con cái “không còn” đồng tính nữa được coi là sự yêu thương dành cho con cái Thực tế và khoa học đã chứng minh, chưa cha mẹ nào thành công trong việc biến con mình từ đồng tính thành dị tính Nhưng họ vẫn cố gắng mọi cách, từ rất khắc nghiệt cho đến đẫm nước mắt Nhiều người chỉ đơn giản nghĩ rằng mình đang làm những điều tốt đẹp cho con, mà không biết rằng điều đó đã khiến con mình bị tổn thương nghiêm trọng như thế nào Bên cạnh
đó, cha mẹ của người LGBT cũng trở thành nạn nhân của sự kỳ thị Những người có con đồng tính, song tính, chuyển giới đôi khi không phải họ không chấp nhận được con mình mà không chấp nhận được cách mà xã hội đối xử
Trang 30với những người LGBT trong đó có con cái của họ Từ nỗi lo sợ, những áp lực mà gia đình phải gánh chịu về thể diện, định kiến của xã hội đã trở thành sức ép đặt lên người LGBT Điều này lý giải vì sao bố mẹ của người LGBT thường có xu hướng ép buộc con phải thay đổi hành vi, diện mạo để người ngoài không nghi ngờ gì con cái của họ Theo kết quả nghiên cứu của iSEE và CCIHP năm 2011 thì vấn đề bạo lực gia đình với người LGBT khá phổ biến Khi phát hiện con là LGBT, cha mẹ thường sốc thậm chí là hoảng loạn Phần lớn cha mẹ không có kiến thức về LGBT và thậm chí kỳ thị hoặc lo lắng con mình không có tương lai nên thường có những hành vi không kiểm soát dẫn đến đánh đập, xích, nhốt, hoặc cấm đoán khác Nhiều gia đình còn đưa con đi
tư vấn tâm lý hoặc thậm chí “chữa trị” vì nghĩ con có vấn đề về tâm thần Hậu quả khiến cho có những người LGBT do chịu được nhiều áp lực từ gia đình
và xã hội mà đã có ý định hoặc hành vi tự tử Kết quả trong một nghiên cứu
có tên "Bạo lực đối với người đồng tính và chuyển giới" của CCIHP năm
2010 chỉ ra, khi bị phát hiện là người đồng tính thì có đến 20% mất bạn, 15%
bị gia đình chửi mắng hoặc đánh đập; Nghiêm trọng hơn, 4,5% đã từng bị tấn công vì là người LGBT
Bên cạnh gia đình, thì trường học là môi trường mà phần lớn người dưới 18 tuổi dành nhiều thời gian nhất để phát triển bản thân, hình thành nhân cách và thiết lập các mối quan hệ Vốn dĩ là môi trường cần hơn cả sự đề cao tính đa dạng và bao dung, nhưng các phát hiện đã chỉ ra một thực tế chưa hẳn như vậy Hơn một nửa từng bị bạn bè bắt nạt, và gần một phần tư bị giáo viên, cán bộ nhà trường quấy rầy, bắt nạt bởi vì họ được coi là LGBT Tuy nhiên, trong nghiên cứu có tên “Có phải bởi vì tôi là LGBT” của iSEE năm 2015 thì
có hơn 30% trong số những người đồng tính được hỏi cho biết họ bị đối xử không công bằng vì có quan điểm ủng hộ LGBT Tương tự như ở gia đình, cử chỉ, điệu bộ, kiểu tóc cũng là yếu tố khiến người đồng tính bị phân biệt và gây
áp lực nhiều nhất Đồng phục thể hiện giới tính là một trở ngại đáng kể ảnh
Trang 31hưởng tới chất lượng học tập cũng như tâm lý của người chuyển giới Nghiên
về bạo lực học đường trên cơ sở giới với học sinh LGBT do UNESCO thực hiện năm 2015 tại 20 nước ở Châu Á, trong đó có Việt Nam, cho thấy 70% học sinh LGBT từng bị bắt nạt bằng lời nói (gọi tên và các kiểu chọc ghẹo), cao nhất so với các nước cùng bảng khảo sát là Úc, Trung Quốc, Hong Kong, Nhật, Hàn, Thái Lan Các hành vi phân biệt đối xử khác mà người tham gia khảo sát báo cáo còn có: bạn bè ngừng kết bạn khi phát hiện ra là LGBT, bị bàn tán về ngoại hình, bị tẩy chay trong lớp học… dẫn đến các hậu quả như phải trốn học (9.8%) hoặc thậm chí bỏ học (5%) vì sự phân biệt đối xử này Năm 2012, trong nghiên cứu tương tự về bạo lực học đường tại Việt Nam của CCIHP cho kết quả là 40.7% người LGBT đã từng bị bạo lực và phân biệt đối
