Những tác phẩm của văn đoàn có mặt ở tất cả các thể loại như: tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, thơ, phóngsự…gắn với những tên tuổi nổi tiếng như: Thạch Lam, Nhất Linh, KháiHưng, Xuân Diệu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -LÝ PHƯƠNG ANH
TRUYỀN THỐNG VÀ CÁCH TÂN TRONG TRUYỆN NGẮN KHÁI HƯNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Hà Nội - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -LÝ PHƯƠNG ANH
TRUYỀN THỐNG VÀ CÁCH TÂN
Trang 2TRONG TRUYỆN NGẮN KHÁI HƯNG
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Phạm Xuân Thạch
Hà Nội – 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS.Phạm Xuân Thạch Kết quả nghiên cứu của đề tài
là trung thực, không trùng lặp với công trình của một tác giả nào khác đã công bố trước đây Các nhận xét, đánh giá sử dụng của các tác giả, cơ quan, tổ chức khác đều được trích dẫn theo đúng quy định hiện hành về quy cách trình bày luận án Nếu có phát hiện bất kỳ gian lận nào, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày … tháng… năm 2019
Tác giả
Lý Phương Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Lãnh đạo và cán bộ các phòng ban, Ban Chủ nhiệm và các thầy cô trong Khoa Văn học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phạm Xuân Thạch - người hướng dẫn khoa học đã luôn tận tình chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận án
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, ủng hộ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tác giả
Lý Phương Anh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
4 Mục đích nghiên cứu 17
5 Phương pháp nghiên cứu 17
6 Cấu trúc luận văn 17
PHẦN NỘI DUNG 18
CHƯƠNG 1: KHÁI HƯNG VÀ TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX 18
1.1 Khái quát về truyện ngắn Việt Nam hiện đại trước 1945 18
1.2 Vài nét về Tự lực văn đoàn 23
1.3 Sự nghiệp sáng tác văn chương Khái Hưng 28
1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Khái Hưng 28
1.3.2 Diện mạo truyện ngắn Khái Hưng 35
Chương 2 TRUYỀN THỐNG VÀ CÁCH TÂN TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA KHÁI HƯNG TÙ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 39
2.1 Chủ đề trong truyện ngắn Khái Hưng 39
2.1.1 Tình yêu- hôn nhân tự do 39
2.1.2 Phê phán những hủ tục trong gia đình truyền thống 44
2.1.3 Những nét đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc 47
2.2 Một số kiểu nhân vật trong truyện ngắn Khái Hưng 50
2.2.1 Nhân vật người phụ nữ 51
2.2.2 Nhân vật người nghèo 54
2.2.3 Nhân vật trí thức tiểu tư sản 57
Tiểu kết: 61
Chương 3 TRUYỀN THỐNG VÀ CÁCH TÂN TRONG TRUYỆN NGẮN KHÁI HƯNG TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 62
3.1 Cốt truyện 62
3.1.1 Cốt truyện tâm lí 62
3.1.2 Truyện lồng trong truyện 65
Trang 63.2 Ngôn ngữ, giọng điệu 68
3.2.1 Ngôn ngữ 68
3.2.2 Giọng điệu 70
Tiểu kết: 72
PHẦN KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tự lực văn đoàn là một tổ chức văn học hiện đại đầu tiên của nước
ta Ngay từ khi mới ra đời, văn chương của Tự lực văn đoàn đã ảnh hưởng rấtlớn đến trí thức tư sản và tiểu tư sản thành thị Những tác phẩm của văn đoàn
có mặt ở tất cả các thể loại như: tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, thơ, phóngsự…gắn với những tên tuổi nổi tiếng như: Thạch Lam, Nhất Linh, KháiHưng, Xuân Diệu, Trần Tiêu, Tú Mỡ, Thế Lữ… Với tôn chỉ mục đích rõ ràng,chỉ trong khoảng 10 năm hoạt động, Tự lực văn đoàn đã có những đóng gópquan trọng trong công cuộc đổi mới, cách tân nền văn học Việt Nam đầu thế
có sự nhìn nhận và đánh giá một cách thỏa đáng với những đóng góp to lớn
mà Khái Hưng và Tự lực văn đoàn đã mang lại cho nền văn học dân tộc ta.1.2 Khái Hưng là nhà văn lớn, là cây bút chủ đạo của nhóm Tự lực vănđoàn Ông đã có những đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của văn đoànnói riêng và cho nền văn học Việt Nam nói chung Trong sự nghiệp sáng táccủa mình, Khái Hưng đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ, phong phú, đadạng với đủ các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn và kịch Sáng tác của ôngđược công chúng đón nhận và yêu thích đặc biệt là phụ nữ và thanh niên lúc
bấy giờ Bởi thế, Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại đã gọi “Khái
Hưng là văn sĩ của thanh niên Việt Nam”
1.3 Đọc và tìm hiểu truyện ngắn Khái Hưng, chúng tôi nhận thấy bêncạnh sự đổi mới thì những giá trị truyền thống thể hiện rất rõ trong sáng táccủa ông Nhà văn ca ngợi tình yêu tự do, đề cao cá nhân đồng thời phê phán
Trang 8những hủ tục lạc hậu tồn tại trong xã hội hiện đại Những giá trị văn hoátruyền thống cũng như vẻ đẹp của đạo đức của con người Việt Nam được nhàvăn phản ánh và tái hiện sinh động qua tác phẩm của mình.
Chính vì những phẩm chất nghệ thuật và sự nỗ lực hết mình trên conđường tìm tòi sáng tạo của Khái Hưng như đã nêu ở trên, chúng tôi đi vào tìm
hiểu đề tài “Truyền thống và cách tân trong truyện ngắn Khái Hưng” ,chúng
tôi hi vọng người đọc có một cái nhìn toàn diện, sâu sắc và khách quan hơn vềnhà văn này đồng thời thấy được những đóng góp của Khái Hưng trong tiếntrình hiện đại hoá của nền văn học hiện đại Việt Nam đầu thế kỉ hai mươi
Trong quá trình triển khai đề tài, những ý kiến quý báu của những nhànghiên cứu như: Vũ Ngọc Phan, Trương Chính, Hà Văn Đức, Phan Cự Đệ,Ngô Văn Thư, Lê Thị Đức Hạnh, Lê Thị Dục Tú…đã gợi ý và giúp cho chúngtôi rất nhiều trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và chiếm lĩnh đối tượng Với
khả năng có hạn, đề tài “Truyền thống và cách tân trong truyện ngắn Khái
Hưng” sẽ còn nhiều khiếm khuyết Chúng tôi hi vọng sẽ nhận được sự góp ý
của các nhà khoa học
2 Lịch sử nghiên cứu
Văn học giai đoạn 1930-1945 đã đạt được nhiều thành tựu quan trọngtrong quá trình phát triển văn học Việt Nam hiện đại Trong số những hiệntượng văn học nổi tiếng thời kì đó, không thể không kể đến những đóng gópcủa nhóm Tự lực văn đoàn và tác giả được nhiều bạn trẻ đương thời yêuthích- Khái Hưng Sau đại hội Đảng VI (1986), nhiều vấn đề liên quan đếnvăn học giai đoạn trước 1945 được nghiên cứu, đánh giá và nhìn nhận lại Cáctác phẩm của Tự lực văn đoàn và nhà văn Khái Hưng cũng được xuất bản vàđánh giá với cái nhìn khách quan hơn Qua nhiều công trình nghiên cứu, thamluận khoa học, những nghiên cứu luận văn, luận án chuyên ngành…cái tênKhái Hưng cùng những tác phẩm của ông đã dần tìm được vị trí trong tiếntrình văn học Việt Nam hiện đại
a Thời kỳ trước năm 1945
Trang 9Khái Hưng là một trong những cây bút chính của nhóm Tự lực văn
đoàn Những tác phẩm của ông, ngay từ khi ra đời đã được nhiều đọc giảđương thời quan tâm Bên cạnh những tiểu thuyết nổi tiếng, Khái Hưng còn
có nhiều truyện ngắn đặc sắc được đăng đều đặn trong từng số báo Phonghóa và Ngày nay Theo thống kê của chúng tôi, trên tờ báo Phong hóa vàNgày nay, Khái Hưng cho đăng tất cả 129 truyện ngắn với nhiều đề tài hấpdẫn Bên cạnh những bài viết phê bình về tiểu thuyết, truyện ngắn của Khái
Hưng cũng rất được các nhà phê bình đương thời chú ý như Đợi chờ, Đồng
xu, Dọc đường gió bụi, Điếu thuốc lá,…Một nhận định được in trên báo
Ngày nay số 156 về phê bình Đợi chờ của Khái Hưng cho thấy người viết đánh giá cao về cách quan sát của nhà văn: “Đọc truyện ngắn của Khái
Hưng, tôi nhận thấy sự quan sát của ông bây giờ đã rất chu đáo; người đọc
có thể tưởng tượng những người và những việc dưới ngòi bút của ông đều thật cả Thật thế, khi một nhà vă đã cảm cuộc đời một cách sâu sắc rồi mới tưởng tượng những điều tưởng tượng của nhà văn ấy bao giờ cũng thiết thực và thiết tha.”[tr.20] Về điều này, nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm
trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu (1942) cũng cùng quan điểm, ông nhận định: “Ông Khái Hưng có một cách tả người, tả cảnh, tuy xác thực mà có
một vẻ nhẹ nhàng, thanh-thú, khiến cho người đọc thấy cảm.”[28,tr.455]
Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại (1942) cũng đánh giá cao về nhiều truyện ngắn của Khái Hưng: “Về truyện ngắn, Khái
Hưng viết tuyệt hay Người ta thấy phần nhiều truyện ngắn của ông có vẻ linh hoạt và cảm người đọc hơn cả truyện dài của ông Truyện ngắn của Thạch Lam và Đỗ Đức Thu ngả về mặt sầu cảm và kín đáo bao nhiêu thì truyện ngắn của Khái Hưng vui tươi và rộng mở thế ấy…Ngay ở những truyện buồn của Khái Hưng, người ta cũng chỉ thấy một thứ buồn man mác, không bao giờ là cái buồn ủ rũ như ở những truyện của Thạch Lam.” [Nhà
văn hiện đại, quyển 4, tr.45] Theo ông Vũ Ngọc Phan, truyện ngắn của nhà
Trang 10văn gây ấn tượng cho người đọc nhờ lối kết mở mang đến những triết lí sâusắc và gợi nhiều liên tưởng cho bạn đọc Tuy nhiên, bài viết của Vũ NgọcPhan mới dừng lại ở việc phân tích một vài truyện ngắn mà theo ông cho làtiêu biểu của Khái Hưng, trong số đó, ông đánh giá cao hai truyện Điếu
thuốc lá và Đồng xu và cho đó là “hai truyện thật hay” của Khái Hưng.
Có thể nhận thấy trong giai đoạn này, tiểu thuyết của Khái Hưng nhậnđược nhiều sự quan tâm hơn truyện ngắn Truyện ngắn của nhà văn chủ yếuđược đăng trên báo, số lượng các truyện được đóng tập và xuất bản khôngnhiều so với số lượng sáng tác của ông Vậy nên, những nhận định hầu nhưdựa trên những tập truyện đã được cho xuất bản
b Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1986
Hoàn cảnh xã hội đất nước ta kể từ năm 1945 đến năm 1986 đã có sựthay đổi, đất nước bị chia cắt thành hai miền kéo theo việc nghiên cứu vănhọc cũng phân định rạch ròi giữa hai miền Nam, Bắc Ở miển Bắc, do nhiệm
vụ cách mạng và bị chi phối bởi tư tưởng giai cấp nên những tác phẩm của Tựlực văn đoàn và Khái Hưng không được nhắc đến nữa Cho đến năm 1954,các tác phẩm văn học trước 1945 mới được xuất bản ở miền Nam Tuy nhiên,
do bối cảnh phức tạp của xã hội đương thời dẫn đến việc nghiên cứu và nhậnđịnh về trường hợp nhà văn Khái Hưng cũng có nhiều ý kiến khác nhau
Ở miền Bắc, cho đến cuối những năm 50, đầu những năm 60, trườnghợp văn chương của Khái Hưng mới được đề cập đến trong một số nghiêncứu như: Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Lê Quí Đôn (NXB Xây dựng, 1957), Văn học Việt Nam 1930-1945 của Bạch Năng Thi và Phan Cự Đệ (NXB Giáo dục Hà Nội, 1961), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945 của Viện Văn học (NXB Văn hóa,1964), Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại (1930-1945) của Vũ Đức Phúc (NXB
KHXH,HN,1971)…Lấy tiêu chí cách mạng làm hệ quy chiếu công trình Sơ
thảo lịch sử văn học Việt Nam: Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX cho rằng:
“Càng về sau, ông ta (Khái Hưng) lại càng lùi, cuối cùng đã viết những tác
Trang 11phẩm phản động, chống lại cách mạng Khái Hưng đề cao lối sống thoát ly hiện thực, quay lưng lại cuộc sống, hoặc đề cao xu hướng đặt nghệ thuật lên trên tất cả Nhiều truyện ngắn, truyện vừa viết về những chủ đề phù phiếm, không có gì sâu sắc” [42, tr 86 – 88].
Năm 1961, trong cuốn giáo trình Văn học Việt Nam 1930 – 1945 của
Đại học Tổng hợp, Bạch Năng Thi đánh giá cao nghệ thuật truyện ngắn của
Khái Hưng “Truyện dài hay truyện ngắn của Khái Hưng đều có bố cục gọn
gàng hợp lí, không có chỗ phình ra vô ích, không có chỗ hóp vào đáng tiếc, không có những chi tiết rời rạc, lối kể chuyện nhanh vui, tả cảnh, tả người, tả tâm lí đều có chừng mực…những đoạn tả diễn biến tâm lí nhân vạt thường tỉ
mỉ và hấp dẫn” [11, tr 290] Với việc phân chia các giai đoạn trong truyện
ngắn Khái Hưng, các nhà nghiên cứu Bạch Năng Thi và Phan Cự Đệ đã đánhgiá cao truyện ngắn của Khái Hưng trên cả phương diện nội dung và nghệthuật Các ông đã chỉ ra và chú ý đến Khái Hưng khi khai thác cuộc sống củanhững người dân nghèo
Năm 1962, trong cuốn Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, Tập 5, Nxb
Giáo dục Nhà nghiên cứu Nguyễn Trác có nhận xét về truyện ngắn Khái
Hưng như sau: “Khái Hưng tô hồng cuộc sống bằng một nghệ thuật phi hiện
thực, trùm lên xã hội phong kiến một cái màn hư ảo Quan điểm nghệ thuật của Khái Hưng mặt khác đã đưa ông đến chủ nghĩa hình thức Nhiều truyện ngắn của Khái Hưng không có nội dung Có những việc không đâu, những chuyện ít ý nghĩa cũng được ông xây dựng làm đề tài tác phẩm Nhiều truyện của ông không có gì là sâu sắc” [56, tr 73] Có thể thấy, tác giả đã thể
hiện rõ quan điểm giai cấp khi đánh giá tác phẩm của nhà văn Khái Hưng.Những sáng tác của Khái Hưng bị đánh giá khá khắt khe vì hoạt động chínhtrị cuối đời của ông
Ở miền Nam, theo số liệu tổng hợp của Phan Mạnh Hùng, trong bài
Thư mục nghiên cứu, phê bình Tự lực văn đoàn và thơ mới [27, tr 493], ở
Trang 12miền Nam có khoảng 102 bài viết, công trình tìm hiểu về Tự lực văn đoàntrong đó Khái Hưng có 18 bài
Bàn về Khái Hưng, có các bài nghiên cứu khá công tâm đề cập hoặc đi
sâu nghiên cứu truyện ngắn Khái Hưng như: Bình giảng về Tự lực văn đoàn Nguyễn Văn Xung (1958); Khảo luận về Khái Hưng - Lê Hữu Mục (1960);
-Tự lực văn đoàn - Doãn Quốc Sỹ (1960), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên - tập 3 của Phạm Thế Ngũ (1960), Phê bình văn học thế hệ 32 - Thanh
Lãng (1972), Nhà văn tiền chiến 1930 - 1945 của Thế Phong
Tiêu biểu là bài viết của Bằng Phong trong Luận đề Khái Hưng, nhà xuất bản Á Châu, năm 1958 đã viết: “Khuynh hướng xã hội của Khái Hưng
không có tính bao quát toàn diện như một tư tưởng xã hội mà chỉ nhắm vào một vài đề mục hệ yếu về phong tục, tập quán của xã hội thời đại mà thôi Ông đã đặt ra những vấn đề trung đại về “gia đình”, về “hôn nhân”, về
“thừa tự” với tất cả những mâu thuẫn, xung đột thực sự của nó trong xã hội
để đưa ra những giải quyết hoàn toàn cá biệt” [41, tr 35].
Trong cuốn Bình giảng về tự lực văn đoàn của nhà xuất bản Tân Việt,
năm 1958, Nguyễn Văn Xung đã đánh giá cao vai trò của Khái Hưng trong
đời sống văn học: “Khái Hưng là nhà văn ý nhị vào bậc nhất của chúng ta
hiện nay” Điều đó cho thấy ông rất coi trọng tài năng và sự nghiệp của
Trang 13xét này đã khẳng định những giá trị của truyện ngắn Khái Hưng, nhưng mớichỉ đi vào một vài tác phẩm cụ thể và chưa mang tính khái quát và có hệthống cụ thể.
Nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ đã trình bày những tiêu chí phân loại
truyện ngắn Khái Hưng trong cuốn Việt Nam Văn học Sử giản ước tân biên
tập 3, Văn học hiện đại 1862- 1945 Từ đó lấy đó làm cơ sở để khảo cứu về
đóng góp của tác giả này trong tiến trình văn học: “Nếu muốn bắt đầu bằng
một cuộc phân loại thì ta có thể chia các truyện ngắn Khái Hưng ra làm hai loại: Một loại nhẹ: truyện vui, truyện phiếm đăng vừa một cột như Tiếng suối reo, Đội mũ lệch, Số đào hoa Một loại nặng, đứng đắn, rộng, kích thước hơn, viết công phu hơn, đặt ra nhiều vấn đề luân lý xã hội, đưa ra một mẫu tâm lý, một mảng sinh hoạt bắt người ta phải suy nghĩ, đôi khi phải cảm động đau thương như tập Dọc đường gió bụi, Đợi chờ, Cái Ve, Hạnh ” [37, tr.
348] Sự phân chia này tương đối có cơ sở khoa học bởi tác giả Phạm ThếNgũ đã nhìn nhận truyện ngắn Khái Hưng trên các tiêu chí nội dung và hìnhthức của tác phẩm văn học Ông đã chỉ ra được truyện ngắn của Khái Hưngluôn “hướng ra cuộc đời” và những lớp người bình dân của xã hội Đây là néttiến bộ trong thế giới quan nghệ thuật của Khái Hưng
Có thể thấy, trong giai đoạn này, những tác phẩm của Khái Hưng cũngrất được đón nhận ở miền Nam Với nhiều nghiên cứu và những công trìnhbiên tập công phu, văn chương của Khái Hưng được đánh giá một cách kháchquan, tích cực và được xác định vị trí đáng kể trong tiến trình văn học
c Thời kỳ từ năm 1986 đến nay
Năm 1989 có thể coi là năm “được mùa” của Khái Hưng vì đã có rất
nhiều tác giả, nhiều cuốn sách và nhiều công trình, hội thảo đã nghiên cứu,bàn luận về sáng tác của Khái Hưng nói chung và truyện ngắn của ông nóiriêng (có ít nhất 04 cuộc hội thảo khoa học quan trọng về Tự lực văn đoàn –trong đó có 03 cuộc hội thảo được tổ chức trong nước và một hội thảo ở nước
Trang 14ngoài) đã đánh dấu bước chuyển đổi và thành tựu quan trọng trong nghiêncứu về Khái Hưng.