xử ở trường học, 13.2% bị bạo lực bởi các thầy cô giáo trong trường Nghiên cứu này cũng cung cấp thêm một số thông tin về bối cảnh của bạo lực: tuổi trung bình lần đầu bị bạo lực là 12.39 tuổi, 15% bị bạo lực hàng ngày, thời gian diễn ra phổ biến nhất là vào giờ nghỉ giải lao, địa điểm là trong chính lớp học, với nguyên nhân hàng đầu cũng là cách ăn mặc, đi đứng, giọng nói, cử chỉ Trong số những người từng đi học vào trước năm 18 tuổi thì trung bình
cứ 3 học sinh lại có 2 học sinh từng nghe thấy, nhìn thấy những hành động, thái độ tiêu cực từ bạn bè Bên cạnh đó, một phần ba cảm thấy mình bị giáo viên đối xử không công bằng vì có quan điểm ủng hộ LGBT trong buổi thuyết trình hay làm bài tập chủ đề tự chọn Một vấn đề của riêng người chuyển giới trong môi trường học đường là đồng phục Với những người chuyển giới thì
xu hướng bộc lộ giới tính từ vẻ bên ngoài rất rõ ràng như trang phục, đầu tóc Đồng phục vốn sinh ra với ý nghĩa để xóa đi sự phân biệt giàu nghèo nhưng
vô tình lại trở thành rào cản lớn với những học sinh chuyển giới Trong khi trang phục, kiểu tóc và điệu bộ là phần quan trọng đối với bản dạng giới nhưng có đến 57.7% số người chuyển giới từng bị ép buộc thay đổi đồng phục và 61.5% số người bị ép thay đổi kiểu tóc, cử chỉ, điệu bộ Ông Võ Đức
Trang 32Chỉnh, Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Việt Hồng, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ phát biểu trên báo Thanh Niên số ra ngày 18 tháng 12 năm
2015: “Tôi nghĩ đồng phục là để xóa đi khoảng cách giàu nghèo giữa các học
sinh, thể hiện sự ngăn nắp gọn gàng chứ tôi không nghĩ nó quyết định nhiều tới nhân cách của các em Nếu chỉ vì bộ đồng phục mà khiến những em LGBT phải bỏ học, phải khổ sở thì có nên mở lòng không? Tôi đấu tranh tư tưởng nhiều rồi quyết định chấp nhận cho học sinh là LGBT mặc đồng phục phù hợp với mình” Cho đến ngày nay, những hành vi phân biệt đối xử từ phía nhà
trường đối với người đồng tính ở Việt Nam thường chưa được đánh giá đúng mức độ nghiêm trọng Phần lớn những hành vi bắt nạt vẫn được xem là chuyện trẻ con chứ không phải là vấn đề lớn cần nghiêm túc xử lý triệt để Trên thực tế, hậu quả của những sự phân biệt, đối xử này đã khiến các nạn nhân chịu tổn thương trong thời gian dài, thậm chí suốt cuộc đời và ảnh hướng lớn đến khả năng hòa nhập với môi trường xã hội Những học sinh LGBT từng bị bắt nạt, kỳ thị có thể sa sút khả năng học tập, ngại tiếp xúc với bạn bè, trở nên trầm cảm dẫn tới kết quả xấu và chịu áp lực từ phía gia đình
Cứ thế áp lực từ phía gia đình và nhà trường tác động lên học sinh liên tục, qua lại đã tạo thành một vòng luẩn quẩn không lối thoát
Không chỉ ở môi trường gia đình, học đường mà công sở cũng là nơi tác động mạnh mẽ tới người LGBT bới công việc và môi trường làm việc là yếu tố duy trì cuộc sống, kết nối con người với xã hội Thời gian mỗi người ở công sở chiếm ít nhất 1/3 tổng thời gian nên môi trường làm việc rất quan trọng Vấn đề phân biệt đối xử trong việc làm thường được nhắc tới ở khía cạnh vùng miền, giới tính Tuy nhiên, vấn đề xu hướng tính dục và bản dạng giới cũng là một trong những nguyên nhân của phân biệt đối xử Công việc có thể chia ra làm hai giai đoạn là giai đoạn phỏng vấn xin việc và giai đoạn trong khi làm việc Theo nghiên cứu về vấn đề này của iSEE thì người LGBT nói chung bị gặp trở ngại ở cả hai giai đoạn và đặc biệt nhóm người chuyển
Trang 33giới Kết quả nghiên cứu vào năm 2015 trên 2362 người, độ tuổi chủ yếu từ 18-24, đang sinh sống ở 63 tỉnh thành của Việt Nam do trung tâm iSEE thực hiện cho thấy gần 30% người được hỏi cho rằng mình từng bị từ chối việc làm vì là người thuộc cộng đồng LGBT Đặc biệt, tỷ lệ người chuyển giới bị
từ chối khi xin việc là 59% cao gấp ba lần so với nhóm đồng tính và song tính 19.6% Đặc điểm khi từ chối của nhà tuyển dụng thường không nói rõ lý do
mà thường chung chung là “không phù hợp” nên vấn đề này chưa được khơi gợi một cách rõ ràng Tuy nhiên, một số trường hợp tham gia khảo sát cho biết họ cảm nhận rõ rệt lý do mình không được nhận trong khi phỏng vấn là vì
bản dạng giới Bên cạnh đó, người chuyển giới cũng bị phân biệt đối xử trong
việc trả lương hay thăng tiến, khiến họ thường chỉ giữ các vị trí cấp thấp, cơ bản mà khó giữ các vị trí quản lý hoặc cao hơn Người LGBT đối mặt với những nhận xét, hành động tiêu cực từ cả đồng nghiệp, sếp và khách hàng, đối tác, với tỷ lệ cao từ 33% tới gần 50% Cụ thể: 8.8% từng bị đuổi việc, 13.8% bị trả lương kém hơn so với người cùng vị trí, năng lực, 22.6% bị hạn chế thăng tiến, 13.5% bị buộc chuyển sang vị trí công việc khác, 3.7% không được giải quyết bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội Tất cả những hành vi phân biệt đối xử này đều được người khảo sát đánh giá là dựa vào việc họ được/bị coi là LGBT, hoặc kết hợp với các yếu tố phân biệt đối xử đa chiều như “tác phong”, giới tính Các hành vi phân biệt đối xử khác mà người tham gia khảo sát báo cáo còn có bị hỏi thường xuyên về đối tượng yêu đương, ghép đôi với đồng nghiệp khác giới Chính vì những nguy cơ bị phân biệt đối xử nên phần lớn người thuộc giới LGBT phải che giấu, bí mật việc ăn mặc, diện mạo bên ngoài vì sợ bị kỳ thị hoặc mất việc Một nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng nếu được ăn mặc như mong muốn, không còn mất thời gian suy nghĩ tiêu cực,
tìm cách che giấu thân phận, năng suất làm việc của họ có thể tăng 20-30% 1.3 Đặc trƣng, đặc điểm của báo in và vai trò của báo in trong việc thông tin về cộng đồng LGBT
Trang 341.3.1 Đặc trưng, đặc điểm báo in
Theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn định nghĩa: "Báo in là những ấn phẩm định
kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính chất thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội" Báo in chuyển tải nội dung thông tin thông qua văn
bản bao gồm chữ in, hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ,… Toàn bộ nội dung thông tin của báo in xuất hiện đồng thời ngay trước mắt độc giả Việc tiếp nhận thông tin của công chúng đối với báo in chỉ qua thị giác của con người Chính vì vậy mà báo in có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, công chúng tiếp nhận thông tin trên báo in thông qua thị giác – giác quan quan trọng nhất của con người trong mối quan hệ với thế giới xung quanh nên người đọc hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thông tin
từ báo in Sự chủ động bao gồm từ việc bố trí thời điểm đọc, lựa chọn trình tự đọc đến việc chủ động về tốc độ đọc, cách thức đọc khi trong tay có một tờ báo in cụ thể Tùy vào thời gian rảnh rỗi của mỗi người mà có thể đọc báo bất