Ngày 27/5/1989, Khoa văn Trường Đại học Tổng hợp và Nhà xuất bản
Đại học và trung học chuyên nghiệp tổ chức hội thảo Về văn chương Tự lực
văn đoàn Các bài viết của các GS Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Phong Lê,
Trương Chính, Lê Đình Kỵ đã có sự nhìn nhận đúng đắn, nghiêm túc vềsáng tác của Khái Hưng nói riêng và của nhóm Tự lực văn đoàn nói chung
Nhà xuất bản Khoa học xã hội cho ra mắt bạn đọc tuyển tập đồ sộ (tám
tập) đem đến cho bạn đọc bức tranh toàn cảnh Văn xuôi lãng mạn Việt Nam
1930 – 1945 trong đó có các truyện ngắn hay, đặc sắc của Khái Hưng được in
trong tuyển tập này Trong đó, nhà phê bình Nguyễn Hoành Khung nhận định:
“Khái Hưng xứng đáng được coi là cây bút dồi dào, tài hoa hơn cả của nhóm
Tự lực văn đoàn Trong thế hệ các nhà văn mới, Khái Hưng là người duy nhất sinh ra vào thế kỷ trước, song lại là người mở màn, đi hàng đầu trong phong trào văn nghệ mới, với một ngòi bút trẻ trung, lịch lãm mà duyên dáng” [30,
tr 165]
Phan Cự Đệ - tác giả của công trình Tự lực văn đoàn - con người và
văn chương có nhắc ý kiến: “Vũ Ngọc Phan và Bùi Xuân Bào đều cho rằng trong lĩnh vực truyện ngắn, dường như Khái Hưng thành công hơn so với tiểu thuyết Thật ra, những nhược điểm này cũng bộc lộ ở cả truyện ngắn Trong truyện ngắn do đặc điểm thể loại, Khái Hưng chỉ khai thác một khoảnh khắc trong cuộc đời nhân vật” [8, tr 51]
Năm 1991, trong bài viết Thêm mấy ý kiến đánh giá Tự lực văn đoàn đăng trên Tạp chí văn học số 3, Lê Thị Đức Hạnh đã tổng kết: “Văn của Khái
Hưng và Nhất Linh trong Tự lực văn đoàn ngay thời kỳ đầu đã là một bước nhảy vọt” [22, tr 15] Nhận định này thể hiện sự đánh giá cao của nhà nghiên
cứu về đặc điểm tự sự của hai nhà văn chủ chốt trong Tự lực văn đoàn VớiKhái Hưng, bằng sự sáng tạo dồi dào và ngòi bút tự nhiên, hóm hỉnh, vui tươi,ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng lớn
Trang 15Năm 1994 trong Lời giới thiệu Tuyển tập truyện ngắn Khái Hưng của
nhóm các nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ, Hà Văn Đức đã đưa ra một nhận định
đề cao vai trò của nhà văn Khái Hưng trong tiến trình văn học đương đại:
“Khái Hưng còn là một cây bút truyện ngắn xuất sắc với những tập Anh phải
sống(viết chung với Nhất Linh 1937), Dọc đường gió bụi (1936), Tiếng suối reo (1937), Đợi chờ (1939), Đội mũ lệch (1941) [10, tr.456]
Phạm Thế Ngũ ở giai đoạn này cũng có những đánh giá lại về vị trí củatruyện ngắn Khái Hưng, ông cho rằng sức viết của Khái Hưng bộc lộ nhiềuqua truyện ngắn và đây là thể loại không thể thiếu trong sự nghiệp văn
chương của ông: “Ngoài những truyện dài, Khái Hưng còn viết rất nhiều
truyện ngắn Trên báo Phong Hóa và Ngày Nay những năm đầu, thường thường tuần nào ông cũng có một truyện (không kể tiểu thuyết dài ngắt kỳ) Đếm tất cả những truyện này của Khái Hưng trong gần mười năm có thể đi đến vài trăm” [37, tr 476]
Còn về vai trò của mảng truyện ngắn trong sự nghiệp văn chương của
Khái Hưng, tác giả Lê Dục Tú khẳng định trong nghiên cứu của mình: “Có
thể nói truyện ngắn là thể loại đầu tiên Khái Hưng trình làng trước công chúng Trên báo Phong Hóa và Ngày Nay những năm đầu hầu như tuần nào Khái Hưng cũng đăng một truyện ngắn Trong vòng mười năm ông đã đăng đến hàng trăm truyện ngắn Một số truyện ngắn đầu tay của Khái Hưng khi
ra đời đã được coi là “món ăn ngon và lạ” cải thiện cho khẩu vị đọc của người dân thị thành Truyện ngắn “Bên dòng Hương giang” được in lần đầu tiên trên báo Phong Hóa ngày 31/3/1932 và tập truyện ngắn “Dọc đường gió bụi” ra đời năm 1936 đã nhận được sự cổ vũ nồng nhiệt của công chúng”
[46, tr 106]
Hai nhận định của Phạm Thế Ngũ và Lê Dục Tú đều đi đến thống nhất
ở quan điểm nhận định đề cao vị trí của truyện ngắn Khái Hưng Khái Hưngbắt đầu sự nghiệp từ những mẩu truyện ngắn viết đăng báo Phong Hóa vàNgày Nay Và trước, trong khi trở thành tác giả của những thiên tiểu thuyết
Trang 16nổi tiếng một thời, Khái Hưng đã và đang là những cây bút viết truyện ngắn
có thứ hạng trên văn đàn công khai 1930 - 1945 Như vậy xét từ một góc độnào đó, với Khái Hưng và độc giả đương thời, viết và đọc truyện ngắn có thểxem là một sự chuẩn bị, tập dượt cho viết và đọc tiểu thuyết
Sau mấy năm tạm lắng, năm 1997 nhà xuất bản Văn học cho ra đời
cuốn Những đóng góp của Tự lực văn đoàn cho văn xuôi hiện đại Việt Nam
(Trịnh Hồ Khoa) Tác giả cuốn sách đã nêu được những đóng góp về nội dungnghệ thuật của ba nhà văn Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo
Năm 1999 Nhà xuất bản Giáo dục cho tái bản tập Văn chương Tự lực
văn đoàn gồm 3 tập do Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Cừ giới thiệu và tuyển
chọn trong đó có in những truyện ngắn hay, đặc sắc của Khái Hưng
Trước khi tuyển tập truyện ngắn của Khái Hưng ra đời năm 2004, cóthể thấy rằng hầu như các công trình nghiên cứu của Vũ Ngọc Phan, Phan Cự
Đệ, Phạm Thế Ngũ, Lê Thị Dục Tú,… đều ghi nhận những đóng góp vềtruyện ngắn của Khái Hưng cho sự tiến bộ của văn học nước nhà Song, cácnhà nghiên cứu vẫn chưa có điều kiện để thực sự đi vào nghiên cứu một cáchchuyên sâu, nhất là đối nghiên cứu tách bạch giữa truyền thống và cách tântrong truyện ngắn Khái Hưng Điều này có thể xuất phát từ nhiều nguyênnhân, trong đó có lẽ một phần là do truyện ngắn của ông bị chìm đi sau tiếng
vang tiểu thuyết Mãi đến năm 2004 trong Lời dẫn của nhóm sưu tầm, biên soạn tuyển tập Truyện ngắn Khái Hưng, các soạn giả khẳng định: “Bên cạnh
cây bút tiểu thuyết tài hoa, Khái Hưng (1986-1947) đồng thời còn là một tác giả truyện ngắn dồi dào sức lực, thường xuyên có truyện in Phong Hóa, Ngày Nay, và ngay từ trước 1945, đã được tập hợp một phần trong các tập…” ;
truyện ngắn là “một lĩnh vực mà ngòi bút của ông liên tục làm việc và có
nhiều thành tựu đáng ghi nhận” Về việc phân loại, tác giả Lời dẫn cũng cho
rằng sáng tác truyện ngắn của Khái Hưng “bao gồm truyện sinh hoạt, truyện
lịch sử, truyện viết theo lối truyện kể dân gian và truyện viết bằng bút pháp hiện đại” Trong một số bài viết gần đây, như: Chuyên nghiệp hóa sáng tác –
Trang 17một đòi hỏi tất yếu của công cuộc hiện đại hóa văn học Việt Nam trước Mấy ghi nhận về tương tác tiểu thuyết truyện ngắn và sự biến đổi nòng cốt của hai thể loại này, Tự Lực Văn Đoàn – những lằn ranh văn học, Nguyễn
1945-Thành Thi cũng đề cập nhiều đến sáng tác của Khái Hưng, đặc biệt là sáng táctruyện ngắn Trong đó có nhiều ý kiến, luận điểm rất đáng chú ý TheoNguyễn Thành Thi, nhìn chung, thế mạnh của truyện ngắn Khái Hưng là
“thường chú trọng đặc biệt đến ngôn ngữ đối thoại và luôn có ý thức miêu tả
giọng điệu, lời nói của các loại nhân vật, các hạng người trong xã hội”; hoặc:
“trong kĩ thuật truyện ngắn, “Khái Hưng, với năng lực ngữ cảm và các nhận
xét tinh tế ít nhiều mang tính chất “siêu ngôn ngữ” Nhà nghiên cứu còn phân
tích, minh chứng thêm: Khái Hưng “hay để cho người kể chuyện trong truyện
ngắn của ông nhận xét về nhạc tính, âm hưởng riêng trong ngôn ngữ đối thoại của nhân vật Trong truyện “Cô hàng nước” chẳng hạn, nhân vật xưng tôi tên Ban nhận thấy qua những mẩu đối thoại của nhân vật “cô hàng nước”
“tiếng nói vùng bể rất nặng và đầy những tiếng thanh ngang, khiến Ban phải mỉm cười” Hơn thế, cũng như nhân vật tôi, “cô hàng nước” nơi thôn dã này còn phân biệt rạch ròi cách dùng từ cô hay bà trong “cô tú” (bản thân người phụ nữ đã thi đỗ tú tài) với “bà tú” (người phụ nữ là vợ của người thi đỗ tú tài)” Về mặt loại hình và đặc điểm thể tài của truyện ngắn Khái Hưng, trong
“Tự Lực Văn Đoàn – những lằn ranh văn học”, bài viết gần đây nhất Nguyễn
Thành Thi đề xuất phân loại truyện ngắn Khái Hưng thành bốn khuynh hướngthể tài: 1) truyện ngắn thiên về khuynh hướng luận đề; 2) truyện ngắn thiên vềkhuynh hướng phân tích xã hội; 3) truyện ngắn thiên về khuynh hướng phântích tâm lý và 4) truyện ngắn có khuynh hướng tổng hợp loại hình [28, tr.156]
Ngày 9 tháng 5 năm 2008, Hội thảo về Tự lực văn đoàn trên đất CẩmGiàng được tổ chức dưới sự chủ trì của ông Hà Huy Chương-chủ tịch hội vănnghệ Hải Dương Tại hội thảo, các nhà nghiên cứu đã trình bày hơn 30 bài
Trang 18viết về nhiều vấn đề liên quan tới việc đánh giá và nhìn nhận lại trường hợpcủa nhóm Tự lực văn đoàn và nhà văn Khái Hưng Công lao hiện đại hóa nềnvăn học Việt Nam những năm 30 thế kỷ XX của Tự lực Văn đoàn được nhấttrí đánh giá cao, được phát hiện thêm ở khía cạnh này khía cạnh khác và kháiquát thành những luận điểm sắc nét, được bổ sung thêm tư liệu Trong số đó
có các tham luận của GS Nguyễn Huệ Chi, PGS Vũ Tuấn Anh, GS Chu Hảo,
GS Phong Lê, nhà thơ Bằng Việt, nhà văn Lê Lựu, nhà nghiên cứu Bùi ViệtThắng, PGS Hà Văn Đức, TS Cù Huy Hà Vũ
Hội thảo “Phong trào thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn - 80 năm
nhìn lại” được tổ chức tại trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, năm
2012, với ấn phẩm “Nhìn lại Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn” hơn 500
trang với 51 bài báo khoa học, trong đó có 16 bài riêng về Tự lực văn đoàn Nộidung các bài báo trong hội thảo này xoay quanh ba nhóm chủ đề:
1) Các vấn đề liên quan đến hoạt động sáng tác văn học chung của nhóm này.2) Các vấn đề liên quan đến tác phẩm, tác giả
3) Các vấn đề liên quan đến vị thế và việc tiếp nhận văn chương Tự lực vănđoàn
Kết quả nghiên cứu công bố trong hội thảo này dù từ nhóm nội dung nàocũng đều giúp trực tiếp hay gián tiếp soi sáng việc nghiên cứu thể loại và trầnthuật trong sáng tác của Khái Hưng
Hội thảo và triển lãm về báo Phong hóa, Ngày nay và Tự lực văn đoàn,
được tổ chức tại Mỹ, năm 2013, với ấn phẩm “Triển lãm và hội thảo về báo
Phong hóa, Ngày nay và Tự lực văn đoàn”, là một dạng sinh hoạt báo chí –
khoa học từ góc nhìn nghệ thuật liên ngành, kết hợp truyền thống và khoahọc, bao gồm hai nội dung “triển lãm” và “hội thào” Đáng lưu ý là mảng báocáo khoa học gồm: chuyên luận đặt vấn đề “đánh giá lại” Tự lực văn đoàn củaNguyễn Hưng Quốc, chuyên khảo về Khái Hưng từ góc nhìn nữ quyền củaThụy Khuê
Trang 19Đồng thời và đồng hành cùng với các hội thảo nói trên là kết quả công
bố trong nhiều bài báo, chương sách, những bài giới thiệu tổng tập, tuyển tậpvăn xuôi lãng mạn, hay khi tái bản các tác phẩm của Khái Hưng tuy đậm nhạtkhác nhau song đều thể hiện được những quan điểm, thái độ, cách tiếp cậnđánh giá mới
Từ các công trình, ý kiến của: Vũ Ngọc Phan, Phạm Thế Ngũ, Lê ThịDục Tú, Nguyễn Thành Thi đề cập đến truyện ngắn Khái Hưng mà luận văn
đã lược thuật trên đây, có thể rút ra mấy điểm quan trọng, rất có ý nghĩa đối
với việc định hướng và tiếp tục nghiên cứu đề tài “Truyền thống và cách tân
trong truyện ngắn Khái Hưng” như sau:
Thứ nhất, truyện ngắn là một bộ phận sáng tác có giá trị trong sáng tácvăn chương của Khái Hưng, đáng được tiếp tục nghiên cứu một cách đầy
Chúng tôi nhận thấy việc tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, khoa học hơn vềtruyện ngắn Khái Hưng là hết sức cần thiết Trên tinh thần tiếp thu thành quả
của người đi trước, chúng tôi hi vọng rằng với việc hoàn thành đề tài “Truyền
thống và cách tân trong truyện ngắn Khái Hưng”, việc nghiên cứu truyện
ngắn của Khái Hưng sẽ được đẩy xa thêm một bước nữa
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu mà chúng tôi tập trung khảo sát đó là cácđặc điểm truyền thống và cách tân trong truyện ngắn Khái Hưng trên cả haiphương diện: nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật Trong quá trình
Trang 20nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ luận điểm cần chứng minh chúng tôi sẽ tiếnhành so sánh truyện ngắn của Khái Hưng với một số nhà văn cùng thời, trong
và ngoài văn đoàn như: Thạch Lam, Nhất Linh, Nam Cao, Nguyễn Tuân,Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khái Hưng cũng có hàng trăm truyện ngắn, phần lớn đã xuất bản thànhtập Đó là các tập:
1) Anh phải sống (viết chung với Nhất Linh, 1934)
2) Dọc đường gió bụi (1936)
Ngoài ra, ông còn một số truyện ngắn khác mới chỉ đăng báo, chưa in
thành tập Đây là các tác phẩm đã đăng báo Phong hóa, Ngày nay và sau in
thành sách, tái bản Trong khuôn khổ có hạn, luận văn chủ yếu tập trung khảosát những tác phẩm truyện ngắn tiêu biểu của Khái Hưng, cụ thể là: Khảo sát
93 tác phẩm truyện ngắn chủ yếu in trong tập Truyện ngắn Khái Hưng do
Hoàng Bích Hà, Vương Trí Nhàn (sưu tầm, biên soạn, năm 2004), Nxb Hộinhà văn, Hà Nội, và một vài tập truyện ngắn khác của ông
4 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài Truyền thống và cách tân trong truyện ngắn Khái
Hưng, để từ đó xác định giá trị mới, sức cuốn hút mạnh mẽ của tác phẩm cả
về phong cách nghệ thuật độc đáo và nội dung tư tưởng tiến bộ trong truyệnngắn Khái Hưng Đồng thời từ đó xác định vị trí, vai trò, đặc trưng phongcách nghệ thuật, đóng góp của Khái Hưng vào thành tựu chung của Tự lựcvăn đoàn và vào tiến trình văn học dân tộc
5 Phương pháp nghiên cứu
Do mục đích, yêu cầu và phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi
sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại truyện ngắn
Trang 21- Phương pháp hệ thống.
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Trong đó chú trọng phương pháp so sánh phân tích Các phương phápkhác có liên quan chặt chẽ, có ý nghĩa hỗ trợ lẫn nhau và được sử dụng phốihợp, linh hoạt trong quá trình nghiên cứu
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luậnvăn gồm ba chương:
Chương 1: Khái Hưng và truyện ngắn Việt Nam những năm đầu thế kỷ
XX Chương 2: Truyền thống và cách tân trong truyện ngắn Khái Hưng từ
phương diện nội dungChương 3: Truyền thống và cách tân trong truyện ngắn Khái Hưng từ
phương diện nghệ thuật
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI HƯNG VÀ TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX 1.1 Khái quát về truyện ngắn Việt Nam hiện đại trước 1945
Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Hình thức nhỏ và ngắn là dấuhiệu đầu tiên để người đọc nhận diện truyện ngắn Dung lượng truyện ngắnkéo dài từ vài chục chữ đến khoảng 20.000 chữ Nếu tính theo số trang, dunglượng của một truyện ngắn thường co giãn khoảng từ 3 đến 50 trang Dướicon số 3 trang, người ta gọi là “truyện ngắn mini”, “truyện ngắn trong lòngbàn tay”; trên con số 50 trang, người ta gọi là truyện vừa; trên 100 trang làtiểu thuyết Những cách gọi này tương ứng với các khái niệm “đoản thiên tiểuthuyết” (truyện ngắn), “trung thiên tiểu thuyết” (truyện vừa) và “trường thiêntiểu thuyết” (tiểu thuyết) vốn phổ biến ở nước ta thời kì đầu văn xuôi tự sựhiện đại Tuy nhiên, tính chất “nhỏ” của truyện ngắn không chỉ nằm trongdung lượng, mà quan trọng hơn là ở cách nắm bắt cuộc sống của thể loại.Truyện ngắn không có tham vọng ôm vào mình một hiện thực rộng lớn,
Trang 22hoành tráng Ngắn ở đây đồng nghĩa với hàm súc, tinh lọc Khác với tiểuthuyết có khả năng chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ khả năng của nó thìtruyện ngắn lại hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nétbản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người Vậynên, trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện Nhân vật của truyệnngắn thường là đại diện cho một mối quan hệ xã hội, một hiện tượng xã hộihay một trạng thái tồn tại của con người Không giống với những nhân vậttrong tiểu thuyết là một thế giới tâm hồn rộng lớn được khắc họa dưới nhiềutrạng thái khác nhau thì nhân vật của truyện ngắn chỉ là một mảnh ghép trongthế giới ấy Cốt truyện của truyện ngắn là một mặt cắt của dòng đời nhưngnhà văn luôn lựa chọn được mặt cắt tiêu biểu nhất Vì vậy, truyện ngắnthường tạo nên những ấn tượng sâu sắc về cuộc đời và tình người được truyềntải trong đó.
Những năm đầu thế kỉ XX đến trước năm 1945 là một quãng thời giai lịch
sử quan trọng của dân tộc ta cũng như sự phát triển của lịch sử văn học Trongbức tranh chung của văn học hiện đại Việt Nam trước 1945, truyện ngắn là thểloại phát triển và có một diện mạo riêng, một tiến trình vận động rõ nét Điều
đó không chỉ căn cứ cả vào số lượng tác giả, tác phẩm mà còn căn cứ vào chấtlượng và tính đa dạng về khuynh hướng tư tưởng thẩm mĩ của thể loại này.Vào cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX, khi văn học Việt Nam bước đầu hiệnđại hóa, có một bộ phận văn học đã mang lại những đóng góp lớn vào quátrình này và làm cho đời sống của nền văn học dân tộc thêm sinh động, đóchính là văn học Quốc ngữ Nam Bộ Thành tựu đáng trân trọng của Quốc ngữNam Bộ những năm đầu thế kỷ là thể loại truyện ngắn Với kích cỡ nhỏ nhưmột mẫu chuyện nảy sinh tự nhiên trong cuộc sống, có thêm sự gia công, táitạo của người viết, truyện đã phản ánh nhiều bức tranh xã hội chân thực Cóthể thấy rằng, từng bước chuyển biến của văn học Quốc ngữ Nam Bộ luôngắn với sự phát triển của thể loại truyện ngắn ở Nam Bộ
Trang 23Sự phong phú của truyện ngắn cũng tương ứng với sự phong phú củatiểu thuyết, thậm chí sáng tác truyện ngắn đều hơn so với sáng tác tiểu thuyết.