cứ lúc nào, khác với phát thanh và truyền hình có đặc điểm tuyến tính, công chúng có thể nghe bất cứ lúc nào nhưng thông tin có thể bị hiểu lầm khi không theo dõi toàn bộ nội dung liên tục Mặt khác, với báo in người đọc có thể đọc tùy hứng, đọc chậm rãi hay lướt qua, hoặc chú tâm vào các chi tiết, còn với phát thanh, truyền hình tùy vào việc đưa thông tin và cách đọc của biên tập viên mà người nghe xem hoàn toàn bị động, phụ thuộc vào biên tập viên Bên cạnh đó, người đọc có thể lướt nhanh để nắm bắt thông tin và lựa chọn thông tin nào mình nên đọc trước và người đọc cũng có thể đọc theo sở thích của mình Đây là điều mà báo mạng điện tử đang cố gắng phát huy Điều này tạo cho báo in có khả năng thông tin những nội dung phức tạp và sâu sắc hơn Nhà báo có thể trình bày, lý giải các nội dung thông tin với những mối quan hệ đan chéo, những biểu hiện trên nhiều bình diện, nhiều tầng nhiều lớp khác nhau Những thông tin có thể được tổ chức theo nhiều
Trang 35cách khác nhau mà người đọc vẫn có thể hiểu, miễn là những thông tin, nội dung bài viết là bổ ích, đáp ứng được nhu cầu của người đọc
Thứ hai, sự tiếp nhận thông tin từ báo in là hoàn toàn chủ động, vì vậy đòi hỏi người đọc phải tập trung cao độ, phải huy động sự làm việc tích cực của trí não nếu không thì sẽ không lưu lại được thông tin mình vừa đọc là gì
và nó như thế nào Hơn nữa nguồn thông tin từ báo in đảm bảo sự chính xác
và độ xác định cao Dù thông tin chậm hơn so với các loại hình báo chí khác nhưng đó cũng chính là yếu tố khiến báo in trở thành loại hình có độ đảm bảo
về thông tin cao do có khoảng thời gian để xác minh lâu hơn báo mạng, phát thanh hay truyền hình Vì thế, làm tăng khả năng ghi nhớ thông tin, giúp người đọc có thể nhận thức sâu sắc những mối quan hệ bên trong phức tạp và
tế nhị của các vấn đề, sự kiện
Không phải ngẫu nhiên mà người ta nói, báo phát thanh đưa tin, truyền hình diễn tả và báo in bình luận Qua đó, có thể thấy rằng các loại hình báo chí có phương thức tác động tới công chúng khác nhau sẽ tạo ra những hiệu ứng khác nhau Trong đó, báo in với sự tác động riêng biệt tới công chúng tiếp nhận, đó là sự đồng hiện thông tin, sự tiếp nhận bằng thị giác, đưa thông tin trong sự bình luận đánh giá có chiều sâu, đã tạo nên sự sâu sắc trong truyền đạt thông tin và đã tác động mạnh mẽ vào tư duy của công chúng tiếp nhận Như vậy, nếu muốn chứng kiến tận mắt sự kiện, hiện tượng nào đó, người ta xem truyền hình Và muốn đi tìm hiểu sâu sắc, cặn kẽ về nguyên nhân, kết quả, đánh giá về sự kiện, hiện tượng nào đó, thì người ta sẽ tìm đến với báo in Như vậy có thể nói, việc đi sâu bình luận, đánh giá về một sự kiện, hiện tượng nào đó của báo in là một trong những ưu thế của báo in so với các loại hình truyền thông khác
Ba là, việc lưu trữ báo in rất đơn giản và thuận lợi, phù hợp với thói quen của nhiều người đọc Do đó, báo in trở thành nguồn tư liệu quý giá đối