Và, sẽ là không quá lời khi cho rằng, trong nền văn xuôi Việt Nam, thể loạitruyện ngắn có bề dày truyền thống và đạt nhiều thành tựu hơn thể loại tiểuthuyết Trong nhiều công trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đều đưa ra ýkiến khá thống nhất vè các giai đoạn phá triển của truyện ngắn: Thứ nhất làchặng sinh thành: bắt đầu từ cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX đến 1930; Thứhai là chặng phát triển: từ 1930 đến 1945 Trong chặng “sinh thành” truyệnngắn Việt Nam hiện đại, phải kể đến vai trò nổi bật của các nhà văn NguyễnTrọng Quản, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Ái Quốc, NguyễnTường Tam…
Truyện Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản được các nhà
nghiên cứu đánh giá là truyện ngắn zxViệt Nam hiện đại đầu tiên viết theokiểu Tây phương Vì Nguyễn Trọng Quản đã có điều kiện tiếp xúc với vănhọc Pháp từ trước 1890 Xuất hiện vào cuối những năm 80 của thế kỉ XIX,
Truyện Thầy Lazaro Phiền là một hiện tượng quá mới mẻ đối với công chúng
văn học miền Nam Truyện Thầy Lazaro Phiền có phần nào trở thành “con
chim lạ từ phương Tây đáp xuống một vùng đất còn vắng bóng đồng loại” và
“nổi lên như một ốc đảo chơi vơi vào nửa sau thế kỷ XIX không riêng ở Nam
Kì mà ở cả Việt Nam” [11, tr 303]
Từ năm 1917 - 1924, trên Nam Phong nổi lên chùm đoản thiên tiểuthuyết của Nguyễn Bá Học (9 truyện), Phạm Duy Tốn (3 truyện), Mân Châu
Nguyễn Mạnh Bổng (Tập truyện Vì nghĩa quên tình, năm 1921; Tập truyện
Anh hàng phở lấy cô đầu, năm 1928) Đây là những truyện ngắn thời kì đầu
của các khuynh hướng hiện thực phê phán, lãng mạn thoát ly (Phạm Duy Tốn,Tản Đà)
Nguyễn Bá Học vốn là một nhà nho, văn chương của ông dùng nhiềuchữ Hán, đầy rẫy tính chất biền ngẫu, du dương Những tác phẩm của ôngmang khuynh hướng hiện thực đôi khi lẫn với khuynh hướng đạo đức Phạm
Trang 24Duy Tốn ảnh hưởng của văn Pháp nhiều, ông viết những truyện ngắn như:
Con người Sở Khanh, Bực mình, Nước đời lắm nỗi… Nổi tiếng nhất là Sống chết mặc bay (1918) Tác phẩm thuật về một chuyện vỡ đê: quan huyện và
nha lại đi hộ đê đóng trong một ngôi đình kiên cố và ung dung nhàn nhã đánh
tổ tôm Trong lúc đó, nhân dân đói khát đang ra sức vật lộn với nước Nhưngsức nước quá mạnh, đê vỡ Có người vào báo, quan cứ mặc kệ vì quan đang
mê mải theo ván bài
Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) trước khi thành lập Tự lực Văn đoàn
và chủ trương Phong Hóa, Ngày Nay đã viết cả tiểu thuyết và truyện ngắn.Riêng về truyện ngắn, thời gian này ông có hơn chục tác phẩm, sau được in
chung trong tập Người quay tơ Về tư tưởng, tập truyện vừa có khuynh hướng hiện thực (Nô lệ), vừa có khuynh hướng lãng mạn (Giấc mộng Từ Lâm), lại
có cả khuynh hướng yêu nước (Người quay tơ) Tác giả đã bắt đầu với những
kĩ thuật mới, hiện đại theo cách viết phương Tây Thể hiện ở cách xây dựngtình huống truyện và diễn biến truyện đảo lộn trật tự thời gian
Trong chặng “phát triển” của truyện ngắn Việt Nam trước 1945, phải kểđến vai trò của các nhà văn thuộc cả hai khuynh hướng lãng mạn chủ nghĩa vàhiện thực phê phán Giữ vai trò nổi bật ở khuynh hướng thứ nhất của quá trìnhphát triển truyện ngắn – khuynh hướng lãng mạn chủ nghĩa – là các nhà văn:Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Hồ Dzếnh, ĐỗTốn, Thanh Tịnh, Thanh Châu, Ngọc Giao, Xuân Diệu… Giữ vai trò nổi bật ởkhuynh hướng thứ hai – khuynh hướng hiện thực phê phán – là các nhà văn:Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao, Bùi Hiển, TôHoài, Kim Lân, …
Năm 1930, Tản Đà mở mục Việt Nam nhị thập thế kỉ Xã hội ba đào kí
trên An Nam tạp chí Từ 1930 đến 1932, Nguyễn Công Hoan viết 24 truyện
ngắn, trong đó có 20 truyện đăng trên mục Xã hội ba đào kí “Nguyễn Công
Hoan trở thành một nhà văn sáng giá những năm đầu thập niên 30 thế kỉ
Trang 25trước, là người cắm ngọn cờ đầu của chủ nghĩa hiện thực phê phán trong lĩnh vực truyện ngắn”
Nguyễn Công Hoan được xem là người đầu tiên viết truyện ngắn theokhuynh hướng hiện thực phê phán và sớm đạt được thành tựu đáng được ghi
nhận Các tập truyện ngắn có giá trị của ông là Ngựa người người ngựa (1934), Kép tư bền (1935)… Nhìn thẳng vào hiện thực, bằng tiếng cười trào
phúng, Nguyễn Công Hoan phơi ra mặt trái của xã hội đầy bất công thối nát,
kẻ giàu phè phỡn, vô đạo, còn người nghèo thì bị ức hiếp và đói khổ cùng
cực Riêng tập Kép tư bền, gồm 15 truyện ngắn sáng tác trong khoảng 1929 –
1935, đã gây tiếng vang lớn, được Hải Triều biểu dương nhiệt liệt, coi tập
truyện này là “tác phẩm thuộc về trào lưu tả thực xã hội của nước ta” Bên
cạnh đó, Vũ Trọng Phụng tuy chủ yếu là cây bút tiểu thuyết, song các truyện
ngắn của ông cũng đặc sắc và giàu ý nghĩa phê phán hiện thực như: Bộ răng
vàng, Một đồng bạc, Bà lão lòa… Nguyên Hồng cũng có nhiều truyện ngắn
viết theo cảm quan hiện thực xuất sắc, cảm động như: Mợ Du, Con chó vàng,
Miếng bánh,…
Bùi Hiển viết nhiều truyện ngắn đặc sắc về hiện thực đời sống dân quê
ở một làng chài thuộc dải đất miền trung (Nằm vạ, Ma đậu, Chiều sương) Ở
trên, luận văn đã nói đến sự phong phú đa dạng về tính khuynh hướng và liệt
kê cá khuynh hướng ấy: “Có khuynh hướng lãng mạn chủ nghĩa (chủ yếu
thuộc khu vực văn xuôi lãng mạn), có khuynh hướng hiện thực (chủ yếu thuộc khu vực văn học hiện thực phê phán); có khuynh hướng thuyết lý đạo đức, khuynh hướng luận đề, khuynh hướng hiện thực xã hội, khuynh hướng hiện thực tâm lý,… Về hình thức kĩ thuật tự sự, có khuynh hướng viết ngắn, có khuynh hướng viết dài, tiếp cận với truyện vừa, có tổng hợp kĩ thuật của tiểu thuyết, có yếu tố huyền thoại kì ảo, có yếu tố lịch sử, có yếu tố đồng thoại (truyện loài vật),…” Đến đây phải nói rõ hơn rằng, sự phong phú đa dạng về
khuynh hướng này chủ yếu bộc lộ ở chặng “phát triển” của truyện ngắn quốc
Trang 26ngữ Việt Nam (1930 - 1945) Và, trong sự tương tác thể loại, còn đáng ghinhận sự phong phú về mặt loại hình của truyện ngắn: truyện ngắn “trữ tìnhhóa” (tiêu biểu là truyện của Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh), truyệnngắn “kịch hóa” (tiêu biểu là truyện của Nguyễn Công Hoan, Vũ TrọngPhụng), truyện ngắn “tiểu thuyết hóa” (tiêu biểu là các truyện của Nam Cao
như: Đời thừa, Trăng sáng, Chí Phèo, Nửa đêm,… Trong khuynh hướng “trữ tình hóa”, các truyện ngắn trong tập Chân trời cũ của Hồ Dzếnh lại có một
dòng chảy riêng: truyện ngắn tự truyện Nhịp độ phát triển về lượng của
truyện ngắn quốc ngữ cũng mau lẹ, khẩn trương Theo thống kê trong Từ điển
tác phẩm văn xuôi Việt Nam của Vũ Tuấn Anh nhà xuất bản Văn học, năm
2001 thì trong khoảng từ 1933 đến 1945, truyện ngắn xuất bản trên phạm vi
cả nước có 51 tập Riêng sáng tác của Tự lực văn đoàn đã có 16 tập truyệnngắn Thạch Lam xuất bản 3 tập (33 truyện) và khoảng 17 truyện ngắn mớichỉ đăng báo Nhất Linh xuất bản 6 tập, và Khái Hưng xuất bản 7 tập truyệnngắn Theo thống kê của chúng tôi, nhà văn Khái Hưng đã cho đăng báo tất cả
129 truyện ngắn trên các số báo của Phong hóa và Ngày nay Cùng với tiểuthuyết, cái tên Khái Hưng đã chiếm được một vị trị khá rõ nét trong đời sốngvăn học đương thời
1.2 Vài nét về Tự lực văn đoàn
Tự Lực Văn Đoàn là một tổ chức văn học hiện đại, được thành lập vàhoạt động khá hiệu quả, trong vòng một thập niên (1932 - 1942), có thành tựu
và ảnh hưởng lớn sự phát triển của văn học hiện đại Việt Nam, nửa đầu thế kỉ
XX Tự Lực Văn Đoàn có tôn chỉ, mục đích riêng, có nhà in riêng (Đời Nay)cùng cơ quan ngôn luận riêng (báo Phong Hóa, Ngày Nay)
Người sáng lập Tự lực văn đoàn là Nguyễn Tường Tam ( Nhất Linh).Ông là người thông minh, nhạy bén, không ngừng học hỏi những luồng tưtưởng mới để góp phần vào công cuộc hiện đại hóa nền văn học nghệ thuậtcủa nước nhà Năm 1933, Nguyễn Tường Tam trở về nước, lúc ấy ông mới 24
Trang 27tuổi, ông từng xin vào làm giáo viên của một trường tư, rồi quyết định dấnthân vào làm báo Ông tìm những người có cùng chí hướng để làm nên mộtđiều gì đó mới mẻ cho xã hội Ngày 22 tháng 9 năm 1932, Phong Hóa số 14đổi mới ra mắt độc giả và lần đầu những tên tuổi chẳng mấy lúc trở thànhdanh giá ra đời: Nhất Linh, Nhị Linh, Đông Sơn, Tứ Ly, Khái Hưng, Tú Mỡ,
Thế Lữ…Họ cho ra đời “ Thứ hàng văn mới quả là trúng khẩu vị độc giả.
Trong vài tháng số in lên vùn vụt từ 3 đến 10 ngàn Tháng 3 năm sau (1933), sau khi số báo Xuân ra đời được độc giả hết sức hoan nghênh” [33,tr.13]
Nguyễn Tường Tam quyết định cùng anh em cộng tác viên thành lập nhómlấy tên là Tự lực văn đoàn
Tự Lực Văn Đoàn với ban biên tập ban đầu gồm 5 thành viên: NguyễnTường Tam (Nhất Linh-tiểu thuyết; Bảo Sơn-truyện ngắn; Đông Sơn-vẽ; TânViệt-thơ), Trần Khánh Giư (Khái Hưng-tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch ngắn,
xã thuyết; Nhị Linh- xã luận, tiểu phẩm; Nhát Dao Cạo, Chàng lẩn thẩn, Tòmò-tiểu phẩm, phóng sự,…), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo-tiểu thuyết;
Tứ Ly-xã luận, phóng sự), Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam- truyện ngắn, tiểuthuyết, tiểu luận, dịch thuật, xã luận, tin thơ,…), Hồ Trọng Hiếu (Tú Mỡ- thơtrào phúng) và từ đầu năm 1933 thêm Nguyễn Thứ Lễ (Thế Lữ, Lê Ta-thơ,truyện, tin thơ,…) thành 6 người cũng là những người công tác dần dần saunày, cùng chủ trương, chí hướng Cùng với các thành viên chính thức nói trên,
Tự Lực Văn Đoàn tập hợp được cả một đội ngũ cộng tác viên chọn lọc, có uytín trên nhiều lĩnh vực sáng tác nghệ thuật: văn, thơ, nhạc, họa…Họ có quanđiểm riêng về xã hội và nhân sinh với chủ chương duy tân và cấp tiến Họmuốn đả phá những tập tục, lễ giáo, những hủ lạc hậu và mang đến một quan
niệm sống âu hóa, tôn trọng tự do cá nhân Với “ Quan niệm về xã hội và
nhân sinh ấy của nhóm dần dần ngả sang những mục tiêu chính trị: đả đảo quan liêu phong kiến, tẩy chay chế độ dân biểu bù nhìn, tố cáo những bất công xã hội, đòi hỏi tự do và dân chủ” [33, tr.15,16] Cơ quan ngôn luận và
Trang 28truyền bá tư tưởng của văn đoàn là tờ Phong Hóa và Đời Nay Đặc biệt, họcòn cho ra đời một nhà xuất bản riêng (Nxb Đời Nay) để phục phụ thị hiếucủa thời đại.
Cho đến nay, các nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn của các nhà nghiêncứu đã có bề dày và khá thống nhất Luận văn này không nhắc lại nữa, chỉxin lưu ý mấy điểm sau:
Thứ nhất là, cần phải nói ngay rằng, hoạt động của Tự Lực Văn Đoàntrên thực tế đã vượt ra ngoài khuôn khổ, phạm vi văn học Về thực chất là một
tổ chức văn hóa xã hội, hoạt động văn học của Tự Lực Văn Đoàn vừa làphương tiện, vừa là nội dung Mặc dầu khó lòng tách bạch hoạt động văn hóa
xã hội và hoạt động văn học của nhóm – cũng như khó lòng mà tách bạchđược trong các sáng tác văn học của các nhà văn trụ cột, các thành viên chínhthức của Tự Lực Văn Đoàn, đâu là phương tiện, đâu là nội dung hoạt động.Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, tác giả sẽ cố gắng tập trung vào hoạtđộng sáng tác của tổ chức này từ góc độ một tổ chức văn học Nói cách khác,
sẽ chỉ nhìn Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, như là những người sáng tácvăn học, những nhà văn
Thứ hai là, các đánh giá về đóng góp của văn chương Tự Lực VănĐoàn trước đây vì nhiều lý do khách quan và chủ quan còn có nhiều điểm bấthợp lý, thậm chí bất công Về sau có được điều chỉnh Các nhà văn trong TựLực Văn Đoàn được nhìn nhận từ phương diện giai cấp, thế giới quan tiểu tư
sản: “Họ là những nhà văn tiểu tư sản thức thời, có tinh thần dân tộc, có một
lý tưởng thực tiễn, là dựa vào những điều kiện cụ thể để hoạt động và làm ăn bằng văn học Hoạt động và làm ăn bằng văn học có nghĩa là viết lách được thường xuyên về đề tài xã hội, và xuất bản được, để có thể lự lực sống bằng lao động nghệ thuật của mình, không phải ngửa tay lĩnh lương hằng tháng của chính quyền Pháp Muốn thế, phải biết thị hiếu của lớp độc giả mới, từng lớp tiểu tư sản thành thị, là lớp độc giả đông đảo nhất đương thời, nếu không nói là duy nhất Người ta đã chán những thở than não nuột, chán cái bệnh
Trang 29thời đại “không ốm mà rên” Người ta muốn vui lên tí chút dù hoàn cảnh chẳng có gì đáng vui Người đọc lại cũng đã tiêm nhiễm ít nhiều tinh thần, tư tưởng Âu Tây, thích thú tự do cá nhân, đặc biệt trong lĩnh vực tình yêu Công kích phong thái sinh hoạt trong các gia đình phong kiến, lên án cái không kí đài các, trưởng giả, cái tôn ti trật tự cứng nhắc Khổng Mạnh, nếu lại biết dùng một lối văn nhẹ nhàng, thanh thoát, dễ đọc, dễ hiểu, thì chắc chắn sẽ có được những tác phẩm hợp với khẩu vị người đọc Cho nên tôn chỉ của Tự Lực Văn Đoàn là “lúc nào cũng trẻ, yêu đời Không có tính cách ttrưởng giả quí phái… Tôn trọng tự do cá nhân Làm cho người ta biết đạo Khổng không hợp thời nhữa Đem phương pháp Thái Tây ứng dụng vào văn chương An Nam” Đóng góp của Tự Lực Văn Đoàn là ở đấy mà hạn chế cũng là ở đấy” [50,tr.
21] Song các đánh giá nhận định vẫn nặng thiên kiến và vẫn còn quá dè dặt,chưa thỏa đáng Xu hướng chung vẫn cho rằng Tự Lực Văn Đoàn là tổ chứcvăn học “đóng góp ít, hạn chế nhiều” [50, tr 21], và, thường không đặt hoạtđộng văn chương của các thành viên Tự Lực Văn Đoàn trong một bối cảnhrộng hơn: hoạt động văn hóa – xã hội của nhóm Do vậy chưa thể đánh giá hếtđược tác mức độ, chiều hướng tác động đến công chúng đương thời của tổchức văn học này
Tôn chỉ của Tự lực văn đoàn rất rõ ràng với mười điều [33, tr.17,18]
Về văn loại, văn đoàn chú ý đến sáng tác hơn là dịch thuật, mô phỏng Về nộidung, văn đoàn lấy một số tư tưởng làm nòng cốt: chống lại đạo Khổng ?(vìkhông hợp thời nữa), đề cao tự do cá nhân, ca ngợi những vẻ đẹp của đấtnước, diễn tả tâm hồn yêu đời của thanh niên và chống lại những hủ tục lạchậu Về hình thức, văn đoàn chủ chương viết một lối văn giản dị, dễ hiểu,dùng ít chữ Nho, có tính cách An Nam để chống lại thứ văn nặng trĩu nhữngchữ Hán của giai đoạn trước Phân tích các tôn chỉ và đường lối sáng tác, ta
có thể thấy đường lối sáng tác của họ “đi ngược lại với những quan niệm
trọng đạo đức, và ưa những lí tưởng ước lệ của các văn gia lớp trước còn
Trang 30chịu nhiều ảnh hưởng của văn chữ Nôm xưa Họ muốn đư cuộc đời thực tế vào văn học không bận tâm đến những giáo điều luôn lí của Nho gia” [33,
tr.22] Có thể nói, họ chủ chương làm văn nghệ thuần túy đề cao giá trị củanghệ thuật
Nhìn vào “mười điều tâm niệm” của Tự lực văn đoàn, sẽ dễ dàng nhậnthấy, hoạt động của họ không chỉ khuôn hẹp trong sáng tác, truyền bá vănchương mà còn bao hàm cả các hoạt động nhiều phương diện khác trongphạm vi văn hóa, xã hội Các hoạt động này đều dựa trên lập trường dân chủ,dân tộc và duy tân Có lẽ, trong cái nhìn và quan niệm của Tự Lực Văn Đoàn,dân ta chủ yếu là dân quê, trình độ văn hóa thấp, đời sống hết sức lạc hậu, xãhội thôn quê bảo thủ, trì trệ Do vậy phải tiến hành cải cách làm thay đổi diệnmạo văn hóa Việt Nam theo tinh thần Âu hóa và dân chủ hóa Các hoạt độngcải cách văn hóa của Tự Lực Văn Đoàn được thực hiện thông qua hai hìnhthức: tuyên truyền (bằng báo chí, văn chương) và hành động (với một số hoạtđộng cụ thể như làm nhà Ánh sáng, phát chẩn,…) Tham vọng của Tự LựcVăn Đoàn – làm một cuộc cách mạng văn hóa xã hội nhằm tạo ra một thế giớiriêng có cuộc sống no đủ, văn minh, tồn tại hợp pháp trong lòng chế độ thuộcđịa dưới sự dẫn dắt của những trí thức Tây học – xét đến cùng là ảo tưởng,song trên bình diện văn hóa, phong tục, họ đã tạo ra một phong trào tiến bộ,
có tính dân tộc, có ảnh hưởng xã hội khá sâu đối với công chúng văn học ởcác đô thị nước ta thời bấy giờ
Quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam nói chung, truyện ngắn ViệtNam nói riêng, chủ yếu từ những năm đầu của thế kỷ XX, phát triển rực rỡtrong những năm 1930 - 1945, trong đó truyện ngắn Tự lực văn đoàn gópphần tạo nên một diện mạo mới, phong phú, đa dạng Thống kê truyện ngắn
trong cuốn Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam từ năm 1933 (thành lập Tự
lực văn đoàn) đến năm 1945 (năm Tự lực văn đoàn ngừng hoạt động kết thúcvăn học tiền chiến cho thấy kết quả cụ thể như sau:
Trang 31Từ 1933 đến 1945 Cả nước Tự lực văn đoàn Tỷ lệ (%)
Nếu thống kê theo thư mục in trong Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt
Nam (từ cuối thế kỷ XIX đến 1945) thì đóng góp của Tự lực văn đoàn đối với
các thể loại nói chung và truyện ngắn nói riêng cũng không nhỏ Tự lực vănđoàn có 16 tập truyện ngắn trong tổng số 78 tập của cả nước, chiếm 20,5%.Hầu hết các thành viên của Tự lực văn đoàn đều viết văn xuôi hoặc thơ (trừ
Tú Mỡ) Tác giả viết ít nhất là 1 tập (Xuân Diệu), nhiều nhất là 8 tập (KháiHưng), trung bình là hai, ba, bốn tập Có thể thấy, tuy cùng một văn đoàn,cùng tôn trọng tôn chỉ, mục đích chung của cả nhóm, nhưng bằng tài năng và
cá tính sáng tạo, mỗi cây bút truyện ngắn lại để lại dấu ấn và những đóng gópriêng đặc sắc Khuynh hướng sáng tác của Tự lực văn đoàn là lãng mạnnhưng trong sự giao lưu ảnh hưởng của các trào lưu văn học hiện thực, cáchmạng cùng thời và tiếp nhận ảnh hưởng phong trào Mặt trận dân chủ 1936 -
1939, nhiều truyện ngắn của Tự lực văn đoàn đã có nội dung xã hội tiến bộ.Mỗi người đều có vị trí và phong cách riêng Hơn nữa họ còn đứng đầu một
số khuynh hướng truyện ngắn trong tiến trình chung của thể loại truyện ngắnViệt Nam hiện đại nửa đầu thế kỷ XX
1.3 Sự nghiệp sáng tác văn chương Khái Hưng
Khái Hưng bén duyên với văn chương sau khi đã trải qua nhiều thăngtrầm của cuộc đời Không chủ đích đến với nghiệp văn, ông chỉ tình cờ vàcũng cảm mến bởi tình bạn của Nhất Linh mà bước vào con đường vănchương Thế nhưng, với một tinh thần lao động nghiêm túc, hăng say, ông đãcho ra đời những tác phẩm phản ánh nhiều biến động của thời đại, nhất lànhững biến động trong tâm hồn của con người Văn phong Khái Hưng cũnggiống như con người ông, hiền lành, thẳng thắn nhưng cũng rất hóm hỉnh,vui tươi