Trang 36với người đọc Nguồn tư liệu đó có thể được lưu trữ lâu dài (nguyên bản hoặc lưu giữ riêng những tin tức bài vở được quan tâm, dẫn liệu minh chứng trong các công trình nghiên cứu xã hội, lịch sử) Báo in chỉ xuất hiện trong một thời điểm cụ thể và nhất định với nội dung thông tin đề cập các vấn đề, sự kiện trong cả một chu kỳ xuất bản Thông tin về các vấn đề, sự kiện thời sự diễn ra trong chu kỳ sau đó chỉ có thể được đề cập trong sản phẩm được xuất bản vào thời điểm định kỳ sau Vì thế, độ nhanh, tính thời sự của báo in bị hạn chế hơn so với các loại hình phát thanh truyền hình và đặc biệt là báo mạng Để khắc phục hạn chế này khi mà phát thanh và truyền hình chưa phát triển, người ta đưa ra các tờ báo buổi chiều Phạm vi tác động của báo in đôi khi có hạn chế vì chỉ có người biết chữ mới có thể đọc báo Riêng về mặt này, phát thanh và truyền hình có ưu thế hơn so với báo in khi mà hầu như tất cả các thành viên của xã hội bất kể trình độ văn hoá như thế nào đều có thể tiếp nhận thông tin do chúng mang lại Việc phát hành báo in được thực hiện theo phương thức trao tay, vì thế việc báo in đến với người đọc sớm hay muộn phụ thuộc vào trình độ phát triển giao thông và các phương tiện chuyên chở, phân phối báo Đối với các nước chậm phát triển, báo in chủ yếu chỉ được phát hành ở các thành phố, thị trấn đông dân cư, thuận lợi về giao thông đi lại Ở các địa phương xa trung tâm, báo in thường đến muộn, tin tức trở thành lạc hậu Vì thế ở khu vực này, ảnh hưởng của thông tin từ báo in rất hạn chế Đối với những người đi công tác xa theo những lộ trình đặc biệt, như các đoàn khảo sát địa chất, các đoàn thám hiểm địa lý, phục vụ trên các con tàu trên đại dương… việc phát hành báo in hầu như không thể thực hiện được
1.3.2 Vai trò của báo in trong việc thông tin về cộng đồng LGBT
Vai trò cung cấp thông tin, xây dựng hình ảnh người LGBT với công chúng Trong đời sống chính trị, xã hội, báo chí nói chung luôn giữ một vai trò hết sức quan trọng Không chỉ thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền quan điểm,
Trang 37đường lối, chủ trương của Đảng và những chính sách pháp luật của Nhà nước
mà báo chí còn là cầu nối phản ánh tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân trong đó có cộng đồng những người LGBT Khoảng thời điểm trước khi internet vào Việt Nam (năm 1997), thông tin mà công chúng tiếp nhận được phần lớn qua các phương tiện truyền thông đại chúng Chính vì vậy, những thông tin mà truyền thông, báo chí cung cấp có ảnh hưởng sâu sắc đến thái
độ, hành vi của công chúng với các vấn đề trong xã hội, có thể khiến họ thay đổi nhận thức theo mục đích mà bài báo đăng tải Những năm trở lại đây, khi internet phổ biến, mạng xã hội xuất hiện thì hàng ngày, công chúng tiếp nhận khối lượng thông tin tràn ngập từ nhiều nguồn và có cả thông tin không được kiểm chứng Tuy nhiên, công chúng vẫn luôn có nhu cầu được cung cấp thông tin một cách chính xác, trung thực, khách quan nhất Nhìn ở một góc độ khác, báo chí đã tạo ra ảnh hưởng to lớn về văn hóa, lối sống xã hội Tương ứng với dòng chảy lịch sử, khoảng 20 năm trước, thời điểm internet chưa phát triển rộng rãi và các phương tiện truyền thông mới chưa xuất hiện thì thông tin trên báo in về người LGBT rất ít, chủ yếu là các vấn đề tiêu cực, mặt tối của xã hội như những vụ án mạng liên quan đến quan hệ đồng tính, các vụ mại dâm đồng tính, những căn bệnh lây lan được cho rằng do quan hệ tình dục đồng giới không an toàn Thời kỳ này, vấn đề về người LGBT vẫn được cho là một trong số các chủ đề cấm kị, nhạy cảm, không được đề cập Với đặc điểm ưu việt hơn so với những loại hình báo chí khác là được phát hành rộng rãi, báo in có cơ hội tiếp cận, tới tận tay rất nhiều người dân thuộc mọi tầng lớp trong xã hội, mọi vùng miền của cả nước Chính vì vậy, báo in có vai trò quan trọng trong việc là cầu nối cung cấp những thông tin khách quan, khoa học về người LGBT tới đông đảo công chúng Tuy nhiên, qua khảo sát cho thấy những thông tin mà truyền thông báo chí ở giai đoạn này nói chung, năm