Trang 321.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Khái Hưng
Khái Hưng sinh năm 1896 (một số tài liệu ghi ông sinh năm 1897), tên thật
là Trần Khánh Giư,quê gốc tại làng Cổ Am huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương (naythuộc Hải Phòng), sinh trưởng trong một gia đình quan lại phong kiến
Khái Hưng học ở trường Trung học Anbe Xarô (Hà Nội) Sau khi đỗ tútài I, một thời gian sau dạy học ở trường tư thục Thăng Long, Hà Nội năm
1927 Trong khoảng thời gian từ 1930 đến 1932, Nhất Linh từ Pháp trở vềnước và cũng dạy trường này Khái Hưng quen Nhất Linh và từ đó họ trởthành một cặp tác giả nổi tiếng (Năm 1932 Nhất Linh mua lại tờ Phong Hóa,thành lập ban biên tập mới, có Khái Hưng, Tứ Ly và Tú Mỡ tham gia Tờ báoPhong Hóa số 14, là số báo đầu tiên của nhóm, ra ngày 22/09/1932) Tuy KháiHưng hơn Nhất Linh 9 tuổi nhưng là người bước vào văn đàn sau Nhất Linhnên ông còn một bút danh khác là Nhị Linh Từ đây, tài năng của Khái Hưngđược nhiều người biết đến và dần dần ông khẳng định được văn phong củamình trên diễn đàn văn học thời bấy giờ
Khái Hưng – một nhà giáo, nhà văn đã đi vào con đường “tiểu thuyếtluận đề” nhằm khai phá dòng sinh khí mới trong văn học qua lăng kính xãhội, nêu ra thực trạng cuộc sống bi đát của xã hội với nhân tình thế thái, vớicảnh đời ô trọc, phong tục, tập quán cổ hủ trong thời điểm xã hội phong kiếnnửa thực dân xâm phạm nhân phẩm, phẩm cách, giá trị cao quý đích thực củacon người
Ở Việt Nam, có rất nhiều nhà thơ đồng thời là người viết tiểu thuyết,truyện ngắn Thế Lữ chẳng hạn, ông là một nhà thơ, nhưng nói đến sự nghiệpvăn chương của ông không thể không nói đến các tập truyện ngắn, truyện vừa.Tuy nhiên, có lẽ ít ai gọi Thế Lữ là một tác giả truyện ngắn Đơn giản vì sốlượng lẫn chất lượng tác phẩm truyện ngắn của ông chưa được cái ngưỡng để
có thể xem ông là một tác giả truyện ngắn Khái Hưng thì không như vậy Cả
số lượng lẫn chất lượng tiểu thuyết, truyện ngắn trong sự nghiệp văn chương
Trang 33của ông cung cấp cho chúng ta những cơ sở đáng tin cậy để xem ông vừa lànhà tiểu thuyết, vừa là nhà văn viết truyện ngắn Nói chung, các nhà văn Tựlực văn đoàn nói chung và Khái Hưng nói riêng thuộc “thế hệ vàng” (PhongLê), hầu như đều là nghệ sĩ – tri thức tài hoa, có sức sáng tạo dồi dào Với vốnsống và kiến thức đông tây uyên thâm, Khái Hưng là người kể chuyện rất códuyên, viết truyện rất thu hút, rất nhân bản, ẩn tàng một ý muốn nâng cao dântrí, tìm lý tưởng cho thanh niên Ông có tài viết nhanh, viết dễ dàng, gần như
số báo nào ông cũng có truyện dài, truyện ngắn, kịch, hay truyện vui, phêbình văn học Khối lượng tác phẩm của ông thật đồ sộ Bên cạnh những tậptiểu thuyết được xuất bản và bán ra ngay sau hết kì đăng báo, nhà văn còn cónhiều truyện ngắn, mẩu truyện vui, kịch ngắn, kịch vui được đăng báo vànhận được nhiều ý kiến phê bình tích cực Khái Hưng là tác giả được ngưỡng
mộ nhất thời đó Ngoài ra, Khái Hưng còn là tay vẽ ký họa rất khéo Ôngcũng có nhiều bức ký họa đặc trên báo Phong Hóa, Ngày Nay Khái Hưng lànhà văn đa tài, có sức sáng tạo trên mọi lĩnh vực của đời sống văn học Sứcviết dồi dào, vốn sống phong phú và tình yêu văn chương đã giúp ông dầnkhẳng định tên tuổi của mình trên văn đàn
Khái Hưng rất thành công ở thể loại tiểu thuyết Các tiểu thuyết củaông ban đầu đăng báo (Phong hóa: 6 tác phẩm, Ngày nay: 7 tác phẩm, 1 tácphẩm chỉ in sách), sau được Nhà xuất bản Đời nay xuất bản sách, gồm 14 tácphẩm sau:
1 Hồn bướm mơ tiên (1932 1933), đăng trên báo Phong hóa 1932
-1933, 9 kỳ từ số 20 - 29 (trừ số 22) từ ngày 04/11/1932 - 06/11/-1933,
in sách năm 1933 tại An Nam xuất bản cục
2 Nửa chừng xuân (1933), đăng trên báo Phong hóa, 28 kỳ từ ngày
03/03/1933 - 08/09/1933, in thành sách năm 1934 do Trung tâm vănhóa xuất bản
Trang 343 Gánh hàng hoa (viết chung với Nhất Linh, 1933), đăng trên báo
Phong hóa, 28 kỳ (36 - 63), từ ngày 03/03/1933 - 08/09/1933, inthành sách năm 1934 do Đời nay xuất bản, tái bản năm 1940
4 Đời mưa gió (viết chung với Nhất Linh, năm 1934), đăng trên báo
Phong hóa, 22 kỳ (89 - 112), từ ngày 16/3/1934-24/8/1943, in thànhsách năm 1935 do Đời nay xuất bản
5 Tiêu sơn tráng sĩ (19341936), đăng trên báo Phong hóa, 56 kỳ (129
-184), từ ngày 21/12/1934 - 24/04/1936, in sách lá mạ do Đời nayxuất bản năm 1937, tái bản dưới dạng sách thường năm 1940
6 Dưới bóng tre xanh (1935), đăng trên báo Ngày nay, 13 kỳ (1 - 13), từ
ngày 30/01/1935 - ?/1935, chưa in thành sách
7 Trống mái (1936), đăng trên báo Phong hóa, 22 kỳ (152 - 173), từ
ngày 06/09/1935 - 07/02/1936, in thành sách năm 1936, do Đời nayxuất bản
8 Những ngày vui (1936), đăng Ngày nay, 14 kỳ (16 - 29), từ ngày
12/07/1936 - 11/10/1936, in thành sách năm 1940, 1941, do Đời nayxuất bản
9 Gia đình (1936 - 1937), đăng Ngày nay, 35 kỳ (30 - 64), từ ngày
18/10/1936 - 20/06/1936, in thành sách năm 1938 do Đời nay xuất bản
10 Thoát ly (1937 - 1938), đăng Ngày nay, 30 kỳ (77 - 116), từ ngày
19/09/1937 - 24/04/1938, in thành sách năm 1938 do Đời nay xuất bản
11 Thừa tự (1938), đăng Ngày nay, 19 kỳ (116 - 135), từ ngày 26/06/1938
- 05/11/1938, in thành sách năm 1940 do Đời nay xuất bản
12 Hạnh (1938 - 1939), đăng Ngày nay, 09 kỳ (136 - 144), từ ngày
12/11/1938 - 07/11/1939, in thành sách năm 1940 do Đời nay xuất bản
13 Đẹp (1939 - 1940), đăng Ngày nay, 27 kỳ (169 - 201), từ ngày
08/07/1939 - 02/03/1940, in thành sách năm 1941 do Đời nay xuất bản
14 Thanh Đức (Băn khoăn), không đăng báo, chỉ in sách tại nhà xuất
bản Đời nay, năm 1943
(Trong 14 tác phẩm trên có một tác phẩm chưa in sách đó là truyện
Dưới bóng tre xanh.)
Trang 35Bên cạnh sự thành công về tiểu thuyết, Khái Hưng còn được đông đảo độcgiả yêu mến với thể loại truyện ngắn.Các truyện ngắn xuất sắc được in thànhtập của Khái Hưng gồm:
1 Anh phải sống (viết chung với Nhất Linh) NXB Đời Nay, 1934
2 Tiếng suối reo, Hà Nội, NXB Đời Nay, 1934
3 Đợi chờ , Hà Nội ,NXB Đời Nay, 1939
4 Đội mũ lệch , Hà Nội, NXB Đời Nay, 1941
5 Cái ve , Hà Nội, NXB Đời Nay, 1944
Một số truyện mới đăng báo:
6 Bông cúc vàng (1933), đăng báo Phong hóa, 6 kỳ (30 - 35), từ ngày
tham luận: Sách Hồng một chủ trương “Xây Dựng” của Tự lực văn đoàn,
chủ nhật ngày 5 tháng 4 năm 2015, thì truyện thiếu nhi của Khái Hưng cũng
đã có được ảnh hưởng và sức lan tỏa tương đối lớn trong công chúng nhỏtuổi đương thời Ông viết: “Tự lực văn đoàn xuất bản các truyện “Sách Hồng”
với cuốn Ông đồ bể của Khái Hưng, in 30 Juin 1939, chứng nhận tirage của
nhà in Đời nay, đề ngày 31 Aout 1939, in 10.000 cuốn Một cuốn bán chạy,
như Cóc tía, kịch 2 hồi 2 cảnh của Khái Hưng, khi tái bản lần thứ ba năm
1940 vẫn còn in 5000 cuốn Với số lượng cao như vậy, Sách Hồng gây ảnhhưởng trên lối viết, lối diễn đạt của độc giả nhiều hơn từ những tác phẩm vănchương của Tự lực văn đoàn Văn chương Sách Hồng rất giản dị, trong sángnhư văn đoàn này vẫn chủ trương; các tác giả đều cố gắng đạt tới mức giản dịtối đa” [ hhhh]
Cũng theo Đỗ Qúy Toàn, tác phẩm Khái Hưng viết riêng cho thiếu nhithuộc tủ Sách Hồng, được Đời nay in từ năm 1940 - 1943, gồm 11 cuốn:
Trang 361 Ông đồ bể, Hà Nội, Đời nay, 1939
2 Cái ấm đất, Hà Nội, Đời nay, 1940.
3 Cóc tía, kịch hai cảnh hi hồi, Hà Nội, Đời nay, 1940.
4 Cắm trại, Hà Nội, Đời nay, 1941.
5 Cây tre trăm đốt, Hà Nội, Đời nay, 1941
6 Bông cúc huyền, Hà Nội, Đời nay, 1943
7 Thế giới tí hon, Hà Nội, Đời nay, 1941.
8 Đạo sĩ, Hà Nội, Đời nay, 1944.