1997 nói riêng cung cấp cho công chúng đã góp phần khiến xã hội có cái nhìn định kiến đối với những người LGBT, có thái độ xa lánh Hình ảnh những
Trang 38người LGBT được xây dựng là bệnh hoạn, là "kẻ điên rồ" ("Đồng tính luyến
ái là kẻ điên rồ" - báo PNVN năm 1997) Do những tác động tiêu cực, phản ứng gay gắt từ phía dư luận xã hội và một số nguyên nhân khác mà năm 1998, Quốc hội thông qua luật cấm kết hôn giữa những người có cùng giới tính
Báo chí góp phần thay đổi luật pháp về người LGBT
Những năm sau 1998, thông tin mà báo chí đăng tải về người đồng tính, song tính, chuyển giới bắt đầu có chiều hướng tích cực, cởi mở hơn Báo
in đã phát huy thế mạnh vốn có của nó là đưa thông tin bình luận, đánh giá có chiều sâu về vấn đề LGBT Các bài báo không chỉ dừng ở việc đưa các tin tệ nạn xã hội, pháp luật liên quan đến người đồng tính luyến ái, mối quan hệ đồng giới, coi LGBT là bệnh hoạn mà còn cả những bài viết chia sẻ từ người trong cuộc Những người LGBT được xuất hiện, nói tiếng nói của cá nhân họ, chia sẻ tâm tư, khó khăn, vất vả trong đời sống xã hội, thậm chí sự dằn vặt trong tâm hồn trên trang báo in khiến công chúng bắt đầu có cái nhìn đồng cảm hơn Có thể nói, cho đến năm 2008, khi một số các tổ chức phi chính phủ
ra đời với mục đích bảo vệ và thúc đẩy quyền của người đồng tính – song tính – chuyển giới như iSEE, CSAGA, ICS thông qua cầu nối là báo chí thì cộng đồng LGBT đã có điều kiện khiến xã hội thấu hiểu, cảm thông, có cái nhìn tích cực, cởi mở hơn Nhận được hỗ trợ từ Tổ chức Oxfam, Viện Nghiên cứu Kinh tế - Xã hội và Môi trường đã triển khai một dự án với mục đích xóa bỏ
kỳ thị và định kiến của xã hội đối với người đồng tính tại Việt Nam Dự án này đã tập hợp được những đại diện của các diễn đàn LGBT trên cả nước và thành lập nên một nhóm hoạt động với tên gọi “Nhóm Chia sẻ và Kết nối Thông tin” (Information Connecting & Sharing – ICS) Một trong những hoạt động đầu tiên của dự án là chương trình tập huấn kiến thức về người LGBT cho giới truyền thông và báo đài tại Vịnh Hạ Long vào năm 2009 Bằng các
kế hoạch tiếp cận đúng đắn, dần dần các tờ báo lớn trong cả nước đã thay đổi cách nhìn nhận về người đồng tính – song tính – chuyển giới và bắt đầu có
Trang 39những bài viết mang tính tích cực và cởi mở hơn làm cầu nối tác động mạnh
mẽ tới quan điểm, thái độ của công chúng xã hội với người LGBT Giai đoạn
từ những năm 2010, tuy không nhiều như báo mạng điện tử nhưng báo in cũng bắt đầu vào cuộc đồng hành cung cấp những thông tin về cộng đồng LGBT tới công chúng Các cuộc hội thảo, những cuộc tọa đàm chia sẻ, kết nối của người đồng tính - song tính - chuyển giới đều có sự tham gia của các phóng viên nhiều báo đưa tin Năm 2012, khóa tập huấn đầu tiên về các vấn
đề đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới từ quan điểm quốc
tế do Cơ quan LHQ về Bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ phối hợp với các tổ chức phi chính phủ thực hiện có sự đồng hành tích cực, tham gia đưa tin của rất nhiều các cơ quan truyền thông, báo chí Trong năm 2012, 2013 đã