9 Để của bí mật, Sài Gòn, Văn nghệ, 1960.
10 Quyển sách ước, Sài Gòn, Văn nghệ, 1960.
11 Thầy đội nhất, Sài Gòn, Phượng Giang, 1960.
Danh mục trên cho thấy đây là một mảng sáng tác phong phú khôngkém tâm huyết của Khái Hưng Thậm chí, chỉ với những đóng góp cụ thể nhưvậy ông xứng đáng được xem là một trong những nhà văn hiện đại sớm nhất,thậm chí là nhà tiên phong của của văn học thiếu nhi Việt Nam
Vào mấy năm cuối thế kỷ XX, mảng sáng tác này của Khái Hưng được
tuyển in Cuốn Truyên viết cho thiếu nhi do Vương Trí Nhàn (sưu tầm và biên
soạn), Nxb Hải Phòng, 1998, có in 13 quyển truyện của Khái Hưng Đó là các
truyện: Cây tre trăm đốt, Vợ cóc, Ai mua hành tôi, Véo von tiếng địch, Cái ấm
đất, Hoa ăn tết, Con rắn, Bông hoa thài lài, Quyển sách ước, Thế giới tí hon, Cắm trại, Thời xưa và cóc tía (kịch hai hồi, viết cho thiếu nhi) Việc tuyển in,
phát hành tập sách này, đã phần nào cho thấy, truyện của Khái Hưng viết chothiếu nhi từ trên dưới 60 năm trước, vẫn còn sức sống đáng trân trọng tronglòng công chúng văn học hôm nay
Một trong những thể loại rất thành công trong sáng tác của Khái Hưng
đó là kịch Độc giả biết đến Khái Hưng với các vở như: Tục lụy (1937), Đồng
bệnh (1942), Nhất tiếu và Khúc tiêu ai oán (1946) và một vở kịch hai cảnh hai
hồi viết cho thiếu nhi (Sách Hồng): Cóc tía.
Vở Đồng bệnh là một bi hài kịch “đã phá những cái nực cười trong xã
hội trưởng giả, gả bán con cái theo nhu cầu quan chức và tiền bạc” [51,tr.10]
Hai vở Nhất tiếu và Khúc tiêu ai oán lấy cảm hứng từ lịch sử và tái hiện nhân
vật, sự kiện, tình huống từ pho cổ sử Trung Hoa – Đông Chu liệt quốc – đều
Trang 37là những tác phẩm mang nhân sinh quan và sử quan của Khái Hưng Theo
Thụy Khuê, Nhất tiếu phỏng theo hồi thứ hai của Đông Chu liệt quốc, truyện
U Vương đốt lửa Ly Sơn mua vui cho Bao Tự Còn Khúc tiêu ai oán thì viết
lại chuyện Ngũ Tử Tư thời Đông Chu, theo hồi thứ 71, 72 đến 76 trong truyện
Đông Chu liệt quốc Ngũ Sa, thái sư nước Sở có hai con là Ngũ Thượng và
Ngũ Tử Tư tức Ngũ Viên Sở Bình Vương hoang dâm vô độ, Ngũ Sa ngăncản, nhà vua liền bắt giam ông và gài bẫy cho hai con trai ông về triều đình đểgiết luôn cả ba Nhưng chỉ có Ngũ Thượng về chết với cha Ngũ Tử Tư trốnthoát sang Ngô, phò Công Tử Quang lên ngôi vua, rồi Tử Tư dẫn quân Ngô
về giày xéo nước Sở để báo thù nhà Chí lớn của Tử Tư được Tư Mã Thiênhết sức tán thưởng
Trong chặng cuối cuộc đời làm báo viết văn và hoạt động chính trị -xãhội theo Nhất Linh – thủ lĩnh của Tự lực văn đoàn, nhân sinh quan của KháiHưng thể hiện rõ nét Không bằng lòng với lời bình sử gia về nhân vật lịch sửNgũ Tử Tư, ông có ý thay thế một lời bình muốn đóng đinh chân lí của ngườiViệt bằng các lời bình mang lập trường cá nhân 6 nhân vật: lời của Trịnh Nữ,của Đông Cao Công, của người con gái gặt sa, của Sở Bình Vương, của NgũThượng và của Ngũ Sa Bởi vậy, hẳn không phải ngẫu nhiên, có người xem
đây là cách tiếp cận lịch sử thể hiện “một cái nhìn đa diện về một sự kiện lịch
sử liên quan đến chân dung một người anh hùng mà sau này chúng ta thấy lại trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp dưới hình thức khác hẳn” (Thụy Khuê)
[39] Bối cảnh ra đời của vở kịch khá phức tạp nên thông điệp mà nhà văn gửigắm cũng mang những hàm ý sâu xa, phản chiếu những suy tư về lịch sử, vềchính trị xã hội, cả những góc khuất trong chính tâm hồn nhà văn
Khúc tiêu ai oán có thể xem là sáng tác cuối cùng, khép lại đời văn của
Khái Hưng (vở kịch được viết xong ngày 12/10/1946)
Trang 381.3.2 Diện mạo truyện ngắn Khái Hưng
Văn nghiệp của Khái Hưng khá đa dạng và ông đã gặt hái nhiều thànhtựu ở nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, tiểu luận phê bình, trong
đó truyện ngắn là thể loại ông đạt nhiều thành công với những tập như: Anh
phải sống viết cùng Nhất Linh (1934), Dọc đường gió bụi (1936), Tiếng suối reo (1937), Đợi chờ (1941), Cái ve (1944)
Có thể nói, truyện ngắn Khái Hưng không nằm ngoài nguyên tắc sángtác chung của trào lưu Tự lực văn đoàn, nhà văn đã phản ánh những đổi thaycủa thời đại: đả kích xã hội phong kiến thực dân, giải phóng tình yêu, ca ngợihôn nhân tự do của con người, trân trọng và đề cao truyền thống văn hoá củadân tộc Ông luôn chú ý học tập kế thừa những giá trị văn hoá truyền thống,đồng thời có sự cách tân độc đáo để tạo nên những “truyện ngắn tuyệt hay”[33], có giá trị lâu bền
Truyện ngắn của Khái Hưng hay và hấp dẫn độc giả trước hết ở đề tài
của tác phẩm Nhà văn khai thác các khía cạnh của cuộc sống một cách phongphú và sinh động nhất Là trí thức Tây học, tiếp thu những luồn tư tưởng mới,những nếp sống mới của thời đại, Khái Hưng viết nhiều truyện ngắn về tình
yêu nam nữ rất hay Bởi thế, mà nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã gọi “ Khái
Hưng là văn sĩ của thanh niên Việt Nam cũng như Alfred de Musset của thanh niên Pháp” [33, tr 311] Ông đề cao tình yêu tự do, đặc biệt là thứ tình yêu
lãng mạn, sét đánh, yêu ngay từ lần gặp đầu tiên của những thanh niên trí thức
tiểu tư sản Đó là tình yêu của Linh dành cho Phụng trong truyện ngắn Đợi
chờ, là tình yêu của Phát Và Hoàng trong Thời chưa cưới, là tình yêu của Văn
dành cho Tẹo ngay từ phút gặp đầu tiên trong Dưới ánh trăng
Đề tài về hôn nhân- gia đình cũng được nhà văn chú ý khai thác KháiHưng viết nhiều về gia đình với nhiều triết lí về hạnh phúc Đó có thể lànhững gia đình nơi thôn quê hay ở chốn thị thành, là những gia đình bình dânhay gia đình tư sản, tiểu tư sản Dù bất kì ở không gian nào, giai cấp nào thìđiều khiến những gia đình ấy tồn tại là hạnh phúc trong mỗi nếp nhà Để có
Trang 39hạnh phúc ấy, người vợ đóng một vai trò quan trọng Những người vợ màKhái Hưng xây dựng theo mẫu người phụ nữ của gia đình truyền thống: dịudàng, vị tha, cao thượng…Họ luôn là chỗ dựa cho chồng và làm tất cả để bảo
vệ hạnh phúc gia đình Nếu cần, họ sẵn sàng hi sinh mà không hề ngần ngại
Ở mảng đề tài văn hóa xã hội, một mặt Khái Hưng ca ngợi những nétđẹp trong văn hóa truyền thống của dân tộc ta như hát trống quân (trăng thu),hát chèo (Đào Mơ, Dọc đường gió bụi), thổi sáo (Véo von tiếng địch), hátxướng ( Dưới ánh trăng)….Mặt khác, tác giả cũng phê phán những hủ tục lạchậu trong xã hội thực dân nửa phong kiến
Nhân vật trong truyện ngắn Khái Hưng rất đa dạng Ông am hiểu về tríthức tiểu tư sản nên những trang văn của ông viết rất hay về cuộc sống cũngnhư khái thác được hết các ngóc ngách trong thế giới nội tâm của nhân vật.Người trí thức trong tuyện ngắn của Khái Hưng thường hào hoa, phong nhã,
lãng mạn và rất si tình Đó là Linh trong Đợi chờ, là Văn trong Dưới ánh
trăng, là Hoàng trong Thời chưa cưới……Tâm hồn của họ rất nhạy cảm trước
cái đẹp, đặc biệt là vẻ đẹp của người phụ nữ Hốc những suy nghĩ, hoài bão lítưởng về một xã hội mới với những lối sống văn minh, hiện đại Bên cạnhnhững trí thức có cuộc sống đầy đủ, nhà văn còn khắc họa những trí thứcnghèo băn khoăn về nghệ thuật và cuộc sống Những trí thức ấy phải kể đếnông giáo Thanh trong truyện ngắn Cái Ve
Bên cạnh người trí thức, nhà văn còn xây dựng thành công hình ảnhngười phụ nữ với bao phẩm chất tốt đẹp Họ trước hết là những cô gái tânthời, hiện đại, trẻ trung và lich sự như Kim Cúc, Nga, Bạch Tuyết, … Đónhững cô gái sống theo lối sống mới của thời đại Họ khao khát tình yêu, sẵnsàng sống và làm theo tiếng gọi của con tim Họ mạnh dạn thể hiện cá tínhcủa mình trong các mối quan hệ xã hội Bên cạnh những người phụ nữ hiệnđại, Khái Hưng còn xây dựng thành công mẫu người phụ nữ truyền thống-
người phụ nữ của gia đình Đó là chị Lạc tần tảo, giàu đức hi sinh trong Anh
phải sống, là Nga dịu dàng, cao thượng trong Thưa Chị, là người vợ tốt bụng,