có hàng loạt các sự kiện liên quan đến người LGBT được diễn ra tại các thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mà nhiều tờ báo in đã đưa tin như Flashmob "Yêu là Yêu" tháng 10 năm 2012, "Thức tỉnh đón Cầu vồng”
và VietPride năm 2013 Khác với báo mạng điện tử chỉ tiếp cận được những đối tượng độc giả có điều kiện máy móc, mạng internet và lứa tuổi tương đối trẻ thì báo in với thế mạnh của mình là tiếp cận được rất nhiều độc giả ở cả những vùng điều kiện kinh tế khó khăn Chính vì vậy thông tin về người LGBT trên những tờ báo in có điều kiện tiếp cận nhiều độc giả ở những vùng sâu, vùng xa nhất của tổ quốc Với những bài viết trên báo in, công chúng có thể lưu giữ đọc đi đọc lại trong một thời gian dài, chuyền tay nhau để đọc khiến tăng độ phủ của thông tin Nhờ sự nỗ lực, đồng hành của báo chí nói chung, báo in nói riêng mà tới năm 2014, từ việc gần như bị xem là một tệ nạn xã hội đến việc được chính phủ lên tiếng ủng hộ, xem xét khả năng công nhận hôn nhân đồng giới trong tiến trình sửa đổi Luật Hôn nhân & Gia đình vào năm 2013 Mặc dù dự thảo công nhận hôn nhân đồng giới không thành nhưng Luật Hôn nhân và Gia đình sửa đổi năm 2014 đã bỏ quy định "cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính" từ ngày 1 tháng 1 năm 2015 Đây cũng được coi là một bước tiến vượt bậc của cộng đồng LGBT chỉ trong 15 năm
Trang 40ngắn ngủi, với sự đồng hành của truyền thông báo chí Trong cẩm nang
“Truyền thông có nhạy cảm giới - Một số gợi ý dành cho phóng viên và người làm báo” do trung tâm CSAGA phối hợp với Oxfam xuất bản đã chỉ ra rằng:
“Truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc cổ vũ cho những lựa chọn hướng về tiến bộ và phát triển của văn hóa, nhưng cũng có thể góp phần làm kìm hãm phát triển… Khi hướng đến những giá trị tích cực, truyền thông đang tự làm mới và tôn vinh vị trí của mình trong xã hội và trong lòng người đọc” (Csaga, Oxfam 2011)
Như vậy, với khả năng tác động rộng rãi đến dư luận xã hội, báo chí truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về người LGBT tới công chúng, giúp công chúng có cái nhìn khách quan, cởi mở với người đồng tính luyến ái như các nước trong khu vực và trên thế giới
1.3.3 Vấn đề cộng đồng LGBT trên báo chí dưới góc nhìn của “Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự”
Lý thuyết “thiết lập chương trình nghị sự” do hai chuyên gia truyền thông người Mỹ là Maxwell McCombs và D.Shaw (1972) đưa ra, với lập luận: Truyền thông đại chúng (trong đó có báo chí) có chức năng sắp đặt
“chương trình nghị sự” cho công chúng Lý thuyết còn chỉ ra rằng, việc đưa tin về thế giới bên ngoài của cơ quan truyền thông không phải phản ánh kiểu
“soi gương” mà là lựa chọn có mục đích Thông qua việc lựa chọn và đưa tin hàng ngày, người cung cấp tin tức định hướng sự chú ý của công chúng và tác động lên nhận thức của họ về vấn đề gì là quan trọng nhất, hay vấn đề nào quan trọng hơn vấn đề nào Sự lũng đoạn của thông tin trên báo chí đồng nghĩa với việc công chúng không có cơ hội biết được cái gì khác đang diễn ra, ngoài những thứ được đưa và đưa đậm nét trên truyền thông Nhiều nghiên cứu khác khẳng định truyền thông đại chúng không áp đặt công chúng “nghĩ cái gì” nhưng thành công trong việc tác động đến điều mà người ta nghĩ đến [10] Trên cơ sở những nghiên cứu của Maxwell Mccombs và D.Shaw, học giả